Docstoc

8-Gioi thieu mot so tien bo noi bat dong bang song Hong

Document Sample
8-Gioi thieu mot so tien bo noi bat dong bang song Hong Powered By Docstoc
					Giới thiệu một số tiến bộ kỹ thuật nổi bật phục vụ cho vùng đồng bằng sông Hồng
Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm là đơn vị sự nghiệp khoa học, trực thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, được thành lập lại trên cơ sở Viện Cây lương thực & Cây thực phẩm và một số đơn vị của Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, theo quyết định số 220/2005/QĐ-TTg ngày 09 tháng 9 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ, hoạt động theo quyết định số 29/2006/QĐBNN ngày 21 tháng 4 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Cây lương thực CTP. Viện có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ về lĩnh vực Cây lương thực và cây thực phẩm, chủ yếu lúa, đậu đỗ và cây có củ. Viện đã tham gia nghiên cứu nhiều đề tài khoa học công nghệ, đã có những đóng góp tích cực cho nền nông nghiệp nước nhà, đặc biệt là vùng ĐBSH. Kết quả đó là đã đề nghị công nhận 19 giống lúa thuần: 6 giống được công nhận chính thức và 13 giống công nhận tạm thời, ngoài phương pháp lai tạo truyền thống, viện đã kết hợp giữa lai tạo và xử lý đột biến, tạo ra các giống lúa ĐB1, ĐB5, ĐB6 có thời gian sinh trưởng ngắn tương đương Q5, Khang dân 18, năng suất cao, chất lượng gạo khá hơn Q5. Giống AC5 được chọn tạo bằng phương pháp truyền thống và nuôi cấy bao phấn cho năng suất khá, chất lượng gạo tốt, cơm có mùi thơm… Về lúa lai, đã giống HYT83 được công nhận chính thức và 02 giống giống HYT92 và HYT100 công nhận tạm thời. Đã làm chủ công nghệ chọn thuần và nhân dòng bố mẹ, sản xuất được hàng trăm tấn dòng bố mẹ để phục vụ sản xuất hạt lai F1. Cây khoai lang có 1 giống được công nhận chính thức (giống KB1) và 3 giống được công nhận tạm thời (TV1; H1.2 và KB4) Cây khoai tây có 2 giống được công nhận chính thức (VC38.6 và P3) và 01 giống được công nhận tạm thời (PO3), hiện còn 3 giống đang đề nghị công nhận tạm thời (Solara, Atlantic và Diamant) Công nhận TBKT trồng sắn xen lạc. Viện đã nghiên cứu, chọn tạo thành công 12 giống đậu đỗ mới, trong đó có 4 giống lạc, 5 giống đậu tương, 02 giống đậu xanh Cùng với các tiến bộ về giống, có 2 quy trình kỹ thuật phục vụ sản xuất "Quy trình kỹ thuật che phủ nilon cho lạc" và" Quy trình kỹ thuật trồng lạc thu đông". Đã tạo ra được 4 giống rau, gồm 1 giống cà chua cà chua C95 được công nhận giống quốc gia và 3 giống được công nhận tạm thời (giống dưa chuột PC4, 2 giống cà chua VT3 và C155) và nhiều giống cà chua, dưa chuột triển vọng khác.
B B B

1. Cây lúa 1.1. Giống lúa P6: Giống lúa P6 được tạo ra từ tổ hợp lai IR2588/Xuân số 2, là giống lúa chịu thâm canh, chất lượng hạt gạo cao, Dạng hình cây gọn, lá đứng, có màu xanh đậm, tàn lá muộn, thời gian sinh trưởng (TGST) trong vụ mùa 115 - 120 ngày, vụ xuân 160 - 170 ngày (xuân chính vụ), 140 - 145 ngày (xuân muộn). Giống P6 có khả năng kháng vừa với đạo ôn và rầy nâu, nhiễm nhẹ bệnh khô vằn và bạc lá, thích hợp trên các chân đất vàn và vàn cao, giàu dinh dưỡng. Năng suất 65-70 tạ (vụ xuân) và 58-63 tạ (vụ mùa); chất lượng gạo cao, hạt gạo dài (6,8 mm), cơm mềm, đậm ăn ngon, hàm lượng protein khoảng 10,5%, amylose 21% 1.2. Giống lúa M6: Là giống lúa chịu mặn, được chọn tạo từ tổ hợp lai Bầu Hải Phòng/1548, được công nhận giống chính thức tháng 12/2005. Thời gian sinh trưởng: 125 - 130 ngày trong vụ mùa và 170 - 180 ngày trong vụ xuân, dạng hình thấp cây, lá đứng, ngắn, màu xanh nhạt, bông to, khối lượng hạt 25 - 26 gam, khả năng chống chịu phèn mặn khá, ít nhiễm sâu bệnh hại (không nhiễm rầy, kháng đạo ôn, nhiễm nhẹ khô vằn, bạc lá), chịu rét khá. Giống lúa M6 thích hợp cho cả 2 vụ gieo trồng ở các tỉnh phía Bắc, đặc biệt là các tỉnh ven biển (Hải Phòng, thái Bình, Quảng Ninh, Thanh hoá…) Năng suất trung bình tại các vùng nhiễm mặn 2-3% đạt 50 - 55 tạ/ha, các vùng nhiễm mặn nhẹ đạt 55 - 60 tạ/ha; 1.3. Giống lúa AC5: Được chọn tạo từ tổ hợp lai 10 TGMS//C70/CR203, kết hợp với nuôi cấy bao phấn. AC5 là giống lúa chất lượng cao, dạng hình cây gọn, màu lá xanh đậm, vỏ trấu màu vàng nâu, hạt gạo dài, trong, không bạc bụng, cơm ngon, có mùi thơm nhẹ. Giống AC5 nhiễm vừa với bệnh đạo ôn, chịu rét trung bình, nhiễm nhẹ với khô vằn. Thời gian sinh trưởng khoảng 120 ngày (vụ mùa), 170 - 180 ngày (vụ xuân chính vụ) và 145 - 150 ngày (xuân muộn). AC5 là giống lúa chịu thâm canh, thích hợp trên các chân đất vàn và vàn hơi trũng, giàu dinh dưỡng, đặc biệt cho các cơ cấu luân canh cây trồng 3 - 4 vụ/năm. Năng suất 55 - 60 tạ/ha (vụ mùa) và 60 - 65 tạ/ha (vụ xuân). 1.4. Giống lúa ĐB1 và ĐB6: Giống lúa ĐB1 và ĐB6 được chọn lọc từ dòng 28R xử lý đột biến bằng phương pháp chiếu xạ khô nguồn xạ tia gama nguồn Co60 liều lượng 40 krad, giống được công nhận tạm thời năm 2004. Năng suất trong vụ đông xuân đạt 70-75 tạ/ha, vụ mùa 65-70 tạ/ha. Là giống lúa chịu thâm canh, thích hợp cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng 3-4 vụ/năm, đặc biệt là các vùng đất vàn, vàn cao và chủ động tưới tiêu. Giống có khả

năng chịu rét và chống đổ khá, nhiễm nhẹ với các bệnh khô vằn, bạc lá, kháng cao với bệnh đạo ôn.Phẩm chất gạo giàu dinh dưỡng, tỷ lệ hạt bạc bụng thấp hơn Q5, cơm mềm hơn Q5 . 1.5. Giống lúa LT2: Được chọn lọc từ giống KD90 Trung Quốc năm 1993, công nhận tạm thời năm 2002. LT2 là giống chất lượng, thời gian sinh trưởng 110 - 115 ngày (vụ mùa) và 130-135 ngày (vụ xuân muộn), chất lượng gạo khá, hạt dài, trong, cơm ngon. Chống chịu sâu bệnh khá, năng suất 45- 50 tạ/ha, trên những chân đất tốt năng suất có thể đạt 55 - 60 tạ/ha, thích hợp trên các chân đất vàn, vàn cao 1.6. Giống lúa nếp 87-2: Giống lúa Nếp 87-2, được chọn lọc từ dòng đột biến cao cây Iri 352, chiều cao cây trung bình 100-105 cm, cây cứng, chống đổ khá hơn Iri352 Thời gian sinh trưởng 110-115 ngày (vụ mùa), 130-135 ngày (vụ xuân muộn), khả năng chống bệnh đạo ôn, khô vằn và bạc lá khá hơn IRi352, chất lượng gạo tốt, xôi dẻo và có mùi thơm hơn nếp Iri352 Năng suất trung bình đạt 60-65 tạ/ha (vụ xuân), vụ mùa 55-60 tạ/ha. Giá bán thóc cao hơn các giống lúa thông thường từ 1000 - 1200 đ/kg. Xét về hiệu quả kinh tế mỗi ha giống Nếp 87-2 cho hiệu quả cao hơn cấy giống Q5 từ 4- 5,0 triệu đồng/ha. 1.7. Giống lúa Khang Dân đột biến Là giống lúa được tạo ra bằng phương pháp xử lý đột biến, chịu thâm canh, có tiềm năng năng suất cao, thời gian sinh trưởng trong vụ mùa khoảng 110 ngày, vụ xuân 130 - 135 ngày, bông to, nhiều hạt hơn giống khang dân 18, năng suất trung bình 65 - 75 tạ/ha Chống chịu bệnh Bạc lá khá, đạo ôn ở mức trung bình, phù hợp cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng 3-4 vụ/năm, đặc biệt là các cơ cấu cây trồng có các cây vụ đông sớm, thích hợp trên các chân đất vàn, vàn cao, giàu dinh dưỡng. 1.8. Giống lúa lai HYT83 (25A/RTQ5) Giống đã được công nhận giống chính thức, TGST: 110 - 112 ngày (vụ mùa) và 125 - 130 ngày (vụ xuân muộn), cứng cây, để nhánh khoẻ, nhiễm nhẹ với bệnh đạo ôn, khô vằn; chịu rét và chống đổ khá. Giống lúa HYT83 có thể cấy được cả 2 vụ/năm, song nên tập trung gieo trồng ở vụ xuân muộn thì thích hợp hơn. Năng suất trung bình 75 - 80 tạ/ha, nếu thâm canh trên các chân đất tốt có thể đạt 90 tạ/ha. Hạt gạo trong, bóng, cơm mềm, ngon, có mùi thơm nhẹ 1.9. Giống lúa lai HYT92 (25A/PM3) HYT92 là giống lúa lai hệ 3 dòng, TGST trong vụ mùa 110-115 ngày, vụ xuân 130-135 ngày, để nhánh khoẻ, chịu rét và chống đổ khá, nhiễm vừa với bệnh bạc lá, nhiễm nhẹ với bệnh khô vằn và đạo ôn.

Gạo ngon, cơm mềm và có mùi thơm, thích hợp trên các chân đất vàn hơi trũng tại các vùng Hà Nam, Nam Định, Thái Bình. 1.10. Giống lúa lai HYT100 (25A/R100) Giống có thời gian sinh trưởng ngắn: 110 - 112 ngày (vụ mùa), 125 - 130 ngày (vụ xuân muộn). Nhiễm nhẹ với bệnh bạc lá, đạo ôn, khô vằn, chịu rét và chống đổ khá. Giống cấy được cả 2 vụ/năm (xuân muộn - mùa sớm), song nên tập trung cho vụ xuân muộn. Thích hợp trên các chân đất vàn hơi trũng, giàu dinh dưỡng Năng suất trung bình 75 - 80 tạ/ha, nếu thâm canh tốt có thể đạt 90 tạ/ha. Hạt gạo trong, bóng, cơm mềm, ngon, có mùi thơm nhẹ 2. Cây có củ 2.1. Giống khoai tây Diamant Là giống khoai tây nhập nội, chọn lọc từ tập đoàn khoai tây Hà Lan, giống Diamant có thời gian sinh trưởng 85 - 90 ngày. Thời vụ gieo trồng: Vụ đông 25/10 - 05/11 và vụ xuân vào cuối tháng 12. Chống chịu sâu bệnh khá, kháng bệnh mốc sương và virus Y trung bình Ruột củ màu vàng, chất lượng khá, đạt tiêu chuẩn chế biến. Năng suất từ 18 - 22 tấn/ha. 2.2. Giống khoai tây Đức: Mariella và Solara Là các giống nhập nội, có TGST 85-90 ngày, kháng bệnh mốc sương khá, ruột củ màu vàng đậm, chất lượng khá, thích hợp với thị hiếu người tiêu dùng, năng suất 20-25 tạ/ha. Gieo trồng Vụ đông 25/10-05/11 và vụ Xuân vào cuối tháng 12. 2.3. Giống khoai lang KB1 Giống khoai lang KB-1 đã được công nhận giống quốc gia, được chọn tạo từ tổ hợp thụ phấn tự do của giống mẹ Regal, có nguồn gốc từ Mỹ. TGST từ 110 - 120 ngày Dạng thân nửa đứng, lá hình tim, màu xanh nhạt. Khả năng thích ứng rộng, có thể trồng được 3 - 4 vụ liên tiếp/năm Năng suất củ trung bình đạt 18 - 20 tấn/ha, nếu thâm canh tốt có thể đạt 25 - 30 tấn/ha, tỷ lệ củ thương phẩm cao. Dạng củ thon, nhẵn, vỏ màu vàng nhạt, ruột củ màu trắng ngà; tỷ lệ chất khô củ đạt 28 - 30%, chất lượng ăn nếm ngon 2.4. Giống Khoai lang KL5 Được chọn tạo bằng phương pháp thụ phấn tự do. Năng suất thân lá trung bình của KL5 đạt 25-30tấn/ha, lá ít có vị chát do vậy lá non và ngọn dùng làm rau (rau sạch), các phần thân lá còn lại làm thức ăn cho gia súc, năng suất củ đạt 2028tấn/ha. KL5 có hàm lượng chất khô và giá trị dinh dưỡng cao, củ bở và tương đối ngon. 2.5. Giống khoai lang VĐ1 -(khoai lang rau: ăn ngọn)

Khoai lang rau VĐ1 (nguồn gốc từ Đài loan) là giống khoai lang rau cho người (ăn giòn, không chát, khả năng tái sinh nhanh, nhiều rau); Nếu trồng lấy củ cho năng suất cao, chất lượng củ thấp hơn mức trung bình. Giống có thời gian sinh trưởng 110 - 120 ngày, tốc độ tăng trưởng sinh khối lớn; thân, lá có màu xanh nhạt, ít chát, rất thích hợp dùng để làm rau, đây là dạng rau sạch, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, củ màu hồng đỏ, ruột củ màu trắng, chịu hạn khá. Năng suất ngọn đạt 15-16 tấn/ha, năng suất củ 15-20 tấn/ha. Giống khoai lang ĐV1 hiện là giống cho hiệu quả kinh tế cao: vừa làm rau và sử dụng củ cho ăn tươi. 2.6. Giống sắn KM98-7 Giống sắn KM98-7 có nguồn gốc từ tổ hợp lai CIAT/Colombia, được nhập nội bằng hạt lai vào Việt Nam từ năm 1995. Giống do trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và Trung tâm NC & PT Cây có củ, Viện CLT&CTP phối hợp chọn lọc. TGST của giống từ 7 - 10 tháng, có khả năng thích ứng rộng, rất phù hợp với các tỉnh trung du và mièn núi phía Bắc, đặc biệt trên các vùng đất xấu, nhiều sỏi cơm, khô hạn. Thời vụ trồng thích hợp từ cuối tháng 2 đến cuối tháng 3, mật độ trồng 10.000 - 12.500 cây/ha. Giống KM98-7 không phân cành hoặc phân cành 1 cấp, thân màu nâu đỏ, vỏ củ màu nâu, củ đồng đều, ruột củ màu trắng, được nông dân ưa chuộng, thích hợp cho chế biến và ăn tươi, hàm lượng tinh bột khá: 28 - 30%. Năng suất củ tươi đạt 25 - 40 tấn/ha. 3. Cây đậu đỗ 3.1. Giống đậu tương ĐT22 Dùng phương pháp đột biến nhân tạo từ dòng lai (DT95/ĐT12), giống có thời gian sinh trưởng 85 - 90 ngày, hoa màu trắng, chiều cao cây 50 - 70 cm, khối lượng 100 hạt: 14 - 15 gam. Chống chịu sâu bệnh khá, chống đổ tốt, năng suất 15 - 27 tạ/ha, có thể trồng trong vụ xuân, vụ hè, vụ đông. 3.2. Giống đậu tương ĐT2000 ĐT.2000 là giống nhập nội do Viện chọn lọc. Giống có thời gian sinh trưởng 100-110 ngày, kháng bệnh gỉ sắt và phấn trắng khá, chống đổ tốt. Số quả trên cây 30 - 37 quả, khối lượng hạt 170 - 175 gr/1000 hạt. Năng suất 20 - 30 tạ/ha Giống thích hợp cả vụ xuân và vụ thu đông trên các chân đất có độ phì khá. 3.3. Giống lạc L18 Thời gian sinh trưởng 120 - 125 ngày, sinh trưởng phát triển tốt, khối lượng 100 hạt : 60 - 65 gam, tỷ lệ nhân 69 - 71% Kháng cao với một số loại sâu bệnh hại chính (đốm lá, gỉ sắt, héo xanh vi khuẩn, sâu ăn lá). Giống hiện đang được thử nghiệm tại các tỉnh Nam Định, Nghệ

An, Hà Tĩnh, tiềm năng năng suất cao 50 - 70 tạ/ha. Vụ xuân 2006 trên quy mô 30 ha tại Ý Yên, Nam Định, năng suất đạt 60 tạ/ha, thích hợp cho các vùng thâm canh 4. Cây Rau, quả 4.1. Giống cà chua lai VT3 Được chọn tạo từ tổ hợp lai (15 x VX3). Thời gian sinh trưởng 120 - 130 ngày, dạng hình bán hữu hạn, cây cao 85 - 90 cm, vai quả màu xanh, quả chín màu đỏ sẫm, chỉ số H/D quả: 0,9, cùi dày 0,61 cm. Độ brix(%) = 4,5. Số quả/cây = 18 20 quả, khối lượng quả 130 - 140 gam; chống chịu sâu bệnh tốt. Năng suất: 55 60 tấn/ha. Thời vụ gieo trồng thích hợp từ 20/8 - 05/10. 4.2. Giống cà chua C155 Là giống cà chua chọn lọc từ tập đoàn nhập nội (dự án DA15). TGST: 120 125 ngày, cây cao 90 - 100 cm, vai quả trắng, màu sắc quả chín đỏ tươi Chỉ số H/D = 1,12, cùi dày 0,7 cm, độ Brix = 5,2 thích hợp cho việc bảo quản và vận chuyển. Số quả/cây: 25 - 35 quả, khối lượng quả: 75-80 gam. Năng suất 45 - 50 tấn/ha. Chống chịu tốt với một số loại sâu bệnh hại chính. Thời vụ gieo trồng: 25/8 - 05/10 4.3. Giống dưa chuột lai PC4 Giống dưa chuột lai PC4 được tạo ra từ tổ hợp lai DL7 × TL15, được công nhận giống tạm thời năm 2004 Giống có thời gian sinh trưởng: 85-90 ngày, thời gian thu quả 40-45 ngày, thích hợp cho ăn tươi và chế biến muối mặn xuất khẩu. Khả năng chống chịu bệnh sương mai và bệnh phấn trắng tốt, giống thích hợp cho vụ xuân hè và thu đông. Năng suất: 48-50 tấn/ha (vụ xuân hè) và 40-43 tấn/ha (vụ thu đông). 4.4. Giống Đại táo Giống Đại táo 15 được chọn lọc từ mẫu giống táo nhập nội trong khuôn khổ dự án DA15 phối hợp giữa Viện Di truyền và Viện Cây lương thực - CTP mã số ZM.DA. 15 bằng phương pháp chọn lọc cá thể (qua nhân vô tính). Giống có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, tốc độ vươn cành nhanh hơn các giống táo khác, chín muộn, thời gian chín tập trung chủ yếu vào tháng 2. Quả chín màu vàng sáng, khối lượng quả lớn: 70-100 g/quả, chất lượng ngon, ăn giòn, ngọt mát, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, hiệu quả kinh tế cao (giá bán bằng 1,5 - 2 lần so với các giống táo ta trước đây) Năng suất: 7-8 tấn/ha (cây tuổi 1), 10-12 tấn/ha (cây tuổi 2), giống đang được trồng thử nghiệm ở một số địa phương, cho kết quả tốt và được sản xuất chấp nhận.