Docstoc

MUC TIEU VA GIAI PHAP GIAO DUC

Document Sample
MUC TIEU VA GIAI PHAP GIAO DUC Powered By Docstoc
					Mục tiêu và giáo dục cho trung học phổ thông Dựa trên định h­ớng tổng quát về mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục mà Đảng ta đã đề ra là: "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi d­ỡng nhân tài", Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng với các ngành, các cấp đã ra sức đẩy mạnh mọi mặt hoạt động giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục theo các mục tiêu đã đề ra. Nếu nh­ trong những năm qua trên các mục tiêu về nâng cao dân trí và bồi d­ỡng nhân tài đã đạt đ­ợc nhiều thành tích to lớn, năm sau lớn hơn, cao hơn năm tr­ớc, thì mục tiêu đào tạo nhân lực xem ra ch­a có mấy chuyển biến đáng kể. Mặc dù con số học sinh trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT) đã dần tăng trở lại khá nhanh, nh­ng đại bộ phận số thanh niên 16 - 18 tuổi b­ớc vào đời vẫn chỉ là những lao động có văn hóa, không có tay nghề. Trong cơ cấu lao động có qua đào tạo nghề (sơ cấp, trung cấp, cao cấp) từ lâu đã bộc lộ sự mất cân đối nghiêm trọng; lao động cao cấp có d­, lao động trung cấp rất thiếu, lao động sơ cấp quá thiếu. Các doanh nghiệp ở n­ớc ta khi tuyển dụng lao động đều thấy; không gặp khó khăn về cán bộ có trình độ đại học, không mấy dễ dàng tuyển đủ cán bộ trung cấp, rất khó khăn tuyển dụng công nhân, nên th­ờng phải mở lớp đào tạo ngắn ngày để truyền thụ tay nghề. Song tất cả lực l­ợng lao động đó cũng chỉ mới chiếm khoảng 12% tổng số lao động trong cả n­ớc và nếu "số ng­ời đ­ợc đào tạo nghề phải mau chóng tiến từ 12% hiện nay lên 25% và cao hơn vào thập kỷ đầu thế kỷ XXI", thì tổng số lao động đ­ợc đào tạo cũng không v­ợt quá 30%. Vậy nguồn nhân lực không qua đào tạo tới 70% - 75% ấy nằm ở những khu vực nào và liệu có giải pháp nghề nghiệp gì ở đó không? Hằng năm, cả n­ớc có khoảng 16 triệu thanh niên b­ớc vào độ tuổi lao động (17 tuổi) thì trong đó đến trên 1,1 triệu (trên 70%) là lao động không có nghề. Số lao động này đ­ợc hình thành từ các nguồn sau đây: 1. Khoảng 10% là số học sinh không tốt nghiệp tiểu học hoặc còn mù chữ (khoảng 16 vạn). 2. Khoảng 23% là số học sinh tốt nghiệp tiểu học không có điều kiện học lên THCS (khoảng 37 vạn). 3. Khoảng 30% là số học sinh tốt nghiệp THCS không có điều kiện học lên THPT (khoảng 40 vạn). 4. Khoảng 10% là số học sinh tốt nghiệp THPT không trúng tuyển vào các tr­ờng đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp (khoảng 16 vạn). Cụ thể: năm 1997 có 30,4 vạn tú tài, thì đại học tập trung dài hạn tiếp nhận 7,6 vạn, cao đẳng tập trung dài hạn có 4,1 vạn và trung học chuyên nghiệp tiếp nhận khoảng 5 vạn. Trong số hơn 16 vạn sinh viên mới này không ít ng­ời là tú tài của những năm tr­ớc,

nên thực chất chỉ độ nửa số tú tài hằng năm đ­ợc tiếp tục học lên, còn non nửa tổng số thi tr­ợt gia nhập đội quân 75% thanh niên lao động không có nghề (theo số liệu năm 1997 của Trung tâm thông tin quản lý giáo dục và dự án phát triển giáo dục THCS của Bộ Giáo dục và Đào tạo). So sánh các con số cho thấy hệ thống giáo dục THPT phải đ­ợc điều chỉnh lại một cách cơ bản từ mục tiêu đến giải pháp. Nếu nh­ ở n­ớc ta vẫn còn khoảng trên 60% thiếu niên không đ­ợc học nghề đã phải tham gia lao động, thì đó là vì hoàn cảnh riêng của gia đình và điều kiện xã hội ch­a cho phép, còn hơn 10% số học sinh ở độ tuổi lao động (16-17-18) đ­ợc tạo ăn học thêm 3 năm nữa ở bậc THPT, mà khi vào lao động vẫn không biết làm nghề gì, thì đó không thể coi là tất yếu khách quan đ­ợc. Hằng năm tuyển vào THPT tới 40 vạn thanh niên để rồi sau 3 năm đào tạo lại trả lại cho gia đình và xã hội khoảng 20 vạn lao động không nghề nghiệp, thì đó là vấn đề giáo dục nhất thiết phải giải quyết và có khả năng giải quyết đ­ợc. Mục tiêu giáo dục THPT đ­ợc xác định là mục tiêu kép, nghĩa là vừa chuẩn bị cho học sinh học lên bậc trên, vừa chuẩn bị cho thanh niên b­ớc vào lao động. Nh­ng trong thực tế mọi chủ tr­ơng, hoạt động của các cấp giáo dục, đặc biệt là của nhà tr­ờng THPT, đều tập trung thực hiện mục tiêu chuẩn bị học lên đại học, cao đẳng, còn mục tiêu chuẩn bị đi vào hoạt động đều hầu nh­ bị quên lãng, hoặc làm qua loa lấy lệ. Điều này đ­ợc chứng minh bằng những sự kiện sau đây: 1- Toàn bộ nội dung ch­ơng trình THPT đều cung cấp hệ thống kiến thức lý thuyết và thực hành hoàn chỉnh để thi vào đại học. Ngay cả trong hệ thống ch­ơng trình phân ban THPT (A-B-C) thì ban B tuy đ­ợc tăng c­ờng một số nội dung giáo dục kỹ thuật và lao động, nh­ng yêu cầu then chốt vẫn phải bảo đảm cho học sinh có đủ trình độ thi vào đại học. Còn dự án cải tiến phân ban THPT mới của Bộ chỉ có 2 ban tự nhiên và xã hội càng thể hiện mục tiêu là để cho mọi học sinh thi vào các tr­ờng đại học đ­ợc thuận lợi hơn. Thực sự cho đến nay ch­a có một hệ thống ch­ơng trình giáo dục nào nhằm thực hiện mục tiêu chuẩn bị cho thanh niên đi vào lao động cả, mà số này thì bao giờ cũng lớn hơn số đ­ợc học lên đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp. 2- Toàn bộ các định h­ớng giá trị cơ bản của bậc giáo dục THPT đều quy về một mục tiêu là thi vào đại học a. Tr­ờng nào có nhiều học sinh trúng tuyển đại học thì đ­ợc đánh giá cao, đ­ợc khen th­ởng, đ­ợc ­u tiên đầu t­ thêm các điều kiện. Vị thế xã hội của nhà tr­ờng, uy tín của hiệu tr­ởng và giáo viên đều nhìn nhận qua kết quả học sinh thi đậu vào đại học.

b. Giáo viên nào có nhiều học sinh giỏi, đạt giải quốc gia, quốc tế thì đ­ợc tôn vinh, khen th­ởng xứng đáng. c. Học sinh giỏi, đoạt giải quốc gia, quốc tế càng đ­ợc tôn vinh, khen th­ởng và đ­ợc ­u đãi. Cách định h­ớng giá trị vật chất và tinh thần trong giáo dục nh­ vậy đ­ơng nhiên khiến cho phong trào thi đua dạy tốt - học tốt tập trung sức lực vào mục tiêu duy nhất là đạt chỉ tiêu cao trong các kỳ thi vào đại học và thi học sinh giỏi. 3- Gia đình và xã hội, chính quyền và đoàn thể ở địa ph­ơng đều đề cao, khuyến khích, tạo điều kiện cho nhà tr­ờng nâng cao chất l­ợng đào tạo trên cơ sở nhìn nhận những kết quả thi học sinh giỏi và thi vào đại học của học sinh. Không một tổ chức xã hội, chính quyền địa ph­ơng nào quan tâm đánh giá thực sự những kết quả đào tạo đối với đại bộ phận học sinh không trúng tuyển vào đại học (các tr­ờng THPT ở nông thôn th­ờng có đến 80%, thậm chí 90% học sinh không học lên đại học). Đây là một lực l­ợng lao động lớn có văn hóa, nh­ng không có tay nghề. Vậy mà không ai thử đối chiếu xem kết quả giáo dục có liên quan gì đến quá trình thực hiện mục tiêu chuẩn bị tay nghề cho ng­ời lao động đã đề ra hay không. Nếu thử, chắc ai cũng thấy là mục tiêu này không đ­ợc thể hiện trong hoạt động giáo dục của nhà tr­ờng. Dạy giỏi, học giỏi để có nhiều học sinh giỏi thi đỗ đại học là hết sức quan trọng. Bởi vì, giáo dục đại học là đào tạo cán bộ khoa học, bồi d­ỡng nhân tài cho đất n­ớc, thiếu nó không thể chấn h­ng đất n­ớc, không thể thực hiện đ­ợc nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Song đại học không phải là tất cả. Nhìn chung, có thể nói cho đến nay giáo dục THPT vẫn không thực hiện mục tiêu kép của mình, mà mới chú trọng giải quyết một mục tiêu là chuẩn bị cho học sinh học lên đại học. Nhiều ng­ời cũng đã thấy vấn đề này, nh­ng lại cho rằng không thể làm khác đ­ợc vì đó là đòi hỏi của phụ huynh, của xã hội. Cho nên việc đề ra mục tiêu kép, mà thực tế chỉ thực hiện mục tiêu đơn, là cốt để không bị coi là đi chệch đ­ờng lối, là mất lập tr­ờng đối với lao động. Cũng có lập luận cho rằng đề ra nh­ vậy là bảo đảm quyền bình đẳng giáo dục đối với mọi học sinh, vì em nào cũng đ­ợc chuẩn bị vào đại học và em nào cũng có thể phải về lao động (không đ­ợc chuẩn bị!). Song đó chỉ là "chiếc bánh vẽ" để làm yên lòng đa số học sinh và cha mẹ các em. Bởi vì, có số vào đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp luôn luôn thuộc về những học sinh giỏi, học sinh con nhà khá giả, con em cán bộ và học sinh đô thị. Đa số rớt lại hiển nhiên thuộc về những học sinh yếu kém, con em các gia đình không có điều kiện. Điều này có thể phân biệt đ­ợc t­ơng đối chính xác ngay từ khi tuyển vào lớp 10 và càng chính xác hơn ssau khi học hết lớp 10. Những thay đổi

đột biến trong 2 năm lớp 11 và 12 (khá thành kém, kém thành khá) chỉ xảy ra đối với một số rất ít học sinh mà thôi. Biết vậy nh­ng vẫn không thể phân hóa theo hai mục tiêu riêng rẽ đ­ợc vì nhiều lý do, trong đó có sức ép cực kỳ mạnh mẽ của d­ luận xã hội, tr­ớc hết là của một số phụ huynh học sinh kém, nh­ng có thế mạnh về địa vị xã hội, về điều kiện vật chất. Họ không chấp nhận sự thật là con em họ lại thuộc nửa kia và ra sức bằng mọi cách (một số ng­ời có đủ quyền lực thực tế để làm) để cho con em mình phải ở trong số những học sinh vào đại học. Đó là một trong những nguyên nhân chính là triệt tiêu mục tiêu chuẩn bị đi vào lao động của nhà tr­ờng THPT, đẩy nhà tr­ờng xa dần quyền lợi thiết thân của ng­ời lao động vốn đã thiếu thốn nhiều điều kiện, mà vẫn buộc phải cố sức nuôi con em mình theo đuổi mục tiêu (trong thực tế đã dành cho những con em có điều kiện kể trên) vào đại học để rồi phải đón nhận con em mình trở về với chiếc bằng tú tài mà không biết lao động, lại thêm tính ngại làm những công việc chân tay, những nghề nghiệp mà gia đình đang trông chờ bàn tay trẻ, đầu óc có học của những đứa con tại chính quê h­ơng mình. Đây cũng là điều giúp ta lý giải tại sao th­ờng thấy có hiện t­ợng con em lao động tại nhiều làng nghề truyền thống đang tạo đủ công ăn việc làm cho thanh niên đã học xong THCS lại không hứng thú học lên THPT. Vì họ nghĩ rằng học lên cũng thế, hơn nữa còn gây tốn kém cho gia đình, trừ phi họ thấy có khả năng và triển vọng lọt đ­ợc vào số ng­ời có cơ may học lên đ­ợc đại học, nghĩa là không phải dừng lại ở mảnh bằng tú tài không sinh lợi nh­ những em tr­ợt đại học, cao đẳng hiện nay. Mục tiêu số một và cũng có thể nói là mục tiêu duy nhất của giáo dục THPT đã và đang tạo ra một bộ phận thanh niên có văn hóa ngồi trông chờ thời cơ, gây nên sức ép tiêu cực về nhiều mặt: a. Làm tăng nhu cầu giả tạo đối với giáo dục đại học khiến cho nhiều tr­ờng vội mở tràn lan các khoa tại chức, đ­a con số sinh viên này lên tới gần 30 vạn so với gần 28 vạn sinh viên chính quy. Đặc biệt ở các tr­ờng kinh tế, tài chính, pháp luật, ngoại ngữ, con số sinh viên tại chức năm 1997 đã lớn hơn số sinh viên tập trung từ 1 đến 4 lần; Đại học Kinh tế quốc dân - 4004/3162, Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh) - 7633/3925, Đại học Tài chính kế toán 3206/1574, Đại học Luật - 2565/1337, Đại học Ngoại ngữ (Đại học Quốc gia Hà Nội) - 3743/945... (Số liệu thống kê giáo dục các tr­ờng đại học, cao đẳng năm học 1997 - 1998, Hà Nội, tháng 3-1998). Sự th­ơng mại hóa giáo dục đại học có nguy cơ dẫn tới bùng nổ một cuộc khủng hoảng xã hội trong lớp trí thức trẻ đông đảo bị thất nghiệp. b. Làm tăng sức ép đòi hỏi việc làm cho hàng chục vạn thanh niên cầm

bằng tú tài đi xin những chỗ làm không cần có tay nghề ở thành phố vốn dĩ đã có quá nhiều vấn đề xã hội phức tạp ch­a giải quyết xong. Rõ ràng là mục tiêu kép về hình thức, đơn về thực chất của giáo dục THPT hiện nay ch­a phục vụ đúng yêu cầu "đào tạo nhân lực" cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa n­ớc nhà. *** Tr­ớc thực trạng vừa phân tích ở trên, bậc giáo dục THPT cần thiết phải đ­ợc điều chỉnh một cách cơ bản và toàn diện, từ mục tiêu đến kế hoạch ch­ơng trình và ph­ơng thức tổ chức thực hiện. Ơở đây, chúng tôi xin mạnh dạn đề xuất một ph­ơng án điều chỉnh, mong các cấp có thẩm quyền và giới chuyên môn tham khảo: 1. Về mục tiêu đào tạo Giáo dục THPT có mục tiêu đào tạo thanh niên thành ng­ời lao động làm nghề phổ thông và chuẩn bị một bộ phận để tiếp tục đào tạo thành ng­ời lao động có tay nghề chuyên môn bậc trung và bậc cao. Mọi thanh niên đến tuổi lao động đ­ợc tuyển vào đại học ở bậc trung học nhất thiết phải trở thành ng­ời lao động có kiến thức và kỹ năng cao hơn số thanh niên không đ­ợc đào tạo tiếp sau THCS. Đây là hệ quả tất yếu khách quan của kinh tế giáo dục, vì không có lý do gì khiến cho số đông (hơn 50%) thanh niên lao động sau 3 năm đào tạo THPT lại vẫn chỉ là những lao động không biết làm gì hơn học sinh THCS. Sở dĩ cô tú cậu tú không nghề quá đông nh­ hiện nay không phải vì công sức tiền của đào tạo này không thể tạo ra đ­ợc năng lực nghề nghiệp, mà chỉ vì nó không có nhiệm vụ đào tạo ng­ời lao động thực sự, vì nó không có mục tiêu xác định cụ thể, bắt buộc (mặc dù trong mục tiêu kép nói trên có nêu lên một cảnh hình thức, lập lờ, không bắt buộc nh­ đã phân tích). Mục tiêu đào tạo ng­ời lao đ­ợc phân ra các mức độ khác nhau: sơ cấp, trung cấp, cao cấp. Bậc nghề sơ cấp bao gồm hầu hết các nghề phổ thông trong xã hội mà tr­ờng THPT có khả năng bảo đảm đ­ợc cho đa số học sinh bình th­ờng, nếu biết kết hợp tốt với các cơ sở sản xuất tại địa ph­ơng, nếu thực sự gắn giáo dục với lao động sản xuất (cho đến nay tr­ờng THPT vẫn chỉ nh­ một ốc đảo cô lập với mọi hoạt động thực tiễn của địa ph­ơng, thoát ly yêu cầu xây dựng quê h­ơng). Còn bậc nghề trung cấp (cán bộ kỹ thuật trung cấp...) và cao cấp (kỹ s­, bác sĩ...) bao gồm những nghề đ­ợc chuyên môn hóa sâu theo các ngành khoa học, kỹ thuật, đòi hỏi phả văn hóa cơ bản vững vàng và những năng khiếu nhất định, cho nên tr­ờng THPT có trách nhiệm và có khả năng chuẩn bị tốt cho một bộ phận học sinh khá giỏi chuyển lên đào tạo tiếp ở bậc trên (đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp). Mục tiêu nh­ vậy là hoàn toàn phù hợp với những đòi hỏi khách quan của xã hội đối với đội ngũ lao động chủ yếu có vai trò quyết định

trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, với sự phân hóa đã rõ nét các nhân tố thuộc bản thân những học sinh ở độ tuổi phải tự khẳng định mình (năng lực, sở tr­ờng, ý chí, nguyện vọng, hoàn cảnh gia đình, điều kiện xã hội xung quanh...). 2. Về kế hoạch, nội dung, ch­ơng trình đào tạo Kế hoạch đào tạo cần đ­ợc chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn đầu là lớp 10 thống nhất chung cho cả n­ớc và dạy theo một ch­ơng trình cơ sở bao gồm tất cả các môn học. Sau một năm học tập, mọi học sinh đều đã thể hiện khá rõ nét các năng lực, sở tr­ờng của mình, nên có đủ cơ sở khách quan để thực hiện việc phân hóa đào tạo ở giai đoạn sau theo hai mục tiêu đã định. Kế hoạch đào tạo theo mục tiêu nghề nghiệp phổ thông sơ cấp là 1 năm (lớp 11). Nội dung bao gồm phần kỹ thuật tổng hợp (cơ, điện, động cơ v.v.), các nghề nghiệp phổ thông truyền thống và hiện đại ở địa ph­ơng nh­ nông nghiệp, lâm nghiệp, ng­ nghiệp, diêm nghiệp, thủ công nghiệp, th­ơng nghiệp, dịch vụ v.v... với các mô hình kết hợp linh hoạt, đa dạng thích hợp (thí dụ kiểu VAC với các loại cây, con đặc tr­ng có triển vọng ở từng địa ph­ơng). Kế hoạch đào tạo theo mục tiêu nghề nghiệp chuyên môn trung cấp và cao cấp là 2 năm (lớp 11 và 12). Nội dung đào tạo chia thành hai ban tự nhiên và xã hội để chuẩn bị tốt cơ sở kiến thức phổ thông cho học sinh sẽ đ­ợc tuyển vào các tr­ờng đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp. 3. Ph­ơng thức tổ chức đào tạo Để phân loại đào tạo theo hai mục tiêu một cách chính xác, dân chủ và công bằng, sau khi học hết giai đoạn 1, mỗi học sinh thỏa thuận với phụ huynh đăng ký học tiếp lên giai đoạn 2. Nhà tr­ờng tổ chức sát hạch cho những học sinh đăng ký học lên các ban tự nhiên và xã hội để tuyển đủ cho các chỉ tiêu quy định đối với từng tr­ờng THPT. Đến nay, nhìn chung cả n­ớc có khả năng thu nhận 50% số học sinh tốt nghiệp THPT đ­ợc học lên cao hơn nên chỉ số tuyển vào hai ban tự nhiên và xã hội khống chế ở khoảng 60%, nghĩa là có số d­ 10% để tuyển vào đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp. Trong thực tế bao giờ cũng có sự khác biệt rất lớn về số l­ợng học sinh của từng tr­ờng THPT trúng tuyển vào các tr­ờng đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, chẳng hạn nh­ ở tr­ờng THPT Hà Nội - Amxtexđam tuyệt đại bộ phận đ­ợc học lên, nh­ng nhiều tr­ờng THPT nông thôn chỉ có khoảng một vài chục em trúng tuyển vào các loại tr­ờng trên. Vì vậy, chỉ tiêu quy định tuyển vào ban tự nhiên, xã hội cho mỗi tr­ờng phải đ­ợc các cơ sở giáo dục đào tạo quy định hằng năm trên cơ sở cân đối giữa chỉ tiêu chung cả n­ớc và của tỉnh với con số bình quân thực tế những học sinh của tr­ờng đã đ­ợc học

lên cao ở năm tr­ớc đó, đồng thời cộng thêm 10% số d­ chung cả n­ớc. Nh­ vậy, có tr­ờng trong giai đoạn 2 chỉ có các phân ban tự nhiên, xã hội ng­ợc lại có tr­ờng chỉ đạt 15 - 20% vào các ban này. Căn cứ vào chỉ tiêu của giai đoạn 2, nhà tr­ờng tổ chức sát hạch cho những học sinh đã ghi tên (tốt nhất là giáo viên chủ nhiệm cố vấn giúp phụ huynh từng em cân nhắc khả năng thực tế của mình tr­ớc khi ghi tên). Tất cả học sinh trúng tuyển vào các phân ban tự nhiên và xã hội sẽ học theo ch­ơng trình quy định chung của Bộ và thi tú tài Nhà n­ớc. Những học sinh không trúng tuyển cùng với số học sinh không đăng ký vào các ban tự nhiên, xã hội sẽ học theo ch­ơng trình cứng của Bộ (kỹ thuật tổng hợp...) và các ch­ơng trình mềm do Sở giáo dục quy định cụ thể, phù hợp với khả năng và điều kiện thực tế của mỗi tr­ờng. Kết thúc giai đoạn 2 (lớp 11) học sinh thi lấy bằng nghề nghiệp sơ cấp (bậc 1, 2, 3) t­ơng đ­ơng với bằng cấp của các tr­ờng dạy nghề sơ cấp của Bộ Lao động, Th­ơng binh và Xã hội. Đại bộ phận số thanh niên có tay nghề này thuộc về khu vực nông thôn và miền núi. Do đó, đây sẽ là lực l­ợng lao động cần thiết cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, mà nếu cứ chỉ đào tạo THPT nh­ hiện nay thì nông thôn ch­a biết đến bao giờ mới có đ­ợc. Trên đây là những nét khái quát về một ph­ơng án điều chỉnh cải cách giáo dục THPT. Nếu giải pháp này đ­ợc chấp nhập, thực thi, thì sẽ tháo gỡ đ­ợc nhiều vấn đề bức xúc của xã hội: đáp ứng đ­ợc đúng mục tiêu đào tạo nhân lực có tay nghề cho đất n­ớc (chiếm khoảng 50% lực l­ợng lao động trong n­ớc với trình độ nghề nghiệp sơ cấp thay vì khoảng 30% theo dự kiến đào tạo vào đầu thế kỷ XXI kể trên), thỏa mãn đ­ợc nhu cầu học lên THPT của thanh niên, tránh đ­ợc áp dụng đòi mở rộng quy mô đào tạo quá mức đối với Trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học, giảm bớt đ­ợc tỷ lệ thanh niên có học rời bỏ nông thôn đổ về thành phố tìm việc, hạn chế đ­ợc các tệ nạn xã hội trong tầng lớp thanh niên v.v... (Tạp chí Cộng sản số 23/1998)