Docstoc

GDPT CHAT LUONG VA GIAI PHAP

Document Sample
GDPT CHAT LUONG VA GIAI PHAP Powered By Docstoc
					Giáo dục phổ thông: chất lượng và giải pháp

Báo Văn nghệ trẻ 2/5/2004
(Bài đã được cập nhật lại ngày 7/5/2004) Lê Đức Quý - NGND - Giám đốc Sở Giáo dục & Đào tạo Hà Tĩnh Mục tiêu Giáo dục phổ thông được thể hiện tại Điều 23 của Luật Giáo dục. Có thể tiếp cận mục tiêu đó ở 3 nhân tố quan trọng: Dân trí, nhân lực, nhân tài. Đó là quan điểm chỉ đạo của Đảng ta được thể hiện từ Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ IV khoá VII (1993) và tiếp tục được khẳng định tại Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ VIII (1996): “...Cùng với khoa học - công nghệ, Giáo dục và Đào tạo quốc sách hàng đầu, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhận lực, bồi dớng nhân tài...” Không ai có thể phủ nhận được trình độ dân trí ngày càng được nâng lên rõ rệt. Từ Phổ cập giáo dục tiểu học, xoá mù chữ đến đạt chuẩn Quốc gia Phổ cập giáo dục Trung học cơ sở, đến nay 1/3 tỉnh, thành và nhiều địa phương đã tiến hành Phổ cập giáo dục Trung học phổ thông, nhu cầu học tập của con em gần như được đáp ứng và tiến tới xây dựng một xã hội học tập. Điều đáng nói là các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa vùng dân tộc dù còn muôn vàn khó khăn, nhưng phần lớn các cháu đã được đến trường, được học tập và tiếp cận chương trình giáo dục. Nhìn một thập kỉ qua, đất nước ta đang phát tiển với tốc độ đáng tự hào về kinh tế –xã hội, quốc phòng, an ninh được giữ vững. Nguồn nhân lực chủ công làm nên thành tựu ấy phải là hàng triệu triệu người từ 18 tuổi trở lên đã tốt nghiệp THPT, hoặc ĐH, CĐ, THCN...
Hiện nay mỗi năm có khoảng 700 000 học sinh tốt nghiệp THPT, trong đó khoảng gần 200 000 được học lên các trường ĐH, CĐ, một số nữa bước vào trường THCN (chỉ tiêu khoảng 150000) và trường dạy nghề (chỉ tiêu khoảng 120000). Số còn lại bước vào LĐSX, chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc. Không ít lực lượng làm tốt vai trò nòng cốt của cán bộ cơ sở xã, phường, thôn, bản và rồi tất cả làm tốt trách nhiệm người công dân trong thời đại ngày nay. Lực lượng đông đảo ấy được học tập, rèn luyện trong các nhà trường XHCN từ phổ thông đến ĐH và tiếp tục được rèn luyện, cống hiến trong trường đời dưới sự lãnh đạo của Đảng làm chuyển mình đất nước. GD-ĐT góp phần không nhỏ trong việc đào tạo, bồi dưỡng nên nguồn nhân lực ấy.

Trong nền dân trí ngày càng được nâng cao, tạo nên nguồn lực lao động có trình độ học vấn ngày càng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, việc bồi dưỡng nhân tài – 1

một yêu cầu Đảng ta đặt ra cho Giáo dục phải thực sự quan tâm- Nhân tài lứa tuổi đang và hết Trung học phổ thông được kiểm nghiệm trên trường Quốc tế và khu vực và chúng ta phải tự hào; lực lượng ấy không chỉ bộ phận tham gia trực tiếp trên trường thi Quốc tế mà còn đông đảo trong nước. Dân trí, nhân lực, nhân tài thể hiện đầy đủ tổng quát mục tiêu Giáo phổ thông. Là tiềm lực rất đáng trân trọng mà Giáo dục và cả xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng tạo nên. Đảng ta đã xác định Giáo dục-Đào tạo là động lực trực tiếp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Rất tiếc trong nhận định, không ít tác giả còn nặng tính chủ quan, lấy cái cụ thể khái quát cái tổng thể, lấy mình đại diện cho công chúng, có người lấy uy thế là nhà khoa học, xuất thân học sinh từ những năm của thập kỉ 40, 50 khi người đi học đã là sự chọn lọc tự nhiên và chính các ông là những con chim đầu đàn về trí tuệ lại so với học sinh phổ thông ngày nay (tất cả đến tuổi đều được đến trường). Thế thì làm sao và đến bao giờ trên thế gian này có được một quốc gia có nền học vấn phổ thông có chất lượng ở tầm cao vậy.

Rồi lại so sánh với các nước mà đầu tư cho Giáo dục tính trên đầu người gấp hàng trăm, hàng chục lần ở Việt nam (Mỹ gấp 200 lần , Hàn quốc gấp 50 lần, Mailaxia gấp 25 lần, Thái Lan gấp 10 lần ...) Cần phải đặt trong điều kiện lịch sử cụ thể để phán xét, nếu không chúng ta phủ nhận công lao hàng triệu giáo viên đang vượt qua bao gian khó vì một nền học vấn của mọi miền quê, của đất nước vươn lên hoàn thành nhiệm vụ của mình trong điều kiện muôn vàn khó khăn, và tuyệt đại được công chúng tôn vinh, trân trọng. Sự nghiệp Giáo dục-Đào tạo gắn liền với sự chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các địa phương và công lao của mọi tầng lớp nhân dân. Thành công hay yếu kém mức độ nào còn là trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các cấp, đó là tư tưởng chỉ đạo của Đảng ta “Giáo dục và Đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân.” Cũng như bất cứ lĩnh vực nào, Giáo dục đang còn một bộ phận là CBQL, là GV, nhân viên phục vụ còn yếu năng lực, phương pháp, tâm huyết nghề nghiệp, thậm chí suy thoái về phẩm chất đạo đức cần phải được chỉ ra, bồi dưỡng và xử lí. Trong Hội thảo Quốc gia về chất lượng giáo dục, sư Trần Thanh Đạm phát biểu: “Trong cuộc Hội thảo về lượng giáo dục còn thấp kém hiện nay, những người phát nhiều nhất, mạnh nhất thường là những người không dạy còn các nhà giáo dạy học nào có ai nói gì, họ chỉ lẳng làm việc, lẳng lặng chịu đựng”. Giáo sư hiểu vậy là 2 giáo chất biểu học, lặng chưa

hoàn toàn, chính họ – những người trực tiếp quản lí giảng dạy, họ hiểu hơn ai hết công việc mình đang làm và giá trị của nó, không dễ gì họ chấp nhận mọi sự áp đặt, họ đủ điều kiện phán xét, chuẩn hay không nhận định của những người không dạy học, vấn đề là các nhà tổ chức hội thảo phải biết khai thác tiếng nói lực lượng này, không ít những người vì không nằm trong cuộc nên dễ phiến diện, xa rời thực tiễn. Đúng là họ “lẳng lặng chịu đựng”, vì họ rất thông cảm hoàn cảnh đất nước, địa phương mình còn quá khó khăn và nghèo nàn, đồng lương cũng như điều kiện làm việc, sinh hoạt hết sức bất cập, nhất là nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa trong lúc trách nhiệm giáo dục thể hệ trẻ luôn đòi hỏi cải tiến, đổi mới . . Chúng tôi có dự cuộc gặp mặt sau tết Quý Mùi (12/1/2004) cùng đại diện các Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú, CBQL các trường Tiểu học, THCS và giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 1, lớp 6 của hệ thống Giáo dục phổ thông do Thủ tướng Chính phủ chủ trì cùng với Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm và Lãnh đạo Bộ GD-ĐT tại Văn phòng Chính phủ. Cuộc gặp gỡ diễn ra tại thời điểm mà triển khai đại trà chương trình sách giáo khoa lớp 1, lớp 6 đã được hơn 1 học kì và cũng chính vào thời điểm rộ lên sự phản đối chương trình SGK mới, nhất là Tiếng Việt lớp 1, Mục đích cuộc gặp gỡ này Thủ tướng Chính phủ muốn nắm tình hình triển khai chương trình sách giáo khoa mới. Tại đây gần như tất cả tán đồng chương trình, nội dung SGK mới. Vấn đề là điều kiện để thực hiện chương trình còn khó khăn và bất cập. Trong kết luận của Thủ tướng: “Đến nay tôi thật sự yên tâm vì chính lực lượng này đang trực tiếp thực thi công việc hệ trọng này và cũng đã kiểm định qua nhiều lần củng cố và chỉnh sửa chương trình.” Mong muốn của chúng ta có một nền Giáo dục phát triển mạnh, chất lượng hơn là hoàn toàn đúng đắn, đó cũng là trăn trở của mọi quốc gia và không bao giờ chúng ta thoả mãn. Tiến sĩ Georgltaylor nghiên cứu viên giáo dục cao cấp của tổ chức RTI: “Mọi quốc gia đều không hài lòng về chất lượng giáo dục của mình, thế giới luôn thay đổi nhanh chóng; Giáo dục cũng phải luôn thay đổi... Do đó sự bất cập về chất lượng giáo dục so với đòi hỏi cũng là điều dễ hiểu”. Đối với nước ta thực sự so với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới giáo dục chưa đáp ứng được, nói cách khác đất nước ta còn có thể tiến với tốc độ nhanh và bền vững hơn nếu có 3

nguồn nhân lực được đào tạo chất lượng hơn.
Phương pháp giảng dạy và giáo dục chưa tốt ở một bộ phận không nhỏ giáo viên, nặng truyền đạt một chiều. Chất lượng văn hoá ở một bộ phận học sinh được phản ánh không đúng thực chất, cơ bản do CBQL, giáo viên không nghiêm, dù cho áp lực xã hội, gia đình là có thực. Mong muốn để con em học nhẹ nhàng mà có kết quả cao là điều dễ hiểu, nhưng cái mà xã hội cần và trân trọng ở nhà giáo là phản ánh đúng hay tương đối đúng chất lượng học tập của học sinh. Kết quả ấy phản ánh trong cả quá trình học tập và thi cử. Cũng không nên quá ngạc nhiên khi kết quả thi tốt nghiệp phổ thông có chênh lệch lớn so với điểm tuyển sinh vào ĐH vì thi tốt nghiệp phổ thông có 6 môn với yêu cầu chỉ cần nắm kiến thức cơ bản, tập trung chủ yếu lớp 12. Trong số đó lại có một tỷ lệ con em gia đình chính sách, dân tộc, khuyến khích học nghề. Tuy nhiên hiện tượng ngồi nhầm lớp, thái độ thi cử chưa tốt, không trung thực ở một bộ phận là chuẩn xác. Vấn đề không phải có tỷ lệ tốt nghiệp cao để lấy thành tích, tôi khẳng định điều này, Bộ, Sở hay Hiệu trưởng các trường THPT và lực lượng giáo viên họ rất thiết tha có các kì thi nghiêm túc, tạo động lực cho học sinh chăm lo cải tiến phương pháp học tập, nhưng khốn nỗi tính chưa đồng bộ giữa các địa phương, lòng nhân ái vị tha còn nặng, và cha mẹ học sinh, điều kiện cơ sở vật chất ... Tôi biết nhiều vị ngoài ngành phê phán gay gắt tinh thần làm việc việc này, nhưng không ít các vị rơi vào tình cảnh ấy, e cũng dễ hoà nhập. Dù sao đó cũng là tồn tại chủ quan mà ngành Giáo dục cần phải mạnh tay hơn. Công tác thi cử tuy đã được cải tiến nhưng vẫn còn bị động, nặng nề, tốn kém, chưa có định hướng chiến lược ổn định lâu dài nhất là tuyển sinh vào ĐH, cho đến nay vẫn chưa ổn định, phương án 3 chung hiện nay là tốt - tốt so với tuyển sinh riêng lẻ các trường trước đây, nhưng lâu dài đã ổn định chưa ? Về mặt khách quan: Nguồn lực đầu tư của Nhà nước tuy có tăng hàng năm trên tổng thể cả nước, cả tỉnh, nhưng khi phân bố xuống các trường học, cơ sở giáo dục lại không tăng, thậm chí giảm sút do mạng lưới giáo dục phát triển nhanh, đã thế nay còn tiết kiệm 10% sự nghiệp, 40% phần học phí thu để bù vào nâng lương, chưa kể các địa phương đang triển khai chế độ chính sách giáo viên MN theo Quyết định 161 của Thủ tướng Chính phủ, cân đối định mức chi trong sự nghiệp giáo dục chủ yếu cho con người > 90%. Quan điểm Giáo dục - Đào tạo là Quốc sách hàng đầu chưa được thể hiện rõ trong đầu tư, vì vậy điều kiện để đảm bảo giảng dạy và giáo dục còn quá xa so với yêu cầu, đây là yếu tố cốt lõi nhất tác động lớn đến giáo dục trong các nhà trường.

Nội dung chương trình có yêu cầu phải tiếp cận với các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới, chương trình nội dung ấy kéo theo định mức lao động người giáo viên, đội ngũ cán bộ phục vụ, cơ sở vật chất, phòng học, bàn ghế, bảng đen, hệ thống phòng chức năng (thư viện, thiết bị, nhạc hoạ, thí nghiệm thực hành, vi tính, ngoại ngữ ...) đang đòi hỏi cấp thiết của các địa phương. Từ đây nói lên sự hài hoà giữa mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đang là sự mâu thuẫn, nhất là bậc Trung học.
Việc đảm bảo nhu cầu học tập cho con em là hoàn toàn chính đáng, điều đó không có nghĩa là phải mở ồ ạt các trường trong lúc điều kiện tối thiếu không đảm bảo (đội ngũ, cơ sở vật chất ...) Đây là một áp lực của hầu hết các địa phương, chúng ta biểu dương các tỉnh tất cả các xã, phường ,... đều có trường THCS và đương nhiên mỗi trường

4

này chỉ dao động từ 8-12 lớp với tỷ lệ giáo viên 1,7 GV/lớp (bình quân cả nước) mỗi giáo viên chỉ được đào tạo (cho là chuẩn) 1-2 môn, vậy hoặc là phải dạy chéo môn, hoặc đơn độc thao tác, làm sao trao đổi, đúc rút kinh nghiệm và tiềm lực đầu tư càng khó khăn và lãng phí. Ai dám nói chất lượng văn hoá ở đây là tốt, và rồi phần lớn được tuyển vào THPT cho dù loại hình nào-

Để GD-ĐT nước nhà phát triển, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH đất nước theo tôi cần tập trung một số giải pháp sau đây: 1. Phải thể hiện đầy đủ tư tưởng chỉ đạo của Đảng ta được thể hiện trong các văn kiện của Đảng đối với GD-ĐT từ Nghị quyết TW4 (khóa VII). Nay tư tưởng chỉ đạo ấy luôn được đặt lên hàng đầu trong hàng loạt vấn đề, đó là “Giáo dục là Quốc sách hàng đầu”.
Từ chủ trương, cơ chế chính sách, nguồn lực đầu tư, từ bộ máy đến nguồn lực con người trong hệ thống giáo dục cần phải được đáp ứng theo yêu cầu. Những bất cập được đề cập trong các nguyên nhân trên cũng xuất phát các chính sách, đầu tư của Nhà nước chưa phù hợp tư tưởng chỉ đạo đó .

2. Quan tâm xây dựng hệ thống các trường ĐH và CĐSP. Là trường ĐH, CĐ có tính đặc thù là đào tạo thế hệ thầy cô giáo đảm trách chất lượng giáo dục phổ thông, tạo nguồn cho các trường ĐH và CĐ của Quốc gia. Chúng ta chưa có điều kiện tập trung đầu tư cho cả hệ thống giáo dục ĐH thì đối với các trường SP cần khẩn trương xem xét 2 vấn đề cơ bản là đội ngũ và CSVC phục vụ cho giảng dạy, giáo dục và nghiên cứu. Đội ngũ ở đây phải tuyệt đối đủ chuẩn đào tạo (thạc sỹ trở lên) giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, vững vàng kiến thức chuyên môn kể cả phổ thông, từ đó để có phương pháp giảng dạy và giáo dục phù hợp, kể cả chính sách tiền lương, phụ cấp tương ứng vị trí của nó. Phải coi trọng và đảm bảo cả hai nội dung Đào tạo và Nghiên cứu khoa học giáo dục. Phải có cơ chế gắn kết, phối hợp giữa Đại học sư phạm với hệ phổ thông. Coi giáo dục phổ thông là môi trường để nghiên cứu, điều chỉnh bổ quá trình đào tạo ở trường SP. Việc nhiều trường ĐHSP do thu hẹp về tuyển sinh chính quy SVSP nên được mở ĐH mang tính đa ngành và hiện nay trở thành lực lượng đại đa số sinh vên của trường đó. Theo tôi, chúng ta chưa đặt đúng vị trị của ngành SP. Ai dám chắc rằng nó không ảnh hưởng gì đến bộ phận chính quy SP, trong lúc cán bộ giảng dạy mới trên 50% có trình độ trên ĐH, cơ sở vật chất trường nào cũng chưa phải là chấp nhận được. Trường SP không những đào tạo sinh viên mới mà còn phải tham gia vào 5

việc đào tạo lại, bồi dưỡng, nâng chuẩn ngay cả phương pháp giảng dạy phổ thông cho lực lượng rất lớn giáo viên phổ thông trong vùng- Vấn đề là Bộ GD-ĐT cần chỉ đạo các địa phương và trường SP tập trung vào vấn đề này như thế nào ? Cũng cần nghiên cứu chính sách thu hút sinh viên giỏi vào SP - chính sách không đóng học phí thời gian qua mới chỉ phù hợp cho dân nghèo (lực lượng lớn), nên chưa có tác động vào lực lượng học sinh giỏi có nguyện vọng vào. Đã là trường SP dù ở bất cứ địa phương nào nó cũng là trọng điểm trong hệ thống các trường ĐH và CĐ, vì chất lượng giáo dục phổ thông không thể yêu cầu khác nhau ở các địa phương. 3. Bộ Giáo dục-Đào tạo chủ trì phối hợp với các ngành chức năng cần có khảo sát tổng thể mạng lưới trường lớp hiện nay và các điều kiện phục vụ giảng dạy trình Chính phủ, chỉ đạo các địa phương xây dựng mạng lưới trường lớp một cách hợp lí trên cơ sở vì chất lượng và nhu cầu học tập, lấy chất lượng làm trọng. 4. Bộ Giáo dục-Đào tạo chỉ đạo mạnh mẽ hơn lực lượng CBQL, giáo viên các cấp tập trung đổi mới phương pháp quản lí và giảng dạy, giáo dục. Hiện nay điều kiện đảm bảo phục vụ công tác giảng dạy, giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu - nằm ngoài tầm của ngành GD-ĐT, nhưng chắc chắn dần phải được cải thiện, nhưng đầy đủ bao nhiêu thì hiệu quả giáo dục vẫn phụ thuộc con người. Vì vậy các Vụ chức năng chỉ đạo phối hợp các trường quản lí giáo dục, trường SP chỉ đạo quyết liệt hơn. Đồng thời cũng giải quyết khẩn trương chính sách cho lực lượng giáo viên còn 1 – 2 năm đến tuổi nghỉ hưu không thể đáp ứng nhiệm vụ hiện tại do nhiều nguyên nhân (Hiện nay cả nước gần 10%) theo Nghị quyết 16 của Thủ tướng Chính phủ. 5. Phân cấp quản lí giáo dục từ Trung ương đến địa phương phải được thực thi như tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, thể hiện trong chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 và chiến lược 10 năm cải cách hành chính là tạo thế chủ động cho Ngành trên cả 3 mặt: Chuyên môn, Tài chính và Tổ chức-Cán bộ. Tách rời và thiếu tính chủ động trên cả 3 vấn đề lớn đó, nhất định ảnh hưởng lớn đến sự điều hành của giáo dục, dẫn đến chất lượng giáo dục khó khăn là điều dễ hiểu. 6

Giáo dục và Đào tạo cũng như mọi lĩnh vực khác đều có những thách thức lớn lao trước yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập Quốc tế. Để Giáo dục và Đào tạo đạt được mục tiêu đề ra là cả một quá trình. Vấn đề hiện nay chúng ta cần sự đồng thuận cả trong và ngoài Ngành về cả nhận thức và hành động, bình tĩnh chỉ ra nguyên nhân cơ bản và từng bước tháo gỡ trong định hướng chiến lược phát triển nền Giáo dục nước nhà.

Hà Tĩnh, tháng 4 năm 2004.
Văn Nghệ Trẻ 02/05/2004

7