DOI MOI GIAO DUC DAI HOC HIEN NAY

Document Sample
DOI MOI GIAO DUC DAI HOC HIEN NAY Powered By Docstoc
					Phương pháp luận của việc đổi mới giáo dục đại học hiện nay
Nếu như GD là quốc sách hàng đầu thì GD Đại học giữ vị trí tiền tiêu trong mặt trận GD vì nó trực tiếp tác động ngay đến sự hội nhập và cạnh tranh của đất nước. Trong GD Đại học, có rất nhiều vấn đề cụ thể để bàn nhưng trước hết phải định hướng suy nghĩ cho đúng đã, cố gắng làm sao để chỉ cần ấn một số nút là cả cỗ máy GD đại học sẽ xoay chuyển thuận lợi. Nên nhớ rằng, ta đã nêu mục tiêu "đuổi kịp" các nước phát triển hơn ta trong điều kiện ta nghèo hơn họ nhiều. Chưa nói đến các nước công nghiệp mới, chỉ mới nói đến Thái Lan, ta đã thấy ngay một tương quan như sau; Về GDP/ đầu người, họ gấp ba ta, về đầu tư cho GD/ đầu người, họ gấp tám ta. Và ta phải đuổi kịp họ, nghĩa là ta phải lấy 1 chọi 8 (xét về đầu tư). Có ý kiến cho rằng, thế thì ta phải nâng 1 lên thành 8/3 trong việc đầu tư cho GD. Vấn đề này xin để Nhà nước xem xét. Hiện nay rất nhiều ý kiến cho rằng đầu tư cho GD ở nước ta, tuy đã có nhiều cố gắng nâng dần lên đến 17% ngân sách, nhưng vẫn chưa tương xứng với "quốc sách hàng đầu". Nhiều người chỉ mong sao GD được quan tâm như thể dục, thể thao thời gian qua. Dù có sự thay đổi tích cực trong việc Nhà nước đầu tư cho GD thì trong cuộc chạy đua về GD với Thái Lan, may mắn nhất thì ta cũng phải lấy 1 chọi 3. Có ý kiến nêu ra việc đi tắt, đón đầu. Điều đó là đúng nhưng chưa đủ. Đi tắt, đón đầu mới chỉ là giải quyết mâu thuẫn giữa đi trước và đi sau: Người đi sau là lạc hậu so với người đi trước nhưng lại thừa hưởng được kinh nghiệm của người đi trước để đi tắt, để dự báo mà đón đầu, đỡ gánh nặng thanh toán những cái hôm qua còn xem là hiện đại (và vì ta lạc hậu nên chưa có nhiều), hôm nay đã trở nên lỗi thời. Triết học duy vật biện chứng còn chỉ cho ta cách suy nghĩ để giải quyết nhiều mâu thuẫn, biến được nhiều khó khǎn thành thuận lợi, tận dụng được sức mạnh của sự tất yếu, ẩn trong các quy luật khách quan. Tư tưởng Hồ Chí Minh "ai nấy được học hành", "Khó vạn lần dân liệu cũng xong" cũng ẩn chứa bao nhiêu lực nội sinh. Ta hãy thử vận dụng triết học DVBC và tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết những khó khǎn đương cản trở bước tiến của nền GD Đại học Việt Nam. 1/ Số lượng và chất lượng. Có ý kiến cho rằng vì ta phát triển số lượng nhanh quá nên tất yếu chất lượng phải kém. Nhưng ta cũng kém các nước trong vùng về số lượng. Ví dụ số SV/ vạn dân của ta chỉ bằng nửa của Thái Lan. Vả chǎng, giữa số lượng và chất lượng có mâu thuẫn nhưng cũng có thống nhất vì người học càng phát huy nội lực tự học được càng nhiều thì Nhà nước và xã hội, với một số vốn nhất định bỏ ra, sẽ lo được cho nhiều người học hơn (như bộ phận học từ xa càng nhiều thì càng đỡ lo ký túc xá, đỡ lo trường sở, đỡ lo GV), còn bản thân người học, do cố gắng phát huy nội lực nên học có chất lượng hơn. Mười lǎm nǎm vừa qua, nền GD nước ta phạm nhiều sai lầm, thiếu sót trong việc phát huy nội lực tự học, tự nghiên cứu, tự trau dồi nghề nghiệp (ba tự) của người học. Cụ thể là: - Bằng bộ đề thi mà gây ra nạn học tủ, dạy thêm, học thêm tràn lan, làm suy thoái nội lực ba tự nói trên. - Chính sách phân biệt đối xử với người có bằng phi chính quy, nghiễm nhiêm coi "bằng phi chính quy" là kém mà không cần kiểm tra nǎng lực thực tế của người có bằng (không cho thi, không nhận cho đi làm,...) - Cả một thời gian dài, chỉ lo chương trình và sách giáo khoa, không lo đổi mới phương pháp dạy và học, rất lúng túng trong chỉ đạo đổi mới phương pháp sau khi có nghị quyết 2 của BCHTƯ Đảng khoá VIII. - Trong thi tuyển sinh vào Đại học, không chú ý thử thách "Khả nǎng tự học" là cái đang rất thiếu trong GD Đại học ở nước ta (nên Đại học bị coi là phổ thông cấp 4) nhưng lại là cái góp phần quan trọng vào chất lượng đào tạo. - Rất rụt rè trong việc phát triển "GD từ xa", trái với đường lối "đa dạng hoá các hình thức đào tạo" của Đảng". Đường lối này chính là sự cố gắng thống nhất mâu thuẫn giữa chủ quan (khả nǎng tổ chức cho dân học rất đa dạng) và khách quan (điều kiện để học của dân cũng rất đa dạng), bằng chủ trương "lấy cái đa dạng để khắc phục cái đa dạng", làm theo đúng khoa học hệ thống. Ngày nay, để nước ta sớm đi vào "Đại học đại chúng", tức là đạt trên 15% số thanh niên trong độ tuổi 18-24 được đi học Đại học (hiện mới có 8%) thì phải đa dạng hoá cả trình độ đào tạo Đại học, vừa có những Đại học quốc gia, Đại học trọng điểm, vừa có những Đại học cộng đồng đào tạo ra những người, tuy đều tốt nghiệp Đại học, nhưng đáp ứng những nhu cầu khác nhau về trình độ, có người là nhân tài, có người là nhân lực Đại học phổ biến. 2/ Học đi đôi với hành, nhà trường gắn với đời sống, khó vạn lần dân liệu cũng xong. Một mặt của sự yếu kém trong nền GD của nước ta là "học chay", "dạy chay", "học đi đôi với hành", nhất là "hành" ngoài đời. Ngày nay, "công nghệ" tiến như vũ báo, chỉ có cách "gắn với đời sống" mới khỏi lạc hậu so với đời sống và chỉ có nghiên cứu khoa học mới đón trước được yêu cầu của đời sống và do đó được "đời sống" tạo điều kiện cho mà nghiên cứu, góp phần thực hiện khẩu hiệu "khó vạn lần dân liệu cũng xong", nhất là đối với một nước còn nghèo như chúng ta nhưng lại có truyền thống vận động quần chúng. Chứng cớ ở nước ta có nhiều: Việc "nhựa hoá" đường nông thôn hiện nay, việc mọc lên ngót ba nghìn trung tâm học tập cộng đồng trong một thời gian ngắn, việc trước đây ba thập kỷ, trường Đại học sư phạm Hà Nội đã đưa được công tác nghiên cứu và thực nghiệm khoa học vào nhà trường phổ thông trong điều kiện nhà trường phổ thông không có kinh phí nghiên cứu khoa học; HS phổ thông được chọn làm cộng tác viên cho các đề tài của trường ĐH. Họ lao động khoa học để "học một cách thông minh" dưới sự hướng dẫn của các thầy Đại học với ruộng, vườn, ao của nhân dân, phục vụ nhân dân bằng cách chuyển giao công nghệ từ trường Đại học vào cuộc sống. Đằng sau những việc này có cái triết lý của việc "trồi lên những nội lực mới" khi hai hệ thống con trước đây bị xử lý tách rời, nay được xử lý như là hai hệ con của cùng một hệ mẹ (ở đây là hệ "nhà trường" và hệ "đời sống xã hội", hệ "đại học" và hệ "phổ thông").

3/ Nhạy bén với những thành tựu của khoa học, công nghệ, kinh tế hiện đại, đổi mới mục tiêu đào tạo song song với việc tìm ra cách để đạt đến mục tiêu trong hoàn cảnh của nước ta. Điều phải nhấn mạnh trong mục tiêu đào tạo ngày nay là sức nǎng động sáng tạo của con người; nói như vậy ai cũng đồng ý nhưng lại rất ít ý kiến về cách làm thế nào để người học có sức nǎng động sáng tạo. Theo tôi, có mấy cách sau đây: - Nhà trường (kể cả trường phổ thông) phải gắn với đời sống và nghiên cứu khoa học vì đời sống thay đổi rất nhanh, còn lao động nghiên cứu khoa học luôn luôn đặt người ta trước những tình huống có vấn đề chưa có sẵn cách giải quyết. Vì vậy, mỗi trường Đại học phải gắn với một doanh nghiệp và với một mạng lưới trường phổ thông (dù cho không phải là trường Đại học sư phạm) - Phải coi trọng các khoa học tư duy, nhất là triết học DVBC và sáng tạo (creatology). Trong các trường Đại học, phải dạy triết học DVBC trong sự gắn kết với chuyên ngành đào tạo của từng khoa, để SV thấy rõ học đi đôi với hành theo mục tiêu của khoa, để họ có hứng thú học tập. Triết học DVBC lại là cơ sở triết học của sáng tạo học, một khoa học nghiên cứu và vận dụng các quy luật của sự sáng tạo. Các nước phát triển phương tây chậm chân so với Liên Xô (cũ) về sáng tạo học có lẽ vì hàng rào "ý thức hệ" ngǎn cản nhưng cuối cùng, khi nhận ra tầm quan trọng chiến lược của sáng tạo học, họ đã vượt qua cả hàng rào ý thức hệ, hối hả lo xây dựng sáng tạo học trong nước họ. Vì vậy, phải rất thận trọng trong việc dùng trắc nghiệm vào tuyển sinh Đại học vì trắc nghiệm dùng luật bài truy (chỉ có hai cách trả lời: đúng hoặc sai) trong lúc mà triết học DVBC bác bỏ luật bài truy. Một nước phát triển như nước Mỹ, có hẳn cả một công nghiệp trắc nghiệm, cũng phải lo hối hả chạy theo sáng tạo học. Vì vậy chỉ có thể dùng trắc nghiệm trong tuyển sinh Đại học vào việc loại nhanh đi những thí sinh quá kém, không thể dùng nó để phát hiện ra các mầm mống nhân tài; vả chǎng dùng nó vào chỗ "nhạy cảm" là tuyển sinh Đại học sẽ gây ra cơn sốt "trắc nghiệm" làm cho tự luận bị đẩy lùi mà tự luận mới đi sâu được vào sự tinh vi của tư duy, vào sáng tạo học.