Docstoc

ME TRONG chua benh

Document Sample
ME TRONG chua benh Powered By Docstoc
					ME TRONG CHỮA BỆNH Tác giả : BS. TRANG XUÂN CHI Ăn canh chua me, ăn mứt me chua ngọt, ăn me chín thường ngày... nhưng ít ai hiểu được tác dụng quý của me trong điều trị hỗ trợ một số bệnh về đường ruột, loạn chức năng gan, phụ nữ có thai bị nôn oẹ, ghẻ ngứa, viêm da… Tên gọi Me có tên gọi: Cây me, ampil, mark Kham (Lào), khua me (Campuchia), La vọng tử; Me có tên khoa học: Tamarindus indica L, thuộc họ Vang Caesalpiniaceae. Me được trồng từ hạt me chín, mọc hoang ở rừng núi (do chim ăn rồi ỉa ra hạt). Me thuộc loại cây lớn, cao, từ 15-25-30m, tán rộng, nhiều lá. Lá kép lông chim chẵn, dài 810cm, gồm 10-20 đôi lá chét thun tù ở đầu, dài 20mm rộng 2mm; Hoa trắng nhạt, có những vệt đỏ hay trắng, mọc thành chùm đơn ở kẽ lá hay ở thành chùy tận cùng. Quả dài mọc thòng xuống, hơi dẹt, dài 7-12cm, rộng 25mm, dày 10mm, vỏ quả ngoài mỏng, cứng, giòn, màu hung đỏ, vỏ quả giữa có màu nâu nhạt, hay vàng nhạt. Quả chứa 3-5 hạt dẹp, nhẵn, màu nâu đỏ, bóng, mùa quả có từ tháng 10-11. Me được trồng từ hạt, nhiều nơi me được trồng trong các đường phố để có bóng râm mát. Gần đây, các nghệ nhân cây kiểng đã trồng me vào chậu tạo dáng bonsai. Công dụng và liều dùng Me được dùng từ trái me tươi hoặc nghiền nát lấy phần cơm từ quả rồi chế thành thuốc. Vỏ và lá cây me vẫn sử dụng tươi làm thuốc. Me có nhiều thành phần hóa học quý chứa 10% nhiều loại axít hữu cơ (trong đó có 9,40% axit citrít; 1,55% axít tac trit; 0,45% axít malic) có muối kalibitactrat, 3,25% antho cyanidin, đường có 12,5%; gôm 4,70%; pectin 6,25%; chất xơ 34,35% và nước 27,55%. Trong hạt me có glucozan, xylan, proteit, sáp chất béo và muối vô cơ. Theo Đông y, me có vị chua, tính mát, thanh nhiệt, giải khát, tăng cường tiêu hóa. Ngoài tác dụng chống nôn oẹ ở phụ nữ thai nghén, me còn được dùng chữa bệnh như sốt cao có nguyên nhân hay chưa có nguyên nhân. Cách làm như sau: Me nghiền nát quả, lọc bỏ xơ, lấy 50g cơm đã lọc bỏ xơ, 50g nước và 125g đường. Đun sôi bằng lửa than như lửa rim mứt còn lại 200g (có thể đem sấy khô cơm me để dành), lấy 30g cơm me pha với nước sôi để nguội uống. Cơm me rất tốt trong chữa bệnh về gan, (rối loạn chức năng gan, men gan) rối loạn tiêu hóa thể táo (rất tốt trong điều trị nhuận tràng), thông lợi tiểu dắt, tiểu buốt, trong nước tiểu qua xét nghiệm có nhiều chất cặn, lắng axit uric, oxalat, HBC 1-2 cái… Vỏ cây me dùng để chữa lỵ, dùng nước vỏ cây me (giã nhỏ lọc sạch) xúc miệng chữa viêm lợi, chân răng (viêm nha chu), chữa tiêu chảy. Lá me vò nát, nấu nước tắm trị ghẻ, phòng các bệnh ngoài da, xoa lên nơi dị ứng ngứa. Liều lượng sử dụng: Người lớn từ 20-120g cơm me, thêm đường để uống; Trẻ em từ 10 - 12 tuổi dùng từ 10-20g cơm me. Đơn thuốc có me: Me giã nát, lọc bỏ xơ và hạt, đổ sirô đặc vào đun sôi. Mỗi ngày dùng từ 15-20g- 30g cơm me cho vào nước uống rất tốt, có thể thay viên vitamin C (Nervon C), uống thường xuyên tăng cường miễn dịch, tạo sức đề kháng tốt cho cơ thể.


				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Tags:
Stats:
views:77
posted:10/21/2009
language:Vietnamese
pages:1