4 lời khuyên dinh dưỡng
Ngoài việc cho con bú sữa mẹ, những người nuôi con nhỏ đều nên biết về những thức uống độc hại cho trẻ để tránh, biết cách cho ăn dặm, chế độ dinh dưỡng hợp lý...
Từ 4 - 6 tháng bắt đầu cho trẻ ăn dặm
1. Sữa mẹ: “ SỮA MẸ LÀ THỨC ĂN TỐT NHẤT CHO TRẺ”
Nên cho trẻ bú mẹ liền ngay sau khi sinh, nếu mẹ sinh mổ thì cố gắng cho trẻ bú mẹ càng sớm càng tốt. Trong 4 tháng đầu nên cho trẻ bú mẹ hoàn toàn. Để sữa mẹ tiết ra nhiều, bà mẹ cần: Cho trẻ bú mẹ càng nhiều lần càng kích thích tạo sữa nhiều. Mẹ ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng (4 nhóm thực phẩm), không kiêng khem Nghỉ ngơi nhiều. Tránh căng thẳng.
Nên cho bé bú mẹ kéo dài đến 18-24 tháng tuổi. 2. Các thức uống độc hại đối với trẻ: Rượu. Trà. Cà phê. Các loại nước ngọt nếu dùng quá nhiều. Tất cả các loại thức uống bán rong ngoài đường phố.
3. Ăn dặm: Trẻ bắt đầu ăn dặm ở lứa tuổi từ 4 tháng đến 6 tháng. Nguyên tắc ăn dặm: o Ăn từ ít đến nhiều. o Ăn từ loãng đến đặc. o Bữa ăn của bé cần đủ 4 nhóm thực phẩm: bột, béo, đạm, rau và trái cây. Số lượng bữa ăn trong ngày tùy thuộc vào lứa tuổi: o o o o o 0 đến tròn 4 tháng: Bú mẹ hoàn toàn. 4 tháng đến 6 tháng: 1 đến 2 bữa ăn sệt và bú mẹ nhiều lần 7 tháng đến 9 tháng: 2 đến 3 bữa ăn đặc và bú mẹ nhiều lần. 10 tháng đến 18 tháng: 3 bữa ăn đặc và bú mẹ 2-3 lần, nếu bú cả ban đêm thì tốt Trên 18 tháng: ăn 2 đến 3 bữa cơm và 2 đến 3 bữa phụ. Thức ăn phụ gồm chè, chuối, khoai, sữa... và cho ăn xen kẽ với các bữa chính.
Sau thời gian đó, phải chú ý cho con bạn có một chế độ dinh dưỡng hợp lý. 4. Thế nào là dinh dưỡng hợp lý? Đủ về số lượng: 3 bữa mỗi ngày, phải cần cho trẻ ăn bữa sáng, thêm 1 đến 2 bữa phụ trong ngày với các loại thực phẩm như trên o Đủ về chất lượng: Mỗi bữa ăn chính cần có đủ 4 nhóm thực phẩm gồm đạm, béo, bột và rau & trái cây. An toàn vệ sinh: o Vệ sinh ăn uống: - Rửa tay sạch trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh. - Chọn thức ăn có đậy, sạch sẽ, không ôi thiu, không có phẩm màu, không ăn quà vặt bán rong ngoài đường
o o
Vệ sinh cá nhân: - Vệ sinh răng miệng: chải răng sau khi ăn và trước khi đi ngủ. - Vệ sinh thân thể: tắm rửa sạch sẽ mỗi ngày Ngủ: phải ngủ ít nhất 8 tiếng mỗi ngày
Ngày Tết cho bé ăn uống gì?
Tết, thời tiết miền Nam thường nóng bức, mọi người lại bận rộn, các sinh hoạt của ngày tết thường làm đảo lộn giờ giấc ăn nghỉ của các bé. Phần lớn thức ăn ngày tết được chuẩn bị trước vài ngày, và thường rất béo hoặc rất ngọt, ít chất tươi, rất ít rau xanh. Các bé nhỏ thường được cho ăn qua loa so với ngày thường, dễ dẫn đến sụt cân. Ngược lại, một số bé lớn, đặc biệt là các bé thừa cân lại rất khoái khẩu, ăn nhiều, “ăn mọi lúc, mọi nơi” nên rất dễ tăng cân. Để giúp các bé có dinh dưỡng tương đối cân bằng trong ngày tết, những biện pháp đơn giản sau đây sẽ rất hữu ích: Dự trữ rau xanh cho bé: Mua nhiều loại rau, nhặt sạch, cho vào ngăn mát của tủ lạnh, dùng dần trong vài ba ngày chợ không họp. Những loại củ, quả, như bí đỏ, bí đao, cà chua, bầu, cà rốt, su hào … có thể dự trữ lâu ngày mà không cần tủ lạnh. Mặc dù bé có thể ăn những thức ăn ngày tết ngon lành, nhưng mỗi bữa nên dành ra năm mười phút nấu thêm bát canh để khẩu phần của bé cân đối hơn, giúp bé không bị táo bón, lở miệng, mọc mụn nhọt. Ăn trái cây cũng góp phần làm khẩu phần ngày tết đỡ khô khan, đủ chất tươi. Cho bé uống nước thường xuyên: Thức ăn nhiều đạm, nhiều béo, nhiều đường của ngày tết và thời tiết nóng bức làm bé cần nhiều nước hơn ngày thường. Hơn nữa, quần áo đẹp với mẫu mã phức tạp, nhiều tầng lớp, chất liệu nhiều nylon làm bé ra mồ hôi nhiều, càng cần nhiều nước. Bé thiếu nước dễ sinh viêm đường hô hấp. Đa số các bé lớn, nhất là các bé thừa cân, rất thích ăn các thức ăn, đồ uống ngày tết. Các thức này lại rất giàu năng lượng. Cần có sự kiểm soát: không để bánh mứt, nước ngọt nhiều trên bàn, trong tủ lạnh, nhắc nhở các em ăn vừa phải để tránh tình trạng lên cân quá mức. Khi đi chơi xa, phải ăn ngoài, cần chú ý vệ sinh an toàn thực phẩm. Tránh những hàng quán bán ở lề đường, bán ngoài trời, sử dụng nước không sạch, nhiều ruồi nhặn, bụi bặm, dễ tiêu chảy. Nước đá làm từ nước không đảm bảo vệ sinh cũng là một nguyên nhân gây rối lạn tiêu hóa. Cháo ăn liền, mì ăn liền, nước uống đóng chai, sữa tươi hoặc sữa chua đóng gói rất tiện dụng và đáng tin cậy về vệ sinh. Duy trì giờ giấc ngủ nghỉ càng gần với ngày thường càng tốt. Bé ngủ đủ, đúng giấc mới vui vẻ, ngon miệng. Các loại thức ăn có thể gây hóc, sặc như hạt dưa, hạt bí, các loại trái cây có hạt nhỏ như dưa hấu, mãng cầu … cần để xa tầm tay các bé còn nhỏ.
Chúng ta hãy cùng bé ăn tết vui và khoẻ!
BS Nguyễn Thị Ngọc Hương (Trưởng phòng khám TTDD TP.HCM) (Theo báo Phụ Nữ Chủ Nhật)
Cho trẻ ăn dầu hay mỡ?
Hỏi: Khi nấu bột cho bé tôi thường cho thêm mỡ động vật cho ngậy. Nhưng tôi nghe nói mỡ có nhiều cholesterol nên không tốt, cần cho trẻ ăn dầu thực vật. Thông tin này có đúng không? Trả lời: Chất béo bao gồm dầu, mỡ thuộc nhóm chất dinh dưỡng chính và có vai trò cần thiết với cơ thể, là nguồn sinh năng lượng quan trọng. Đặc biệt chất béo giúp cho sự phát triển sớm về trí tuệ và thể lực của trẻ. Cơ thể muốn hấp thu và sử dụng tốt các vitamin A, D, E, K, cần có dầu mỡ. Nói chung trong dầu thực vật có nhiều axit béo chưa no cần thiết cho cơ thể nhưng lại rất ít hoặc không có axit arachidonic- một axit béo chưa no cần thiết có 3 liên kết kép trong thành phần và có nhiều vai trò trong quan trọng trong cơ thể. Mỡ động vật, đặc biệt mỡ gan cá và một số mỡ động vật sống ở biển có nhiều vitamin A, D và axit arachidonic cần thiết cho cơ thể. Mỡ động vật có nhiều cholesterol một chất cũng cần thiết với trẻ em.
Trong những năm đầu đời, trẻ phát triển và tăng trưởng nhanh cả về thể chất và tinh thần. Các thiếu hụt về chất béo trong khẩu phần ăn hàng ngày ảnh hưởng đến chức phận nhiều cơ quan, đặc biệt là cơ quan thần kinh. Do vậy, với trẻ em, khẩu phần ăn cần đảm bảo đủ chất béo. Cụ thể, với trẻ dưới 1 tuổi, năng lượng do chất béo cung cấp phải trên 40%, trẻ 1-2 tuổi năng lượng do chất béo cung cấp phải từ 30-35% tổng năng lượng khẩu phần. Vì bữa ăn của trẻ thường có thịt, trứng, sữa là đã có một lượng nhất định chất béo động vật nên khi bổ sung thêm chất béo, nên nấu một bữa dầu, một bữa mỡ. BS. Nguyễn Thị Nhài (Báo Sức khoẻ & Đời sống)
6 Không trong bữa ăn của trẻ
Đầu tiên là không nên “lên lớp” cho trẻ. Một số cha mẹ trong bữa ăn thường giáo huấn con mình, gây cho trẻ tâm lý khó chịu, bực tức, dẫn đến tình trạng tim đập nhanh, huyết áp tăng, khả năng tiêu hóa bị ảnh hưởng, khẩu vị giảm sút. Nếu tình trạng trên lặp lại thường xuyên, trẻ sẽ không còn cảm giác thèm ăn trước bữa ăn và có nhiều hậu quả nghiêm trọng về tâm sinh lý khác. Vì vậy, trong bất kỳ là bữa ăn nào mà trẻ tham dự, cần tạo một không khí vui vẻ, thích thú để nâng cao công năng tiêu hóa, có lợi cho sức khỏe thể chất và tinh thần trẻ. Những điều không nên khác: 1. Cho trẻ ăn những thực phẩm quá mặn: Những món này sẽ cung cấp quá nhiều natri trong khi thận của các trẻ phát triển chưa hoàn thiện, năng lực bài tiết natri còn kém. Như vậy, sự bài tiết sẽ bị ảnh hưởng, dấn đễn tổn thương thận, suy thận hoặc viêm cầu thận. Nồng độ natri trong máu tăng cao có thể gây ảnh hưởng đến hệ thống tuần hoàn máu - một trong những nguyên nhân gây bệnh huyết áp khi về già. Ngoài ra, việc ăn mặn còn khiến trẻ bị một số bệnh như suy tim, cơ bắp suy yếu. 2. Sử dụng nhiều đồ đông lạnh trong thức ăn của trẻ: Tỳ vị của trẻ chưa hoàn thiện nên việc thức ăn lạnh vào dạ dày quá nhiều sẽ làm cho niêm mô huyết quản dạ dày bị co hẹp lại, dịch vị giảm. Đây là nguyên nhân giảm khả năng tiêu hóa và hấp thụ thức ăn trong cơ thể. Ngoài ra, thức ăn lạnh cũng khiến năng lực tiêu hóa của dạ dày giảm, hạn chế khả năng tiêu diệt vi khuẩn của dịch vị. Sự kích thích của thức ăn lạnh có thể làm cho dạ dày co giật, gây đau bụng tiêu chảy, khẩu vị kém. Tình trạng này nếu kéo dài có thể gây ra những bệnh mạn tính như viêm đại tràng mạn, thường xuyên đau bụng đầy hơi... 3. Cho trẻ ăn những thực phẩm có dùng chất màu tổng hợp: Y học hiện đại cho rằng, trẻ nhỏ nếu sử dụng kéo dài một lượng nhỏ thuốc nhuộm và chất màu thực phẩm sẽ có thể xuất hiện những biến đổi bất thường. Màu thực phẩm là những hợp chất hữu cơ tổng hợp hoặc bán tổng hợp, đã qua những quá trình tinh chế và thử nghiệm nghiêm ngặt; trong quá trình sử dụng cũng có những giới hạn nồng độ an toàn cho phép. Tuy nhiên, nếu thường xuyên ăn thực phẩm nhuộm màu, trẻ sẽ mất khả năng tự giải độc của cơ thể, bị rối loạn những chuyển hóa bình thường, xuất hiện đầy bụng, rối loạn tiêu hóa. Các sắc tố có thể tích tụ, gây ngộ độc mạn tính; nếu dính vào thành dạ dày, nó có thể gây biến đổi bệnh lý. Nếu vào các cơ quan của hệ thống bài tiết, chất màu có thể gây sỏi trong niệu đạo. Vịêc dùng quá nhiều thực phẩm màu sẽ làm rối loạn tác dụng truyền thông tin của hệ thống thần kinh, khiến cho thần kinh xung động gấp bội, hậu quả là trẻ trở nên quá hiếu động hoặc mắc bệnh đa động.
4. Cho trẻ em dùng thức uống của người lớn: Các bộ phận trong cơ thể trẻ còn non yếu, năng lực ứng phó với sự kích thích của axit, kiềm, hưng phấn... còn tương đối thấp. Vì vậy, không nên để chúng dùng đồ uống của người lớn như cà phê, coca... Chất cafein có tác dụng gây hưng phấn tương đối mạnh đối với hệ thống thần kinh trung ương của trẻ, ảnh hưởng đến sự phát triển trí não. Nước chè tuy có nhiều vitamin, nguyên tố vi lượng... nhưng cũng chứa cafein, làm cho trẻ hưng phấn, tim đập nhanh, đi tiểu nhiều, ngủ không yên giấc. Các chất trong chè kết hợp với protein trong thức ăn sẽ ảnh hưởng đến tiêu hóa và sự hấp thụ sắt, gây thiếu máu. Nước có ga thường chứa xút, có thể trung hòa axit dạ dày, cản trở tiêu hóa, gây nhiễm trùng đường ruột. Chất muối phophoric trong đồ uống này ảnh hưởng trực tiếp đến sự hấp thụ sắt của trẻ, gây thiếu máu. Còn các loại rượu, bia có thể kích thích niêm mạc dạ dày của trẻ, gây tổn hại tế bào gan, làm hại hệ thống thần kinh của trẻ, dẫn đến mất cân bằng sinh lý. Rượu bia cũng gây nhiều tác dụng phụ khác. 5. Không nên ăn quá thừa dinh dưỡng: Trong thời kỳ phát triển để trưởng thành, sự hấp thu dinh dưỡng cao cấp vô độ sẽ gây quá thừa dinh dưỡng, làm cho tế bào miễn dịch phát triển quá sớm. Hậu quả là đến tuổi trung niên, sức miễn dịch của tế bào nhanh chóng suy thoái. Ở những trẻ quá thừa dinh dưỡng, khi đã trưởng thành, công năng của các bộ phận bất kỳ đều giảm mạnh. (Theo Tư Vấn Tiêu Dùng)
Một số nguyên nhân gây biếng ăn
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra chứng biếng ăn ở trẻ như lý do tâm lý, bệnh lý, thức ăn không ngon... Tùy theo từng nguyên nhân, cha mẹ cần thực hiện những biện pháp khắc phục khác nhau. Sau đây là ý kiến của bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Hương (Trung tâm Dinh dưỡng TPHCM) về vấn đề này: 1. Biếng ăn do tâm lý: Đây là nguyên nhân thường gặp nhất. Trẻ biếng ăn khi có cảm giác bị ép buộc, bỏ rơi, bị gò bó hoặc bị đánh lừa. Các tình huống thường gặp trong thực tế: Bị ép bú bình trong khi chỉ thích bú mẹ. Mẹ đi làm để trẻ cho người khác chăm sóc. Bị ép phải mang khăn ăn, phải ngồi một chỗ từ đầu đến cuối bữa ăn. Bị quy định phải ăn hết khẩu phần của mình trong một thời gian cố định. Không khí bữa ăn căng thẳng. Cha mẹ cho thuốc vào thức ăn, vào sữa.
2. Biếng ăn do sai lầm trong chế biến thức ăn: Hầm khoai tây, cà rốt, củ dền, đậu, thịt... xay nhuyễn và cho trẻ ăn hết ngày này qua ngày nọ, gây cảm giác ngán. Chỉ cho trẻ ăn nước rau, nước thịt, không cho ăn xác, lâu ngày dẫn đến tình trạng thiếu các chất dinh dưỡng. Cho trẻ ăn thức ăn xay nhuyễn đến lúc 2, 3 tuổi. Pha bột vào sữa, pha sữa quá đặc, pha sữa bằng nước cháo hoặc nước hầm đậu, hầm xương... làm trẻ khó tiêu hóa. Pha bột quá đặc khi trẻ mới tập ăn dặm.
3. Thời gian chuyển tiếp chế độ ăn không phù hợp: Ăn dặm quá sớm (trước khi trẻ tròn 4 tháng). Ăn cơm quá sớm (trong khi răng trẻ chưa đủ để nhai cơm).
4. Biếng ăn do bệnh lý: Suy dinh dưỡng. Nhiễm ký sinh trùng; nhiễm trùng (viêm mũi, viêm họng, viêm amiđan...) và virus. Bệnh lý răng miệng (sâu răng, viêm lợi), loạn khuẩn đường ruột.
5. Biếng ăn sinh lý: Trẻ vẫn khỏe mạnh nhưng tự nhiên ăn ít đi trong vài ngày đến vài tuần. Các thời điểm này thường trùng với lúc bé biết lẫy, ngồi, đứng, đi... Sau đó, trẻ trở lại ăn uống bình thường. 6. Biếng ăn do thuốc: Do dùng quá nhiều vitamin, kháng sinh hoặc thuốc kích thích ăn. Việc lạm dụng kháng sinh có thể gây rối loạn hệ vi khuẩn đường ruột, còn thuốc kích thích ăn sẽ làm cho trẻ biếng ăn thêm ngay sau khi ngừng thuốc (thuốc này chống chỉ định ở trẻ dưới 2 tuổi). 7. Biếng ăn do cha mẹ: Do cha mẹ quá lo lắng về sự tăng trưởng của con. Khi thấy con ăn ít hơn các trẻ cùng lứa tuổi, nhiều người nghĩ rằng con biếng ăn mặc dù trẻ vẫn tăng cân và tăng chiều cao tốt. 8. Biếng ăn bẩm sinh: Có khoảng dưới 5 % trẻ sinh ra chỉ ngủ, chơi mà không bao giờ đòi bú. Ngoài ra, trẻ còn có thể bị biếng ăn như sau khi tiêm phòng hoặc sau chấn thương. Các biện pháp khắc phục tình trạng biếng ăn
Các bà mẹ cần chú ý khi cho con ăn bổ sung
Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất đối với trẻ nhỏ. Vì sữa mẹ dễ hấp thu, phù hợp với tiêu hóa của trẻ, đồng thời sữa mẹ giúp trẻ phòng chống các bệnh tật đặc biệt là bệnh ỉa chảy và nhiễm khuẩn hô hấp (vì sữa mẹ có kháng thể). Trẻ em bú sữa mẹ làm tăng tình cảm giữa mẹ và con. Không có loại sữa nào thức ăn nào có thể thay thế được. Nhưng khi đứa trẻ 4, 5 tháng tuổi trở lên, trẻ cần ăn những thức ăn khác ngoài sữa mẹ gọi là ăn sam, ăn dặm hay thông thường gọi là thức ăn bổ sung (tức là vừa bú mẹ vừa ăn thêm). Vì sao lại ăn bổ sung? Vì chúng ta đều biết, đặc điểm của trẻ em là lớn với tốc độ rất nhanh, và nhanh nhất là trong năm đầu của cuộc sống. Theo các công trình nghiên cứu của thế giới cũng như ở nước ta, nếu lúc có thai người mẹ được ăn uống đầy đủ, cũng như khi nuôi trẻ trong năm đầu, thì mỗi tháng đứa trẻ tăng trung bình từ 600g - 700g (có nghĩa là mỗi ngày tăng từ 20g-25g). Cân nặng trung bình khi đẻ 3.000g-3.500g. 6 tháng cân nặng tăng gấp đôi 6.000g-7.000g. 12 tháng cân nặng tăng gấp ba 9.000g-10.000g
Để đáp ứng sự tăng cân đó thì phải được nuôi dưỡng đầy đủ về số lượng cũng như về chất lượng. Trong khoa học dinh dưỡng dùng Kcalo để đánh giá về năng lượng thiếu hoặc đủ (một Kcalo nghĩa là o năng lượng làm 1 lít mới nóng lên 1 ). Nhu cầu năng lượng trẻ em theo Tổ chức Y tế Thế giới quy định trong năm đầu từ 100-110 Kcalo/kg/ngày. Trong sữa mẹ cứ 1.000ml cung cấp 630 Kcalo. Số lượng sữa trong một ngày trung bình của người mẹ từ 800-1.000ml. Như vậy nếu chỉ nhìn về việc cung cấp năng lượng cho trẻ, sữa mẹ cũng chỉ đủ cho trẻ trong 4, 5 tháng đầu của cuộc sống. Vì vậy nếu đứa trẻ khi được 4, 5 tháng tuổi trở lên mà không được ăn bổ sung thêm thì sẽ bị thiếu hụt năng lượng, trẻ sẽ phát triển kém và dễ mắc các bệnh dinh dưỡng, còi xương, thiếu máu, và khô mắt do thiếu vitamin A v.v... Mặt khác, lúc trẻ 4, 5 tháng tuổi, người mẹ phải đi làm, phải có thức ăn cho trẻ để phát triển, đồng thời để trẻ tập làm quen với thức ăn của người lớn. Làm thế nào để ăn bổ sung đúng: Cho ăn bổ sung đúng là cho ăn những thức ăn ngoài sữa mẹ phải đảm bảo những nguyên tắc sau: Không nên cho ăn quá sớm trước 4 tháng tuổi, cũng không nên cho trẻ ăn muộn quá sau 6 tháng tuổi. Ắn từ từ, từ ít đến nhiều để tập làm quen với thức ăn mới. Ắn từ lỏng đến đặc để thích nghi với bộ phận tiêu hóa.
Thức ăn đa dạng (tô màu cho bát bột). Đủ về số lượng, chất lượng. Bảo đảm vệ sinh.
Muốn thực hiện được các nguyên tắc trên, chị em luôn luôn sử dụng 4 nhóm thức ăn chủ yếu (gọi ô vuông thức ăn) ngoài sữa mẹ: 1. Nhóm thức ăn cơ bản hay gọi thức ăn chủ yếu có khác nhau tùy theo các dân tộc. Ví dụ các nước châu Ấu dùng bột mì, khoai tây... ở ta là gạo, ngô, khoai, sắn. Nhóm này cung cấp chất bột gọi là gluxit. 1g gluxit cung cấp 4 Kcalo (100g gạo cung cấp 356 Kcalo), gạo là thức ăn chính nhưng không đủ để trẻ khỏe mạnh, đặc biệt là trẻ nhỏ. 2. Nhóm cung cấp chất đạm hay gọi là nhóm thức ăn giàu protein. Nhóm này rất quan trọng cho sự phát triển xương, cơ bắp và trí thông minh của trẻ. Nhu cầu của trẻ từ 2g-3g/kg/ngày (trong 100g thịt nạc có 19g đạm). Có 2 loại đạm: đạm động vật như trứng, thịt, các loại tôm, cua, cá, lươn, nhông, ếch... một loại đạm thực vật như đậu đỗ, đậu đen, đậu xanh, đậu nành, đậu trắng và ở nước ta đã chế biến là đậu phụ và sữa đậu nành, đạm động vật dễ hấp thu hơn. 3. Nhóm 3: là nhóm thức ăn giàu năng lượng hay gọi là chất béo vì một gam chất béo cung cấp 9 Kcalo (gấp 2g gạo) như mỡ, bơ, dầu ăn các loại những thức ăn có nhiều chất béo như vừng, lạc. Nhóm này cung cấp cho trẻ năng lượng phát triển và hoạt động, đồng thời để hòa tan các loại sinh tố A, D, E v.v... Trong các loại chất béo, dùng chất béo thực vật như dầu các loại có nhiều axit béo chưa no dễ hấp thu hơn. 4. Nhóm 4: là nhóm cung cấp các loại sinh tố (vitamin) và muối khoáng là nhóm rau, quả. Nhóm này không cung cấp năng lượng nhưng cũng rất quan trọng đối với trẻ vì nó cung cấp các loại sinh tố C, sinh tố A... các chất khoáng Ca v.v... nên cho trẻ ăn các loại rau có màu xanh sẫm như rau ngót, rau muống, rau dền v.v... có nhiều vitamin A và các loại củ quả có màu vàng như cà rốt, đu đủ, bí đỏ, xoài cung cấp caroten (tiền vitamin A) để đề phòng bệnh khô mắt do thiếu vitamin A và nước hoa quả cam, chanh v.v... cung cấp vitamin C. Sau đây xin ví dụ một số thực đơn cho trẻ ăn bổ sung: Trẻ dưới 4 tháng tuổi bú mẹ hoàn toàn, bú theo nhu cầu. Từ 4 - 6 tháng: bú mẹ, cho ăn thêm 1 - 2 bữa bột đặc dần ngoài sữa mẹ. Từ 6 - 12 tháng: bú mẹ, cho ăn thêm 3 bữa một ngày ngoài ra cho ăn thêm nước hoa quả sau và giữa các bữa ăn (chuối, nước cam, xoài, đu đủ v.v...). Từ 12 tháng - 2 tuổi: bú mẹ, cho ăn thêm hoa quả có ở địa phương: chuối, hồng xiêm, cam, xoài v.v...
Và cách nấu một bữa bột loãng cho trẻ 4 - 5 tháng tuổi. (Bột trứng: 1 bữa = lưng bát ăn cơm = 160ml) Thành phần 1. Bột gạo 2. Trứng gà (lòng đỏ) 1/3 - 1/2 quả 3. Dầu hoặc mỡ 3. Dầu hoặc mỡ 4. Rau giã nhỏ 5. Nước mắm 6. Nước lã Các bước nấu: Rau nghiền nhỏ hoặc giã nhỏ (lọc lấy nước) hoặc nghiền khi rau chín. Hòa bột với nước lã, đun trên bếp quấy đều, sôi cho rau vào khoảng 5 phút. Trứng đánh tơi cho vào bột để sôi 1-2 phút. Sau đó cho muối mắm và dầu quấy đều sôi là được. Yêu cầu bột: Chín róc xoong, lỏng sền sệt như nước cơm đặc. Nếm nhạt hơn thức ăn của người lớn. Nếu trẻ lớn ta sẽ tăng số lượng và bột sẽ đặc hơn. Thìa cà phê 2 thìa gạt 10-15g 1/2 thìa - 1 thìa 1/2 thìa - 1 thìa 1/2 thìa 1/2 thìa - 1 thìa 1 bát ăn cơm Gram (ml) 10g 10-15g 2-5g 2-5g 5-10g 2-5ml 200ml
Chúng ta có thể thay trứng gà bằng thịt (khoảng 30g) hoặc đậu phụ (50g), bằng lạc, bằng sữa (bò, sữa đậu nành) v.v... nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc là chế biến phù hợp với lứa tuổi. Vì nhu cầu của trẻ rất lớn, nhưng do bộ máy tiêu hóa chưa hoàn chỉnh. Vì vậy việc chế biến phải chú ý các thức ăn phải nghiền nát, nấu kỹ cho dễ tiêu, chế biến đơn giản và tận dụng nguồn thực phẩm có ở địa phương như tôm, cua, cá v.v... Không nên chỉ ninh cho trẻ ăn nước mà cho ăn cả cái, vì nếu chỉ ăn nước là thiếu chất đạm vì trong nước chỉ có những axit amin hòa tan, thơm, còn thành phần chính của chất đạm là ở bã.
Mặc khác canh cho trẻ ăn cũng cần chú ý cần cho ăn đúng bữa: ăn từ từ. Không nên ép ăn hoặc dọa nạt bắt trẻ ăn gây cho trẻ hội chứng sợ ăn. Nên động viên trẻ ăn. Không nên cho trẻ ăn mì chính vì mì chính không bổ chỉ đánh lừa khẩu vị, không nên cho trẻ ăn mặn như người lớn và cũng không nên ăn nhiều chất đạm quá, trẻ khó tiêu hóa. Tóm lại khi cho trẻ ăn bổ sung chị em cần lưu ý sử dụng thức ăn đa dạng và cách chế biến thức ăn hợp lý đồng thời cũng phải động viên khuyến khích trẻ ăn... ăn là một hứng thú, tránh dọa nạt ép ăn gây ảnh hưởng xấu cho trẻ. BS. TRẨN THỊ NGA (Theo báo Sức khỏe & Đời sống)
Acid Folic
Acid folic còn được gọi là vitamin Bc, B9, vitamin M, folacin, folat, là một sinh tố tan trong nước, thuộc nhóm B (B.complex), đơn vị tính là microgam (mcg). Những điều quan trọng: Acid folid cần thiết cho chức năng tạo hồng cầu. Giúp chuyển hóa protein, glucid và nhất là chất béo. Công trình nghiên cứu Framingham, Massachusetts (Hoa Kỳ) mới đây chứng minh thiếu acid folic thì nồng độ homocystein trong máu sẽ tăng cao và đó là chất dễ gây ra chứng não suy (bệnh Alzheimer). Thiếu acid folic cũng dễ gây xơ vữa động mạch và bệnh tim. Nhu cầu acid folic cho người lớn là 180 đến 200mcg, đối với phụ nữ đang mang thai cần gấp đôi lượng trên, và cho người mẹ đang nuôi con trong 6 tháng đầu là 280mcg, và 6 tháng kế tiếp là 260mcg. Lúc vừa cấn thai và thời kỳ đầu của thai nghén mà đảm bảo đủ 350 – 400mcg sinh tố B9 thì đứa bé sinh ra sẽ được bảo vệ an toàn tránh những khuyết tật ở ống thần kinh, như chứng nứt đốt sống. Acid folic có vai trò quan trọng trong sự tạo ra acid nucleic - nền tảng duy truyền trong nhân của mọi tế bào (ribo-nucleic acid – RNA và deoxyribonucleic acid – DNA), cho nên nó cần thiết cho sự phân chia của mọi tế bào cơ thể. Acid folic có thể bị hư hại do lưu giữ dài ngày trong nhiệt độ môi trường. Từ năm 1998, FDA (Cục Quản lý Thực - Dược phẩm Hoa Kỳ) đã cho phép bổ sung acid folic vào các sản phẩm ngũ cốc mà người dân Mỹ hay ăn buổi sáng để hạ thấp tỉ lệ mắc các bệnh do thiếu acid folic.
Acid folic có thể giúp gì cho bạn? Acid folic giúp giảm bớt tỷ lệ u nang và giảm nguy cơ bệnh tim, bệnh Alzheimer. Bảo vệ ngăn ngừa quái thai. Gia tăng sự sinh sữa. Bảo vệ năn ngừa những ký sinh trùng đường ruột và ngộ độc thực phẩm. Giúp da tươi mịn, khoẻ đẹp. Có tác dụng như một chất giảm đau (chống mệt mỏi). Có thể làm chậm quá trình bạc tóc khi được sử dụng kết hợp với acid pantothenic và PABA (paraami-nobenzoic acid). Kích thích sự thèm ăn, nếu bạn đang bị mệt mỏi đuối sức vì thiếu vitamin này. Giúp ngăn ngừa bệnh viêm loét miệng. Giúp ngăn ngừa bệnh thiếu máu.
Bệnh do thiếu "acid folic" Khi ăn uống thiếu nguồn acid folic lâu ngày sẽ bị bệnh thiếu máu đại hồng cầu do dinh dưỡng (rối loạn đường tiêu hóa, niêm mạc: dễ bị viêm loét dạ dày tá tràng, bàng quang, tử cung...) Nguồn acid folic thiên nhiên: Các loại rau lá màu lục đậm, cà rốt, men, gan, lòng đỏ trứng, dưa hấu, quả bơ, bí đỏ, mận, các loại đậu hột khô, ngũ cốc lức. Những chất bổ sung: Thuốc chứa acid folic ở hai liều lượng 400mcg và 800mcg. Liều 1mg (1000mcg) chỉ được kê toa ở Hoa Kỳ. Lượng 400mcg đôi khi cũng có trong các viên B-complex, nhưng thường thì chỉ 100mcg (xem thành phần ở nhãn hộp thuốc). Liều dùng hàng ngày thường được sử dụng nhất là 400mcg đến 1mg. B-complex có chứa cả acid folic và B12 và các sinh tố nhóm B khác, dùng rất tốt. Độc tính và việc dùng quá liều: Không có ghi nhận về độc tính, mặc dù một số ít người bị dị ứng ở da khi dùng thuốc chứa acid folic. Vì acid folic tan trong nước nên nếu uống dư thừa sẽ được cơ thể loại ra theo nước tiểu. Việc uống acid folic thường xuyên có thể che lấp dấu hiệu bệnh thiếu máu do thiếu B12. Do đó, nếu dùng thức ăn có bổ sung acid folic hoặc uống viên acid folic thường xuyên thì phải đảm bảo chế độ ăn uống đủ sinh tố B12 (thiếu B12 lâu ngày sẽ gây thiếu máu đại hồng cầu, nếu bị che lấp triệu chứng không chữa trị kịp thời sẽ bị thoái hóa thần kinh không phục hồi được). Acid folic cần thiết cho sự phân chia (sinh sản) tế bào, do đó những người đang bị ung thư hoặc nghi ung thư các loại thì không được dùng thuốc chứa acid folic. Những lời khuyên: Nếu bạn là phụ nữ, thì phải đảm bảo có đủ lượng acid folic và vitamin B6. Chỉ 400mcg acid folic và 210mg vitamin B6 mỗi ngày có thể giảm 42% nguy cơ bệnh tim mạch. Nếu bạn bị nghiện rượu nặng thì nên tăng lượng acid folic. Nếu bạn đang dùng estrogen, thuốc ngừa thai, sulfamid (hợp chất kháng khuẩn), phenobarbital, hay aspirin, thì nên tăng acid folic. Nếu bạn đang dưỡng bệnh, hay chống lại bệnh tật, thì bảo đảm chất bổ sung phải có nhiều acid folic để giúp gia tăng sức đề kháng cơ thể. Liều lớn acid folic có thể gây ra chứng co giật ở những người bệnh động kinh.
20 cách trị trẻ biếng ăn
Việc cho bé ăn quả là một nghệ thuật thực sự: Hẳn không ít lần bạn đã trổ đủ “ngón nghề” chỉ cốt sao cho bé ăn được một vài thìa cơm hay mẩu thịt. Hẳn không chỉ một lần bạn băn khoăn, tại sao con người ta thì ăn uống dễ dàng thế kia, còn với con mình phải dùng đủ các biện pháp... Bạn không hề đơn độc: Có 20% các ông bố bà mẹ của trẻ 3 tuổi và 42% bố mẹ các bé 4 tuổi phàn nàn về sự biếng ăn của con mình. Nếu con bạn ăn ít hơn những đứa trẻ khác, bạn đừng bận tâm. Nếu con bạn vẫn phát triển bình thường thì bạn không có gì phải lo lắng.
Con bạn hầu như không đói. Thật vậy! Bọn trẻ sinh ra với bản năng sinh tồn, điều đó khiến cho nếu như có thể thì chúng chỉ ăn đúng cái và đúng lượng mà cơ thể chúng cần. Do đó nên chấm dứt chế độ độc tài bên bàn ăn nhà bạn. Hãy để cho trẻ được quyết định nó sẽ ăn gì. Ngoài ra, dạ dày của trẻ nhỏ hơn của người lớn rất nhiều nên khẩu phần ăn của chúng nhiều nhất chỉ bằng một nửa của người lớn. Chiến tranh bên bát ăn thường hay xảy ra nhất khi bé lên 2 hay lên 3 tuổi và rất hiếm khi thực sự liên quan đến sự ăn uống. Bởi trẻ ở tuổi này đã bắt đầu muốn khẳng định mình. Bé đã để ý thấy những gì nó làm, nó nói đều có tác động đến những người xung quanh. Giờ đây bé muốn thử “tự vệ”. Bạn hãy cố gắng đừng để lộ ra là bạn muốn bát ăn của bé phải sạch trơn. Dần dần rồi bé sẽ hiểu ra rằng nó ăn không chỉ để mẹ vui, mà vì để không bị đói. Sự biếng ăn của trẻ đôi khi lại xuất phát từ những nguyên nhân khác. Thông thường khi nấu nướng, bạn chế biến món ăn theo khẩu vị của mình. Nghĩa là bạn nấu món ăn mà chính bạn thích. Nhưng biết đâu, bé lại có khẩu vị hoàn toàn khác và cái món “chủ lực” của bạn thì bé lại ghét cay ghét đắng? Làm thế nào để trẻ thích ăn hay chí ít thì cũng không sợ ăn: 1. Bạn chỉ nên gợi ý cho bé ăn khi nó đã đói. Trẻ em thường chối bỏ thức ăn chẳng qua vì chúng chưa kịp đói. Thằng bé lười ăn của bạn hình như không bao giờ thấy đói? Cũng có thể do bạn đã không cho bé cơ hội ấy? Bạn hãy thử trong vài ngày liền không liên tục ép bé ăn. Hãy đợi để tự bé phải nhắc đến bữa ăn. 2. Khi đã quan sát được lúc nào bé thường thấy đói, bạn hãy cho bé ăn vào những giờ cố định. Trẻ em thích cuộc sống điều độ. 3. Hãy giảm số bữa ăn. Một đứa trẻ 3 tuổi thực sự không cần đến 5 bữa ăn mỗi ngày. Giữa bữa sáng và bữa trưa, thay vì cho bé ăn cháo hay một lưng cơm, bạn hãy cho bé ăn một quả chuối hay miếng đu đủ, có thể sau đó bé sẽ ăn trưa một cách ngon lành. 4. Hãy giảm những bữa ăn vặt. Bạn thử xem liệu bé có hay ăn vặt không? Vài cái kẹo, một gói bim bim, tưởng như không là gì cả nhưng lại ảnh hưởng rất nhiều đến sự ngon miệng của trẻ. 5. Hãy giảm khẩu phần ăn của bé. Một bát cơm đầy có ngọn quả không kích thích sự thèm ăn của bé chút nào. Trái lại là đằng khác - nó khiến trẻ sợ và ngán. Sẽ hoàn toàn khác nếu trước mặt bé là một miếng thịt nho nhỏ, một chút xíu cơm và vài thìa canh. Ngần này thì có thể ăn được. Mà ngần ấy cũng đủ để một đứa trẻ hai tuổi no bụng. 6. Hãy quan tâm đến tính đa dạng của các món ăn. Nếu ngày nào bạn cũng dọn cho bé món trứng đúc thịt, thì chẳng có gì ngạc nhiên khi nó không muốn ăn. Nếu bữa sau, bạn cho bé một khúc cá rán hay một bát súp sườn hầm khoai tây, củ cải, bạn sẽ thấy là ít ra thì bé cũng thử. 7. Bạn hãy cố gắng để các món ăn bày lên bàn trông thật màu sắc và ngon lành. Bên cạnh những búp súp lơ trắng là những cánh hoa cà rốt màu cam rực, bên cạnh những khúc đậu đũa xanh có cà chua đỏ… Một sáng kiến rất hay là món salad thập cẩm: cà rốt, ớt ngọt, giá đỗ, khoai tây, dưa chuột… 8. Hãy để cho bé tự chọn. Trước khi nấu ăn, bạn hãy hỏi bé: “Con thích ăn gì nào?” và đưa ra một thực đơn mà bạn có thể làm để bé chọn. Có thể bé sẽ chẳng chọn gì cả, biết làm sao được! Nhưng cũng có thể bé sẽ thích một món nào đó. 9. Hãy chấp nhận một số ý thích trái khoáy của bé. Nếu bé nhất định đòi uống sinh tố cà chua với cam, bạn đừng lấy đó làm điều bực mình, hãy làm cho bé. Đó chẳng qua là khẩu vị. Nếu bé chỉ thích bánh mỳ kẹp hình tam giác hay uống sữa bằng ống hút, bạn cứ chiều theo ý thích của bé, chắc chắn rồi đến lúc bé sẽ chán. 10. Đừng ép bé ăn cái mà nó không thích. Thay vì thịt, bạn có thể cho bé ăn trứng, cá hoặc giò, xúc xích. Nếu bé sợ rau, thì thay vì bực bội, bạn hãy cho bé ăn thêm trái cây. 11. Bạn đừng cố giấu những thứ bé không thích ăn vào các món ăn. Vì chắc chắn bé sẽ phát hiện ra và sẽ không chịu ăn gì nữa. Và nguy nhất là bạn đã làm nó ghét cái món mà đến nay nó vẫn thích. 12. Bạn có thể dùng chiến thuật “bình mới rượu cũ”. Thay vì cho bé ăn thịt với cơm, bạn kẹp thịt vào bánh mỳ. Bạn có thể cho canh vào cốc như một thứ đồ uống thay vì để ở bát như thường lệ. Bạn thử xay trái cây rồi cho vào ngăn đá cho đông sệt lại, có thể bé sẽ thích hơn? 13. Chỉ có bé uống sau bữa ăn, chứ không để vừa ăn vừa uống, đặc biệt là trước bữa ăn. Nếu trước bữa ăn, dạ dày bé tẹo của bé đã được làm đầy bằng nước ngọt thì đương nhiên là suất ăn trưa không còn quyền cư trú trong đó nữa. 14. Cứ để cho bé ăn lâu như nó thích. Việc bé nhẩn nha cả buổi trưa không có nghĩa là bé biếng ăn. Có thể việc tự ăn vẫn là quá khó đối với bé. Thậm chí cả khi bạn thấy bữa ăn dường như không bao giờ kết thúc, thì cũng đừng tỏ ra sốt ruột. Bé chỉ cần biết là bạn muốn nó kết thúc bữa ăn, nó sẽ đẩy bát cơm ra xa ngay. Vì điều đó dễ hơn so với việc xúc cơm cho vào miệng, rồi phải ngậm, nhai, nuốt!
15. Các bạn hãy cùng ngồi ăn bên bàn bên bàn ăn gia đình. Ngồi ăn một mình thật buồn chán. Nếu bố kể chuyện có một con chim đến làm tổ trong vườn nhà thế nào, mẹ thì kể một chuyện vui khi đi chợ... Thế là bé vừa ăn vừa giỏng tai nghe, quên khuấy cái bát cơm đáng ghét. 16. Bạn đừng bón cho bé, hãy để nó tự ăn. Phần lớn trẻ 2, 3 tuổi sẽ ăn nhiều hơn nếu mẹ để chúng tự ăn. Nếu mẹ cứ bón mãi, dần dần bé nhận thấy rằng ăn đúng là một việc khó chịu, chẳng khác gì gội đầu hay uống thuốc, cũng là mẹ làm cho bé. Hãy làm sao để bé thấy rằng được ăn là niềm vui, giống như chơi một trò chơi vậy. 17. Bạn nên biết rằng “không” là một câu trả lời cần thiết. Không bao giờ ép bé ăn thêm thìa cơm cuối cùng. Nếu bé nói rằng nó đã no, hãy để bé đặt bát xuống, còn bạn không bình luận gì về chuyện đó. 18. Hãy để bé cùng tham gia nấu nướng. Bé sẽ thấy rau muống mà bé tự tay nhặt, hay món thịt mà bé tự tay trộn gia vị sẽ ngon hơn rất nhiều. 19. Bạn hãy quan tâm đến không khí của bữa ăn. Sự vội vã, lộn xộn, những xung khắc hàng ngày giữa bố và mẹ sẽ làm bé ăn mất ngon. 20. Bé không nhất thiết phải ăn hết khẩu phần ngay một lúc. Bạn hãy thử chia nhỏ khẩu phần của bé, ví dụ bé có thể ăn bữa giữa buổi sau lúc đi dạo, hoặc một bát cháo nhỏ trước lúc bé ra sân chơi với các bạn. Có thể không khí trong lành sẽ khiến cho món thịt bò xào mà bé rất ghét trở nên ngon hơn. (Theo Vnexpress.net)
Nuôi dưỡng trẻ từ 1 đến 3 tuổi
Trẻ từ 1 đến 3 tuổi phát triển nhanh cả về thể lực và trí tuệ, nếu được chǎm sóc, nuôi dưỡng đầy đủ sẽ phát triển tốt, ít ốm đau bệnh tật. ở lứa tuổi này nhu cầu dinh dưỡng của trẻ tính theo trọng lượng cơ thể cao hơn so với người lớn, mặt khác do sức khỏe của trẻ có hạn, bộ máy tiêu hóa và các chức nǎng tiêu hóa, hấp thu chưa thật hoàn chỉnh. Vì thế các thiếu sót trong nuôi dưỡng và chǎm sóc trẻ có thể dẫn đến suy dinh dưỡng. Ở lứa tuổi này bữa ǎn hàng ngày của bé rất quan trọng để giúp bé phát triển tốt cả về thể lực, trí tuệ và làm đà tốt cho sự tǎng trưởng của những thời kỳ tiếp theo. Nên tận dụng sữa mẹ để hỗ trợ thêm cho bé dinh dưỡng và kháng thể. Cố gắng cho trẻ bú đến 18 - 24 tháng. Khẩu phần ǎn của trẻ cần được cung cấp đủ nǎng lượng, chất đạm, chất béo, vitamin và muối khoáng. Nǎng lượng: nǎng lượng cần đủ cho hoạt động cơ thể của trẻ và để tích lũy giúp thúc đẩy sự lớn lên của các tổ chức. ở lứa tuổi này tiêu hao nǎng lượng của trẻ lớn do trẻ chơi, đùa nghịch nhiều vì lúc này trẻ đã biết đi, biết chạy, biết tiếp xúc với môi trường xung quanh. Nhu cầu nǎng lượng ở lứa tuổi này là 110Kcal/kg cân nặng, ước chừng trẻ nặng khoảng 9 - 13 kg do đó nǎng lượng cung cấp là 900 = 1300 kcal. Nǎng lượng cần được cung cấp đủ qua bữa ǎn của trẻ gồm có: Chất bột như bột, cháo, cơm nát (đây là nguồn cung cấp nǎng lượng chính trong khẩu phần); chất đạm, chất béo ngoài vai trò quan trọng với quá trình phát triển cơ thể cũng có vai trò cung cấp nǎng lượng. Tỷ lệ giữa các thành phần sinh nǎng lượng nên là: Đạm: Béo: Đường bột = 15: 20: 65. Chất đạm: chất đạm rất cần cho sự phát triển cơ thể trẻ, đặc biệt là các tế bào não. Với trẻ nhỏ cần ưu tiên các loại đạm động vật như: thịt, sữa, trứng, cá , tôm. . . vì chúng có giá trị cao, có đủ các axit min cần thiết cho sự tǎng trưởng và phát triển của trẻ, ngoài ra đạm động vật còn giàu các yếu tố vi lượng như sắt, kẽm, vitamin A giúp cho cơ thể trẻ khỏe mạnh, tǎng sức đề kháng với bệnh tật. Lượng đạm động vật trong khẩu phần ǎn của trẻ nên đạt từ 50 - 60 %. Tuy nhiên nếu phối hợp tốt đạm động vật với đạm thực vật (đậu đỗ, vừng, lạc...) sẽ tạo nên sự cân đối giúp hấp thu và sử dụng đạm tốt hơn. Nhu cầu chất đạm của trẻ từ 1 -3 tuổi là 28g/ ngày. Chất đạm rất cần thiết vì nó có nhiều vai trò quan trọng trong cơ thể. Khi chế độ ǎn thiếu đạm sẽ làm cho trẻ chậm lớn, kém thông minh, nhưng nếu cho trẻ ǎn quá nhiều đạm cũng không tốt vì gây gánh nặng cho gan, thận. Mặt khác, trong quá trình tiêu hóa chất đạm tạo ra nhiều sản phẩm gây thối rữa, độc hại. Trong bữa ǎn của trẻ chất đạm chỉ phát huy tác dụng cao khi có đủ nǎng lượng. Nếu khẩu phần ǎn đủ đạm nhưng thiếu nǎng lượng trẻ vẫn có thể bị suy dinh dưỡng. Chất béo: Dầu mỡ vừa cung cấp nǎng lượng cao, làm tǎng cảm giác ngon miệng lại giúp trẻ hấp thu và sử dụng tốt các vitamin tan trong chất béo như vitamin A, vitamin D, vitamin E, vitamin K. . . rất cần cho trẻ . Mỗi bát bột, bát cháo, ngoài các thành phần khác (gạo, thịt, rau. . . ) cần cho thêm 1 -2 thìa cà phê mỡ hoặc dầu. Mỡ lợn, mỡ gà rất tốt cho trẻ vì trong thành phần các loại mỡ đó có các axit béo không no cần thiết như: axit lioleic, axit liolemc, axit arachidonic rất cần
thiết cho quá trình phát triển của trẻ. Nếu trẻ đã ǎn cơm thì nên cho mỡ hoặc dầu vào xào, rán, kho với thức ǎn để trẻ ǎn được. Các chất khoáng: Các chất khoáng rất cần cho sự tạo xương, tạo rǎng, tạo máu và các hoạt động chức nǎng sinh lý của cơ thể. ở lứa tuổi này can xi và photpho cần được chú ý để cung cấp đủ cho trẻ, hàng ngày trẻ cần 400 - 500mg can xi. Can xi có nhiều trong sữa và các loại nhuyễn thể (tôm, cua, ốc, trai...), photpho có nhiều trong các loại lương thực, ngũ cốc. Cần có một tỷ lệ thích hợp giữa can xi và photpho mới giúp trẻ hấp thu và sử dụng được hai loại khoáng chất này. Tỷ lệ tốt nhất giữa can xi/ photpho = 1/1,5. Chuyển hóa can xi và photpho trong cơ thể được điều hòa bởi vitamin D, vitamin D lại có trong lòng đỏ trứng, thịt, gan và dưới tác dụng của ánh nắng mặt trời tiền vitamin D dưới dạng dự trữ dưới da sẽ chuyển thành vitamin D hoạt động. Do vậy ngoài ǎn uống đủ, thỉnh thoảng cần cho trẻ ra ngoài tắm nắng. Chất sắt rất cần cho sự tạo máu, sắt còn tham gia vào thành phần nhiều men quan trọng trong cơ thể. Mỗi ngày trẻ cần được cung cấp 6 - 7 mg sắt qua thức ǎn. Nguồn sắt tốt có trong thức ǎn động vật là các nội tạng: tim, gan, bầu dục. Nguồn sắt tốt có trong thức ǎn thực vật là đậu đỗ và các loại rau có màu xanh sẫm. Sắt có trong thức ǎn động vật hấp thu tốt hơn trong thức ǎn thực vật nhưng trong rau quả lại có nhiều vitamin C giúp cơ thể hấp thu và sử dụng sắt có hiệu quả hơn. ưu tiên nguồn thức ǎn động vật, phối hợp với các đậu đỗ và rau quả nhằm đảm bảo đủ sắt cho cơ thể. Vitamin: Mọi vitamin đều cần cho trẻ nhưng ở lứa tuổi này người ta quan tâm đến vitamin A và vitamin C. Hai vitamin này rất cần cho sự phát triển bình thường của trẻ, cần cho sự tạo máu, tǎng cường đề kháng chống đỡ với các yếu tố không thuận lợi. ở lứa tuổi này nhu cầu vitamin A chính chỉ có trong các thức ǎn động vật như trứng, gan. . . Rau quả có màu vàng, đỏ, da cam vừa là nguồn cung cấp caroten (tiền vitamin A) vừa là nguồn cung cấp vitamin C. Để đảm bảo nhu cầu vitamin cần cho trẻ ǎn rau, quả thường xuyên.
Những điểm cần lưu ý trong nuôi dưỡng trẻ từ 1 đến 3 tuổi: Thức ǎn của trẻ cần chế biến từ mềm đến cứng, từ ít đến nhiều để trẻ quen dần. Tuy nhiên ở lứa tuổi này trẻ đã mọc rǎng hàm, cần tạo điều kiện cho trẻ luyện rǎng, luyện cơ nhai. Do vậy không cần thiết phải cho mọi thức ǎn vào máy xay sinh tố nghiền nát mà nên thái, bǎm từ rất nhỏ đến nhỏ vừa; nấu từ rất mềm đến mềm vừa đến cứng để tạo cảm giác ngon miệng và giúp rǎng lợi, cơ nhai, cơ tiêu hóa phát triển. Sau khi cai sữa cần có chế độ ǎn riêng cho trẻ, không bắt trẻ ǎn chung quá sớm với người lớn sẽ ảnh hường tới tiêu hóa của trẻ. Thường xuyên thay đổi cách chế biến để tạo cảm giác ngon miệng. Hạn chế cho trẻ ǎn đồ ngọt (đường, bánh kẹo). Đường ngọt làm cho trẻ có cảm giác no giả tạo nên không muốn ǎn các thức ǎn khác, mặt khác nó còn ứ lại trong miệng rồi chuyển thành axit dễ làm hỏng rǎng. Chỉ nên cho trẻ ǎn bánh, kẹo sau bữa ǎn. Cần cho trẻ uống đủ nước: nước giúp trẻ tiêu hóa và hấp thu tốt các loại dinh dưỡng, nước còn có vai trò vận chuyển giúp thải trừ các sản phẩm cặn bã, độc hại của quá trình chuyển hóa ra khỏi cơ thể. TS. Hoàng Kim Thanh
Sữa nào có nhiều dưỡng chất?
Gần đây, khi xu hướng ăn kiêng phát triển, nhiều người ngạc nhiên khi thấy các nhà sản xuất khuyến cáo không phải loại sữa nào cũng béo như nhau... Sữa tươi và sữa hộp (sữa đặc có đường) có gì khác nhau? Về mặt dưỡng chất thì một hộp sữa đặc có đường tương đương với một lít sữa tươi. Sữa đặc có đường có thể làm từ sữa bò tươi, hoặc từ bột sữa gầy, và tùy theo nguyên liệu mà thành phần dưỡng chất có thể khác nhau đôi chút. Tuy nhiên trong sữa đặc có đường như tên gọi, có bổ sung thêm đường saccharose (đường mía). Thế nào là sữa gầy?
Sữa gầy (skimmed milk powder) là sữa bột đã loại bỏ phần lớn chất béo. Trong sữa gầy, hàm lượng chất béo chỉ còn khoảng 1,5% so với sữa bột nguyên kem (full cream milk powder) là 26%, và sữa đặc có đường khoảng 8%. Do loại bỏ chất béo, nên hàm lượng protein và đường lactose trong sữa gầy cao hơn trong sữa béo. Sữa gầy là nguồn cung cấp đạm khá đầy đủ và các loại acid amin cần thiết. Như vậy sữa gầy tốt hơn sữa bột nguyên kem? Chưa hẳn, mỗi loại đều có cái đủ cái thiếu. Trong sữa gầy, hàm lượng chất béo được loại bỏ đi gần hết, điều này cũng có nghĩa là các vitamin trong dầu (A, D, E, K) cũng bị mất theo. Ngoài ra, cũng do hàm lượng lactose trong sữa gầy cao, nên người có cơ địa không thích hợp với đường lactose (thiếu men tiêu hóa lactose), nếu uống sữa gầy dễ bị... tiêu chảy. Ngoài thị trường có nhiều loại sữa bột đóng bao, có khi giá chênh lệch nhau gần gấp đôi. Có phải loại sữa bột rẻ tiền đã bị pha trộn, hoặc là đã hết hạn sử dụng? Sữa bột ngoài thị trường, nói chung có hai loại: Loại cao cấp, chế biến thẳng từ sữa bò tươi. Ðó là loại sữa gầy và sữa béo. Giá hai loại sữa này cũng ngang ngang như nhau (đóng bao). Ngoài ra, sữa gầy và sữa béo cũng có thể được bổ sung thêm dưỡng chất để gần giống với sữa mẹ, thích nghi với dinh dưỡng của trẻ em tuỳ theo độ tuổi. Loại này thường đóng hộp 0,5kg, 1 kg... Loại thường, cũng được làm từ sữa bò, nhưng đó là sản phẩm phụ trong quá trình chế biến phô mai. Nguời ta lấy đi hầu hết chất béo và một phần lớn protein từ sữa bò tươi để làm phô mai. Phần nước còn lại được làm khô lại thành bột, nước ngoài gọi đó là bột whey. Ðây chính là sữa bột loại rẻ tiền, và thường được đóng trong bao 20 hoặc 25kg. Còn chuyện sữa rẻ tiền do pha trộn hoặc sữa bột hết đát lại là chuyện khác.
Sữa bột loại thường (bột whey) bị loại bỏ phần lớn protein thì còn gì là... sữa nữa? Bởi vậy ở nước ngoài, người ta gọi đó là bột whey, chứ không gọi là sữa bột. Trong bột whey, thành phần chủ yếu là đường lactose (60-70%), hàm lượng protein chỉ còn khoảng 12-16% so với 30% ở các loại sữa bột khác. Tùy theo cách chế tạo phô mai mà có nhiều loại bột whey khác nhau. Có loại "cao" protein (acid type powder), có loại "thấp" protein (sweet type powder), có loại bột whey bỏ khoáng (demineral whey), có loại được bổ sung protein đậu nành... cho thành phần có vẻ... giống sữa. Thực ra, protein sữa cung cấp nhiều acid amin tốt hơn so với protein đậu nành. Có thể pha bột whey để uống như sữa? Ðược, với điều kiện "bụng dạ" phải chắc chắn, vì hàm lượng đường lactose trong bột whey rất cao, uống vào dễ bị... sôi bụng, tiêu chảy. Bột whey thường được dùng để làm bánh vì giá rẻ. (Theo Sài Gòn Tiếp Thị)
Cả nhà nên dùng chung bữa ăn tối
Từ mấy chục năm nay, hình ảnh cả gia đình quây quần bên bữa ăn tối càng ngày càng phai mờ với nhiều người - nhất là ở các thành phố lớn. Cuộc sống đua chen nơi thị tứ, công việc bề bộn, giờ học chồng chất, những hoạt động về thể dục thể thao, các công tác đoàn thể càng ngày càng làm cho con người xa rời chẳng phải là một tập quán mà còn làm một định chế trong xã hội xưa là bữa ăn gia đình. Đến giờ ăn, không mấy khi người trong cùng một gia đình có cơ hội để quây quần, chuyện trò và ăn uống với nhau; lắm khi cái việc chờ đợi cha mẹ, anh chị em cùng ăn bữa cơm lại làm cho nhiều người mệt mõi, chán ngán. Tuy nhiên, xét về mặt tâm lý xã hội lẫn ích lợi thực tế, việc dùng chung bữa ăn – ít nhất là một lần trong ngày – là một thói quen, một lối sống cần được duy trì.
Nhiều nghiên cứu cho thấy, trẻ thơ mà được ngồi ăn với người lớn thường được hưởng nhiều ích lợi về mặt dinh dưỡng: được dành cho những món ăn ngon, quân bình về dưỡng chất hơn, được nhắc nhở và uốn nắn để tạo thành thói quen ăn nhiều trái cây, rau đậu, nhiều loại chất béo thuận lợi cho sức khoẻ hơn là những người cùng lứa tuổi mà ít có cơ hội cùng ngồi ăn với người lớn. Ngay trong những dịp lễ hội đặc biệt, ngồi ăn chung với những người cùng lứa tuổi, trẻ em nào thường hay dùng bữa với ông bà, cha mẹ, anh chị em cũng có khuynh hướng ăn và uống theo những thói quen đã thành nếp ở nhà: không bỏ qua bữa ăn sáng. Đó là chưa kể tới những thuận lợi đáng kể trong sự phát triển tâm lý: khi cùng ngồi ăn với người lớn, trẻ em có cơ hội nghe, thấy và bắt chước, học hỏi thêm nhiều cung cách cơ bản về xử thế. Lợi ích trước tiên là cho các nhi đồng mới biết nói: được nghe ông bà, cha mẹ và ngay cả anh chị sử dụng một thứ ngôn từ nghiêm chỉnh, tinh tế hơn. Các thiếu nhi còn được hưởng nhiều lợi ích hơn nữa qua một số kinh nghiệm cơ bản về khoa học dinh dưỡng, cụ thể nhiếu món khoái khẩu không phải là những món bổ dưỡng, không lạm dụng cả chất bép, chất mặn hay là chất ngọt, không nên ăn món ngọt trước khi dùng bữa chính – vì vị ngọt khiến cho con người mất cảm giác đói bụng, thèm ăn. Nếu như người lớn có ý thức tối thiểu thì không mấy khi nói năng bừa bãi, rượu chè be bét hay nhả khói thuốc lá ngay trong bữa ăn. Kết quả một cuộc nghiên cứu mới đây ở Mỹ cho thấy trẻ em nhờ vậy, sau này khi lớn khôn, cũng ít có khuynh hướng buông thả, hút thuốc, uống rượu và nghiện ngập ma túy hơn. Ngoài ra, việc dùng chung bữa ăn, ít ra là bữa tối, luôn có những tác động thuận lợi trong việc đảm bảo những dưỡng chất cần thiết, đồng thời còn góp phần tạo nên không khí hòa thuận, thân ái trong gia đình. Chính vì vậy các chuyên gia về tâm lý nhi đồng ở các nước tiên tiến thường yêu cầu các thân chủ nhỏ tuổi của mình kể lại cho biết trong bữa ăn, các em thường ăn uống những gì để có thể góp ý và sửa đổi những lệch lạc ngay khi mới thấy những dấu hiệu đáng ngại. Thanh thiếu niên vào lứa tuổi không còn trẻ con nhưng chưa phải là người lớn, lại càng cần phải được nhắc nhở, đôi khi là thôi thúc tham dự các bữa ăn cùng các thành viên khác trong gia đình. Không nên để cho những cô cậu mới lớn mỗi khi thấy đói bụng là tự động moi tìm trong tủ lạnh bất cứ thứ gì có thể giúp qua được cơn đói cồn cào. Phần lớn những tác hại của các món ăn liền, cùng lối ăn uống buông thả tùy hứng, tùy thích là nguyên do của nhiều bệnh về dinh dưỡng mà hậu quả thường thấy rõ nhất dưới hai dạng: hoặc là những con người mới lớn mà đã èo uột vì thiếu một chế độ dinh dưỡng hợp lý, hoặc là những thanh thiếu niên béo phì dễ bị những bệnh như đái tháo đường, tim mạch, thậm chí những chứng bệnh ác hại hơn như xơ cứng thành mạch, viêm xương khớp, ngưng thở đột ngột trong giấc ngủ, nhiễu loạn kinh nguyệt hoặc ung thư vú, tuyến tụy, ruột kết nữa. (Thuốc & Sức khoẻ)
Không nên dùng quá nhiều vitamin
Đối với phần lớn mọi người, uống thêm vitamin là không cần thiết, thậm chí có thể gây hại nếu bị quá liều. Vitamin C dùng 1.000 mg/ngày có thể gây rắc rối cho dạ dày (đầy hơi, tiêu chảy); trong khi vitamin B6 với hàm lượng cao lại gây tổn thương thần kinh, mất thăng bằng và giảm trí nhớ. Đó là kết luận do nhóm chuyên gia về Vitamin và Khoáng chất của Cơ quan Tiêu chuẩn Thực phẩm Anh (FSA) đưa ra. Theo họ, còn thiếu bằng chứng xác thực về độ an toàn của các thuốc bổ sung (dạng vitamin và khoáng chất), nhất là ảnh hưởng của chúng tới người già và trẻ em. Ngoài ra, nên loại bỏ germani - một thời được dùng như thuốc điều trị ung thư - vì khả năng gây tổn thương thận, cơ và dây thần kinh của nguyên tố này. FSA khẳng định, những người tuân thủ chế độ ăn lành mạnh và cân đối sẽ không cần bổ sung vitamin hằng ngày. Tuy nhiên, có một số trường hợp ngoại lệ: Phụ nữ có thai hoặc trong độ tuổi sinh sản cần bổ sung 400 mg axit folic mỗi ngày để giảm nguy cơ sinh con bị dị tật ống thần kinh. Trẻ em ở độ tuổi 6 tháng-2 năm cần bổ sung vitamin A, C và D.
FSA đã đưa ra giới hạn an toàn trên (ngưỡng tối đa) cho 9 loại vitamin và muối khoáng thông dụng. Những thông số này đang được đem ra thảo luận cùng các nhà sản xuất, quan chức ngành y tế và các nhóm tiêu dùng. Báo cáo cuối cùng sẽ được trình lên EU để cơ quan này ra quyết định về giới hạn an toàn cho các chất bổ sung.
Trước đó, các nhà sản xuất không công nhận là vitamin gây nguy hiểm đáng kể tới sức khỏe người tiêu dùng. Ngưỡng tối đa mỗi ngày của một số vitamin và khoáng chất: Vitamin B6: 10 mg Beta-carotene: 7 mg Vitamin E: 727 mg Đồng: 5 mg Kẽm: 25 mg Selen: 0,2 mg Silicon: 1.500 mg Nickel: 0,16 mg (Theo Vnexpress.net)
An toàn khi cho bé ăn
Nhiều bé khó ăn, cứ nghiêng hết bên này qua bên kia, rồi lại khóc, rồi ho và sặc... Phải làm sao để đảm bảo an toàn cho bé khi ăn: Đặt trẻ ngồi ngay ngắn trên ghế ăn của bé. Đừng bao giờ để bé ngồi ăn một mình. Tập cho bé tư thế ngồi ăn. Không bao giờ đút bé ăn khi bé đang khóc hoặc khi bé đang nằm vì khi ấy bé rất dễ bị sặc. Trước khi đút muỗng đầu tiên, hãy kiểm tra xem trong chén bột hoặc cháo của bé còn sót xương gà hoặc xương cá nào chưa được lấy ra vì một mảnh xương nhỏ cũng có thể làm cho bé mắc nghẹn, bị hóc. Cẩn thận đối với các món ăn có dạng tròn và trơn tuột như chả cá thác lác, quả nhãn, đông sương… Khi cho bé ăn thì đừng quên cắt nhỏ các loại thực phẩm này. Không bao giờ ẵm bé một tay, tay còn lại thì cầm thức ăn nóng hoặc nước uống nóng cùng một lúc dù bạn có cẩn thận đưa bé ra xa. Khi hâm nóng thức ăn, đặc biệt là khi dùng lò vi ba, nhớ phải khuấy đều bột hoặc cháo cho bớt nóng, kiểm tra độ nóng của thức ăn rồi mới đút cho bé ăn để tránh làm bé phỏng miệng. Đút từng muỗng nhỏ, cho bé thời gian cắn từng miếng nhỏ và nhai kỹ; đừng hối thúc. Nếu bé bị nghẹn và khó thở, hãy gọi cấp cứu. Hãy ghi chép sẵn các số điện thoại cần thiết. (Young Parents)
Giá trị dinh dưỡng của một số loại nước hoa quả ép
Nước nho: Trong nước nho, ngoài các vitamin B còn có các loại chất khoáng như Kali, magiê. Nước nho tím là loại nước lợi tiểu nhất và cũng cung cấp nhiều lượng calo nhất so với nước nho xanh (100 kcal trong 15cl nước nho). Nước táo: Ngoài cung cấp vitamin, trong nước táo còn có chứa chất pectin. Nước táo có khả năng làm mát ruột, mịn da nhưng cũng có thể gây tiêu chảy. Bên cạnh đó nước táo có khả năng giảm cholesterol trong máu và tăng khả năng miễn dịch. Nước cà chua: Là loại nước giàu khoáng chất vì trong cà chua có chứa 3 loại vi chất chống oxy hoá: vitamin C, E và lượng caroten cần thiết. Những chất này cùng với chất sắc tố hồng đóng vai trò là chất chống lão hoá. Có 30 kcal trong 15cl nước cà chua. Ðặc biệt dùng nước cà chua pha muối có tác dụng giảm béo tích cực.
Nước dứa: Lượng enzyme trong dứa giúp tiêu hóa bớt lượng protein dư thừa, có chứa vitamin C, kali, lượng caroten... là những vi lượng không thể thiếu của cơ thể. Ðặc biệt dứa cung cấp một lượng đường tự nhiên rất phong phú (80 kcal đường trong 15cl nước dứa), vì thế có khả năng làm tăng trọng lượng. Nước cam: Ngoài vitamin C có tác dụng tăng chất đề kháng và tăng sức hấp thụ, chất sắt, thực vật, nước cam còn chứa nhiều canxi hơn là các sản phẩm từ sữa. Chất canxi tập trung nhiều trong các tép cam và vỏ cam. Khi pha nước cam, một phần lớn canxi sẽ tiết ra hoà cùng nước cam. Ðể tận dụng được tối đa lượng canxi có trong vỏ cam, cần ăn 1/4 vỏ cam cùng với nước cam hoặc ăn cam cắt miếng. Một cốc nước cam kèm theo một chút vỏ cam sẽ làm bạn thoả mãn lượng canxi cần thiết. Một cốc nước cam 200ml có chứa 20% lượng canxi và 100% lượng vitamin. Vì thế bạn nên dùng nước cam hàng ngày, đó là cách tốt nhất giúp bạn giải khát và làm việc tốt hơn. Ðây cũng là một giải pháp tối ưu cho những người mập và những người không thích uống sữa. Bạn nên lưu ý khi pha nước cam, vắt trực tiếp vào cốc, không nên vắt qua máy vắt cam để có thể lấy cả tép cam, sau đó dùng thìa hớt bỏ hột đi, nếu có thể bạn cắt thêm một chút vỏ cam vào cốc nước cam của bạn. Như vậy bạn đã được cung cấp 160mg canxi sau khi dùng 200ml nước cam. Bạn nên sử dụng nước cam hàng ngày làm nước giải khát và tráng miệng. Nhưng đồng thời bạn phải nhớ vi chất bay hơi rất nhanh khi tiếp xúc với không khí, vì thế bạn phải dùng ngay sau khi pha chế nước cam nói riêng và các loại nước hoa quả khác nói chung. (Thời trang trẻ)
Dễ nhớ - Lâu quên
“Bạn nên nhắc nhở con mình ăn sáng đầy đủ và đều đặn. Khoa học đã chứng minh rằng một người có ăn sáng – dù bữa ăn sáng chỉ là cốc sữa với bánh bích quy – thì ngày hôm đó làm việc sáng suốt và thông minh hơn người không ăn sáng gấp từ 3-4 lần và lâu dài, một người ăn sáng đều có chỉ số IQ cũng như khả năng minh mẫn khi về già cao hơn rất nhiều so với người hay bỏ bê bữa sáng.” Khi con bạn bước vào tuổi dậy thì, cơ thể các em có một biến đổi nhất định. Sự thay đổi về hoocmôn cũng như phát triển về thể lực khiến cho các hoạt động của não có đôi chút “chệch đường”. Các em tỏ ra rất khó khăn khi phải học đi học lại một bài mà vẫn không thuộc hoặc thuộc ở thời điểm học nhưng lại quên ngay sau đó. Tuy nhiên, các em lại nhớ vanh vách các kết quả thể thao, tên các nhân vật trong những bộ phim võ hiệp nhiều tập dài dằng dặc hoặn những bài hát đang thịnh hành mà không cần một chút nỗ lực nào. Vì vậy, các chuyên gia cũng như các phương tiện thông tin đại chúng luôn nhấn mạnh rằng vai trò của người mẹ trong giai đoạn trẻ từ 12 tuổi trở lên là rất quan trọng. Gỉải quyết những phức tạp của tuổi “Ô mai” Loại bỏ sang một bên việc tính tình các em “sáng nắng, chiều mưa” hay những rung động vẩn vơ, sự dễ xúc động, dễ ảnh hưởng khiến cho tính cách dễ dàng biến đổi xấu đi hoặc tốt lên, chúng ta chỉ nhìn vào khía cạnh thể chất của con bạn. Hầu hết những đứa trẻ trong độ tuổi này nếu không được quan tâm chu đáo thì đều học hành sa sút hơn giai đoạn phát triển trước đó (chúng ta lại nhấn mạnh lần nữa rằng những quan tâm ở đây không tính đến mặt tinh thần). Nguyên nhân chủ yếu chính là trí nhớ và sức tập trung của các em. Bạn hãy quan tâm đến sức khoẻ của con và lưu ý đến những biến đổi thể chất nữa. Để có trí nhớ tốt cũng giống như để có sức khoẻ tốt, các bác sĩ chuyên môn khoa thần kinh khuyên nên cho con đi ngủ cũng như thức dậy đúng giờ giấc quy định. Bạn nên theo dõi những sinh hoạt của con. Trẻ lứa tuổi này rất hay hành động theo cảm hứng. Đừng để con bạn có hôm đi ngủ sớm, có hôm thì thức học đến khuya. Hãy đặt ra giờ ngủ và giờ dậy cụ thể và nhắc nhở con bạn tuân thủ. Khẩu phần "Ăn để nhớ" Khẩu phần ăn hàng ngày của con bạn phải cân bằng về dinh dưỡng và đặc biệt là có những chất cần thiết cho hoạt động trí não hoặc hệ thần kinh. Đó là các chất như phospholipid (có nhiều trong trứng, não - tủy súc vật, đậu mè các loại…), các sinh tố nhóm B như B1, B12, PP, acid folic (có nhiều trong giá sống, gan, trứng…), sinh tố C (có nhiều trong rau, quả tươi, nhất là cam, quýt, bưởi), các loại acid amin đặc biệt là tyrosin (có trong thịt, cá, trứng, sữa và các thực phẩm gốc động vật nói chung)… Các chất này
không những cần thiết cho hoạt động trí não mà còn làm cho con bạn hăng hái, hoạt bát vui vẻ và trở nên tích cực trong việc tiếp nhận và lưu trữ thông tin trong trí nhớ. Nếu con bạn luôn ăn được điểm tâm với các thực phẩm gốc động vật thì suốt buổi sáng sẽ học tập tốt, tiếp thu kiến thức mới dễ dàng, mau nhớ và nhớ kiến thức mới đã học. Các acid béo cũng vô cùng cần thiết cho việc cấu tạo não bộ trẻ em từ khi còn là bào thai đến 18 tuổi, đồng thời rất tốt cho người lớn trong hoạt động trí não. Các axít báo này có nhiều trong đậu nành, lạc, dầu hướng dương, mỡ cá,… được sử dụng dưới hình thức kho, nấu. luộc chứ không nên rang, xào vì nhiệt độ cao sẽ làm hỏng các axít béo này. Những "liều thuốc" cho não bộ Bị stress, thiếu tự tin, lo lắng, không an tâm, sợ hãi cũng sẽ gây giảm trí nhớ. Do đó, bạn cần giúp con phân chia thời khoá biểu sao cho “giờ nào, việc nấy” ổn định. Theo lời khuyên của bác sĩ, thì não bộ có thể hoạt động hữu hiệu trong 45 phút nhưng sau đó phải giải lao hay chuyển sang động tác tay chân, tập vài động tác thể dục 5-10 phút rồi mới làm việc trở lại. Bạn hãy làm cho con hiểu rằng sự tập trung trong khi học là vô cùng quan trọng. Dù thời gian học không nhiều nhưng trí não hoạt động với hiệu quả cao, rồi nhớ bài còn lâu hơn là ngồi suốt ngày bên bàn học để “gạo bài” rồi sau một giấc ngủ là quên gần hết. Trong trường hợp con bạn hết học chính rồi đến học thêm, học văn hóa rồi còn học các môn năng khiếu … nếu thấy con có tình trạng mệt mỏi, quá sức về tinh thần và thể lực, giảm trí nhớ, kém tập trung, suy nhược thần kinh thì bạn nên dùng một số thuốc để cung cấp dinh dưỡng cho não bộ, giúp tăng trí nhớ như Magie B6, Pho-L … Những thuốc này chứa phosphoserine, chất tham gia vào quá trình tái tạo tế bào thần kinh bị cạn kiệt do hoạt động trí óc. Nhưng thuốc giúp trí nhớ không gì tốt hơn là những món ăn hàng ngày như trứng luộc, lạc, sữa đậu nành, thịt, cá và rau quả tươi. Nếu con bạn chưa được chăm lo đúng khẩu phần ăn hàng ngày thì bạn cũng đừng nên nghĩ đến việc cho con dùng thuốc. (Theo báo Tiêu Dùng)
Dạy con học ăn
Cũng như học nói, học đi, học đọc, học viết…trẻ con cần phải học cả cách ăn uống. Giáo dục con mình ăn uống đúng cách để đảm bảo tăng sức khoẻ, tăng trưởng về mặt thể chất, phát triển trí tuệ. Các nhà khoa học đã xác định để duy trì hoạt động, cơ thể chúng ta cần khoảng 40 chất vi lượng (13 vitamine, 15 khoáng chất, 4 axít béo, 8 axít amin). Năng lượng đó được lấy từ thức ăn hàng ngày, phải từ hàng chục loại thức ăn mới đủ. Thế nào là ăn uống đúng cách? Do đó, việc “biết” ăn nhiều loại thức ăn khác nhau trở nên vô cùng cần thiết để bổ sung đầy đủ các vi lượng đáp ứng nhu cầu của cơ thể. Hiện nay, số trẻ em béo phì khá đông nhưng số trẻ em suy dinh dưỡng không phải là hiếm. Một trong những nguyên nhân dễ thấy nhất là do cách ăn uống không phù hợp. Giáo dục con trong chuyện ăn uống để giúp chúng ăn uống có thói quen ăn uống đảm bảo cân bằng dinh dưỡng đòi hỏi sự kiên trì lớn của bố mẹ. Đồng thời cũng tạo cơ hội cho chúng những cơ hội để mở rộng sở thích, để thay đổi khẩu vị. Một số gợi ý sau đây sẽ giúp bạn đôi chút trong cách tạo cho con bạn một thói quen ăn uống hợp lý mà không làm cho chúng chán. Những bài học đầu đời
Hãy rủ con bạn cùng đi chợ, đây là cơ hội tốt để chúng nhận biết được các loại thực phẩm, rau quả khác nhau, để dạy cho chúng cách chọn lựa quả cam ngọt hay quả xoài ngon. Bạn hãy cố gắng thực hiện nguyên tắc “mùa nào thức ấy” ở mức độ tối đa có thể được. Điều này tiện cho việc làm đa dạng thực đơn và con bạn sẽ không chán vì quanh năm ngày tháng chỉ có một vài món thay đổi. Hãy khích lệ chúng nói lên ý thích của mình về món mà chúng được ăn: mùi, vị, các thành phần,… hãy dạy chúng nói theo kiểu : món này cay, món kia ngọt … hơn là chỉ đơn thuần “con thích” hay “con không thích”. Nên rủ chúng cùng tham gia nấu các món ăn với bạn để “đánh thức” cảm giác miệng của chúng. Sau đó, việc ăn uống đối với chúng không trở nên khó chịu nữa mà trở thành niềm thích thú. Hãy kích thích tính tò mò của chúng: đừng bỏ lỡ cơ hội cho con bạn làm quen với mùi vị mới. Một cách tự nhiên, tất cả các trẻ em đều thích vị ngọt hơn các vị khác nhưng bằng sự khéo léo của mình bạn sẽ hướng chúng đến những mùi vị khác nhau. Hãy để chúng “khám phá” các món ăn mới, nếu chúng không thích thì không nên ép. Tuy nhiên, hãy thử vào lần sau. Trong khoảng từ 4 đến 7 tuổi trẻ em cần 4-5 lần để quen với vị mới. Việc trang trí các món ăn một cách tinh tế cũng sẽ làm cho bữa ăn trở nên vô cùng hấp dẫn và thu hút. Hãy cùng ăn tối một cách vui vẻ và thư giãn, không nói về công việc hay chuyện bài vở. Bạn thử thay đổi thói quen vào bữa tối chủ nhật chẳng hạn: bạn hãy thay món hàng ngày bằng món bất ngờ nào đó. Tạo nên điều bất ngờ sẽ giúp con và gia đình bạn cảm thấy bữa ăn không đơn thuần là để ăn mà còn là một niềm vui, một điều thú vị. Trong tủ lạnh nhà bạn nên thường xuyên có sữa chua chứ không phải kem, hoa quả tươi thay cho nước ngọt. Bạn hãy tạo thói quen chỉ dùng nước ngọt trong các dịp lễ, sinh nhật … Bởi thường xuyên sử dụng nước ngọt, nước có gaz không có lợicho sức khỏe. Áp dụng cho con bạn quy tắc “hoặc” chứ không phải “và”. Hoặc một cốc nước ngọt hoặc hai cái kẹo chứ không phải là cả hai. Không nên cấm đoán mà hãy để chúng tự chọn lựa.
Chính bạn là người quyết định thực đơn cho nên bạn phải nhớ sự cân bằng dinh dưỡng không phải chỉ một ngày đã có. Nó được xây dựng trong cả tuần hoặc cả tháng… Sự kiên trì của bạn sẽ được trả công xứng đáng. (Tư vấn Tiêu dùng)
Để không làm mất các chất có lợi cho cơ thể khi nấu ăn
Trong thực tế, đa số chúng ta không ăn các thực phẩm sống. Trước khi dọn lên bàn ăn, chúng ta đều làm các thao tác như: rửa, cắt, nấu hoặc rán. Trong các quá trình như vậy, thành phần hoá học của thịt, rau, hạt đều bị thay đổi, mà đôi khi làm cho lợi ích của thực phẩm giảm tới con số 0. Để không làm mất vitamin, protein, mỡ, một số hoạt chất sinh học và các chất khoáng, bạn cần tuân thủ một số nguyên tắc sau: * Cá: Cần phải nấu cá không dưới 8-10 phút (đã cắt thành miếng nhỏ), hay nguyên con (từ 500g trở lên) không dưới nửa giờ. Cũng như đối với thịt, nên cho cá vào nước sôi, sau đó hạ lửa nhỏ xuống ngay. Khi rán, nhất định phải tẩm bột để cá không bị chảy mất nước. Và cần theo dõi không để rán quá, vì khi đó protein trở nên cứng và mất giá trị dinh dưỡng. Tốt hơn hết, nên rán cá ở cả hai mặt cho đến khi có vỏ vàng, sau đó nướng tiếp trong lò nướng 5-7 phút. * Sữa: không nên nấu sữa quá lâu và nấu sôi nhiều lần, nếu không protein trong sữa sẽ bị phân rã và các vitamin bị phá huỷ. Khi nấu sôi sữa, không giữ trên lửa quá 1-2 phút. Khi nấu các thực phẩm khác như bột, gạo, rau... với sữa, trước hết cần nấu những thứ đó trong nước, sau mới đổ sữa tươi vào, đun tiếp đến sôi và bắc ra ngay. * Rau, quả: Khi bóc bỏ vỏ rau quả, nên cố gắng gọt làm sao cho mỏng, sau đó nên cố gắng nấu ngay, không nên để lâu rau quả đã làm sạch vỏ ngoài không khí. Nên nấu chúng với ít nước hoặc chỉ nấu cách thủy. Chỉ nêm làm các món rau trộn (salad) ngay trước khi ăn. Nên rửa sạch quả, lấy bỏ hạt ngay trước khi đưa lên bàn ăn hay chế biến tiếp (như làm mứt). Khi làm quả nghiền hay làm nước ngọt từ quả tươi, trước hết nên ép lấy nước từ các quả đó, sau đó nấu phần còn lại trong nước khoảng 10 phút, lọc lấy nước, rồi đổ vào nước ép ban đầu và chỉ nấu tất cả đến khi sôi một lần, không hơn. * Thịt: nếu giữ thịt đông trong tủ lạnh, thì cần để tan trong vòng 2-3 giờ ở nhiệt độ trong phòng. Không cho thịt vào nước. Khi làm tan băng nhanh bằng cách cho thịt vào nước ấm, nước trong thịt sẽ bị mất, cùng với nó các
protein có giá trị cũng tiêu hao. Cần rửa thịt nhanh dưới vòi nước lạnh, và nên thu xếp chế biến ngay. Nên nấu thịt bằng những miếng lớn và chỉ bỏ thịt vào nước sôi. Khi làm thịt băm trộn bột bánh mì, nước thịt không bị mất nhiều nhờ có bột giữ lại. Nhưng cũng cần rán thịt băm cho đúng cách. Khi mỡ (dầu) vào chảo chưa nóng, lớp vỏ bảo vệ không hình thành được. Lớp ngoài bị quá nóng cũng không tốt: thịt bị cháy thành than, còn mỡ quá nóng bị phân huỷ. Do vậy, cần rán thịt trong mỡ nóng, nhưng không bóc khói, kéo dài khoảng 10 phút, sau đó giữ tiếp trong lò nướng. * Hạt: Các loại hạt ít mất chất dinh dưỡng nhất. Nhưng không nên nấu chúng lâu. Bột mì chỉ nấu trong 10-15 phút; gạo, lúa mì trong 30-40 phút. Nên ngâm hạt đậu xanh, đậu Hà Lan trong nước lạnh khoảng 2 giờ, sau đó đổ nước đó đi, cho vào nước lạnh mới và nấu. Mặc dù muối được coi là một trong các nguyên nhân gây "trục trặc", nhưng ít ai hoàn toàn không cho muối vào thức ăn. Tuy vậy, trong việc có vẻ rất đơn giản này vẫn có những thủ thuật nhất định.
Cho muối vào khoai tây nấu cả vỏ ngay từ đầu, nhưng đối khoai tây rán chỉ cho muối khi đã rán gần xong. Cho muối vào súp rau khi rau đã chín. Cho muối vào rau trộn ngay trước khi đưa lên bàn ăn. Nếu như cho muối vào từ trước, rau sẽ bị mất nhiều nước. Cho muối vào nước nấu thịt 30 phút trước khi nấu xong, cho vào cá lúc bắt đầu nấu, cho vào nấm lúc kết thúc. Nếu trước khi rán cá, bạn ướp muối và để 10-15 phút thì khi rán, cá sẽ không bị tróc. Cần cho muối vào thịt ngay trước khi rán, nếu không thịt sẽ bị mất nước và trở nên khô. Không nên cho muối vào gan khi rán, ngược lại gan sẽ bị cứng.
(Báo Phụ nữ)
Tập cho bé những thói quen tốt trong ăn uống
Khi nào bé có thể ăn cùng với gia đình? Khi bé được 2 tuổi, đa số các bé đã nói bập bẹ được những câu ngắn và sẽ rất hãnh diện nếu được cùng trò chuyện, được tham gia vào bàn ăn cùng với cả gia đình và bé luôn trông vào mẹ, vào bố, vào ông bà để học, để bắt chước theo cách ăn, cách nói. Do đó, từ sau 3 tuổi, bạn có thể hướng dẫn cho bé một số điều cần thiết khi ăn, ví dụ: không được vừa ngậm cơm vừa nói chuyện& . Tuy bé có thể cùng ăn chung với gia đình nhưng xin bạn vẫn chú ý hơn đến một số thực phẩm có thể làm cho bé sặc như đậu rang, hạt mãng cầu, hạt sa bô chê, bơ đậu phộng& và không bao giờ để bé ngồi ăn một mình, dù là với những thực phẩm an toàn. Bạn có thể xắt rau củ hoặc thịt thành những miếng nhỏ hơn cho đến khi bé nhai giỏi. Đến giờ ăn mà bé lại thích chơi hơn Càng lớn bé càng hiếu động hơn và thích chơi hơn ăn, dù bạn đã chú ý chọn những thức ăn mà bé thích nhất. Bạn nên tổ chức bữa ăn vào những giờ cố định. Khi còn khoảng 10 - 15 phút đến giờ ăn, hãy chuẩn bị dần cho bé: khéo léo nhắc bé biết là sắp đến giờ ăn và có thể cho bé tham gia vào những khâu chuẩn bị, bé sẽ vô cùng hãnh diện được mẹ nhờ, mang giúp mẹ cái muỗng, cái bát, ca nước đặt vào bàn. Tránh cho bé chơi những đồ chơi hay những trò chơi "quá hấp dẫn" đến sát giờ ăn, bé sẽ quá mệt hoặc quá mê chơi mà không chịu ăn nữa. Tránh sử dụng đồ chơi, mở vô tuyến truyền hình. Bạn có thể làm cho bé thích thú bữa ăn bằng các câu chuyện ngộ nghĩnh về thức ăn, về màu xanh của rau, màu đỏ của cà rốt. Thức ăn có mùi vị hấp dẫn và thay đổi theo thức ăn của gia đình sẽ giúp bé thích thú hơn khi
ăn. Cũng không nên biến bữa ăn thành buổi sơ kết "thành tích quậy" của bé trong ngày, hoặc để bàn về những việc phiền lòng trong ngày của bố mẹ. Làm gì khi bé ăn quá ít? Bạn hãy bình tĩnh; rầy la hay trừng phạt chỉ làm tình hình xấu đi. Nếu bé đã được bác sĩ khám và đánh giá là hoàn toàn bình thường về mặt sức khỏe, có thể thử một số phương án: cho bé tham gia vào việc chọn mua, chuẩn bị dọn ăn. Ðối với các trẻ lớn, có thể tự phục vụ thức uống, thức ăn bạn cần kiểm tra lại xem bé có uống quá nhiều nước ngọt, nước trái cây đóng hộp hoặc sữa giữa hoặc trước các bữa ăn chính, nhất là trong những tháng nóng. Nếu có, bạn nên thay thế các loại nước này bằng nước chín hoặc nước lọc. Về sữa, sau 1 tuổi, bé cần trung bình 2 ly sữa (250ml/ly) hoặc 500 ml sữa/ngày. Nếu bé vừa qua một đợt bệnh, còn đang mệt và lười ăn, có thể bé cần sự hỗ trợ của một số sinh tố để khởi động lại. Một số nguyên tắc chung: Tập cho bé làm quen dần với nhiều loại thức ăn khác nhau đúng lúc, ngay từ giai đoạn bé tập ăn dặm, lúc bé mới 5 - 7 tháng tuổi. ở giai đoạn này, do bé đang hình thành khẩu vị dần dần nên tập cho bé ăn ở giai đoạn này sẽ dễ hơn. Bé càng lớn sẽ càng khó sửa đổi khẩu vị, khó tập cho bé ăn hơn. Không bao giờ trộn thuốc, nhất là những loại thuốc mà bé không chịu uống vào thức ăn như ly sữa, chén bột, chén cháo& làm trẻ sợ và luôn cảnh giác với thức ăn. Không cần thiết canh quá kỹ từng bữa ăn, từng muỗng bột, vài chục mililít sữa. Có bữa trẻ sẽ ăn ít lại rồi sau đó ăn bù. Bạn không cần quá nguyên tắc. Hãy cho phép bé tự xúc thức ăn cùng mẹ dù còn vụng về, đổ tháo. Nhiều khi bé lại thích tự bốc thức ăn bằng tay hơn là ngồi nghiêm chỉnh để mẹ đút. Chén, đĩa, ly, tách, muỗng có hình thù ngộ nghĩnh, dễ thương làm cho bữa ăn của bé thật sự trở thành một cuộc vui. Ðôi khi có một bạn hàng xóm xấp xỉ tuổi bé sang nhà cùng ăn thì bé lại ăn giỏi hơn để biểu diễn tài ăn giỏi. Lớn lên một chút, bé lại thích được hỏi mình muốn ăn gì. Bé có thể tham gia đi lựa mua thức ăn cùng mẹ và phụ lặt rau, rửa cà ở những lần rửa cuối. Chắc chắn các món ăn có sự tham gia của bé sẽ làm bé cảm thấy ngon hơn. Ðừng dùng thức ăn vào các mục đích khác như để trừng phạt hay khen thưởng, lâu ngày sẽ dẫn đến các rối loạn hành vi ăn uống. Trẻ sẽ có khuynh hướng dùng việc ăn uống để gây sức ép lại cha mẹ khi chúng gặp khó khăn. Trong vòng 1 - 2 giờ trước bữa ăn chính, không cho trẻ ăn quà vặt làm cho trẻ ngang dạ khi vào bữa ăn. Có những giai đoạn bé thích và ăn liên tục một loại thức ăn nào đó. Hãy để bé ăn thỏa thích, bé sẽ trở lại ăn uống bình thường sau vài ngày hoặc vài tuần. Ðiều chính yếu là bạn đừng lo sợ. BS Bùi Thị Hoàng Mai (Báo NLÐ)
Lưu ý trong chuẩn bị đồ ăn, thức uống
Trong khi chế biến thức ăn hàng ngày, chúng ta cần chú ý những nguyên tắc sau: Không nấu sữa chung với đường: Một số người khi đang nấu sữa tiện thể cho thêm đường vào, để đường dễ tan hơn. Cách này không có lợi vì lysin trong sữa và fructose trong đường dưới tác dụng của nhiệt có thể tạo ra chất độc hại cho cơ thể. nếu muốn dùng sữa có đường thì sau khi đun sữa, tắt lửa rồi mới cho đường vào. Không pha mật ong bằng nước sôi: Trong mật ong, ngoài đường glucose và fluctose (chiếm 65 - 80%), còn có nhiều men, vitamin, khoáng chất... Mật ong là một dạng thực phẩm bổ dưỡng. Khi sử dụng nên pha mật ong với nước ấm, không quá 60 độ C. Nếu dùng nước sôi thì không những không giữ được màu sắc, mùi vị tự nhiên của mật mà còn làm mất tác dụng của enzim và nhiều chất dinh dưỡng như vitamin C...
Không pha nước chanh bằng nước sôi: Chanh có hàm lượng vitamin C khá cao. Việc sử dụng nước chanh có thể bổ sung vitamin C, làm giảm mệt mỏi, giải cảm... Nhưng nhiều người thường dùng nước sôi để pha nước chanh để làm đường mau tan. Điều này vô tình đã làm vitamin C trong nước chanh bị giảm đi đáng kể, mất tác dụng của enzim và làm bay mất tinh dầu chanh. Không ướp thịt với đường: Thịt được ướp đường trước khi nướng hoặc rán sẽ làm vô hiệu hóa vai trò của lysin. Trẻ được cho ăn nhiều loại thịt này có thể bị thiếu lysin, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của trẻ. Nấu cơm: Vitamin B1 nằm ở lớp ngoài cùng của hạt gạo và ở trong mầm gạo. Gạo được xây xát quá kỹ sẽ làm mất vitamin B1 và các chất dinh dưỡng khác. Quá trình nấu cơm cũng dễ làm mất vitamin B1. Vo gạo cho đến nước trong sẽ làm mất 40 - 50% vitamin B1. Trong quá trình nấu nếu gạn bỏ nước có thể làm mất tới 60% Vitamin B1. Rửa rau: Rau có thể được tưới, bón bằng nước tiểu, phân tươi chưa ủ kỹ. Do đó, rau có thể chứa nhiều vi khuẩn, ký sinh trùng. Biện pháp tốt nhất là rửa kỹ rừng lá rau dưới vòi nước chảy và rửa nhiều nước nếu ăn sống. Rau ngâm với nước muối, lá rau dễ bị nát; với thuốc tím chỉ diệt được vi khuẩn mà không có tác dụng trên trứng giun. Có thể ngâm rau với nước pha viên Aquatab. Theo tạp chí Thuốc và Sức khỏe
10 cách ăn uống lành mạnh
Ăn ngon, ăn đầy đủ chất dinh dưỡng vẫn chưa đủ. Bạn cần phải dạy trẻ ăn uống lành mạnh. 1. Khi nào trẻ muốn ăn, tập cho các em chọn thức ăn và chuẩn bị bữa ăn. 2. Các loại rau, củ, quả đều hấp dẫn các em. Thỉnh thoảng, nên khuyến khích các em ăn các loại rau quả khác bằng cách bày biện lên đĩa theo những hình ảnh vui mắt. 3. Bỏ thêm rau quả vào những món ăn mà các em thích. Nên nhớ, ở tuổi mẫu giáo, cho các em ăn thêm không đúng bữa có thể dẫn đến tác dụng ngược lại vì nhiều em sẽ không chịu ăn thức ăn của người khác cho hoặc bé sẽ không chịu ăn bữa ăn chính. 4. Khi cho và thưởng đồ ăn cho các em (hoặc phạt không cho ăn) có thể dẫn đến tình trạng khó bảo. 5. Nếu các em không thích thì không nên ép. 6. Khi đã no, không nên bắt các em ăn thêm. Vì như thế nó sẽ ngầm phá hỏng mục đích điều chỉnh chế độ ăn uống cho các em. 7. Trẻ mệt mỏi hoặc khó chịu thường không thích ăn nhiều. Những lúc này không nên cho các em ăn những thức ăn mới. 8. Dẫn bé đi chợ, đi siêu thị. Chỉ cho trẻ mới biết đi nhận định đúng về màu sắc và hình thể và so sánh kích thước của chúng. Dạy cho trẻ mẫu giáo các loại rau quả, thức ăn có các mẫu tự theo bảng chữ cái 9. Sử dụng các trò vui khi khuyến khích trẻ ăn ngon miệng. 10. Nên ăn những thức ăn bổ dưỡng và lành mạnh. (Baby center)