chua benh bang nam duoc

Document Sample
chua benh bang nam duoc Powered By Docstoc
					CHỮA BỆNH BẰNG NAM DƯỢC Tác giả : BS. HOÀNG XUÂN ĐẠI Cây lá quanh ta đều là những vị thuốc hay. để bạn đọc tiện tham khảo và sử dụng một cách tiện lợi, xin giới thiệu một số loại cây quả thường dùng có tác dụng chữa bệnh. Quả mận Quả mận vị chua, chát, tính bình, ăn vào bớt đau nóng khớp xương. Tuy nhiên nếu ăn nhiều sẽ nóng âm ỉ trong bụng. Rễ cây mận có tính lạnh, cạo bỏ lớp ngoài rễ, sắc từ 20-30g lấy nước uống, chữa khí hư bạch đới. Nước sắc này còn dùng để ngậm, chữa đau răng. Nhân hạt mận: vị đắng, tính bình, có tác dụng lợi tiểu nên được dùng chữa phù thũng và làm tan máu ứ, dùng 12g phối hợp các vị khác. Hoa mận: Thơm, vị đắng dùng chữa tàn nhang, sạm đen khi xát vào sẽ làm mất dần vết sạm và làm da sáng lại. Nhựa mận: Vị đắng, tính lạnh, có tác dụng chữa mắt sưng đau, dùng mỗi ngày 1-2g, tán bột uống với nước sắc hạt muồng sao. Lá mận: Vị chua, tính bình, sắc 20-30g lấy nước cho trẻ uống, chữa sốt cao, co giật. Vỏ cây mận: Lấy lớp trắng, dùng 20-30g sắc uống chữa phiền khát, hơi cuộn lên dưới tim, chữa lệ, bạch đới, nước sắc còn dùng để ngậm chữa đau răng và làm lành mụn lở. Quả na (mãng cầu) Na vị ngọt, hơi chua, tính ấm, có tác dụng hạ khí tiêu đờm, chữa lỵ, tiết tinh, đái tháo nên phù hợp cho người mắc chứng tiêu khát. Chữa nhọt ở vú: Dùng quả na điếc mài với giấm mà bôi nhiều lần nơi vú sưng đau. Chữa đi lỵ ra nước không dứt: Dùng 10 quả na ương bổ ra, cho vào 2 lít nước, sắc còn lại 1 lít rồi ăn cái và uống nước. Chữa sốt rét cơn: Dùng một nắm lá na 20-30g, giã nhỏ, chế nước sôi vào, vắt lấy nước cốt khoảng nửa bát đem phơi sương 1 đêm rồi uống vào lúc trước giờ lên cơn 2 tiếng. Mỗi ngày uống một lần, uống liền 5 - 7 ngày. Hạt na: Trừ chấy rận, giã nhỏ, ngâm lấy nước gội đầu và ngâm quần áo để diệt chấy rận. Dùng diệt chấy đơn thuần thì giã nhỏ hạt na trộn với rượu để xát vào chân tóc, sau bịt khăn lại, giữ kín như vậy 15 phút rồi gội đầu bằng nước na ngâm. Nhân hạt na có độc tính rất mạnh, khi gội đầu lưu ý đừng để nước hạt na giây vào mắt có thể làm hỏng mắt và không được uống. Quả na tuy ngon nhưng ăn nhiều có thể sinh nóng rét, rôm sảy, mạch yếu. Quả me Me có vị chua, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, giải nắng, tiêu hóa thức ăn, giải khát, chống nôn oẹ. Gỗ cây me sắc lấy nước uống có tác dụng nhuận tràng, lợi tiểu. Vỏ cây me sắc uống, chữa lỵ, ngậm nước sắc này chữa viêm lợi, răng. Lá me nấu nước tắm chữa khỏi lở, ngứa nên thường dự trữ để dùng phòng bệnh ngoài da

vào mùa hè cho trẻ nhỏ. Chữa táo bón ở người già hay phụ nữ có thai: Dùng gỗ cây me 100g, sắc uống hàng ngày thay nước chè. Chữa có thai chán cơm hay nôn do nghén: Ăn mứt quả me hoặc sắc quả me lấy nước uống nhiều ngày. Bông gạo Bông gạo có vị ngọt, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, nhuận táo, tan huyết ứ, tiêu sưng giảm đau… Chữa sưng tấy đơn độc, quai bị, viêm dạ dày: Dùng vỏ gạo tươi (bỏ vỏ gỗ ngoài) thái miếng 30-40g, sắc lấy nước uống. Chữa bị thương gãy xương: Lấy vỏ cây gạo, cạo bỏ vỏ gỗ ngoài, giã nhỏ đắp vào nơi đau rồi băng bó lại (theo Nam dược thần hiệu). Chữa mụn nhọt, đơn sưng: Lấy hoa gạo tươi giã nhuyễn đắp vào. Chữa kiết lỵ, viêm ruột già: Hoa gạo tươi 20-30g hoặc hoa khô từ 30-40g, sắc lấy nước uống. Ngày 2-3 lần, uống trong nhiều ngày. Chữa bỏng: Hoa gạo tươi giã nhỏ, vắt lấy nước cốt bôi vào vết bỏng. Nếu bị bỏng nặng do hàn xì thì dùng hoa gạo tươi rửa sạch, giã nhuyễn và chứa trong bình, chế thêm một lượng dầu gấc tương đương, ngâm, đánh đều để bôi, nếu có lở loét thì lấy bã đắp. Chữa giang mai, lở loét hay nổi nhọt: Lấy vỏ cây gạo tươi bỏ lớp vỏ thô 80g, khúc khắc 50g, lá xấu hổ (trinh nữ) 30g, bồ cu ve 30g, bồ kết 10g, lá thầu dầu tía (đu đủ tía) 10g, lá cà độc dược 10g. Ngày sắc một thang chia ra uống trong 2 ngày (theo Bách gia trân tàng của Lãn ông). Kiêng rượu và các chất cay nóng khi dùng thuốc. Mộc nhĩ Mộc nhĩ có vị ngọt, tính bình, hơi độc, ăn vào ích khí, mạnh chí nhẹ mình. Dùng chữa được nhiều bệnh. Chữa đi lỵ ra máu: Mộc nhĩ 20g, sao tán bột uống, chia 3 lần trong ngày. Chữa trĩ lâu ngày: Nấu chín mộc nhĩ ăn nhiều lần sẽ khỏi. Chữa đau răng: Mộc nhĩ, kinh giới lượng bằng nhau. Sắc lấy nước ngậm và súc miệng. Tuy nhiên, mộc nhĩ mọc ở nhiều cây gỗ mục khác nhau, do vậy mà có công năng khác nhau, riêng biệt từng thứ. Nhưng nhìn chung các loại mộc nhĩ đều có công năng làm mát máu và cầm máu. Xin giới thiệu như sau: Nấm mộc nhĩ cây dâu dùng chữa băng huyết, rong kinh, hành kinh không dứt: Lấy mộc nhĩ dâu sao đen, tán nhỏ, uống mỗi lần vài ba thìa. Ngày uống 3-4 lần. Chữa bỗng dưng đau tức vùng tim: Lấy mộc nhĩ đốt tồn tính uống mỗi lần 8g. Ngày uống 3 lần. Dùng mộc nhĩ cây bồ kết, hơi độc nên không được ăn chỉ dùng chữa đại tiện ra máu, không thông, phân vón táo. Dùng mỗi lần 5g bồ kết mộc nhĩ tán vụn. Nếu chưa đỡ uống thêm 3-4 lần sẽ khỏi. Mộc nhĩ cây thông: Chữa tiểu đục. Nấu ăn sẽ khỏi.

Mộc nhĩ cây hòe: Dùng chữa phụ nữ sau sinh đau bụng máu. Lấy 20g mộc nhĩ cây hòe, tán nhỏ uống với rượu khỏi ngay. Mộc nhĩ cây liễu: Chữa nôn ói, mửa ra đờm. Lấy 7 mộc nhĩ cây liễu, sắc uống sẽ khỏi. Lưu ý: Nấm mộc nhĩ cây lim không ăn, không dùng vì có độc gây chết người (theo Vệ sinh yếu quyết


				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Tags:
Stats:
views:487
posted:10/21/2009
language:Vietnamese
pages:3