VỀ VIỆC XÂY DỰNG NỀN HÀNH CHÍNH ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM NỘI DUNG
Dẫn nhập
Mấy năm nay, một số phương tiện truyền thông đại chúng ở nước ta đã đưa vào sử dụng cụm từ “chính phủ điện tử” và có người còn viết rằng cần phải “khởi động” việc thực hiện một chính phủ như vậy. Ở đây, thuật ngữ tiếng Anh “e-government” đã không được phiên dịch đúng nghĩa và gây ảo tưởng cho không ít cán bộ địa phương chờ đợi chính phủ trong hay ngoài nước điện tử hoá giúp mình. Bài viết này góp phần làm sáng tỏ vấn đề trên và giới thiệu lộ trình xây dựng nền hành chính điện tử đã được Thủ tướng Chính phủ chính thức mở đầu từ năm 2001.
Vì sao các định nghĩa khác nhau và khác ở chỗ nào?
Thuật ngữ “e-government” được sử dụng và hiểu không thống nhất tuỳ theo cách định nghĩa hoặc mục đích riêng của mỗi nhà kinh doanh, báo chí, chính trị, khoa học, v.v. ở trong và ngoài nước. Nhìn chung, có thể xếp các định nghĩa vào 3 nhóm với các quan điểm khác nhau: a) nhấn mạnh mục tiêu, b) nhấn mạnh phương tiện, và c) nhấn mạnh nội dung. Xin nêu các thí dụ tiêu biểu cho 3 quan điểm trên và bình luận đi kèm: - Một số chuyên gia nước ngoài định nghĩa “e-government là chính quyền lên mạng Internet để phục vụ công dân ở mọi lúc và mọi nơi”. Có lẽ con vất vả lắm Việt Nam mơi đạt được mục tiêu ấy, nhưng chắc ̀ ́ chắn việc nêu ra ước mơ xa xôi như thế sẽ không thu hút được mối quan tâm thật sự của phần lớn mọi người hiện nay, khi 90% số dân ta vân chưa co điên thoai và các vấn đề giáo dục, y tế, xã hội... còn đang ̃ ́ ̣ ̣ nổi cộm.
- “Chính phủ điện tử là việc các cơ quan nhà nước ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan và giao dịch giữa các cơ quan nhà nước với tổ chức, công dân”. Dự thảo Luật Công nghệ thông tin (bản số 14 trình Uỷ ban Khoa học-Công nghệ và Môi trường của Quốc hội) khi định nghĩa như vậy đã vô tình đặt việc sử dụng phương tiên ngang với danh từ chính phủ và không phản ánh ̣ được nhu cầu thực tế của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 (được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001). - Trước đó, tại Quyết định 112/2001/QĐ-TTg ngày 25/7/2001, Thủ tướng Chính phủ đã sử dụng từ “Tin học hoá quản lý hành chính nhà nước” để nêu chính xác quá trình ap dung các thành tựu của khoa hoc ́ ̣ ̣ tô chưc và công nghệ xư ly thông tin nhằm thực hiện hiện đại hoá ̉ ́ ̉ ́ nền hành chính trong giai đoạn mới, đồng thời để đặt tên cho một trong những đề án lớn nhất của Chương trình tổng thể nói trên. Đề án này huy động toàn bộ cán bộ, công chức tham gia và gọi tắt là Đề án 112.
Buổi đầu hiện đại hoá nền hành chính nhà nước
Ngay khi còn đang kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói đến “sửa đổi lề lối làm việc” và chống tệ quan liêu, xa dân. Đi theo tư tưởng của Người, với quyết tâm đổi mới toàn diện đất nước từ cuối những năm 1980, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặt cải cách hành chính quốc gia lên một trong những nhiệm vụ chính trị hàng đầu, phân tích những lực cản rất mạnh và chỉ rõ phương pháp thực hiện là cải cách dần dần nhưng phải kiên quyết và liên tục. Việc phê duyệt Hiệp định khung e-ASIAN và Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 của Chính phủ thể hiện sự tiếp tục cao hơn các hành động trong giai đoạn trước. Thời đại thông tin đang đến và việc triển khai Đề án 112 cho phép vừa tin học hoá từng bước những khâu có thể tin học hoá được của nền hành chính nhà nước, lại vừa có tác dụng chỉ ra những gì có thể đẩy nhanh công cuộc cải cách. Chỉ thị 58 CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ mối quan hệ này: “Tin học hoá hoạt động của các cơ quan Đảng và Nhà nước là bộ phận hữu cơ quan trọng của cải cách hành chính quốc gia...”. Quả thực, Đề án 112 phải đối mặt với tất cả những vấn đề mà Đảng đã tiên liệu. Rào cản lớn nhất là nhận thức chưa sâu sắc về các chủ trương nói trên của Đảng và Chính phủ ở phần lớn cán bộ, công chức. Trong khi đó, tin học hoá quản lý hành chính nhà nước là một công việc mới mẻ, không có khuôn mẫu và hành lang pháp lý. Mặt khác,
Đề án 112 phải tiến hành trong những điều kiện rất vất vả do địa bàn triển khai toàn quốc, hạ tầng viễn thông đáp ứng chậm, kinh phí thực hiện hạn hẹp, nhân lực và lãnh đạo chuyên trách quá thiếu thốn, v.v. Đến nay, các khó khăn này đang được khắc phục và hàng trăm kết quả đầu tiên như các hệ thống thông tin kinh tế-xã hội địa phương, hệ thống thư điện tử nội bộ và cổng thông tin điện tử của Chính phủ trên Internet, v.v. bắt đầu hoạt động. Bên cạnh Đề án 112, từ những yêu cầu cấp bách của cải cách, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 169/2003/QĐ-TTg ngày 12/8/2003 phê duyệt Đề án "Đổi mới phương thức điều hành và hiện đại hoá công sở của hệ thống hành chính" giai đoạn I từ năm 2003 đến 2005. Đề án được chia làm 7 tiểu đề án nghiên cứu, phần lớn do Văn phòng Chính phủ, Bộ Nội vụ, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì thực hiện hoặc phối hợp thực hiện. Nội dung cụ thể của Đề án này bao gồm: - Xác định rõ phương thức điều hành của Chính phủ và của Thủ tướng Chính phủ. - Hoàn thiện và nâng cao chất lượng công tác phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc xây dựng, thực hiện chính sách; xác định rõ các nguyên tắc làm việc, quy chế hoá quy trình giải quyết công việc của các cơ quan hành chính Nhà nước các cấp. - Chuẩn hoá và công khai hoá quy trình giải quyết công việc trong các cơ quan hành chính Nhà nước. - Hệ thống các biểu mẫu, giấy tờ hành chính được sử dụng thống nhất. - Xây dựng quy hoạch tổng thể hệ thống công sở của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp. Các kết quả sẽ được áp dụng khi kết thúc giai đoạn I của Đề án 169.
Có sẵn các giải pháp cho Việt Nam chưa?
Một số doanh nghiệp, tổ chức đã và đang còn giới thiệu nhiều giải pháp “có sẵn” hoặc thậm chí “tổng thể” về “e-government”, tuy thật khó nói ai trong số đó thông thạo công việc hành chính của nhà nước Việt Nam. Tìm hiểu các bài học quốc tế là rất bổ ích (xem phụ lục), mặc dù không dễ hiểu được từ xa và thông tin đa chiều đến với ta thường trái ngược. VnExpress ngày 9/11/2004 đã trích dẫn hãng tin AFP như sau:
“Ước tính có xấp xỉ 35% số dự án chính phủ điện tử ở các nước thế giới thứ 3 đã hoàn toàn thất bại và gần 50% phần nào đó không thành công”, Robert Schware, chuyên gia công nghệ thông tin hàng đầu của World Bank, phát biểu. “Chỉ gần 15% có thể được coi hoàn toàn thành công. Tỷ lệ thất bại ở châu Âu và Mỹ cũng không phải là nhỏ”, Schware cho biết. “Ở Ấn Độ, một nửa số dự án chính phủ điện tử đang thực hiện có khả năng cũng không đi đến đâu...”
Nếu thất bại nhiều khắp thế giới thì có lẽ không phải là ngẫu nhiên. Như vậy việc lựa chọn những kinh nghiệm áp dụng vào quản lý hành chính của nhà nước ta càng đòi hỏi các bộ óc tỉnh táo, thực tiễn và sáng tạo. Trước hết, thể chế chính trị Cộng hoà XHCN Việt Nam khác biệt thể chế chính trị của các nước ngoài. Chính quyền các cấp ở nước ta có nhiều mối ràng buộc hơn về tổ chức và lại phải đảm bảo số lượng chức năng nhiều hơn hẳn so với chính quyền ở các nước đó. Thứ hai, ý thức pháp luật và khả năng kinh tế-kỹ thuật trung bình của cả nước hiện nay còn thấp, đặc biệt ở những vùng xa thành phố. Thứ ba, chúng ta phải dựa trên một kết cấu hạ tầng truyền thông non kém, đắt đỏ và không trải đều. Cuối cùng, cần phải tính đến cả các yếu tố ảnh hưởng khác như diện tích, số dân, tập quán văn hóa, vị trí địa lý, phân bố lao động và tài nguyên... Thực tiễn phong phú qua 4 năm triển khai Đề án 112 đã cho phép đông đảo cán bộ, công chức, doanh nghiệp tham gia có thêm hiểu biết của mình và tự rút ra nhiều kết luận quý báu. Thật thú vị vì một số kết luận đó trùng hợp với các bài học của Trung tâm nghiên cứu công nghệ hành chính bang New York.
“E-government” là nền hành chính điện tử
Trong nhà nước pháp quyền, chính phủ là cơ quan đứng đầu hệ thống các cơ quan hành pháp và quy định thẩm quyền của các cơ quan hành chính cấp dưới. Chính phủ có thể thay đổi định kỳ hoặc bất kỳ do biến động chính trị. Còn bộ máy quản lý hành chính nhà nước cấp dưới với đội ngũ công chức đông hơn hàng nghìn lần thì ổn định tương đối lâu dài và nền tảng công việc kỹ thuật của nó hoàn toàn có thể điện tử hoá được. Từ điển Anh-Việt do NXB Đồng Nai xuất bản 1996 theo các định nghĩa của cuốn “The Oxford Modern English Dictionary” cho biết danh từ “government” có tới 7 nghĩa như sau: “sự cai trị, sự thống trị, chính phủ, nội các, chính quyền, chính thể, nhà nước”. Còn tiếp đầu ngữ “e-” ngụ ý việc sử dụng các phương tiện điện tử để lên mạng. Có lẽ vì thế nên nước Đức và một số nước tiên tiến khác cứ để nguyên văn không dịch thuật ngữ “e-government”. Chương trình “e-Europe”
thì dùng thuật ngữ rõ nghĩa hẳn là “Digital Administrations” (nền hành chính kỹ thuật số). Còn Chính phủ Pháp đã thành lập “Cục Triển khai Hành chính Điện tử” (Agence de Développement de l’Administration Electronique). Nhiều người từng nghe đến “nền hành chính thủ công” chứ chưa ai nói “chính phủ thủ công”. Giới báo chí nên dùng từ “nền hành chính điện tử” và giải thích cho nhân dân hiểu đúng từ “e-government” để phân biệt rõ các vấn đề liên quan. Cũng nên bớt dùng những từ ngữ dễ gây hiểu lầm như “xã hội điện tử”, “công dân điện tử”, “doanh nghiệp điện tử” (khác gì công ty điện tử ?). Đặc biệt cụm từ “vé điện tử” có lẽ buộc người ta nhớ lại thời kỳ chiến tranh lạnh làm nảy sinh từ “bút nguyên tử” rất kêu mà thực ra chỉ là để bán được nhiều cây bút bi có hình dáng giống trái bom A!!
Văn bản pháp lý đầu tiên về giao dịch điện tử
Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đang dự thảo Luật Giao dịch điện tử nhằm đảm bảo tính hợp pháp cho những giao dịch kiểu này. Việc thông qua Luật sẽ đặt một bước quan trọng trong lộ trình tạo lập hành lang pháp lý cho nền hành chính điện tử ở nước ta. Vì vậy ở đây xin giải thích đôi chút: giao dịch điện tử là việc trao đổi dữ liệu có cấu trúc (bảng, biểu mẫu...) hoặc phi cấu trúc (thư từ, báo cáo...) bằng các phương tiện điện tử, bao gồm một quá trình liên tục từ khi mở đầu đến khi kết thúc giữa hai bên yêu cầu và cung cấp một dịch vụ trên mạng. “Bên” ở đây có thể được đại diện bởi một đối tác hoặc một phần mềm máy tính xác định. Còn “phương tiện điện tử” là những thiết bị hoặc công cụ có sử dụng kỹ thuật điện tử, thí dụ như máy fax, điện thoại, mạng máy tính, thẻ chip, đĩa từ, CD, mạng vô tuyến, v.v.
Những thuận lợi và thách thức chủ yếu
Như đã nêu trên, lộ trình xây dựng nền hành chính điện tử ở nước ta đã được Thủ tướng khởi động bằng các quyết định số 112/2001/QĐTTg, số 136/2001/QĐ-TTg và số 169/2003/QĐ-TTg. Các tiến bộ của công nghệ thông tin và truyền thông ngày nay cho phép hiện đại hoá phần lớn các công việc hành chính có tính chất kỹ thuật nhưng khó thay đổi được lề lối làm việc của cán bộ, công chức nhà nước. Vì vậy khi thực hiện Đề án 112 trong điều kiện thực tiễn thì phải quyết định xem cái gì có thể làm ngay và các bước tiếp theo, cũng như nghiên cứu, phân tích và phát triển những thành phần chủ yếu của nền hành chính điện tử.
“Thương mại điện tử” (e-commerce) với gần 60 năm triển khai đã mang lại nhiều kinh nghiệm quý báu cho thấy cả hai mặt ưu việt và hạn chế của những mô hình hệ thống khác nhau. Kết quả là sự ra đời hữu ích của các bộ tiêu chuẩn EDI, các công nghệ và các mạng dịch vụ giá trị gia tăng (TradeLink ở Hồng Kông, TEDI ở Nhật Bản, KTnet ở Hàn Quốc...). Bài học của những tổ chức thương mại hoạt động thành công trên phạm vi rộng là phối hợp với các đối tác đưa ra những yêu cầu cụ thể, thoả thuận các quy trình giao dịch điện tử và kiến trúc tương ứng, rồi mới đến lựa chọn công nghệ và phát triển những sản phẩm ứng dụng thích hợp. Tương tự như thế, để tiến hành tin học hoá, mỗi cơ quan hành chính cần nêu rõ ràng các nguyên tắc, quy trình và yêu cầu của mình; phải xem xét, dự tính các hệ quả nảy sinh khi áp dụng những điều kiện đó; quy định các mô hình, kiến trúc, phương pháp, công nghệ, v.v. sẽ tuân thủ để thực hiện, duy trì và vận hành các hệ thống thông tin. Các cơ quan hành chính cũng cần vạch ra các chính sách, biện pháp, kế hoạch làm chủ sự thay đổi và độ phức tạp của hệ thống. Nhà nước phải nghiên cứu, ban hành các văn bản pháp lý phù hợp cho triển khai thực hiện các dự án hành chính điện tử, quản lý chất lượng và đánh giá hiệu quả của chúng. Bên cạnh xây dựng các hệ thống thông tin, một trong các nội dung hoạt động quan trọng hàng đầu của Đề án 112 là nâng cấp kết cấu hạ tầng viễn thông cho CPnet tức mạng tin học diện rộng của Chính phủ, chủ yếu bằng việc mở các đường trục băng rộng và tổ chức hệ thống chứng thực điện tử phục vụ trao đổi dữ liệu trên mạng. Lý thuyết mạng cho biết là chỉ riêng độ phức tạp về trao đổi dữ liệu đã tăng theo giai thừa với số lượng các thiết bị nối mạng và số lượng người sử dụng, vì vậy CPnet sẽ có độ phức tạp rất lớn, chưa kể còn phải đối mặt trước sự gia tăng tất yếu về số lượng dữ liệu lưu thông. Sự gia tăng đó được dự báo là “bùng nổ” khi loài người tiến lên xã hội thông tin, trong đó mỗi cá nhân và tổ chức nếu muốn tồn tại thì bắt buộc phải trao đổi dữ liệu với cộng đồng của mình. Những ảnh hưởng cực kỳ quan trọng nói trên không có cách nào tránh khỏi và đòi hỏi xem xét nghiêm túc.
Lựa chọn mô hình tập trung hay phân tán?
Hệ thống thông tin có thể hiểu nôm na là các phần mềm và cơ sở dữ liệu (thượng tầng kiến trúc trên nền hạ tầng viễn thông), cho phép thu thập, trao đổi, lưu trữ, hiển thị dữ liệu, hoặc các xử lý khác. Hiện nay, trình độ tổ chức và công nghệ tiên tiến cho phép các nước ít dân hoặc các đô thị lớn (như Singapore, Luxembourg, Đài Bắc, New York...)
áp dụng mô hình hành chính điện tử thiên về xử lý dữ liệu tập trung. Trong khi đó, các nước có diện tích rộng, đông dân hoặc kết cấu hạ tầng truyền thông không đồng đều (Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Indonesia...) thì áp dụng mô hình thiên về xử lý dữ liệu phân tán. Nước ta sẽ phải làm gì để đáp ứng có hiệu quả được các yêu cầu về hành chính điện tử khi có 80 triệu dân sống chủ yếu ở nông thôn với kết cấu hạ tầng truyền thông yếu kém? Rõ ràng cần áp dụng mô hình xử lý phân tán ở chính quyền các cấp địa phương (UBND tỉnh, huyện) với các truy cập tập trung qua cổng giao tiếp điện tử theo cơ chế hành chính “một cửa”. Trong khi đó, tuyệt đại đa số các cơ quan trung ương đều toạ lạc ở thủ đô Hà Nội, như vậy nếu tập trung việc xử lý và lưu trữ các thông tin cấp nhà nước để phục vụ các lãnh đạo tối cao thì vừa tiết kiệm về đầu tư vào hệ thống thông tin và hạ tầng viễn thông, lại vừa nhanh chóng, an toàn và đơn giản về sử dụng, vận hành và duy trì chúng. Việc bố trí các hệ thống thông tin tác nghiệp nội bộ của những đơn vị cấp Bộ, ngang Bộ và trực thuộc dĩ nhiên tuỳ thuộc vào tính chất của họ. Những đơn vị có cùng một tổ chức ngành dọc trải khắp nước thì thường liên kết nội bộ qua mạng diện rộng dùng riêng, thí dụ mạng Tài chính, Ngân hàng, Công an, Quốc phòng... hoặc mạng Internet. Các thành phố lớn cũng có thể xây dựng mạng riêng của mình (MAN). Tuy nhiên nói chung, mọi đơn vị đều sử dụng mạng CPnet để liên kết với các cơ quan tối cao của chính quyền và như thế, ngoài công báo, thông tin lưu chuyển trên đó chủ yếu sẽ có dạng những dữ liệu liên ngành, có tính chất báo cáo định kỳ và phục vụ điều hành vĩ mô.
Các quan hệ trong giao dịch hành chính
Hệ thống hành chính trong các nhà nước pháp quyền thể hiện trước xã hội bằng các công sở. Các đối tác có quan hệ giao dịch với mỗi công sở được chia thành 4 nhóm, viết tắt bằng tiếng Anh như sau: - A (Administration): Công sở; - B (Business): Doanh nghiệp, tổ chức xã hội; - C (Citizen): Công dân; - E (Employee): Công chức, nhân viên nhà nước. Những giao dịch hành chính đó được biểu diễn bằng các quan hệ sau đây (viết tắt bằng tiếng Anh trong ngoặc đơn):
a) Quan hệ giao dịch giữa công sở với công sở (A2A)
Quan hệ A2A đề cập các quy trình và hệ thống hình thành tổ chức nội bộ của nền hành chính điện tử; bao gồm việc chia sẻ thông tin thông qua các phương tiện điện tử giữa các cơ quan chức năng của nhà nước. Các giao dịch hành chính A2A có thể diễn ra bên trong mỗi Bộ, ngành và địa phương, giữa các bộ phận của một nhà nước và thậm chí giữa các nhà nước khác nhau.
b) Quan hệ giao dịch giữa công sở với doanh nghiệp (A2B)
Quan hệ A2B hỗ trợ các hoạt động đối với xã hội, chủ yếu là kinh doanh, sản xuất, dịch vụ và thương mại. Việc đưa lên mạng các giao dịch hành chính với nhà nước sẽ tạo ra các cơ hội kinh doanh theo hướng đơn giản hoá các thủ tục hành chính, giảm bớt quan liêu, đảm bảo sự phù hợp về mặt pháp lý và làm cho các tác nghiệp diễn ra nhanh hơn và dễ dàng hơn thông qua việc điện tử hoá các thủ tục khai báo, đăng ký, lưu trữ và báo cáo thống kê... Việc cung cấp các giao dịch điện tử dù là toàn diện hay đơn lẻ cũng tạo ra cơ hội cho doanh nghiệp và cơ quan nhà nước phối hợp với nhau để các dịch vụ kinh doanh và các dịch vụ hành chính công được triển khai hài hoà, trong suốt, minh bạch và làm giảm các chi phí giao dịch.
c) Quan hệ giao dịch giữa công sở với công dân (A2C)
Mục đích của giao dịch điện tử ở đây là thực hiện các dịch vụ hành chính trên mạng hướng tới công dân, sao cho các thông tin và dịch vụ công có thể được cung cấp theo chế độ "một cửa". Điều này có nghĩa là công dân khi phải thực hiện một loạt các giao dịch, đặc biệt là các giao dịch liên quan đến nhiều cơ quan chức năng khác nhau thì không cần thiết phải đi đến từng cơ quan đó. Dĩ nhiên "một cửa" không có nghĩa là mọi cơ quan quản lý hành chính Nhà nước nhất thiết phải tập trung về một địa điểm, mà phải được hiểu là một loại công việc được xác định và chỉ do một cơ quan quản lý thực hiện. Cần phải hoàn thiện chính nội dung hoạt động bên trong quá trình cung cấp dịch vụ công, nếu "một cửa" mà "nhiều khoá" thì vẫn làm khổ dân như cũ. Chế độ "một cửa" cũng tạo điều kiện cho công dân tham gia vào các quy trình làm việc dân chủ và công khai với nhà nước, thông qua việc tiếp cận mọi thủ tục và theo dõi các công chức xử lý từng khâu giải quyết yêu cầu của công dân.
d) Quan hệ giao dịch giữa công sở với công chức (A2E)
Quan hệ A2E đề cập tới các hệ thống hành chính nội bộ, bao gồm các thủ tục và thông tin liên quan để đáp ứng yêu cầu của các công chức nhà nước và giúp họ thực hiện các nhiệm vụ được giao.
Kiến trúc các hệ thống thông tin hành chính
Như đã nói, xây dựng nền hành chính điện tử chủ yếu là xây dựng mạng máy tính và các hệ thống thông tin hoạt động theo các quy trình hành chính được cải cách cho phù hợp. Để có khả năng mở rộng (tính mở) và làm việc chung (tính liên tác) thì các hệ thống thông tin phải tuân theo một kiến trúc thống nhất. So sánh với giao dịch thương mại có 3 quan hệ B2A, B2B và B2C thì giao dịch hành chính có 4 quan hệ A2A, A2B, A2C và A2E, đặc biệt số lượng giao dịch hành chính là rất lớn. Trong giai đoạn đầu của tin học hoá quản lý hành chính nhà nước, quan hệ giao dịch phổ biến nhất là giữa công sở với công sở (A2A), chính vì thế mà nó cần được thực hiện trước tiên. Trong giai đoạn sau, khi số lượng dịch vụ công tăng lên thì giao dịch hàng đầu sẽ diễn ra giữa công sở với công dân (A2C), bởi vì công dân có số lượng đông nhất, rồi đến giữa công sở với doanh nghiệp (A2B) và cuối cùng là giữa công sở với công chức (A2E). Tuy nhiên kiến trúc tổng thể vẫn không được thay đổi, vì mục tiêu của kiến trúc là ổn định lâu dài. Kiến trúc này phải đáp ứng 4 quan hệ đã nêu, ở đây được chia làm hai bộ phận hữu cơ, đáp ứng cho các giao dịch nội bộ (A2A, A2E) và các giao dịch với bên ngoài (A2B, A2C):
a) Kiến trúc của các hệ thống thông tin nội bộ
Hình 1 thể hiện kiến trúc của các hệ thống thông tin nội bộ chủ yếu phục vụ các giao dịch A2A và A2E. Ba tầng theo chiều dọc phản ánh sự phân cấp “ảo” trên mạng diện rộng CPnet của các cơ quan nhà nước với những chức năng hoạt động được xác định theo tổ chức phân cấp quản lý.
Hình 1. Kiến trúc của các hệ thống thông tin nội bộ nhà nước
Hình 1 cũng cho thấy việc kết nối giữa các công chức trên mạng cục bộ của cùng một công sở, cũng như việc kết nối giữa các công sở thông qua các điểm truy cập mạng diện rộng. Mục đích của việc kết nối là giúp cho các đối tác có thể tìm kiếm, truy cập và trao đổi dữ liệu trong phạm vi cả nước ta. Mỗi cơ quan có một Trung tâm tích hợp dữ liệu làm điểm kết nối giữa mạng cục bộ của cơ quan và mạng diện rộng. Trung tâm này cung cấp các dịch vụ ứng dụng (App. Server), dịch vụ web (Web Server), dịch vụ thư điện tử (Mail Server), các dịch vụ hỗ trợ tìm kiếm thông tin và chia sẻ, lưu trữ dữ liệu (danh bạ, thư viện), v.v.. Mọi Trung tâm tích hợp dữ liệu đều tổ chức như thế để dễ bảo trì và mở rộng, chúng chỉ khác nhau ở quy mô đầu tư, tuỳ theo kích cỡ hệ thống thông tin và mức độ sử dụng. Các mạng cục bộ và diện rộng cần có đủ tốc độ, cho phép lưu thông, chia sẻ thông tin nhanh chóng giữa các cơ quan nhà nước và làm tăng giá trị sử dụng của thông tin.
b) Kiến trúc của các hệ thống thông tin phục vụ bên ngoài
Hình 2 phản ánh mối liên quan của các hệ thống thông tin nội bộ với các hệ thống thông tin phục vụ bên ngoài công sở, thông qua các cổng giao tiếp điện tử theo cơ chế hành chính “một cửa”. Tất cả các công chức đều được kiểm tra xác thực khi truy cập mạng nội bộ CPnet. Dữ liệu trao đổi giữa các đối tác (A, B, C, E) được tích hợp và đảm bảo an toàn.
Các công chức Xác thực, an toàn dữ liệu Các công dân Các doanh nghiệp Các cơ quan địa phương Các CSDL trung ương CPnet Internet Các cổng giao tiếp của địa phương
Các CSDL địa phương Các cơ quan trung ương Trung gian trao đổi dữ liệu Các cổng giao tiếp trung ương Các công chức lưu động Trung gian trao đổi dữ liệu Các ứng dụng của địa phương Các ứng dụng của trung ương Hình 2. Kiến trúc toàn bộ các hệ thống thông tin hành chính nhà nước
Mỗi cơ sở dữ liệu (CSDL) trung ương chứa dữ liệu về một lĩnh vực chuyên ngành của trung ương và được quản lý bởi một cơ quan trung ương. Mỗi CSDL địa phương chứa dữ liệu về một lĩnh vực chuyên ngành của địa phương và được quản lý bởi một cơ quan địa phương. Chỉ một số ít CSDL có tính chất quốc gia, chúng thường có kích cỡ rất lớn nhưng lại tập trung tại Hà Nội là đầu mối của kết cấu hạ tầng truyền thông, cho nên vẫn có thể truy cập và khai thác được từ xa qua CPnet hoặc Internet. Để giải quyết phần lớn các thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” thông qua cổng giao tiếp hay mặt trước (Front-Office) thì các CSDL trung ương và địa phương hay mặt sau (Back-Office) phải đạt đến một mức độ “mở” cho phép kết nối trực tuyến trên mạng. Cũng phải xây dựng danh bạ dữ liệu (kiểu như “những trang vàng” của danh bạ điện thoại) nhằm cung cấp thông tin tóm tắt và địa chỉ của các tài nguyên dữ liệu trên mạng, phát triển các phần mềm ứng dụng theo một kiến trúc nhất quán, trong đó có thành phần “trung gian trao đổi dữ liệu” (Middle–Office). Danh bạ dữ liệu là một CSDL chứa các siêu dữ liệu (metadata) cho phép tìm kiếm rất nhanh các CSDL khác trên mạng. Còn trung gian trao đổi dữ liệu là một thành phần đầu mối có khả năng liên tác (interoperate) giữa các CSDL và cổng giao tiếp trong mỗi dịch vụ hành chính. Những sản phẩm hỗ trợ liên tác giữa các thành phần của kiến trúc đa lớp (multi-tier) được gọi là phần mềm trung gian (Middleware).
Chúng được dùng như một loại cấu kiện xây dựng nên các phần mềm ứng dụng của Đề án 112 có sử dụng kiến trúc đa lớp. Ngày nay, nhờ công nghệ các dịch vụ web (web services) ta có thể giải quyết vấn đề phát triển các ứng dụng có khả năng trao đổi dữ liệu tự động và an toàn, cho phép kế thừa các hệ thống thông tin hiện hành trên cơ sở đạt được thoả thuận giữa các đối tác tham gia giao dịch điện tử. Tuy nhiên phương pháp tiếp cận hướng đối tượng và sự kiên trì tổ chức theo một kiến trúc nhất quán mới là tiền đề quyết định sự thành công của các ứng dụng nói trên.
Các bước tiến của cổng giao tiếp hành chính
Cổng giao tiếp điện tử phục vụ hành chính được gọi tắt là cổng giao tiếp hành chính. Kinh nghiệm ở các nước tiên tiến cho thấy có 5 bước hoặc 5 cấp độ tăng dần khả năng phục vụ của các cổng đó như sau: - Cấp 1 (cổng thông tin): Cung cấp thông tin về chức năng, tổ chức và các biểu mẫu, thủ tục hành chính của cơ quan sở hữu cổng. - Cấp 2 (cổng dịch vụ): Ngoài khả năng trên còn cung cấp một số công cụ hỗ trợ và các dịch vụ trực tuyến thuộc thẩm quyền riêng của cơ quan. - Cấp 3 (cổng dữ liệu): Cung cấp thêm dịch vụ truy cập các CSDL nội bộ và người sử dụng có thể theo dõi việc giải quyết hành chính. - Cấp 4 (cổng cộng tác): Cung cấp thêm dịch vụ cộng tác xử lý dữ liệu với các cơ quan liên đới trách nhiệm. - Cấp 5 (cổng tự động): Ngoài các khả năng trên còn cho phép tự động liên tác giữa các dịch vụ trực tuyến của các cổng giao tiếp khác nhau. Thí dụ, thông qua cổng hành chính tự động, một doanh nghiệp không những chỉ có thể tiến hành đăng ký kinh doanh mà đồng thời còn có thể lựa chọn mua bảo hiểm y tế cho người lao động của doanh nghiệp. Thực tiễn triển khai Đề án 112 cho thấy tuyệt đại đa số các cổng giao tiếp hành chính đang ở trình độ cấp 1 và chỉ ít cổng đạt đến cấp 2. Như vậy trong lộ trình xây dựng nền hành chính điện tử của Việt Nam hiện nay chúng ta mới đi được một hoặc hai bước đầu tiên tuy rất căn bản trong số 5 bước đã nêu.
Các giải pháp cho những bước tiếp theo
Trình độ tin học hoá không đồng đều giữa các cơ quan làm cản trở giao dịch điện tử trong quản lý hành chính theo cơ chế “một cửa”. Thông tin hành chính chủ yếu sinh ra ở cơ sở, các cơ quan cấp dưới phải tin học hoá trước thì cấp trên mới có dữ liệu trích đọc để đề ra quyết sách gửi xuống. Rõ ràng cổng giao tiếp của Chính phủ không thể đáp ứng cơ chế này khi chỉ có một vài CSDL của các Bộ, ngành và địa phương đạt đến mức độ “mở”. Cổng giao tiếp thực chất là một ứng dụng tích hợp nhiều giao dịch điện tử được tự động hoá, vậy nếu các CSDL không “mở” thì làm sao các phần mềm hành chính có thể trích đọc dữ liệu của nhau? Muốn cổng giao tiếp đạt được cấp 3 trở lên thì ngoài các giải pháp tổ chức còn phải áp dụng một số giải pháp công nghệ như sau: - Cổng giao tiếp ở mọi cấp đều sử dụng một giao diện web thống nhất, - Xây dựng một hạ tầng mã khoá công khai đảm bảo an toàn cho các đối tác và dữ liệu giao dịch điện tử (cấp 3), - Phát triển ứng dụng theo phương pháp tiếp cận hướng đối tượng và sử dụng ngôn ngữ mô hình hoá thống nhất (cấp 3 trở lên), - Tích hợp và cộng tác xử lý dữ liệu bằng thành phần trung gian trao đổi dữ liệu (cấp 4), - Truy cập các dịch vụ trực tuyến theo cơ chế một cửa với sự liên tác giữa các cổng giao tiếp (cấp 5). Sau đây là giải thích về mục đích của những giải pháp nói trên:
a) Chuẩn hoá giao diện Web
Để trao đổi dữ liệu tự động, tiết kiệm đầu tư, rút ngắn thời gian huấn luyện, đơn giản hoá giao diện sử dụng cho mọi ứng dụng thông qua cửa sổ thân thiện trên màn hình của trạm làm việc hay máy tính cá nhân nối mạng thì phải chuẩn hóa một giao diện web thống nhất.
b) Xây dựng hạ tầng mã khoá công khai
Xây dựng một kết cấu hạ tầng mã khoá công khai (PKI) với các cơ quan chứng thực (CA) là để mọi đối tác nối mạng được xác thực và dữ liệu trao đổi trên mạng được bảo vệ an toàn.
c) Tiếp cận hệ thống theo hướng đối tượng
Phát triển phần mềm ứng dụng theo các phương pháp hiện đại là để thuận tiện cho việc giám sát, theo dõi và đánh giá chất lượng cũng như hiệu quả đầu tư của các dự án. Cần có cách tiếp cận hướng đối tượng và sử dụng ngôn ngữ mô hình hoá thống nhất UML khi phát triển để có thể tái sử dụng các cấu kiện phần mềm vì có rất nhiều khâu xử lý giống nhau trong các quy trình hành chính.
d) Chuẩn hoá trung gian trao đổi dữ liệu
Chuẩn hoá trung gian trao đổi dữ liệu, sử dụng ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản có thể mở rộng (XML) và siêu dữ liệu (metadata) là để đảm bảo sự cộng tác xử lý dữ liệu và kế thừa các hệ thống thông tin hiện hành.
e) Áp dụng cơ chế một cửa
Chuẩn hoá cổng giao tiếp với các công nghệ phục vụ cơ chế một cửa, sử dụng các CSDL bên ngoài cổng và danh bạ dữ liệu là để: - Đánh dấu và tìm kiếm thông tin dễ dàng, - Phân tích dữ liệu theo nhiều tiêu chí, - Quản trị tri thức và tích hợp nội dung thông tin, - Liên tác giữa các ứng dụng đa lớp hướng dịch vụ, - Cá thể hoá (personalisation) phù hợp người sử dụng, - Thực hiện “đăng nhập một lần” (SSO: Single Sign-On), v.v. Ghi chú: thống kê cho thấy việc đăng nhập của mỗi người sử dụng vào các phần mềm ứng dụng chuyên nghiệp làm mất từ 3 đến 44 giờ/năm. Khi có yêu cầu truy cập, mỗi ứng dụng sẽ phải tiến hành xem xét tên và mật khẩu đăng nhập của người yêu cầu. Nếu tách đăng nhập như một công đoạn chung cho những ứng dụng liên tác với nhau thì người sử dụng sẽ không còn phải nhớ hàng loạt mật khẩu dành cho các ứng dụng khác nhau và sẽ tiết kiệm thời gian vì chỉ “đăng nhập một lần” khi đi qua tầng kiểm soát ở lối vào cổng giao tiếp.
Chuẩn hoá các giao dịch điện tử
Nếu muốn đề xuất những giải pháp “e-government” khả thi cho nhà nước ta thì việc nghiên cứu và thực hiện chuẩn hoá mối quan hệ tương ứng giữa các đối tác tham gia giao dịch hành chính điện tử phải
là một trong những bước tiến hành đầu tiên, gắn liền với việc cải cách các quy trình và thủ tục hành chính lạc hậu. CPnet và các mạng diện rộng dùng riêng đều là mạng nội bộ (intranet), còn Internet là một mạng công cộng có thể mượn đường như mạng trung gian bên ngoài (extranet). Các giao dịch điện tử trong môi trường những mạng này có sự khác nhau và giống nhau như phân tích sau đây chỉ rõ, từ đó dẫn đến những đòi hỏi riêng về tổ chức và ứng dụng.
Giao dịch trong các mạng thông tin nội bộ
Tin học hoá quản lý hành chính nhà nước chủ yếu liên quan đến các giao dịch điện tử nội bộ của các cơ quan nối vào mạng CPnet hoặc các mạng diện rộng dùng riêng của một số tỉnh, thành và Bộ, ngành (thí dụ TP Hồ Chí Minh, ngành Thuế, ngành Hải quan...). Trong phạm vi các mạng nội bộ, đa số dữ liệu được trao đổi mang tính chất báo cáo và thông tin quản lý, tức là không nhất thiết phải thực hiện ngay lập tức (khác với điều khiển các quá trình công nghiệp) và giao dịch điện tử được tiến hành theo các quan hệ A2A hoặc A2E. Dữ liệu và các đối tượng có thể được quản lý dễ dàng, nhất là khi trương khoản người sử dụng (bao gồm tên và mật khẩu đăng nhập) đã được đăng ký trước trong mạng cục bộ của từng công sở. Nhưng trên các mạng diện rộng trải khắp lãnh thổ Việt Nam thì việc đảm bảo an toàn giao dịch và tính riêng tư cho các dữ liệu được trao đổi quả là không đơn giản. Tổng số người sử dụng CPnet là hơn 200.000 người nếu chỉ tính trong 3 cấp chính quyền và sẽ là gần 1 triệu người nếu nối đến cả chính quyền cấp phường, xã sau này. Số lượng đó mặc dù chỉ bằng khoảng 1/10 số dân nhưng có thể biến động theo thời gian do thuyên chuyển vị trí hoặc tạm nghỉ, về hưu hoặc chết; chưa kể việc mỗi cán bộ kiêm nhiệm công tác (Đảng, Mặt trận, Thanh niên, Phụ nữ, Công đoàn) lại có thể có thêm một vài trương khoản. Như vậy cần có sự quản lý an ninh mạng CPnet và xác thực rất chặt chẽ với một cơ quan chuyên trách. Các thông tin về những trương khoản sử dụng phải dựa vào vị trí làm việc hay chức danh công tác (rất ít thay đổi), kèm theo đó là bảng cập nhật họ tên của những người sử dụng cụ thể (thay đổi thường xuyên).
Giao dịch thông qua mạng Internet
Các ứng dụng mang tính chất cung cấp các dịch vụ công được tiến hành theo quan hệ A2B (giữa công sở với doanh nghiệp) và A2C (giữa công sở với công dân), phần lớn diễn ra trên mạng công cộng Internet. Vì vậy, phần lớn những vấn đề kỹ thuật nảy sinh có thể được giải quyết bằng sử dụng các công cụ và dịch vụ có sẵn trên Internet. Đặc biệt sẽ cần lưu ý đến việc xác thực cho các công dân và doanh nghiệp, tổ chức khi giao dịch với cơ quan nhà nước.
Phân loại giao dịch theo nhóm công nghệ
Phân loại giao dịch điện tử theo các mạng như trên mới chỉ cho thấy quan hệ giữa các đối tác tham gia giao dịch và rõ ràng là chưa đủ cho nhà quản lý tự lựa chọn, xác định các giải pháp công nghệ phù hợp với một dự án tin học hoá cụ thể. Thí dụ, trong một ứng dụng trực tuyến “một cửa” như cấp phép kinh doanh sẽ có cả 3 quan hệ chồng chéo A2C, A2B và A2A, làm cho vấn đề trở nên phức tạp. Nếu giao dịch điện tử được phân loại theo nhóm công nghệ với những giải pháp đã trải qua kiểm nghiệm thì sẽ tạo thuận lợi hơn cho việc hoạch định, thực hiện, đánh giá và quản lý chất lượng của các dự án tin học hoá tương ứng. Mỗi dự án giao dịch điện tử trong hành chính có thể được giải quyết bằng việc áp dụng một vài nhóm công nghệ phổ biến và có thể chuẩn hoá, thí dụ như các hệ thống hỗ trợ ra quyết định, hoặc khai báo, cấp phép, thanh toán và huấn luyện trực tuyến... được giải thích vắn tắt như sau: - Trong quản lý hành chính, những văn bản như báo cáo, công văn, thông tư, quyết định... thường phải được biên soạn, kiểm tra và chỉnh sửa bằng một nhóm chuyên viên thuộc các lĩnh vực liên quan. Những công việc như thế có thể phải lặp lại nhiều lần với sự phê duyệt của người phụ trách và sự trao đổi văn bản giữa các địa chỉ cần thiết. Nhóm công nghệ giải quyết những việc này đã được trải qua thực tiễn và có thể chuẩn hoá như các hệ thống ứng dụng xử lý cộng tác và hỗ trợ ra quyết định. - Khai báo trực tuyến là giao dịch điện tử, trong đó người sử dụng khai báo thông tin theo biểu mẫu đã quy định trước thông qua mạng và thông tin sẽ được tích hợp vào CSDL của cơ quan quản lý. Đây sẽ là những giao dịch phổ biến đối với công dân và doanh nghiệp. - Cấp phép trực tuyến là giao dịch điện tử, trong đó cơ quan quản lý sẽ thực hiện việc cấp phép thông qua mạng nếu người yêu cầu có đủ các thủ tục và điều kiện đã quy định trước.
- Thanh toán trực tuyến là giao dịch điện tử, trong đó người sử dụng có thể nộp một khoản chi (cước, phí, thuế,...) hoặc nhận tiền lương và các khoản thu nhập khác thông qua mạng. - Huấn luyện trực tuyến là giao dịch điện tử, trong đó người sử dụng có thể tham gia một khoá huấn luyện nghiệp vụ và thể hiện sự tiếp thu nội dung học tập của mình thông qua mạng. - v.v.
Một số ứng dụng giao dịch điện tử
Các ứng dụng giao dịch điện tử có thể thuộc nhiều lĩnh vực và cơ quan quản lý khác nhau nhưng bản chất của chúng lại là giống nhau về phương diện công nghệ như đã nói ở trên. Nếu áp dụng những giải pháp công nghệ và cấu kiện được chuẩn hoá thì sẽ tiết kiệm thời gian, công sức phát triển hoặc duy trì ứng dụng và tái sử dụng khi có sự thay đổi quy trình hành chính. Sau đây là danh sách một số ứng dụng trên mạng có nhu cầu thực tiễn rất lớn và cần phải thực hiện dần dần: - đấu thầu, mua sắm công sản, - khai và nộp thuế thu nhập, - khai báo, hoàn thuế giá trị gia tăng, - khai sinh, báo tử, - đăng ký hộ khẩu, kết hôn, ly hôn, nhận con nuôi, - nộp, nhận trợ cấp, bảo hiểm xã hội, y tế, giáo dục..., - đăng ký, khai báo, cấp phép hải quan, - cấp chứng chỉ hành nghề (lái xe, chữa bệnh...), - đăng ký kinh doanh..., - cấp phép đầu tư, xây dựng..., - đăng ký phương tiện vận tải, - đăng ký và tuyển lao động, - khai, nhận các loại công chứng,
- điều tra, thống kê, thăm dò ý kiến và đánh giá dư luận xã hội, - học và thi trực tuyến, - cấp chứng chỉ giáo dục và đào tạo, - v.v.
Cải cách quy trình và thủ tục hành chính
Những ứng dụng nói trên chỉ có thể thực hiện tốt nếu các quy trình tỏ ra minh bạch. Cơ quan hành chính cần quy định trình tự các hoạt động cụ thể với các khâu khai báo, xử lý, thời điểm xử lý, cách thức và họ tên công chức giải quyết công việc và kiểm tra các thủ tục liên quan, v.v.; hơn nữa phải công khai hoá các thông tin này cho mọi người cùng biết. Mỗi thủ tục thực chất là một điều kiện cần kiểm tra (thí dụ đơn từ, lệ phí, bằng cấp, chứng minh thư, v.v.) mà khi được thoả mãn hoặc không được thoả mãn sẽ dẫn đến một khâu xử lý tiếp theo hoặc lặp lại một bước cũ. Quy trình thường ổn định và có rất nhiều khâu xử lý giống nhau (gửi, nhận, đối chiếu, lưu trữ, quyết định, v.v.) nên dễ áp dụng phép lặp, còn thủ tục có thể đơn giản hoá bằng cách mở rộng sự lựa chọn (thí dụ các thẻ sinh viên, công đoàn..., hoặc hộ chiếu, thẻ ngân hàng... có thể xác minh nhân thân trong một số trường hợp). Khi thủ tục bớt ngặt nghèo và quy trình bớt người can thiệp thì nạn tham nhũng bớt có đất phát triển. Sự ưu việt đầu tiên của hành chính điện tử là ở chỗ có thể nhanh chóng công bố cả quy trình lẫn thủ tục lên trên mạng và tự động hoá một số khâu xử lý bằng máy tính thay cho con người, mặc dù những khâu xử lý có tính chất quyết định thì vẫn do công chức thực hiện. Hơn thế, nhờ sự liên tác giữa các ứng dụng, giữa các cơ sở dữ liệu và giữa các công chức mà mọi thủ tục có thể được tiếp nhận và giải quyết chỉ qua một cửa. Nền hành chính thủ công đã tồn tại hàng trăm năm với các quy trình rối rắm và các thủ tục phiền hà, bắt buộc người dân phải đi qua nhiều cửa. Cải cách hành chính là thay đổi dần dần tình trạng đó bằng các việc sau: - tinh giản các thủ tục và các khâu xử lý, cũng như giảm số công chức phải tham gia trong mỗi quy trình hành chính, - thực hiện cơ chế “một cửa” và tái cơ cấu tổ chức cho phù hợp,
- nâng cao trình độ và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, - tin học hoá các khâu xử lý và xây dựng các hệ thống thông tin. Cơ chế “một cửa” làm cho các công sở trở thành “trong suốt” đối với mỗi đối tác của nhà nước. Tinh giản ít nhất cũng biến các công việc hành chính trở thành những khâu xử lý minh bạch. Còn tin học hoá thì xoá khoảng cách địa lý và thời gian, tăng mức độ tự động hoá và tốc độ xử lý thông tin. Điều này gợi nhớ đến cuộc cách mạng công nghiệp cách đây 100 năm, khi việc cơ khí hoá và phân công trong dây chuyền sản xuất đã làm năng suất lao động tăng vọt và cho phép quản lý chất lượng sản phẩm, diễn tiến của dòng công việc và trách nhiệm của từng người.
Thí điểm giao dịch hải quan điện tử
Để kết thúc, xin nêu lộ trình của một dự án song song với Đề án 112. Ngày 20/6/2005, Thủ tướng đã có Quyết định số 149/2005/QĐ-TTg về thực hiện thí điểm thông quan điện tử gồm 3 giai đoạn từ 2005 đến 2007. Hiện nay đã thành lập 2 Chi cục Hải quan Điện tử Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh, đào tạo nhân lực tham gia thí điểm giai đoạn đầu và vài chục doanh nghiệp đã khai báo qua mạng gần 1000 tờ khai xuất nhập hàng. Ngày 10/11/2005, Ngân hàng Thế giới đã đồng ý cho Việt Nam vay ưu đãi 65,9 triệu USD để cải cách và hiện đại hoá ngành hải quan.
PHỤ LỤC I. BÀI HỌC TỪ CHÍNH QUYỀN NEW YORK
Mới đây, một bài viết về tin học hoá quản lý hành chính bang New York may sao đã được dịch và đăng trên trang Web của UBND TP Đà Nẵng. Nhận thấy hầu hết nội dung rất trùng hợp với kinh nghiệm của mình, chúng tôi mạn phép các tác giả và dịch giả được trích lại ở đây phần kết luận của bài đó. Xin trân trọng cảm ơn ông Hoàng Quang Tuyến (Trung tâm Tin học, VP UBND TP Đà Nẵng) đã cống hiến một bản dịch sát ý. Bài học 1: Nhu cầu tin học hóa là yếu tố thúc đẩy đổi mới công nghệ thông tin
Có thể là quá nhàm khi nói rằng mục đích cụ thể của tin học hóa hành chính mới là người dẫn đường. Nhưng trên thực tế thì người đề xướng công nghệ (người khởi động dự án) thường lại là người dẫn đường. Điều này về lâu dài sẽ gây ra nhiều khó khăn.
Bài học 2: Dùng mô hình học tập để phát triển hệ thống thông tin làm mẫu-tiến hóa-đánh giá
Mục đích tin học hóa phải định hướng được quá trình phát triển hoàn chỉnh hệ thống thông tin, phải xác định rõ ràng các kỳ vọng về hệ thống tương lai. Để thực hiện kỳ vọng này, cách tốt nhất là hãy bắt đầu ở phạm vi nhỏ, rồi sau đó dựa trên kinh nghiệm làm việc thực tế mà tiến hóa dần dần hệ thống. Phải chú tâm về mục đích của hệ thống ngay từ đầu và luôn đặt mình vào vị trí lường định kết quả làm ra so với các yêu cầu của đối tượng, lường định khả năng cải tiến hệ thống ở các bước nâng cao.
Bài học 3: Hành chính nhà nước là công việc phức tạp không thể xem nhẹ
Xây dựng hệ thống thông tin phục vụ quản lý hành chính nhà nước là một việc khó. Khó vì hệ thống phải liên quan đến nhiều mức chính quyền, liên quan đến nhiều thành phần kinh tế, có nhiều người quyết định trong một dự án. Đừng bao giờ đánh giá thấp độ phức tạp của những vấn đề hành chính thoạt đầu trông có vẻ đơn giản. Những vấn đề phức tạp này là không thể tránh khỏi, phải thành thực đối diện và giải quyết đúng đắn.
Bài học 4: Trình độ chuyên môn và trách nhiệm cá nhân tạo ra sự khác biệt thực sự
Một yếu tố rất quan trọng bảo đảm sự thành công của dự án tin học hóa hành chính là trách nhiệm và trình độ chuyên môn của những người phân tích, thiết kế và phát triển hệ thống thông tin hành chính. Chính họ là người thiết lập nền văn hóa công nghệ mới và nắm bắt được những khả năng rủi ro để bảo đảm tính hiệu quả của sự thay đổi. Có hai điều cần chú trọng: - những cá nhân này hiểu rõ các giải pháp công nghệ thông tin áp dụng vào các đối tượng công việc hành chính được lập trình hóa. - các cơ quan phải giao cho họ đủ trách nhiệm trong định hướng và hành động. Mức độ quan tâm đến bốn vấn đề nêu trên có ảnh hưởng to lớn đến sự thành công của các dự án tin học hóa hành chính nhà nước. Hai bài học đầu có lẽ là chuẩn cho mọi dự án, hai bài học sau có lẽ là đặc thù của hệ thống hành chính nhà nước. Không dễ dàng gì thuần thục được ba bài học đầu trong quá trình tin học hóa hành chính nhà nước. Chỉ riêng bài học cuối cùng, nếu không khéo cũng làm hỏng dự án. Thông thường cách dễ nhất để thực hiện chỉ thị là bảo sao làm vậy theo kiểu
“mười lăm cũng gật mười tư cũng ừ”. Chẳng hạn mua ngay một công nghệ được quảng cáo nhiều thì dễ hơn phải xác định cho rõ ràng các mục tiêu cần đạt và lượng định xem công nghệ nào thì đạt được mục tiêu mong muốn. Việc mở rộng cho nhiều thành phần tham gia dự án tin học hóa hành chính thì khó hơn nhiều so với cách làm việc đóng cửa bảo nhau. Các dự án tin học hóa hành chính nhà nước mà Trung tâm chúng tôi thực hiện chỉ ra rằng để chống lại tin học hóa theo kiểu phong trào cần phải có trách nhiệm thực sự trước mục đích của cơ quan, cũng như thái độ thiện chí trước các sắc thái nhiệt tình khác nhau. Để phát triển ngày càng hiệu quả hơn sự nghiệp tin học hóa quản lý hành chính nhà nước thì điều cần thiết là phải tạo ra được môi trường khuyến khích việc cải tiến, cổ vũ những thử nghiệm mới và coi trọng những phân tích có suy nghĩ. Công nghệ thông tin là công cụ mạnh mẽ giúp tạo ra những thay đổi hiệu quả nhưng đồng thời nó cũng đòi hỏi các nhà quản lý, các viên chức trong bộ máy hành chính phải xác định cho được đâu là những thay đổi mà họ mong muốn và đâu là con đường đạt tới sự mong muốn đó.
(Sharon S. Dawes, Peter A. Bloniarz, David R. Connelly, Kristine L. Kelly, Theresa A. Pardo, Trung tâm nghiên cứu công nghệ hành chính bang New York)
PHỤ LỤC II. GIỚI THIỆU DỰ ÁN ELINK Ở THUỴ ĐIỂN
Những kinh nghiệm sau đây được tham khảo từ một dự án thực hiện hạ tầng giao dịch điện tử trong khuôn khổ của sáng kiến IDA (Interchange of Data between Administrations: trao đổi dữ liệu giữa các cơ quan hành chính) theo chương trình “e-Europe” của Cộng đồng các nước châu Âu. Tại Thuỵ Điển, bắt đầu từ năm 2001 đến 2003, dự án mạng thông tin eLink được triển khai cho Hội đồng Thuế Quốc gia, Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm Xã hội, Cục Quản lý Công cộng, Cục Thống kê, Bộ Trang bị, Cục Đăng kiểm, Hội đồng Thủ đô Stockholm. Từ năm 2004, Bộ Y tế, Toà án Tối cao và Toà án các cấp, Cục Cảnh sát Quốc gia, Cục Hải quan, v.v. cũng tham gia dự án này và thực tế đã mở rộng các ứng dụng ra chính quyền toàn quốc.
Các dịch vụ của mạng thông tin eLink
eLink là một mạng dịch vụ thông tin phân tán, trong đó mỗi công sở hoặc tổ chức sử dụng nó trở thành một nút mạng. Riêng dịch vụ danh
bạ dữ liệu “những trang vàng” là tập trung, mặc dù vẫn có thể được phân tán. Các dịch vụ chủ yếu của eLink gồm có: - trao đổi và định tuyến các thông điệp - truyền tệp dữ liệu giữa hai hệ thống nội bộ và/hoặc bên ngoài (trao đổi không đồng bộ) - quản trị các truy vấn trực tuyến giữa hai hệ thống nội bộ và/hoặc bên ngoài (trao đổi đồng bộ) - đăng ký nhận các thông điệp (trao đổi giữa nhiều điểm) - thoả thuận cho từng thông điệp được trao đổi (cấp phép) - xác thực, ký điện tử, mật hoá, giải mật (giao dịch an toàn) - kết nối và truy cập danh bạ các dịch vụ trên toàn mạng (danh bạ “những trang vàng”)
Đảm bảo an ninh dữ liệu trong mạng
An ninh dữ liệu trong eLink có thể được đảm bảo với các mức độ khác nhau và bố trí tuỳ theo từng kiểu thông điệp. Mức an ninh cao nhất dựa trên hạ tầng mã khoá công khai (PKI) với khả năng mật hoá/giải mật giữa công dân và phần mềm ứng dụng của cơ quan nhà nước hoặc giữa hai phần mềm như thế mà không ai khác, kể cả các nút quản trị giao dịch của Chính phủ, có thể đọc được thông điệp. Tất cả mọi nút mạng (công sở, tổ chức) và công dân đều có một chứng chỉ để xác thực và mật hoá việc chuyển tải. Việc quản trị cấp phép được thực hiện ở từng nút mạng thông qua một hệ thống thoả thuận các tài liệu XML. Danh bạ “những trang vàng” còn cung cấp địa chỉ URL của các nút mạng có chứa những thoả thuận đó. Như thế, nút mạng chịu trách nhiệm sẽ xác minh cục bộ sự có mặt của một thoả thuận khi gửi thông điệp. Nếu thoả thuận không tồn tại thì một thông báo lỗi sẽ được gửi trả lại cho bên gửi. Nếu nó tồn tại thì dịch vụ danh bạ sẽ bị truy vấn để cung cấp địa chỉ của nút mạng nơi bên nhận được đăng ký. Sau đó, thông điệp sẽ được gửi một cách an toàn (có thể có sự phúc đáp của bên nhận).
Giao diện cho người sử dụng
Giao diện của eLink cho phép liên lạc giữa các ứng dụng nội bộ của công sở và bên ngoài. Giao diện này là một bộ công cụ hỗ trợ các nhà phát triển có thể đổi các tham số cho phần mềm ở phía người sử dụng để truyền thông điệp hoặc truyền tệp dữ liệu, tuỳ theo các yêu cầu riêng của từng kiểu thông điệp.
Cấu trúc của các thông điệp
Trong eLink, thông điệp gồm có 2 bộ phận: - phần đề mục là một thông điệp tài liệu XML mà sơ đồ đi kèm của nó được quy định bởi chuẩn eLink, bao gồm các thông tin cần thiết cho việc truyền thông điệp (như bên gửi, kiểu thông điệp, bên nhận, v.v.) - phần thân của thông điệp (cũng khuyến nghị dùng XML) được mã hoá theo tiêu chuẩn an toàn S/MIME và có thể sử dụng cả với các chứng chỉ xác thực theo khuyến nghị X500 của Liên đoàn Viễn thông Quốc tế ITU.
Các chi phí tham gia mạng eLink
Trong dự án eLink, dịch vụ danh bạ “những trang vàng” là do công ty Bưu điện Thuỵ Điển quản lý và được tính cước 500 euro/năm cho mỗi thuê bao, chưa kể 2000 euro cho chi phí lắp đặt ban đầu. Cách tính chi phí trung bình để thực hiện các nút mạng eLink dựa trên một cấu hình cơ bản đầu tư theo điều kiện Thuỵ Điển. Nút mạng là 1 máy tính nối với 1 CSDL hành chính nội bộ, các phần mềm thay đổi tham số, 2 ứng dụng gửi và nhận thông điệp. Nút mạng hạng lớn với trên 10.000 người sử dụng có chi phí thực hiện là 328.000 euro, chi phí cập nhật và bảo trì là 65.000 euro. Nút mạng hạng vừa với 100-10.000 người sử dụng có chi phí thực hiện 120.000 euro, chi phí cập nhật và bảo trì 24.000 euro. Nút mạng hạng nhỏ với dưới 100 người sử dụng có chi phí thực hiện 60.000 euro, chi phí cập nhật và bảo trì 12.000 euro. Như vậy, công sở càng có nhiều người sử dụng thì càng có thể tiết kiệm được mọi chi phí liên quan.
Các tiêu chuẩn kỹ thuật và kiến trúc
Tương tự như trong tài liệu “Định hướng và lựa chọn công nghệ áp dụng cho Đề án 112” xuất bản năm 2002, các tiêu chuẩn kỹ thuật được dùng trong dự án Thụy Điển cũng bao gồm các bộ giao thức TCP/IP, HTTP, HTTPS, S/MIME, XML, LDAP, X500 và đảm bảo
một kiến trúc độc lập với các thiết bị phần cứng và phần mềm, dựa trên nền công nghệ Java và mã nguồn mở.