Thu nhap chiu thue by thewildlie_090391

VIEWS: 139 PAGES: 2

									                                 PHÂN BIỆT THU NHẬP CHỊU THUẾ
                          & LỢI NHUẬN KẾ TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP

                                                                               Ths. Trần Thị Hoà
                                                                   GV. Bộ môn Tài chính Thống kê


     Mục đích hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp suy cho cùng là vì mục tiêu
lợi nhuận. Lợi nhuận của doanh nghiệp lại có liên quan mật thiết với thuế thu nhập doanh nghiệp,
bởi lẽ sau một chu kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nếu có lợi nhuận thì doanh nghiệp phải thực
hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước, tức nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Có những mâu
thuẫn xảy ra trong vấn đề phân phối lợi nhuận: về phía Nhà nước thì muốn thu được càng nhiều
thuế càng tốt, còn về phía doanh nghiệp thì ngược lại. Mặt khác, trong thực tế vẫn tồn tại những
điểm chưa tương đồng giữa chế độ thuế và chuẩn mực kế toán. Có những điểm khác biệt rất lớn
giữa lợi nhuận kế toán (còn gọi là lợi nhuận thực hiện) và lợi nhuận thuế (còn gọi là thu nhập chịu
thuế). Bài báo này nhằm chỉ ra những điểm khác biệt đó.
     Thu nhập chịu thuế và lợi nhuận kế toán có khác nhau hay không là vấn đề đang được nhiều
doanh nghiệp và các nhà quản lý quan tâm. Có hai quan điểm trái ngược nhau về vấn đề này:
     - Quan điểm thứ nhất cho rằng thu nhập chịu thuế và lợi nhuận kế toán là hai đại lượng phải
thống nhất và giống nhau.
     - Quan điểm thứ hai thì cho rằng đó là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, tuy chúng đều thể
hiện kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong năm tài chính nhưng có sự khác nhau về bản chất
nên có tên gọi khác nhau.
     Thu nhập chịu thuế và lợi nhuận kế toán của doanh nghiệp đều xác định trên cơ sở doanh thu
trừ chi phí cộng với thu nhập khác. Tuy nhiên, doanh thu tính theo chế độ tài chính, chuẩn mực có
điểm khác với doanh thu theo quy định của chế độ thuế, đó là:
     + Doanh thu : Đối với trường hợp hàng hóa doanh nghiệp bán không nhận tiền ngay:
      Quy định thuế: Doanh nghiệp tính doanh thu theo giá trị ghi trên hóa đơn bán hàng
      Theo chuẩn mực: Doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của
khoản tiền sẽ thu được trong tương lai về giá trị hiện tại tại thời điểm hạch toán doanh thu theo tỷ
lệ lãi suất hiện hành. Tức là giá trị doanh thu tại thời điểm hạch toán sẽ nhỏ hơn giá trị danh nghĩa
sẽ thu được trong tương lai.
     + Chi phí : Chí phí để tính thu nhập chịu thuế và chi phí để tinh lợi nhuận thực hiện trong một
năm tài chính cũng có sự khác nhau. Cụ thể:


         Chi phí                 Quy định thuế                     Theo chuẩn mực
 1. Chi phí nguyên liệu, - Tính theo mức tiêu hao - Doanh nghiệp được tính và hạch
 vật liệu, nhiên liệu, hợp lý và giá thực tế xuất toán chi phí này theo thực tế sử
 hàng hoá được sử kho                             dụng và sản xuất kinh doanh
 dụng vào SXKD
 2. Chi phí khấu hao - Căn cứ vào quyết định - Doanh nghiệp có quyền lựa chọn
 TSCĐ                số 206/2003/QĐ-BTC      các phương pháp trích khấu hao &
                                             quyết định mức trích khấu hao đảm
                                             bảo bù đắp được hao mòn hữu hình
                                             và vô hình của tài sản
 3. Chi phí quảng cáo,      Doanh nghiệp được tính Doanh nghiệp được tính theo số
 tiếp thị, hoa hồng môi    theo số thực chi nhưng tối thực chi, không quy định mức khống
 giới, tiếp tân, khánh     đa không quá 10% chi phí chế, doanh nghiệp tự quyết định
 tiết                      hợp lý của doanh nghiệp trên nguyên tắc đảm bảo hiệu quả

    + Các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, giảm giá chứng khoán đầu tư, dự phòng công
nợ khó đòi, dự phòng trợ cấp mất việc làm:
   Quy định thuế: Doanh nghiệp được tính vào chi phí nhưng kết dư cuối năm các khoản dự
phòng này tính vào thu nhập; có nghĩa là doanh nghiệp được tính vào chi phí tính thu nhập doanh
nghiệp theo số thực chi.
   Theo chuẩn mực : Cho phép doanh nghiệp trích lập, cuối năm còn dư doanh nghiệp chuyển
sang năm sau.
    Sự khác nhau như trên đã phát sinh chênh lệch giữa chi tính thuế (theo chế độ thuế) và chi
phí tài chính (theo chuẩn mực). Trong các khoản chênh lệch này có khoản chỉ là chêch lệch vĩnh
viễn (chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu; chi phí quảng cáo, tiếp thị, hoa hồng môi giới, tiếp
tân, khánh tiết...) nhưng có khoản là chênh lệch tạm thời (chi phí khấu hao TSCĐ, các khoản dự
phòng giảm giá hàng tồn kho, giảm giá chứng khoán đầu tư, dự phòng công nợ khó đòi)
    Hai đại lượng về thu nhập chịu thuế và lợi nhuận kế toán của doanh nghiệp chỉ có thể bằng
nhau khi chế độ thuế quy định đồng nhất với chế độ tài chính. Hiện nay trên thế giới có một số
nước có sự đồng nhất này nhưng nhiều nước đã áp dụng chế độ tài chính khác với chế độ thuế.
Đối với Việt Nam, doanh nghiệp cần quan tâm và ghi nhận các khoản chênh lệch tạm thời để
thuyết minh với cơ quan thuế và tăng lợi ích cho doanh nghiệp vì:
   Thu nhập chịu thuế = Lợi nhuận kế toán + Chi phí không hợp lý
     Ngày nay, khi chính sách thuế ở Việt Nam chưa phát triển đầy đủ người ta xem kế toán là
công cụ để kiểm soát thuế. Hệ thống kế toán dựa vào thuế là hệ thống kế toán cứng nhắc, thông
tin chưa phản ánh trung thực. Liệu việc thay đổi các phương pháp kế toán có chịu sự điều tiết của
thuế thu nhập doanh nghiệp không? Và phải chăng đây là cơ hội cho kế toán điều chỉnh lợi
nhuận?


                                      TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Các chuẩn mực kế toán Việt Nam.
2. Tạp chí Tài chính 10/2006.
3. Tạp chí Thuế nhà nước số 12/2004, số 01/2005
5. Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 319
6. Tạp chí Tài chính doanh nghiệp 01/ 2007.

								
To top