soi chi do TN C

Document Sample
soi chi do TN C Powered By Docstoc
					                                     Lm Carôlô
                               SỢI CHỈ ĐỎ
                            CÁC CHỦ NHẬT NĂM C
                        * Một chủ đề xuyên suốt Thánh lễ
                     * Nhiều gợi ý làm cho Thánh lễ sống động
                      * Một hình minh họa cho mỗi Thánh lễ
                        * Nhiều gợi ý giảng và cầu nguyện
                       MÙA THƯỜNG NIÊN
                                 CHÚA NHỰT II
                                      CHỦ ĐỀ :
      HÔN ƯỚC GIỮA THIÊN CHÚA VỚI LOÀI NGƯỜI




                       Chúa Giêsu hóa nước thành rượu
                                      (Ga 2,1-11)
     Minh họa
     - Mille images 55 D
     - Chúa Giêsu hóa nước thành rượu (Ga 2,1-11)
     Sợi chỉ đỏ :
     Tình yêu hôn nhân rất tốt đẹp. Vì thế Chúa Giêsu đã tới Cana để dự tiệc cưới và
chúc phúc cho đôi tân hôn (Bài Tin Mừng). Thiên Chúa còn dùng hình ảnh hôn nhân loài
người để giúp người ta hiểu được phần nào tình yêu của Ngài đối với nhân loại (Bài đọc
I)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
     Anh chị em thân mến
      Trong phần Phụng vụ Lời Chúa hôm nay, chúng ta sẽ nghe Thiên Chúa ngỏ lời "tỏ
tình" với loài người chúng ta. Qua miệng ngôn sứ Isaia, Thiên Chúa phán : "Như trai tài
sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về. Như cô dâu là niềm vui
cho chú rẻ, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ".
      Xin Chúa giúp chúng ta hiểu được tình Chúa yêu thương chúng ta đến mức nào.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
     - Chúa đã yêu thương chúng con rất nhiều, nhưng đáp lại, chúng con yêu thương
Chúa quá ít.
     - Vì yêu thương chúng con nhiều, nên Chúa hy sinh rất nhiều cho chúng con, thậm
chí Chúa đã chịu nạn chịu chết vì chúng con. Phần chúng con vì yêu thương Chúa ít nên
chúng con ít khi chịu hy sinh vì Chúa.
     - Yêu thương là cho đi. Chúa yêu thương chúng con vô cùng nên đã ban cho chúng
con vộ vàn ơn sủng. Còn chúng con thì chẳng có gì để dâng cho Chúa.
III. LỜI CHÚA
      1. Bài đọc I (Is 62,1-5)
      Bài thơ này của Đệ Tam Isaia được sáng tác sau khi dân do thái được thoát cảnh
lưu đày, hồi hương về cố quốc.
      Khi nhìn ngược về quá khứ, tác giả hiểu rằng lưu đày là hình phạt xứng đáng đối
với tội bất trung của dân. Nhưng khi nhìn vào hiện tại, tác giả cảm nhận được tình yêu
nồng nàn của Chúa : dù dân đã phản bội nhưng Chúa vẫn yêu thương. Ngài đã cứu họ
khỏi cảnh khốn cùng : "Chẳng còn ai réo tên ngươi là ‘đồ bị ruồng bỏ’, xứ sở ngươi hết bị
tiếng là ‘phận bác duyên đơn’. Chẳng những thế, Chúa còn yêu thương họ như người
chồng rất mực yêu thương người vợ mới cưới : "Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ,
Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về. Như cô dâu là niềm vui cho chú rẻ, ngươi cũng là
niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ".
      2. Đáp ca (Tv 95)
      Thánh vịnh 95 là tâm tình của người ý thức tình thương Thiên Chúa : vui mừng, ca
tụng và loan báo "Hãy kể cho muôn dân được biết những kỳ công Chúa đã làm".
      3. Tin Mừng (Ga 2,1-12)
      Tường thuật này không phải đơn giản nói về một bữa tiệc cưới, nhưng còn là "dấu
chỉ đầu tiên" qua đó Chúa Giêsu "bày tỏ vinh quang của Ngài" để cho "các môn đệ tin
vào Ngài" (câu 11). Chúa bày tỏ những gì ?
      1. Trước hết Ngài cho thấy Ngài Đấng khai mở một thời kỳ hoan lạc mới. Thánh
Kinh thường dùng hình ảnh tiệc cưới để chỉ thời hoan lạc Messia, và hình ảnh chú rể để
chỉ Đấng Messia. Trong đám cưới ở Cana, lẽ ra chú rể phải cung cấp đủ rượu cho khách
dự tiệc, và như thế bữa tiệc mới vui mừng trọn vẹn. Thế nhưng chú rể ấy đã không chu
toàn. Kẻ cung cấp rượu và làm cho bữa tiệc vui mừng trọn vẹn lại chính là Chúa Giêsu.
      2. Ngài còn cho thấy Ngài đến để thiết lập một tín ngưỡng mới thay thế tín ngưỡng
đã quá lỗi thời của người do thái : bài tường thuật có nhắc đến những chum đựng nước để
cho người ta thanh tẩy trước khi dự tiệc. Đấy là một tục lệ tiêu biểu của đạo cũ. Hôm nay
những chum ấy đã được Chúa Giêsu cho tràn ngập rượu mới, lại là thứ rượu ngon vượt
sức tưởng tượng của người ta. Nghĩa là tín ngưỡng mới mà Chúa Giêsu thiết lập vượt xa
tín ngưỡng cũ quá bám víu vào hình thức bề ngoài.
      3. Bài tường thuật cũng nói tới "giờ" (Chúa Giêsu nói với Đức Maria : "Giờ con
chưa đến"). "Giờ" là lúc Chúa Giêsu được vinh quang khi chịu chết trên Thập giá để tuôn
ơn cứu độ cho loài người. Hôm nay ở Cana, tuy chưa tới "giờ" ấy, nhưng Ngài cũng tỏ
chút vinh quang cho các môn đệ và người ta thấy trước qua việc Ngài làm phép lạ cho
nước hóa thành rượu.
      4. Vinh quang Chúa đã được hé lộ trước cũng do công của Đức Maria, kẻ đã tế nhị
thấy hoàn cảnh khó khăn của chủ nhà và chủ động đến xin Chúa Giêsu can thiệp.
      4. Bài đọc II (1 Cr 12,4-11) (Chủ đề phụ)
      Có nhiều chia rẻ, đố kỵ và tranh chấp trong giáo đoàn Côrintô : người có tài thì
khinh chê kẻ khác, kẻ bất tài thì đố kỵ, những kẻ có tài lại ganh ghét nhau.
      Thánh Phaolô nhắc cho họ nhớ : (1) tất cả mọi tài năng đều là do Chúa Thánh Thần
ban ; (2) mà ơn Chúa Thánh Thần ban thì khác nhau nơi mỗi người ; (3) và tất cả những
ơn ban đó đều nhằm phục vụ lợi ích chug của Giáo Hội.
IV. GỢI Ý GIẢNG
      * 1. Tình yêu của Chúa
      Trong các thứ tình yêu, tình yêu nào nồng nàn tha thiết nhất ? Thưa là tình cha mẹ
dành cho con cái, và tình vợ chồng đối với nhau. Nếu so sánh hai thứ tình đó với nhau thì
tình yêu hôn nhân chắc là mạnh hơn. Bởi đó sách Sáng thế đã viết "Người nam sẽ lìa bỏ
cha mẹ và khắn khít với vợ mình" (St 2,24). Chúa Giêsu cũng đồng ý như thế nên đã trích
dẫn lại câu ấy khi tranh luận với các người biệt phái (Mt 19,5). Cũng vì lý do đó nên khi
muốn tỏ cho loài người biết Thiên Chúa yêu thương loài người đến mức nào, Thiên Chúa
đã dùng hình ảnh tình yêu vợ chồng để minh họa.
      Trong tình yêu vợ chồng, điều gì đáng quý nhất ? Thưa đó là sự hy sinh cho nhau
và chung thuỷ với nhau. Hy sinh cho nhau nhiều chừng nào thì đó là bằng chứng yêu
thương nhau nhiều chừng ấy. Dù gặp phải bao sóng gió, dù những khuyết điểm lỗi lầm
thường xuyên đe dọa, nhưng vợ chồng vẫn yêu thương nhau đến chết, đó mới là tình yêu
chân thật vững bền.
      Thế nhưng, trong một trăm đôi vợ chồng, có bao nhiêu đôi hy sinh và chung thuỷ
được như thế.
      Rốt cuộc, dù con người được nếm vị ngọt của nhiều loại tình yêu, nhưng rất nhiều
lần cũng phải thất vọng với những tình yêu nhân loại, cho dù đó là tình vợ chồng tha thiết
nhất.
      Chỉ có tình yêu Thiên Chúa mới là tình yêu chân thật và cao cả nhất : vì yêu thương
chúng ta, Chúa Cha đã hy sinh ban chính Con Một của Ngài cho chúng ta ; vì yêu thương
chúng ta, Chúa Giêsu đã hy sinh đến nỗi chịu chết vì chúng ta : "Không có tình yêu nào
cao trọng bằng tình yêu của người dám thí mạng vì người mình yêu". Mặt khác, dù loài
người luôn phản bội, Thiên Chúa vẫn tha thứ và vẫn cứ yêu. Loài người đã nhiều lần bỏ
Chúa, nhưng Chúa không bao giờ bỏ loài người.
      Con người là một sinh vật yêu thương : con người cần yêu thương và cần được yêu
thương. Chúng ta hãy tìm đến tình yêu Thiên Chúa. Chắc chắn chúng ta sẽ chẳng phải
thất vọng bao giờ.
      2. Phép lạ ở Cana
       Thời nay đang có một cuộc khủng hoảng về gia đình : số người lập gia đình rồi li dị
càng ngày càng nhiều ; nhiều người trẻ không muốn lập gia đình ; một số người chủ
trương nếu thích nhau thì cứ sống chung với nhau, đến khi nào không thích nhau nữa thì
chia tay, cần gì mà phải cam kết sống chung suốt đời.
       Cuộc sống gia đình quả là rất khó khăn : Ngày mới cưới, tình yêu vợ chồng thắm
nồng như ly rượu tân hôn. Nhưng chẳng bao lâu sau, rượu nhạt tình phai, thậm chí còn
thiếu rượu. Tình yêu thủy chung, luôn cho đi mà không hề mệt mõi, không ngừng
nhường nhịn nhau và tha thứ cho nhau. Một tình yêu như thế ở thời nay quả là một phép
lạ.
       Ở Cana, Chúa Giêsu đã làm phép lạ như thế : khi người ta thiếu rượu, Ngài đã làm
cho có rượu dồi dào ; và rượu ấy Ngài đã làm ra từ những chum nước lã. Phép lạ này
ngày nay Chúa vẫn tiếp tục làm, cho những ai thực lòng cầu xin Ngài. Tại sao những đôi
vợ chồng đang gặp khó khăn không cầu xin phép lạ ấy ? Tại sao anh chị em không nhờ
Đức Mẹ chuyển lời cầu xin ?
       * 3. Ý nghĩa sâu xa của phép lạ hóa nước thành rượu
       Tin Mừng theo Thánh Gioan thường có ý nghĩa rất sâu xa. Chẳng hạn đoạn Tin
Mừng này, tuy nói về một đám cưới nhưng ý nghĩa không chỉ gói gọn trong đời sống hôn
nhân mà bao trùm cả đời sống mọi người ; tuy nói về nước hóa thành rượu nhưng chỉ đến
tất cả những thứ mà quyền năng Chúa Giêsu có thể biến đổi.
       Việc Chúa Giêsu hóa nước thành rượu được Thánh Gioan gọi là "dấu chỉ" và còn là
"dấu chỉ đầu tiên để bày tỏ vinh quang của Ngài". Dấu chỉ là cái gì đó trước mắt chỉ tới
cái khác. Cái trước mắt ở Cana là nước thành rượu. Cái khác mà nước thành rượu chỉ tới
là gì ? Thưa là điều được ngôn sứ Isaia tiên báo trong bài đọc I : đó là ngày mà Thiên
Chúa biến đổi cuộc sống con người thành hoan lạc như tiệc cưới : "Như trai tài sánh
duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về. Như cô dâu là niềm vui cho
chú rẻ, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ".
       Chúa Giêsu đã đến khai mạc ngày hoan lạc ấy. Ở Naim, Ngài đã biến đổi những
giọt nước mắt đau thương của người mẹ khóc con thành những giọt lệ vui mừng khi con
mình sống lại. Ở Giêricô, Ngài đã biến đổi cõi lòng héo úa vì ích kỷ của ông Dakêu thành
một tâm hồn tươi tốt quãng đại. Cho tới lúc đã bị đóng đinh trên thập giá, Ngài vẫn tiếp
tục biến đổi người trộm lành đang tuyệt vọng thành người khách mời đầu tiên dự tiệc
thiên quốc. Và nhất là trong biến cố phục sinh, Ngài đã biến đổi sự chết thành sự sống.
       Nếu đời bạn đang tẻ nhạt như nước lã. Hãy đến với Chúa Giêsu. Ngài sẽ biến đổi
cho nước lã ấy thành rượu ngon tuyệt vời.
       4. Hạnh phúc mong manh
       Ở đất Vũ Bình có giống vượn đỏ như vang, nõn nà như tơ, trông xa lấp lánh rất là
đẹp mắt. Có hai mẹ con vượn, mẹ thì khôn ngoan, tinh anh, con thì ngây ngô, nhẹ dạ,
nhưng lúc nào mẹ con cũng đi bên nhau. Người đi săn không thể nào nhử mồi đánh bẫy
được, mới lấy thuốc độc sát vào đầu mũi tên, rình lúc vượn mẹ vô ý thì bắn. Khi vượn mẹ
bị trúng tên, biết mình không thể sống được, liền vắt sữa ra cho con uống, xong rồi lăn ra
chết.
       Người đi săn quay về phía vượn con, cầm roi quất vào xác vượn mẹ. Vượn con
trông thấy kêu gào thương xót chạy lại gần, người đi săn liền vồ lấy mà bắt sống. Lúc về
nhà, cứ đêm đêm, vượn con nằm phục bên xác mẹ thì mới yên, đôi khi lại ôm lấy mẹ kêu
gào thảm thiết. Không được mấy hôm vượn con cũng lăn ra chết.
                                             *
      Tình mẫu tử của giống vượn lông đỏ làm cho chúng ta vô cùng xúc động : Tuy
nhiên, chúng ta cũng có một người mẹ, hết lòng chăm lo cho từng đứa con còn lớn lao
hơn gấp bội. Đó chính là Mẹ Maria.
      Có thể nói, một trong những trang đẹp nhất của sách Tin Mừng Gioan, chính là bài
tường thuật về "Tiệc cưới Cana". Chính nơi tiệc cưới này, Mẹ đã bày tỏ thật sâu sắc tình
mẫu tử của người.
      Theo tập tục Do thái, đám cưới kéo dài suốt bảy ngày, nhưng mới đến "ngày thứ
ba" thì tiệc cưới Cana đã hết rượu. Thật là một tai hoạ bất ngờ, chủ tiệc vô cùng bối rối
khó xử. Duy chỉ có Mẹ Maria nhận ra được tình thế gay go ấy. Sự nhạy cảm và lòng
thương yêu của tình mẫu tử đã khiến Mẹ mạnh dạn thưa với Chúa Giêsu : "Họ hết rượu
rồi" (Ga 2,3). Một câu nói ngụ ý nài xin kín đáo.
      Nhưng lời đáp trả của Chúa Giêsu mới làm cho chúng ta thật sửng sốt : "Tôi với bà
có can chi ? Giờ tôi chưa đến" (Ga 2,4). Qua câu này Chúa Giêsu chỉ muốn xác quyết
tính siêu việt của Người : Hoàn toàn lệ thuộc Chúa Cha. Chắc Mẹ cũng không hiểu rõ
chữ "Giờ" tức là giờ vinh quang của Chúa Giêsu sau cuộc tử nạn và phục sinh. Nhưng
Mẹ vẫn một mực hoàn toàn tin tưởng vào Con của Mẹ, Mẹ mong Con làm một điều gì
đó : "Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo" (Ga 2,5). Quả thật, Chúa Giêsu có bảo và
các người giúp việc đã làm.
      Thế là Chúa Giêsu quyết định thực hiện một phép lạ đầu tiên trong cuộc đời công
khai rao giảng, một phép lạ kiểu mẫu của các phép lạ kế tiếp. Tuy "Giờ" tôn vinh chưa
đến, nhưng ngay lúc này, Người muốn biểu lộ giờ vinh quang ấy qua phép lạ Người sắp
thực hiện để "Các môn đệ tin vào Người" (Ga 2,11).
      Nhờ sự can thiệp của Mẹ mà phép lạ Cana đã được thực hiện, để đức tin của các
môn đệ được củng cố và triển nở.
      Nhờ sự đóng góp của Mẹ mà sáu chum nước lã đã biến thành 700 lít rượu ngon, để
niềm vui của đôi tân hôn và khách dự tiệc được trọn vẹn.
      Ngày nay, Mẹ vẫn nói nhỏ bên tai Chúa : "Họ hết rượu rồi".
      Để cho bao mối tình đang nhạt phai được trở nên nồng thắm và tràn đầy tin yêu.
      Để cho bao gia đình thiếu vắng tình yêu được củng cố và thuận hoà yêu thương.
      Để cho bao tâm hồn đang chao đảo giữ vững được niềm tin và hy vọng.
      Nếu ngày xưa Chúa Giêsu đã biến nước lã của Cựu ước thành rượu ngon của Tân
ước, để mở ra một thời đại mới, thời đại thiên sai ; thì ngày nay, Người cũng muốn chúng
ta biến cuộc đời lạt lẽo của mình thành rượu nồng tình yêu : yêu Chúa và yêu tha nhân,
để mọi người được chan chứa niềm vui cứu độ.
      Nếu Chúa Giêsu đã biến thứ nước tẩy uế của Do thái giáo thành rượu ngon hảo
hạng, để thiết lập một trật tự mới ; thì Người cũng mời gọi chúng ta hãy biến đổi trái đất
này thành một thế giới mới : chân thật, công bằng và yêu thương.
      Lạy Chúa, chúng con luôn khát khao kiếm tìm hạnh phúc, nhưng dường như hạnh
phúc thật mong manh. Xin Chúa hãy đến dự những bữa tiệc cuộc đời chúng con, để mang
lại cho chúng con một hạnh phúc vững bền.
     Xin Mẹ Maria luôn là đấng Bầu Cử cho chúng con trước toà Chúa mỗi khi chúng
con gặp khó khăn bối rối, nhất là khi chúng con đã vơi cạn rượu nồng tình yêu. Amen.
(TP)
     5. Đức Maria, gương mẫu của sứ vụ
         Tin Mừng thánh Gioan chỉ nhắc tới Đức Maria có hai lần : một lần ở Cana lúc
Chúa Giêsu mới bắt đầu sứ vụ, và một lần dưới chân thập giá lúc Ngài hoàn thành sứ vụ.
Hai lần ở đầu và cuối, ngụ ý bao hàm tất cả. Các Tin Mừng nhất lãm nói rõ hơn về điều
này.
       Trong biến cố Truyền tin, khi được hỏi có muốn làm mẹ Đấng Cứu Thế hay không,
Người đã bỏ ý riêng sang một bên để quảng đại "Xin Vâng" theo thánh ý Chúa. Sứ vụ đôi
khi có nghĩa là sẵn sàng gác sang một bên những chương trình riêng của mình, để đáp lại
lời Chúa mời hợp tác trong chương trình của Ngài.
       Trong biến cố Thăm viếng, khi vừa hay tin người chị họ của mình đã mang thai 6
tháng và đang cần người giúp đỡ, Đức Maria đã vội vã đến nơi. Sứ vụ đôi khi có nghĩa là
phải có sáng kiến : thấy nhu cầu, và mau mắn phục vụ.
       Trong biến cố Cana, Đức Mẹ thoáng nhận ra vẻ bối rối của nhà chủ, Người hiểu
ngay là họ thiếu rượu, và Người đã xin Con giúp đỡ. Sứ vụ đôi khi cần phải tế nhị : nhận
ra điều người ta đang cần, nhưng ý thức rằng bản thân mình không làm gì được, nên giới
thiệu cho kẻ có khả năng giúp đỡ.
       Trên đồi Golgotha, Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá nhìn con yêu dấu đang hấp
hối, rất đau lòng nhưng chỉ biết lặng thinh. Sứ vụ có khi còn có nghĩa là chấp nhận bất
lực không làm gì được, chỉ biết phó thác.
       Tất cả chúng ta đều được Chúa trao sứ vụ : sứ vụ đối với gia đình, sứ vụ với Giáo
Hội, sứ vụ với xã hội, sứ vụ với tất cả mọi người. Chúng ta hãy nhìn gương Đức Mẹ và
bắt chước Người. (FM)
       6. Chuyện minh họa
       a/ Con sâu trong tảng đá
       Một hôm Đức Ala gọi một Thiên sứ đến và truyền lệnh : "Ngươi hãy xuống trần
gian để đưa về đây người đàn bà góa có 4 đứa con thơ". Thiên sứ ra đi, gặp ngay người
đàn bà góa đang cho đứa con nhỏ nhất bú. Ngài nhìn người đàn bà với 4 đứa con dại, rồi
lại lên Đức Ala để tha thiết nài xin rút lại lệnh truyền. Làm sao có thể nhẫn tâm tách lìa
người mẹ khỏi những đứa con thơ ấy ? Nhưng lời van xin của Sứ thần chẳng mảy may
đánh động được Đức Ala. Cuối cùng Sứ thần đành phải vâng lệnh Đức Ala mà cướp
người mẹ góa khỏi bầy con thơ và đưa về trời.
       Hoàn thành công tác, nhưng xem chừng vị thiên sứ lại có vẻ buồn. Phải, làm sao
vui được trước cảnh chia ly giữa mẹ và con ? Thấy sứ thần buồn, Đức Ala gọi đến và đưa
vào sa mạc. Ngài chỉ cho sứ thần thấy một tảng đá lớn và bảo đập nó ra. Tảng đá vừa vỡ
đôi, sứ thần ngạc nhiên vô cùng, vì từ trong tảng đá một con sâu nhỏ từ từ bò ra. Chợt
hiểu được ý nghĩa của sự kiện ấy, sứ thần bỗng thốt lên : "Ôi lạy Đấng tối cao, mầu
nhiệm thay công cuộc sáng tạo của Ngài. Với sự khôn ngoan thượng trí và tình yêu vô
biên, Ngài đã không bỏ mặc một tạo vật bé nhỏ như con sâu kia, thì hẳn Ngài cũng sẽ
không quên được 4 đứa trẻ mồ côi là con cái của Ngài." (Trích "Món quà giáng sinh")
       b/ Cái nhìn của bậc thánh nhân
      Một buổi trưa hè nóng bức, Thánh Phanxicô Assisi sau khi đi đường mệt nhọc đã
tìm được một chỗ nghỉ chân rất thoải mái. Chỗ đó là dưới một gốc cây có tàng lá che mát,
bên dưới là một dòng nước trong lành mát rượi. Thánh nhân rửa tay rửa mặt xong xuôi
rồi ngả mình dưới tàng lá. Bỗng dưng người bật khóc. Vì người nghĩ : từ không biết bao
đời, Chúa đã biết hôm nay mình đến đây, Chúa biết mình mệt, cho nên Chúa đã đặt sẵn ở
đây một bóng mát và một dòng suối để cho mình nghỉ ngơi.
      Cái nhìn của bậc thánh nhân đã nhận ra những điều mà người phàm không bao giờ
thấy được.
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
      Chủ tế : Anh chị em thân mến, chỉ Thiên Chúa mới có thể đem lại cho con người
niềm vui chân thật và hạnh phúc trọn vẹn. Tin tưởng vào tình thương và quyền năng của
Chúa, chúng ta cùng dâng lời cầu xin :
1. Hội thánh là đại gia đình của những ai tin Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho tất cả
   mọi thành viên trong đại gia đình này / không chân thành yêu thương và quảng đại
   nâng đỡ nhau.
2. Trên thế giới ngày nay / tình trạng đổ vỡ trong đời sống hôn nhân và gia đình đang gia
   tăng đến mức báo động / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các gia đình luôn được hạnh
   phúc và bình an.
3. Gia đình tốt thì xã hội và Giáo hội mới tốt được / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các
   gia đình Kitô hữu / luôn quan tâm giáo dục đức tin và nhân bản cho con cái của mình.
4. Một trong những điều kiện hết sức quan trọng / đem lại hạnh phúc lâu dài cho đời
   sống hôn nhân và gia đình / đó là cần tìm hiểu kỹ lưỡng và chuẩn bị chu đáo trước khi
   kết hôn / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho giới trẻ của giáo xứ chúng ta / biết tích cực
   tham gia các khóa dự bị hôn nhân / trước khi cử hành bí tích Hôn phối.
      Chủ tế : Lạy Chúa, nếu không có Chúa ban ơn giúp sức, chúng con không thể làm
được việc gì thành công. Vậy xin thương ban ơn trợ giúp để mọi việc làm của chúng con,
từ khởi sự cho đến hoàn thành, đều nhờ bởi ơn Chúa. Chúng con cầu xin.
VI. TRONG THÁNH LỄ
      - Trước kinh Lạy Cha : Ở tiệc cưới Cana, Chúa Giêsu đã làm phép lạ cho nước hóa
thành rượu, nhờ lời chuyển cầu của Đức Mẹ Maria. Giờ đây, chúng ta cũng hãy nhờ Đức
Mẹ chuyển cầu và kết hợp tâm tình với Chúa Giêsu, dâng lên Chúa Cha những lời
nguyện chân thành của chúng ta.
      - Trước kinh Đây Chiên Thiên Chúa : Rượu ở tiệc cưới Cana là hình bóng của Bàn
Tiệc Thánh mà chúng ta sắp được tham dự. Chúng ta hãy cảm tạ lòng nhân lành Chúa vì
hồng ân này.
VII. GIẢI TÁN
      Chúng ta đã cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa qua Thánh lễ vừa tham dự. Giờ
đây tuy Thánh lễ sắp kết thúc nhưng chúng ta hãy tiếp tục sống trong tình yêu của Ngài,
nhất là hãy trở thành dấu chỉ tình yêu ấy trước mặt mọi người.
Bài đọc thêm
                    CHÚA NHỰT III
                         CHỦ ĐỀ :
TIN MỪNG ĐƯỢC LOAN BÁO CHO NGƯỜI NGHÈO




              "Thánh Thần Chúa ngự trên tôi.
    Ngài sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho người nghèo"
                         (Lc 4,18)
      Minh họa
      - Mille images 56 B
      - "Thánh Thần Chúa ngự trên tôi. Ngài sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho người
nghèo" (Lc 4,18)
      Sợi chỉ đỏ :
      Bài đọc I kể chuyện tư tế Ét-ra đọc sách Luật cho dân do thái vừa từ chốn lưu đày
trở về. Sau khi đọc xong, Ét-ra an ủi họ "Anh em đừng buồn bã, vì niềm vui của Đức
Chúa là thành trì bảo vệ anh em".
      Bài Tin Mừng kể chuyện Chúa Giêsu đến hội đường Nadarét, đọc đoạn sách Isaia
"Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho người nghèo". Đọc
xong Ngài tuyên bố : "Hôm nay ứng nghiệm lời Thánh Kinh quý vị vừa nghe".
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
       Anh chị em thân mến
       Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ của Ngài với lời tuyên bố "Thánh Thần Chúa ngự trên
tôi, sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho những người nghèo". Chúng ta đều là những người
nghèo : kẻ thì nghèo vật chất, người thì nghèo tinh thần. Như vậy Tin Mừng của Chúa
được loan báo cho chính chúng ta. Chúng ta hãy mở rộng lòng mình ra đón nhận Tin
Mừng của Chúa.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
      - Chúng con thường khư khư bám lấy ý riêng, không mở lòng ra đón nhận ơn soi
sáng của Chúa Thánh Thần.
      - Chúa Giêsu đã mang Tin Mừng đến cho chúng con, nhưng chúng con không nhiệt
tình đón nhận.
      - Do cuộc sống ích kỷ và khô cằn, chúng con không làm cho Tin Mừng của Chúa
trở nên hấp dẫn đối với những người chưa biết Chúa.
III. LỜI CHÚA
       1. Bài đọc I (Nkm 8,1-10)
       Dân do thái vừa từ chốn lưu đày trở về. Tư tế Ét-ra tập họp mọi người tại quảng
trường và đọc Sách Luật cho họ nghe. Có lẽ đây chính là bộ Ngũ Thư mà Ét-ra đã sưu tập
lại từ những nguồn tài liệu rải rác có sẵn trước đó (các nguồn tài liệu J, E, D, P), vì thế
mà thời gian đọc kéo dài rất lâu, từ sáng tới trưa.
       Khi nghe đọc, toàn dân đều khóc. Có lẽ một phần do cảm động vì thấy được tình
thương của Thiên Chúa đối với họ qua dòng lịch sử ; phần khác là do hối tiếc bởi họ đã
không đáp ứng tốt với tình thương Thiên Chúa.
       Ét-ra an ủi dân : "Anh em đừng sầu thương khóc lóc, đừng buồn bã, vì niềm vui của
Đức Chúa là thành trì bảo vệ anh em".
       2. Đáp ca (Tv 18)
       Nối tiếp ý tưởng của bài đọc I, Tv 18 ca tụng Luật Chúa : "Luật pháp Chúa quả là
hoàn thiện, bổ sức cho tâm hồn"
       3. Tin Mừng (Lc 1,1-4 và 4,14-21)
      Sau một thời gian hoạt động, Chúa Giêsu trở về rao giảng tại chính quê hương
mình là Nadarét miền Galilê. Tại đây, trong một bối cảnh trang nghiêm và chính thức
(ngày Sabbat, trong hội đường), Chúa Giêsu công bố chương trình hoạt động của Ngài :
Với tư cách là Messia vừa được tấn phong, Ngài được sai đi loan Tin Mừng cho những
người nghèo hèn, khốn khổ. Như thế là Ngài thực hiện điều mà Thiên Chúa đã hứa từ xưa
qua lời ngôn sứ Isaia.
      4. Bài đọc II (1 Cr 12,12-30) (Chủ đề phụ)
      Tiếp tục huấn đức cho tín hữu giáo đoàn Côrintô đang chia rẻ nhau, Thánh Phaolô
dùng hình ảnh nhiệm thể Đức Kitô.
      - Giáo Hội là một thân thể mầu nhiệm, trong đó Chúa Giêsu là đầu và các tín hữu là
chi thể.
      - Các chi thể tuy khác nhau, nhưng mỗi chi thể có chức năng riêng của mình.
      - Do đó các chi thể phải bổ túc cho nhau, đoàn kết với nhau, và nhất là luôn kết hợp
với đầu.
IV. GỢI Ý GIẢNG
       * 1. Có phải là Tin Mừng không ?
       Quyển sách ghi lại cuộc đời và giáo huấn của Chúa Giêsu ngày xưa được gọi là "Ê
Vang", trước đây không lâu lắm được gọi là Phúc Âm, còn ngày nay thì thường được gọi
là Tin Mừng.
       Xét theo thần học Thánh Kinh thì hai chữ "Tin Mừng" là đúng nghĩa nhất. Nhưng
nếu xét về ảnh hưởng của nó trên cuộc sống thì sao ?
       Trên thực tế, có nhiều người không thích đọc Tin Mừng. Nhiều người ngán không
muốn nghe Tin Mừng. Tại sao ? Vì họ thấy trong đó toàn là những bổn phận và những
đòi buộc. Không nghe, không biết thì không phải làm theo.
       Sở dĩ có cảm giác ngán và sợ như thế là vì người ta chỉ mới thấy được những chi
tiết phụ, chứ chưa hiểu thấu tới cốt lõi.
       Cốt lõi là một lời loan báo rất phấn khởi : Xin hãy nghe đây. Thiên Chúa rất yêu
thương loài người nên đã sai Con của Ngài đến dạy cho loài người con đường hạnh phúc.
Biết được con đường dẫn tới hạnh phúc chẳng phải là một Tin Mừng sao ?
       Dĩ nhiên những lời Chúa Giêsu dạy là những điều ta phải làm theo, mà làm theo thì
phải cố gắng, phải cực khổ, phải hy sinh v.v. Nhưng làm theo như vậy thì sẽ được hạnh
phúc.
       Một bà kia rất thường đọc Sách Tin Mừng và đọc rất sốt sắng. Khi được hỏi tại sao
thì bà dùng một thí dụ để giải thích : Hôm qua tôi nhận được một bức thư của một người
tôi rất quý mến. Tôi đã đọc rất chăm chú và đọc đi đọc lại tới năm lần. Không phải vì tôi
không hiểu lời lẽ trong thư vốn đã quá rõ, nhưng vì tôi biết đó là những lời của một người
rất thương tôi và tôi cũng rất thương người đó.
       Chúng ta đừng coi những lời trong sách Tin Mừng là những đòi hỏi của một người
xa lạ đâu đâu. Hãy xem đó là những lời khuyên dạy chí tình của Đấng đã không quản
ngại từ trời xuống thế, chịu cực chịu khổ đến gần chúng ta và chịu chết vì chúng ta. Ngài
đã làm tất cả chỉ vì thương chúng ta và Ngài không muốn gì khác hơn là muốn cho chúng
ta được hạnh phúc.
       * 2. Tin Mừng cho người nghèo
       Không phải Chúa Giêsu được sai đi để loan Tin Mừng cho tất cả mọi người sao ?
Vậy tại sao Ngài lại nói "Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho
người nghèo" ?
       Chúng ta hãy phân tích kỹ toàn văn đoạn sách Isaia mà Chúa Giêsu đã áp dụng cho
sứ mạng của Ngài :
       Sau khi công bố "Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho
người nghèo", Chúa Giêsu đã đưa thêm một số thí dụ để giải thích thế nào là loan báo Tin
Mừng cho người nghèo :
       - Công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha
       - Cho người mù biết họ được sáng mắt
       - Trả tự do cho người bị áp bức
       - Công bố một năm hồng ân của Chúa
       Như vậy, "người nghèo" là những kẻ đang ở trong tình cảnh khổ sở, thiếu thốn như
bị giam cầm, bị mù, bị áp bức… và đang mong thoát khỏi cảnh ấy. Đối với những người
như thế, lời công bố của Chúa Giêsu mới thực sự là Tin Mừng. Còn những ai không khổ
sở thiếu thốn thì lời Chúa Giêsu như nói với ai đó chứ chẳng liên can gì tới họ, cho nên
chẳng phải là Tin Mừng gì cả. Bởi vậy Chúa Giêsu cũng chẳng cần loan báo cho họ.
       Nhưng xét cho cùng, ai mà không khổ sở thiếu thốn ? Ai mà không "bị giam cầm"
trong một thứ tù ngục nào đó ? Ai mà không "mù" một cách nào đó ? Ai mà không "bị áp
bức" bởi một thế lực gian tà nào đó ?
       Thành thử Tin Mừng của Chúa Giêsu là Tin Mừng cho tất cả mọi người. Tuy nhiên
Tin Mừng ấy chỉ có hiệu quả đối với những ai ý thức mình là người nghèo.
       * 3. "Chúa đã sai tôi đi…"
       Qua bài Tin Mừng này, Thánh Luca trình bày Chúa Giêsu như một kẻ được Thiên
Chúa xức dầu Thánh Thần và sai đi.
       Bất cứ ai khi được sai đi làm một nhiệm vụ thì sẽ cố gắng để làm cho thật tốt :
       - Khi còn nhỏ, chúng ta thường được cha mẹ sai đi tới những nhà hàng xóm để
mượn một món đồ, hay để biếu xén vài món quà. Bình thường thì ta nói năng hồ đồ, cộc
lốc. Nhưng khi được sai đi làm những nhiệm vụ đó, chúng ta lựa lời nói, lựa cung cách
xử sự, có khi suốt doc đường cứ lẩm nhẩm những câu lễ phép mà cha mẹ đã dạy để chút
nữa nói năng cho đàng hoàng.
       - Thỉnh thoảng Cha sở sai một người giáo dân trong họ đi đến một gia đình nguội
lạnh rối rắm để làm việc tông đồ. Người tông đồ ấy đến gia đình bê trễ nọ phải biết cách
tỏ ra lịch thiệp, giúp đỡ, phải dám nói về đạo, và đồng thời cũng phải tỏ ra mình có đôi
chút đạo đức để khỏi bị người bê trễ kia hạch sách "Ông cũng bê bối như ai thôi đừng
khuyên tôi".
       Dĩ nhiên khi đóng vai trò một kẻ được sai đi làm tông đồ thì người ta phải cố gắng
tỏ ra mình là người tốt, trong khi thực tế thì đời sống của họ chưa chắc là tốt được như
thế. Điều đó xem ra là một sự giả hình, vì cái mình tỏ ra bên ngoài không đúng với cái
đời sống thực sự của mình. Tuy nhiên có lẽ không nên nặng lời dùng chữ "giả hình" trong
trường hợp này. Bởi vì người tông đồ ấy có tỏ ta như vậy cũng chỉ vì muốn cho sứ mạng
tông đồ của mình được hoàn thành tốt đẹp thôi. Và hơn nữa, nhờ cố gắng tỏ ra tốt hơn
như thế trước mắt người khác mà dần dà chính đời sống của người tông đồ thực sự trở
thành tốt hơn thật.
        Tất cả chúng ta đều là những kẻ được Chúa sai đi. Mỗi người chúng ta đều được
Chúa sai đi. Ngày trước, Thiên Chúa đã sai Chúa Giêsu đi, rồi đến phiên Chúa Giêsu lại
sai chúng ta đi. Chúa Giêsu đã phán "Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai chúng con ra
đi". Bởi vậy lời Thánh kinh mà Chúa Giêsu đã áp dụng cho bản thân Người " Chúa đã sai
tôi đi", cũng phải được chính chúng ta áp dụng cho chúng ta "Chúa cũng sai tôi đi".
        Sai đi để làm gì ? Thưa sai đi để làm tông đồ cho Chúa. Mỗi người Kitô hữu là một
tông đồ. Công đồng Vaticanô 2 còn nói mạnh hơn : "Làm Tông đồ là bản tính của người
Kitô hữu". Nói khác đi, nếu không làm tông đồ thì không còn phải là Kitô hữu nữa.
        Nhưng sai đi làm tông đồ với ai ? Bài Tin Mừng hôm nay kể rõ những hạng người
mà Chúa sai ta đến với họ :
        a/ Trước tiên là những người nghèo : Số người này thật là nhiều, hàng ngày ta gặp
thiếu gì người như vậy. Thế nhưng, khi ta gặp một người nghèo tôi có cư xử lễ độ với họ
không hay là khinh bỉ họ ? Ta có tìm cách giúp đỡ họ, hay nếu không có khả năng giúp
đỡ thì ta có vận động người khác giúp đỡ không ? hay ta tìm cách tránh xa họ, đuổi khéo
họ để mình khỏi bị quấy rầy ? Ta có cố gắng an ủi họ để họ đừng vì cảnh nghèo mà phải
xa đạo, xa Chúa không ? Trước những câu hỏi đó, nếu ta chỉ biết trả lời "không" thì sứ
mạng tông đồ của ta như một kẻ được Chúa sai đi đã bị thất bại.
        b/ Chúa còn sai ta đi tới những người đau khổ. Những người này cũng không thiếu
trong khu xóm của ta, có khi ở cạnh nhà ta nữa. Nhưng phải chăng mặc dù Chúa đã sai ta
đi, ta vẫn cứ ở nhà chưa đến thăm viếng họ ? Và khi đến với họ, ta có đem lại cho họ
được thêm một chút bình an, một chút tin tưởng nào không ? Chúng ta đừng quên câu Tin
Mừng hôm nay "Chúa đã sai tôi đi rao giảng Tin mừng, nghĩa là phải làm cho người ta
được thật sự vui mừng, tin tưởng, hy vọng.
        c/ Chúa còn sai ta đi đến với những người tội lỗi. Những người này cũng không
thiếu trong họ đạo. Nhưng có lẽ đối với họ, chúng ta lại cũng quên lời Chúa "Chúa đã sai
tôi đi đến với họ". Vì quên mà thường chúng ta cứ lảng tránh họ, cứ kết án họ. Chúng ta
không thực hiện Lời Chúa dạy ta đến với họ để an ủi họ, khích lệ và dẫn họ trở về tình
thương của Thiên Chúa.
        d/ Cuối cùng trong xã hội ngày nay, Chúa còn sai ta đi đến với những kẻ không tin.
Những người này cũng có mặt rất nhiều : trong sở làm của ta, ngoài đường phố chung với
ta, trong buổi họp với chúng ta. Đừng quên Chúa sai ta đi tới họ để cũng rao giảng Tin
mừng cho họ. Nếu ta ngại, hay thấy bất tiện không dám nói thẳng với họ về Chúa về đạo
thì ít ra đời sống của chúng ta, cách làm việc của chúng ta, lương tâm của chúng ta có thể
thay cho lời nói của chúng ta không ?
        Ngôn sứ Isaia đã hát lên rằng "Đẹp thay bước chân của những kẻ được sai đi rao
giảng Tin mừng". Những kẻ được sai đi rao giảng Tin mừng ấy là chính chúng ta, mỗi
người hết thảy trong chúng ta. Xưa nay có lẽ chúng ta quên điều đó. Nhưng hôm nay Lời
Chúa nhắc chúng ta nhớ lại. vậy dưới sự hướng dẫn và ban ơn của Chúa Thánh Thần,
chúng ta hãy mạnh dạn bước đi. Đi đến với những người nghèo khó, những người đau
khổ, những kẻ tội lỗi và những kẻ không tin. Đến với họ để rao giảng Tin mừng cho họ
bằng cách này hay cách khác tùy hoàn cảnh. Và hãy an ủi mình rằng những bước chân
được sai đi như vậy thật là đẹp !
        4. "Ngày của Chúa"
       Ngày một vị Thủ Tướng nhậm chức, ông đọc một bài diễn văn để công bố cho dân
biết chương trình hoạt động của ông trong nhiệm kỳ. Khởi đầu sứ vụ của mình, Chúa
Giêsu cũng làm như vậy. Tại hội đường Nadarét, Chúa Giêsu đã dùng một đoạn trích từ
sách ngôn sứ Isaia để phác họa sứ mạng của Ngài. Chúa Giêsu loan báo rằng cái "Ngày
của Chúa" mà dân chúng bấy lâu nay hằng mong đợi thì nay đã đến. Đó là một ngày hồng
ân cho mọi người, cách riêng là những người nghèo.
       Mẫu chuyện sau đây có thể giúp chúng ta hiểu lời công bố ấy của Chúa Giêsu tuyệt
diệu đến chừng nào.
       Ngày xưa có một ông điền chủ có đất đai rất nhiều. Ông cho các tá điền mướn đất
làm ăn. Một thời gian sau, các tá điền lâm cảnh túng thiếu nợ nần. Họ rất lo lắng vì không
đóng tô đúng hạn cho chủ được. Dù họ biết ông chủ rất tốt bụng không đến nỗi làm khó
dễ họ, nhưng họ vẫn áy náy không biết chủ sẽ hoãn nợ cho họ bao lâu.
       Thế rồi một hôm viên quản lý đi đến từng nhà các tá điền. Ông này hỏi mỗi người
thiếu nợ bao nhiêu, trong nhà có bao nhiêu người, hằng ngày ăn uống thế nào, gia đình có
ai già yếu bệnh tật gì không v.v. Cách chung nhà ai cũng túng thiếu và đang gặp rất nhiều
khó khăn.
       Một ít ngày sau, các tá điền được mời đến gặp chủ. Ai nấy đều hồi hộp, tin chắc là
ông chủ sẽ lấy lại đất, bởi họ không còn khả năng đóng tô nữa. Khi mọi người đã đủ mặt,
viên quản lý bước ra, bắt đầu nói : "Ông chủ biết là các người ai cũng rất nghèo nên
không còn khả năng đóng tô nữa. Vì thế ông bảo tôi báo cho các người hay". Nói tới đây
viên quản lý bỗng ngừng lại. Con tim của các tá điền cũng như ngừng đập. Viên quản lý
nói tiếp : "Tôi có một Tin Mừng muốn loan báo cho các người". Mọi người xôn xao :
"Tin Mừng ư ! Tin Mừng gì vậy ?" Lúc đó viên quản lý hô lớn : "Ông chủ tha hết nợ cho
các người. Từ nay các người cứ an tâm làm ăn nuôi sống gia đình".
       Thế là mọi người reo hò sung sướng. Họ ôm nhau nhảy múa hát ca. Sau đó ai nấy
trở về nhà mình. Sau bao năm trời, hôm nay họ mới chợt nhận thấy ánh nắng mặt trời rất
là tươi đẹp, tiếng chim hót trên cành rất líu lo, hoa cỏ hai bên đường và trên khắp cánh
đồng vô cùng rực rỡ.
       Lời loan báo của Chúa Giêsu tại hội đường Nadarét cũng là một Tin Mừng như thế.
Chúa Giêsu là viên quản lý của Thiên Chúa. Ngài được sai đến để báo tin Thiên Chúa đã
xóa nợ cho loài người.
       Những người pharisêu nghĩ rằng "Ngày của Chúa" là một ngày phán xét. Còn Chúa
Giêsu thì loan báo "Ngày của Chúa" là người xóa nợ, ngày hồng ân.
       "Ngày của Chúa" không phải là một ngày nhất định ghi trong lịch, mà là mọi ngày.
Thực vậy, ngày nào cũng là "Ngày của Chúa" hết. Tin Mừng về "Ngày của Chúa" là : ơn
giải thoát chúng ta không tùy thuộc vào công nghiệp của chúng ta, mà hoàn toàn do lòng
tốt của Thiên Chúa. Điều duy nhất chúng ta phải làm là mở rộng cửa lòng cho Chúa
Giêsu ngự vào mang ơn đến cho chúng ta. (FM)
       5. Quyển sách
       Sau nửa thế kỷ bị lưu đày bên Babylon, dân do thái được hồi hương. Tư tế Ét-ra tập
họp họ lại để tái hiến dâng họ cho Thiên Chúa. Ét-ra bắt đầu bằng việc đọc cho họ nghe
sách luật của Môsê. Từ đó trở đi, đời sống và tín ngưỡng của dân do thái gắn chặt với
quyển Sách Luật ấy. Có thể nói, đó là một dân "sống với sách".
       Kitô hữu chúng ta cũng là những người "sống với sách". Chỉ khác một điều là
quyển sách chúng ta sống với là quyển Tin Mừng.
       Có một chuyện kể về một dân kia chưa từng nghe nói tới quyển Tin Mừng. Một
hôm có một người lạ đến báo cho họ rằng "Tôi đến đây mang cho các người một tin
mừng". Rủi thay người ấy mang bệnh và chết trước khi nói rõ cho họ biết tin mừng ấy là
gì. Họ mới lục lúi của người ấy và gặp một quyển sách có tựa đề là "Tin Mừng của Chúa
Giêsu Kitô". Họ đoán rằng đó chính là cái tin mừng mà người kia muốn báo cho họ biết.
Thế là họ bắt đầu đọc quyển sách ấy. Sách viết về một nhân vật giàu lòng nhân ái, làm
nhiều việc lạ lùng để giúp cho những người khốn khổ và dạy nhiều điều rất cao thượng.
       Đọc xong quyển sách, một người trong họ nói : "Tiếc thay người mang quyển sách
này đã chết. Chắc là một môn đệ của ông Kitô ấy". Một người nói : "Nhưng chắc là ở nơi
ông ấy sống cũng có nhiều một đệ khác của ông Kitô". Một người khác nữa góp ý :
"Chúng ta thử gởi người đến đấy xem các môn đệ ông Kitô sống những lời ngài dạy thế
nào". Mọi người tán thành.
       Họ cử Francis đi. Đây là một chàng trai rất chín chắn. Chàng đã tìm đến nơi, tiếp
xúc với rất nhiều người, sau đó trở về. Khi chàng vừa về tới nơi thì những người đồng
hương của chàng đặt những câu hỏi tới tấp :
       - "Những tín đồ của quyển sách ấy có thương yêu nhau không ?"
       - "Họ có hòa thuận với nhau không ?"
       - "Họ có đơn sơ không ?"
       - Họ có hạnh phúc không ?"
       Tất cả các câu hỏi đều có thể tóm trong một câu duy nhất này : "Những môn đệ của
ông Kitô ấy có sống theo quyển sách của Ông ta không ?".
       Và sau đây là báo cáo của Francis :
       Trên căn bản, tôi đã gặp được 5 hạng môn đệ của ông Kitô ấy :
       - Hạng thứ nhất chỉ mang danh Kitô thôi. Dù họ có rửa tội nhưng họ chẳng sống
theo một lời dạy nào của Ngài cả.
       - Hạng thứ hai là những người làm môn đệ Đức Kitô theo thói quen. Mặc dù người
ta thấy họ giữ những điều Đức Kitô dạy, nhưng những điều đó chẳng ảnh hưởng gì đến
cách sống của họ cả. Tôi đã quan sát cách sống của họ một thời gian lâu và thấy ra rằng
thực ra họ sống theo những nguyên tắc không liên can gì tới lời dạy của Đức Kitô, một số
còn ngược lại nữa.
       - Hạng thứ ba gồm một số người rõ ràng là sùng mộ đức tin Kitô. Họ cố sức làm
những việc tốt, nhưng xem ra họ thiếu sức sống, họ không thực sự có được những đức
tính của Thầy họ.
       - Hạng thứ tư có thể được gọi là những Kitô hữu thực hành. Dường như họ đã nắm
được trọng tâm của Tin Mừng. Họ biết quan tâm đến người khác và không xấu hổ vì
người khác biết họ là Kitô hữu. Ở một vài nơi tôi thấy họ bị bách hại. Ở một vài nơi khác
tôi thấy họ phải gặp tình cảnh có lẽ còn tồi tệ hơn nữa, đó là bị đồng bào của chính họ đối
xử lạnh nhạt.
       - Hạng thứ năm không nhiều. Đó là những người mà tôi không ngại gọi là những
Kitô hữu chính danh. Họ sống Tin Mừng cách sâu sắc. Khi gặp họ, tôi tưởng là gặp chính
Đức Kitô.
       Câu chuyện kết thúc ở đó, nên không biết dân chúng xứ đó có đón nhận Tin Mừng
hay không.
       Ngày nay rao giảng Tin Mừng cho thế giới là nhiệm vụ của chúng ta. Đó là một đặc
ân to lớn nhưng cũng là một trách nhiệm nặng nề. Tuy nhiên, cũng như Đức Kitô, chúng
ta được Chúa Thánh Thần giúp đỡ. Cách tốt nhất để rao giảng Tin Mừng là sống tốt đời
Kitô hữu. Quyển sách duy nhất mà nhiều người chưa bao giờ đọc để hiểu Tin Mừng, đó
chính là quyển sách của đời sống chúng ta. (FM)
       6. Xóa nợ cho nhau
       Trước lúc lìa đời, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có giao cho con cháu một cái
ống tre sơn son thếp vàng gắn bít hai đầu và dặn đến đúng năm tháng ấy, ngày giờ ấy,
phải để cái ống ấy vào kiệu rước lên dinh tổng đốc Hải Dương, trao cái ống này cho quan
thì sẽ cứu vãn được tình thế gia đình nhưng tuyệt đối không được ai mở ra xem, trừ quan
tổng đốc.
       Cái ống tre ấy truyền đến người cháu bảy đời của Trạng, mới rước lên dinh quan
tổng đốc, đúng vào ngày giờ đã ghi trong gia phả. Khi quan mở ống thấy một cuộn giấy,
ông rút ra xem thấy có hai câu chữ nho :
       Ngã cứu nhi thượng lương chi ách
       Nhĩ cứu ngã thất thế chi bần !
       Nghĩa là :
       Ta cứu ngươi khỏi xà nhà đổ,
       Ngươi cứu cháu bảy đời của ta còn nghèo.
       Đang lúc bận việc, quan tổng đốc thấy hai câu nói xấc xược ấy, ông liền nổi giận.
Sẵn cầm chiếc quạt trên tay, ông đứng phắt dậy, chạy lại định đánh người cháu bảy đời
của Trạng. Nhưng vừa bước khỏi sập, chiếc xà nhà ngay trên đỉnh đầu đổ xuống đánh
rầm một cái. Phúc bảy mươi đời, ông mới vừa bước ra, nên không sao cả.
       Quan tổng đốc lúc đó mới giật mình hiểu rõ Trạng đã cứu mình khỏi cái chết bất
đắc kỳ tử. Quan ân cần xin lỗi người cháu ông, mời về tư thất đãi cơm rượu rồi cho một
số tiền khá lớn, để cứu giúp cho gia đình cháu của Trạng đang lâm hoàn cảnh cực kỳ túng
thiếu.
                                                 *
       Nói đến các bậc tiên tri ở nước ta, trước hết phải kể đến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh
Khiêm. Sinh thời ông đã nổi tiếng về các giai thoại tiên tri, đến nỗi các sĩ tử nô nức xin
theo học và thiên hạ đua nhau tìm đến hỏi về những việc tương lai.
       Tuy nhiên, các lời sấm của ông được ứng nghiệm là do trí thông minh của ông đã
mách bảo. Còn hôm nay, nơi Chúa Giêsu đã ứng nghiệm sấm ngôn của Isaia do Thánh
Thần linh ứng. Chính Chúa Giêsu cũng là một tiên tri được đầy tràn Thánh Thần. Một
tiên tri cao cả mang ơn gọi và sứ mạng cứu độ.
       Khi chịu phép rửa, Người đã nhận lãnh Thánh Thần như một việc xức dầu.
       Người được sai đi đem Tin Mừng cho người nghèo hèn, những kẻ nghèo tiền,
nghèo bạn, nghèo văn hoá.
       Người được sai đến với những kẻ bị giam cầm trong lao tù, trong ích kỷ, trong
tham lam.
       Người cho kẻ mù được sáng mắt, kẻ u mê thoát vòng tối tăm.
      Người trả tự do cho người bị áp bức, phá xiềng xích cho những tội nhân.
      Người khai mở một Năm Toàn Xá, Năm Thánh, Năm Hồng Ân cứu độ.
      Chúng ta cũng đã được xức dầu để trở thành tiên tri, đi loan báo Tin Mứng cứu độ.
      Nếu Thánh Thần đã chi phối toàn bộ ngôn từ, hành vi của Chúa Giêsu, chúng ta
cũng hãy ngoan nguỳ để Thánh Thần hướng dẫn tất cả lời nói, việc làm của mình.
      Nếu sấm ngôn của Isaia đã ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu ; ước gì Lời Chúa cũng
được ứng nghiệm trong cuộc đời chúng ta, bằng sự cộng tác tích cực của bản thân mỗi
người.
      Con người ngày nay khắc khoải trong lo âu sầu muộn, người tín hữu Kitô phải là
chứng nhân của niềm vui.
      Con người ngày nay ngụp lặn trong bóng tối của lầm lạc, người tín hữu Kitô phải
chiếu toả ánh sáng của đức tin.
      Con người ngày nay bị kìm toả trong vòng nô lệ của tiền bạc, danh vọng ; ngườt tín
hữu Kitô phải loan báo sự tự do của con cái Chúa.
      Nếu những người đã chịu phép Rửa trong Thánh Thần, mà còn làm ngơ trước
những con người nghèo hèn, áp bức kẻ cô thân cô thế, bịt mắt những anh em dốt nát, và
giam hãm tha nhân trong ngục tù dưới nhiều hình thức ; thì quả thật, Lời Chúa chẳng bao
giờ được ứng nghiệm trong cuộc đời họ.
                                                *
      Lạy Chúa, xin cho chúng con cũng biết xoá nợ cho nhau, không chỉ xoá nợ tiền bạc
mà còn xoá đi những bất bình, nghi kỵ thành kiến, hiểu lầm nhau..., để mọi người chung
quanh chúng con được nhẹ nhàng hơn, thanh thoát hơn, vui tươi hơn.
      Xin cho chúng con luôn là những sứ giả đi loan báo và chứng tá cho tình yêu cứu
độ của Chúa. Amen. (TP)
      7. Giáo Hội là nhiệm thể Đức Kitô
      Ngày nay trong y khoa có quá nhiều chuyên khoa khiến cho cơ thể như bị tách rời
thành nhiều phần. Một số bác sĩ chuyên về tim, một số khác chuyên về não, một số khác
chuyên về mắt, một số khác chuyên về tai, vân vân. Chuyên môn là tốt nhưng cũng có
mặt trái của nó. Các bác sĩ ấy có thể hiểu biết rất ít về con người mà họ đang điều trị về
mắt, hay tim, hay chân tay…
      Cơ thể con người là một toàn thể thống nhất mặc dù nó gồm bởi nhiều bộ phận.
Những bộ phận này rất khác nhau và có những chức năng khác nhau. Chắc hẳn là một số
bộ phận quan trọng hơn những bộ phận kia. Tuy nhiên chúng đều cần cho cơ thể và đều
cần cho nhau.
      Giáo Hội cũng thế. Chúng ta tuy nhiều nhưng tạo thành một thân thể duy nhất trong
Đức Kitô (Bài đọc II). Bởi Phép Rửa, chúng ta đã trở thành chi thể của thân thể Đức
Kitô, tức là Giáo Hội. Có lẽ có "người" nào đó muốn sống một mình, không lệ thuộc
cộng đoàn. Nhưng không thể nào có "người kitô hữu" đơn độc được. Kitô hữu nào tự ý
cắt mình rời khỏi cộng đoàn thì làm cho cộng đoàn bị đau như một cơ thể bị cắt lìa một
chi thể.
      Cộng đoàn đòi hỏi chúng ta. Vì lý do đó nên nhiều người bị cám dỗ sống một mình,
tìm ơn cứu độ một mình không cần đến người khác. Nhưng không thể như thế được.
Chúng ta cần nhau, cũng như các chi thể cần nhau vậy. Và Giáo Hội cần tất cả chúng ta.
Chúng ta cần ý thức tùy thuộc nhau và tùy thuộc Đức Kitô. Chúng ta vẫn liên đới với
nhau dù khi chúng ta chỉ muốn nghĩ đến bản thân mình.
      Sự tùy thuộc vào cộng đoàn có nhiều lợi ích rõ ràng. Hãy lấy cây sậy làm thí dụ.
Nếu chỉ có một mình thì nó rất yếu và dễ gãy đổ. Nhưng nhiều cây bó chung lại với nhau
thì không thể nào bẻ gãy được. Đối với con người cũng thế. Sức mạnh là do hợp quần.
Người ta sẽ can đảm hơn khi quen biết nhau, khuyến khích nhau và sát cánh cùng nhau
chiến đấu. Nhiều công trình to lớn đã được thực hiện nhờ người ta biết làm việc chung
với nhau.
      Tinh thần cộng đoàn được chính Chúa Giêsu nhấn mạnh khi Ngài kể dụ ngôn cây
nho và cành nho : "Thầy là cây nho, chúng con là cành". Một hình ảnh thật đơn sơ nhưng
cũng thật sâu sắc về sự hợp nhất và tùy thuộc lẫn nhau.
      Rõ ràng là các cành nho cần đến cây nho. Nhưng cây nho cũng cần đến cành nho
vậy, bởi vì chính cành nho sinh trái. Đó là điều mà Chúa Giêsu muốn có giữa Ngài và các
môn đệ của Ngài. Ngài là cây nho, chúng ta là cành nho. Hay nói như Thánh Phaolô :
"Chúa Giêsu là đầu của thân thể, chúng ta là chi thể của thân thể ấy". Nếu không ý thức
về sự tùy thuộc lẫn nhau, chăm sóc cho nhau và chịu trách nhiệm về nhau thì ta không
còn là Kitô hữu nữa.
      Hoa trái mà Chúa Giêsu mong muốn nơi chúng ta trước hết chính là sự hiệp nhất
giữa chúng ta với nhau. Dấu chỉ cho mọi người biết chúng ta thuộc về Ngài là chúng ta
yêu thương nhau và chăm sóc nhau. (FM)
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
      Chủ tế : Anh chị em thân mến, Chúa là núi đá cho ta trú ẩn, là thành trì bảo vệ ta.
Với lòng tin tưởng Chúa là Đấng phù trợ, chúng ta cùng dâng lời cầu xin :
1. Thần Khí Chúa sai tôi đi loan báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn / Chúng ta hiệp lời cầu
   xin cho các vị mục tử / hết lòng yêu thương và tận tình giúp đỡ những ai khó nghèo.
2. Thần Khí Chúa sai tôi đi băng bó những tấm lòng tan nát / Chúng ta hiệp lời cầu xin
   cho có nhiều Kitô hữu / dám xả thân phục vụ những ai đang gặp đau khổ trong cuộc
   sống thường ngày.
3. Ngày nay / nghèo đói và bệnh tật / dốt nát và bất công / vẫn còn ngự trị ở khắp mọi
   nơi / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các Kitô hữu / biết chân thành cộng tác với hết
   thảy mọi người để xóa đói giảm nghèo / tiêu diệt dốt nát / giảm thiếu bất công / và
   khống chế bệnh tật / để ai nấy đều được sống trong hạnh phúc và an bình.
4. Hằng ngày / có biết bao lời nói độc ác / thiếu bác ái / góp phần giết chết / hoặc làm
   sứt mẻ tình thân hữu giữa con người với nhau / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi
   thành viên trong cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết luôn dùng lời nói và việc làm để
   kiến tạo hòa bình / xây dựng tình thương và xóa bỏ hận thù.
      Chủ tế : Lạy Chúa, khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, chúng con trở nên anh em một
nhà và có cùng một Cha chung trên trời. Xin Chúa cho chúng con luôn sống hiệp nhất và
yêu thương nhau. Chúng con cầu xin
VI. TRONG THÁNH LỄ
      - Trước kinh Lạy Cha : Tất cả chúng ta đều được Rửa tội trong cùng một Chúa
Thánh Thần. Giờ đây chúng ta hãy kết hợp với Thánh Thần mà dâng lên Chúa Cha lời
kinh nguyện mà Chúa Giêsu đã dạy chúng ta.
VII. GIẢI TÁN
     Chúa Giêsu đã được đầy tràn Thánh Thần và được sai đi loan Tin Mừng cho những
người nghèo khó. Anh chị em cũng đã đón nhận tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần và Chúa
cũng sai anh em đi. Vậy anh chị em hãy hăng hái ra đi loan báo Tin Mừng của Chúa cho
mọi người anh chị em gặp gỡ.
                               CHÚA NHỰT IV
                                     CHỦ ĐỀ :
                         NGÔN SỨ BỊ TỪ CHỐI




           "Họ kéo Ngài lên tận đỉnh núi để xô Ngài xuống vực"
                                      (Lc 4,29)
     Minh họa
     - Mille images 56 F
     - "Họ kéo Ngài lên tận đỉnh núi để xô Ngài xuống vực" (Lc 4,29)
     Sợi chỉ đỏ :
     Nhiệm vụ làm ngôn sứ thật là bạc bẽo : Thời Cựu Ước, ngôn sứ Giêrêmia đã bị dân
mình bách hại (bài đọc I) ; Thời Tân Ước, Chúa Giêsu cũng bị những người đồng hương
Nadarét muốn xô xuống vực thẳm (Bài Tin Mừng). Nhưng các ngôn sứ vẫn can đảm thi
hành sứ mạng của mình vì các ngài dựa vào Thiên Chúa (đáp ca).
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
      Anh chị em thân mến
      Tục ngữ có câu "Lời thật mất lòng". Chúa Giêsu ưu tiên loan Tin Mừng cho những
người đồng hương của Ngài ở Nadarét, thế mà họ lại xua đuổi Ngài. Thời bây giờ cũng
vậy, nhiều người không muốn nghe những lời xây dựng chân thành, thậm chí còn ghét
những người nói thẳng nói thật.
     Hôm nay chúng ta hãy suy gẫm về thực tế chua chát ấy, và xin Chúa giúp chúng ta
đừng rơi vào thói xấu ấy.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
      - Xin Chúa tha thứ cho những lần chúng con bỏ ra ngoài tai những lời xây dựng
chân thành của kẻ khác.
      - Xin Chúa tha thứ cho những lần chúng con có phản ứng không tốt với người khác
chỉ vì họ đã nói thẳng nói thật.
      - Xin Chúa tha thứ cho những lần chúng con đối xử bất công : vui vẻ với người
khen nịnh, và khó chịu với người chân thành góp ý.
III. LỜI CHÚA
      1. Bài đọc I (Gr 1,4-5,17-19)
      Giêrêmia tự thuật về việc Thiên Chúa gọi ông làm ngôn sứ : Thực ra Giêrêmia
không muốn làm ngôn sứ chút nào cả vì ông biết mình không có khả năng, và ông cũng ý
thức rằng ông sẽ gặp rất nhiều chống đối và đau khổ vì nhiệm vụ ấy. Nhưng vì tin tưởng
vào sự trợ giúp của Chúa nên ông đã can đảm đáp lại lời Chúa gọi.
      2. Đáp ca (Tv 70)
      Thánh vịnh 70 quãng diễn tâm tình của ngôn sứ Giêrêmia. Đó là tâm tình cậy trông
và phó thác : "Con ẩn náu bên Ngài lạy Chúa, xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ…
Xin Ngài như núi đá cho con tru ẩn, như thành trì để cứu độ con".
      3. Tin Mừng (Lc 4,21-30)
      Đoạn Tin Mừng hôm nay nói về hoạt động của Chúa Giêsu ở Nadarét quê hương
Ngài :
      1. Ngày Sabát, Ngài vào hội đường, dựa trên đoạn sách Isaia để công bố chương
trình hành động của Ngài. Đó là mang Tin Mừng và ơn cứu độ cho những người nghèo
khổ.
      2. Bài giảng đã gây hứng khởi trong lòng thính giả. Họ thầm mong rằng, vì tình
đồng hương, Ngài sẽ ưu tiên làm phép lạ cho họ. Nhưng Ngài đã từ chối, bởi vì Ngài là
Đấng cứu độ của mọi người chứ không của riêng ai.
      3. Thất vọng, dân Nadarét đã trục xuất Ngài khỏi thành và còn muốn giết Ngài.
      4. Bài đọc II (1 Cr 12,31--13,13) (Chủ đề phụ)
      Sau khi giải thích cho tín hữu Côrintô về các đặc sủng nhằm phục vụ cộng đoàn
(Chúa nhật trước), Thánh Phaolô nói đến ân sủng cao quý nhất trong mọi ân sủng, đó là
Đức Mến.
      - Đức Mến làm cho các ơn khác có giá trị thực ("Giả như tôi có nói được các thứ
tiếng… mà không có đức mến thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chủm
choẹ xoang xoảng").
      - Đức Mến cao trọng hơn mọi nhân đức khác ("Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến,
cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là Đức Mến")
IV. GỢI Ý GIẢNG
     * 1. Cần có ngôn sứ
      Mỗi thời kỳ lịch sử đều có ngôn sứ. Mỗi thời kỳ lịch sử đều cần ngôn sứ. Bởi vì
"ngôn sứ" là sứ giả của Lời Chúa, nếu không có ngôn sứ thì có thể Lời Chúa sẽ bị yếu đi.
      Thời Cựu Ước có các ngôn sứ Isaia, Giêrêmia, Êdêkiên v.v. Thời Tân Ước có Chúa
Giêsu, có các tông đồ… Thế kỷ XIII có Phanxicô Assidi… Thế kỷ XVII có Vinh Sơn
Phaolô… Thế kỷ XX có Têrêsa Calcutta v.v.
      Thực ra con người ngôn sứ chẳng có gì khác lạ hơn người thường : dân làng
Nadarét đã nhận định về Chúa Giêsu "Ông ta chẳng phải là con bác thợ mộc Giuse đó
sao ?" Ở một vài phương diện nào đó, ngôn sứ còn thua kém người khác nữa : Giêrêmia
đã thành thật thưa với Chúa "Lạy Chúa, con không biết nói. Con chỉ là một đứa trẻ".
      Nhưng ngôn sứ hơn người là do Lời Chúa : ngôn sứ nghe được Lời Chúa, tin tưởng
vào Lời Chúa, và nhiệt thành chuyển đạt Lời Chúa đến cho mọi người.
      Dù "hơn người", nhưng không hẳn ngôn sứ được người quý mến, trái lại thường bị
người chống đối và bách hại, bởi vì "Lời thật mất lòng".
      Tuy thường bị người ta đối xử tệ, nhưng ngôn sứ chính là kẻ làm ơn cho người.
Nhờ ngôn sứ nhắc người ta sống đúng lời Chúa.
      Sứ mạng ngôn sứ rất khó khăn và bạc bẽo. Nhưng ngôn sứ sẽ chu toàn sứ mạng
nhờ cậy dựa vào sự trợ giúp của Chúa.
      Qua bí tích Rửa Tội, mỗi kitô hữu chúng ta đều được Chúa trao sứ mạng là ngôn sứ
của Ngài.
      * 2. Kiên vững – Dịu hiền
      Thôi Trữ là quyền thần nước Tề, định giết vua Trang Công, bèn hội họp sĩ phu lại
cùng nhau thề thốt. Ai nấy đều sợ hãi, răm rắp vâng lời. Duy có Án Tử nghiễm nhiên như
không, nhất quyết không chịu thề.
      Thôi Trữ bảo Án Tử : "Ngươi nghe ta. Ta lấy được nước, thì ta cho một nửa.
Nhược bằng không nghe, ta giết ngay lập tức".
      Lúc ấy, bốn mặt quân lính hầm hầm những muốn đưa gươm giáo ra đâm chém Án
Tử. Chết đến nơi, mà Án Tử vẫn không biến sắc, ung dung nói rằng :
      "Lấy lợi nhử người ta, bảo người ta phản bội quân thượng là bất nhân ; lấy binh khí
hiếp người ta, làm người ta mất chí khí là bất dũng. Giết thì giết, ta đây không theo việc
bất nhân của nhà ngươi đâu".
      Thôi Trữ nghe nói, không dám làm gì Án Tử. Án Tử đứng dậy, ung dung bước ra.
                                               *
      Thôi Trữ quyền hành là thế, mà chỉ một câu nói của Án Tử cũng đủ làm ông phải
chùn bước. Thế mới biết sự thật có sức mạnh hơn bạo lực quyền uy.
      Bài Tin Mừng hôm nay kể lại : "Mọi người trong hội đường đều đầy căm phẫn, họ
chỗi dậy và trục xuất Người ra khỏi thành : Họ dẫn Người lên triền núi, nơi xây cất thành
trì của họ, để xô Người xuống vực thẳm. Nhưng Người rẽ qua giữa họ mà đi" (Lc 4,29-
30). Chúa Giêsu chính là Sự Thật tuyệt đối, nên từ nơi Người toát ra sức mạnh phi
thường, khiến đám người bạo động phải đứng như trời trồng để Người đi qua.
      Những người đồng hương với Chúa Giêsu cảm thấy khó chịu, vì họ không thể tin
rằng "Thần khí Chúa" lại ngự xuống trên con ông Giuse thợ mộc.
      Họ cảm thấy nghi ngờ, vì họ không thể chấp nhận một con người nghèo khổ làng
Nadarét lại là tiên tri, là Đấng Thiên sai.
       Họ càng căm phẫn, khi con người ấy không chịu thực hiện những phép lạ mà họ
yêu cầu. Thế là bạo động nảy sinh, họ muốn tiêu diệt Người cho khuất mắt. Đúng như lời
Chúa Giêsu đã nói : "Không một tiên tri nào được đón tiếp nơi quê hương mình" (Lc
4,24).
       Thế mới ứng nghiệm lời ông Simêon : "Trẻ này là dấu hiệu bị ngưới đời chống
báng" (Lc 2,34). Lời tiên tri này còn theo Người suốt cả cuộc đời.
       Nếu dân làng Nadarét ép Chúa Giêsu làm phép lạ để minh chứng Người là tiên tri,
thì các đầu mục Do thái cũng đòi Chúa Giêsu chứng minh giáo lý của Người là chính
thống.
       Nếu dân làng Nadarét tố cáo Chúa Giêsu là lộng ngôn phạm thượng, thì các người
Pharisêu cũng kết tội Người dựa vào thế giá cửa quỉ vương.
       Nếu dân làng Nadarét cố tìm cách giết Chúa Giêsu, thì dân thành Gíêrusalem cũng
quyết tâm đóng đinh Người trên thập giá.
       Mỗi người tín hữu Kitô đều có thể hiểu được thế nào là bị xua đuổi, bị loại trừ, bị
kỳ thị và bị bỏ rơi, vì "Nếu thế gian đãghen ghét các con, thì hãy nhớ rằng họ đã ghét Ta
trước" (Ga 15,18), nhưng ít có ai cảm nhận được tâm trạng của Chúa Giêsu vào những
lúc như thế này : Người có căm thù những kẻ ruồng rẫy Người không ? Người có đầu
hàng trước nghịch cảnh này chăng ? Nói như Martin Luther King : "Tôi vui mừng vì
Thiên Chúa chúng ta thờ là Thiên Chúa có tinh thần kiên vững và con tim dịu hiền".
       Vâng, nếu Thiên Chúa chỉ là Đấng có tinh thần kiên vững, thì Người sẽ là một
Thiên Chúa xa cách, lạnh lùng, ngự trị tại một nơi nào đó trên chốn trời cao để ngắm nhìn
thế sự thăng trầm. Nhưng nếu Người chỉ là Đấng có con tim dịu hiền, thì Người sẽ là một
Thiên Chúa uỷ rnị nhu nhược, không thể hành động khi mọi sự đi lệch hướng.
       Đứng trước cảnh bị ruồng rẫy hôm nay, con tim của Người không hề chai đá và
tinh thần của Người không chút bạc nhược. Người có tinh thần đủ kiên vững để vượt trên
thế giới, và có con tim đủ dịu hiền để ở giữa con người.
       Nếu có một bài học nào được rút ra từ bài Tin Mừng hôm nay thì đó chính là :
Thiên Chúa mạnh mẽ vô song, có thể "băng qua giữa họ mà đi", nhưng Người cũng là
Đấng giàu lòng thương xót. Khi chúng ta ngỗ nghịch xúc phạm đến Người, khi chúng ta
muốn "xô Người xuống vực thẳm", thì chúng ta cần biết rằng, chính lúc đó Người đang
yêu thương chúng ta và sẵn sàng cho chúng ta một cơ hội để quay trở về.
       Thiên Chúa là Đấng có tinh thần kiên vững trong phán quyết công minh, nhưng
Người cũng là Đấng có tính dịu hiền trong tình thương và ân sủng.
       Thiên Chúa ban ân sủng cứu độ cho hết mọi người, chứ không chỉ dành riêng cho
một số người được đặc ân.
       Thiên Chúa ban ân sủng Cứu độ để chúng ta sinh ích cho mình và làm lợi cho anh
em, chứ không phải để chúng ta khư khư giữ lấy cho riêng mình.
                                                *
       Lạy Chúa, Tiên Tri là ơn gọi và là sứ mạng của mỗi người tín hữu chúng con.
       Xin cho chúng con luôn can đảm nói điều Chúa muôn nói, và nói nhân danh Chúa,
cho dù có phải bị chống đối, phẫn nộ.
       Xin cho chúng con luôn xác tín rằng : Chúa đầy quyền năng cả nhưng cũng rất
giàu lòng xót thương, luôn dẫn dắt chúng con từ những hố sâu tăm tối đến những nẻo
đường chan hoà ánh sáng, tràn đầy hy vọng, nhờ đó, cuộc đời chúng con được viên mãn.
Amen (TP)
       3. Ưu tiên cho ai ?
       Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu với dân làng Nadarét ban đầu rất tốt đẹp : "Mọi
người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Ngài". Nhưng sau
đó là đổ vỡ hoàn toàn : "Mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. Họ đứng dậy lôi Ngài
ra khỏi thành… Họ kéo Ngài lên tận đỉnh núi, để xô Ngài xuống vực"
       Nguyên do gây đổ vỡ là quan niệm về ưu tiên. Dân làng Nadarét nghĩ rằng Chúa
Giêsu phải ưu tiên cho họ, bởi vì họ là đồng hương của Ngài. Ngài đã từng làm phép lạ ở
thành Capharnaum xa lạ thì Ngài phải làm nhiều phép lạ hơn nữa ở Nadarét này mới
phải, vì đây chính là quê hương của Ngài kia mà : "Tất cả những gì chúng tôi nghe nói
ông đã làm tại Capharnaum, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào". Phần Chúa
Giêsu thì muốn dành ưu tiên cho những người nghèo khổ : "Thần khí Chúa ngự trên tôi…
để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ giam cầm
biết họ được tha, cho người mù biết họ sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức…"
       Nói cách khác, dân làng Nadarét muốn ưu tiên theo tình cảm, còn Chúa Giêsu thì
chủ trương ưu tiên theo sứ mạng. Tình cảm thường hẹp hòi, sứ mạng thì bao la. Tình cảm
thường mù quáng, sứ mạng mới sáng ngời.
       Chúng ta thường bị tình cảm làm mù quáng và lệch lạc, ngay cả khi chúng ta làm
việc bác ái và làm công tác tông đồ. Gương Chúa Giêsu nhắc ta phải luôn ý thức đến sứ
mạng. Nếu có ưu tiên thì hãy ưu tiên cho những người nghèo nàn, khổ sở.
       * 4. Trở lại quê hương
       Sau nhiều năm xa cách ngôi làng Transkei là nơi ông đã sinh ra và lớn lên, Nelson
Mandela có dịp trở lại đấy. Lúc bấy giờ ông đã là một luật sư có nhà cửa ở thủ đô
Johannesburg. Ông đã ghi lại cảm tưởng như sau : "Trở lại một nơi chẳng có gì thay đổi
để khám phá ra rằng mình đã đổi thay. Quê hương thì vẫn như xưa, chẳng có gì khác hơn
hồi mình sinh ra và lớn lên ở đấy. Nhưng tôi nhận ra rằng suy nghĩ và cách nhìn của mình
đã khác xưa rất nhiều". Vì thế Nelson Mendela rất hạnh phúc khi trở về thăm lại quê cũ,
nhưng ông không ở lại đó, vì nó đã trở thành quá chật hẹp đối với ông.
       Có lẽ cảm nghĩ của Chúa Giêsu cũng giống như thế khi Ngài trở về Nadarét. Những
người đồng hương của Ngài chẳng có gì thay đổi : họ vẫn mãi coi Ngài là con bác thợ
mộc chứ không phải là Đấng Messia ; họ vẫn quen lối suy nghĩ hẹp hòi cho rằng ơn cứu
độ là đặc ân của người do thái, chứ không thể chấp nhận rằng mọi người đều được hưởng
ơn cứu độ.
       Chúa Giêsu trở về quê hương để mang cho đồng hương của Ngài một sự đổi mới.
Tuy nhiên họ không chịu thay đổi. Vì thế nên Ngài không thể ở lại quê hương, Ngài đành
ra đi, tiếp tục đến những nơi khác. (FM)
       5. Đức Mến
       Có một sự liên kết thiết yếu giữa Đức Tin và Đức Mến. Câu chuyện sau đây cho
thấy rõ điều ấy :
       George Herbert là một Linh mục, một thi sĩ và một nhạc sĩ nghiệp dư. Một hôm khi
ông đang trên đường đến tham dự một cuộc hòa nhạc thì gặp một người nghèo bị té ngựa.
Ông đã dừng lại, cởi áo dòng, xắn tay áo để đỡ người ấy lên, đỡ con ngựa lên và giúp
chất hành lý người ấy lên lưng ngựa. Xong xuôi mọi chuyện, ông mới tiếp tục đến phòng
hòa nhạc.
       Bình thường ông ăn mặc rất sạch sẽ. Nhưng hôm nay tay chân và quần áo của ông
đều dính đầy bụi bẩn. Vì thế bạn bè rất ngạc nhiên. Khi ông kể lại chuyện mình đã làm
dọc đường thì một trong các người bạn tỏ ra không đồng ý vì cho rằng việc đó không cần
thiết và cũng không phải là trách nhiệm của ông. George Herbert đã trả lời như sau : "Tôi
thường cầu nguyện cho những người nghèo khổ. Hôm nay tôi có dịp giúp đỡ người
nghèo khổ. Nếu tôi không ra tay giúp thì tức là tôi không làm đúng như lời mình cầu
nguyện. Cũng giống như cây đàn chưa lên dây đúng cung vậy."
       Thánh Giacôbê đã nói : "Đức tin mà không có việc làm là đức tin chết". Những
việc làm biểu lộ đức tin dễ thấy nhất là những việc bác ái.
       Ngày nay, hai chữ được người ta nói nhiều nhất là "tình yêu". Nhưng hình như cái
mà người ta gọi là tình yêu trong các phim ảnh và bài hát thường chẳng phải là tình yêu
gì cả. Đó chỉ là khát vọng, chiếm hữu và chế ngự. Nó ngược hẳn với tình yêu.
       Một trong những lý do là ngày nay người ta đã hiểu rõ hơn về tính phức tạp – hay
phức hợp – trong bản chất con người. Từ đó người ta làm gì cũng do bị thúc đẩy bởi
nhiều động cơ. Đàng sau một việc xem ra bất vụ lợi thì cũng có động cơ vụ lợi.
       Bởi thế, Thánh Phaolô khuyến cáo chúng ta coi chừng những động cơ đàng sau
những việc tốt chúng ta làm. Ngài nói rằng Đức Mến đích thực thì "không ghen tương,
không vênh vang, không tự đắc". Ngài còn nói "Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp
mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng
chẳng ích gì cho tôi". (FM)
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
       Chủ tế : Anh chị em thân mến, hôm nay ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu những lời Kinh
thánh chúng ta vừa nghe. Nhờ Người, chúng ta dâng lên Chúa Cha những lời nguyện xin
tha thiết của chúng ta :
1. Hội thánh được Chúa Giêsu thiết lập để đem Tin mừng đến cho muôn dân trên khắp
    hoàn cầu / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho công cuộc rao giảng Tin mừng của Hội
    thánh / luôn đạt được nhiều thành quả tốt đẹp.
2. Khát vọng sâu xa nhất của con người ngày nay / là được sống trong hòa bình và thịnh
    vượng / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho Chúa / ban hòa bình cho những vùng còn khói
    lửa chiến tranh.
3. Hiện nay đức tin / đức cậy / đức mến / cả ba đều tồn tại / nhưng cao trọng hơn cả là
    đức mến / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các Kitô hữu / luôn cố gắng sống trọn vẹn
    nhân đức quan trọng này.
4. Nhờ bí tích Thánh Tẩy / người Kitô hữu trở nên anh em với nhau / vì có cùng một niềm
    tin và một Cha chung trên trời / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ
    chúng ta / biết dẹp bỏ mọi kỳ thị hẹp hòi / những chia rẽ bất hòa / để tất cả chúng ta
    nên một trong Chúa.
       Chủ tế : Lạy Chúa, Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một để cứu chuộc
chúng con. Xin cho chúng con luôn biết vâng nghe lời Người là Đấng hằng sống và hiển
trị muôn đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
      - Trước kinh Lạy Cha : Chúng ta đang ở trong ngôi Nhà Thờ này như những anh
chị em ruột thịt sum họp trong mái ấm gia đình. Đúng vậy, vì chúng ta đều là con của
cùng một Cha chung trên trời. Giờ đây chúng ta hãy nghĩ đến Cha chúng ta và hãy cùng
nhau thưa chuyện với Ngài qua lời kinh Lạy Cha.
VII. GIẢI TÁN
     Do Bí Tích Rửa Tội, chúng ta được chia xẻ sứ mạng ngôn sứ của Chúa Giêsu Kitô.
Chúng ta hãy can đảm thi hành sứ mạng vừa cao đẹp vừa khó khăn ấy. Nguyện xin ơn
sủng Chúa luôn phù giúp anh chị em. Chúc anh chị em ra về bình an.
         CHÚA NHỰT V
             CHỦ ĐỀ :
MAU MẮN ĐÁP LỜI CHÚA GỌI




       "Họ đưa thuyền vào bờ,
  rồi bỏ hết mọi sự mà theo Ngài"
              (Lc 5,11)
       Minh họa
       - Mille images : 64 A
       - "Họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Ngài" (Lc 5,11)
       Sợi chỉ đỏ :
       - Bài đọc I tường thuật ơn gọi của ngôn sứ Isaia : Khi nghe tiếng Chúa gọi "Ta sẽ
sai ai đây ?", Isaia đã nhanh chóng đáp lại : "Dạ con đây, xin sai con đi".
       - Bài Tin Mừng tường thuật ơn gọi của Simon Phêrô, Giacôbê và Gioan. Cũng đáp
lời mời gọi cách nhanh chóng : "Họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Ngài".
       - Trong bài đọc II, Phaolô nói về ơn gọi của mình : mặc dù ông không xứng đáng,
bởi ông đã từng bách hại đạo Chúa, nhưng vì chính Chúa gọi ông làm tông đồ nên ông
đáp lại lời Ngài và sẵn sàng chịu đựng mọi khó khăn để rao giảng Tin Mừng của Ngài.
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
     Anh chị em thân mến
     Từ Chúa nhật đầu mùa Thường niên, chúng ta đã từng bước đi theo hành trình sứ
vụ của Chúa Giêsu. Hôm nay Phụng vụ dẫn chúng ta tới lúc Chúa Giêsu kêu gọi các môn
đệ đầu tiên là Simon Phêrô, Giacôbê và Gioan. Điểm đáng chú ý trong chuyện này là các
ông đã mau mắn bỏ hết mọi sự để đi theo Chúa.
     Ngày hôm nay Chúa vẫn tiếp tục kêu gọi chúng ta. Chúng ta hãy lắng nghe tiếng
Ngài và hãy mau mắn đi theo Ngài.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
      - Vì mải mê lo những công việc thế tục, chúng ta đã phớt lờ đi những lần Chúa lên
tiếng kêu gọi chúng ta.
      - Có nhiều thứ chúng ta quá quyến luyến nên không thể từ bỏ mặc dù biết là nó xấu.
      - Cũng như thánh Phêrô ngày xưa, giờ đây chúng ta hãy khiêm tốn thưa cùng
Chúa : "Lạy Chúa, con là kẻ tội lỗi".
III. LỜI CHÚA
      1. Bài đọc I (Is 6,1-8)
      Tường thuật ơn gọi của Isaia. Chúng ta hãy để ý đến tâm trạng và phản ứng của
ông :
      - Trong một thị kiến, Isaia thấy mình đang ở trong Đền thờ. Qua những hiện tượng
đặc biệt như cảnh các thiên thần tung hô, các cửa đền thờ rung chuyển, đền thờ nghi ngút
khói v.v. Isaia, biết là có Thiên Chúa đang hiện diện.
      - Cảm giác đầu tiên của Isaia là thấy mình quá tội lỗi khi đứng trước Thiên Chúa
thánh thiện.
      - Nhưng khi Thiên Chúa sai một thiên thần thanh tẩy Isaia và sau đó mời gọi ông
làm ngôn sứ, thì Isaia đã mạnh dạn đáp lời.
      2. Đáp ca (Tv 137)
      Đây là bài ca được hát trong đền thờ, "giữa chư vị thiên thần, con đàn ca kính
Chúa". Thánh vịnh này rất hợp với tâm tình của Isaia khi được Chúa kêu gọi.
      3. Tin Mừng (Lc 5,1-11)
      Bài tường thuật việc Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ đầu tiên trong Tin Mừng Luca
có nhiều chi tiết hơn bài tường thuật ngắn gọn trong Mt 4,19-22 :
      - Họ đang giặt lưới để dẹp cất, vì suốt đêm đánh không được con cá nào.
      - Chúa Giêsu bảo họ thử đánh một mẻ nữa. Phêrô không tin vào sự thành công,
nhưng nễ lời Ngài nên ông thả lưới.
      - Một mẻ lưới nhiều cá quá sức tưởng tượng đã khiến Phêrô và các bạn khám phá ra
thân phận siêu phàm của Chúa Giêsu đồng thời cũng ý thức thân phận hèn hạ tội lỗi của
mình.
      - Khi đó Chúa Giêsu lên tiếng gọi họ theo Ngài làm môn đệ. Và họ đã từ bỏ mọi sự
để theo Ngài.
      4. Bài đọc II (1 Cr 15,1-11)
      Nhiều người chống đối Phaolô, cho rằng ông không đủ tư cách làm tông đồ.
      Để trả lời họ, Phaolô nói rằng tất cả những gì ông rao giảng đều là những gì ông đã
lãnh nhận từ giáo huấn của Chúa Giêsu. Phaolô cũng chứng mình rằng chính Chúa Giêsu
đã chọn ông như đã chọn các tông đồ khác.
IV. GỢI Ý GIẢNG
       * 1. Chúa gọi
       Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta hiểu được rất nhiều điều về ơn gọi.
       a/ Con người không chọn Chúa, mà chính Chúa kêu gọi con người : Isaia tin có
Chúa đang hiện diện trong Đền thờ, nhưng ông không dám nghĩ tới việc được "thấy"
Chúa và được Ngài "gọi" (bài đọc I). Phaolô đang trên đường lùng bắt các môn đệ Đức
Kitô thì được gọi (bài đọc II). Còn Phêrô và các bạn chài thì đang lo đánh lưới bắt cá
nhưng lại được gọi làm những kẻ quăng lưới bắt người (bài Tin Mừng). Đúng như lời
Chúa Giêsu nói : "Không phải các con chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con".
       b/ Có khi ơn gọi phát sinh từ một cuộc gặp gỡ đặc biệt với Chúa. Cuộc gặp gỡ đặc
biệt làm nẩy sinh một cảm nghiệm sâu sắc. Rồi cảm nghiệm sâu sắc cuốn hút con người
vào một tương quan thân thiết mới mẻ với Chúa. Như trường hợp của Isaia, ông vẫn biết
Thiên Chúa là Đấng vĩ đại và mạnh mẽ hơn các thần khác. Nhưng hôm ấy trong Đền thờ
ông biết thêm rằng Ngài là Đấng hoàn toàn khác, là Đấng 3 lần thánh. Điều đó khiến ông
xúc động mạnh. Ông diễn tả cảm xúc mạnh mẽ ấy qua những hình ảnh các trụ của đền
thờ rung chuyển và khói tỏa mịt mù khắp Đền thờ. Còn Phaolô thì mô tả việc Chúa gọi
ông đột ngột như "một đứa trẻ sinh non" trước khi đủ ngày đủ tháng. Phần Phêrô, mẻ cá
lạ làm ông chợt nhận ra Chúa Giêsu không phải chỉ là con người mà còn là Đức Chúa,
đồng thời ông ý thức thân phận tội lỗi bất xứng của mình. Ông đã thốt lên "Lạy Chúa, xin
tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi".
       c/ Nhưng nhiều khi Chúa gọi con người trong những hoàn cảnh rất bình thường.
Như Phêrô và các bạn khi ấy đang làm công việc thường ngày là đánh cá. Hoàn cảnh thì
bình thường, nhưng ý nghĩa lại đặc biệt : nó khiến con người khám phá một chân lý quan
trọng, nó thôi thúc con người làm một cuộc lựa chọn mới mẻ chuyển hướng cả cuộc đời.
Hôm đó Phêrô và các bạn đã bỏ tất cả mà đi theo Chúa Giêsu.
       Dù gặp Chúa trong hoàn cảnh đặc biệt hay trong cuộc sống bình thường, hễ gặp
được Chúa thì cuộc đời chắc chắn sẽ biến đổi.
       * 2. Bất xứng và tín nhiệm
       Ba bài tường thuật ơn gọi hôm nay đều có những nét giống nhau :
       - Tất cả những người được gọi đều cảm thấy bất xứng : Isaia thốt lên "Khốn thân
tôi, tôi chết mất, vì tôi là một người môi miệng ô uế, tôi ở giữa một dân môi miệng ô
uế" ; Phaolô tự nhận "Tôi là người hèn mọn nhất trong số các tông đồ, tôi không đáng
được gọi là tông đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa" ; Phêrô thì sấp mình
xuống dưới chân Chúa Giêsu "Lạy Chúa xin tránh xa con vì con là kẻ tội lỗi".
       - Nhưng tất cả đều được Thiên Chúa tín nhiệm : Isaia được trao sứ mạng ngôn sứ ;
Phêrô được chọn làm tông đồ ; Phaolô được sai đi làm tông đồ cho lương dân.
       - Dù biết mình bất xứng mà Thiên Chúa vẫn tín nhiệm, nên các ngài đã nhiệt thành
chu toàn sứ mạng được trao phó : Isaia mạnh dạn thưa lại với Chúa "Dạ con đây, xin sai
con đi" ; Phêrô "đưa thuyền vào bờ rồi bỏ hết mọi sự mà theo Ngài" ; Phaolô dám khoe
"Tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị khác, nhưng không phải tôi, mà là Thiên Chúa
ở cùng tôi".
       3. Thành quả vàng son
       Thánh Gioan Vianney, lúc còn là chủng sinh, học rất chậm. Ngày kia, một giáo sư
thần học, thừa lệnh Đức Giám Mục đến khảo sát Vianney xem có đủ khả năng học vấn để
tới chức linh mục chăng ?
       Tuy đã dốc hết sức học hành, Vianney vẫn không thể trả lời được câu nào cho trôi
chảy.
       Nổi nóng, vị giáo sư đập bàn nói : "Vianney, anh dốt đặc như con lừa ! Với một
con lừa như anh, Giáo Hội hy vọng làm nên trò trống gì".
       Vianney khiêm tốn bình tĩnh trả lời : "Thưa cha, ngày xưa Samson chỉ dùng một cái
xương hàm con lừa mà đánh bại 3000 quân Philitinh. Vậy với cả một con lừa này, Thiên
Chúa không làm được việc gì sao ?"
       Quả thật, con lừa của Thiên Chúa đó, sau này không chỉ trở thành một cha sở, mà
còn được tôn phong làm thánh bổn mạng của các cha sở.
       Hôm nay, Simon cũng vất vả suốt một đêm chài lưới mà không bắt được một con
cá nào, nhưng : "Vì lời Thầy con sẽ thả lưới" (Lc 5,5). Và lạ thay, một mẻ cá lớn bất ngờ,
đến nỗi lưới hầu như sắp rách. Trước tình thế này, Simon chỉ còn biết bỏ thuyền, chạy
đến sấp mình dưới chân Chúa Giêsu mà nói : "Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì
con là kẻ tội lỗi" (Lc 5,8).
       Kẻ nhận mình là tội lỗi yếu hèn đó, sau này đã trở thành Phêrô, người thuyền
trưởng của con thuyền Giáo Hội.
       Có một điểm gì đó rất giống nhau, rất tương đồng giữa Vianney và Phêrô. Đó chính
là nhận mình yếu hèn khuyết điểm và hoàn toàn để Chúa lèo lái điều khiển đời mình.
Nhờ đó, Chúa đã ban tặng cho các ngài những đậc ân vô cùng lớn lao. Vì ơn Chúa chỉ
ban xuống cho những kẻ khiêm nhượng.
       "Thưa Thầy, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà không bắt được gì hết. Nhưng vì
lời Thầy, con sẽ thả lưới" (Lc 5.5). Đây là lời bày tỏ sự bất lực của con người, để chính
sự bất lực này sẽ làm nổi bật quyền năng của Thiên Chúa : Chính sự vâng phục của con
người trước uy quyền của Thiên Chúa sẽ đem lại hiệu quả vượt sức tự nhiên loài người.
       Từ vâng phục dẫn đến phép lạ, từ phép lạ dẫn đến niềm tin : Trước mẻ cá, Simon
xưng Chúa Giêsu là Thầy : "Vì lời Thầy, con sẽ thả lưới", nhưng sau mẻ cá diệu kỳ,
người lại tuyên xưng Chúa Giêsu là Chúa : "Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con
là kẻ tội lỗi". Qua phép lạ mẻ cá, Simon đã nhận ra quyền năng Thiên Chúa nơi Chúa
Giêsu và đã tin vào Người. Đây chính là lời tuyên xưng thiên tính nơi Chúa Giêsu.
      Chính khi tin vào quyền năng Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu, mà Simon đã ý thức
thân phận tội lỗi bất xứng của mình trước sự thánh thiện vô song của Thiên Chúa. Đó
cũng là kinh nghiệm của ngôn sứ Isaia trước Thiên Chúa : "Khốn cho tôi, tôi chết mất, vì
lưỡi tôi dơ bẩn" (Isaia 6, 5). Nhưng sau khi được than hồng là lửa tình thương Chúa
thanh tẩy, ông đã mau mắn xin vâng, ra đi làm ngôn sứ cho Chúa : "Lạy Chúa, xin hãy
sai con". Hôm nay, Chúa cũng trấn an Phêrô : "Đừng sợ hãi, từ đây các con sẽ là kẻ
chinh phục người ta" (Lc 5,10). Thành ngữ này thường gặp trong Cựu ước, để trấn an con
người hãy tin tưởng vào quyền năng Thiên Chúa. Ở đây Chúa Giêsu muốn trấn an các
Tông đồ, đặc biệt ba vị là Phêrô, Giacôbê và Gioan, để các ngài tin tưởng vào sự quan
phòng của Thiên Chúa khi đón nhận và thi hành sứ mạng Chúa giao.
      Quả thật, ngay sau đó các Tông đồ đã "bỏ mọi sự mà đi theo Người " (Lc 5, 11). Đó
là ơn gọi của Phêrô, con người đã gặp gỡ Chúa và đã được Chúa thu hút chinh phục, để
rồi Phêrô lại ra đi chinh phục các tâm hồn về cho Người.
      Trước khi gặp Chúa, Simon dù có vất vả suốt đêm cũng không được một con cá
nào ; sau khi gặp Chúa, Chúa đã hướng dẫn ngài kéo lên một mẻ cá bội thu. Nhưng dù cá
có nhiều đến rách lưới ngài cũng không màng, vì từ đây mục đích đời ngài không phải là
thành quả vàng son mà chính là Chúa mà thôi.
                                                  *
      Lạy Chúa, từ bỏ mọi sự là điều kiện để đi theo Người. Xin cho chúng con một đức
tin can đảm, dám từ bỏ những gì chúng con đã từng bám víu, cũng chẳng sợ thiệt thòi khi
đã hiến dâng.
      Xin cho chúng con một đức tin liều lĩnh, sẵn sàng mất đi tất cả, để chỉ xin giữ trọn
một mình Chúa mà thôi. Vì Chúa chính là gia nghiệp và là phần phúc cuộc đời chúng
con. Amen. (TP)
      4. Thất bại và thành công
      Phêrô và các bạn "đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả". Chán nản, mỏi
mệt, các ông không đánh cá nữa và đi giặt lưới.
      Cho dù đã làm hết sức mình nhưng con người vẫn có thể gặp thất bại. Người học
sinh luyện thi rất chăm chỉ, nhưng rồi thi rớt. Vận động viên thể thao cố gắng chơi hết
sức mình, vậy mà lại thua. Cha mẹ đã làm tất cả để giáo dục con nên người tốt, nhưng nó
lại làm người xấu. Hầu hết chúng ta đều có khi gặp thất bại như thế.
      Khi Phêrô và các bạn bị thất bại, Chúa Giêsu có thể trách các ông "Các anh đã hành
nghề bao nhiêu năm trời rồi, thế sao đánh lưới suốt đêm mà không bắt được con cá nào
hết vậy ?" Nhưng Ngài đã không trách. Tại sao ? Vì Ngài thông cảm với các ông. Đã cố
gắng hết mình rồi mà vẫn thất bại, điều đó đã làm các ông đau khổ lắm rồi. Không cần
trách móc để các ông càng đau khổ thêm. Thất bại đã là một vết thương, không cần sát
muối vào cho nó càng xót xa thêm.
      Điều người ta cần khi bị thất bại là có ai đó vẫn tin mình, an ủi mình và khuyến
khích mình vươn lên. "Thất bại không phải là nằm dưới, mà chỉ là đang đứng ở dưới
thôi" (Failure is not the falling down, but staying down)
       Vả lại, thành công là gì ? Thành công không phải là tất cả. Ta có thể thành công cãi
thắng một cuộc tranh luận, nhưng rồi bị mất một người bạn. Ta có thể thành công trong
cuộc tranh dành một địa vị cao hơn, nhưng sau đó các mối tương quan với đồng nghiệp
trở thành lạnh nhạt hơn. Hương vị của ly rượu thành công có thể rất ngọt ngào ngây ngất
ngay lúc đó, nhưng về sau hầu hết đều cạn dần và cuối cùng là trống rỗng.
       Chúa Giêsu không trách Phêrô và các bạn, nhưng Ngài không cho các ông cứ ở đó
mãi để gậm nhấm nỗi chua cay. Ngài kích thích họ làm lại : "Hãy chèo ra chỗ nước sâu
và thả lưới bắt cá".
       Emerson nói rằng mỗi người chúng ta đều có một tiềm năng to lớn, giống như một
căn phòng, một vòi nước chưa bao giờ được mở ra. Cần có ai đó chỉ cho ta biết tiềm năng
đó và khuyến khích chúng ta mở ra : "Hãy chèo ra chỗ nước sâu".
       Chúa Giêsu biết Phêrô yếu đuối tội lỗi, nhưng Ngài cũng biết ông có khả năng làm
được những việc to lớn. Ngài không kích thích chỗ yếu đuối tội lỗi của ông, nhưng kích
thích đúng vào tiềm năng của ông. Nhờ được kích thích, các ông đã thả lưới bắt được
nhiều cá. Sau đó các ông còn hăng hái bỏ mọi sự để theo Ngài thả lưới bắt người.
       Con người thường thất bại. Nhưng con người cần có người tin tưởng và khuyến
khích để lại vươn lên, vì "Từ thành công đền thất bại chỉ là một bước. Nhưng từ thất bại
đến thành công là cả một con đường dài" (Yiddish) (FM)
       * 5. "Vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới"
       Ban đêm là lúc thuận tiện để đánh cá. Nếu một người nào khác nói với Phêrô "Hãy
chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá", có lẽ ông đã vặn lại "Bộ anh khùng hả ? Anh
muốn cho tôi thành trò cười cho các bạn chài khác sao ? Đã thả lưới suốt đêm mà không
bắt được con cá nào thì làm sao mà bắt được nữa khi trời đã sáng".
       Nhưng vì người nói câu đó là Chúa Giêsu nên Phêrô đã không vặn lại như thế. Ông
cũng trình bày quan điểm của mình "Thưa Thầy, chúng con đã vất vả suốt đêm mà không
bắt được gì cả", nhưng liền sau đó thì vâng lời "Nhưng vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới".
Đối với Phêrô, lời nói của Chúa Giêsu không như lời của những người khác, vì nó có uy
tín mà lời của bất cứ ai khác đều không có. Bởi thế, nếu Chúa Giêsu đã bảo, thì cho dù
tình thế có vô vọng bao nhiêu đi nữa, cho dù ông đã mệt mỏi bao nhiêu đi nữa, và cho dù
người ta có thể nhạo cười bao nhiêu đi nữa, Phêrô cũng phải vâng theo.
       Phêrô đã tin tưởng tuyệt đối vào Chúa Giêsu. Tin vào lời Ngài, ông đã thử làm điều
bất khả. Sau này chúng ta lại thấy ông tin vào lời Chúa Giêsu mà bước đi trên mặt biển.
       Chúa Giêsu chẳng những bảo ông thả lưới bắt cá, mà còn bảo ông làm môn đệ, chia
xẻ sứ mạng của Ngài. Phêrô có đức tính gì mà được Chúa Giêsu mời gọi như thế ? Đức
tính thứ nhất và quan trọng nhất Chúa Giêsu thấy nơi Phêrô là Tin vào Lời Ngài. Đức tính
thứ hai là Khiêm tốn.
       Câu chuyện Tin Mừng hôm nay không chỉ là chuyện về đánh cá, mà còn là chuyện
về lòng tin tưởng. Vì Phêrô tin tưởng vào lời Chúa Giêsu, nên Ngài chẳng những bảo ông
thả lưới lại một lần nữa, mà còn kêu gọi ông lãnh nhận một sứ mạng quan trọng hơn "Từ
nay anh sẽ là người thu phục người ta".
       Mọi kitô hữu chúng ta cũng đều được Chúa gọi như Phêrô. Và điều quan trọng nhất
Ngài chờ đợi nơi chúng ta là tuyệt đối tin tưởng vào Ngài. (FM)
       6. Một bước khởi đầu tốt đẹp
      Isaia, Phaolô và Phêrô là những gương mặt trung tâm của các bài đọc hôm nay. Cả
ba đều đã làm được những việc trọng đại cho Chúa. Tuy nhiên cả ba, ai cũng mang mặc
cảm thấp hèn, coi mình là người yếu kém. Các ngài không tự mình tiến lên phía trước,
nhưng được Chúa mời gọi tiến lên. Các ngài đáp lại tiếng Chúa gọi một cách miễn cưỡng
vì biết mình không xứng đáng.
      Bước đi đầu tiên với nhận thức về thân phận bất xứng của mình, xét theo phương
diện đạo đức, đó là một bước khởi đầu rất tốt. Người nào quá tự tin tiến về phía trước thì
thường làm hại hơn là làm tốt, vì người đó dựa vào khả năng của mình và tìm kiếm vinh
dự cho mình. Kiêu căng và tự phụ chỉ là cát, mà xây nhà trên cát thì sẽ sụp đổ thôi.
      Ngược lại, khi ta gặp người nào biết sợ, biết lo thì ta có thể tin tưởng người đó.
Thánh Phaolô nói một câu rất nghịch lý : "Khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh" (2 Cr
12,10). Nghịch lý nhưng rất có lý, bởi vì khi Ngài biết mình yếu thì Ngài tìm về Chúa, và
chính sức mạnh của Chúa làm cho Ngài mạnh.
      Khi ta biết mình yếu, Chúa sẽ thêm sức cho ta. Khi ta biết mình trống rỗng, Chúa sẽ
đong đầy cho ta. Khi ta biết mình nghèo nàn, Chúa sẽ làm giàu cho ta. Khi đó ta sẽ có thể
làm được công việc của Ngài, và Ngài sẽ hoàn thành trong ta những điều ta không làm
nổi.
      Khiêm tốn là một bước khởi đầu tốt. Nhưng không phải vì thế mà ta cứ khăng
khăng chối từ. Như thế chỉ là hèn nhát, lười biếng và ích kỷ. Cứ như thế thì ta không thể
cứu nổi mình, càng không thể cứu ai khác. Isaia nói rằng môi miệng ông ô uế, nhưng
Chúa đã sai thiên thần lấy than hồng thanh tẩy miệng ông. Phêrô xin Chúa lánh xa ông,
nhưng Chúa gọi ông chia xẻ sứ mạng của Ngài. Chúa không chê bỏ người tội lỗi, trái lại
Ngài đến với những kẻ tội lỗi, để cứu họ, và để mời họ hợp tác cứu những người tội lỗi
khác. Chúa giúp những người tội lỗi đi bước đầu.
      Chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta lòng khiêm tốn để nhận biết sự yếu đuối của
mình. Chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta sức mạnh để chúng ta vượt lên sự yếu đuối
ấy. Rồi chúng ta hãy mạnh dạn làm theo Lời Ngài dạy bảo. Khi đó chúng ta sẽ vui mừng
cảm nhận được như Phaolô là "khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh" (FM)
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
      Chủ tế : Anh chị em thân mến, vì yêu thương mà Chúa đã chọn chúng ta làm người
Kitô hữu, làm tông đồ của Chúa. Với tâm tình cảm tạ tri ân, chúng ta cùng dâng lời cầu
xin :
1. Hội thánh là Nhiệm Thể của Chúa Giêsu Kitô / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa tuôn đổ
   ơn Thánh thần xuống trên Hội thánh / để Hội thánh ngày càng được tinh tuyền / vững
   mạnh / và phát triển không ngừng.
2. Hằng năm / thiên tai vẫn hoành hành ở nhiều nơi trên thế giới / gây ra biết bao tang
   tóc cho nhân loại / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa ban cho mưa thuận gió hòa / để
   mọi người được sống trong cảnh an cư lạc nghiệp.
3. Chúa Giêsu bảo thánh Phêrô : / Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá / Chúng ta
   hiệp lời cầu xin / cho những anh chị em đã từ bỏ mọi sự mà dấn thân theo Chúa hiểu
   rằng / nếu vâng theo thánh ý Chúa / họ sẽ thu được những kết quả bất ngờ.
4. Đời sống đức tin của người Kitô hữu / không chỉ giới hạn trong việc đọc kinh / tham
   dự thánh lễ / lãnh nhận các bí tích ở nhà thờ / mà còn phải thể hiện ngoài xã hội nữa /
  Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết thể hiện niềm tin của
  mình / bằng đời sống bác ái yêu thương đối với hết thảy mọi người.
     Chủ tế : Lạy Chúa, Chúa đã mời gọi chúng con từ bỏ mình và vác thập giá mà theo
Chúa. Xin cho tất cả chúng con luôn cố gắng thực hiện lời mời gọi quan trọng ngày.
Chúng con cầu xin…
VI. TRONG THÁNH LỄ
      - Trước Kinh Lạy Cha : Chúa Cha đã sai Chúa Giêsu mang Tin Mừng cứu độ cho
loài người. Chúa Giêsu lại kêu mời chúng ta chia xẻ sứ mạng ấy. Cùng với Chúa Giêsu,
chúng ta hãy dâng lời cầu nguyện lên Chúa Cha.
VII. GIẢI TÁN
      "Hãy ra khơi thả lưới". Đó là lời Chúa mời gọi chúng ta. Chúng ta hãy mau mắn
đáp lại như Phêrô xưa. Chúc anh chị em ra đi bình an.
                                 CHÚA NHỰT VI
                                      CHỦ ĐỀ :
                       HẠNH PHÚC ĐÍCH THỰC




                  Chúa Giêsu công bố những mối phúc thật
                                     (Lc 6,17.20-26)
      Minh họa
      - Mille images : 118 C
      - Chúa Giêsu công bố những mối phúc thật (Lc 6,17.20-26)
      Sợi chỉ đỏ :
      Bài đọc Cựu Ước, Đáp ca và bài Tin Mừng hôm nay đều bàn về hạnh phúc và vô
phúc :
      Ngôn sứ Giêrêmia tuyên bố : "Đáng nguyền rủa thay kẻ tin ở người đời…. Phúc
thay kẻ đặt niềm tin vào Đức Chúa" (Bài đọc I) ; Tv 1 có câu "Phúc thay người chẳng
nghe theo lời bọn ác nhân, chẳng bước vào đường quân tội lỗi, không nhập bọn với
phường ngạo mạn kiêu căng, nhưng vui thú với lề luật Chúa" (Đáp ca) ; Trong bài Tin
Mừng, Chúa Giêsu liệt kê những hạng người có phúc và những hạng người vô phúc.
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
      Anh chị em thân mến
      Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta để chúng ta sống hạnh phúc ở đời này và đời sau
lại được hạnh phúc vĩnh viễn bên cạnh Ngài. Bởi thế loài người luôn khát khao hạnh
phúc. Thế nhưng hình như ở đời này hạnh phúc thì ít mà đau khổ thì nhiều ; và có thứ ta
tưởng là hạnh phúc nhưng thực ra lại là bất hạnh.
      Hôm nay Chúa sẽ dạy ta biết thế nào là hạnh phúc thật, và làm thế nào để có được
hạnh phúc thật ấy.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
     - Chúng con thường chỉ biết tìm hạnh phúc trần gian mà lơ là với hạnh phúc muôn
đời.
     - Chúng con thường chỉ tìm hạnh phúc ích kỷ cho bản thân mà không quan tâm xây
dựng hạnh phúc cho tha nhân.
     - Chúng con chưa thực sự tin vào những mối phúc thật mà Chúa công bố.
III. LỜI CHÚA
       1. Bài đọc I (Gr 17,5-8)
       Ngôn sứ Giêrêmia giới thiệu hai con đường : một dẫn đến hạnh phúc và một dẫn tới
bất hạnh :
       - Con đường dẫn đến hạnh phúc là đặt niềm tin nơi Chúa. Ngôn sứ diễn tả hạnh
phúc ấy bằng những hình ảnh thiên nhiên cho dễ hiểu : Người đặt niềm tin vào Chúa là
người đi trên con đường có nước, có bóng cây, có hoa trái…
       - Con đường đưa tới bất hạnh là đặt niềm tin nơi người đời. Người đi trên con
đường ấy chỉ gặp sa mạc khô nóng, đồng khô cỏ cháy, đất mặn, không bóng mát…
       2. Đáp ca (Tv 1)
       Tiêu chuẩn hạnh phúc và bất hạnh theo ngôn sứ Giêrêmia là đặt niềm tin nơi Thiên
Chúa hay loài người. Còn theo tác giả Thánh vịnh 1 thì đó là sống theo Luật Chúa hay là
đi theo quân gian ác.
       3. Tin Mừng (Lc 6,17-26)
       Có thể coi đoạn Tin Mừng này là Bài giảng đầu tiên của Chúa Giêsu trước đông
đảo dân chúng (bài giảng thứ nhất ở quê hương Nadarét, Lc 4,16-30, chỉ giảng cho đồng
hương Ngài nghe).
       Bài giảng này có những điểm giống và những điểm khác với bài giảng trên núi
trong Tin Mừng Matthêu : Trong khi Thánh Mát-thêu ghi lại 8 lời chúc phúc của Chúa
Giêsu, thì thánh Luca chỉ ghi 4 lời chúc phúc kèm theo 4 lời quở trách.
       - Những kẻ được chúc phúc là những người nghèo, đói khát, đang phải khóc lóc, bị
bách hại.
       - Những kẻ bị chúc dữ là những người đang giàu có, no đầy, vui cười, được tâng
bốc.
       Điều nên chú ý là : không phải tự thân sự nghèo nàn khổ sở là hạnh phúc, thực ra
chúng mang lại hạnh phúc vì chúng giúp người ta không dính bén với trần gian để hướng
lòng về Chúa. Cũng không phải tự thân sự giàu có sung sướng là xấu, nhưng chúng có
thể trở thành nguồn bất hạnh khi chúng trói buộc lòng con người vào thế giới vật chất đời
này.
       4. Bài đọc II (1 Cr 15,12-16.20) (Chủ đề phụ)
       Người dân Côrintô chịu ảnh hưởng triết lý hy lạp nên không tin có việc kẻ chết
sống lại.
       Để giúp tín hữu mình tin vào giáo lý ấy. Thánh Phaolô đưa nhiều lập luận :
       - Nếu kẻ chết không thể sống lại thì tại sao Đức Kitô đã chết mà đã sống lại ? Nói
cách khác, việc Đức Kitô phục sinh là bằng chứng rõ ràng về việc kẻ chết sống lại.
     - Đức Kitô không chỉ có khả năng làm cho bản thân Ngài sống lại, mà còn có thể
làm cho tất cả những ai tin vào Ngài được sống lại như Ngài.
     - Nếu chúng ta đặt niềm tin vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi thì chúng ta là
những kẻ đáng thương hơn hết mọi người.
IV. GỢI Ý GIẢNG
      * 1. Hạnh phúc đích thực
      Vào năm 1918, tại Mỹ đã xảy ra một trận dịch cúm tàn sát bao nhiêu sinh mạng.
Các bác sĩ và y tá tối tăm mặt mũi vì công việc, tình cảnh trong các dưỡng đường, bệnh
viện thật là thảm hại. Trong lúc dầu sôi lửa bỏng ấy, các thành viên của một hội thượng
lưu Ở New York quyết đem sức lực ra giúp đồng bào. Họ giàu có và đã lớn tuổi, có thể
chỉ ký một ngân phiếu để giúp bệnh nhân là xong. Nhưng không, họ không những đã bỏ
tiền ra mà còn tình nguyện khoác áo blouse trắng tới bệnh viện cọ sàn, săn sóc tắm rửa
cho các bệnh nhân, vỗ về những gia đình đau khổ mà không ngại mệt nhọc, cũng không
sợ lây bệnh cho chính bản thân.
                                                 *
      Tin Mừng hôm nay trình bày bốn lời chúc phúc cho những kẻ nghèo đói, khóc than,
bị oán ghét, khai trừ, sỉ vả, kèm theo bốn lời nguyền rủa những người giàu có, no nê, vui
cười, được mọi người ca tụng. Đó là những phản dề đối chiếu giữa người nghèo và kẻ
giàu, giữa người đói khát và kẻ no đầy. Đó !à hai giai cấp trong xã hội luôn đối chọi nhau
mà Tin Mừng muốn mô tả để người tín hữu Kitô chọn lựa.
      Một điều rất hiển nhiên là Tin Mừng hướng chúng ta về người xấu số bất hạnh và
cho họ niềm hy vọng hạnh phúc ở tương lai. Tin Mừng không hề lên án người giàu chỉ vì
họ có nhiều tiền của, nhưng chỉ lên án những ai giàu có mà không biết sử dụng của cải
cho đúng, thậm chí còn dùng của cải như chướng ngại vật chặn đứng lối vào Nước Trời.
Giàu có mà hành xử như các thành viên của hội thượng lưu Ở New York trong câu
chuyện còn được Chúa chúc phúc. Họ được hưởng hạnh phúc đời này lẫn đời sau. Bí
quyết của họ rất đơn giản, đó chính là biết chia sẻ và trao ban.
      Chúa Giêsu không lên án của cải nói chung, nhưng lên án cách sử dụng của cải.
Tiền bạc tự nó không có giá trị đạo đức. Nó có thể dùng vào việc tốt cũng như việc xấu.
Tự bản chất, của cải không là những gì xấu xa, và tự bản chất, nghèo khó cũng không
phải là nhân đức.
      Chỉ "khốn cho người giàu có" khi họ không phân định rạch ròi giữa phương tiện và
cùng đích, giữa điều kiện vật chất và định mệnh con người. Đời sống của họ bị nhận
chìm bởi các con sóng là các phương tiện vật chất như áo quần, xe cộ, nhà cửa và các tiện
nghi trong cuộc sống. Đời sống của họ bị đè bẹp bởi các hành trang vật chất chỉ giúp họ
duy trì và phát huy sự sống trong cuộc lữ hành ngắn ngủi của một đời người. Họ quên
rằng con người sống nhờ phương tiện nhưng lại sống cho cùng đích. Và cùng đích của
con người là "Hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả
những thứ kia, Người sẽ thêm cho" (Mt 6,33). Thảm kịch của cuộc sống chính là lo lắng
tìm kiếm phương tiện, và để cho cùng đích tan biến trong phương tiện.
      Chỉ "Khốn cho người giàu có" khi họ không ý thức rằng họ lệ thuộc rất nhiều vào
người khác. Họ mang trong mình căn bệnh vị kỷ, nên không còn thấy rằng của cải cá
nhân là do của cải tập thể đem lại, họ cũng không nhận ra rằng họ đã thừa hưởng một kho
tàng lý tưởng và các tiến bộ mà người đang sống cũng như kẻ đã chết góp phần tạo nên.
Họ nghĩ rằng mình có thể sống sung túc trong thế giới nhỏ bé chật hẹp mà họ là trọng
tâm. Họ là một con người sống theo chủ nghĩa cá nhân cực đoan.
      Dù có ý thức hay không, mỗi người chúng ta là một con nợ đối với người quen biết
cũng như người chưa quen biết. Vậy chúng ta phải trả món nợ ấy ở đâu ? Câu trả lời thật
đơn giản : Cho kẻ đói ăn, cho người trần truồng áo mặc, chăm sóc người đau yếu. Nói
như Martin Luttler King : "Chúng ta có thể cất giữ số thực phẩm dư thừa của chúng ta
trong các bao tử trống rỗng của hàng triệu con cái Thiên Chúa, khi mỗi tối họ phải lên
giường nằm ngủ mà không có gì để ăn".
      Dưới con mắt Chúa, làm giầu một cách lương thiện không phải là tội, tiêu dùng của
cải do mình làm ra không hề là một điều xấu. Nhưng điềm nhiên hưởng thụ và nhắm mắt
làm ngơ trước nỗi khổ của tha nhân lại là một tội ác. Thiên Chúa đã dựng nên trái tim con
người để rung lên những nhịp đập yêu thương, và tặng ban cho con người đôi tay để mở
ra ban phát. Kẻ nào khoá lại trái tim và nắm chặt đôi tay là đi ngược với bản tính con
người mà Chúa đã tạo dựng. Vì thế, ai sống co cụm trong vỏ ốc ích kỷ của mình, kẻ ấy có
thể rất giàu về tiền của nhưng lại thật nghèo trong nhân tính.
      Có nhiều người lẫn lộn giữa hạnh phúc và cái bóng của hạnh phúc ; họ mải mê
chạy theo cái bóng này, để rồi mau chóng thất vọng khi nó vỡ tan như bong bóng xà
phòng.
      Hạnh phúc đích thực không nằm nơi của cải, hay trong những gì mình đã chiếm
hữu, nhưng chính là sự mãn nguyện với những gì mình đã trao ban. Thánh Phaolô viết :
"Cho đi vui sướng hơn nhận lãnh".
      Hạnh phúc đích thực không nằm trong lời ca tụng hay trong chức tước quyền uy,
nhưng chính là sự an bình vui tươi của một lương tâm thanh thản với Chúa, với anh em,
và với chính mình, như lời Thánh Phaolô : "Lương tâm rôi không trách cứ tôi điều gì".
      Một tác giả có viết : "Trong hạnh phúc có mầm đau khổ. Quả thật, hạnh phúc bao
giờ cũng trộn lẫn với mồ hôi và nước mắt. Có hạnh phúc đích thực nào mà không phải trả
giá bằng đau khổ ? Có ai sống trên đời này mà được hạnh phúc trọn vẹn đâu ?
      Điều này giải thích tại sao những gì chúng ta coi là bất hạnh, thì Chúa Giêsu lại cho
là hạnh phúc.
      Chỉ khi nào chúng ta cảm nghiệm được cái nghịch lý của Lời Chúa thì chúng ta
mới có được hạnh phúc đích thực.
      Chỉ khi nào chúng ta dám nghèo vì thanh liêm, đói vì ngay thẳng, khóc vì đại
nghĩa, bị ghét vì nói thật, bi sỉ vả vì danh Chúa, chúng ta mới sống trọn vẹn các mối phúc
thật.
      Chỉ khi nào chúng ta thấy mình giàu lên khi chịu nghèo, no thoả lúc đói khát, vui
cười khi lệ rơi, và hân hoan lúc bách hại, chúng ta mới thực sự nếm cảm niềm hạnh phúc
của Nước Trời.
                                                 *
      Lạy Chúa, hạnh phúc đích thực chính là có một lương tâm an bình, một con tim
biết chia sẻ và một khối óc luôn cảm nghiệm được tình Chúa yêu thương. Xin cho chúng
con luôn đắm chìm trong hạnh phúc được làm con cái Chúa. Amen. (TP)
      * 2. Hạnh phúc hiện tại của người nghèo
      Etienne Charpentier viết :
      "Bài giảng trên núi trong Mt và bài giảng trên cánh đồng của Lc mở đầu bằng
những lời chúc phúc. Nghĩa là sứ điệp của Chúa Giêsu chủ yếu là loan báo hạnh phúc.
Nhưng loan báo cho ai, và như thế nào ?
      Phải đau đớn nhận rằng các lời chúc phúc ấy đã bị hiểu sai và bị lợi dụng làm một
thứ thuốc phiện nhằm ru ngủ nỗi khổ đau và sự nổi loạn của những người nghèo. Người
ta muốn hiểu chúng như sau : "Hỡi những người nghèo, các người hạnh phúc lắm vì các
người được Thiên Chúa yêu thương... vậy cứ tiếp tục nghèo đi ! Hãy chấp nhận thân phận
của các người, rồi một nào đó ở trên trời các người sẽ được hạnh phúc". Nhưng thực ra
Chúa Giêsu nói ngược hẳn lại : "Hỡi những người nghèo, chúng con hạnh phúc, vì từ nay
chúng con không còn nghèo nữa, vì Nước Thiên Chúa là của anh em". (Pour lire le
Nouveau Testament)
      Chúa Giêsu không hứa sẽ ban hạnh phúc cho người nghèo, Ngài loan báo cho
người nghèo biết là họ đang hạnh phúc. Lý do hạnh phúc của họ là tuy họ không có nhiều
tiền bạc của cải, nhưng họ có Nước Thiên Chúa : "Nước Thiên Chúa là của anh em".
      Có Nước Thiên Chúa là có tất cả. "Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì có
ích gì ?"
      * 3. Nghịch lý
      Người ta thường nói "nghèo khổ", nghĩa là cái nghèo và cái khổ đi đôi với nhau ; đã
nghèo thì tất nhiên khổ. Thế mà Chúa Giêsu lại nói "Phúc cho anh em là những kẻ
nghèo". Hình như Chúa Giêsu muốn đảo ngược kiểu nói "nghèo khổ" thành "nghèo
phúc". Thật là nghịch lý !
      Nhưng chuyện nghịch lý không phải là không có trên đời. Thông thường ai cũng
muốn một cuộc sống sang giàu. Thế nhưng có những người lại đi tìm một cuộc sống
nghèo : chẳng hạn như các nho gia cởi áo từ quan, rời bỏ nếp sống tiện nghi nơi thành thị
để tìm nếp sống thanh đạm giữa thiên nhiên ; hay thánh Phanxicô Assisi là con nhà giàu
nhưng từ bỏ tất cả để sống nghèo, lại còn lập cả một huynh đoàn quy tụ những người
muốn sống nghèo như ngài ; hay ngày nay những tu sĩ với lời khấn trọn đời sống nghèo
nàn. Những con người đó không phải điên khùng mà hoàn toàn sáng suốt. Quyết định
sống nghèo của họ không phải do bốc đồng nhất thời mà là kết quả của một thời gian dài
suy nghĩ chọn lựa. Sự chọn lựa ngược đời của họ khiến ta phải suy nghĩ vì chắc hẳn họ đã
nghiệm ra có nhiều điều hay trong cái nghèo nên họ mới chọn lựa như vậy.
      - Dĩ nhiên cái nghèo mà họ chọn lựa không phải là tình trạng túng thiếu : không
đến nỗi phải chết đói, chết khát, chết lạnh, mà chỉ cần tối thiểu để ăn, để uống, để mặc.
"Tri túc, tiện túc" : biết đủ thì đủ.
      - Vì chỉ cần tối thiểu như thế nên lòng họ không bị giao động vì những ham muốn
có thêm. "Túi tham không đáy" : lòng ham muốn sẽ không bao giờ thỏa mãn, nên cứ giao
động hoài.
      - Không tham muốn thêm mà cũng không sợ bị mất, nên người nghèo như thế rất
bình tâm, nhờ đó có thể ăn ngon, ngủ yên.
      - Người nghèo không kiêu căng, không khoe của, không khinh miệt người khác.
      - Người nghèo không cậy dựa vào tiền bạc của cải nên dễ cậy dựa vào Chúa hơn.
      - Có thể người nghèo bị người đời khinh ghét, nhưng bù lại, họ được Thiên Chúa
yêu thương che chở.
      * 4. Những mối phúc của tấm lòng
       Phúc thay ai có lòng thanh sạch, họ sẽ được thấy Chúa.
       Phúc thay ai có lòng khiêm tốn, họ sẽ tìm được sự ngơi nghỉ cho linh hồn.
       Phúc thay ai có lòng ấm áp, họ sẽ tỏa chiếu lòng tốt ra chung quanh.
       Phúc thay ai làm việc với tấm lòng, họ sẽ tìm gặp niềm vui trong công việc.
       Phúc thay ai không ngã lòng, họ sẽ tìm được nghị lực để kiên trì.
       Và phúc thay ai đặt lòng mình vào Nước Thiên Chúa, mọi điều khác sẽ được ban
cho họ. (FM)
       * 5. Nghèo mà giàu
       Khi Chúa Giêsu nói "Phúc cho những người nghèo", Ngài không chúc phúc cho sự
túng thiếu và bần cùng đâu, vì túng thiếu và bần cùng là những điều xấu.
       Điều được chúc phúc chính là sự cậy trông vào Chúa. Ai cậy trông vào những gì
thuộc về loài người thì sẽ bị thất vọng, còn ai cậy trông vào Chúa sẽ chẳng thất vọng bao
giờ. Chỉ một mình Chúa mới có thể đong đầy những chỗ trống của chúng ta. Chỉ một
mình Ngài mới có thể thỏa mãn những đói khát của chúng ta.
       Người giàu thường hay cậy dựa vào tiền bạc của cải của họ. Đối với họ, chỉ có đời
này là quan trọng, còn đời sau hay là Chúa đều là quá xa vời. Trái lại người nghèo thì tự
nhiên dễ hướng về Chúa, cuộc sống càng cơ cực khó khăn thì họ càng cậy dựa vào Chúa
nhiều hơn. Mà ai cậy dựa vào Chúa thì sẽ được Ngài phù hộ chở che.
       Khi người nghèo nhận được một điều gì đó, dù rất tầm thường, họ cũng lấy làm
sung sướng và biết ơn.
       Một hôm, một người nghèo đang đi đường thì gặp một người ăn xin. Người ăn xin
chìa tay xin tiền. Người nghèo này bối rối đáp : "Xin lỗi, tôi chẳng có gì cho bạn, vì tôi
cũng nghèo như bạn". Người ăn xin nói : "Xin cám ơn vì món quà bạn đã cho tôi". Người
nghèo ngạc nhiên họi lại : "Tại sao bạn cám ơn tôi ? Tôi có cho bạn cái gì đâu". Người ăn
mày nói tiếp : "Bạn đã cho tôi sự nghèo nàn, lòng chân thành và sự tin cậy của bạn".
       Đối với Chúa, chúng ta đều nghèo. Nhưng dù nghèo, chúng ta cũng có những món
quà cho Chúa, đó là lòng chân thành, sự cậy trông và chính sự nghèo nàn của chúng ta.
(FM)
       6. Chuyện minh họa
       a/ Tìm lại hạnh phúc
       Tại văn phòng của một Cố vấn Tâm lý, một thiếu phụ vừa trẻ vừa giàu giải bày tâm
sự : "Bất cứ thứ gì tôi muốn thì chồng tôi đều cho cả. Tôi có đủ mọi "sự" nhưng trong
lòng trống vắng vô cùng. Xin bà hãy cho tôi một lời khuyên". Nhà Cố vấn tâm lý không
trả lời, nhưng bảo cô thư ký của bà kể chuyện đời cô. Cô này kể :
       "Chồng tôi đã chết, cách nay ba tháng. Con tôi cũng chết vì xe đụng. Tôi cảm thấy
mất tất cả. Tôi không ngủ được. Tôi không muốn ăn uống. Tôi không bao giờ cười. Một
hôm tôi đi làm về hơi khuya. Có một chú mèo con cứ đi theo sau tôi. Trời lạnh. Tôi cũng
tội nghiệp nó, nên tôi mở cửa cho nó vào nhà. Tôi pha cho nó một ly sữa. Nó kêu meo
meo và cọ mình vào chân tôi. Lần đầu tiên tôi cười. Rồi tôi nghĩ : nếu việc giúp cho một
chú mèo con có thể làm tôi cười, thì việc giúp cho người nào đó chắc có thể làm tôi hạnh
phúc. Thế là hôm sau tôi nướng vài ổ bánh đem cho bà cụ hàng xóm đang bệnh. Mỗi
ngày tôi cố làm vài việc gì đó cho những người tôi gặp được vui vẻ. Và quả thực tôi đã
thấy hạnh phúc. Tôi nghiệm ra được điều này là ta sẽ không hạnh phúc khi ta chỉ chờ
người khác đem lại hạnh phúc cho mình ; ngược lại ta sẽ hạnh phúc thật khi ta làm cho
người khác hạnh phúc".
      Nghe đến đó, người thiếu phụ trẻ bật khóc. Cô đã có bất cứ thứ gì đồng tiền có thể
mua được nhưng cô đã đánh mất những thứ mà đồng tiền không mua nổi. Và cô quyết
định noi gương cô thư ký nọ. (Charlene Johnson).
      b/ Người hạnh phúc nhất
        Nhà vua bị bịnh nặng. Quan ngự y lo lắng, nhưng đành bó tay. Một nhà chiêm
tinh đến bảo vua chỉ khỏi bịnh khi nào được mặc chiếc áo của một người hạnh phúc nhất.
        Quan quân đổ xô đi khắp nước để tìm người hạnh phúc nhất. Cuối cùng thì họ
cũng tìm được một người hạnh phúc thực sự. Nhưng khổ thay, người ấy quá nghèo,
chẳng có lấy một chiếc áo !
      c/ Bí quyết sống vui
      Một vị giám mục nổi tiếng hiền hoà, dễ mến. Khi được hỏi bí quyết, ngài đáp bí
quyết đó là :
      Thứ nhất, tôi nhìn lên trời để nhớ rằng đời tôi phải tới đó.
      Thứ hai, tôi nhìn xuống đất để thấy phần mộ tôi sau này thật nhỏ hẹp.
      Thứ ba, tôi nhìn chung quanh để thấy bao người nghèo khổ mà đáng kính trọng hơn
tôi.
      Thứ bốn, tôi học để biết hạnh phúc thật nằm ở đâu, mọi nổ lực của tôi sẽ chấm dứt
thế nào và những than thở của tôi thật vô cớ biết bao !
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
      Chủ tế : Anh chị em thân mến, phúc thay người đặt niềm tin vào Đức Chúa, và có
Đức Chúa làm chốn nương thân. Cùng với tất cả những ai đặt trọn niềm tin vào Chúa là
Đấng ban hạnh phúc thật sự cho mọi người, chúng ta tha thiết nguyện xin :
1. Hội thánh không ngừng kêu gọi con cái mình sống lời Chúa dạy / đặc biệt là sống theo
   tinh thần Tám mối phúc thật / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi thành viên trong đại
   gia đình Hội thánh xác tín rằng / sống đạo là sống theo Lời Chúa dạy.
2. Trên thế giới ngày nay / người nghèo vẫn chiếm đa số / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho
   các dân tộc được phát triển / để mọi người đều được hạnh phúc ấm no.
3. Là con người / ai cũng mong muốn được hạnh phúc / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho hết
   thảy mọi Kitô hữu hiểu rằng / họ chỉ được hạnh phúc thật sự / qua việc chia sẻ tình
   thương và cơm áo cho những ai đói rách bần cùng.
4. Mọi thực tại ở trần gian này đều chóng qua / không có gì tồn tại mãi mãi ngoài một
   mình Thiên Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / luôn
   nhớ đến chân lý căn bản này / để đừng bao giờ quá bám víu vào của cải vật chất,
   nhưng biết hướng tâm hồn lên cùng Chúa / là nguồn hạnh phúc của hết thảy mọi
   người.
      Chủ tế : Lạy Chúa, chúng con chỉ trở nên người Kitô hữu chân chính khi chúng con
sống lời Chúa. Xin cho chúng con biết yêu mến và sống theo Lời Chúa dạy trong Kinh
thánh, để nhờ đó chúng con tìm được hạnh phúc thật sự trong đời sống thường ngày.
Chúng con cầu xin…
VI. TRONG THÁNH LỄ
      - Trước kinh Lạy Cha : Tất cả những điều Chúa Giêsu dạy chúng ta xin trong Kinh
lạy Cha đều nhằm đem đến cho chúng ta hạnh phúc đích thực. Vậy chúng ta hãy hướng
lòng lên Cha trên trời và sốt sắng đọc lời kinh Chúa dạy.
VII. GIẢI TÁN
      Hôm nay Chúa đã dạy chúng ta biết đâu là hạnh phúc thật và đâu là hạnh phúc giả
trá chóng qua. Ước chi tuần này chúng ta sẽ khôn ngoan, biết tìm kiếm hạnh phúc chân
thật vững bền.
                                CHÚA NHỰT VII
                                      CHỦ ĐỀ :
                         YÊU THƯƠNG KẺ THÙ




                             "Hãy yêu thương kẻ thù
                         và làm ơn cho kẻ ghét anh em"
                                       (Lc 6,27)
      Minh họa
      - Mille images 121 A
      - "Hãy yêu thương kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em" (Lc 6,27)
      Sợi chỉ đỏ :
      Bài đọc I kể chuyện Đavít tha chết cho vua Saun đang lùng bắt mình. Bài đáp ca
mô tả Thiên Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, "chậm giận và giàu tình thương". Trong bài
Tin Mừng, Chúa Giêsu dạy các môn đệ hãy yêu thương kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét
mình.
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
      Anh chị em thân mến
      Lời Chúa hôm nay đề cập đến một vấn đề rất thực tế, đó là đối xử với những kẻ thù
ghét mình. Trong cuộc sống nhiều va chạm, ai trong chúng ta mà không có lần bị người
khác ganh ghét, làm hại ? Nhưng, là môn đệ Chúa, chúng ta phải đối xử với những người
ấy thế nào.
      Xin Chúa giúp chúng ta hiểu Chúa muốn chúng ta sống thế nào.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
      - Chúng con phạm rất nhiều tội nghịch đức yêu thương, như nói hành nói xấu, giận
hờn, ganh ghét, trả đủa, lên án anh chị em…
      - Chúng con ít biết tha thứ, nhường nhịn
      - Hiện giờ trong lòng chúng con vẫn còn ác cảm với một số người…
III. LỜI CHÚA
       1. Bài đọc I (1 Sm 26,2.7-9.12-13.22-23)
       Vua Saun dẫn một đạo quân đông tới ba ngàn người đi lùng bắt Đavít. Một đêm,
Saun nằm ngủ mê mệt trong trại thì Đavít đột nhập vào. Người tùy tùng của Đavít thấy
đây là dịp may hiếm có nên xúi Đavít giết chết Saun. Nhưng Đavít không nghe theo. Ông
chỉ lấy cây giáo của Saun rồi sang phía bên kia hô lớn bảo Saun thức dậy cho người sang
lấy lại ngọn giáo. Việc này khiến vua Saun cảm động và phải thừa nhận Đavít là người
sau này sẽ hoàn thành nghiệp lớn.
       2. Đáp ca (Tv 102)
       Thánh Vịnh 102 ca tụng Thiên Chúa là Đấng từ bi nhân hậu : tha thứ muôn ngàn tội
lỗi, chữa lành các vết thương, chậm giận và giàu tình thương, không trả báo ta xứng với
lỗi lầm…
       3. Tin Mừng (Lc 6,27-38)
       1. Những lời Chúa Giêsu dạy về cách đối xử với kẻ thù ghét mình :
       - Đừng thù ghét lại nhưng hãy yêu thương, làm ơn, chúc phúc và cầu nguyện cho
họ.
       - Đừng trả đũa nhưng hãy nhường nhịn.
       2. Những lời dạy về cách đối xử với tha nhân cách chung :
       - Làm ơn và cho đi mà không cần đáp trả.
       - Cư xử nhân hậu
       - Đừng xét đoán và kết án.
       - Hãy tha thứ.
       3. Lý do của tất cả những cách cư xử trên là vì Cha trên trời : "Các con hãy ở nhân
từ như Cha các con là Đấng nhân từ" ; "Đừng xét đoán thì các con sẽ khỏi bị (Cha trên
trời) xét đoán, hãy tha thứ thì các con sẽ được (Cha trên trời) tha thứ ; hãy cho thì (Cha
trên trời) sẽ cho lại các con…"
       4. Bài đọc II (1 Cr 15,45-49) (Chủ đề phụ)
       Thánh Phaolô so sánh Chúa Giêsu với nguyên tổ Ađam : Ađam bởi đất mà ra, Chúa
Giêsu từ trời mà đến ; Ađam chỉ có sinh khí, còn Chúa Giêsu có cả thần khí. Rồi thánh
Phaolô cho tín hữu biết rằng họ chẳng những được mang hình ảnh của Ađam mà còn
được mang hình ảnh của Chúa Giêsu nữa.
IV. GỢI Ý GIẢNG
      * 1. Tình huynh đệ, nghĩa cha con
      Phải công nhận rằng những điều Chúa Giêsu dạy trong đoạn Tin Mừng này là quá
khó : khi bị người khác làm hại, chúng ta chẳng những không được trả thù mà còn phải
tha thứ, và hơn nữa còn phải làm ơn cho họ.
       Nhưng sở dĩ khó là vì chúng ta coi "người ấy" chỉ là "người dưng". Nếu chúng ta
coi người ấy là "anh em" thì sẽ dễ hơn một phần. Và nếu chúng ta biết nghĩ đến "Cha
chung" thì lại càng dễ hơn nữa.
       Thực ra, tình thương mà người môn đệ đem ra đối xử với kẻ làm hại mình không
phải là tình thương nghèo nàn có sẵn trong tim mình, mà là tình thương bắt nguồn từ con
tim của Cha mình, tức là Thiên Chúa, "Đấng vẫn nhân hậu với cả phường vô ân và quân
độc ác".
       Khi chúng ta đối xử bằng tình thương của Thiên Chúa như thế thì chúng ta càng là
con của Ngài hơn, và càng là anh em của tha nhân hơn. Đúng như lời Chúa Giêsu nói
"Chúng con sẽ là con của Đấng tối cao".
       Và khi chúng ta rộng lượng với anh em mình như thế, thì Cha trên trời sẽ càng rộng
lượng hơn đối với chúng ta : "Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và
đầy tràn mà đổ vào vạt áo anh em".
       Giáo huấn của Tin Mừng không phải dành cho những kẻ muốn làm anh hùng hay
siêu nhân, mà dành cho những ai muốn làm con Thiên Chúa và làm anh em của nhau.
       * 2. Tình yêu mặc khải
       Chúa Giêsu không phải là một nhà huấn đức, mà là một Đấng mặc khải. Nói cách
khác cho dễ hiểu hơn, Ngài không nhằm dạy cho chúng ta biết những điều tốt, việc tốt,
mà nhằm cho chúng ta biết Đấng tốt lành vô cùng.
       Muốn thực sự hiểu biết ai thì phải thử sống như người đó, nghĩ như người đó và
làm như người đó.
       Khi chúng ta thực hành những điều Chúa Giêsu chỉ dạy trong bài Tin Mừng này thì
chúng ta sẽ hiểu Thiên Chúa là thế nào. Chẳng những thế, chúng ta còn trở nên giống như
Thiên Chúa.
       Và khi chúng ta sống như Thiên Chúa, chúng ta sẽ mặc khải cho người khác biết
Thiên Chúa là thế nào.
       * 3. Tha thứ là trao ban hai lần
       Chuyện "Nghìn Lẻ Một đêm" của Ba Tư có kể lại một phiên toà như sau :
       Có hai người anh em ruột bắt trói được thủ phạm giết cha mình. Họ đem tên sát
nhân đến trước quan toà và yêu cầu xử theo luật "mắt đền mắt răng thế răng". Kẻ sát
nhân đã dùng đá để ném chết cha họ, thì hắn cũng phải bị ném đá theo như luật định.
       Trước mặt quan toà, tên sát nhân nhận tội và sẵn sàng chịu hình phạt. Chỉ xin hoãn
ba ngày để hắn về giải quyết vấn đề liên quan đến một người cháu được ký thác cho hắn
trông coi từ nhỏ. Giữa lúc quan toà đang do dự, thì từ trong đám đông dự phiên toà có
một người giơ tay cam kết : "Tôi xin đứng ra bảo đảm cho lời cam kết của tử tội. Nếu sau
ba ngày, hắn không trở lại, tôi sẽ chết thay cho hắn".
       Tên tử tội được tự do trong ba ngày để giải quyết việc gia đình. Đúng kỳ hạn, giữa
lúc mọi người đang chờ đợi để chứng kiến cuộc hành quyết, hắn hiên ngang tiến ra pháp
trường, dõng dạc tuyên bố : "Tôi đã giải quyết việc gia đình. Giờ đây, đúng theo lời cam
kết, tôi xin trở lại để chịu tội. Tôi muốn trung thành với lời cam kết của mình để người ta
sẽ không nói : Chữ tín không còn trên mặt đất này".
       Sau lời phát biểu hùng hồn của tử tội, người đàn ông bảo lãnh cho hắn cũng ra giữa
đám đông tuyên bố : "Phần tôi, sỡ dĩ tôi đứng ra bảo lãnh cho người này vì tôi không
muốn để cho người ta nói : "Lòng quảng đại không còn trên mặt đất này".
       Sau hai lời tuyên bố trên, đám đông bỗng trở nên thinh lặng. Dường như ai cũng
cảm thấy được mời gọi để thể hiện những gì là cao quí nhất trong trái tim con người.
       Từ giữa đám đông, hai người thanh niên bỗng tiến ra nói với quan toà : "Thưa ngài,
chúng tôi xin tha cho kẻ đã giết cha chúng tôi, để người ta sẽ không còn nói : "Lòng tha
thứ không còn hiện hữu trên mặt đất này".
                                                  *
       Tha thứ là một cử chỉ anh hùng, là một nỗ lực vượt thắng tình cảm tự nhiên, phản
ứng thường tình của con người, để bước vào thế giới siêu nhiên của những người con
Chúa, sống nhân hậu và hoàn thiện như Cha trên trời.
       Tha thứ là thể hiện cao cả nhất của tình yêu. Nếu yêu thương là trao ban thì tha thứ
còn lớn hơn cả trao ban, vì tha thứ là trao ban cho kẻ thù của mình.
       Quả thật, tha thứ là trao ban hai lần. Nếu chúng ta có thể cho đi của cải mình, có thể
cho đi chính mạng sống mình vì người mình yêu, thì tha thứ còn ca cả hơn rất nhiều, vì
tha thứ là trao ban cho kẻ thù của mình.
       "Hãy yêu kẻ thù". Đó là lệnh truyền đã được Chúa Giêsu nhắc lại hai lần trong bài
tin Mừng hôm nay. Đó cũng là lệnh truyền khó thi hành nhất trong các lệnh truyền của
Người. Khó nhưng không phải là không có thể. Chính Người đã làm gương cho chúng ta
khi Người xin Cha tha thứ cho những kẻ hành hạ mình. Hơn nữa, Người còn minh oan
cho họ : "Vì họ lầm chẳng biết".
       Chính hành vi cao cả này mà Chúa Giêsu đã thể hiện trọn vẹn tình yêu của Thiên
Chúa. Và đó cũng là nét cao quí nhất trong dung mạo của Đấng Cứu Thế. Người đến để
yêu thương và cứu chuộc con người, Người đến để tha thứ và đem lại cho con người cơ
may để sám hối và canh tân, để tái tạo và phục sinh với Người.
       Nhưng tại sao chúng ta phải yêu kẻ thù ? Yêu người yêu mình thì dễ, ai lại đi yêu
kẻ làm hại mình bao giờ. Theo triết gia Nietzsche thì lời khuyên "Hãy yêu kẻ thù" chỉ
dành cho người bạc nhược, nhát đảm. Và Chúa Giêsu chính là con người quá lý tưởng,
thiếu thực tế.
       Không, Chúa Giêsu không phải là con người quá lý tưởng để quên mất thực tế,
Người là con người thực tế đích thực.
       Người xưa có câu : "Ác giả ác báo", làm điều ác thì sẽ gặp điều ác. Lấy oán báo
oán chỉ tăng thêm hận thù mà thôi. Chỉ có ánh sáng mới xoá tan được bóng tối. Chỉ có
tình thương mới dập tắt được hận thù. Nếu chúng ta không sống theo lời dạy của Chúa
Giêsu thì phản ứng dây chuyền của sự ác là hận thù sẽ tăng thêm hận thù, bạo lực sẽ kéo
theo bạo lực, và tất cả chúng ta sẽ rơi vào hố sâu diệt vong như cơn lốc xoáy ập tới tiêu
diệt mọi người.
       Hận thù gây tác hại cho chính con người oán ghét kẻ khác. Nó làm tổn thương tinh
thần của người oán thù, đồng thời, huỷ diệt nhân cách của chính họ. Bacon viết : "Khi trả
thù, người ta biến mình bằng kẻ thù. Còn khi tha thứ, người ta vượt cao hơn họ".
       Tâm lý học ngày nay khẳng định : "Hận thù thì huỷ diệt, còn yêu thương thì phát
triển nhân cách hết sức lạ lùng và hữu hiệu".
       Cuối cùng, tình yêu có phép mầu sẽ biến kẻ thù thành bạn hữu. Nếu hận thù là huỷ
diệt, thì tình yêu là xây dựng. Abraham Lincoln có nói : "Biến thù thành bạn, phải chăng
là tiêu diệt kẻ thù rồi ?" Đó chính là sức mạnh của tình yêu, sức mạnh có tính sáng tạo và
cứu độ.
       Đối với người tín hữu Ki tô, lý do căn bản nhất để chúng ta yêu thương kẻ thù
chính là Lời Chúa trong Luca đoạn 6 câu 35 : "Anh em hãy yêu kẻ thù... Như vậy phần
thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao, và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao". Chúng ta sẽ
không bao giờ là con cái đích thực của Cha trên trời, nếu chúng ta không yêu thương kẻ
thù và cầu nguyện cho kẻ ngược đãi chúng ta.
                                                 *
       Lạy Chúa, xin ban cho chúng con một trái tim nhân từ như Chúa, để chúng con
vượt qua mọi oán hờn nhỏ nhen, mọi trả thù ti tiện, hầu mặc lấy tâm tình bao dung nhân
hậu của Người.
       Xin cho chúng con cảm nghiệm được tình yêu sâu xa của Chúa, để chúng con thật
tình tha thứ cho nhau. Amen. (TP)
       * 4. Yêu thương kẻ thù
       Ở Belfast có một gia đình kia. Người chồng bị bắn chết đang khi lái xe đến nhà thờ
dự lễ. Sau đó ít lâu, người vợ cùng đứa con đến nhà thờ cầu nguyện. Đứa con hỏi :
       - Mẹ ơi, không biết người đã bắn chết cha con có được lên thiên đàng không hở
mẹ ?
       Câu hỏi khiến người mẹ bị bất ngờ. Suy nghĩ một lát, bà trả lời :
       - Nếu người đó thành thật sám hối thì Chúa cũng tha thứ và cho lên thiên đàng.
       Đứa con rất khó chịu :
       - Nếu có người đó trên thiên đàng thì con không muốn lên thiên đàng đâu.
       Người mẹ càng bối rối hơn nữa. Bà lại suy nghĩ, rồi nói :
       - Nếu Chúa đã tha cho ông ta, thì Ngài cũng sẽ đổi lòng ông ta, khiến ông ta không
còn dễ ghét nữa mà thành dễ thương.
       Lúc đó đứa con mới thoả mãn. Nó nói với mẹ :
       - Vậy thì mẹ con mình hãy cầu nguyện cho ông ta đi.
       Bài học quan trọng nhất của đoạn Tin Mừng hôm nay là làm thế nào để chống lại
sự ác mà không cần trả thù.
       Hầu hết chúng ta nghĩ rằng chỉ cố gắng đừng trả thù là đủ rồi. Nhưng Chúa Giêsu
đòi hỏi chúng ta nhiều hơn thế, Ngài còn muốn chúng ta yêu thương kẻ thù nữa. Mặc dù
việc này rất khó, nhưng chúng ta thấy bà mẹ Belfast đã làm được, và đứa con nhỏ của bà
cũng làm được.
       Chỉ xét trên bình diện nhân loại thôi thì giáo huấn của Chúa Giêsu cũng rất hữu
ích : đà leo thang của sự ác chỉ có thể bị dừng lại bằng việc tiêu hủy nó chứ không phải
bỏ qua nó. Trả thù và trả đũa là lấy ác báo ác. Khi chọn thái độ báo thù thì chúng ta bị thù
hận làm nhiễm độc. Khi nuôi lòng hận thù trả thù, chúng ta phải tiêu hao nhiều năng lực.
Trả thù chỉ thỏa mãn được sự tức giận của ta nhưng lại làm cho con tim ta trống rỗng.
Oscar Wilde viết : "Khi Chúa Giêsu dạy hãy tha thứ cho kẻ thù là Ngài không nhằm đến
lợi ích của kẻ thù mà nhắm đến lợi ích của chính bản thân ta. Hơn nữa yêu thương thì đẹp
hơn thù hận rất nhiều".
       Nếu lòng thù hận làm tiêu hao năng lực thì ngược lại lòng yêu thương tăng cường
nghị lực trong chúng ta. Một trong những việc khó làm nhất là yêu thương kẻ ghét mình.
Nhưng tình yêu chân thật là yêu thương cả người khó thương hay không thể thương
được. Chỉ người nào rất giàu năng lực mới làm được như thế. Mà việc này có thể làm
được, bởi vì sức mạnh của yêu thương lớn hơn sức mạnh của hận thù.
       Dù sao thì tha thứ cho kẻ đã làm hại mình là một việc rất khó. Khi bị làm hại, làm
sao trong lòng ta không có những cảm giác đau đớn, đắng cay và ý định muốn trả thù ?
Muốn vượt thắng cảm giác và ý định đó, cần phải chiến đấu rất nhiều. Cầu nguyện chính
là sức tăng viện giúp ta chiến thắng. Bởi đó Chúa Giêsu bảo chúng ta hãy cầu nguyện.
(FM)
       * 5. Đừng xét đoán
       Chúng ta rất dễ xét đoán người khác. Thế nhưng Chúa Giêsu khuyến cáo rằng khi
ta xét đoán người khác tức là ta xét đoán chính mình : "Anh em đừng xét đoán thì anh em
sẽ không bị xét đoán".
       Câu chuyện sau đây có thật :
       Một buổi sáng, vị Linh mục đang dâng Thánh lễ thì thấy một người đàn bà đến trễ.
Cha rất bực bội nên khi bà này lên rước lễ thì Cha không trao Mình Thánh Chúa. Điều
này làm cho bà rất đau lòng.
       Thực ra bà là người rất ham dự Lễ. Từ trước tới nay bà không bao giờ đi trễ. Nhưng
hôm nay chồng bà đột ngội ngã bệnh ; đứa con gái tàn tật lại lên cơn. Bà phải nán lại để
chăm sóc chồng con. Nguyên việc trễ lễ đã là một mất mát rất lớn đối với bà rồi. Thế mà
Cha lại không cho bà rước lễ !
       Sở dĩ vị Linh mục làm thế là vì ngài đã xét đoán một cách hồ đồ. Và cách làm của
Ngài chính là lời kết án tính hồ đồ của Ngài.
       Câu chuyện trên phải là một sự cảnh cáo chúng ta đừng xét đoán cách hồ đồ. Thực
ra, xét đoán là một điều rất khó. Muốn xét đoán cho đúng thì ta phải thấy đầy đủ hết mọi
khía cạnh của sự việc. Thấy mọi khía cạnh của sự việc cũng chưa đủ, cần phải hiểu thêm
về hoàn cảnh và động cơ thâm sâu của sự việc đó nữa. Trong khi đó, thường chúng ta chỉ
thấy một phương diện thôi, và chỉ thấy bề ngoài thôi. Tóm lại, chúng ta chưa có đủ yếu tố
để xét đoán.
       Chắc ai trong chúng ta cũng có lần là nạn nhân bị người khác xét đoán. Hãy nhớ lại
xem khi đó chúng ta đau khổ như thế nào. "Điều gì bạn không muốn người khác làm cho
bạn thì bạn đừng làm cho người khác" (Hillel).
       Vả lại, ai trong chúng ta mà không cần được Thiên Chúa xét đoán khoan hồng, bởi
vì "Nếu Chúa chấp tội thì ai nào đứng vững được ?" Vì thế chúng ta cũng phải khoan
hồng với anh em chúng ta. "Anh em đong bằng đấu nào thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho
anh em bằng đấu ấy" (FM)
       * 6. Hãy cho mà không mong được đáp trả
       "Thiên Chúa sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và tràn đầy mà đổ
vào vạt áo của anh em".
       Trong câu nói trên, Chúa Giêsu đã dùng một hình ảnh quen thuộc trong nghề nông.
Hay nói rõ hơn, đó là trong việc đong lúa : những người gian lận hoặc keo kiệt thì dùng
loại đấu thiếu dung lượng ; chẳng những thế khi đong thì đong vội vã để lúa chưa kịp
lóng xuống mà đấu đã đầy tới miệng. Còn người công bình và rộng lượng thí dùng đấu
chính xác, lại còn dằn, còn lắc để lúa trong đấu càng nhiều càng tốt.
       Chúa Giêsu đã dùng hành ảnh ấy để khuyến khích chúng ta đối xử rộng lượng. Nếu
chúng ta rộng lượng thì sẽ được Thiên Chúa rộng lượng lại gấp bội.
       Viktor Frankl là một tù nhân trong trại tù Auschwitz thời Quốc Xã Đức. Ông kể lại
rằng một người trong trại tù mà ông lấy làm sung sướng nhất mỗi khi được gặp, đó là anh
đầu bếp F. Khi tới giờ ăn, mỗi tù nhân bưng một cái tô, xếp hàng tới lãnh cháo nơi các
đầu bếp. Các đầu bếp kia thường nhìn mặt tù nhân, hễ gặp người nào mà hắn có cảm tình
thì hắn múc cho một tô đầy, còn người nào mà hắn không ưa thì chỉ được một tô lưng.
Riêng anh đầu bếp F này thì chẳng nhìn mặt ai cả, ai đưa tô ra anh cũng đều múc đầy.
       Tại sao anh F làm như thế ? Viktor Frankl không biết. Nhưng ta có thể đoán là anh
F cũng là một tù nhân, trước đây cũng đã phải bưng tô chờ các đầu bếp đong cháo, một
số lần bị đong lưng và một số lần được đong đầy. Nay anh được làm đầu bếp và được
trao trách nhiệm đong cho người khác, anh làm theo lời Chúa Giêsu nói "Anh em muốn
người ta làm gì cho mình thì hãy làm cho người ta như vậy".
       Chúng ta càng mở rộng cửa lòng cho người khác thì lòng chúng ta càng được mở
rộng để đón nhận ơn ban của Chúa. Cái đấu chúng ta dùng để đong cho người khác cũng
là cái đấu Chúa dùng để đong cho chúng ta. (FM)
       * 7. Chuyện minh họa
       Solzhenitsyn kể một chuyện sau đây xảy ra trong thời Thế chiến thứ hai :
       Khi đó là tháng 12 năm 1943. Chiến sự đang diễn ra ác liệt trong lúc tuyết rơi tầm
tã đến nỗi người ta không nhìn rõ mặt nhau. Có hai người lính nằm bên cạnh nhau. Phía
trước có bóng một người mà họ nghĩ là quân địch. Hai người lính này chỉa súng về phía
đó nhả đạn. Họ khuyến khích nhau bắn cho hăng, họ chuyền đạn cho nhau, thỉnh thoảng
còn chia nhau khi thì chai nước khi thì gói thuốc hút.
       Một lúc sau, cái bóng phía trước biến mất. Hai người lính tạm nghỉ, bỏ súng trường
xuống, cởi nón sắt và áo khoác ra. Lúc đó họ mới có dịp nhìn rõ nhau. Một anh đeo quân
hiệu con đại bàng, anh kia đeo ngôi sao. Thì ra một anh là lính Đức, một anh là lính Nga,
tức là hai kẻ thù của nhau. Lập tức hai người nhảy một bước ra xa nhau, rút súng ngắn
chỉa về phía người kia. May là súng không nổ vì trời quá lạnh. Hai người xông vào ôm
nhau vật lộn. Vật chán rồi mệt quá nằm lăn ra tuyết.
       Diễn biến sự việc có nhiều điều đáng ta suy nghĩ : a/ Hai người lính ấy đã vật lộn
với nhau không phải vì chính trị, cũng chẳng phải vì lòng yêu nước, mà chỉ vì họ đều là
nạn nhân của một suy nghĩ sai lầm và mù quáng "Nếu ta thương xót kẻ thù thì kẻ thù sẽ
giết chết ta" ; b/ Câu chuyện còn cho thấy một sự thật khác nữa, đó là : kẻ thù cũng dễ
thành bạn, mà bạn cũng dễ thành kẻ thù, bởi vì trong kẻ thù cũng có một cái gì đó mà ta
thích, và trong người bạn cũng có một cái gì đó mà ta không ưa. (FM)
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
      Chủ tế : Anh chị em thân mến, Thiên Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người làm cho
mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên kẻ dữ cũng
như người lành. Tin tưởng vào tình thương hải hà của Chúa, chúng ta cùng dâng lời cầu
xin :
1. Hội thánh luôn kêu gọi con cái mình triệt để tuân giữ luật bác ái của Chúa / Chúng ta
   hiệp lời cầu xin cho mọi thành viên trong đại gia đình Hội thánh / luôn chân thành yêu
   thương nhau.
2. Trên thế giới ngày nay / hận thù và bạo lực vẫn còn đang ngự trị trong đời sống của
   nhân loại / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho đức bác ái Kitô giáo / thâm nhập vào mọi
   sinh hoạt trần thế / để hết thảy mọi người được sống trong hòa bình và an vui.
3. Anh em phải có lòng từ bi như Cha anh em là Đấng từ bi / Chúng ta hiệp lời cầu xin
   cho người Kitô hữu biết chân thành lắng nghe / và cố gắng sống theo Lời Chúa Giêsu
   đã dạy trong Tin mừng.
4. Anh em đừng xét đoán / thì sẽ khỏi bị Thiên Chúa xét đoán / Chúng ta hiệp lời cầu xin
   cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết can đảm từ bỏ tật xấu hay xét đoán người khác
   cách bất công / vì không ai là người hoàn toàn vô tội trước mặt Thiên Chúa là Đấng
   vô cùng thánh thiện.
      Chủ tế : Lạy Chúa, xin hãy dùng chúng con như khí cụ bình an của Chúa, để chúng
con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi
tranh chấp, và đem chân lý vào chốn lỗi lầm. Chúng con cầu xin
VI. TRONG THÁNH LỄ
     - Trước kinh Lạy Cha : Trong số 7 lời xin trong Kinh Lạy Cha, Chúa Giêsu đặc biệt
nhấn mạnh đến lời xin ơn biết tha thứ. Chúng ta cũng hãy tha thiết xin Cha trên trời giúp
chúng ta biết tha thứ cho anh chị em chúng ta.
VII. GIẢI TÁN
     Thánh lễ đã xong, anh chị em hãy ra về và nhớ thực hiện lời Chúa dạy : "Hãy yêu
thương kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em".
                                 CHÚA NHỰT VIII
                                        CHỦ ĐỀ :
                   CẨN THẬN VỀ VIỆC XÉT ĐOÁN




                               "Xem quả thì biết cây"
                                         (Lc 6,44)
      Minh họa
      - Mille images : 84 B
      - "Xem quả thì biết cây" (Lc 6,44)
      Sợi chỉ đỏ :
      Cuối bài Tin Mừng tuần trước, Chúa Giêsu khuyến cáo đừng xét đoán. Lời Chúa
hôm nay nói tiếp về đề tài xét đoán :
      - Trước khi xét đoán người khác thì phải tự xét đoán bản thân (Bài Tin Mừng)
      - Phải xét đoán cẩn thận dựa trên nguyên tắc nhân quả, vì "xem quả thì biết cây"
(Bài đọc I và Bài Tin Mừng)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
      Anh chị em thân mến
      Bắt đầu mỗi Thánh lễ, chúng ta đều được kêu gọi hãy kiểm điểm lương tâm và
nhận biết tội lỗi. Không phải nhận biết tội lỗi của người khác mà tội lỗi của chính mình ;
nhận biết như thế rồi không phải để trách người khác mà để tự trách mình và nhận lãnh
trách nhiệm của mình mà sửa đổi.
      Giờ đây mỗi người chúng ta hãy kiểm điểm lương tâm và thành tâm sám hối.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
      - Chúng con thường làm ngơ trước khuyết điểm của mình, nhưng lại khắt khe với
lỗi lầm của người khác.
      - Chúng con hay phê phán và lên án người khác.
      - Chúng con thường sống giả hình.
III. LỜI CHÚA
       1. Bài đọc I (Hc 27,4-7)
       Sách Huấn ca gom góp những giáo huấn giúp sống khôn ngoan. Trong trích đoạn
hôm nay, giáo huấn nhắm đến lời nói :
       - Lời nói bộc lộ cái dở của một con người
       - Nghe người ta nói, ta mới biết rõ ai rởm ai hay.
       - Chớ vội khen hay chê khi chưa nghe người ta nói.
       2. Đáp ca (Tv 91)
       Người công chính thật được nhìn thấy qua cuộc sống tốt lành của mình : họ như
cây dừa tươi tốt được trồng nơi Nhà Chúa, già cỗi rồi vẫn sinh hoa kết quả, tràn đầy nhựa
sống, cành lá xanh rờn.
       3. Tin Mừng (Lc 6,39-45)
       Trong đoạn Tin Mừng này, Chúa Giêsu dạy cho môn đệ mình 3 điều :
       - Dụ ngôn người hướng dẫn mù và cái xà trong mắt : Nếu người môn đệ Chúa mà
mù quáng thì sẽ dẫn người khác đi vào sai lầm. Bởi thế, trước khi sửa lỗi người khác, mỗi
người hãy tự sửa lỗi của mình.
       - Dụ ngôn Cây và Trái (cc 43-44) : Chỉ có thể tránh nguy hiểm giả hình nếu như
hành động bề ngoài của ta hợp với bên trong của ta. Đối với biệt phái và luật sĩ, một hành
động được coi là tốt khi nó phù hợp với Luật. Chúa Giêsu sâu sắc hơn : một hành động là
tốt, khi nó hợp với một tâm hồn tốt, một tâm hồn tốt sẽ sinh ra những hành động tốt.
       - Dụ ngôn kho tàng trong lòng (c 45) : Chúa Giêsu so sánh cõi lòng con người như
một kho tàng. Nó là nơi xuất phát những lời nói và việc làm hoặc tốt hoặc xấu. Từ kho
tàng tốt thì sẽ phát ra những lời nói việc làm tốt. Bởi thế người môn đệ phải liệu làm sao
cho kho tàng lòng mình chứa đầy những điều tốt. Những điều tốt phải chứa trong kho
tàng lòng mình là gì ? Đó là những giáo huấn của Chúa Giêsu.
       4. Bài đọc II (1 Cr 15,54-58) (Chủ đề phụ)
       Đây là đoạn cuối của chương 15 thư I Côrintô bàn về vấn đề kẻ chết sống lại. Trong
đoạn này, Thánh Phaolô rút ra những hệ luận từ tín điều sống lại :
       - Cuối cùng Tử thần cũng phải bị đánh bại.
       - Tín hữu hãy kiên tâm bền chí, tích cực tham gia vào công việc của Chúa, bởi xác
tín rằng trong Chúa thì mọi khó nhọc sẽ không trở nên vô ích.
IV. GỢI Ý GIẢNG
      * 1. Bàn về lời nói
      Ben Sira, tác giả sách Huấn Ca, cho rằng lời nói có giá trị bộc lộ sự thật : dựa vào
lời nói của một người, ta có thể biết người ấy thực ra là dở hoặc hay. Hơn nữa, lời nói của
một người còn giúp ta hiểu được lòng của người đó.
      Nhưng Chúa Giêsu thì dạy khác : điều quan trọng không phải là nói, mà là làm.
Ngài đã trách các kinh sư do thái rằng "Họ nói mà không làm" (Mt 23,3).
      Không phải giáo huấn của Cựu Ước và Tân Ước nghịch nhau. "Lời nói" mà Ben
Sira đề cập là lời thốt ra cách hồn nhiên, chân thành, chưa bị ngụy trang hay uốn nắn bởi
những toan tính quanh co.
      Ngày nay người ta phát triển những kỹ thuật để nghiên cứu và khảo sát lời nói :
phân tích từng chữ từng câu để khám phá ý nghĩa thật. Các nhà phân tâm còn tìm cách
cho bệnh nhân nói để chữa trị tâm bệnh của họ.
      Lời khuyên của Ben Sira có lẽ không hợp nếu ta dùng nó để xét đoán lời nói của
người khác, nhưng rất hữu ích nếu ta dùng để tự xét đoán bản thân :
      - Tôi thường nói những chuyện gì ? Nói nhiều về một vấn đề chứng tỏ tôi quan tâm
nhiều hay bị ám ảnh bởi vấn đề đó.
      - Tôi thường phê bình chỉ trích hay khích lệ, ủi an ? Điều này giúp tôi biết tôi là
người hẹp hòi hay rộng lượng ; là người gây chia rẻ xáo trộn hay là người kiến tạo bình
an.
      - Khi nói về bản thân, giọng điệu của tôi thế nào ? Điều này cho thấy tôi kiêu căng
hay khiêm tốn.
      * 2. Sửa mình trước khi sửa người
      Chúa Giêsu chỉ rõ một thực tế rất thông thường : Thấy cái rác nhỏ xíu trong mắt
người khác thì dễ hơn thấy cái xà to tướng nằm ngay trong mắt mình. Thấy khuyết điểm
của người khác dễ hơn nhận ra khuyết điểm của mình.
      Lý do là mình thường dễ dãi với bản thân và khắt khe với người khác. Đó là
khuynh hướng tự nhiên. Nhưng đó là một căn bệnh : bệnh mù quáng, bệnh lệch lạc.
      Ta có thể áp dụng giáo huấn của Chúa Giêsu vào hai trường hợp :
      - Áp dụng cho chính bản thân : hãy cẩn thận đừng phê phán người khác, vì chưa
chắc gì mình đã tốt hơn ai.
      - Khi lãnh trách nhiệm lãnh đạo : vì trách nhiệm mà nhiều khi ta phải sửa lỗi người
khác. Để cho lời nói của ta không là giả hình, để cho lời sửa dạy của ta có sức thuyết
phục, ta hãy lo sửa đổi bản thân trước, nhờ đó ta trở thành một tấm gương, và tấm gương
đó hỗ trợ khiến cho lời sửa đổi của ta đáng được người khác nghe theo.
      * 3. Cây đời xanh tươi
      Triệu Quát là con trai cha Triệu Xa - một danh tướng thời Chiến Quốc - thời trai trẻ
từng đọc rất nhiều binh thư. Là một người khá thông minh, thích nói về quân sự, người
khác không nói lại được, cha anh là Triệu Xa đôi khi cũng không tranh luận nổi với anh.
Do đó, anh tỏ ra kiêu ngạo, tự cho mình là giỏi nhất thiên hạ.
      Tuy nhiên Triệu Xa lại rất lo lắng cho con mình, ông cho rằng Triệu Quát chẳng
qua chỉ nói phét. Ông còn nói : "Sau này nước Triệu không nên dùng nó, kẻo nó sẽ làm
cho quân Triệu đại bại".
      Quả thật, khi quân Tần sang xâm lược, vua Triệu quyết định cử Triệu Quát thay thế
Liêm Pha. Lạn Tương Như đang bệnh cũng phản đối : "Triệu Quát chẳng qua chỉ là đọc
được một số sách binh thư của cha mình, căn bản không biết vận dụng thế nào, không thể
cử hắn làm tướng". Mẹ của Triệu Quát cũng đến gặp vua Triệu nói rằng con mình không
thể làm đại tướng.
       Nhưng vua Triệu không nghe, vẫn cử Triệu Quát ra tiền tuyến nghênh địch, hậu
quả là 40 vạn quân Triệu chỉ trong chốc lát đã bị tiêu diệt hoàn toàn, bản thân Triệu Quát
cũng tử trận thê thảm.
                                                 *
       "Mù mà lại dẫn mù được sao ? Lẽ nào cả hai lại không sa xuống hố" (Lc 6, 39).
Làm nhà lãnh đạo hay người hướng dẫn phải có đủ tài đức ; phải sáng suốt trong tư
tưởng, khôn ngoan trong lời nói, và liêm chính trong việc làm, để khỏi dẫn đưa người
khác cũng như chính mình vào con đường lầm lạc hay diệt vong. Những kẻ khoác lác,
dối trá, giả hình có thể nhất thời lừa bịp được một số người, nhưng sớm muộn cũng sẽ bị
bại lộ và sẽ phải chuốc lấy hậu quả khó lường : "Cây kim trong bọc lâu ngày cũng phải
lòi ra".
       Cha mẹ của Triệu Quát vì sống cùng anh ta, nên thấu hiểu lời nói và việc làm của
con mình không thể đảm nhận việc lớn. Nhưng vua Triệu không quan tâm đến câu : "Lời
nói phải đi đôi với việc làm", cứ cho rằng Triệu Quát là bậc kỳ tài trong thiên hạ và trao
cho việc lớn. Kết quả không chỉ Triệu Quát bị hại mà còn liên quan đến tính mạng của 40
vạn quân. Mù mà dẫn mù thì việc sa xuống hố chỉ là sớm hay muộn mà thôi.
       "Sao anh thấy cái rác trong mắt anh em, mà cái xà trong con mắt của chính mình
thì lại không để ý tới" (Lc 6,41). Người ta thường rất hà tiện trong lời khen ngợi, nhưng
lại quảng đại trong tiếng chê bai. Có thể nói một trong những tội con người dễ phạm
nhất : đó là hay xét đoán, nghĩ xấu, nghĩ sai cho người khác.
       Để có đôi mắt trong sáng, chúng ta không nên nhìn vào đôi mắt kẻ khác để thấy
"cái rác" trong đó, hay "bới lông tìm vết" để xét đoán, chỉ trích họ, nhưng hãy nhìn vào
chính đôi mắt tâm hồn mình, để thấy "cái đà" của kiêu căng tự mãn, của phô trương giả
hình, để thanh lọc cho nên trong sáng. Vì người xưa có câu : "Việc người thì sáng, việc
mình thì quáng", nên việc nhìn lại chính mình để tự kiểm thảo luôn là điều cần thiết của
mỗi tín hữu Ki tô, nhất là những vị lãnh đạo, hướng dẫn các tâm hồn. Triết gia Chilon
cũng cho chúng ta một luật sống bất hủ : "Hãy tự biết mình". Thánh Augúttinô thường
cầu nguyện : "Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết Chúa, xin cho con biết con".
       Biết mình thường hèn yếu lỗi lầm để đừng bao giờ khắt khe lên án anh em.
       Biết mình hay che đậy giả hình để cảm thông dung thứ cho kẻ khác.
       Biết mình thích phô trương háo thắng để đừng phê phán nhạo báng một ai.
       Một tác giả kia đã nhận định : Những kẻ may mắn thường là những người có tâm
hồn lạc quan vui vẻ, họ có thói quen nhìn vào mặt tích cực của sự việc và vào điều tốt của
kẻ khác. Trái lại, những kẻ bất hạnh thường có thái độ tiêu cực, thù hằn, họ thích nhìn
vào điều tồi tệ nơi kẻ khác, họ rất ham chỉ trích ; và ưa "vạch lá tìm sâu".
       Đúng như lời Chúa Giêsu đã nói trong đoạn Tin Mừng hôm nay : "Cây tốt thì sinh
trái rốt, cây xấu thì sinh trái xấu" (Lc 6,43). Lời nói việc làm của người tín hữu Ki tô chỉ
có thể sinh hoa kết trái tốt tươi, nếu siêng năng suy niệm và thực hành Lời Chúa. Đời
sống của chúng ta chỉ có thể "phát xuất ra sự lành" nếu chúng ta được nuôi dưỡng bằng
Mình Thánh Chúa vì Lời Chúa là lời yêu thương và Mình Chúa là Bí tích tình yêu.
Những ai sống trong vị kỷ, xét đoán, chỉ trích và thù hằn, kẻ ấy sẽ chết trong bóng tối
gian ác của chính mình.
                                                 *
       Lạy Chúa, xin đừng để chúng con khô héo trong thái độ chỉ trích, trong lối nhìn
tiêu cực, trong cách nghĩ đen tối, nhưng xin cho cây đời chúng con được xanh tươi để
sinh hoa kế trái của an bình, hạnh phúc và yêu thương. Amen. (TP)
       * 4. Phải để ý đến lầm lỗi của chính mình
       Một thầy dòng trẻ tuổi kia phạm một lỗi nặng. Lập tức các thầy dòng lớn tuổi họp
lại để lên án anh ta. Tuy nhiên cần phải có mặt của Thầy Bề Trên thì phiên họp mới tiến
hành được. Vì thế họ phái người đi mời Bề Trên : "Xin Bề trên đến mau, cộng đoàn đang
chờ Thầy". Thầy Bề Trên đứng dậy, lấy một chiếc thúng có nhiều lỗ thủng. Thầy đổ đầy
cát vào thúng, rồi mang nó sau lưng đi đến phòng họp. Dĩ nhiên cát rơi đầy dọc đường.
Các Thầy già hỏi Bề Trên làm việc đó vì ý gì thế. Và Thầy Bề trên trả lời : "Tội lỗi tôi rơi
đầy sau lưng tôi. Tôi đi đến đâu cũng để lại một dãy tội phía sau. Chỉ có điều là tôi không
thấy chúng. Thế mà hôm nay anh em lại bảo tôi ngồi tòa kết tội một người anh em của tôi
sao !" Nghe thế, các thầy già xấu hổ và bỏ ý định lên án ông thầy trẻ.
       Ai trong chúng ta cũng có thể trở thành những chuyên gia tìm ra tội người khác và
phê phán họ. Nhưng những kẻ phê phán không phải là những người cải tạo thế giới. Chúa
Giêsu bảo chúng ta hãy lấy cái xà trong mắt mình ra trước, rồi mới tính đến chuyện lấy
cái rác khỏi mắt anh em. Chúng ta phải lo dọn dẹp nhà mình cho ngăn nắp trước, rồi mới
bảo người khác dọn dẹp nhà họ. Nếu không làm như thế thì chúng ta không phán đoán
anh em vì quan tâm tới họ, mà chỉ vì thù ghét muốn làm hại họ. Ít có việc nào thoả mãn
tính ích kỷ của mình cho bằng vạch tội người khác.
       Một người dẫn đường chỉ có thể dẫn dắt người khác nếu bản thân người ấy thấy rõ
con đường. Một người thầy dạy chỉ có thể chia xẻ cho người khác những kiến thức mà
mình đã biết. Nếu không muốn làm một người hướng đạo mù, thì ta phải biết tự phê phán
mình.
       Chúng ta rất tích cực sửa lỗi người khác vì nghĩ rằng nếu mọi người khác trong
cộng đoàn của mình mà biết được lỗi lầm và sửa chữa thì đời sống cộng đoàn sẽ tốt đẹp
biết mấy. Nhưng ngược lại chúng ta rất khó chịu khi bị người khác vạch lỗi của chúng ta
ra. Phải chăng đó là biểu hiện của tính ích kỷ ?
       Một người kia có thói quen hút thuốc và có nuôi một con vẹt. Một ngày kia anh
thấy con vẹt cứ ho mãi, anh liền bỏ hút thuốc. Anh còn mời một bác sĩ thú y đến khám
xem khói thuốc đã làm hại sức khoẻ con vẹt đến mức nào. Sau khi khám rất kỹ, bác sĩ
cho biết con vẹt chẳng bị bệnh gì cả. Sở dĩ nó ho là vì nó bắt chước những cơn ho của
chủ nó thôi. Khi đó, người ấy mới khám phá mình bị bệnh ho !
       Người đạo đức giả – mà Chúa Giêsu gọi là giả hình – là người chỉ lo sửa lỗi kẻ
khác. Người đạo đức thật là người biết tự sửa mình. (FM)
       * 5. Cái xà trong con mắt
       Không có gì làm ta mù quáng cho bằng để ý đến lỗi lầm của người khác.
       Ngày xưa có một con tê giác luôn bị ám ảnh bởi ý tưởng mình là người hoàn hảo.
Bởi thế nó tự cho mình có trách nhiệm sửa chữa những khuyết điểm của các con vật
khác. Mà theo nó nghĩ, khuyết điểm nghiêm trọng nhất là có sừng trên đầu, cho nên tất cả
những con vật có sừng đều không được ở yên với nó.
       Thế nhưng nó đâu có biết rằng nó có một cái sừng mọc ngay trên cái mũi xấu xí
của nó. Những con vật kia đều thấy rõ điều đó, nhưng chẳng con nào đủ can đảm nói cho
nó biết.
       Một hôm, con tê giác đang đi uống nước thì nghe tiếng một con chích choè đang
hót trên cành cây. Nó bực mình thét to : "Im đi, cái con chim xấu xa. Mầy không thấy tao
đang uống nước sao ?". Con chích choè không chịu thua, cãi lại : "Bộ ông đẹp đẽ lắm
sao ? Ông thử soi mặt ông trên mặt nước rồi sẽ biết". Con tê giác nghĩ trong bụng : "Soi
thì soi. Ai mà không biết ta là người hoàn hảo". Nhưng vừa nhìn xuống mặt nước, tê giác
nhà ta bỗng giật mình vì khám phá một chiếc sừng quái dị nằm ngay trên mũi mình. Biết
mình còn xấu xí hơn tất cả các con vật có sừng khác, nó xấu hổ quá : "Ta không thể nhìn
mặt các con vật khác được. Ta tiều đời rồi". Kể từ hôm đó, khi đi, nó luôn cúi gằm mặt
xuống đất. Nó cũng chẳng dám cho ai thấy mặt cả, cứ trốn trong các lùm cây.
       Nhưng làm sao trốn tránh mãi được. Cuối cùng nó chẳng còn lựa chọn nào khác là
chấp nhận sự thật. Khi đã có can đảm đối diện với chính mình, nó cũng dần dần can đảm
đối diện với các con vật khác. Và các con vật kia rất ngạc nhiên khi gặp lại nó : một anh
tê giác khác hẳn trước, thật hiền lành và dễ thương làm sao !
       Con tê giác của chúng ta đã thay đổi nhờ biết chấp nhận những con vật khác, không
phải theo hình ảnh mà nó muốn, nhưng đúng với hình ảnh thật của chúng, nghĩa là có
sừng, có gai và có đủ thứ khuyết điểm khác. Nó cũng thay đổi nhờ biết chấp nhận bản
thân mình, không xấu hổ vì chiếc sừng của mình nữa và cũng không lo các con vật kia sẽ
nghĩ sao về nó nữa.
       Chúa Giêsu bảo chúng ta đừng mất công tìm trái vả nơi bụi gai, hay tìm trái nho nơi
bụi rậm. Nơi cây nào thì tìm trái của cây ấy. Bài học này có thể áp dụng cho việc đánh
giá về người khác và về chính bản thân mình. (FM)
       * 6. Sửa đổi tính tình
       Một thầy tu kia có khuynh hướng hay nổi giận. Khuynh hướng này khiến thầy trở
thành một gánh nặng không những cho người khác mà còn cho cả bản thân thầy. Thầy tin
rằng thầy chẳng tiến bộ chút nào trên đường nhân đức. Thầy nói rằng nhưng người khác
khiến thầy phải thụt lùi vì cứ làm phiền thầy và luôn quấy rầy khi thầy cầu nguyện.
       Vì thế thầy quyết định rời tu viện để vào rừng ẩn tu. Thầy nghĩ rằng đó là cách khỏi
phải bị người khác làm phiền và nhờ đó mà bỏ được tính nóng giận. Thế là thầy dựng
một căn lều trong rừng, chẳng mang theo gì khác ngoài một bình nước. Nhưng trong một
lần bất cẩn, thầy làm đổ bình nước, nên phải trở về tu viện để lấy bình nước khác. Tuy
nhiên khi trở về lều, thầy lại bất cẩn làm đổ nước nữa. Lại chịu khó lần nữa. Nhưng sự
việc lại tái diễn lần thứ ba. Khi ấy cơn giận bốc lên ngùn ngụt. Thầy dập chiếc bình vỡ
tan tành, rồi ngồi bẹp xuống đất, hoàn toàn thất vọng về bản thân mình.
       Khi cơn giận nguội xuống, thầy bắt đầu suy nghĩ và nhận ra rằng cái tính nóng giận
của Thầy không phải do nơi những thấy khác mà do chính bản thân mình. Tính xấu đó
nằm ngay trong con người thầy, cho nên dù thầy đã vào tận trong rừng sâu, nó vẫn còn đi
theo thầy.
       Thế là Thầy quyết định trở lại tu viện, xin lỗi các thầy khác và hứa sẽ cố gắng sửa
tính nóng.
       Chẳng khó gì nhận ra chính chúng ta trong câu chuyện trên. Khi gặp một vấn đề
trục trặc, chúng ta hay đổ lỗi cho người khác. Thế nhưng nguyên do những trục trặc của
chúng ta nằm ngay nơi bản thân chúng ta chứ không nơi người khác. Vậy chúng ta phải
lo sửa mình trước, rồi mới có thể sống hòa thuận với người khác được. (FM)
       * 7. Chuyện minh họa
       Một nhà đại thần bí Ấn độ nói về chính mình : "Tôi là một nhà cách mạng khi còn
trẻ, và tất cả những gì tôi cầu nguyện với Chúa là : "Lạy Chúa, xin cho con quyền lực để
cải tạo thế giới"
       Khi đến tuổi trung niên, tôi nhận ra rằng nửa cuộc đời qua đi mà không một tâm
hồn nào được thay đổi. Tôi đổi lại lời cầu : "Lạy Chúa, xin cho con thiện chí để hoán cải
tất cả những người tiếp xúc với con.
       Bây giờ tôi đã già và gần kết thúc cuộc đời. tôi cảm thấy mình ngu dại biết bao. Lời
câu nguyện của tôi bây giờ là : "Lạy Chúa, xin cho con thiện chí để hoán cải chính con".
Nếu tôi xin điều này ngay từ đầu, tôi đã không lãng phí cuộc đời".
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
      Chủ tế : Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu mời gọi hết thảy mọi Kitô hữu hãy nên
hoàn thiện như Cha trên trời. Với ước muốn nên trọn lành, chúng ta cùng tha thiết nguyện
xin :
1. Hội thánh luôn cần những vị mục tử tài đức và thánh thiện để hướng dẫn Dân Chúa /
   Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa ban cho Hội thánh nhiều vị mục tử khôn ngoan / sáng
   suốt và nhiệt tình trong đời sống mục vụ.
2. Ngày nay / tội ác diệt chủng vẫn còn xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới / Chúng ta hiệp
   lời cầu xin Chúa hoán cải con tim của người thời nay / để họ biết tránh xa tội ác / và
   nỗ lực làm nhiều việc thiện / nhờ đó nhân loại tránh được biết bao thảm họa đau lòng.
3. Trong cuộc sống thường ngày / có những người lúc nào cũng thích ngồi ghế thẩm
   phán / xét xử và kết án anh em mình cách vô trách nhiệm / Chúng ta hiệp lời cầu xin
   cho các Kitô hữu / luôn ý thức thân phận tội lỗi yếu đuối của mình / để đừng bao giờ
   lên án bất cứ ai.
4. Xét mình là một việc làm hết sức cần thiết trong đời sống đức tin của người Kitô hữu /
   Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mỗi thành viên trong cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết
   trung thành xét mình mỗi ngày / để sửa chữa những thiếu sót lỗi lầm.
      Chủ tế : Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã nói : Chính anh em là muối cho đời và là ánh
sáng cho trần gian. Xin Chúa ban ơn trợ giúp để chúng con luôn giữ vững phẩm chất của
người Kitô hữu chân chính. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
      - Trước kinh Lạy Cha : Kinh Lạy Cha là lời kinh chính Chúa Giêsu dạy cho các
môn đệ, gồm chứa những lời cầu xin cần thiết nhất. Vì thế chúng ta hãy đọc một cách hết
sức sốt sắng và chân thành.
VII. GIẢI TÁN
     Chúng ta hãy nhớ lại một lời trong bài Tin Mừng hôm nay "Xem quả thì biết cây".
Chỉ nguyên việc tham dự Thánh lễ chưa đủ để là môn đệ của Chúa. Người môn đệ của
Chúa còn phải sinh ra hoa quả là những việc lành nữa. Xin Chúa giúp chúng ta thực hiện
Lời Chúa dạy.
                                 CHÚA NHỰT IX
                                       CHỦ ĐỀ :
                     NIỀM TIN CỦA LƯƠNG DÂN




                            "Ngay cả trong dân Israen,
                           tôi chưa thấy một người nào
                            có lòng tin mạnh như thế"
                                        (Lc 7,9)
      Minh họa
      - Mille images : 106 D
      - "Ngay cả trong dân Israen, tôi chưa thầy một người nào có lòng tin mạnh như thế"
(Lc 7,9)
      Sợi chỉ đỏ :
      Lời Chúa hôm nay muốn dạy chúng ta có một cái nhìn thiện cảm về những người
lương. Trong số họ có những tâm hồn rất thiện chí ; và Thiên Chúa cũng sẵn sàng ban ơn
cho họ.
      - Bài đọc I : Vua Salomon cầu xin Chúa đón nhận những lời cầu nguyện của cả
lương dân chạy đến với Ngài.
      - Bài Tin Mừng : Chúa Giêsu khen ngợi niềm tin của một viên sĩ quan Rôma ngoại
đạo.
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
      Anh chị em thân mến
      Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu khen ngợi đức tin của một viên đại đội
trưởng ngoại đạo. Đức tin là điều quý giá nhất mà chúng ta có được. Tuy nhiên nó chưa
đủ mạnh, chưa đủ sâu và chưa đủ tích cực. Vậy chúng ta hãy xin Chúa củng cố đức tin
của chúng ta.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
      - Đức tin của chúng con còn yếu nên chúng con đã ngã lòng khi gặp hoàn cảnh khó
khăn. Xin Chúa tha thứ chúng con.
      - Đức tin của chúng con còn yếu nên nhiều khi chúng con còn mê tín dị đoan. Xin
Chúa tha thứ chúng con.
      - Đức tin của chúng con còn yếu nhiều khi chúng con không dám hy sinh từ bỏ. Xin
Chúa tha thứ chúng con.
III. LỜI CHÚA
       1. Bài đọc I (1 V 8,41-43)
       Ý tưởng của đoạn sách này rất mới mẻ so với toàn bộ ý tưởng Cựu Ước :
       - Thời Cựu Ước – và ngay cả trong thời Tân Ước – người do thái vẫn cho rằng họ
là dân riêng của Chúa và Chúa là Chúa riêng của họ. Do đó Chúa chỉ nhậm lời cầu
nguyện của họ mà thôi.
       - Nhưng trong trích đoạn này (mà nhiều nhà chuyên môn cho là một đoạn được viết
thêm về sau), Salomon đã bày tỏ rằng : "Ngay cả những ngoại kiều không thuộc về Israel,
nếu nó từ phương xa tới… nếu nó cầu nguyện trong Đền thờ này, thì… xin Ngài lắng
nghe và thực hiện mọi điều ngoại kiều ấy xin".
       2. Đáp ca (Tv 116)
       Kêu gọi muôn dân nước hãy ca ngợi Chúa.
       3. Tin Mừng (Lc 7,1-10)
       Chúa Giêsu chữa bệnh cho đầy tớ một sĩ quan ngoại đạo :
       - Ông này có lòng thương người : đầy tớ của ông bệnh mà ông lo lắng như cho con
ruột ; ông là người rôma nhưng xây cất hội đường cho người do thái.
       - Ông cũng khiêm tốn : dù là giới cai trị, ông không ngại hạ mình đến xin Chúa
Giêsu là người dân bị trị giúp đỡ mình ; ông lại còn nói ông không xứng đáng cho Chúa
Giêsu vào nhà ông.
       - Đức tin của ông rất mạnh vì ông tin Chúa Giêsu chẳng cần đến nhà ông, chỉ ở xa
phán một lời là đầy tớ ông sẽ khỏi.
       4. Bài đọc II (Gl 1,1-2.6-10) (Chủ đề phụ)
       Thánh Phaolô trách giáo dân Galát "đã bỏ Tin Mừng cũ để theo một tin mừng
khác"
       - Tin Mừng cũ là gì ? Là những gì mà trước đây Phaolô đã giảng dạy họ.
       - Tin mừng khác là gì ? Là những luận điệu của nhóm do thái tòng giáo rằng cần
phải giữ luật Môsê, nhất là phải cắt bì, thì mới được cứu độ ("được công chính hóa")
      Phaolô khẳng định : Chẳng có Tin Mừng cũ hay tin mừng mới gì cả. Chỉ có một
Tin Mừng duy nhất mà thôi, đó là Tin Mừng của Đức Kitô mà Phaolô đã rao giảng. Bất
cứ ai giảng khác với Tin Mừng duy nhất này đều đáng bị tuyệt thông.
IV. GỢI Ý GIẢNG
       * 1. Đức tin của viên đại đội trưởng
       Chúa Giêsu đã khen ngợi đức tin của viên đại đội trưởng : "Ngay cả trong dân
Isarel, tôi cũng chưa thấy một người nào có lòng tin mạnh như thế".
       Bởi đâu mà viên đại đội trưởng này có được đức tin ? Có thể bởi vì ông là một
người lính. Trong đời lính, có lẽ ông đã nhiều lần phải đối diện với hiểm nguy và sự chết.
Những người như thế dễ cảm nhận được sự yếu đuối của con người và quyền năng của
Đấng thần thiêng hơn những người khác luôn sống yên ổn.
       Nhưng Chúa Giêsu không chỉ khen ông có đức tin mà còn có một đức tin mạnh.
Đức tin của ông mạnh thế nào ? Và chúng ta có thể học nơi ông những gì ?
       - Đó là một đức tin can đảm : ông không hề sợ người khác sẽ nghĩ gì hay nói gì.
Ông cũng không sợ đến với người không cùng "hệ" với ông. Chúng ta thì hay sợ, hay
ngại ngùng nên có nhiều thứ chúng ta không dám làm.
       - Đó là một đức tin bày tỏ ra bên ngoài. Bày tỏ đức tin lúc cầu nguyện riêng tư cũng
tốt. Nhưng bày tỏ đức tin cách công khai còn tốt hơn nhiều. Đôi khi chúng ta không dám
bày tỏ đức tin trước mặt mọi người vì sợ bị chê cười.
       - Đó là một đức tin mạnh mẽ, tuyệt dối tin tưởng vào quyền năng Chúa Giêsu. Phần
chúng ta, nhiều khi chúng ta chỉ tin tưởng nơi Chúa Giêsu tới một mức độ nào đó thôi.
       - Đó là một đức tin khiêm tốn : Ông là một sĩ quan Rôma mà đi cầu xin với một
người do thái bị trị. Hơn nữa ông còn cho rằng mình không đáng được Chúa Giêsu đến
nhà ông.
       - Sau cùng đó là một đức tin không ích kỷ nhưng quảng đại. Ông không cầu xin cho
bản thân mình mà cầu xin cho người nô lệ của ông. Nhiều khi đức tin của chúng ta rất ích
kỷ, chỉ nghĩ cho mình, chỉ lo cho ơn cứu độ của mình. Đức tin thật phải đi đôi với tình
yêu. Mà tình yêu thật thì phải quan tâm tới người khác.
       Đức tin của viên đại đội trưởng dạy chúng ta phải nhắm tới điều gì ? Chúng ta
thường nói "giữ đức tin" hay "mất đức tin", làm như đức tin là một món đồ vậy. Đức tin
không phải là một món đồ mà là một liên hệ với Chúa. Liên hệ thì có thể thân thiết hơn
hay lạnh nhạt đi. Vần đề không phải là "giữ" đức tin, mà phải làm cho đức tin lớn lên.
(FM)
       * 2. Tin và yêu
       Thánh Giacôbê đã viết "Đức tin không có việc làm là đức tin chết". Đức tin của
viên đại đội trưởng trong bài Tin Mừng hôm nay là một đức tin thể hiện trong những việc
làm. Mà những việc ông làm đều là những việc làm do tình yêu :
       - Ông đã có một tương quan rất tốt với những người ở địa phương ông đang làm
việc ; ông đã xây cho họ một hội đường. Mà ông là ai và họ là ai ? Ông là người người
Rôma và họ là người do thái. Rất hiếm khi thấy được yêu thương giữa người do thái và
người ngoại.
       - Ông rất quan tâm đến sức khoẻ của người nô lệ ông. Đây cũng là chuyện hiếm
thấy, vì đối với luật Rôma, người nô lệ chẳng có quyền gì cả. Vậy mà ông lo lắng cho
người nô lệ chẳng khác gì lo lắng cho con ruột của ông.
       Phẩm chất đức tin biểu lộ qua cách chúng ta sống, qua những mục tiêu chúng ta
nhắm tới, qua những giá trị chúng ta theo đuổi, và đặc biệt qua cách chúng ta tương giao
với người khác. Mà cốt lõi của một tương giao với người khác là tình yêu. Do đó một đức
tin không tình yêu là một ngọn đèn không cháy sáng, đó không phải là đức tin kitô giáo.
       Thánh Gioan viết : "Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên
Chúa là tình yêu". Tin là quan trọng, nhưng yêu còn quan trọng hơn. Lý tưởng là có một
đức tin thể hiện bằng tình yêu. (FM)
       * 3. Đức tin mãnh liệt
       Trong một lễ hội tưng bừng náo nhiệt, đầy ắp những tiếng nhạc, điệu múa, lời ca.
Các nam thanh nữ tú áo quần chỉnh tề lịch sự sánh vai nhau, các thiếu nhi nô nức vây
quanh chiếc xe chất đầy bong bóng với muôn màu rực rỡ, các quả bóng bay reo vui trong
gió như muốn hoà nhập với niềm vui rộn rã của mọi người.
       Rất hồn nhiên, một cậu bé da đen hỏi người bán bong bóng :
       - Nếu có một quả bong bóng màu đen, nó có thể bay lên được không ?
       Người bán bong bóng trả lời :
       - Chắc chắn là được. Cháu ạ, cái làm cho một quả bong bóng bay lên là chất khí ở
bên trong, chứ không phải màu sắc của nó.
                                                *
       Câu trả lời của người bán bong bóng thật sâu sắc : "Cái làm cho một quả bong bóng
bay lên là chất khí ở bên trong chứ không phải màu sắc của nó". Trong bài Tin Mừng
hôm nay, Chúa Giêsu đã chữa bệnh cho một nô lệ của viên đại đội trưởng ngoại giáo La
mã. Vâng, điều làm cho phép lạ được thực hiện chính là đức tin bên trong của viên đại
đội trưởng, chứ không phải địa vị bên ngoài của ông. Đức tin của ông mãnh liệt đến nỗi
Chúa Giêsu đã phải lên tiếng khen ngợi : "Ngay cả trong dân Ítraen, tôi cũng chưa thấy
một người nào có lòng tin mạnh như thế" (Lc 7,9).
       Để có một đức tin mạnh mẽ như thế, trước hết, ông phải là kẻ biết tôn trọng phẩm
giá con người. Người La mã coi khinh và đối xử tàn tệ với nô lệ, luật pháp coi nô lệ như
những dụng cụ để lao động, nếu ốm đau không xử đụng được thì bỏ đi, nếu làm sai ý chủ
thì chủ có quyền đánh đập hoặc giết chết như một con vật. Trái lại, viên đại đội trưởng La
mã này rất quí trọng và yêu thương người nô lệ của mình. Khi thấy người nô lệ ốm đau,
ông đã lo lắng tìm thầy chạy thuốc, kiếm lương y tài giỏi để chữa trị cho nó. Tin Mừng kể
lại : "Ông ta yêu quí người ấy lắm" (Lc 7,2).
       Để có một đức tin mạnh mẽ như thế, ông phải là một kẻ có lòng khiêm nhường
thẳm sâu. Người La mã đang đô hộ dân tộc Ítraen, họ rất hống hách và khinh bỉ dân bản
xứ. Thế mà viên đại đội trưởng La mã đầy quyền uy này lại khiêm tốn xin các đầu mục
Do thái nói khó dùm ông, để van nài Chúa Giêsu đến chữa cho người nô lệ của mình,
thậm chí ông còn thưa rằng : "Tôi chẳng đáng rước Ngài vào nhà tôi. Xin Ngài chỉ phán
một lời, thì đầy tớ tôi được khỏi bệnh" (Lc 7,6-7).
       Để có một đức tin mạnh mẽ như thế, ông phải là một kẻ có lòng đạo đức sâu xa.
Muốn được Chúa Giêsu đến chữa bệnh cho người nô lệ của viên đại đôi trưởng La mã,
các đầu mục Do thái đã phải khẩn khoản nài xin : "Thưa Ngài, ông ấy đáng được Ngài
làm ơn cho, vì ông ấy quí mến dân ta. Vả lại, chính ông đã xây cất hội đường cho chúng
ta" (Lc 7,4-5). Hội đường là nơi hội họp, nghe giải thích Thánh kinh và cầu nguyện với
Thiên Chúa.
       Nếu không có đức tin sâu xa, ông đã chẳng tích cực xây một hội đường như thế.
       Nếu không có đức tin sâu xa, ông đã chẳng công nhận quyền năng chữa bệnh nơi
Chúa Giêsu.
       Nếu không có đức tin sâu xa, ông đã chẳng tin nhận Chúa Giêsu là Đấng từ trời
xuống, trong khi đồng bào ông luôn khinh bỉ niềm tin tôn giáo.
       Viên đại đội trưởng La mã trong Tin Mừng quả là một tấm gương sáng chói cho
người tín hữu Kitô hôm nay :
       Giữa một thế giới thường xuyên chà đạp lên nhân quyền, chúng ta hãy luôn là
những chứng nhân bênh vực cho phẩm giá con người.
       Giữa một thế giới luôn cao ngạo, cậy dựa vào nền văn minh vật chất, chúng ta hãy
là những chứng nhân khiêm tốn bám víu duy nhất vào quyền năng Thiên Chúa.
       Giữa một thế giới luôn nhạo báng tôn giáo, chúng ta hãy là những chứng nhân kiên
vững của niềm tin Kitô.
                                                  *
       Lạy Chúa, xin phục hồi sức khoẻ thể xác, và tâm hồn cho chúng con. Nhất là, xin
Chúa hãy kiện cường lòng tin chúng con, để chúng con có được một đức tin mãnh liệt
như viên đại đội trưởng hôm nay. Amen (TP)
       * 4. Truyền thuyết về viên đại đội trưởng Rôma
       Có một truyền thuyết kể rằng trong đế quốc Rôma dưới triều hoàng đế Tibêriô có
một người cha tốt lành kia có hai người con trai. Một người gia nhập quân đội và đi chinh
chiến ở xa. Một người ở nhà làm thi sĩ, các bài thơ của anh được mọi người tán thưởng.
       Một đêm kia, người cha nằm mơ thấy một thiên thần hiện ra cho biết rằng những
lời của một trong hai người con của ông sẽ được mọi người trên khắp thế giới thuộc mọi
thế hệ biết đến và nhắc tới mãi mãi. Nghe vậy, ông rất sung sướng.
       Sau đó không lâu, người cha ấy mất mạng trong khi cố gắng cứu một đứa bé khỏi
bị bánh xe cán chết. Bởi thế ông được lên thẳng thiên đàng. Khi gặp lại vị thiên thần
trong giấc mơ, ông hỏi ngay : "Ngài đã cho tôi biết là những lời của một trong hai người
con của tôi sẽ được mọi người trên khắp thế giới thuộc mọi thế hệ biết đến và nhắc tới
mãi mãi. Vậy bây giờ Ngài có thể cho tôi thấy điều đó đã thành sự thật chưa ?"
       Thiên thần liền mở mắt cho ông nhìn tới tương lai. Ông thấy ông đang đứng giữa
hàng ngàn người bao quanh ông, ai nấy đều nói một thứ tiếng rất lạ. Ông sung sướng đến
rơi lệ. Ông nói với thiên thần : "Tôi đã biết là các bài thơ của con trai tôi sẽ trở thành bất
tử mà".
       Nhưng thiên thần đáp : "Các bài thơ ấy quả là rất phổ biến ở Rôma. Thế nhưng sau
khi triều đại của hoàng đế Tibêriô kết thúc thì không ai còn nhớ tới chúng nữa. Những lời
mà ông vừa nghe lúc nãy là lời của đứa con ông trong quân đội".
       Người cha ngạc nhiên không tin. Thiên thần mới kể :
       Đứa con của ông được gởi đến một xứ xa xôi và được thăng làm đại đội trưởng.
Anh là người người rất tốt. Ngày kia tên nô lệ của ông bệnh nặng. Anh nghe biết có một
con người rất thánh có khả năng chữa bệnh nên ông đã cỡi ngựa đi gặp người ấy, xin
người ấy giúp. Người ấy sẵn sàng đến nhà anh. Nhưng anh đã nói với người thánh thiện
ấy rằng "Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà tôi. Nhưng xin Chúa phán một lời
thì đầy tớ tôi sẽ khỏi bệnh". Đó chính là những lời mà lúc nãy ông nghe đám đông cứ lặp
đi lặp lại mãi.
      Quả thật là như vậy, những lời ấy đã được ghi lại trong sách Tin Mừng, và mọi
người trên khắp thế giới thuộc mọi thế hệ cứ tiếp tục lặp đi lặp lại mãi mãi. Ngày nay mỗi
lần tham dự Thánh Lễ, chúng ta cũng lặp lại những lời ấy. (FM)
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
      Chủ tế : Anh chị em thân mến, khi rao giảng Tin mừng, Chúa Giêsu đã dùng quyền
năng và tình thương của Thiên Chúa mà chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền, nhằm giúp
con người bớt đau khổ và tìm được niềm hy vọng để vui sống. Với tâm tình cảm tạ tri ân
Thiên Chúa là tình yêu chúng ta cùng dâng lời cầu xin :
1. Hội thánh luôn kêu gọi con cái mình / vững tin vào tình thương hải hà và sự quan
   phòng kỳ diệu của Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi thành phần trong Hội
   thánh / biết chạy đến Chúa khi gặp thử thách gian truân.
2. Trên thế giới ngày nay / dù y học đã tiến bộ vượt bậc và đạt được những thành tựu rất
   đáng kể / nhưng bệnh tật vẫn là mối đe dọa khủng khiếp cho tính mạng của con
   người / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho nền yy học ngày càng tiến triển hơn nữa / để
   ngăn chặn bệnh tật và đem lại hạnh phúc cho nhân loại.
3. Ý thức thân phận tội lỗi của mình / và cầu xin ơn tha thứ của Chúa / là những việc mà
   các Kitô hữu phải suy niệm thường xuyên / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho hết thảy mọi
   tín hữu / biết khiêm tốn nhìn nhận sự yếu hèn của mình / và khẩn cầu Chúa thương xót
   thứ tha những tội lỗi đã trót phạm vì yếu đuối.
4. Đức tin không việc làm là đức tin chết / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo
   xứ chúng ta / biết thể hiện niềm tin của mình / bằng những việc làm cụ thể trong đời
   sống thường ngày.
      Chủ tế : Lạy Chúa, Chúa dạy chúng con phải luôn tin tưởng vào Chúa giữa bao sóng
gió phũ phàng của cuộc đời, nhưng đức tin của chúng con còn quá yếu kém. Vậy xin
Chúa ban thêm đức tin cho chúng con. Chúng con cầu xin…
VI. TRONG THÁNH LỄ
      - Sau kinh Lạy Chiên Thiên Chúa : Chúng ta hãy lặp lại lời của viên đại đội trưởng
nói với Chúa Giêsu, những lời khiến Chúa Giêsu khen ông là có đức tin mạnh mẽ : "Lạy
Chúa, con chẳng đáng…"
VII. GIẢI TÁN
     "Đức tin không có việc làm là đức tin chết". Chúc anh chị em thể hiện đức tin sống
động qua những việc lành trong tuần này.
Bài đọc thêm
                                 CHÚA NHỰT X
                                      CHỦ ĐỀ :
           THIÊN CHÚA GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT




              Chúa Giêsu cứu sống con trai bà goá thành Naim
                                      (Lc 7,11-17)
      Minh họa
      - Mille images : 106 B
      - Chúa Giêsu cứu sống con trai bà goá thành Naim (Lc 7,11-17)
      Sợi chỉ đỏ :
      Bài đọc Cựu Ước và bài Tin Mừng hôm nay giống nhau vì đều nói tới lòng thương
xót trước cảnh người mẹ mất con :
      - Bài đọc I kể chuyện ngôn sứ Êlia cứu sống con trai bà goá xứ Sarépta.
      - Bài Tin Mừng kể chuyện Chúa Giêsu cứu sống con trai bà goá thành Naim.
      Cả hai chuyện cho thấy lòng thương xót bao la của Thiên Chúa, chẳng những cho
người tín hữu mà còn cho cả lương dân.
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
     Anh chị em thân mến
     Cuộc đời thật lắm đau thương, và đau thương nhất chính là chứng kiến cái chết của
những người thân.
     Bài Tin Mừng hôm nay kể chuyện một người mẹ khóc thương đứa con duy nhất
của mình vừa chết. Nhưng đáng để ý hơn là chính Chúa Giêsu đã cùng rơi lệ với bà bà đã
cứu sống con bà.
     Qua Chúa Giêsu, chúng ta được biết Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót.
Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy đến gần Ngài và xin Ngài thương xót chúng ta.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
     - Xin Chúa thương xót chúng con vì chúng con rất tội lỗi.
     - Xin Chúa thương xót chúng con vì cuộc đời chúng con gặp rất nhiều gian truân.
     - Xin Chúa thương xót chúng con vì chúng con chưa có được một tấm lòng xó
thương bao la như Chúa.
III. LỜI CHÚA
      1. Bài đọc I (1 V 17,17-24)
      Câu chuyện này có nhiều nét giống với câu chuyện trong bài Tin Mừng hôm nay :
      - Một đứa con trai độc nhất bị chết
      - Bà mẹ là một góa phụ và là một người ngoại
      - Đứa con ấy được ngôn sứ Êlia và Chúa Giêsu làm cho sống lại
      Khi Thánh Luca viết đoạn Tin Mừng hôm nay, ngài muốn cho thấy Chúa Giêsu là
một Êlia mới.
      2. Đáp ca (Tv 29)
      Tv này ca tụng lòng thương xót của Thiên Chúa :
      - "Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài vì đã thương cứu vớt"
      - "Người nổi giận, giận trong giây lát, nhưng yêu thương, thương suốt cả đời".
      - "Lạy Chúa, xin lắng nghe và xót thương con".
      3. Tin Mừng (Lc 7,11-17)
      Chúa Giêsu cứu sống con trai bà góa thành Naim :
      - Tất cả mọi người hôm đó chẳng ai mở lời xin Chúa giúp. Ngài ra tay cứu giúp chỉ
vì Ngài động lòng thương.
      - Chúa chạnh lòng trước cảnh mẹ góa con côi, tre già khóc măng non.
      - Cứu sống đưa con trai xong, Chúa còn tế nhị trao nó lại cho mẹ nó.
      4. Bài đọc II (Gl 1,11-19) (Chủ đề phụ)
      Trong trích đoạn tuần trước, Phaolô trách tín hữu Galát đã theo "một Tin Mừng
khác", tức là chưa đủ an tâm khi sống theo Tin Mừng mà Phaolô rao giảng, lại còn giữ
thêm một số luật lệ do thái giáo. Khi làm như thế, họ chứng tỏ chưa hiểu rằng người ta
được cứu độ nhờ đức tin chứ không phải nhờ tuân giữ lề luật.
      Trong trích đoạn hôm nay, để thuyết phục tín hữu Galát vững tin vào Tin Mừng của
mình rao giảng, Phaolô chứng minh cho họ biết Tin Mừng ấy Ngài đã lãnh nhận trực tiếp
từ Thiên Chúa.
IV. GỢI Ý GIẢNG
      * 1. Khi một người thân chết đi
      Đám tang là một cảnh buồn. Đám tang mà Chúa Giêsu chứng kiến còn đặc biệt
buồn vì đó là đám tang của đứa con trai duy nhất của một bà góa. Mất con hẳn là thánh
giá nặng nhất mà cha mẹ phải gánh chịu.
      Người ta nói rằng khi một người già chết đi thì người ấy mang đi quá khứ của
chúng ta ; còn khi một người trẻ chết thì người ấy mang đi chính tương lai của chúng ta.
Sự mất mát này to lớn đến nỗi có thể khiến cho người ở lại không còn tha thiết sống nữa.
      Thánh Kinh đã kể một câu chuyện cảm động về nỗi đau của Đavít khi đứa con nhỏ
của ông bệnh nặng (2 Sm 12,16-25) : Đavít rất buồn rầu và thiết tha cầu xin Chúa cho
đứa nhỏ ấy khỏi bệnh. Ông còn ăn chay và đêm thì nằm ngủ dưới sàn nhà, mặc áo nhậm.
Các cận thần nài nỉ ông lên giường nhưng ông không chịu. Đến ngày thứ bảy thì đứa bé
chết. Các cận thần rất lo lắng, nói với nhau "Lúc đứa bé còn sống, ngài còn không nghe
chúng ta. Huống chi bây giờ nó đã chết rồi". Đavít nghe người ta xì xầm thì đoán được sự
việc. Ông hỏi "Có phải con ta đã chết rồi chăng ?". Họ đáp "Thưa vâng". Đavít liền chổi
dậy, tắm rửa, mặc quần áo bình thường, vào đền thờ phủ phục trước nhan Chúa, rồi trở ra
ăn uống như thường. Mọi người ngạc nhiên hỏi : "Tại sao khi đứa nhỏ chưa chết thì Ngài
khóc than và nằm dưới sàn, còn khi nó chết rồi thì Ngài chổi dậy và ăn uống ?" Đavít trả
lời : "Khi đứa bé còn sống, ta làm tất cả để cứu mạng sống nó. Nay nó chết rồi, nó không
thể trở về với Ta nữa. Nhưng Ta có thể đến với nó".
       Đavít đã nêu gương biết chấp nhận một tình huống không thể nào thay đổi được.
Tuy chúng ta không thể nào quên người đã chết, nhưng cuộc sống là quý giá nên chúng ta
phải tiếp tục sống. Chúng ta khóc vì một sự sống đã mất đi, nhưng nếu chúng ta cứ than
khóc mãi thì sẽ có đến hai sự sống phải mất.
       Đứng trước một người thân chết đi, chúng ta có thể cảm thấy như Thiên Chúa vắng
mặt. Tuy nhiên chúng ta cũng có thể cảm nhận điều ngược lại : sự chết có thể kéo ta đến
gần Chúa hơn. Tại sao ? Vì chúng ta nhận thức rằng con người hoàn toàn bất lực trước
cái chết, chỉ có Chúa mới giúp chúng ta được thôi. Từ đó chúng ta phó mình trong lòng
thương xót Chúa. Cũng như Chúa đã viếng thăm bà góa thành Naim, Ngài cũng đến
viếng thăm chúng ta cùng với những ơn ban nâng đỡ, hy vọng và bình an.
       Thực ra người chết không chết mà chỉ đổi thế giới sống. Người thân quá cố của
chúng ta không xa cách chúng ta. Họ vẫn yêu thương chúng ta và còn có thể giúp đỡ
chúng ta nữa. Tuy người quá cố không trở lại với chúng ta, nhưng chúng ta có thể đến với
họ. Họ đang chờ chúng ta. Chúng ta và họ sẽ gặp lại nhau trong tình thương của Chúa.
(FM)
       * 2. Sự sống hay nỗi chết
       Một vị ẩn sĩ nọ, ngày kia lạc vào một hang động. Tại đây ông đã khám phá ra một
kho tàng với không biết bao nhiêu vàng bạc châu báu. Nhưng ông đã vội vã ra khỏi hang,
vừa chạy vừa la thất thanh : "Tôi đã thấy thần chết".
       Tình cờ ba tên cướp đi ngang qua đó, nghe tiếng kêu của vị ẩn sĩ, họ dừng lại hỏi
chuyện.
       Muốn chứng tỏ mình là những người không biết sợ là gì, ba tên cướp yêu cầu đưa
họ đến gặp thần chết. Vị ẩn sĩ dẫn họ vào hang động và chỉ vào kho tàng. Mắt họ sáng lên
và lập tức ba tên cướp tống cổ vị tu hành ra khỏi hang.
       Nhưng kho tàng quá lớn, họ không thể mang ra tất cả trong một ngày. Sau một hồi
bàn cãi ba tên cướp đồng ý để một người ra phố mua sắm lương thực. Hai người còn lại
ngồi đó canh giữ kho báu.
       Người được sai đi chợ nghĩ thầm trong bụng : "Ta sẽ ăn uống no nê, sau đó bỏ
thuốc độc vào thức ăn. Hai tên khốn nạn sẽ chết và tạ sẽ chiếm trọn kho tàng".
       Hai tên ngồi canh giữ kho báu cũng bàn với nhau : "Chúng ta sẽ giết hắn. Và như
thế phần của mỗi người chúng ta sẽ nhiều hơn".
       Khi kẻ mang lương thực về đến hang động : họ liền giết hắn và nuốt trọn thức ăn có
thuốc độc. Thế là cả ba đã cùng nhau đi gặp thần chết như lời vị ẩn sĩ tiên báo.
                                                *
       Vì tham lam của cải mà ba sinh mạng đã bị thần chết cướp đi trong nháy mắt. Vì
chạnh lòng thương xót người quả phụ cô độc, hôm nay Chúa Giêsu đã giật lại khỏi tay
thần chết con trai duy nhất của bà goá thành Naim.
       Chúa Giêsu đã can thiệp mau lẹ, xử lý nhanh gọn, ra tay tức thời, không chờ đợi
người ta cầu xin, nài nỉ. Người nhìn rõ nỗi buồn mất con, Người hiểu thấu nỗi cô đơn của
bà goá không nơi nương tựa, Người liền an ủi : "Bà đừng khóc nữa" (Lc 7,13). Rồi
Người sờ vào quan tài và nói : "Này người thanh niên, tôi bảo anh. Hãy chỗi dậy !" (Lc
7,14).
       Thiên Chúa yêu thương con người vì Thiên Chúa là tình yêu (1Ga 4,16). Vì bản
chất của Thiên Chúa là yêu thương, nên Người muốn giải thoát con người khỏi nỗi cô
đơn buồn phiền, khỏi thất vọng đắng cay, khỏi đau thương tuyệt vọng. Và nỗi đau thương
tuyệt vọng lớn nhất của con người là sự chết, thì Người cũng sẵn lòng giải thoát con
người khỏi chết.
       Tình yêu của Thiên Chúa không dừng lại ở đó : Người còn muốn đi xa hơn nữa
trong tình yêu : Người muốn giải thoát con người khỏi cái chết muôn đời. Con trai bà goá
thành Naim sống lại để rồi lại phải chết, nhưng những ai được Người yêu thương giải
thoát thì sẽ vĩnh viễn sống lại miên trường. Đó mới là sứ mạng của Người khi xuống trần
gian.
       Sự kiện con trai bà goá thành Naim được Người cho sống lại chính là hình bóng
báo trước biến cố vô cùng lớn lao hơn. Biến cố đó là cốt lõi của đạo, là trung tâm điểm
của Kitô giáo : Đó chính là nhờ sự chết và sống lại của Chúa Giêsu mà tất cả chúng ta
được giải thoát khỏi cái chết muôn đời.
       Thiên Chúa yêu thương con người, Người muốn giải thoát con người khỏi lưỡi hái
của tử thần, nhưng con người vẫn có tự do để chọn sự sống hay nỗi chết. Ba tên cướp vì
tham lam của cải đã chọn cho mình hai cái chết, cái chết của thể xác và cái chết của linh
hồn. Trong cái hang tử thần ấy không chỉ có những con người tham của mà còn vô số
những kẻ tham danh vọng, địa vị, chức quyền ; không chỉ có những người mê của mà còn
hằng hà những kẻ mê hút sách, rượu chè, cờ bạc, trai gái.
       Cái chết phần xác thì ai cũng sẽ trải qua một lần trong đời, nhưng cái chết phần hồn
thì chỉ có những con người can đảm, bền chí và trung thành với Đức Kitô và giới luật của
Người mới có thể vượt qua để sống miên viễn với Người trên nơi vĩnh phúc.
                                                 *
       Lạy Chúa, chúng con ước mong được chết để cùng sống lại vinh quang với Người.
Nhưng trước khi chết xin cho chúng con biết dứt lòng từ bỏ những gì là xấu xa của ma
quỉ, thế gian và xác thịt để chúng con được tự do thong đong về với Chúa là Cha đầy yêu
thương. Amen. (TP)
       * 3. Chuyện minh họa
       Một Rabbi do thái tên là Nahman vừa có đứa con trai bị chết. Các rabbi bạn ông
đến an ủi nhưng chẳng thể nào làm cho ông hết đau lòng. Cuối cùng Rabbi Moses kể cho
ông nghe câu chuyện sau đây :
       Một ông vua kia giao cho một người đầy tớ giữ một báu vật. Anh này ngày nào
cũng than : "Khốn thân tôi ! Biết tới chừng nào nhà vua mới lấy lại báu vật này để tôi
không còn phải gánh vác trách nhiệm to lớn này nữa".
      Rồi Rabbi Moses áp dụng : Bạn cũng đã được giao trách nhiệm gìn giữ một báu vật
là đứa con rất tốt lành của bạn. Nay nó đã được cất khỏi thế gian này mà không bị sự dữ
nào làm hoen ố. Vậy bạn phải vui mừng vì đã chu toàn trách nhiệm mà Vua các vua đã
giao cho ông chứ !
      Câu chuyện và lời khuyên của Rabbi Moses đã làm vơi đi nỗi buồn ủa Rabbi
Nahman. (FM)
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
      Chủ tế : Anh chị em thân mến, khi xuống thế làm người, Chúa Giêsu chia sẻ mọi đau
khổ, bất hạnh với nhân loại. Người đã lấy lòng từ bi nhân hậu mà lau sạch nước mắt
những ai sầu khổ. Chúng ta cùng cảm tạ Người và tha thiết nguyện xin :
1. Hội thánh luôn quan tâm đến những người nghèo khổ / những ai đang gặp hoạn nạn /
   Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các vị mục tử / luôn bênh vực những người cô thế cô
   thân / và rộng rãi giúp đỡ những ai đói rách bần cùng.
2. Cái chết không loại trừ bất cứ một ai / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho người biết chuẩn
   bị cho cuộc sống mai sau / bằng cách làm thật nhiều việc lành phúc đức trong cuộc
   sống hôm nay.
3. Những người bất hạnh vẫn còn đầy dẫy trên thế giới / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho
   các Kitô hữu / luôn biết an ủi và trợ giúp những ai đang lâm cảnh gian truân khốn
   khó.
4. Vui với người vui / khóc cùng người khóc / là thái độ phải có của những ai tin Chúa /
   Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / luôn cố gắng thực hiện lời
   dạy của thánh Phaolô tông đồ.
      Chủ tế : Lạy Chúa, Đức Kitô Con Chúa đã lấy tình thương mà băng bó mọi vết
thương tâm hồn cho những ai đang gặp đau khổ. Xin Chúa cho chúng con biết noi gương
Người là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
     - Trước Kinh Lạy Cha : Thiên Chúa là Cha chúng ta. Ngài muốn chúng ta sống
hạnh phúc chẳng những ở đời này mà còn mãi mãi ở đời sau. Vậy chúng ta hãy dâng lên
Ngài những lời cầu nguyện đầy tin tưởng của chúng ta.
VII. GIẢI TÁN
      Với niềm tin tưởng trọn vẹn vào lòng thương xót của Thiên Chúa, chúng ta hãy ra
về bình an.
                                CHÚA NHỰT XI
                                      CHỦ ĐỀ :
                     LÒNG THA THỨ CỦA CHÚA




                          "Tội của chị đã được tha rồi"
                                       (Lc 7,48)
     Minh họa
     - Mille images : 114 D
     - "Tội của chị đã được tha rồi" (Lc 7,48)
     Sợi chỉ đỏ :
     Lời Chúa hôm nay khuyến khích chúng ta tin tưởng vào lòng thương xót của Chúa :
     - Bài đọc I : Vua Đavít phạm tội nhưng sám hối và được tha.
     - Bài Tin Mừng : Chúa Giêsu tha tội cho người phụ nữ sám hối.
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
     Anh chị em thân mến
     Đôi khi vì mặc cảm tội lỗi mà chúng ta xa lìa Thiên Chúa. Chúng ta nói "Tôi đã
phạm tội, tôi không xứng đáng nữa". Nhưng trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy
một người tội lỗi đã dám đến với Chúa Giêsu, và Chúa Giêsu nói với chị : "Tội của con
đã được tha. Con hãy về bình an".
     Vậy mặc dù chúng ta tội lỗi, nhưng chúng ta hãy đến với Chúa và hãy tin chắc rằng
Ngài sẽ tha thứ cho chúng ta.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
     - Chúng ta chưa tin tưởng đủ vào lòng nhân từ tha thứ của Chúa.
     - Chúng ta không siêng năng lãnh nhận bí tích Giải tội.
     - Chúng ta không sớm đứng dậy sau mỗi lần sa ngã.
III. LỜI CHÚA
      1. Bài đọc I (2 Sm 12,7.10-13)
      Có 3 ý tưởng lớn trong đoạn này :
      - Tội của Đavít rất nặng : trước tiên là tội ngoại tình (với Bétsabê) ; kế đến là tội
giết người, mà đó lại là một người vô tội (Uria chồng của Bétsabê).
      - Tội này còn rất đáng trách vì Đavít đã được Thiên Chúa ban cho rất nhiều ơn
sủng.
      - Đavít nhìn nhận tất cả tội lỗi mình và xin Chúa tha thứ. Chúa thấy Đavít biết ăn
năn nên đã tha thứ ngay.
      2. Đáp ca (Tv 31)
      Tv này nhấn mạnh đến lòng tha thứ hơn là đến tội lỗi : "Hạnh phúc thay kẻ lỗi lầm
mà được thứ tha, người có tội mà được khoan dung".
      3. Tin Mừng (Lc 7,36--8,3)
      Bài Tin Mừng hôm nay gồm 2 đoạn và đều nói tới phụ nữ :
      1. Chuyện người đàn bà tội lỗi lau chân Chúa Giêsu (7,36-50) :
      - Nàng là một người tội lỗi nổi tiếng, "trong thành ai cũng biết"
      - Nàng bày tỏ lòng sám hối rất công khai : a/ trong một bữa tiệc, trước mặt nhiều
người ; b/ không tiếc bình dầu thơm quý giá (khoảng 300 đồng, tương đương với 10
tháng lương) ; c/ quỳ gối dưới chân Chúa Giêsu, khóc nức nở, xổ tóc ra (một cử chỉ có
thể bị kết án là tự làm ô nhục), lấy tóc lau chân Chúa.
      Câu nói của Chúa Giêsu có thể dùng tóm lược chính xác câu chuyện đời nàng :
"Tội nàng nhiều nhưng được tha hết vì nàng yêu mến nhiều"
      2. Bảng tóm lược những người đi theo Chúa Giêsu trên bước đường rao giảng Tin
Mừng : những người này gồm có Nhóm 12 và cả các phụ nữ, trong số đó có người đã
từng bị tà thần khống chế, có người bình dân và người quyền quý. Các bà giúp Ngài bằng
công sức và bằng của cải nữa.
      4. Bài đọc II (Gl 2,16.19-21) (Chủ đề phụ)
      Đoạn này chứa đựng ý tưởng chính của toàn thể bức thư gởi tín hữu Galát : con
người được nên công chính (được cứu độ) nhờ đức tin chứ không phải nhờ tuân giữ lề
luật.
IV. GỢI Ý GIẢNG
       * 1. Để được thứ tha
       Bài đọc Cựu ước trích từ sách tiên tri Samuel hôm nay nhắc lại trường hợp phạm
tội của vua Đavít. Có thể nói vua Đavít đã phạm tội rất khéo, phạm tội mà hầu như không
ai biết, cho nên mọi người vẫn coi vua như một người thánh thiện gương mẫu. Mà tội của
Đavít rất nặng : ông đã ngoại tình với vợ của tướng Uria, sau đó lại dùng âm mưu thâm
độc để giết chết Uria hòng che dấu tội mình, rồi công khai cưới bà vợ góa ấy làm vợ
mình, sau đó lại gian dối che dấu tội lỗi trước mặt tiên tri Natan. Rõ ràng đó là một tội
nặng, rất nặng.
       Bài Tin Mừng hôm nay cũng đưa ra một người tội lỗi nữa : đó là một người đàn bà
có lẽ hành nghề mãi dâm. Nghề đó chẳng những đem lại tội cho bà, mà còn làm cho
nhiều người đàn ông khác phạm tội, và còn có thể làm tan nát nhiều gia đình nữa. Đây
cũng là một tội nặng, rất nặng.
       Nhưng cả hai người tội rất nặng đó đều đã được tha, tha rất dễ dàng và nhanh
chóng. Vua Đavít nói với tiên tri Nathan "Tôi đã phạm tội cùng Chúa", thì Natan đáp
ngay "Chúa đã tha tội cho vua rồi". Còn người đàn bà kia quỳ khóc dưới chân Chúa
Giêsu, và Chúa Giêsu nói với chị "Tội con đã được tha rồi".
       So sánh trường hợp tội lỗi của hai nhân vật trên với trường hợp tội lỗi của chúng ta,
chúng ta cảm thấy an tâm. Trong chúng ta đây, mặc dù ai cũng đều có tội, nhưng không
ai tội nặng bằng hai người đó : Có ai trong chúng ta quá tệ đến nỗi ngoại tình, rồi giết
chồng để đoạt vợ người ta ? Có ai trong chúng ta tệ đến nỗi hành nghề mãi dâm và tai
tiếng cả thành phố ? Những tội hết sức nặng nề của hai nhân vật ấy mà còn được Chúa
tha thứ một cách hết sức dễ dàng và nhanh chóng thì huống chi là những tội của chúng
ta ! Vì thế mà chúng ta thấy an tâm.
       Nhưng rồi chúng ta lại lo ngại, lo ngại vì chính sự an tâm đó ! Tại sao ? Thưa chính
vì mình an tâm mà mình đâm ra coi thường những tội của mình, không coi đó là tai hại
bao nhiêu, cho nên không ăn năn thống hối, không quyết tâm từ bỏ.
       Chúng ta hãy nhớ lại những tội mà chúng ta thường phạm và thường xưng. Có
những tội chúng ta xưng thì cứ xưng nhưng trong thâm tâm thì lại coi thường và xưng
xong thì vẫn cứ phạm. Những lần xưng tội sau thì cũng vẫn bấy nhiêu tội đó. Thậm chí
nếu thấy có Cha ngồi sẵn trong tòa giải tội là chúng ta có thể bước vào xưng ngay không
cần mất giờ xét mình, vì ta đã thuộc lòng các tội ta quen phạm rồi !
       Ở đây không có ý nói tới những tội quá vặt vảnh như đọc kinh ngủ gục lo ra, giận
hờn, bỏ đọc kinh hôm mai vv… mà có ý nói tới một số tội có sức tác hại nhiều hơn,
chẳng hạn như say sưa (đánh chửi vợ con), cờ bạc, nói hành nói xấu (làm hại danh dự
người khác) ăn cắp vặt, ăn cắp của công, buôn bán gian lận vv. Những tội này khi ta
phạm thì chẳng những có hại cho chính bản thân mình mà còn có hại cho nhiều người
khác nữa. Vậy mà chúng ta rất coi thường chúng, chúng ta phạm hoài, lần xưng tội nào
cũng có những tội đó.
       Tội của Đavít, tội của người nữ mãi dâm kia dù rất nặng nề nhưng vì hai người đã
nhìn nhận mức độ nặng nề của nó và thành tâm thống hối nên đã được Chúa tha. Còn
những tội của chúng ta, tuy không nặng nề bằng nhưng nếu ta không nhìn nhận sự tai hại
của chúng và không thống hối thì dù nhẹ cũng không được tha !
       Xin trở lại với một số tội vừa kể ra ở trên :
       - Tội say sưa : đâu có phải chỉ hại cho riêng mình, mà còn làm hao tốn tiền bạc lẽ ra
dành cho gia đình, còn kích thích mình gây gỗ với bạn bè lối xóm, đánh chửi vợ con, đập
phá đồ đạc trong nhà, biết bao nhiêu người bị phiền vì mình say sưa…
       - Tội cờ bạc : cờ bạc là bác thằng bần, nó làm cho gia đình nghèo túng, nó gây xích
mích lục đục trong gia đình, nó xúi người ta trộm cắp, nó làm gương xấu cho trẻ em…
       - Tội ăn cắp vặt, ăn cắp của công, làm ăn gian lận : rõ ràng là có hại cho những
người bị mất của, bị gian lận ; ngoài ra còn có hại là từ việc mất công bình nhỏ dần dần
đưa ta đến mất công bình lớn hơn.
       - Tội nói hành nói xấu người khác : không chỉ là tội cho bản thân mình mà còn làm
sức mẻ danh thơm tiếng tốt của người khác. Tội này đòi ta phải bồi thường danh dự, cũng
như tội trộm cắp đòi ta phải bồi thường những thiệt hại vật chất đã gây ra.
       Đó là một số tội chúng ta quen phạm nhưng chúng ta cũng quen coi thường, vì thế
mà không thật lòng thống hối, và vẫn cứ tái phạm.
       Suy gẫm lời Chúa hôm nay, chúng ta đã biết Chúa không quan tâm tới tội ta phạm
là nặng hay là nhẹ, là nhiều hay là ít, nhưng Chúa chú trọng đến lòng thống hối ăn năn và
Chúa chờ đợi ta quyết tâm sửa đổi. Vì thế, chúng ta cũng vậy, hãy lưu ý thống hối và cải
thiện nếu không đối với hết tất cả mọi tội lỗi của ta, thì ít ra cũng đối với một số tội chẳng
những gây thiệt hại cho mình mà còn tác hại cho người khác nữa.
       Nếu có được lòng thống hối và quyết tâm sửa đổi như thế thì chúng ta mới có thể
an tâm sẽ được Chúa tha thứ, như Chúa đã thứ tha những tội tày trời của vua Đavít và của
người đàn bà mãi dâm mà chúng ta đã nghe sách thánh thuật lại trong những bài đọc của
Thánh lễ hôm nay.
       * 2. Yêu nhiều tha nhiều
       Thánh Phanxicô Salêsiô Giám mục có người giúp việc bê tha rượu chè. Một đêm
kia, anh ta say mèm. Mọi người trong nhà đã ngủ hết, chỉ còn một mình thánh nhân thức
khuya đọc sách. Chính người đã dìu anh về giường và lấy mền đắp cho anh, rồi sáng hôm
sau mới nói cho anh biết lỗi.
       Thánh nhân nói : "Giả sử lúc anh đang say, sẩy chân ngã xuống giếng thì sao. Hoặc
lỡ bị gió độc mà chết thì sẽ thế nào. Linh hồn ở đâu bây giờ. Nghe vậy anh ta hối hận, xin
tha thứ và trước mặt người, anh xin cam đoan sẽ không còn uống một giọt rượu nào nữa.
Nhưng người bảo anh : "Đừng chừa vội quá như thế !"
       Từ đó, anh ta xin nhận thánh nhân làm cha giải tội riêng cho mình và dần dần, đã
biết chừa hẳn tội cũ sống rất đạo hạnh tử tế.
                                                 *
       "Tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai
được tha ít thì yêu mến ít" (Lc 7,47). Người phụ nữ tội lỗi trong bài Tin Mừng hôm nay
không khác chi người giúp việc nát rượu của thánh Phanxicô trong câu chuyện trên đây.
Họ đều là những người yếu đuối lầm lỡ trong tội, nhưng đã được Chúa Giêsu cũng như
thánh Phanxicô bao dung tha thứ, nên họ đã mau mắn đáp lại tình yêu, để rồi cuộc đời
của họ bắt đầu từ nay được đổi mới.
       Medaleine Danielou đã viết "Tha thứ thật sự là hành động thần linh mà chúng ta chỉ
học được từ nơi Thiên Chúa. Vâng, có thể nói : lỗi lầm là của con người và tha thứ là
của Thiên Chúa (A. Pope). Nhưng người ta chỉ có thể lãnh nhận ơn tha thứ khi đã có lòng
tin : Tin nơi Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta, tin rằng Người sẵn sàng tha thứ và sẽ
còn tha thứ mãi. Chúa phán : "Lòng tin của chị đã cứu chị, chị hãy đi bình an" (Lc 7, 50).
Chính lòng tin đã đem lại ơn tha thứ, và ơn tha thứ đã làm đổi mới tội nhân, để họ mãi
mãi bước đi trong bình an.
       Tuy nhiên, tình yêu và lòng tin của chúng ta cần phải được biểu lộ cách cụ thể qua
lòng sám hối, vì sám hối tức là nhận mình có lầm lỗi, và chỉ những ai nhận mình lầm lỗi
mới được Thiên Chúa thứ tha. Vì thế mà Thomas Carlyle đã nói một câu bất hủ : "Không
nhận ra lầm lỗi là lỗi lớn nhất trong mọi lỗi lầm". Quả thật, nếu ai cho mình không có tội
thì đâu cần Thiên Chúa thứ tha. Nhưng Thánh Gioan lại nói rằng : "Nếu chúng ta nói là
chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta" (1
Ga 1, 8).
                                                *
       Lạy Chúa, sa ngã trong tội là bản chất của con người nhưng ở lại trong tội lại là
quỉ sứ.
       Xin cho chúng con biết khiêm tốn nhận ra lỗi lầm của mình, và mau mắn chân
thành sám hối, để được Chúa tha thứ và ban cho ơn bình an. Amen. (TP)
       * 3. Bắt đầu lại
       Câu chuyện sau đây kể về một người da trắng ở Cape Town trong thời kỳ có chế độ
phân biệt chủng tộc apartheid : người da trắng này mới dời về sống trong một khu có
nhiều người da màu. Một hôm ông thấy một người da màu cứ đứng ở ngoài hàng rào nhìn
chăm chăm vào khu vuờn nhà ông. Ông giận quá ra gặp người ấy và hỏi "Anh đang làm
gì ở đây thế ?" Thấy ông quá giận, người da màu lúng túng giải thích : "Trước đây tôi lớn
lên trong khu nhà này. Trong vườn có một cây lê. Có năm nó rất nhiều trái, nhưng cũng
có năm trái rất ít. Hôm nay tôi chỉ muốn xem năm nay nó có nhiều trái không". Nghe lời
giải thích ấy, người da trắng cảm thấy xấu hổ vì đã hiểu lầm người da màu kia. Ông định
mở miệng xin lỗi thì người kia đã đi không còn ở đó nữa. Lòng ông rất xấu hổ vì đã nặng
lời với một người đáng thương bị chế độ phân biệt chủng tộc làm mất nhà cửa.
       Cách Chúa Giêsu đối xử với người phụ nữ tội lỗi trong bài Tin Mừng hôm nay trái
ngược hẳn. Nàng không được mời đến dự tiệc. Nàng đến chỉ vì biết có Chúa Giêsu đang
ở đấy. Nàng đến trước mặt Ngài với con người thực của mình, và chỉ muốn phục vụ Ngài
để tỏ lòng sám hối. Phần Chúa Giêsu, dù biết nàng là một người tội lỗi nhưng vẫn ưu ái
đón nhận sự phục vụ của nàng. Những người khác nhìn nàng và chỉ thấy một vũng bùn
nhơ. Còn Chúa Giêsu thì nhìn vũng bùn nhơ ấy và thấy những vết thương của nàng. Ngài
thấy nàng đã bị người ta xét đoán đủ rồi và bị đời trừng phạt đủ rồi. Điều nàng cần đó là
được cứu chữa chứ không phải bị lên án.
       Qua cách đối xử nhân hậu với nàng, Chúa Giêsu đã giúp nàng tin vào cái tốt trong
lòng nàng. Nhờ cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu, nàng bắt đầu một cuộc sống mới tốt hơn. "
Elia Wiesel viết : "Nếu bạn muốn tìm gặp một tàn lửa, bạn phải nhìn vào đống tro". (FM)
       * 4. Những bài học rút ra từ câu chuyện vua Đavít
       Chuyện vua Đavít phạm tội và sám hối có thể dạy ta nhiều điều :
       a/ Sau khi ngoại tình với Bétsabê và biết Bétsabê mang thai, vua Đavít muốn dấu
nhẹm tội mình nên lại phạm thêm một tội khác, đó là giết chết Uria chồng nàng  Nếu
phạm tội mà không nhận tội, lại còn muốn che dấu nó, chúng ta có thể bị đẩy đưa đến chỗ
phạm thêm những tội khác nữa.
       b/ Khi ngôn sứ Natan kể chuyện về một người nhà giàu đang tâm giết chết người
hàng xóm nghèo để chiếm đoạt con chiên độc nhất của người này, Đavít đã nổi giận và
đưa ra phán quyết "Nó đáng chết"  Thấy tội người khác dễ hơn thấy tội của mình.
       c/ Nhưng sau khi ngôn sứ Natan vạch tội Đavít ra, nhà vua đã khiêm tốn nhìn nhận
"Tôi đã đắc tội với Chúa"  Đây chính là điều làm cho Đavít từ một người tội lỗi trở nên
một vị thánh. Có mấy người mau mắn nhìn nhận tội lỗi của mình khi bị người khác vạch
ra ? Rất nhiều người chẳng những không nhìn nhận mà còn ác cảm với kẻ dám vạch tội
mình.
       d/ Đavít trở thành thánh nhân còn nhờ một yếu tố khác nữa : từ đó về sau, nhà vua
đã ý thức về lòng thương xót của Chúa và hết lòng đáp lại tình thương của Ngài  Trong
bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói "Ai được tha nhiều thì yêu mến nhiều"
       * 5. Tội và tình
       Người ta thường nói "tội tình". Cách nói vô ý thức ấy lại chứa đựng một chân lý rất
sâu sắc : tội lỗi và tình thương thường đi đôi với nhau.
       Qua dụ ngôn Chúa Giêsu kể về hai con nợ được tha thứ, ta có thể hiểu rằng tội đi
trước, tình đi sau, bởi vì "Ai được tha nhiều thì yêu mến nhiều". Vì được tha thứ nên yêu
mến.
       Tuy nhiên, qua một câu nói khác cũng của Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng này thì
ta cũng có thể hiểu rằng tình đi trước : "Tội của chị rất nhiều nhưng đã được tha, bằng cớ
là chị đã yêu mến nhiều". Vì yêu mến nên được tha.
       Hai trường hợp trên là nói về lòng yêu mến của tội nhân : lòng yêu mến có khi đi
trước, có khi đi sau. Nhưng khi nói về Thiên Chúa thì tình yêu của Ngài luôn đi trước.
Thánh Kinh đã ghi nhận biết bao bằng chứng là Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta
trước. Chính tình yêu của Ngài kêu gọi chúng ta sám hối, rồi tình yêu của Ngài tha thứ
chúng ta, sau đó tình yêu của Ngài lại khuyến khích chúng ta yêu mến Ngài hơn. Tóm lại
tình yêu Thiên Chúa bao trùm tất cả, trước, trong và sau khi chúng ta phạm tội.
       * 6. Ông Simon và Chúa Giêsu
       Một đêm cúp điện, trời tối. Người chồng đem chiếc đèn dầu ra để thắp sáng. Chiếc
đèn đã quá cũ. Bóng đèn bám đầy khói. Tim đèn không còn nhạy. Người chồng bực bội
quăng chiếc đèn dầu vào xó, và tìm một cây nến thay thế.
       Tuần sau lại cúp điện. Người vợ châm lửa vào một chiếc đèn dầu xinh đẹp. Ánh
sáng tỏa ra rất ấm cúng.
       Người chồng ngạc nhiên hỏi vợ : "Em mới mua chiếc đèn này hả ? Bao nhiêu
tiền ?" Người vợ cười đáp : "Chẳng tốn bao nhiêu cả, vì đó là chiếc đèn cũ. Chỉ tốn thời
giờ thôi. Em đã lau chùi bóng đèn, vuốt lại tim đèn. Thế là nó có thể xử dụng tốt lại như
trước".
       Quẳng đi món một đồ hư thì dễ hơn sửa nó lại nhiều. Đối với con người cũng thế.
Dán lên con người lầm lỗi một nhãn hiệu rồi quẳng vào tù thì dễ. Nhưng làm thân với họ,
tìm hiểu họ, rồi giúp họ thay đổi là một việc khó hơn.
       Ông Simon trong bài Tin Mừng này là một người biệt phái, nên ông ghét người tội
lỗi. Đối với ông, người phụ nữ tội lỗi kia là thứ người phải bỏ đi, không đáng được cứu.
Những người như Simon rất nhiều trong thời chúng ta. Họ không tin rằng con người có
thể sửa đổi, vì thế họ không cho kẻ tội lỗi có cơ hội sửa đổi. Một nền văn minh không tin
vào sự cứu rỗi là một nền văn minh không có hy vọng.
       Phần Chúa Giêsu, Ngài biết người phụ nữ này có tội, nhưng Ngài cũng thấy
phương diện tốt của nàng. Ngài tin tưởng vào phương diện tốt ấy và giúp nàng đứng dậy.
Thật tuyệt vời nếu có ai đó còn tin tưởng ta, không lên án ta mà còn yêu thương ta nữa.
       Thái độ của Chúa Giêsu dạy chúng ta phải biết nhận ra điều tốt nơi người khác và
yêu thương người ấy. Tội lỗi chỉ có thể cứu chữa bằng yêu thương. Kết án không bao giờ
giải thoát được (FM)
       * 7. Đấng cứu chữa
      Tôi mơ thấy mình gặp Chúa.
      Vừa run, vừa xấu hổ, vừa buồn phiền, tôi kể cho Ngài nghe hết tất cả mọi tội lỗi tôi
đã phạm.
      Kể xong, tôi vẫn còn quỳ đó, chờ đợi án phạt của Ngài, một án phạt rất nặng mà tôi
rất đáng chịu.
      Thế nhưng Chúa đứng lên, lấy một lọ dầu và nói : "Để Ta chữa lành thương tích
của con".
      Tôi ngạc nhiên hỏi lại : "Thương tích nào, lạy Chúa ? Chính con là kẻ gây thương
tích cho biết bao người khác".
      Vừa nói xong tôi chợt hiểu ngay là Ngài có lý, bởi vì có tội cũng chính là bị
thương. Tôi là người có tội, thương tích của tôi chính là tội của tôi.
      Vì thế tôi đã để cho Ngài xức dầu chữa trị thương tích của tôi.
      Sau đó tôi ra đi mà lòng tràn ngập mừng vui. Lòng tốt của Chúa đã khiến tôi cũng
cảm thấy mình tốt và muốn được giống như Ngài. (FM)
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
      Chủ tế : Anh chị em thân mến, Thiên Chúa là Đấng hay thương xót và tha thứ.
Người luôn sẵn sàng tha thứ lỗi lầm của những kẻ có tội thật lòng sám hối ăn năn. Luôn
tin tưởng vào tình thương tha thứ của Chúa, chúng ta cùng khiêm tốn cầu xin :
1. Dung mạo của Hội thánh là dung mạo hiền lành của Chúa Giêsu / Chúng ta hiệp lời
   cầu xin cho hết thảy mọi người / tìm được nơi Hội thánh lòng khoan dung vô bờ.
2. Trên thế giới ngày nay / tệ nạn xã hội tràn lan khắp mọi nơi / ảnh hưởng không tốt đến
   đời sống hôn nhân và gia đình / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho việc ngăn chặn tệ nạn
   xã hội của các quốc gia / đạt được nhiều kết quả tốt đẹp.
3. Đời sống khó khăn / tình trạng thất nghiệp / nhiều khi làm gia tăng tội ác trong xã
   hội / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi người đều tìm được việc làm ổn định lâu dài.
4. Gia đình là nền tảng của xã hội và Giáo hội / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các bậc
   cha mẹ trong giáo xứ chúng ta / biết quan tâm đến việc giáo dục nhân bản và đức tin
   cho con cái bằng lời nói / nhưng đặc biệt là bằng chính gương sáng của mình.
      Chủ tế : Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa ban ơn trợ giúp để chúng con biết triệt để sống
Lời Chúa dạy trong Tin mừng. Nhờ đó, chúng con có thể mạnh dạn nói như thánh Phaolô
tông đồ : Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi. Chúa
hằng sống và hiển trị muôn đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
     - Trước Kinh Lạy Cha : Lời Chúa hôm nay hẳn đã giúp chúng ta cảm mến tình
thương tha thứ của Thiên Chúa, Cha chúng ta. Chúng ta hãy dâng lên Ngài tâm tình cảm
mến, và xin Ngài giúp chúng ta cũng biết tha thứ cho anh chị em chúng ta.
VII. GIẢI TÁN
      Lời Chúa Giêsu nói với người phụ nữ tội lỗi cũng là nói với chúng ta : "Lòng tin
của con đã cứu con. Con hãy đi bình an".
                                CHÚA NHỰT XII
                                      CHỦ ĐỀ :
          CHÚA GIÊSU LÀ ĐẤNG MESSIA CHỊU KHỔ




                          "Người ta nghĩ Thầy là ai ?"
                                       (Lc 9,18)
      Sợi chỉ đỏ :
      - Bài đọc I (Dcr 12,10-11) : Hình ảnh Đấng Messia chịu khổ được ngôn sứ Dacaria
tiên báo.
      - Tin Mừng (Lc 9,18-24) : Lời tiên báo ấy đã được Chúa Giêsu thực hiện.
      - Bài đọc II (Gl 3,26-29) : Kitô hữu cũng phải đi con đường Đức Kitô đã đi, vì họ
đã mặc lấy Đức Kitô.
      Minh họa
      - Mille images 62 D
      - "Người ta nghĩ Thầy là ai ?" (Lc 9,18)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
      Anh chị em thân mến
      Thánh giá là dấu hiệu của Kitô giáo chúng ta. Thánh giá hiện diện ở mọi nơi chúng
ta sinh hoạt tôn giáo, như nhà thờ, bàn thờ gia đình, đất thánh v.v. Trước khi làm một
việc đạo đức, chúng ta luôn làm dấu Thánh Giá.
      Hôm nay chúng ta hãy tìm hiểu Lời Chúa để biết rõ hơn về ý nghĩa đích thực của
Thánh giá. Và chúng ta xin Chúa giúp chúng ta yêu mến Thánh Giá theo đúng ý nghĩa
đích thực ấy.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
      - Chúng ta tôn kính những ảnh tượng Thánh Giá, nhưng lại sợ và trốn tránh những
thánh giá Chúa gởi đến trong cuộc đời.
      - Chúng ta có khuynh hướng muốn được thêm chứ không muốn từ bỏ bớt.
      - Chúng ta hay sống theo dư luận hơn là sống theo sự hướng dẫn của Chúa.
III. LỜI CHÚA
       1. Bài đọc I (Dcr 12,10-11)
       Ngôn sứ Dacaria tiên báo rằng sẽ tới ngày Thiên Chúa tuôn đổ Thánh Thần xuống
trên dân (như chuyện sẽ xảy ra trong ngày lễ Hiện xuống), khi đó, nhờ được Thánh Thần
soi sáng, họ sẽ hiểu rằng kẻ mà họ đã giết chết chính là Đấng Messia, cho nên họ sẽ
ngước nhìn lên Ngài và sẽ khóc than sám hối.
       2. Đáp ca (Tv 62)
       Tác giả Tv 62 đã ý thức Thiên Chúa là Đấng phù trợ mình, nên mong ước được gặp
Ngài để bày tỏ với Ngài những tâm tình tạ ơn và yêu mến.
       3. Tin Mừng (Lc 9,18-24)
       Thánh Phêrô thay mặt nhóm 12 tuyên xưng Chúa Giêsu chính là Đấng Messia
(Kitô). Chúa Giêsu xác nhận lời tuyên xưng đó, nhưng cho biết thêm Ngài là một Đấng
Messia phải chịu đau khổ và chịu chết. Ngài còn nói thêm rằng ai muốn làm môn đệ Ngài
thì cũng phải chịu khổ như Ngài.
       Ta hãy tìm hiểu kỹ các câu 23-24 "Rồi Chúa Giêsu nói với mọi người : Ai muốn
theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo"
       . "Nói với mọi người" nghĩa là những câu này Chúa Giêsu không dạy riêng Nhóm
12 tông đồ mà dạy chung mọi tín hữu.
       . "Ai muốn theo tôi" nghĩa là ai muốn làm môn đệ Chúa Giêsu ("đi theo" ai là làm
môn đệ cho người đó)
       . "Từ bỏ chính mình" : xem ra từ bỏ mình nghĩa là tha hoá, vong thân (aliénation),
mình không còn phải là mình nữa. Xét theo tâm lý học thì điều này không tốt, vì mỗi
người phải giữ cái độc đáo của mình. Nhưng xét theo thần học thì lại rất tốt : tuy ta không
còn là mình nữa nhưng ta hóa nên giống Chúa Giêsu thì thật tuyệt vời. Đó chính là "thần
hóa". Lý tưởng mà thánh Phaolô luôn nhắm tới là được trở nên "đồng hình đồng dạng"
với Chúa Giêsu. Hơn nữa đây thực sự không phải là "tha hóa" mà là tìm lại chính mình,
bởi vì từ đầu Thiên Chúa đã tạo dựng nên con người "giống hình ảnh" Ngài. Chỉ sau đó
do tội lỗi nên con người bị "tha hóa". Nay cố gắng trở nên giống Chúa Giêsu chính là tìm
lại hình ảnh ban đầu.
       . "Vác thập giá mình" : Kiểu nói này có nhiều nghĩa : a/ Đón nhận những khổ cực
của mình, cũng như Chúa Giêsu đã đón nhận những khổ cực của Ngài ; b/ Theo luật hình
sự Rôma, người bị kết án đóng đinh phải tự mình vác lấy thập giá của mình ra pháp
trường. Như thế, "vác thập giá mình" nghĩa là coi như mình đã bị kết án tử ; c/ câu 24 giải
thích câu 23 : "Quả thật ai liều mất mạng sống mình vì tôi…". Như thế "vác thập giá" có
nghĩa là "liều mất mạng sống", hay nói nôm na là "liều mạng" vì Chúa.
       . "Hằng ngày" : những việc vừa kể trên (bỏ mình và vác thập giá) là việc thường
gặp trong đời sống.
       4. Bài đọc II (Gl 3,26-29) (Chủ đề phụ)
      Nhờ phép rửa, người tín hữu đã "mặc lấy Đức Kitô" và đã "nên một trong Chúa
Giêsu Kitô". Hiệu quả :
      - Họ thuộc về Đức Kitô.
      - Họ trở thành con Thiên Chúa.
      - Mọi người là anh em với nhau, không phân biệt do thái hay hy lạp, nô lệ hay tự
do, nam hay nữ nữa.
IV. GỢI Ý GIẢNG
       * 1. Nét độc đáo của Chúa chúng ta
       Tín đồ tôn giáo nào cũng hãnh diện và tôn sùng vị Thần của đạo mình, vì vị Thần
ấy có uy quyền mạnh mẽ, có hào quang chói ngời, có địa vị chí tôn. Nói chung, đối với
các vị Thần của các tôn giáo, thái độ của các tín đồ là "kính nhi viễn chi".
       Nhưng Chúa Giêsu Kitô của chúng ta thì đặc biệt hơn cả : Ngài cũng uy quyền,
vinh quang và cao cả, nhưng Ngài còn mang vào Ngài thân phận hèn hạ của chúng ta,
hơn nữa Ngài còn chịu đau khổ với chúng ta và vì chúng ta để cứu chúng ta.
       * 2. "Người ta nghĩ tôi là ai ?"
       Câu hỏi trên đã ảnh hưởng rất mạnh trên cách sống của nhiều người. Họ cố gắng
sống làm sao để được dư luận khen ngợi mình là người giỏi, người tốt.
       Phần Chúa Giêsu, tuy Ngài cũng hỏi các môn đệ câu hỏi đó, nhưng không phải để
biết dư luận rồi chìu theo dư luận. Cách chung dư luận nghĩ Ngài là một ngôn sứ. Phêrô
thì nghĩ Ngài là Đấng Messia Con Thiên Chúa. Nếu Chúa Giêsu thích dư luận đó thì Ngài
sẽ tích cực thi thố quyền phép để dư luận càng ca tụng mình. Nhưng Ngài không chìu
theo dư luận. Ngược lại Ngài muốn dư luận biết đúng về Ngài : Messia thật đấy nhưng là
một Messia chịu đau khổ.
       Phần chúng ta, chúng ta cũng nên tự hỏi "Người ta nghĩ tôi là ai ?" Hỏi như thế để
biết dư luận. Nhưng biết không phải để chìu theo mà biết để điều chỉnh cách sống của
mình theo đúng lý tưởng của mình. Nếu dư luận chưa nhận ra tôi là môn đệ Đức Kitô thì
quả là vì tôi đã không sống đúng lý tưởng của mình ("Người ta cứ dấu này mà nhận biết
chúng con là môn đệ Thầy, là chúng con thương yêu nhau"). Cho nên tôi phải thay đổi
cách sống. Còn nếu dư luận đã nhận biết tôi là môn đệ Đức Kitô thì tôi vui mừng và tiếp
tục cố gắng để ngày càng giống hình ảnh người môn đệ Đức Kitô hơn.
       * 3. "Ai muốn theo Ta…"
       Nếu câu hỏi của Chúa Giêsu chỉ có bao nhiêu chữ thế thôi, thì tất cả chúng ta,
những người đã rửa tội, đều có thể đáp lại thật nhanh : "Con muốn… Con muốn theo
Chúa".
       Nhưng nếu nghe trọn câu Ngài nói "Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ chính mình, vác
thập giá mình hằng ngày mà theo", thì chắc hẳn số người nhanh chóng trả lời "Con
muốn" sẽ giảm đi rất nhiều.
       Nhiều người gia nhập Kitô giáo để kiếm lợi, như để được ơn Chúa phù hộ cho sống
bình an, để làm ăn phát đạt, hay để được Giáo Hội hỗ trợ nhiều mặt.
       Nhiều người tưởng rằng mình "đi theo" Chúa, chứ thực ra là muốn Chúa "đi theo"
mình và luôn ở bên cạnh để giúp đỡ mình.
       Nhiều người tưởng đã đi theo Chúa nhưng không bao giờ "từ bỏ" chính mình, và
rất sợ phải "vác thập giá mình hàng ngày mà theo"
       * 4. Nghịch lý
       Nghịch lý là điều thoạt xem có vẻ phi lý nhưng khi suy nghĩ kỹ thì thấy rất hợp lý.
Trong bài Tin Mừng này, Chúa Giêsu nói về 2 nghịch lý :
       a/ Nghịch lý giữa mất và được
       Theo khuynh hướng tự nhiên thì ai cũng muốn được và sợ mất. Nhưng nghịch lý
thay, nhiều khi vì "được" mà phải "mất" : Thí dụ trong một vụ tranh cãi, bạn cố gắng
dùng đủ mọi mưu mô để cãi cho bằng được, kết quả là bạn thắng một vụ cãi nhưng mất
tình nghĩa bạn bè, anh em và có khi cả cha con ; trái lại nhiều khi nhờ "mất" mà lại
"được" : Thí dụ thánh Anphongsô là một luật sư nổi tiếng. Một lần kia Ngài nhận biện hộ
cho một vụ kiện lớn, Ngài bị thua. Thất bại ê chề hôm đó đã giúp Ngài nhận thức rằng
danh vọng thế gian chỉ là giả trá, Ngài đi tìm một lẽ sống khác và đã trở thành một vị
thánh.
       b/ Nghịch lý giữa chết và sống
       Chết và sống không hẳn là 2 điều luôn đối nghịch nhau, nhiều khi chúng liên kết hỗ
trợ nhau : sự chết nuôi sự sống và sự sống sống được là nhờ sự chết. Vài thí dụ :
       - Nơi thực vật : những thứ được dùng làm phân bón phải chết đi thì mới thành chất
bổ dưỡng cho cây.
       - Nơi sinh vật : các thức ăn phải "tiêu" mới "hóa" thành lương thực.
       - Ngọn nến : sáp nến phải chảy ra và bị đốt thì ánh sáng mới bùng lên.
       * 5. Đối với tôi, Chúa Giêsu là ai ?
       Cô Ann Thomas kể lại câu chuyện sau đây : Hôm đó, cô và Betty ghé vào một sạp
bán đồ cũ. Ann vừa lôi ra một khay đồ linh tinh, Betty bước tới hỏi :
       - Có đồ gì đáng giá không ?
       Ann trả lời :
       - Không, toàn là đồ năm vố thôi.
       Đoạn cô bước sang bên cạnh nhường cho Betty vào xem. Betty chăm chú nhìn vào
đống lặt vặt, nhặt lên một cây thập giá cũ han gỉ và nói :
       - Thật khó mà tin được. Tôi đã tìm được đồ quí : cây thánh giá này làm bằng chất
bạc xưa.
       Cô bạn của Ann đem về nhà lau chùi và đánh bóng cây thập giá. Đây quả là một vật
quí.
       Về sau, đứa con trai bảy tuổi của Betty tên Bobby cầm cây thập giá lên ngắm nghía
hồi lâu. Bỗng nhiên cậu bé oà lên khóc. Betty liền hỏi :
       - Con sao vậy ?
       Bobby nói :
       - Con không cầm lòng được khi thấy Chúa Giêsu bị treo trên thập giá.
       Ba người nhìn vào cây thập giá, có ba thái độ khác nhau : một người dửng dưng
cho là đồ ve chai, người khác thích thú vì khám phá ra vật quí, còn người khác nữa lại
xúc động rơi lệ vì nhận ra Chúa Giêsu chịu đau đớn trên thập giá.
       Tin Mừng hôm nay kể, Chúa Giêsu bất thần hỏi các môn đệ : "Đám đông nói Thầy
là ai ?" Các ông thưa : "Họ bảo Thầy là ông Gian Tẩy Giả, nhưng có kẻ thì bảo là ông
Êlia, kẻ khác lại cho là một trong các ngôn sứ thời xưa đã sống lại". Nhưng Chúa lại
muốn biết suy nghĩ của chính ho ï : "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?" Và chỉ một
mình Phêrô mau mắn, đầy xác tín thưa : "Thầy là đấng Kitô của Thiên Chúa" (TP)
      6. Trở thành chính mình
      Khi Chúa Giêsu hỏi các môn đệ "Người ta nghĩ Thầy là ai", Ngài không hỏi thế vì
Ngài bởi vì Ngài đã biết rõ Ngài là ai rồi. Ngài hỏi thế là vì các môn đệ, Ngài tạo dịp cho
họ suy nghĩ chín chắn về bản thân Ngài.
      Một số người thèm khát được người ta chấp nhận. Có lẽ vì trước đó họ thường bị
người khác không để ý, không đánh giá cao hoặc chê bai nên họ đâm ra nghi ngờ chính
bản thân mình và nay họ tìm kiếm sự nhìn nhận của người khác. Người nào càng thiếu tự
tin và ít thành đạt thì người ấy càng cần xác định căn tính của mình trong một nhóm hoặc
một tầng lớp xã hội đang thành đạt.
      Chúng ta cần phải hiểu rõ sự thật mình là thế nào và chấp nhận sự thật ấy. Một khi
đã hiểu mình và chấp nhận sự thật của mình rồi thì mình không cần tô vẽ về mình hay
mua chuộc sự khen ngợi của người khác nữa. Dù người ta không hiểu, không khen ngợi,
thậm chí chê bai phê phán, mình cũng luôn vững vàng. Bởi vì giá trị của mình không
phải do lời khen chê của người khác, mà do chính sự thật của mình.
      Tuy nhiên, đôi khi ta cũng phải tìm hiểu xem người khác nghĩ sao về mình, để nếu
người ta nghĩ đúng thì ta có thể dựa vào đó mà sửa mình. Alfred Nobel là một kỹ nghệ
gia giàu có và nổi tiếng. Chính ông là người đã chế tạo ra cốt mìn. Dù giàu có và nổi
tiếng như thế nhưng đời ông không hạnh phúc, ông luôn nhìn đời một cách bi quan. Một
ngày kia, do một sự hiểu lầm, người ta tưởng ông chết nên báo chí đã loan tin ấy và còn
viết bài nhận định về sự nghiệp của ông. Sáng hôm đó Alfred Nobel vừa thức dậy đọc
được bài báo ấy và giật mình. Điều làm ông giật mình nhất là người ta đã coi ông là "ông
vua cốt mìn". Ông nghĩ : mình đã sống thế nào, đã làm gì khiến cho người ta chỉ nhớ về
ông như là người chế tạo ra cái công cụ giết người khủng khiếp ấy. Thế là ông quyết định
dùng tài sản kết sù của mình để xây dựng thế giới. Ông đặt ra giải thưởng mang tên
Nobel, trao cho những ai có đóng góp nổi bật về các lãnh vực vật lý, hóa học, y khoa, văn
chương và hòa bình. Alfred Nobel muốn lịch sử sẽ ghi nhớ ông như một người cổ vũ cho
hòa bình thế giới chứ không phải là một "ông vua cốt mìn". (FM)
      7. Chuyện minh họa
      a/ Thế nào là anh hùng ?
      Cuốn phim The Superman (siêu nhân) rất nổi tiếng. Sau khi đóng thành công vai
chính trong phim này, diễn viên điện ảnh Christopher Reeve đã được rất nhiều người
phỏng vấn. Câu mà anh thường được hỏi nhất là "Theo anh nghĩ, thế nào là một vị anh
hùng ?" Anh đã trả lời rất nhanh : Anh hùng là người có sức mạnh, có mưu trí và có lòng
can đảm. Nhờ những đức tính đó, người anh hùng luôn chiến thắng trong những cuộc
đụng độ với các kẻ thù.
      Thế rồi, một biến cố đặc biệt xảy đến với anh : tháng 5 năm 1995 anh bị té ngựa và
từ đó về sau bị bại liệt từ cổ trở xuống. Từ đó trở đi, cuộc sống của anh rất khó khăn và
khổ sở đến nỗi nhiều khi anh không muốn sống nữa. Tuy nhiên anh cũng cố gắng sống.
Và anh đã có một suy nghĩ khác hẳn về người anh hùng : anh hùng là người luôn tìm
được sức mạnh để vượt qua tất cả những khó khăn chướng ngại trong đời thường.
      b/ Vác thập giá mình
       Có một người kia được Chúa cho vác một cây thập giá. Nhưng anh ta không chịu
nổi, anh đến xin Chúa cho đổi cây thập giá khác. Chúa bằng lòng : "Ngoài nghĩa địa có
vô số thập giá đủ loại. Con cứ ra đó muốn chọn cây nào tùy thích." Dưới ánh trăng mờ
trên nghĩa địa, anh ta đã thở phào nhẹ nhõm vất cây thập giá của mình và loay hoay chọn
cây khác. Nhưng anh tìm mãi vẫn không được : cây thì quá dài, cây thì quá ngắn, có cây
nhẹ nhàng nhưng sù sì khó vác, có cây trơn tru nhưng nặng quá... Và rồi đêm nào cũng
thế.. cho đến một lần kia anh tìm được cây thập giá vừa ý nhất, nhẹ nhàng và êm ái nhất,
vác về nhà. Nhưng ôi khi nhìn kỹ lại thì ra đó chính là cây thập giá đầu tiên mà Chúa đã
trao cho anh ngày nào ! (Trích "Phúc")
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
      Chủ tế : Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu Kitô đã chết và sống lại để cứu chuộc
chúng ta. Với lòng tri ân sâu xa Thiên Chúa là tình yêu. Chúng ta cùng dâng lời cầu xin :
1. Hội thánh được Chúa Giêsu thiết lập để tiếp tục công cuộc cứu độ của Người / Chúng
   ta hiệp lời cầu xin cho mọi thành viên trong đại gia đình Hội thánh / luôn ý thức về sứ
   mạng rao giảng Tin mừng của mình / và hết lòng cộng tác vào công việc cao quý này.
2. Trên thế giới ngày nay / chia rẽ / hận thù / kỳ thị / bất công / vẫn còn đang ngự trị
   trong đời sống của nhân loại / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa ban cho con người
   ngày nay / một tình yêu mạnh hơn sự chết và lớn hơn hận thù.
3. Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các Kitô hữu / biết
   mạnh dạn tuyên xưng niềm tin của mình bằng lời nói / nhưng nhất là bằng chính đời
   sống bác ái yêu thương / và phục vụ tận tụy của mình.
4. Chúa Giêsu nói : / Ai muốn theo tôi / phải từ bỏ chính mình / vác thập giá mình hằng
   ngày mà theo / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết kiên
   tâm bền chí / và dấn thân theo Chúa đến cùng.
      Chủ tế : Lạy Chúa, Đức Kitô Con Chúa đã dùng tình thương mà chinh phục thế giới
và xoa dịu đau khổ của những người bất hạnh. Xin Chúa cho chúng con biết noi gương
Người là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
      - Trước kinh Lạy Cha : Thánh Phaolô nói : Nhờ phép rửa, chúng ta đã nên một với
Chúa Giêsu Kitô. Vậy chúng ta hãy hợp một lòng một ý với Ngài mà dâng lên Chúa Cha
lời kinh sau đây.
VII. GIẢI TÁN
     Chúng ta sắp rời Nhà thờ để trở về cuộc sống thường ngày với bao nhọc nhằn,
phiền muộn và đau khổ. Nhưng chúng ta hãy ý thức rằng đó chính là những thánh giá
hằng ngày mà Chúa gởi đến cho chúng ta. Chúng ta hãy can đảm vác lấy mà đi theo
Chúa. Có như thế chúng ta mới xứng đáng là môn đệ của Ngài.
                               CHÚA NHỰT XIII
                                      CHỦ ĐỀ :
                        CHỌN LỰA DỨT KHOÁT




                                  "Hãy theo Ta"
                                       (Lc 9,59)
       Sợi chỉ đỏ :
       - Bài đọc I (1 V 19,16b.19-21) : Khi được gọi làm ngôn sứ, Êlisê đã dứt khoát bỏ
tất cả (bò, cày, cha mẹ)
       - Tin Mừng (Lc 9,51-62) : Chúa Giêsu đòi 3 người xin đi theo làm môn đệ Ngài
phải dứt khoát từ bỏ tất cả.
       Minh họa
       - Mille images 70 C
       - "Hãy theo Ta" (Lc 9,59)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
      Anh chị em thân mến
      Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy Chúa Giêsu cương quyết lên Giêrusalem mặc dù
biết rõ lên đấy Ngài sẽ bị bắt, bị hành hạ và bị giết chết. Qua chuyện này ta biết Chúa
Giêsu trung thành đến mức nào đối với nhiệm vụ mà Chúa Cha giao cho Ngài. Nhiều khi
lòng trung thành đòi hỏi phải hy sinh rất nhiều.
     Chúng ta hãy bày tỏ lòng trung thành với Chúa, xin Ngài tha thứ cho những lần
chúng ta đã bất trung, và xin Ngài giúp chúng ta thêm can đảm để luôn trung thành với
Chúa cho dù phải hy sinh.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
      - Xin Chúa tha thứ những lần chúng con bất trung với Chúa.
      - Xin Chúa tha thứ những lần chúng con không dám từ bỏ những điều bất xứng với
Chúa.
      - Xin Chúa tha thứ những lần chúng con chọn tội lỗi mà bỏ Chúa.
III. LỜI CHÚA
       1. Bài đọc I (1 V 19,16b.19-21)
       Bài tường thuật ơn gọi của Êlisê :
       - Thiên Chúa bảo Êlia hãy chọn Êlisê làm ngôn sứ thay thế cho mình.
       - Êlia đi tìm và gặp thấy Êlisê đang cày ruộng. Ông quăng chiếc áo choàng của
mình (tượng trưng cho sứ mạng làm ngôn sứ) cho Êlisê. Êlisê hiểu ý, liền bỏ bò lại chạy
theo Êlia, nhưng xin được phép về từ giã cha mẹ trước. Êlia đồng ý. Sau khi từ giã cha
mẹ, Êlisê lấy chiếc cày làm củi đốt lên quay cặp bò làm thịt cho dân chúng ăn, rồi đi theo
ngôn sứ Êlia.
       2. Đáp ca (Tv 15)
       Tác giả Tv này đã nhất quyết chọn Chúa làm cơ nghiệp của mình nên bày tỏ sự phó
thác trọn vẹn đời mình trong tay Chúa.
       3. Tin Mừng (Lc 9,51-62)
       Đoạn Tin Mừng này gồm hai chuyện :
       a/ Chuyện một làng Samaria không đón tiếp Chúa Giêsu : Trước sự việc trái ý này,
Gioan và Giacôbê biểu lộ những thói xấu rất tầm thường của con người :
       - Tính nóng nảy : hễ gặp chuyện không vừa ý là lập tức muốn trừng phạt.
       - Óc bè phái : phân biệt bạn thù và hở một chút là muốn tiêu diệt kẻ thù.
       - Lạm dụng quyền hành : ỷ mình là môn đệ Chúa Giêsu nên muốn dùng lửa trời để
thỏa mãn tính nóng giận cá nhân.
       Chúa Giêsu dạy hai bài học :
       - Xác định ý hướng căn bản của sứ mệnh : Con Người đến không phải để giết chết
mà để cứu sống.
       - Nhường nhịn : làng này không tiếp mình thì sang làng khác.
       b/ Chuyện 3 người muốn làm môn đệ Chúa Giêsu : Điều quan trọng trong những
chuyện này không phải là những nhân vật (vì không chi tiết nào mô tả các nhân vật ra
sao), mà là giáo huấn của Chúa Giêsu về những điều kiện để làm môn đệ Ngài.
       - Người thứ nhất muốn đi theo Chúa Giêsu đến bất cứ nơi nào. Trường hợp này
thường xảy ra trong xã hội thời đó : có những người vì ngưỡng mộ một rabbi nào đó nên
bỏ gia đình và xin theo ở với rabbi đó trong một thời gian vài ba năm (xem Ga 1,37-49)
       Câu trả lời của Chúa Giêsu cho thấy Ngài không giống như các rabbi : cuộc sống
của Ngài là cuộc sống lang thang rày đây mai đó, vì Ngài là một con người bị từ chối
(xem chuyện trên, một làng Samaria không tiếp rước Ngài). Vậy điều kiện thứ nhất để
làm môn đệ Chúa Giêsu là phải giống Ngài ở chỗ chấp nhận một cuộc sống vật chất
không ổn định, có thể bị từ chối và còn có thể bị giết chết nữa.
       - Người thứ hai : không phải cha người này vừa chết, nhưng ông ta vẫn còn sống. Ý
người này là tuy cũng muốn theo Chúa Giêsu, nhưng xin một thời hạn chờ cho tới khi cha
anh chết và được chôn cất xong xuôi rồi anh mới theo Ngài. Trong đầu anh đã có sẵn một
ưu tiên : ưu tiên cho bổn phận hiếu thảo.
         Chúa Giêsu nói : "Mặc cho kẻ chết chôn người chết" : tiếng Pháp rõ nghĩa hơn
"mặc cho les mortels chôn les morts" (nghĩa là mặc cho người phàm lo việc thế phàm.
Hiểu ngầm người môn đệ Chúa Giêsu phải lo việc Nước Thiên Chúa). Điều kiện thứ hai
là phải dành ưu tiên cho bổn phận đối với Nước Thiên Chúa, trên cả những bổn phận đối
với thân nhân. Không phải Chúa Giêsu coi nhẹ những bổn phận đối với gia đình (x. Mt
15,3-9) nhưng Ngài dạy rằng trong trường hợp có xung đột giữa hai bên thì môn đệ phải
coi trọng Nước Thiên Chúa hơn.
       - Lời xin của người thứ ba cũng giống lời xin của Êlisê (1.V 19,19-21). Lời đáp của
Chúa Giêsu cũng khiến ta nhớ lúc đó Êlisê đang kéo cày "đầu ngoái lại sau" : còn luyến
tiếc quá khứ. Như vậy điều kiện thứ ba là phải dứt khoát với quá khứ (của cải, địa vị
vv...), hơn nữa phải có một con tim không san sẻ để chỉ còn lo cho Nước Thiên Chúa mà
thôi.
       Theo văn mạch : Chúa Giêsu sắp đi vào giai đoạn quyết liệt là chịu chết, sống lại và
lên trời. Ngài muốn các môn đệ mình cũng phải đi cùng một hành trình như Ngài. Thế
nhưng người ta có thể từ chối lời mời gọi của Ngài bằng nhiều cách : hoặc vì những
thành kiến tôn giáo như dân làng Samaria ; hoặc vì quá cậy dựa vào những bảo đảm vật
chất, những quyến luyến gia đình và quyến luyến quá khứ.
       4. Bài đọc II (Gl 4,31b--5,1.13-18) (Chủ đề phụ)
       Thánh Phaolô cho tín hữu Galata biết rằng họ đã được rửa tội nên đã trở thành
những con người tự do. Sau đó Thánh Phaolô dạy cho họ biết phải sống thế nào như một
người tự do : Người tự do là người sống theo sự hướng dẫn của Thánh Thần chứ không
theo sự xúi dục của xác thịt
       - Bởi đó đừng viện cớ mình tự do rồi buông tuồng theo những đòi hỏi của xác thịt.
       - Hãy theo Thánh Thần soi sáng mà sống bác ái với anh chị em mình.
IV. GỢI Ý GIẢNG
       * 1. Đời là những chọn lựa
       Trong kho tàng chuyện ngụ ngôn có một câu chuyện dí dỏm như sau :
       Một con khỉ cầm hai nắm đậu rồng, một hạt đậu rơi xuống đất. Nó tính nhặt hạt đậu
đó lên, không ngờ vừa nhón tay lại rơi thêm hai mươi hạt nữa. Nó định nhặt hai mươi hạt
đậu đó lên, ai ngờ vừa mở ngón tay, cả nắm đậu trong tay bị bung ra hết. Con khỉ hoảng
hốt làm bung nốt nắm đậu ở trong tay kia, nó dùng cả tay lẫn chân vét đậu lại, nhưng
càng khều thì đậu càng văng ra xa. Cuối cùng cả hai nắm đậu tản ra trên mặt đất như một
đám khói.
       Cuộc sống không ngừng đòi hỏi chúng ta phải chọn lựa. Và chọn lựa nào cũng phải
chịu thiệt thòi mất mát. Kẻ bắt cá hai tay vẫn luôn là người thua thiệt nhiều nhất. Con khỉ
vì tiếc một hạt đậu mà mất cả hai nắm đậu trên tay.
       Người thứ nhất trong bài Tin Mừng hôm nay xin đi theo Chúa đến bất cứ nơi đâu,
nhưng Người bắt anh phải chọn lựa : hoặc là được an toàn ổn định dưới một mái nhà, có
chăn ấm nệm êm ; hoặc là phải bấp bênh phiêu bạt, không một mái nhà : "Con chồn có
hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ dựa đầu" (Lc 9, 58).
       Người thứ hai xin đi theo Chúa, nhưng với điều kiện cho anh về chôn cất thân sinh
trước đã. Chúa trả lời : "Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo
triều đại Thiên Chúa" (Lc 9, 54). Thế là anh phải đứng trước một chọn lựa giữa người
thân và việc loan báo Tin Mừng.
       Người thứ ba xin đi theo Chúa, nhưng xin phép về từ biệt gia đình. Chúa đòi anh
phải chọn lựa dứt khoát : "Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không
thích hợp với Nước Thiên Chúa" ( Lc 9, 62).
       Thực ra, Chúa Giêsu rất coi trọng việc hiếu kính cha mẹ. Người phán : "Thiên Chúa
dạy : Ngươi hãy thờ cha kính mẹ ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử" (Mi
15,4). Nhưng Người cũng dạy chúng ta phải tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước đã, nghĩa
là Người muốn chúng ta chọn lựa đâu là ưu tiên một, đâu là ưu tiên thứ yếu. Đối với
người tín hữu Kitô, ưu tiên một chính là việc tìm kiếm Nước Thiên Chúa, nó quan trọng
hơn cả cha mẹ, vợ con, anh chị em, và cả mạng sống mình nữa (x. Lc 14, 26).
       Nếu cuộc đời con người là một chuỗi những chọn lựa, thì chính những chọn lựa ấy
sẽ dệt nên cuộc đời riêng của mỗi người.
       Nếu cuộc đời người tín hữu Kitô là một chọn lựa dứt khoát cho việc tìm kiếm Nước
Thiên Chúa, thì đó chính là một chuỗi những lời đáp trả tiếng Chúa vang lên từng phút
giây trong cuộc sống.
       Nhìn lại những chọn lựa hằng ngày, chúng ta chợt giật mình, vì thấy chúng ta
thường hay chọn mình : sở thích của mình, tự do của mình, hạnh phúc của mình, gia đình
của mình... Chúng ta chọn tất cả những gì ít nhiều dính dáng đến bản thân. Nhưng Chúa
Giêsu lại dạy : "Hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước đã, còn mọi sự khác, Người sẽ
thêm cho" (Mi 6, 33). (TP)
       * 2. Suy nghĩ về điều kiện thứ nhất : "Không có chỗ gối đầu"
       "Chỗ gối đầu" là một nơi thoải mái mình muốn chọn làm nơi thường trú, là một nếp
sống tiện nghi mình muốn được hưởng mãi. Ai mà không thích có một chỗ gối đầu như
thế.
       Tuy nhiên nếu là môn đệ Chúa Giêsu thì không được "mọc rễ" ở "chỗ gối đầu" đó.
Một vài thí dụ :
       - Cuộc sống của tôi đã thành nếp : ban ngày làm việc, tối về nhà nghỉ ngơi giải trí
với gia đình, ngày Thứ bảy Chúa nhựt là thời gian hưởng thụ. Những lúc nghỉ ngơi, giải
trí và hưởng thụ ấy chính là những "giờ thánh" của tôi, không ai được đụng đến. Nhưng
tối nay, nhà hàng xóm có người hấp hối, người ta mời tôi sang cầu nguyện, phải bỏ mất
một tập phim truyền hình đang hồi gay cấn ! Chúa nhựt tới, Cha Xứ mời tôi dự phiên họp
các gia trưởng, mất toi một buổi nghỉ ngơi ! Nếu muốn làm môn đệ Chúa Giêsu, tôi phải
chấp nhận những mất mát đó.
       - Từ trước tới nay tôi là một tín hữu bình thường, đọc kinh tối sáng hằng ngày,
Chúa nhựt và lễ trọng đều đi dự lễ. Tôi thấy như vậy là đủ quá rồi. Bây giờ người ta mời
tôi tham gia sinh hoạt đoàn thể trong Xứ đạo : nào là hội họp, nào là đi công tác tông đồ,
nào là đóng góp quỹ này quỹ nọ… Nếp sống của tôi bị xáo trộn. Nếu muốn làm môn đệ
Chúa Giêsu, tôi phải chấp nhận những xáo trộn đó.
      * 3. Suy nghĩ về điều kiện thứ hai : "Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết"
      Có thể chia những việc làm thường ngày của chúng ta thành hai loại : những việc
"của kẻ chết" là những việc lo cho đời sống vật chất như làm ăn kiếm tiền, nhà cửa, tiện
nghi, giải trí, hưởng thụ, địa vị, thể diện v.v. Và những việc "hằng sống" như cầu nguyện,
bác ái, tông đồ, truyền giáo…
      Chúa dạy người môn đệ Ngài phải ưu tiên cho những việc sau, hoặc khi có mâu
thuẫn giữa hai loại việc thì phải can đảm bỏ loại việc thứ nhất để chọn loại việc thứ hai.
      Thực tế, hằng ngày chúng ta lo loại việc thứ nhất nhiều hơn loại việc thứ hai ; và
khi phải chọn một bỏ một thì chúng ta chọn loại thứ nhất và không chút ngần ngại bỏ loại
việc thứ hai.
      4. Óc phe nhóm
      Bắc Ai Len là một đất nước mà những người tin lành và những người công giáo
thường xuyên xung đột với nhau. Jackie Hewitt là chủ tịch một Cộng đồng Tin lành. Một
hôm ông đang lái xe về thủ đô Belfast thì nghe Radio trên xe loan tin có một quả bom
phát nổ ở Shankill (khu vực của người tin lành) làm cho 3 người chết. Ông nổi giận và
nghĩ "Khốn kiếp, cần phải đặt một quả bom ở khu Falls Road (khi của người công giáo)".
Xe ông chạy gần tới Belfast thì Radio lại loan tin có thêm một quả bom phát nổ nữa và
làm chết thêm 7 người. Ông hét lên : "Phải cài 2 quả bom bên khu người công giáo".
Cuối cùng xe của ông chạy tới nơi xảy ra vụ nổ. Ông thấy những người đồng đạo kẻ thì
khóc, người thì la, đòi trả thù. Những lời la hét ấy cũng giống những lời của ông thôi,
nhưng chúng làm ông phát sợ : "Khi tôi nghe người ta hét lên những điều chính tôi đang
nghĩ trong đầu, tôi thật sự hoảng sợ".
      Vào thời Chúa Giêsu, những người Samaria và những người do thái là kẻ thù của
nhau. Vì thế khi dân cư một làng Samaria nghe tin Chúa Giêsu muốn đi ngang làng họ để
lên Giêrusalem thì họ không đón tiếp Ngài. Giacôbê và Gioan nổi giận, xin Chúa Giêsu
cho họ khiến lửa từ trời xuống đốt rụi cả làng Samaria ấy.
      Đây là một thí dụ điển hình của óc phe nhóm. Phe nhóm của tôi đúng hay sai gì thì
cũng là phe nhóm của tôi nên tôi cương quyết bảo vệ, và chống lại phe nhóm khác. Óc
phe nhóm của những người Samaria đã tệ, mà óc phe nhóm của hai môn đệ còn tệ hơn :
theo họ nghĩ, ai mà chống lại phe nhóm của họ là chống chính Thiên Chúa cho nên phải
bị Thiên Chúa trừng phạt.
      Nhưng Chúa Giêsu không tán thành, Ngài quở mắng các ông và Thầy trò đi sang
làng khác.
      Trả thù thì dễ. Không trả thù mới khó, vì nó đòi hỏi ta can đảm hơn và có nghị lực
nhiều hơn. Việc Chúa Giêsu không cho môn đệ trả thù và Thầy trò đi sang làng khác
chứng tỏ Chúa Giêsu can đảm và rất nhiều nghị lực. Kẻ yếu thì nghĩ rằng mình phải
thắng, còn người mạnh thì biết rằng mình không cần phải thắng trong mọi trường hợp.
      Cần phải chống lại sự xấu, nhưng không phải bằng cách dùng một sự xấu khác, bởi
vì sự xấu chỉ có thể được chế ngự bằng sự thiện mà thôi.
      Bài Tin Mừng hôm nay dạy chúng ta hiểu rằng muốn đi theo Chúa thì chúng ta phải
theo con đường của Ngài, đó không phải là con đường báo thù, con đường bạo động, mà
là con đường yêu thương, con đường cứu độ (FM)
      5. Không bỏ cuộc
      Viktor Frankl bị giam cầm 3 năm trong những trại tập trung Auschwitz và Dachau
của Quốc xã Đức. Ông kể lại câu chuyện sau :
      Ông là một bác sĩ nên được giao trách nhiệm chăm sóc các tù nhân bị bệnh. Gần
cuối cuộc chiến, ông và một bạn tù đã tìm được một cách để vượt ngục. Nhưng trước khi
trốn đi, ông đi một vòng thăm các bệnh nhân. Một bệnh nhân sắp chết hỏi "Có phải ông
sắp trốn ra không ?" Frankl chối. Nhưng câu hỏi ấy cứ ám ảnh ông, khiến ông có mặc
cảm tội lỗi là ông đào nhiệm. Ông thấy mình có lỗi với các bệnh nhân. Cuối cùng ông
bảo người bạn kia hãy trốn đi một mình, còn ông thì quyết định ở lại. Từ lúc đó ông thấy
lòng mình rất thanh thản. Dù ông biết rằng tiếp tục ở lại trong trại tập trung thì sẽ gặp rất
nhiều khổ sở, nhưng ông chấp nhận và cảm thấy rất bình an trong lòng.
      Bài Tin Mừng hôm nay bắt đầu bằng câu "Chúa Giêsu nhất quyết lên Giêrusalem".
Ngài biết có rất nhiều gian khổ đang chờ Ngài ở Giêrusalem như bị từ chối, bị phản bội
và bị giết chết. Nhưng sứ mạng Chúa Cha giao cho Ngài ở Giêrusalem thì Ngài phải hoàn
thành, không thể quay lui được.
      Đáp lại một người muốn đi theo làm môn đệ Ngài, Chúa Giêsu cũng nói "Ai đã tra
tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa". Đã
dấn thân theo một lý tưởng thì phải kiên trì cho đến cùng.
      Điều này ban đầu thì dễ. Nhưng với tháng năm trôi dần, khó khăn tăng thêm thì
kiên trì trở nên rất khó. Khi ấy, ta bị cám dỗ "ngoái lại đàng sau".
      Lời Chúa Giêsu nói với người muốn theo làm môn đệ Ngài cũng là nói với chúng
ta. Ngài kêu gọi chúng ta theo Ngài không phải trong một thời gian mà theo suốt cả đời.
      Xin Chúa giúp chúng ta kiên trì bước theo Ngài, không bao giờ "ngoái lại đàng
sau" (FM)
      6. Vài mẫu chuyện minh họa cho việc trả thù
      a/ Đem yêu thương vào nơi oán thù
      Cha S. Hodden thấy một đại úy đến xin học đạo. Khi ngài hỏi lí do, ông trả lời như
sau : "Trong đại đội tôi, có một binh nhì là Kitô-hữu. Đêm nọ, anh đi gác về, mình mẩy
ướt nhẹp, nhưng trước khi ngủ, anh còn quì gối đọc kinh. Ngứa mắt, tôi đá cho anh một
cú vào đầu, ngã lăn ra. Nhưng anh ngồi dậy, không nói gì và tiếp tục cầu nguyện.. Sáng
hôm sau, tôi thấy đôi giầy mà tối qua tôi đá anh được đánh bóng láng và xếp ngay ngắn
bên giường ngủ. Điều đó làm tôi sững sờ, hổ thẹn và vì thế tôi quyết tâm học đạo."
      b/ Không có kẻ thù
      Một thầy giảng lên tiếng : Mọi người đều có kẻ thù. Ông mời bất kỳ một thính giả
nào không có kẻ thù lên nói về chính mình.
      Một sự thinh lặng đồng tình với lời xác quyết đó. Nhưng rồi một người già giơ tay
và nói : "Tôi không có kẻ thù".
      Đương đầu với lời mời và gây sự chú ý của thính giả, ông nói : "Rất dễ. Tôi không
quan tâm đến họ".
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
      Chủ tế : Anh chị em thân mến, trung thành theo Chúa đến cùng, bất chấp mọi thử
thách gian nan, là lý tưởng của người Kitô hữu. Luôn tin tưởng vào ơn trợ giúp của Chúa,
chúng ta cùng dâng lời cầu xin :
1. Hội thánh có sứ mạng củng cố đức tin cho người Kitô hữu trên toàn thế giới / Chúng
   ta hiệp lời cầu xin cho các vị mục tử / luôn tìm mọi phương thế thích hợp / để giúp các
   tín hữu sống trọn vẹn niềm tin của mình.
2. Khuynh hướng thích báo thù / dùng bạo lực để giải quyết tranh chấp / gây ra biết bao
   thảm họa cho con người / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho đức bác ái của Chúa Kitô /
   tác động đến mọi sinh hoạt trần thế / để mọi người biết yêu thương và tôn trọng nhau.
3. Thánh Phaolô cho biết : / dấn thân theo Đức Kitô là sống bác ái yêu thương và phục
   vụ lẫn nhau / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các Kitô hữu / biết cố gắng thực hiện lời
   khuyên của vị tông đồ dân ngoại.
4. Chúa Giêsu đã nói : / Ai yêu mến Thầy / sẽ giữ lời Thầy / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho
   cộng đoàn giáo xứ chúng ta / luôn sống theo Lời Chúa dạy trong Tin mừng.
      Chủ tế : Lạy Chúa Giêsu, trong đời sống chứng nhân thường ngày, chúng con gặp
biết bao là thử thách gian truân. Vì thế, để có thể trung kiên bước theo Chúa đến cùng,
sức riêng của chúng con không thể thực hiện được. Vậy, xin Chúa ban ơn trợ giúp để
chúng con đi trọn cuộc lữ hành trần thế. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
      - Trước kinh Lạy Cha : Chúng ta hãy nhớ đến lời Chúa Giêsu quở trách hai môn đệ
muốn sai lửa từ trời xuống thiêu đốt làng Samaria, và hãy sốt sắng khi đọc câu "xin Cha
tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con"
VII. GIẢI TÁN
      Cuộc sống là một chuỗi những chọn lựa. Chúng ta sắp trở lại cuộc sống. Hãy nhớ
những gì Chúa đã dạy chúng ta trong Thánh lễ hôm nay và hãy can đảm chọn lựa những
gì thuộc về Nước Thiên Chúa.
           CHÚA NHỰT XIV
                CHỦ ĐỀ :
        CHÚA SAI TÔI ĐI
LOAN TIN BÌNH AN VÀ HẠNH PHÚC




   "Ngài sai họ đi từng hai người một"
                 (Lc 10,1)
      Sợi chỉ đỏ :
      - Bài đọc I (Is 66,10-14c) : Khi dân do thái đang vừa trở về từ chốn lưu đày, ngôn
sứ Isaia loan báo rằng Thiên Chúa sẽ ban bình an và hạnh phúc tràn trề cho họ.
      - Đáp ca (Tv 65) : Ca tụng những phúc lành của Thiên Chúa.
      - Tin Mừng (Lc 10,1-12.17-20) : Chúa Giêsu sai 72 môn đệ đi khắp nơi loan báo
Tin Mừng.
      - Bài đọc II (Gl 6,14-18) : Thánh Phaolô loan báo những phúc lành mà Thập giá
Chúa Giêsu ban cho các tín hữu.
      Minh họa
      - Mille images 67 C
      - "Ngài sai họ đi từng hai người một" (Lc 10,1)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
      Anh chị em thân mến
      Bài Tin Mừng hôm nay thuật chuyện Chúa Giêsu sai 72 môn đệ đi khắp nơi như
những sứ giả của sự bình an và hạnh phúc. Ngày nay Chúa cũng sai chúng ta như thế.
Nhưng muốn là những sứ giả của bình an và hạnh phúc thì trước tiên chúng ta phải có
bình an và hạnh phúc trong lòng chúng ta. Đó là hai ơn rất quý mà chúng ta hãy xin Chúa
ban trong Thánh lễ này.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
     - Chúng ta chỉ lo đến phần rỗi của riêng mình mà không nghĩ đến việc cứu rỗi
người khác.
     - Trong cuộc sống chung đụng với người khác, chúng ta chưa thực sự là những
người mang lại bình an và hạnh phúc cho họ.
     - Chúng ta chưa được như Thánh Phaolô, biết sung sướng hãnh diện vì Thập Giá
Đức Kitô.
III. LỜI CHÚA
      1. Bài đọc I (Is 66,10-14c)
      Vua Cyrus nước Ba Tư vừa tiêu diệt đế quốc Babylon và ký sắc lệnh cho phép dân
do thái hồi hương. Trong bầu khí phấn khởi vui mừng đó, ngôn sứ Isaia nói tiên tri rằng
Thiên Chúa sẽ ban phúc lành cho dân. Điều đáng lưu ý là phúc lành quý giá nhất chính là
ơn bình an : "Ta sẽ làm cho bình an chảy đến nó (Giêrusalem) như con sông".
      2. Đáp ca (Tv 65)
      Tv này reo mừng Thiên Chúa và ca ngợi về những ơn lành của Ngài.
      3. Tin Mừng (Lc 10,1-12.17-20)
      Đoạn Tin Mừng này đã được Phụng vụ cắt bớt khúc giữa (cc 13-16), để chỉ còn lại
hai phần chính : Chúa Giêsu sai các môn đệ đi rao giảng (cc 1-12), và các môn đệ rao
giảng xong trở về kể chuyện cho Ngài nghe (cc 17-20)
      a/ Chúa Giêsu sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng :
      - Theo tường thuật của Thánh Luca, Chúa Giêsu đã sai đi rao giảng không phải chỉ
nhóm tông đồ mà còn cả nhóm môn đệ nữa. Luca muốn nhấn mạnh rằng không riêng gì
các tông đồ, mà tất cả mọi người đều được Chúa Giêsu sai đi rao giảng Tin Mừng. Ý này
lại được làm rõ thêm với con số 72. Đây là số dân của loài người mà St 10 đã liệt kê.
       - "Từng nhóm hai người" : Việc loan Tin mừng không phải là việc của một cá nhân
riêng lẻ, mà là việc của cộng đoàn, không phải là độc quyền của riêng ai, nhưng phải liên
đới và liên kết với nhiều người khác.
       - "Hãy cầu xin" : Việc đầu tiên mà nhà truyền giáo phải làm là "cầu xin". Thiên
Chúa là chủ mùa gặt, nhận ai vào Nước Thiên Chúa là quyền của Ngài và là ơn của Ngài.
Chúa Giêsu bảo cầu xin là để các môn đệ ý thức rằng họ được gọi là nhờ ơn Chúa, và để
có thêm nhiều người nữa nhận được ơn ấy.
       - "Như chiên non vào giữa sói rừng" : Chúa Giêsu khuyến cáo các môn đệ về
những hiểm nguy và sự thù nghịch mà có thể họ sẽ gặp phải.
       - "Đừng chào ai dọc đường" : việc chào hỏi của người Phương Đông thường kéo
theo những câu chuyện rề rà rất lâu. Trong khi sứ mạng loan Tin mừng đòi phải gấp.
       - "Bình an cho nhà này" : đây vừa là một lời chúc vừa là một lời ban ơn bởi vì nó
có sức tạo nên điều nó chúc (Is 45,23). Người rao giảng Tin Mừng phải là "con cái của sự
bình an". Họ phải có bình an trong mình và sau đó đem bình an ấy ban lại cho người
khác. Nếu nhà nào đáng được hưởng ơn bình an thì được bình an, nếu không thì ơn bình
an trở lại cho người chúc.
       - "Cứ ở lại nhà ấy" : gặp nhà nào đầu tiên cho ở thì người môn đệ hãy ở đó. Đừng
tìm hiểu nhà để so sánh chọn lựa nhà nào tiện nghi hơn. Điều quan trọng là loan báo Tin
mừng Nước Thiên Chúa chứ không phải tiện nghi cho mình hoặc cách người ta tiếp rước
mình.
       - "Ăn uống của người ta cung cấp cho mình" : sứ mạng của môn đệ đừng để bị ảnh
hưởng bởi những quan tâm có tính cách trần thế (đòi hỏi hoặc e ngại những gì của ăn
uống người ta lo cho mình).
       - "Thợ đáng trả lương" : đây là một nguyên tắc (1Tm 5,18 ; 1Cr 9,11). Nhưng
người thừa sai cũng có thể tự ý từ chối (1Cr 9,14-18).
       - "Người ta dọn thức gì cứ ăn thức ấy" : Người rao giảng Tin Mừng Chúa Giêsu
không còn bị bận vướng bởi luật Môsê về sự phân loại thức ăn nào sạch, thức ăn nào dơ
(1Cr 10,27).
       - "Hãy chữa lành các bệnh nhân" : đây là dấu hiệu Nước Thiên Chúa gần đến.
       - "Phủi bụi chân" : người Do Thái thường phủi bụi chân khi từ một vùng đất ngoại
trở về đất Palestina vốn được coi là đất thánh. Cử chỉ này có nghĩa là không có chung
đụng giữa Israel và dân ngoại. Thành nào không đón nhận sứ điệp của Chúa Giêsu thì
cũng cắt đứt liên hệ với dân Thiên Chúa, trách nhiệm là thuộc về họ.
       - Thành đó sẽ đáng chịu phán xét trong ngày chung thẩm, họ sẽ bị trừng phạt nặng
nề còn hơn Sôđôma ngày xưa. Việc các thừa sai đến loan Tin mừng là cơ hội cho người
ta chọn lựa để hoặc được cứu độ hoặc bị luận phạt.
       b/ Sau một thời gian đi truyền giáo trở về, các môn đệ vui mừng kể lại cho Chúa
Giêsu nghe những thành công của mình. Nhân dịp này Chúa Giêsu nhận xét về kết quả ấy
của họ : Ngài chia vui với họ vì những thành công ấy. Nhưng Ngài cho biết họ càng nên
vui mừng hơn vì Thiên Chúa đã coi họ là công dân của Nước Trời ("tên các con được ghi
trên trời")
    4. Bài đọc II (Gl 6,14-18) (Chủ đề phụ)
    Trong đoạn thư này gởi tín hữu Galata, Thánh Phaolô chia xẻ cho họ biết một Tin
Mừng đặc biệt mà Ngài khám phá ra, đó là giá trị tuyệt vời của thập giá Đức Kitô :
    - Thập giá đã mang lại ơn cứu độ cho mọi người
    - Thập giá trở thành lẽ sống của Phaolô
    - Thập giá là nguồn bình an và hạnh phúc của Ngài.
IV. GỢI Ý GIẢNG
       * 1. Những kẻ mang bình an
       Lời đầu tiên mà Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải nói khi vào một nhà nào là "Bình
an cho nhà này". Như thế nghĩa là họ sẽ làm những sứ giả của sự bình an. Nói cách khác,
làm sứ giả của bình an là sứ mạng đầu tiên của người môn đệ Chúa.
       Bắc Ai Len là một đất nước mà hai khối dân Công giáo và Tin lành thù ghét nhau
và nhiều lần bắn giết nhau. Vào một dịp lễ Giáng sinh, một Linh mục công giáo đi sang
bên kia đường để đến thăm một Mục sư Tin Lành. Vị Mục sư rất cảm động, đón tiếp vị
Linh mục rất niềm nỡ. Ít lâu sau Vị Mục Sư cũng sang bên kia đường để thăm vị Linh
mục. Tình thân giữa hai người ngày càng thắm thiết hơn. Tuy nhiên một vài tín đồ lớn
tuổi thì nổi giận. Họ tìm đủ cách để cấp trên của Giáo Hội thuyên chuyển vị Mục sư ấy đi
nơi khác.
       Vị Linh mục và Vị Mục sư trên chỉ làm điều mà tất cả các môn đệ Chúa Giêsu phải
làm, đó là làm những sứ giả của bình an và hòa giải trong một xã hội có nhiều chia rẻ.
       Bình an không phải là một cái gì tiêu cực do không có chiến tranh và thù hận. Nó
đòi phải có tinh thần cởi mở, tình huynh đệ, lòng khoan dung, thiện chí và ước muốn hòa
giải. Nó buộc chúng ta đi đến với người khác. Nó giúp chúng ta gỡ bỏ những rào cản của
nghi kỵ, sợ hãi, thành kiến và óc cố chấp.
       Trước lúc Rước Lễ, chủ tế chúc "Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em". Đây
thực là một món quà quý giá mà thế gian không thể ban tặng được. Tiếp đó chủ tế kêu
gọi "Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau". Đáp lời Ngài, chúng ta chào nhau, đến bắt
tay nhau hoặc ôm hôn nhau. Ước chi những cử chỉ đó không phải chỉ là hình thức mà
thực sự bày tỏ lòng thân thiện của chúng ta. Cuối Thánh lễ, chủ tế lại chúc "Chúc anh chị
em ra về bình an". Câu này có nghĩa là chúng ta đã đến nhà thờ lãnh nhận bình an của
Chúa, vậy khi ra về chúng ta cũng hãy mang bình an ấy đến cho mọi người chúng ta sẽ
gặp gỡ.
       * 2. Mênh mông lúa đồng
       Một buổi tối nọ, ông John Keller, một diễn giả nổi tiếng được mời thuyết trình
trước khoảng một trăm ngàn người tại vận động trường Los Angeles. Đang diễn thuyết,
bỗng ông dừng lại và nói : "Xin các bạn đừng sợ. Tôi sắp cho tắt tất cả đèn trong sân vận
động này".
       Đèn tắt, sân vận động chìm sâu trong bóng tối dày đặc. Ông John Keller nói tiếp :
"Bây giờ tôi đốt lên một que diêm. Những ai nhìn thấy ánh lửa của que diêm tôi đốt thì
hãy kêu lớn lên : "Đã thấy !" Một que diêm được bật lên, cả vận động trường vang lên :
"Đã thấy !"
      Sau khi đèn được bật sáng, ông John Keller giải thích : "Ánh sáng của một hành
động nhân ái nhỏ như một que diêm sẽ chiếu sáng trong đêm tăm tối của nhân loại y như
vậy".
      Một lần nữa, tất cả đèn trong sân vận động lại tắt. Một giọng nói vang lên ra lệnh :
"Tất cả những ai có mang theo hộp quẹt, xin hãy đốt cháy lên !" Bỗng chốc, cả vận động
trường rực sáng.
      Ông John Kener kết luận : "Tất cả chúng ta hợp lực cùng nhau, có thể chiến thắng
bóng tối, sự dữ và oán thù bằng những đốm sáng nhỏ của tình thương và lòng tốt của
chúng ta".
      Đã qua 2000 năm nhưng lời dạy của Chúa Giêsu vẫn như đang nói với chúng ta
hôm nay : "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít" (Lc 10,2). Thế giới có trên 6 tỉ người, mà
kẻ tin vào Chúa mới chỉ hơn một tỉ. Riêng tại Á Châu, chiếm 2/3 dân số thế giới, nhưng
người Công giáo chỉ không tới 3%.
      Cánh đồng lúa mênh mông còn bị bỏ hoang không thợ gặt hái. Thế giới này dường
như vẫn còn mò mẫm trong bóng đêm dày đặc của sự dữ, của tranh chấp, của oán thù ;
rất cần những đốm sáng của tình thương, của khoan dung, của tha thứ. Thế nên, không lạ
gì Chúa Giêsu đã nói : "Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con vào
giữa bầy sói" (Lc 10,3) (…)
      "Ra đi" chứ không phải "ở lại", đó là một lệnh truyền. Cả cuộc đời của Thầy là một
hành trình : Sinh ra ngoài đường, sống và rao giảng ngoài đường, cuối cùng chết cũng
ngoài đường. Thầy luôn lên đường và không ngừng ra đi. Công đồng Vaticano II cũng
long trọng khẳng định : "Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo" (TG 2). Đức
Thánh Cha Gian Phao lô II cũng quả quyết : "Không một ai trong những người rin vào
Đức Kitô, không một tổ chức nào trong Giáo Hội được miễn khỏi trách vụ cao cả này :
Đó là toan báo Đức Kitô cho mọi dân tộc" (Sứ vụ Đấng Cứu Độ, 3).
      Vậy ơn gọi của người tín hữu Kitô là "Ra đi".
      Ra đi đem "bình an" đến cho các dân tộc, bình an giữa mọi người với nhau, bình an
với Chúa.
      Ra đi chữa lành bệnh nơi thể xác cũng như trong tâm hồn.
      Ra đi loan báo Nước Thiên Chúa đã đến gần, nước tình yêu và ân sủng, nước công
chính và bình an.
      Thánh Phao lô đã phải thốt lên : "Khốn cho thân tôi : nếu tôi không rao giảng Tin
Mừng" (1Cr 9,16). Nhưng việc làm mới chứng thực cho lời rao giảng, và lời rao giảng sẽ
soi sáng cho việc làm. Ra đi là để làm chứng, và lời chứng sáng giá nhất chính là việc
làm. Đúng như L. Moody đã nói : "Các ngọn hải đăng không thổi còi ầm ĩ, chúng chỉ
chiếu sáng". (TP)
      * 3. "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít"
      Catherine de Hueck Doherty làm việc trong một quán bar ở Mahattan. Đến 4 giờ
sáng, cô nói lời tạm biệt với các khách uống rượu. Một người hỏi :
      - Cô đi đâu ?
      - Tôi phải đu Nhà thờ dự Thánh lễ, vì hôm nay là Chúa nhật.
      - Thế cô là người công giáo hả ?
      - Đúng vậy.
       Nhiều người trong đám khách rất ngạc nhiên vì không ngờ Catherine có thể vừa là
một người công giáo ngoan đạo vừa làm việc tại một nơi phức tạp như vậy. Vài tuần sau,
một người trong đám khách trở lại nói với Catherine : "Cô đã khiến tôi suy nghĩ nhiều.
Cô có thể vừa sống đạo tốt vừa làm việc ơ một nơi như thế này, thì tại sao tôi không
thể !" Và người ấy đã trở lại nhà thờ.
       Lần khác, Catherine đang trên đường tới trạm xe điện ngầm thì gặp một bà cụ. Bà
cụ mở lời "Cô có vui lòng nói chuyện với tôi giây lát không ?" Cô vui vẻ nhận lời. Hai
người đã nói chuyện với nhau trong suốt chặng đường. Sau đó hai người còn kết thân với
nhau và Catherine thường xuyên tới thăm viếng bà cụ cho tới ngày bà cụ qua đời.
       "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít". Một kitô hữu có ý muốn làm thợ gặt như cô
Catherine thì không bao giờ thiếu dịp để gặt lúa cho Chúa.
       * 4. Mảnh suy tư
       Tông đồ là kẻ được sai đi.
       Vì thế làm tông đồ rất khác với làm chuyên viên. Làm chuyên viên thì cần phải có
tài năng. Còn làm tông đồ thì chỉ cần đi theo lệnh Chúa sai, đến với người Chúa sai mình
đến, và mọi việc khác hầu như Chúa sẽ làm tất cả.
       5. Chuyện minh họa
       a/ Đi giảng
       Ngày kia, thánh Phanxicô Assadi nói với một thày dòng : "Nào chúng ta cùng đi
phố và giảng đạo." Hai người ra đi, hết con đường trước mặt, quẹo sang đường khác rồi
về nhà. Thày dòng thắc mắc hỏi : "Con nghe ngài nói là mình đi phố và giảng đạo cơ
mà !" Thánh Phanxicô đáp : "Chúng ta đã giảng đạo rồi đó ! Khi chúng ta đi đường. Mọi
người nhìn ta, thấy phong cách của ta, nghĩ về đời sống của ta và rồi họ sẽ thắc mắc về
nguồn sống nơi linh hồn của họ. Như thế chẳng phải là ta đã giảng đạo cho họ rồi sao ?"
       Câu nói của thánh nhân quả là khôn ngoan. Người Kitô-hữu không có cách truyền
giáo nào hay hơn là chính đời sống chứng tá của họ.
       b/ Khuôn vàng thước ngọc
       "Hãy nói về Chúa cho những người quanh bạn nghe ; và hãy nói về những người
quanh bạn cho Chúa nghe".
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
     Chủ tế : Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu mời gọi người Kitô hữu cộng tác vào
công cuộc cứu chuộc của Người. Với ước mong trở nên những sứ giả Tin mừng cứu độ,
chúng ta cùng dâng lời cầu xin :
1. Hội thánh là dấu chỉ ơn cứu độ Chúa sẵn sàng ban cho hết thảy mọi người / Chúng ta
   hiệp lời cầu xin Chúa gửi nhiều thợ gặt lành nghề / đem tin mừng đến cho mọi loài thọ
   tạo.
2. Khát vọng sâu xa nhất của con người ở mọi thời đại / là được sống bình an và hạnh
   phúc / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa ban hòa bình cho những vùng còn khói lửa
   chiến tranh / để hết thảy mọi người đều được sống hạnh phúc và an bình.
3. Tin tưởng vào Chúa quan phòng là thái độ người Kitô hữu cần có suốt cuộc đời của
   mình / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi tín hữu / biết đặt trọn niềm tin vào sự quan
   phòng kỳ diệu của Chúa / mỗi khi gặp thử thách gian truân.
4. Số linh mục trên thế giới ngày nay thiếu hụt trầm trọng / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho
   cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết góp phần vào việc đào tạo linh mục tương lai của
   các giáo phận / bằng lời cầu nguyện / cũng như bằng việc rộng rãi giúp đỡ Chủng
   viện.
      Chủ tế : Lạy Chúa Giêsu, Chúa sai chúng con đem Tin mừng cứu độ, mang sứ điệp
yêu thương đến cho biết bao anh chị em chưa nhận biết Chúa. Xin Chúa cho chúng con
biết dùng đời sống bác ái yêu thương và phục vụ tận tụy, mà làm tròn sứ mạng này. Chúa
hằng sống và hiển trị muôn đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
     - Trước kinh Lạy Cha : Trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu đã nói "Lúa chín
đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Chúng con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của Người".
Giờ đây chúng ta hãy tha thiết cầu xin Chúa Cha cho Nước Chúa mau trị đến.
     - Chúc bình an : Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng bảo mỗi kitô hữu
chúng ta hãy làm sứ giả của bình an. Chúng ta hãy thật lòng chúc bình an cho nhau.
VII. GIẢI TÁN
      Anh chị em thân mến. Môn đệ Chúa là những sứ giả của bình an. Chúng ta hãy ra
về và mang bình an đến cho tất cả những người chúng ta sẽ gặp gỡ.
                                CHÚA NHỰT XV
                                      CHỦ ĐỀ :
                           LUẬT TRONG LÒNG




                            Người Samaria nhân hậu
                                     (Lc 10,25-37)
      Sợi chỉ đỏ :
      - Bài đọc I (Đnl 30,10-14) : Luật quan trọng nhất của Thiên Chúa là luật ghi khắc
trong lòng mỗi người.
      - Tin Mừng (Lc 10,25-37) : Người Samaria tốt lành đã hành động theo luật yêu
thương xuất phát cách hân thành từ tấm lòng của anh.
      Minh họa
      - Mille images 81 B
      - Người Samaria nhân hậu (Lc 10,25-37)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
      Anh chị em thân mến
      Hôm nay chúng ta sẽ nghe dụ ngôn về người Samaria nhân hậu. Qua hình ảnh
người Samaria này, Chúa muốn chúng ta hãy quân tâm giúp đỡ chăm sóc người khác.
Còn thầy tư tế và thầy lêvi thì xem ra chẳng làm gì nên tội, nhưng thực ra tội của họ
chính là tội thiếu sót : họ đã không làm điều lẽ ra họ phải làm.
      Trước khi cùng nhau dâng Thánh lễ, chúng ta hãy xin Chúa tha thứ mọi tội lỗi của
chúng ta, những tội trong lời nói, việc làm và cả những tội thiếu sót.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
     - Chúng ta rất ít quan tâm đến người khác.
     - Nhiều việc lành chúng ta có thể làm nhưng chúng ta đã bỏ qua không làm.
     - Chúng ta thường thờ ơ dửng dưng trước những người nghèo khổ bệnh tật.
III. LỜI CHÚA
      1. Bài đọc I (Đnl 30,10-14)
      Để khuyến khích dân do thái thực thi những lệnh truyền của Thiên Chúa, ông Môsê
lưu ý họ rằng : Những lệnh truyền của Thiên Chúa không quá khó khăn cũng không vượt
quá sức con người, nhưng có thể thực hiện được vì chúng không ở trên trời hay ở bên kia
biển cả mà ở sát bên con người, nơi miệng con người và trong lòng con người.
      2. Đáp ca (Tv 68)
      Tv này là lời kêu xin của người đang gặp cảnh khổ, mong được Thiên Chúa cứu
giúp.
      Những lời này có thể áp dụng cho nạn nhân trong bài Tin Mừng bị kẻ cướp hành hạ
đến nửa sống nửa chết và bỏ nằm trên đường.
      3. Tin Mừng (Lc 10,25-37)
      1. "Ai là người thân cận của tôi ?" Câu hỏi này của vị Luật sĩ phản ảnh phần nào
chiều hướng suy nghĩ của ông :
      - Ông muốn tìm một câu định nghĩa về "người thân cận". Người do thái thời đó
hiểu "người thân cận" chỉ là những đồng bào do thái với mình.
      - Ông muốn nghe một câu trả lời có tính lý thuyết.
      2. Dụ ngôn người Samari phản ảnh chiều hướng suy nghĩ của Chúa Giêsu :
      - Định nghĩa về "người thân cận" không quan trọng bằng thực thi bác ái với người
thân cận (câu 37)
      - Người thân cận là bất cứ ai (không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, quan điểm...).
Hình như hai nhân vật chính trong dụ ngôn này một người là do thái một người là
Samari.
      - Thay vì tìm hiểu ai là người thân cận, tốt hơn nên tỏ ra mình là người thân cận đối
với những kẻ đang cần mình giúp đỡ (câu 36)
      4. Bài đọc II (Cl 1,15-20) (Chủ đề phụ)
      Tín hữu Côlossê tuy đã tin vào Chúa Giêsu Kitô nhưng chưa an tâm, một mặt họ
vẫn giữ lại những tập tục do thái giáo (như cắt bì, giữ luật ngày Sabát…), mặt khác họ tin
thêm một số thần khác, làm thêm một số việc mê tín dị đoan. Họ nghĩ rằng như thế thì
"chắc ăn" hơn.
      Để bài trừ cách sống đạo "thập cẩm" này, thánh Phaolô đề cao vai trò tối thượng
duy nhất của Chúa Giêsu :
      - Ngài là hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình
      - Ngài là trưởng tử mọi thọ tạo
      - Mọi thọ tạo đều được tạo thành trong Ngài
      - Ngài còn là đầu của Hội Thánh
      - Thiên Chúa đã đặt tất cả mọi sự viên mãn trong Ngài
      Tóm lại, Chúa Giêsu Kitô là Đấng cứu độ duy nhất. Bởi vậy, muốn được cứu độ thì
chỉ cần tin vào một mình Chúa Giêsu Kitô, không cần nhờ bất cứ tôn giáo hay thần thánh
nào khác.
IV. GỢI Ý GIẢNG
       * 1. Các vai trong dụ ngôn
       Thầy tư tế và thầy Lêvi là những người chỉ quan tâm đến bản thân mình : khi gặp
một tình huống đặc biệt, họ nghĩ đến bản thân họ trước (không dừng lại chăm sóc người
bị nạn vì sợ trễ giờ, vì sợ ô uế nếu đụng vào xác chết).
       Người Samaria là người biết nghĩ đến người khác : khi gặp người bị nạn, anh chỉ
biết tìm cách giúp đỡ nạn nhân, không ngại mất giờ, mất công và mất tiền.
       Thầy tư tế và thầy lêvi chú ý giữ luật ghi trên sách vở (luật quy định về thanh sạch
và ô uế) ; Người Samaria giữ luật trong tim (luật yêu thương)
       Thầy tư tế và thấy lêvi không phạm tội nào về lời nói hay việc làm, nhưng phạm tội
thiếu sót vì đã bỏ qua không làm điều mình phải làm.
       * 2. Người chăm sóc
       Người Samaria là một người chăm sóc (carer)
       Loại người này rất hiếm thấy trong xã hội, vì trong xã hội ai nấy chỉ biết lo cho
mình, ít ai để ý chăm sóc người khác, nhất là chăm sóc những người xa lạ không có quan
hệ gì tới mình.
       Nhưng loại người này rất hữu ích cho xã hội. Bằng những việc chăm sóc âm thầm,
nhỏ bé, họ chính là muối và men làm cho xã hội bớt đau khổ, bớt xấu xa và thêm tốt đẹp.
       Khi đề cao người Samaria, Chúa Giêsu muốn chúng ta cũng phải là những người
chăm sóc. Con đường Giêrusalem tới Giêricô chính là đường đời, trên đó không thiếu
những người bất hạnh cần được chăm sóc. Mỗi người cũng được Chúa ban có nhiều khả
năng chăm sóc : một lời an ủi động viên, một cử chỉ thân ái, một giúp đỡ thiết thực chính
là chút rượu và chút dầu xoa dịu những thương đau cho người anh em mình đang gặp đau
khổ. (FM)
       * 3. Lòng tốt tự phát
       Có nhiều người làm một việc tốt cách hết sức tự nhiên và dễ dàng. Đó là những
người mà luật yêu thương đã ăn sâu vào con tim mình, đã trở thành máu thịt và hơi thở
của mình.
       Người Samaria trong dụ ngôn này là một người như thế : khi gặp một nạn nhân trên
đường, anh không cần suy nghĩ gì cả mà tự nhiên xuống lừa, cúi xuống lấy dầu và rượu
xoa dịu những vết thương của nạn nhân, rồi chở nạn nhân đến quán trọ, bỏ tiền ra nhờ
chủ quán tiếp tục lo cho nạn nhân.
       Khác hẳn với Thầy tư tế và thầy Lêvi : hai người này cũng thấy cảnh đó, nhưng đắn
đo suy tính thiệt hơn. Và sau khi suy tính, họ chọn giải pháp "đi qua". Họ thuộc luật rất
nhiều đấy, nhưng luật chưa ăn sâu vào tim và chưa trở thành máu thịt và hơi thở của họ.
       Làm thế nào để có lòng tốt tự phát như người Samaria ? Việc này không phải muốn
là được, không phải chỉ cố gắng tập một lần mà có, mà là kết quả của việc thực thi những
việc tốt nho nhỏ cách đều đặn và kiên trì. Một hành động tốt cao cả là thành quả của
nhiều hành động tốt nho nhỏ đã quen làm trước đó. Phần thưởng đích thực của một hành
động tốt là nó giúp ta có thể làm thêm những hành động tốt khác một cách dễ dàng hơn.
       * 4. Yêu rồi làm
       Một vị ẩn sĩ sống trong một khu rừng luôn bị một cô gái làng chơi đến cám dỗ.
Ngạc nhiên trước sự thanh thản của vị tu hành, nhưng đồng thời cũng nghi ngờ sự bất
bình thường của người đàn ông, cô liền hỏi một câu chế nhạo :
       - Thầy không biết yêu sao ?
       Vị ẩn sĩ trả lời :
       - Chưa đến giờ đó thôi ?
       Câu chuyện bỏ lửng tại đó. Một lần kia, trong lúc đi khất thực, vị tu hành phát hiện
người con gái hay đến phá phách mình đó bị bọn cướp trấn lột và đánh cho thừa sống
thiếu chết bên lề đường. Ông bèn dừng chân lại săn sóc cô ta, chữa các vết thương và đưa
cô về thành phố điều trị.
       Cô gái sững sờ nhìn vị ân nhân mà chưa biết mở lời ra sao, thì vị ẩn sĩ mỉm cười
nói :
       - Đã đến giờ rồi đấy, giờ của lòng thương xót !
       Người thông luật trong bài Tin Mừng hôm nay hỏi Chúa Giêsu : "Ai là người thân
cận của tôi ?" Thay vì trả lời, Chúa Giêsu đã kể dụ ngôn người Samari tốt lành : Một
khách bộ hành đi từ Giêrusalem xuống Giêricô, bị bọn cướp đánh nhừ tử, trấn lột, rồi bỏ
nằm nửa sống nửa chết bên lề đường. Trong khi hai thầy tư tế và Lê vi "tránh qua bên kia
mà đi", thì người Samari ngoại đạo lại dừng chân, băng bó vết thương, đem nạn nhân về
nhà trọ săn sóc.
       Chúa Giêsu hỏi lại người thông luật : "Vậy ai là người thân cận của kẻ bị cướp ?".
Hỏi tức là trả lời. Và người thông luật đáp : "Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót".
Chúa Giêsu bảo : "Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy" (Lc 10,37).
       Vị ẩn sĩ trong câu chuyện trên đây và người Samari nhân hậu đã sống luật yêu
thương một cách tuyệt vời, đó là "yêu bằng việc làm". Yêu không chỉ trên đầu môi chót
lưỡi, rồi phủi tay không làm gì cả, mà yêu chính là "miệng nói tay làm", làm thực sự với
hết khả năng của mình. Những việc làm cụ thể thường hùng hồn hơn những lời nói
suông. Con đường dài nhất là con đường từ trái tim đến đôi tay. Chúa Giêsu muốn chúng
ta đi hết con đường đó : "Hãy đi và làm như vậy". Pascal đã nói : "Khuyết tật lớn nhất
của một người là phục vụ quá ít cho những kẻ họ yêu thương".
       Sở dĩ người ta không dám làm một cái gì đó cho những người anh em, là vì họ
không có can đảm vượt qua nỗi sợ.
       Sở dĩ thầy tư tế và thầy Lê vi "tránh qua bên kia mà đi" là vì các thầy sợ ô uế khi
đụng vào xác chết, sợ bọn cướp còn ẩn nấp đâu đây, sợ rắc rối phiền hà đến bản thân.
       Sở dĩ chúng ta không dám làm một cái gì đó cho người anh em khi họ cần giúp đỡ,
là vì chúng ta sợ phải thiệt thòi, sợ tốn công sức, sợ mất thời gian, sợ phải trả giá, sợ đụng
đến sự an toàn, tiện nghi của mình. Chúng ta muốn được yên thân ! Thầy tư tế và thầy
Lêvi đã tự hỏi : "Điều gì sẽ xảy ra cho tôi, nếu tôi dừng lại và săn sóc người anh em bị
đánh nhừ tử ?". Trái lại, người Samari đã đảo ngược câu hỏi : "Điều gì sẽ xảy ra cho
người anh em bị đánh nhừ tử, nếu tôi không dừng lại và chăm sóc người ấy ?" Người
Samari tốt lành đã xả thân vào một hành động vị tha đầy nguy hiểm.
       Yêu thương không phải là cho đi một cái gì, nhưng là cho đi chính bản thân. Yêu
thương là hy sinh, là quên mình, là hiến thân phục vụ tha nhân : Kahil Gibram có một câu
nói chí tình : "Bạn cho đi quá ít khi chỉ cho đi của cải. Chỉ khi nào cho đi chính mình,
bạn mới thực sự cho đi". Càng đi tìm bản thân, con người càng đánh mất chính mình.
Càng co cụm trong vỏ ốc ích kỷ của mình, con người càng chết dần mòn trong nỗi cô
đơn. Càng muốn được yên thân, con người càng vong thân.
      Nỗi khát khao hạnh phúc của con người chỉ có thể được lấp đầy khi họ biết đến
gần, cúi xuống phục vụ tha nhân.
      Con người chỉ thành đạt thực sự, con người chỉ thục sự là người khi họ dám sống
chết cho anh em.
      Người tín hữu Kitô chỉ thực sự là con Chúa khi họ dám tiêu hao vì người khác. Mẹ
Têrêsa Calcutta nói : "Ki tô hữu là người trao ban chính bản thân mình".
      Yêu rồi làm. Khi đã yêu rồi chúng ta sẽ biết phải làm gì cho người anh em. Khi đã
yêu rồi chúng ta sẽ có sáng kiến để xả thân vì mọi người, nhất là những người nghèo hèn
đau khổ. Khi đã yêu rồi, chúng ta sẽ biết cách làm cho kẻ xa lạ nên người thân cận, kẻ thù
địch nên người bạn tốt, chỉ cần chúng ta dám đừng lại, đến gần và cúi xuống trước anh
em.
      Lạy Chúa cuộc sống đạo của chúng con sẽ trở nên phù phiếm nếu cái cốt lõi của
đạo là yêu thương chỉ là điều phụ thuộc.
      Xin đừng để chúng con loay hoay với những tính toán ích kỷ ; chai đá, dửng dưng
trước những khổ đau của anh em. Nhưng xin dạy chúng con biết chạnh lòng xót thương
và giúp đỡ những ai đang cần đến chúng con. Amen (TP)
      5. Chuyện minh họa
      a/ Lòng hiếu khách tự nhiên
      Alaska là một vùng đất đẹp thu hút nhiều du khách, nhưng cũng là một vùng rộng
lớn thưa dân.
      Ngày kia, một du khách lái xe đi thăm các thắng cảnh thiên nhiên. Quá mãi mê
ngắm cảnh, xe của ông lạc vào một vùng hoang vu. Rủi thay chính lúc đó xe ông bị hư.
Sau một hồi lâu tìm kiếm, ông may mắn gặp được một nông trại và xin ông chủ nông trại
ấy giúp sửa dùm chiếc xe. Người chủ nông trại nhanh nhẹn lấy đồ nghề ra. Nửa giờ sau
xe chạy được. Người du khách móc ví tiền ra, hỏi :
      - Tôi phải trả công cho ông bao nhiêu ?
      - Thôi, khỏi phải trả chi cả.
      - Nhưng tôi thấy có bổn phận trả lại cho ông điều ông đã làm cho tôi.
      - Thì ông đã trả rồi đó.
      - Xin lỗi, tôi chưa hiểu ông muốn nói gì ?
      - Ở nơi hoang vu này, tôi rất cô đơn nên cần có bạn. Ông đã cho tôi có dịp làm bạn
với ông suốt một giờ đồng hồ vừa qua.
      b/ Bản năng giúp người khác
      Larry Skutnik là một người có tính nhút nhát làm việc cho một công sở ở
Washington. Chiều ngày 13 tháng giêng năm 1982, một trận bão tuyết rất lớn đổ xuống
thành phố này. Xe anh đang trên đường về nhà thì bị kẹt trên cầu bắt qua sông Potomac.
Lý do là có một chiếc máy bay chở 79 người đã đâm đầu xuống sông. Anh bước khỏi xe
để quan sát và thấy có 3 người đang bám vào đuôi chiếc máy bay đang chìm dần xuống
nước. Một chiếc trực thăng đã đến kịp. 3 người ấy leo lên trực thăng. Nhưng chỉ 2 người
bám dính, còn người thứ ba, một phụ nữ, vuột tay rơi trở lại xuống nước.
      Không chút ngần ngại, Larry Skutnik nhảy tòm xuống sông, lặn xuống dòng nước
lạnh cóng để tìm kiếm nạn nhân. Một lúc sau anh đã tìm được và đưa bà này lên bờ.
      Tất cả những diễn tiến của cảnh đó đều được thu hình và sau đó được đưa lên
truyền hình. Mọi người đều ca ngợi anh là một vị anh hùng. Sáng hôm sau, một phóng
viên tới phỏng vấn :
      - Do đâu mà anh đã làm được một hành động anh hùng như thế ?
      - Quả thực hai chữ "anh hùng" làm tôi xấu hổ quá. Tôi đâu có cố gắng gì đâu, chỉ là
phản xạ tự nhiên thôi.
      Anh hùng thật là người làm hành động anh hùng một cách tự nhiên như phản xạ.
Người tốt thật là người làm việc tốt một cách rất tự nhiên.
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
      Chủ tế : Anh chị em thân mến, đạo Chúa Kitô là đạo tình thương, chỉ dùng tình
thương mà cảm hóa và chinh phục người khác. Với quyết tâm sống trọn vẹn đức bác ái
yêu thương Chúa đã dạy, chúng ta cùng dâng lời cầu xin :
1. Hội thánh là dấu chỉ tình thương của Chúa đối với nhân loại / Chúng ta hiệp lời cầu
   xin cho mọi thành viên trong đại gia đình Hội thánh / biết luôn chân thành yêu
   thương / và tôn trọng hết thảy mọi người.
2. Trên thế giới ngày nay / chiến tranh và khủng bố / hận thù và bạo lực / vẫn còn đang
   hoành hành ở nhiều nơi / gây ra tang tóc và đau khổ cho biết bao gia đình / Chúng ta
   hiệp lời cầu xin cho đức bác ái của Chúa Kitô tác động đến mọi suy nghĩ / lời nói và
   việc làm của con người hôm nay.
3. Trong đời sống thường ngày / có một số người ngại phiền phức / sợ cực nhọc khi phải
   giúp đỡ người khác / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho tất cả mọi người Kitô hữu biết
   sống quảng đại / và sẵn sàng trợ giúp những ai đang lâm cảnh gian truân khốn khó.
4. Sống bác ái là chu toàn cả Lề Luật của Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng
   đoàn giáo xứ chúng ta / biết rộng rãi chia sẻ cơm áo cho những ai đói rách bần cùng.
      Chủ tế : Lạy Chúa, đức tin đòi buộc chúng con phải sống đức ái. Vậy xin Chúa
thương ban ơn trợ giúp để chúng con có thể sống trọn vẹn niềm tin của mình. Chúng con
cầu xin
VI. TRONG THÁNH LỄ
      - Trước kinh Lạy Cha : Chúa Giêsu đã kêu mời chúng ta hãy yêu thương giúp đỡ
nhau như những anh em cùng một Cha. Vậy chúng ta hãy cùng Ngài dâng lên Chúa Cha
lời kinh say đây :
      - Sau kinh Lạy Cha : "Lạy Cha, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, đặc biệt là lối
sống thờ ơ ích kỷ, xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được bình an…
VII. GIẢI TÁN
     Sau khi kể cho người thông luật nghe dụ ngôn về người Samaria nhân hậu, Chúa
Giêsu đã bảo người đó : "Anh cũng hãy đi và làm như vậy". Trong Thánh lễ này, Chúa
Giêsu cũng kể lại cho chúng ta nghe dụ ngôn ấy. Giờ đây Thánh lễ đã xong, Ngài cũng
bảo chúng ta : "Chúng con hãy đi và làm như vậy". Chúc anh chị em ra về bình an.
Bài đọc thêm
                              CHÚA NHỰT XVI
                                     CHỦ ĐỀ :
                        RƯỚC CHÚA VÀO NHÀ




            "Maria ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Ngài dạy"
                                     (Lc 10,39)
     Sợi chỉ đỏ :
     - Bài đọc I (St 18,1-15) : Abraham rước Chúa vào nhà mình
     - Tin Mừng (Lc 10,38-42) : Matta và Maria rước Chúa vào nhà mình
     Minh họa
     - Mille images 114 B
     - "Maria ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Ngài dạy" (Lc 10,39)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
      Anh chị em thân mến
      Bài Tin Mừng hôm nay kể chuyện hai chị em Matta và Maria rước Chúa Giêsu vào
nhà mình. Matta thì ân cần lo việc phục vụ, còn Maria thì ngồi bên chân Chúa để lắng
nghe lời Ngài.
      Trong Thánh lễ này, chúng ta có dịp làm điều mà Maria đã làm, là ngồi bên chân
Chúa để lắng nghe Lời Ngài. Xin Chúa cho chúng ta được thân thiết với Chúa ngày một
hơn.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
     - Chúng ta quá lo lắng những việc trần gian mà ít quan tâm đến việc Chúa.
     - Chúng ta dành thời giờ cho Chúa mỗi ngày quá ít.
     - Chúng ta chưa quan tâm đủ đến việc ở bên Chúa và lắng nghe tiếng Chúa.
III. LỜI CHÚA
      1. Bài đọc I (St 18,1-15)
      Câu chuyện này làm nổi bật lòng hiếu khách của tổ phụ Abraham : Ông đang ngồi
trong lều giữa trưa nóng bức thì thấy bên ngoài có 3 người đàn ông. Abraham vội vàng
mời 3 người vào lều mình, lấy nước cho họ rửa chân, lấy bột làm bánh, bắt một con bê tốt
nhất làm thịt để tiếp đãi họ. 3 người này chính là sứ giả của Thiên Chúa.
      Đáp lại lòng hiếu khách của Abraham, Thiên Chúa đã cho bà Sara vợ ông có được
đứa con trai đầu lòng mặc dù cả hai ông bà đều đã già quá tuổi sinh con.
      2. Đáp ca (Tv 14)
      Tv này thuộc loại giáo huấn, nhằm trả lời cho câu hỏi "Ai được Thiên Chúa tiếp
đón vào cư ngụ trong nhà Ngài ?" Tác giả trả lời : đó là người sống thanh liêm và thực thi
công chính.
      3. Tin Mừng (Lc 10,38-42)
      Câu chuyện có 3 vai : vai chính là Chúa Giêsu, hai vai phụ là Mác-ta và Maria mỗi
người phục vụ Chúa một cách khác nhau :
      - Mác-ta lăng xăng lo cơm nước, giường chiếu v.v.
      - Maria "ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Ngài dạy"
      Mác-ta khó chịu xin Chúa Giêsu bảo Maria tiếp mình. Nhưng Chúa Giêsu nói :
"Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi", đó là việc Maria đang làm, tức là ngồi bên chân
Chúa đề lắng nghe lời Chúa.
      4. Bài đọc II (Cl 1,24-28) (Chủ đề phụ)
      Thánh Phaolô tỏ ý sung sướng vì được chịu khổ trong khi thi hành sứ vụ tông đồ.
Sở dĩ những đau khổ ấy trở thành niềm vui vì Phaolô ý thức rằng nhớ đó mà ông bổ
khuyết nơi thân xác mình những gì còn thiếu trong cuộc chịu nạn của Chúa Giêsu Kitô.
IV. GỢI Ý GIẢNG
       * 1. Chọn phần tốt nhất
       Federic Ozanam, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Giáo Hội Pháp vào cuối thế kỷ
19 đã trải qua một cơn khủng hoảng đức tin trầm trọng lúc còn là một sinh viên đại học.
       Một hôm, để tìm một chút thanh thản cho tâm hồn, anh bước vào một ngôi thánh
đường cổ ở Paris. Đứng cuối nhà thờ, anh nhìn thấy một bóng đen đang quì cầu nguyện
cách sốt sắng ở dãy ghế đầu. Đến gần, chàng sinh viên mới nhận ra người đang cầu
nguyện ấy không ai khác hơn là nhà bác học Ampère. Anh đứng lặng lẽ một lúc để theo
dõi cử chỉ của nhà bác học. Và khi vừa đứng lên ra khỏi giáo đường, người sinh viên đã
theo gót ông về cho đến phòng làm việc của ông.
       Thấy chàng thanh niên đang đứng trước cửa phòng với dáng vẻ rụt rè, nhà bác học
liền lên tiếng hỏi :
      - Anh bạn trẻ, anh cần gì đó ? Tôi có thể giúp anh giải một bài toán vật lý nào
không ?
      Chàng thanh niên đáp một cách nhỏ nhẹ :
      - Thưa Thầy, con là một sinh viên khoa văn chương. Con dốt khoa học lắm, xin
phép Thầy cho con hỏi một vấn đề liên quan đến đức tin !
      Nhà bác học mỉm cười cách khiêm tốn :
      - Anh lầm rồi, đức tin là môn yếu nhất của tôi. Nhưng nếu được giúp anh điều gì,
tôi cũng cảm thấy hân hạnh lắm ?
      Chàng sinh viên liền hỏi :
      - Thưa Thầy, có thể vừa là một bác học vĩ đại, vừa là một tín hữu cầu nguyện bình
thường không ?
      Nhà bác học ngỡ ngàng trước câu hỏi của người sinh viên, và với đôi môi run rẩy
đầy cảm xúc, ông trả lời :
      - Con ơi, chúng ta chỉ vĩ đại khi chúng ta cầu nguyện mà thôi !
      Chúa phán : "Macta, Macta ơi ! Chị lo lắng và lăng xăng nhiều chuyện quá ! Chỉ có
một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi" (Lc
10,41-42). Phần tốt nhất ấy chính là ở bên cạnh Chúa, lắng nghe Chúa nói, và cầu nguyện
với Chúa.
      Nhà bác học đại tài Ampère, với công việc nghiên cứu của ông về điện tử học, về
nam châm điện đã đem lại biết bao lợi ích cho nền văn minh của nhân loại. Thế nhưng,
ông không cho đó là vĩ đại, mà ông nói : "Chúng ta chỉ vĩ đại khi chúng ta cầu nguyện
mà thôi".
      Mẹ Têrêsa Calcutta, một nữ thánh giữa đời thường, mỗi ngày trước khi bước xuống
"địa ngục Calcutta" để chăm sóc những người cùng khổ, hoặc đi vào "nhà hấp hối" để an
ủi các kẻ liệt lào, các nữ tu của Mẹ đã quì cầu nguyện trước Thánh Thể một tiếng đồng
hồ để kín múc nơi Chúa : tình yêu, sức mạnh, lòng can đảm và nhiệt huyết tông đồ.
      Hoạt động tông đồ là mang tình yêu Chúa đến với anh em, tại sao chúng ta lại
không kín múc nơi Chúa là suối nguồn yêu thương. Cho dù là hoạt động truyền giáo, hoạt
động từ thiện bác ái, hay sinh hoạt hằng ngày theo bổn phận, chúng ta cũng đừng quên
"chọn phần tốt nhất" này. Hãy nhớ lời Chúa : "Không có Ta, chúng con không làm gì
được".
      Các triết gia phương Tây có khuynh hướng hoạt động cho rằng Chúa không làm gì,
con người làm hết. Các triết gia phương Đông trái lại ưa thích thuyết tĩnh học, để Chúa
làm hết và con người không làm gì. Nhưng khuôn vàng thước ngọc của chúng ta là :
"Cầu nguyện và hoạt động", Macta phải đi đôi với Maria. Cầu nguyện là linh hồn của
hoạt động, và hoạt động là kết quả của cầu nguyện. P.Graef có một câu nói rất thâm
thuý : "Hoạt động mà không có cầu nguyện là thiếu nguyên tắc căn bản, cầu nguyện mà
không có hoạt động là thiếu đất gieo hạt".
      Tuy nhiên, có một cám dỗ khiến chúng ta khó thoát khỏi. Đó là nhiều khi chúng ta
tưởng mình phục vụ Chúa, nhưng hóa ra chúng ta phục vụ chính mình. Nhìn Mácta lăng
xăng dọn bữa ăn, chúng ta thấy dáng dấp của chính mình. Chúng ta hoạt động để được
tiếng khen, để gây chú ý : "Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ mà Thầy không để ý
tới sao ? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay" (Lc 10,40-41). Chúng ta mời gọi kẻ khác
cộng tác, cũng là để phục vụ cho chương trình của chính mình.
       Đôi khi chúng ta cầu nguyện cũng là để kéo Chúa về phe mình, xin Chúa ủng hộ để
cá nhân mình sớm được vẻ vang. Chúng ta muốn mình luôn được thành công. Chúng ta
không chấp nhận thất bại. Chúng ta mãn nguyện với những hoạt động tông đồ của mình.
Chúng ta hài lòng với công cuộc từ thiện của chúng ta. Chúng ta đi tìm chính mình !
       * 2. Chọn phần ưu tiên
       Có thể xếp những việc chúng ta phải làm hằng ngày thành hai loại : việc cấp bách
(urgent) và việc thiết yếu (essential). Những việc cấp bách thì rất nhiều, những việc thiết
yếu thì rất ít.
       Cũng như Matta, chúng ta thường dành ưu tiên cho những việc cấp bách. Còn việc
thiết yếu thì chúng ta hoãn lại. Khi nào làm xong hết những việc cấp bách, ta mới nghĩ
đến việc thiết yếu. Nhưng khi đó thì đã quá muộn, chúng ta làm việc thiết yếu đó một
cách hấp tấp và hời hợt.
       Đức Hồng Y Joseph Bernardin, Tổng giám mục giáo phận Chicago, khi hay tin
mình bị ung thư đến giai đoạn cuối, đã nói : "Bây giờ tôi mới nhận thức ra rằng chúng ta
thường bỏ rất nhiều thời giờ của cuộc sống để làm những việc phụ thuộc không mấy ý
nghĩa".
       Việc thiết yếu nhất mà người ta thường hoãn lại không làm là gì ? Thưa đó là việc
mà Maria đã làm, đó là ngồi bên chân Chúa và lắng nghe lời Chúa". Chính Chúa Giêsu
đã đánh giá đó là việc thiết yếu duy nhất và là việc tốt nhất phải làm (FM)
       * 3. Một cách cầu nguyện
       Đối với nhiều người, cầu nguyện là nói để xin.
       Nhưng, xét theo một nghĩa nào đó, sự cầu nguyện đích thực chỉ bắt đầu khi ta
ngừng nói. Cách cầu nguyện tốt nhất là ở bên chân Chúa, chẳng nói lời nào và cũng
chẳng làm gì cả, như Maria vậy.
       Có người nghĩ rằng làm việc là cách chứng tỏ cụ thể tình yêu của mình đối với
Chúa, cho nên cứ ngồi im bên chân Chúa là mất giờ vô ích, nhất là khi ta còn nhiều việc
phải làm. Có lẽ đúng. Nhưng nếu làm việc mà không cầu nguyện thì những việc làm kia
dễ trở thành những việc làm vì mình và cho mình chứ không phải vì Chúa và cho Chúa ;
và cũng có thể chúng trở thành những việc của mình chứ không phải của Chúa. Kết quả
là sau khi ngưng việc, ta cảm thấy lòng mình trống rỗng, con người mình rất hời hợt nông
cạn.
       Thoreau nói : "Đừng sợ đời mình kết thúc, nhưng hãy sợ đời mình chưa bao giờ bắt
đầu".
       Nhà tâm bệnh học Thomas Moore nói : "Có người có thể chữa khỏi những rối loạn
tâm thần chỉ cần bằng cách tự ban cho mình mỗi ngày một ít phút thinh lặng suy nghĩ".
Đối với sức khoẻ tâm thần mà đã là như thế, huống chi đối với sức khoẻ siêu nhiên.
       4. Chuyện minh họa
       a/ Một bà lão đến một Linh mục xin tham vấn :
       - Thưa cha, tôi đã cầu nguyện không ngừng suốt 14 năm qua, nhưng tôi chả cảm
thấy sự hiện diện của Chúa gì cả.
       - Thế Bà có cho Chúa cơ hội để nói với Bà lời nào không ?
        - À… không. Tôi cứ nói miết. Nhưng như thế không phải là cầu nguyện sao ?
        - Không. Bây giờ tôi khuyên bà mỗi ngày bỏ ra 15 phút chỉ ngồi im trước mặt Chúa
thôi.
      Bà cụ đã làm theo lời khuyên đó. Chỉ vài ngày sau, Bà trở lại khoe :
      - Thật tuyệt diệu : Khi tôi nói với Chúa thì tôi chẳng cảm thấy gì cả. Nhưng khi tôi
ngồi yên trước mặt Ngài thì tôi thấy như mình được sự hiện diện của Ngài bao phủ lấy
tôi.
      b/ Khi linh mục đang thống kê tình hình của xứ đạo, ngài hỏi một gia đình câu hỏi
thường lệ :
      - Các con có thường cầu nguyện chung cả gia đình không ?
        Gia trưởng trả lời :
      - Thưa cha, chúng con không có thời giờ.
      - Giả như con biết một đứa con sẽ bị bệnh nếu chúng con không cầu nguyện, gia
đình con có cầu nguyện không ?
      - Ồ, con đoán chúng con sẽ cầu nguyện.
      - Giả sử con biết ngày nào đó khi gia đình lơ là việc cầu nguyện, một đứa con sẽ
gặp tai nạn. Các con có cùng cầu nguyện không ?
      - Tất nhiên chúng con sẽ cầu nguyện.
      - Giả sử mỗi ngày con quên cầu nguyện, giáo luật phạt 5 đôla. Các con có sao lãng
việc cầu nguyện không ?
      - Chắc chúng con sẽ cầu nguyện. Nhưng ý của những câu hỏi này là gì ?
      - Vấn đề của con là không có thời giờ. Con có thể tìm được thời giờ. Con không
nghĩ cầu nguyện chung gia đình là quan trọng như nộp phạt hay giữ sức khỏe cho con.
Ơn ban của Chúa qua lời cầu nguyện quan trọng hơn bất cứ những gì con có thể nghĩ tới.
      c/ Một ngư dân đưa một thanh niên lên thuyền của ông. Một bên mái chèo có viết
chữ cầu nguyện và bên kia viết chữ làm việc. Anh thanh niên nói vẻ khinh miệt : "Này
chú, chú lỗi thời quá. Ai muốn cầu nguyện làm gì, nếu như họ làm việc ?"
        Bác ngư phủ không nói gì, nhưng buông lỏng mái chèo có viết chữ cầu nguyện
và chèo mái kia. Ông chèo và chèo mãi, nhưng chiếc thuyền chỉ quay tròn mà không tiến
đi được.
        Anh thanh niên hiểu ra rằng bên cạnh mái chèo làm việc, chúng ta cũng cần phải
có mái chèo cầu nguyện.
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
     Chủ tế : Anh chị em thân mến, Lời Chúa hôm nay đặt cho mỗi người chúng ta một
câu hỏi : Chúng ta đã đón tiếp Chúa như thế nào trong cuộc sống thường ngày ? Với ước
mong được đón tiếp Chúa thật xứng đáng, chúng ta cùng dâng lời cầu xin :
1. Hội thánh là đại gia đình của những ai tin Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi
   thành viên trong đại gia đình này / luôn sống hiệp nhất và yêu thương nhau.
2. Hiện nay có biết bao người không chốn nương thân / sống cảnh màn trời chiếu đất /
   không ai ngó ngàng gì đến họ / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những ai đang sống
   không nhà không cửa / tìm được một chỗ ở xứng hợp với nhân phẩm của mình.
3. Lời Chúa là ánh sáng chỉ đường dẫn lối cho người Kitô hữu trong cuộc lữ hành trần
   thế / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho Lời Chúa soi sáng các Kitô hữu / để mọi việc họ
   làm đều phù hợp với chân lý và tình thương của Chúa.
4. Hằng ngày trước mắt chúng ta / có biết bao người nghèo là hiện thân của Đức Kitô bị
   bỏ rơi / bị hất hủi / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết
   quảng đại nâng đỡ những người bất hạnh trong xã hội.
      Chủ tế : Lạy Chúa Giêsu, xin cho lòng chúng con trở nên thửa đất phì nhiêu, hầu đón
nhận hạt giống lời Chúa và làm cho sinh hoa kết quả dồi dào. Chúa hằng sống và hiển trị
muôn đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
     - Trước kinh Lạy Cha : Không lời cầu nguyện nào hay bằng lời kinh Lạy Cha do
chính Chúa Giêsu đã dạy chúng ta. Vậy chúng ta hãy sốt sắng cầu nguyện bằng lời kinh
Chúa dạy.
VII. GIẢI TÁN
     Chúng ta đã ý thức rằng làm việc và cầu nguyện phải đi đôi với nhau, và chính sự
cầu nguyện sẽ hỗ trợ cho những việc chúng ta làm. Anh chị em sắp trở lại với những việc
làm hằng ngày. Đừng quên cầu nguyện để Chúa giúp anh chị em làm những việc đó tốt
hơn.
                               CHÚA NHỰT XVII
                                       CHỦ ĐỀ :
                                     CẦU XIN




                 "Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện"
                                        (Lc 11,1)
     Sợi chỉ đỏ :
     - Bài đọc I : Abraham cầu xin Chúa cho thành Sôđôma
     - Đáp ca : Ca tụng Chúa đã nhậm lời cầu xin
     - Tin Mừng : Chúa Giêsu dạy các môn đệ cầu xin.
     Minh họa
     - Mille images 133 E
     - "Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện" (Lc 11,1)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
      Anh chị em thân mến
      Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu bảo "Ai xin thì sẽ được, ai tìm thì gặp,
ai gõ cửa thì sẽ được mở cho". Chúa nói thế để khuyến khích chúng ta khi cần điều gì thì
hãy cầu xin cùng Thiên Chúa một cách mạnh dạn, tin tưởng và kiên trì.
      Trước hết chúng ta hãy xin Chúa tha thứ những tội lỗi của chúng ta, để chúng ta
xứng đáng dâng Thánh lễ này lên Chúa.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
     - Xin Chúa tha thứ vì trong tuần vừa qua chúng con đã không kính mến Chúa cho
đủ.
     - Xin Chúa tha thứ vì trong tuần vừa qua chúng ta đã nhiều lần lỗi đức bác ái với
người khác.
     - Xin Chúa tha thứ vì trong tuần vừa qua chúng con chưa chu toàn bổn phận của
chúng con.
III. LỜI CHÚA
      1. Bài đọc I (St 18,20-32)
      Vì dân thành Sôđôma phạm tội quá nhiều, Thiên Chúa cho Abraham biết Ngài sẽ
cho lửa từ trời xuống thiêu huỷ thành này. Abraham đã mặc cả với Chúa rằng nếu trong
thành có một số người công chính thì xin Chúa tha cho cả thành. Chúa đồng ý, và
Abraham đã hạ dần con số những người công chính : từ 50 xuống 45, rồi 40, 30, 20 và
10. Rất tiếc là Abraham đã dừng lại ở đó, không dám xuống nữa.
      Câu chuyện cho ta thấy 2 điều quan trọng : a/ Lòng thương xót của Chúa vì những
người công chính mà sẵn sàng tha thứ cho những người tội lỗi ; b/ Thiên Chúa sẵn sàng
nghe lời cầu xin của con người.
      2. Đáp ca (Tv 137)
      Ca tụng Thiên Chúa đã nghe lời cầu xin của con người.
      3. Tin Mừng (Lc 11,1-13)
      Chúa Giêsu dạy về cầu nguyện :
      1. Nội dung phải cầu nguyện : Kinh Lạy Cha : Thời Chúa Giêsu, mỗi nhóm tín
ngưỡng có một bài kinh riêng, đặc trưng của nhóm mình. Bài kinh mà Chúa Giêsu sắp
dạy cũng là đặc trưng của Kitô giáo. Nét đặc trưng rõ nhất được thấy trong một từ chìa
khoá lắp đi lặp lại rất nhiều lần, từ "Cha" : kitô hữu được làm con Thiên Chúa và được
gọi Thiên Chúa là Cha.
      Vì là một bài kinh rất ngắn gọn cho nên những điều được nói trong đó đều là những
điều then chốt nhất. Nói cách khác, những lời xin trong bài kinh này cho ta biết những
điều mà kitô hữu cần quan tâm nhất là gì :
      a/ Đối với Chúa : sao cho người ta được biết Chúa ("Xin làm cho danh Cha vinh
hiển") ; sao cho nhiều người gia nhập Nước Chúa ("triều đại Cha mau đến")
      b/ Đối với chính bản thân mình : có lương thực hằng ngày, được Cha tha thứ và
mình cũng biết tha thứ cho người khác, đừng sa chước cám dỗ.
      2. Thái độ khi cầu nguyện : Phải kiên trì
      Để minh họa cho thái độ kiên trì, Chúa Giêsu đưa dụ ngôn về "người bạn quấy rầy"
      - "Quấy rầy" vì đến gõ cửa ban đêm để vay bánh : việc này khiến chủ nhà bị mất
ngủ. Và nếu chủ nhà thức dậy thắp đèn lên, rồi lấy bánh, rồi mở cửa, rồi nói chuyện... thì
sẽ làm cho vợ con của ông cũng mất ngủ luôn. Bởi thế, chủ nhà đã nói vọng ra lời từ
chối. Nhưng người bên ngoài cứ vừa gõ cửa vừa kêu mãi.
      - Nhưng người đứng bên ngoài ấy lại là một "người bạn". Bạn bè thì phải thương
yêu nhau và tương thân tương trợ nhau, nhất là trong những khi gặp khó như trường hợp
này.
       Việc chủ nhà cuối cùng đã cho anh bạn vay bánh có thể vì một trong hai lý do : cho
để khỏi bị quấy rầy nữa ; cho vì tình bạn. Theo cách diễn tả của dụ ngôn thì người đó đã
làm vì lý do thứ nhất. Nếu làm vì lý do thứ hai thì việc cho sẽ có ý nghĩa hơn. Nhưng dù
sao thì cuối cùng anh bạn đứng ngoài đã đạt được điều mình xin, và lý do là nhờ anh kiên
trì.
       Sau khi kể dụ ngôn, Chúa Giêsu lý luận theo kiểu a fortiori (huống chi) : người đời
dù quen hành động theo lý do ích kỷ (để khỏi bị quấy rầy) thế mà cũng phải chịu thua sự
kiên trì của người xin. Huống chi Thiên Chúa vốn tốt lành quen đối xử với chúng ta theo
tình thương. Bởi thế nếu ai kiên trì cầu xin với Chúa thì chắc chắn sẽ được nhậm lời.
       4. Bài đọc II (Cl 2,12-14) (Chủ đề phụ)
       Thánh Phaolô giải thích những hiệu quả của bí tích Rửa tội :
       - Giúp chúng ta chết đi cho con người cũ yếu hèn để sống lại thành con người mới
kết hợp với Đức Kitô.
       - Tha thứ mọi tội lỗi trước đây của chúng ta.
IV. GỢI Ý GIẢNG
      * 1. Lời cầu xin của Abraham
      Lời cầu xin của Abraham có nhiều điểm hay đáng chúng ta bắt chước :
      - Ông không cầu xin cho bản thân mình, mà cho người khác, những người không
phải là bà con hay bạn bè thân thích gì của ông cả.
      - Ông không cầu xin cho những người đạo đức công chính, mà xin cho những
người tội lỗi.
      - Ông đã nại vào lòng thương xót của Chúa và vào "uy tín" của một số người công
chính.
      Nhưng có một điểm mà Abraham chưa làm gương cho chúng ta được. Đó là xem ra
ông chưa tin tưởng hoàn toàn vào Chúa cho nên đã dừng lại ở con số 10 người công
chính chứ không dám tiến xa hơn vào lòng thương xót vô biên của Chúa.
      * 2. Xin, tìm và gõ
      Chúa Giêsu khuyến khích chúng ta hãy xin, hãy tìm và hãy gõ cửa. Nghĩa là đức tin
của chúng ta phải là một hành động tích cực chứ không phải là một thái độ thụ động chỉ
biết đợi chờ.
      Tuy nhiên lắm khi vì tự phụ mà chúng ta không xin, nên chúng ta không nhận
được ; lắm khi vì chúng ta lười biếng mà không tìm, nên chúng ta không gặp ; lắm khi vì
chúng ta nhút nhát mà không gõ cửa nên không được mở cho.
      Đừng thụ động ngồi chờ ơn Chúa như những quả sung từ trời rụng xuống. Hãy
khiêm tốn, siêng năng và bạo dạn mà xin, mà tìm và gõ cửa. Nếu điều đó tốt cho chúng ta
thì chắc chắn Thiên Chúa là Cha nhân hậu sẽ ban cho chúng ta.
      * 3. Tại sao phải cầu xin cách kiên trì ?
      Phải kiên trì khi cầu xin là để tăng thêm ước muốn của chúng ta, và cũng là để tăng
thêm giá trị ơn Người sẽ ban. Nếu chúng ta không nhận được điều mình xin, thì không
phải là Chúa không sẵn sàng ban ơn, nhưng có thể điều cầu xin ấy không mang lại ích lợi
cho linh hồn chúøng ta, hoặc Người muốn dành cho chúng ta một ơn lớn lao hơn. Cho dù
sự đáp trả của Chúa không như lòng chúng ta mong ước hay không đúng lúc chúng ta
mong đợi, thì đó cũng là bởi sự khôn ngoan và lòng yêu thương của một người Cha đầy
tình nhân ái.
      * 4. Và chúa nói không
      - Tôi xin Người lấy niềm kiêu hãnh của tôi đi. Và Người nói "không". Người nói
việc lấy đi không phải do Người mà là tôi phải từ bỏ nó.
      - Tôi xin Người làm cho đứa bé tật nguyền của tôi được lành lặn. Và Người nói
không. Người nói tinh thần của tôi mới là tất cả, còn thể xác chỉ là nhất thời thôi.
      - Tôi xin Người ban cho tôi sự kiên nhẫn. Và Người nói không. Người nói kiên
nhẫn là một phó sản của nỗi gian nan khổ cực, không ban được mà phải tự kếm lấy.
      - Tôi xin Người ban cho tôi hạnh phúc. Và Người nói không. Người nói Người ban
cho tôi những lời chúc lành, hạnh phúc tuỳ thuộc nơi tôi.
      - Tôi xin Người vứt bỏ nỗi đớn đau. Và Người nói không. Người nói khổ đau sẽ
đưa con ra khỏi những lo toan trần thế và đưa con lại gần Ta hơn.
      - Tôi xin Người làm cho tinh thần tôi phát triển. Và Người nói không. Người nói sẽ
cho tôi sự sống để tôi vui hưởng tất cả mọi thứ.
      - Tôi xin Người giúp tôi yêu thương những người khác nhiều như Người yêu tôi.
Và Người nói : À, cuối cùng thì con cũng có một ý tưởng hay. (Tài liệu nước ngoài. Hải
Lý dịch. Đăng trong tuần báo CgvDt, số 1147, ngày 1.3.1998)
      * 5. Xin điều này được điều khác
      Tôi xin Chúa cho tôi sức khoẻ để tôi có thể làm được những việc lớn lao - Ngài lại
ban cho tôi sự yếu đuối để tôi làm mọi việc cách tốt hơn.
      Tôi xin Chúa cho tôi giàu sang để tôi có thể sống hạnh phúc hơn - Ngài lại ban cho
tôi sự nghèo nàn để tôi sống khôn ngoan hơn.
      Tôi xin Chúa ban cho tôi quyền lực để được người đời xưng tụng - Ngài lại ban cho
tôi sự mọn hèn để tôi ý thức cần đến Ngài hơn.
      Tôi xin Chúa ban cho tôi mọi sự, nhờ đó tôi tận hưởng thú vui cuộc sống - Ngài lại
ban cho tôi cuộc sống để nhờ đó tôi tận hưởng mọi sự.
      Tuy tôi chẳng được tất cả những điều tôi xin, nhưng lại nhận được mọi thứ tôi cần.
(Anon)
      6. Chuyện minh họa
      a/ Kiên trì
        Một người đưa tin đến một lâu đài cũ kỹ và anh lấy búa gõ cửa. Không ai trả lời.
Anh lại gõ và chỉ có tiếng vang dội lại. Nhưng anh biết có người trong nhà, anh nhìn thấy
họ qua cửa sổ. Giận sôi lên, anh cầm búa và lấy hết sức giáng mạnh vào cửa hai ba chục
lần.
        Một khuôn mặt cau có ngó qua lỗ then cửa và lịch sự hỏi xem người khách muốn
vào không.
      Vị khách nói như mê sảng : "Này ông, tôi vào được không ? Chẳng lẽ ai muốn vào
cũng phải gõ như tôi ?".
      - Ồ, ông biết đấy : Có nhiều trẻ ở xung quanh đến đây, chúng gõ cửa một vài lần rồi
bỏ chạy, nên chúng tôi biết là không cần để ý đến chúng. Nhưng khi nghe ông gõ cửa, tôi
thực sự thấy ông muốn vào. Vì thế tôi ra mở cửa.
      b/ Khiêm tốn
        Ngày kia, thánh Clément Hofbauer đi xin đồ viện trợ cho các cô nhi. Ngài vào
một quán ăn, có ba người đang đánh bạc, xin họ góp phần vào công việc từ thiện. Một
người chửi bới, rồi nhổ vào mặt ngài.
        Thánh nhân lặng lẽ rút khăn tay lau mặt và nhẹ nhàng nói : "Đó là phần ông cho
tôi. Còn phần cho các cô nhi của tôi đâu ?"
        Tay cờ bạc kinh ngạc đến thẹn thùng, rồi dốc túi đưa hết cho ngài.
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
      Chủ tế : Anh chị em thân mến, cầu nguyện là hơi thở, là sức sống, là linh hồn của
đời sống người Kitô hữu. Chúng ta cùng dâng lời nguyện xin Chúa giúp chúng ta biết cầu
nguyện như Chúa đã dạy :
1. Hội thánh luôn khuyên nhủ con cái mình siêng năng cầu nguyện / Chúng ta hiệp lời
   cầu xin cho các tín hữu biết chăm chỉ lắng nghe / và cố gắng thực hiện lời mời gọi tha
   thiết của Hội thánh / trong đời sống đức tin thường ngày.
2. Ngày nay / có một số Kitô hữu / đặc biệt là các Kitô hữu trẻ / cho rằng cầu nguyện
   không còn cần thiết nữa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho hết thảy mọi tín hữu hiểu
   rằng / cầu nguyện cần thiết cho đời sống đức tin / như dầu cần cho đèn.
3. Cầu nguyện trong gia đình rất quan trọng cho cuộc sống đức tin của người tín hữu /
   Chúng ta hiệp lời cầu xin cho hết mọi gia đình Công giáo / biết trung thành đọc kinh
   tối sáng mỗi ngày.
4. Chúa Giêsu dạy ta kinh Lạy Cha để cầu nguyện cùng Chúa Cha / Chúng ta hiệp lời
   cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / vừa đọc vừa suy niệm / và sống theo tinh
   thần của lời kinh nguyện tuyệt vời này.
      Chủ tế : Lạy Chúa, xin cho chúng con biết luôn cảm tạ Chúa là Đấng đã dựng nên
chúng con và gìn giữ chúng con khỏi mọi sự dữ trong cuộc sống thường ngày. Chúng con
cầu xin
VI. TRONG THÁNH LỄ
     - Trước kinh Lạy Cha : Khi các môn đệ xin Chúa Giêsu dạy cầu nguyện, Ngài đã
dạy họ Kinh Lạy Cha. Chúng ta hãy kết hợp tâm tình với các môn đệ mà cầu nguyện
bằng chính lời kinh Chúa dạy.
VII. GIẢI TÁN
      Trong tuần này, mỗi khi có điều gì cần, chúng ta hãy cầu xin với Chúa cách khiêm
tốn, kiên trì và tin tưởng, bởi vì chính Ngài đã hứa : "Ai xin thì sẽ được, ai tìm thì gặp, ai
gõ cửa thì sẽ được mở cho".
                               CHÚA NHỰT XVIII
                                       CHỦ ĐỀ :
                CHỚ CẬY VÀO CỦA CẢI VẬT CHẤT




                  "Những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai ?"
                                        (Lc 12,20)
     Sợi chỉ đỏ :
     - Bài đọc I : Mọi sự ở đời này đều là hư không
     - Tin Mừng : Chúa Giêsu nói "Chẳng phải sung túc mà đời sống được của cải bảo
đảm cho đâu"
     - Bài đọc II : Thánh Phaolô khuyên "Anh em hãy tìm những sự trên trời"
     Minh họa
     - Mille images 94 D
     - "Những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai ?" (Lc 12,20)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
     Anh chị em thân mến
     Chúng ta đang sống trong nền kinh tế thị trường và trong nền văn minh hưởng thụ.
Bởi đó chúng ta bị thu hút bởi tiền bạc của cải. Nhưng của cải vật chất vừa có lợi vừa có
hại.
     Lời Chúa hôm nay sẽ cho ta thấy rõ mặt phải và mặt trái của tiền bạc của cải. Xin
Chúa giúp chúng ta có lập trường đúng đắn đối với của cải vật chất.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
     - Nhiều khi chúng con đã coi tiền bạc trọng hơn tình nghĩa anh em.
     - Nhiều khi chúng con đã vì tiền mà lỗi đạo với Chúa.
     - Thực tình chúng con cậy dựa vào tiền bạc hơn vào Chúa.
III. LỜI CHÚA
      1. Bài đọc I (Gv 1,2 ; 2,21-23)
      Sách Giảng viên gom góp những suy tư khôn ngoan của nhiều thế hệ. Trong đoạn
này, có nhiều ý tưởng xem ra bi quan yếm thế nhưng lại rất đúng :
      - Có người suốt đời vất vả làm việc để thu tích của cải vật chất nhưng khi chết phải
bỏ lại tất cả.
      - Ích gì có được nhiều tiền nhưng đêm ngủ không yên vì sợ tiền bị mất.
      2. Đáp ca (Tv 94)
      Tv này như một lời khuyên tiếp nối những nhận định bi quan của bài đọc I : cách
sống khôn ngoan nhất là mỗi ngày hãy lắng nghe tiếng Chúa dạy và cứ sống theo đó.
      3. Tin Mừng (Lc 12,13-21)
      a. Vấn đề của đoạn Tin Mừng này được gợi lên từ việc anh em tranh dành gia tài.
      b. Dụ ngôn nói tới một người phú hộ đã lo tích trữ được rất nhiều của cải và cho
rằng từ nay cuộc đời mình sẽ được bảo đảm.
      c. Nhận định của Chúa Giêsu về người phú hộ đó : hắn là đồ ngốc vì đã lấy của cải
vốn không bền để mà bảo đảm cho cuộc đời mình. Người khôn phải dùng của cải không
bền ở đời này mà làm phúc để mua lấy của cải bền vững đời sau. Đó mới là bảo đảm chắc
chắn thật sự cho cuộc đời.
      4. Bài đọc II (Cl 3,1-5.9-11)
      Thánh Phaolô tiếp tục dạy các kitô hữu về cuộc sống mới của họ sau khi chịu phép
Rửa :
      - Vì họ đang sống một cuộc sống mới nên từ nay hãy có một quan tâm mới : đừng
tìm những sự dưới đất mà hãy tìm những sự trên trời.
      - Hãy cởi bỏ con người cũ theo xác thịt để mặc lấy con người mới theo hình ảnh
Chúa Giêsu Kitô.
IV. GỢI Ý GIẢNG
      * 1. Có tiền và xài tiền
      Một lão trọc phú keo kiệt kia đã tích lũy được một số tiền rất lớn và đang mơ tới
tương lai hạnh phúc đang chờ đón lão. Tuy nhiên trước khi lão kịp vung tiền ra mua lấy
hạnh phúc thì thần chết hiện ra đòi bắt hắn xuống âm phủ.
      Lão thương lượng : "Xin Thần chết cho tôi sống thêm ba ngày nữa thôi. Tôi sẽ chia
cho Ngài một nửa tài sản của tôi". Thần chết không chịu. Lão xuống giá : "Vậy xin cho
tôi sống thêm một ngày. Tôi sẽ giao cho Ngài tất cả tài sản". Thần chết vẫn không chịu.
Lão nài nỉ "Xin cho tôi một phút thôi, để tôi kịp viết lời trối". Thần chết đồng ý. Lão ngồi
xuống, cầm bút viết câu sau đây :
       "Gửi người nào gặp được tờ giấy này. Nếu bạn có đủ tiền để sống thì đừng uổng
phí cuộc đời để kiếm thêm nhiều tiền nữa làm chi. Hãy lo sống thôi ! Tiền bạc của tôi rất
nhiều, nhưng chỉ một giờ để sống tôi cũng chẳng mua được !"
       Tiền của không phải để sở hữu mà để hưởng dùng. Nói nôm na, tiền bạc không
phải để "có" mà để "xài". Nhiều người rất biết cách "sở hữu" nhưng lại không biết cách
"hưởng dùng". Rốt cuộc họ không hạnh phúc bằng một đứa trẻ, sở hữu rất ít nhưng
hưởng dùng rất nhiều. Người giàu thật không phải là người có nhiều mà là người hưởng
dùng nhiều. Cố gắng để có thật nhiều tiền mà không thể hưởng dùng thì chẳng khác gì
một người mù cố gắng thu góp thật nhiều băng Vidéo.
       Vấn đề đặt ra là "hưởng dùng" và "xài" tiền như thế nào.
       * 2. Nghệ thuật làm giàu
       Một ngày nọ, vua Nghiêu đi tuần thú đất Hoa, viên quan địa phương đất ấy ra
nghênh đón và chúc vua rằng : "Xin chúc nhà vua sống lâu". Vua Nghiêu nói : "Đừng
chúc thế !" Viên quan lại chúc : "Chúc nhà vua giàu có". Vua Nghiêu lại nói : "Đừng
chúc thế". Viên quan chúc nữa : "Xin chúc nhà vua đông con trai". Vua Nghiêu lại nói :
"Đừng chúc thế". Quan lấy làm lạ mới hỏi nhà vua : "Sống lâu, giàu có, đông con trai, ai
cũng thích cả, sao nhà vua chẳng muốn ?" Vua Nghiêu đáp : "Đông con trai thì sợ nhiều.
Giàu có thì việc nhiều. Sống lâu thì nhục nhiều. Ba điều ấy không mang lại nhân đức nên
ta từ chối".
       Viên quan tâu : "Nhà vua nói thế thực là bậc quân tử. Nhưng trời sinh ra mỗi người
phải có một việc Nếu đông con trai, hãy cắt đặt mỗi người một nhiệm vụ thì có lợi chứ có
gì mà sợ ? Giàu có mà đem phân phát cho người nghèo thì còn công việc gì mà lo ? Ăn
uống có chừng mực, thức ngủ có điều độ, trong lòng thanh thoả, thiên hạ tài giỏi thì vui
cái vui của họ, trăm tuổi nhắm mắt về cõi trời. Một đời chẳng gây tai hoạ gì, hỏi có gì là
nhục ?"
       Đứng trước tiền của, người ta có những thái độ rất khác nhau : Vua Nghiêu vì quá
thận trọng chỉ nhìn thấy mặt trái của đồng tiền, nên của cải không sinh ích gì cho ông.
Người phú hộ trong bài Tin Mừng hôm nay lại quá cậy dựa vào tiền của, nên khi thần
chết bất ngờ đến thì tiền muôn bạc nén cũng không cứu được linh hồn ông. Duy chỉ có
viên quan địa phương là có thái độ đúng mực về tiền bạc : Nếu giàu có thì đem chia sẻ
cho người thiếu thốn. Đó chính là sứ điệp mà Chúa Giêsu muốn loan báo cho chúng ta
hôm nay : Hãy dùng của cải đời này mà "làm giàu trước mặt Thiên Chúa" (Lc 12,21). Đó
chính là "nghệ thuật làm giàu" đích thực. (TP)
       * 3. Túi tham không đáy
       Tolstoi kể rằng một người nông dân kia tên là Pakhom rất ham thích có một mảnh
đất làm tài sản riêng. Sau một thời gian làm lụng cực nhọc, anh tậu được một mảnh đất
40 mẫu. Anh mừng lắm. Nhưng chẳng bao lâu anh muốn một mảnh đất rộng hơn. Anh lại
làm lụng và để dành, bán mảnh đất cũ, cộng thêm tiền để dành, mua được một mảnh đất
80 mẫu. Nhưng anh chưa thoả mãn, muốn tìm một mảnh đất khác rộng hơn nữa. Có
người cho anh biết rằng ở vùng bên kia núi có một bộ lạc mà dân chúng sống rất đơn
giản, họ có rất nhiều đất, ai muốn mua bao nhiêu cũng được.
       Ngay sáng hôm sau, anh nông dân đi sang vùng bên kia núi. Vị tù trưởng bộ lạc
nói : "Anh chỉ cần trả 1000 rúp thì có thể sở hữu được một vùng đất mà anh đi được trong
một ngày. Nhưng cần nhớ là anh phải trở lại đúng nơi điểm xuất phát cũng trong ngày đó.
Nếu về không kịp thì kể như mất tiền vô ích".
       Đêm đó người nông dân sung sướng ngủ không được. Vừa rạng sáng hôm sau anh
nhờ người đánh dấu điểm xuất phát rồi bắt đầu bước đi. Càng đi anh càng sung sướng vì
thấy đất của mình càng rộng thêm. Anh cứ đi và đi mãi quên mất thời gian. Khi thấy mặt
trời bắt đầu xuống núi anh mới hốt hoảng quay về. Nhưng vì anh đã đi quá xa sợ về
không kịp nên anh cắm đầu chạy. Đến điểm mốc, anh ngã gục xuống.
       Vị tù trưởng đến chúc mừng : "Xin chia vui với anh. Từ trước tới nay tôi chưa gặp
được người nào đi xa được như anh. Anh hãy nhận phần đất của anh". Nhưng người nông
dân không đứng dậy được nữa để nhận lấy tài sản của mình, vì anh đã chết !
       Có được một số tiền bạc của cải để sống là điều cần thiết. Vì thế trong dụ ngôn này,
Chúa Giêsu không phê phán việc chúng ta tìm cái ta cần, mà phê phán lòng tham hơn
mức ta cần (tiếng anh : not about need but about greed). Nếu người nông dân trong
chuyện trên biết dừng lại khi đã có 40 mẫu đất anh cần thì anh đã sống hạnh phúc, nhưng
anh đã chết vì anh cứ mãi mê chạy theo lòng tham của mình. Lòng tham giống như ngọn
lửa : ta càng thoả mãn nó bằng cách chất thêm củi vào thì lửa càng bùng to lên và càng
đòi nhiều củi thêm. Chứng bệnh trầm trọng nhất của con người trong nền kinh tế thị
trường và văn minh hưởng thụ này là con người không biết khi nào mình đủ. Có của
không phải là tội, nhưng tham của thì thành tội.
       Hãy xem những con chim. Khi chúng xây dựng tổ ấm, chúng chỉ tìm vài nhánh cây
đủ cho cái tổ ấy rồi thôi. Hãy xem những con nai. Khi chúng khát, chúng chỉ uống vừa đủ
rồi thôi. Sao chúng ta không đơn giản như những con chim và những con nai kia !
       * 4. Gia tài để lại cho con cái
       Có thể chúng ta cố gắng kiếm tiền không phải để cho mình hưởng, nhưng để làm
gia tài trối lại cho con cái.
       Xin hãy nghe câu chuyện sau đây :
       Người kia làm việc trong một công ty đang phát triển mạnh, lương anh khá cao cho
nên gia đình rất hạnh phúc. Anh có một ngôi nhà xinh xắn, một người vợ hiền và mấy
đứa con ngoan.
       Nhưng anh tự nghĩ : mình còn trẻ, sức lực còn nhiều. Mà công ty hiện không thiếu
việc. Thế là anh làm thêm giờ phụ trội. Thu nhập càng cao hơn. Anh lại nghĩ : nếu mình
phấn đấu để lên chức thì sẽ được tăng lương nữa. Và anh phấn đấu, và quả thực anh lên
chức.
       Cho đến một hôm đi khám bệnh, anh được biết mình đã mắc phải một chứng bệnh
nguy hiểm và đã tới giai đoạn cuối cùng. Nghĩa là anh không sống được bao lâu nữa. Lúc
sắp rời bỏ vợ con ấy, anh mới biết rằng xưa nay anh chẳng hiểu vợ con bao nhiêu, và con
cái anh cũng chẳng hiểu anh bao nhiêu. Và anh chết, để lại cho con cái một gia tài lớn.
Đối với người khác, anh là một con người thành đạt. Nhưng đối với vợ con thì anh là một
con người thất bại. Vợ con anh hưởng gia tài của anh mà chẳng nghĩ tới anh bao nhiêu :
bấy lâu nay họ sống không có anh, sau này họ cũng tiếp tục sống không cần anh.
       Bởi vậy trong bài Tin Mừng này Chúa Giêsu đã không quan tâm đến gia tài. Khi
một người đến nhờ Ngài phân xử việc tranh chấp gia tài. Ngài đã không xử, lại còn cảnh
cáo "Các ngươi hãy coi chừng giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, vì không phải sung túc
mà đời sống được của cải bảo đảm cho đâu".
       * 4. Tiền bạc
      Người ta nói trên đời quan trọng nhất là 2 chữ T : tình và tiền. Hôm nay chúng ta có
dịp bàn đến chữ T thứ 2, Tiền. Tiền bàn ở đây không phải chỉ là những tờ giấy bạc, mà
còn bao gồm tất cả những gì là của cải tài sản vật chất như nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ,
máy móc vv…
      Cách chung thì ai ai cũng cần tiền và cũng ham tiền hết. Không có tiền thì đói rách,
con cái nheo nhóc, mặc cảm với bạn bè… Còn nếu có tiền thì ta ăn ngon mặc đẹp, con
cái được giáo dục tử tế, bạn bè xã hội trọng nó… Tóm lại câu nói "có tiền mua tiên cũng
được" có thể là câu nói diễn tả quan niệm chung của nhiều người.
      Nhưng hình như đó lại không phải là quan niệm của Lời Chúa trong thánh lễ hôm
nay.
      - bài đọc 1 trích từ sách Giảng viên thì coi tiền bạc là thứ phù hoa "Phù hoa nối tiếp
phù hoa trần gian tất cả chỉ là phù hoa"
      - bài đọc trích từ thư thánh Phaolô gởi tín hữu thành Colossê thì kêu gọi "Anh em
hãy nghĩ đến những sự trên trời, chứ đừng nghĩ đến những sự dưới đất".
      - Còn bài Tin Mừng thì mô tả một người phú hộ hả hê với những của cải chất đầy
từ kho này tới kho khác, nhưng bị Chúa trách "Hỡi kẻ ngu dại, đêm nay Ta sẽ đòi linh
hồn ngươi, thế thì những của cải ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai ?", và Chúa Giêsu kết
luận : Kẻ nào tích trữ của cải cho mình mà không làm giàu trước mặt Chúa thì cũng vậy.
      Phải chăng Chúa không muốn cho ta có tiền ? Phải chăng Chúa muốn người có đạo
phải nghèo ? Phải chăng Chúa khuyên chúng ta phải chạy trốn tiền bạc ? Thưa không,
không bao giờ, bởi vì những của cải vật chất trên đời này do đâu mà có ? Do chính Chúa
tạo dựng nên, và Chúa tạo dựng nên chúng là để cho con người hưởng dùng. Cho nên
không những Chúa không muốn con người phải đói khổ, mà Chúa còn muốn sao cho con
người được đầy dư của cải. Hãy nghe một lời chúc phúc của Chúa ghi trong Tv 71
      Khắp xứ sở đầy dư gạo thóc
      Đỉnh non cao gợn sóng lúa vàng
      Và trong Tv 64 :
      Thăm trái đất mưa nhuần Chúa rải.
      Cho tràn trề của cải sinh ra…
      Vùng hoang địa cỏ hoa đua nở
      Cảnh núi đồi hớn hở xinh tươi.
      Chiên bò gặm cỏ đồng xanh.
      Nương vàng sóng lúa lượn quanh dạt dào.
      Câu hò tiếng hát trổi cao…
      Rõ ràng là Chúa muốn con người sung túc vật chất. Nhưng Chúa cũng biết tiền bạc
vật chất vì có khả năng đem lại cho con người rất nhiều tiện nghi sung sướng nên cũng có
thể khiến con người chỉ say mê nó mà quên hết mọi giá trị khác. Bởi đó Chúa mới nói
"Kẻ giàu có vào nước Thiên Chúa thật là khó, còn khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim".
Nhưng, tuy có khó thật chứ cũng có những người giàu có được vào nước Thiên đàng :
trong Tin Mừng ta thấy Chúa cũng đề cao những người giàu có, chẳng hạn như ông
Giakêu, tuy giàu nhưng biết sử dụng tiền bạc mình để làm những việc nghĩa.
       Như vậy, Lời Chúa hôm nay không đề cao tiền bạc mà cũng không khinh rẻ chúng.
Chúa chỉ muốn chúng ta lưu ý hai điều : một là nhận định đúng giá trị của tiền bạc và hai
là sử dụng đúng những tiền bạc mà Chúa đã ban.
       Bây giờ chúng ta hãy nhận định giá trị của tiền bạc :
       - tiền bạc là một yếu tố quan trọng làm cho đời ta được sung sướng
       - nhưng nó cũng là một con dao hai lưỡi, nghĩa là nó vừa có thể giúp ta sống tốt
hơn "Phú quý sinh lễ nghĩa", mà cũng có thể làm ta thành xấu đi, xấu đi vì tham lam, xấu
đi vì gian lận, xấu đi vì lòn cúi…
       - vả lại tiền bạc không được bền vững : thiếu gì người hôm nay đang giàu sụ, thế
mà ngày mai đã trở thành tay trắng.
       - và nhất là khi chết ta không thể mang tiền bạc theo được.
       Sau khi đã nhận định đúng giá trị của tiền bạc, chúng ta hãy lắng nghe Chúa dạy
phải xử dụng tiền bạc như thế nào : Hãy dùng tiền bạc đời này để làm giàu cho đời sau.
       5. Chuyện minh họa
       a/ Ba người bạn
       Người kia có 3 người bạn. 2 người trước là bạn rất thân, người thứ ba thường
thường vậy thôi. Ngày kia ông bị tòa bắt xử liền xin 3 người bạn đi theo để biện hộ.
Người bạn thứ nhất từ chối ngay, viện cớ bận việc quá không đi được. Người thứ hai
bằng lòng đi đến cửa quan nhưng lại không dám vào. Chỉ có người thứ ba tuy không
được ông yêu thích nhưng tỏ ra trung thành vào tận tòa án biện hộ cho ông ta không
những trắng án mà còn được thưởng nữa.
       Người bạn thứ nhất là Tiền bạc. Khi ta chết, tiền bạc bỏ rơi ta, chỉ để lại cho ta một
chiếc chiếu và một cái hòm. Người bạn thứ hai là Bà Con Bạn Hữu. Họ khóc lóc đưa ta
tới huyệt rồi về. Người bạn thứ ba là các Việc Lành. Chúng theo ta đến tòa phán xét và
đưa ta vào cửa thiên đàng. (Trích "Phúc")
       b/ Những thứ tiền không mua được
         George Horace Lorimer, chủ bút tờ Saturday Evening Post trong nhiều năm, có
lần viết : "Có tiền và có những cái mua bằng tiền là tốt. Nhưng biết dùng tiền và đừng để
mất những thứ tiền không mua được còn tốt hơn."
         Có thể kể những thứ sau đây tiền không mua được :
         Tiền không mua được tình bạn chân thực.
         Tiền không mua được lương tâm trong sạch.
         Tiền không mua được niềm vui mạnh khoẻ.
       c/ Đổi tiền
         Đến nước khác, việc đầu tiên mà du khách phải làm là đổi tiền của mình thành
tiền đang lưu hành tại nước đó. Tiền của ta trên trái đất chẳng có giá trị gì trên trời, nếu
nó không đổi thành việc lành. Đó là ý nghiã Lời Chúa nói với chàng thanh niên giầu có :
cho đi gia sản của anh để mua Nước Trời.
       6. Mảnh suy tư
       Một buổi tối, tôi thả bước lang thang
       Tôi đi từ những khu phố lấp lánh ánh đèn
       Bước chân dần dần đưa tôi đến vùng ngoại ô vắng vẻ
     Ở đấy tôi thấy ngàn vạn ánh sao còn rực rỡ gấp bội.
     Và tôi chợt hiểu ra rằng những ngọn đèn trần thế dễ che lấp những ngọn đèn trời
đến mức nào.
     Và tôi cầu nguyện : Lại Chúa xin cho những hào nhoáng của đời này đừng bao giờ
làm cho con mù lòa không còn thấy ánh vinh quang Nước Trời.
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
      Chủ tế : Anh chị em thân mến, chia cơm sẻ áo cho những người nghèo khổ là cách
làm giàu tốt nhất trước mặt Thiên Chúa. Với ước moong sống trọn vẹn tinh thần bác ái
của Tin mừng, chúng ta cùng dâng lời cầu xin :
1. Hội thánh luôn quan tâm giúp đỡ bất cứ ai đang gặp đau khổ / bệnh tật / nghèo đói /
   Chúng ta hiệp lời cầu xin cho công cuộc từ thiện của Hội thánh / xoa dịu được phần
   nào đau khổ của nhân loại.
2. Tiền bạc của cải không đem lại hạnh phúc thật sự cho con người / trái lại làm nhiều
   người trở nên hư hỏng / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi người / biết sử dụng đúng
   đắn tiền bạc có được / do lao động lương thiện của mình.
3. Phúc thay ai có tinh thần nghèo khó / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các Kitô hữu / biết
   sống tinh thần nghèo khó của Tin mừng.
4. Giúp đỡ những ai đang gặp khó khăn là bổn phận của người Kitô hữu / Chúng ta hiệp
   lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết thật tình chia sẻ cơm áo cho những
   ai đói nghèo.
      Chủ tế : Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết khôn ngoan tích trữ kho tàng trên
trời bằng những việc lành phúc đức của chúng con. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
      - Trước kinh Lạy Cha : Trong kinh Lạy Cha có câu "Xin Cha cho chúng con lương
thực hằng ngày". Điều Chúa nhấn mạnh hơn trong câu này không phải là chữ "lương
thực" cho bằng chữ "hằng ngày", nghĩa là chúng ta vừa xin cho có lương thực vừa xin
cho khỏi lòng tham, nhưng biết phó thác cuộc sống cho Chúa quan phòng.
VII. GIẢI TÁN
      Chúng ta sắp trở lại cuộc sống mà trong đó mọi người bon chen, tranh dành nhau
tiền bạc của cải. Là những môn đệ của Chúa, chúng ta hãy cố gắng sao để vừa làm ăn
kiếm tiền vừa không bị tiền làm cho mình ra xấu xa tội lỗi.
                                 CHÚA NHỰT XIX
                                        CHỦ ĐỀ :
                     TỈNH THỨC TRONG ĐÊM TỐI




                              "Anh em hãy sẵn sàng"
                                        (Lc 12 40)
       Sợi chỉ đỏ :
       - Bài đọc I : Trong đêm Vượt qua, Chúa đã giải phóng dân do thái khỏi ách nô lệ Ai
cập.
       - Tin Mừng : Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải tỉnh thức như người đầy tớ đợi chủ
về.
      - Bài đọc II : Tổ phụ Abraham tin tưởng vào lời Chúa hứa và ra đi nhưng không
biết sẽ tới đâu.
      Minh họa
      - Mille images 97 B
      - "Anh em hãy sẵn sàng" (Lc 12 40)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
     Anh chị em thân mến
     Lời Chúa hôm nay kêu gọi chúng ta hãy tỉnh thức. Tỉnh thức để làm gì ? Bài Tin
Mừng hôm nay nói "để đợi chủ về". Nghĩa đầu tiên là đợi chờ ngày Chúa Giêsu lại đến ;
nghĩa thứ hai là ngày chết của mỗi người ; nghĩa thứ ba là những lúc Chúa đến viếng
thăm ban ơn cho ta. Trong cả 3 trường hợp ấy, chỉ có ai tỉnh thức, sẵn sàng và nhanh
nhạy mới gặp được Chúa và được Chúa thưởng.
     Chúng ta hãy tham dự Thánh lễ sốt sắng và xin Chúa giúp chúng ta luôn tỉnh thức.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
      - Nếu Chúa bảo chúng ta phải chết ngay hôm nay thì chắc chúng ta không kịp
chuẩn bị, và do đó số phận đời đời của chúng ta rất đáng sợ.
      - Nếu bây giờ Chúa như vị Thanh tra đến kiểm tra những việc bổn phận của chúng
ta, Ngài có hài lòng không ?
      - Chúa Giêsu đã dạy : "Hãy bán tài sản đời này để sắm lấy kho tàng không bao giơ
hư nát trên trời". Chúng ta có làm theo Lời Chúa không ?
III. LỜI CHÚA
      1. Bài đọc I (Kn 18,6-9)
      Việc được Thiên Chúa giải phóng khỏi ách nô lệ Ai cập luôn là một kỷ niệm sâu
đậm trong tâm khảm người do thái mọi thời và mọi nơi. Bởi vậy người do thái sống ở
diaspora vào thế kỷ I trước công nguyên vẫn luôn tưởng nhớ đêm giải phóng ấy. Trong
đoạn trích này, tác giả sách Khôn ngoan khuyên họ hãy luôn sống xứng đáng là con cháu
của thế hệ đã xuất hành khỏi Ai cập bằng cách luôn tin tưởng vào những lời hứa của
Thiên Chúa.
      2. Đáp ca (Tv 32)
      Tv này thuộc loại Tv minh triết, ca tụng sự quan phòng và những kỳ công Thiên
Chúa đã làm trong quá khứ.
      3. Tin Mừng (Lc 12,32-48)
      Từ chìa khóa của đoạn Tin Mừng này là "Tỉnh thức". Chúa Giêsu dùng 2 dụ ngôn
để minh họa bài học tỉnh thức :
      a/ Dụ ngôn người đầy tớ : Tỉnh thức như một người đầy tớ đang đợi chủ đi ăn cưới
không biết sẽ về lúc nào (Tiệc cưới ở do thái kéo dài không biết đến bao giờ mới kết
thúc, có khi kết thúc buổi chiều, có khi mãi tới nửa đêm hay muộn hơn nữa). Người đầy
tớ ấy "thắt lưng cho gọn" (tư thế sẵn sàng làm việc), và "thắp đền cho sẵn" (để khi chủ về
thấy lối mà vào nhà. Tư thế sẵn sàng phục vụ). Nếu biết rõ lúc nào chủ về thi dễ hơn
nhiều, vì chỉ cần chờ gần tới lúc đó mới thắt lưng và thắp đèn. Nhưng vì không biết
chừng nào chủ về nên phải sẵn sàng luôn. Vừa nghe thấy một tín hiệu nhỏ cho biết chủ
sắp về tới là mau mắn làm việc và phục vụ ngay. Như thế tỉnh thức đi kèm với sẵn sàng
và nhanh nhạy.
      - Tỉnh thức để làm gì ? Dụ ngôn nói "để đợi chủ về". Nghĩa đầu tiên là đợi chờ
ngày Chúa Giêsu lại đến ; nghĩa thứ hai là ngày chết của mỗi người ; nghĩa thứ ba là
những lúc Chúa đến viếng thăm ban ơn cho ta. Trong cả 3 trường hợp ấy, chỉ có ai tỉnh
thức, sẵn sàng và nhanh nhạy mới gặp được Chúa và được Chúa thưởng.
      b/ Dụ ngôn quản gia trung thành (41-48) : dụ ngôn này nói riêng cho những người
có trách nhiệm lãnh đạo. Luca dùng hay dùng danh từ "quản lý" để chỉ những kẻ lãnh đạo
(x. 16,1.3.8). Người lãnh đạo được Thiên Chúa giao coi sóc giáo đoàn phải trung thành
phục vụ mọi người cho tới khi Chúa Quang lâm. Khi đó người ấy sẽ được trọng thưởng.
Trái lại nếu nghĩ rằng Chúa chậm Quang lâm để rồi lạm dụng chức vụ để lo cho bản thân
(ăn uống lu bù) và ngược đãi kẻ khác (đánh đập tôi trai tớ gái) thì khi đến Ngày Quang
lâm sẽ bị trừng phạt nặng. Chúc vụ càng cao thì hình phạt càng nặng. Ý chính là trung
thành trong nhiệm vụ được giao.
      4. Bài đọc II (Dt 11,1-2.8-19) (Chủ đề phụ)
      Trong đoạn trích này, tác giả thư do thái ca tụng đức tin của tổ phụ Abraham : do
tin vào lời Chúa, ông đã bỏ quê hương xứ sở ra đi mà không cần biết trước sẽ đi tới đâu ;
do đức tin, ông đã dám đem đứa con duy nhất sinh ra trong lúc tuổi già để giết làm lễ vật
dâng lên cho Chúa.
IV. GỢI Ý GIẢNG
      * 1. Sống với sự bấp bênh
      Trong tất cả mọi chuyến bay, khi máy bay vừa cất cánh và đã ổn định đường bay,
các tiếp viên hàng không đều chi dẫn cho hành khách phải làm những gì khi rủi mà máy
bay gặp tai nạn. Sự việc này có nghĩa là mặc dù chuyến bay đã được chuẩn bị hết sức kỹ
lưỡng, nhưng người ta vẫn chưa dám chắc là sẽ an toàn 100 %, do đó phải chuẩn bị đối
phó với điều bất ngờ.
      Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng ban cho chúng ta những chỉ dẫn
cho chuyến bay cuộc đời. Ngài bảo chúng ta phải luôn tỉnh thức sẵn sàng, như một người
đầy tớ chuẩn bị sẵn mọi thứ để chờ chủ về bất cứ lúc nào.
      Lời dạy của Chúa rất hợp lý, bởi vì cuộc sống con người rất bấp bênh. Càng sống
nhiều năm, con người càng cảm nhận sự bấp bênh của cuộc sống : người ta có thể chết ở
bất cứ tuổi nào, bất cứ ở đâu và chết vì đủ thứ lý do.
      Ở những vùng thường bị lũ lụt, người ta luôn chuẩn bị sẵn sàng để nếu có lũ thì tài
sản không bị hư hao. Vào mùa hè thường xảy ra hỏa hoạn, người ta cũng nhắc nhau lúc
nào cũng chuẩn bị sẵn sàng. Đối với nhà cửa và tài sản, chúng ta biết chuẩn bị sẵn sàng,
vậy tại sao không biết chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc sống đời đời ?
      * 2. Chuẩn bị thế nào ?
      Chuẩn bị sẵn sàng không có nghĩa là đã hoàn thành hết mọi việc phải làm (được
như vậy thì càng tốt, nhưng ít ai được như vậy), mà là lúc nào cũng đang làm tốt việc bổn
phận.
      Một tu sĩ kia đang quét nhà trong tu viện. Chợt một người đến hỏi "Nếu một giờ
nữa anh phải chết thì anh sẽ làm gì ?" Vị tu sĩ trả lời "Tôi cứ tiếp tục quét nhà cho xong".
      Làm tốt việc bổn phận không phải chỉ là làm cho xong việc bổn phận đó, mà còn là
làm cách vui vẻ và với lòng yêu mến. Cựu Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc, ông Dag
Hammarskjold đã để lại câu sau đây : "Có ngày nào mà niềm vui thì lớn còn nỗi buồn thì
nhỏ không ?" Và chính ông trả lời : "Thưa có, ngày nào chúng ta biết sống với bổn phận
và chu toàn bổn phận thì ngày đó chúng ta sẽ thấy niềm vui thật lớn và thấy những nỗi
buồn thật nhỏ nhoi". Thi hào Tagore cũng có một câu tương tự : "Tôi ngủ mơ thấy đời
sống là vui. Tôi thức giấc thấy đời sống là bổn phận. Tôi làm việc và thấy bổn phận là
niềm vui".
      Cách đây vài năm, một thầy dòng Phanxicô kia phụ trách một trường giáo dục các
trẻ em hư hỏng. Trong một chuyến đi vận động các nhà hảo tâm trợ giúp tài chánh cho
trường, Thầy đã bị tai nạn xe và chết. Nhiều người tội nghiệp cho Thầy vì chết đột ngột
quá. Nhưng cũng có nhiều người khác cho rằng Thầy đã chết một cách tuyệt đẹp, bởi vì
chết đang khi thi hành bổn phận mình. (FM)
       * 3. Sẵn sàng chết
       Tại chùa Tô Châu, có một nhà sư tên Viên Thủ Trung, tu hành đắc đạo, nhà sư
thường bày trên án thư, trước chỗ ngồi, một cái quan tài con bằng gỗ bạch đàn, dài độ 5
tấc, có một cái nắp mở ra đóng vào được.
       Khách đến chơi trông thấy cười nhạo nói rằng :
       - Ngài chế ra cái này dùng để làm gì ?
       Nhà sư trả lời :
       - Người ta sống tất có chết, mà chết thì vào ngay cái này. Tôi thực lấy làm lạ, người
đời ai cũng chỉ biết phú quí, công danh, tài sắc, thị hiếu, lo buồn, vất vả suốt đời chẳng
biết đến cái chết là gì... Mỗi khi có việc không vừa ý, tôi cầm lấy cái quan tài mà ngắm,
tức khắc tôi cảm thấy được yên tâm trong tâm hồn ngay.
       Thật là hiếm, những con người luôn ngẫm suy về cái chết của chính mình, và còn
hiếm hơn nữa, những con người xem cái chết như người bạn đồng hành, giúp họ vượt qua
những nỗi chán chường trong cuộc sống như nhà sư Viên Thủ Trung trong câu chuyện
trên đây. Phần nhiều, người ta bôn ba để kiếm sống, họ lo thu tích cho nhiều của cải, vội
vã thụ hưởng những thú vui trần tục, họ sống như thể sẽ không bao giờ phải chết. (TP)
       4. Hành trình trong đức tin
       Trong một bài đăng trên báo The Tablet (Ngày 1 tháng 4 năm 2000), Pastor Ignotus
viết rằng có hai cách để sống cuộc đời mình : một là làm như một người lập chương trình,
hai là làm như một kẻ hành hương.
       Người lập chương trình muốn kiểm soát toàn bộ đời mình và đặt chương trình cho
từng giai đoạn cuộc đời theo những mục tiêu định sẵn, đó là những thứ mà xã hội coi là
thành đạt. Người lập chương trình tốn rất nhiều thời giờ để bắt chước kiểu sống của
những khác và theo đuổi những giá trị của những người khác. Thế nhưng nếu không đạt
được những mục tiêu ấy thì họ sẽ thất vọng ê chề.
       Còn người hành hương thì trái lại. Đó là người đón nhận cuôc sống như một quà
tặng bao gồm cả mặt phải và mặt trái của nó. Người hành hương không thể kiểm soát tất
cả những gì xảy đến trong đời mình, nhưng biết thưởng thức tất cả những điều ấy, xem
tất cả là những cơ hội cho mình lớn lên. Không như người lập chương trình, người hành
hương không bao giờ cảm thấy dễ chịu hay khó chịu với những giá trị mà những người
khác trong xã hội nhắm tới.
       Nói tóm lại, người lập chương trình không biết sống theo đức tin. Còn người hành
hương thì luôn sống theo đức tin. Người hành hương ý thức rằng cuộc đời có nhiều việc
khó lường nhưng biết chấp nhận chúng. Người hành hương đặt mình trong bàn tay Thiên
Chúa, phó thác đời mình cho Thiên Chúa chở che. Vì biết sống giây phút hiện tại nên
người hành hương có thể sống tròn đầy cả cuộc đời mình.
       Ông Abraham (bài đọc I) là một tấm gương của người hành hương trong đức tin.
Nghe theo lời Chúa gọi, ông rời bỏ quê hương, lên đường đi đến một xứ sở mà Chúa hứa
ban cho ông mặc dù ông chưa biết xứ sở ấy ở đâu. Ông đi chỉ vì ông tin vào lời Chúa
hứa, thế thôi.
       Chúng ta là con cháu Abraham, nên chúng ta phải noi gương đức tin của Abraham.
Cuộc đời đầy dẫy những chuyện khó lường. Chúng ta không biết ngày mai sẽ ra sao.
Nhưng chúng ta cứ mạnh dạn tiến bước vì chúng ta biết rằng chúng ta không cô đơn
trong cuộc hành trình, có Chúa cùng bước với chúng ta. Hơn nữa chúng ta còn biết rằng
nơi mà Chúa dẫn chúng ta tới chính là Đất Hứa, một nơi đầy tràn bình an và hạnh phúc.
(FM)
      5. Chuyện minh họa
      a/ Được chọn cách chết
      Một tên hề kia chuyên làm trò cho nhà vua vui. Nhưng một hôm hắn lở nói một câu
xúc phạm khiến nhà vua nổi giận truyền xử tử hắn. Tuy nhiên vì những công lao bấy lâu
nay của hắn nên nhà vua cho hắn được chọn cách chết. Sau một hồi suy nghĩ, hắn tâu :
"Xin cho hạ thần được chết già !"
      Lời bàn : Tên hề này là một người may mắn vì được chọn cách chết và lúc chết của
mình. Chúng ta không được may mắn như hắn đâu. Cho nên phải luôn sẵn sàng.
      b/ Ở với con
        Một bà mẹ kể : tối đó, khi tôi đang dọn giường cho đứa con nhỏ, nó thỏ thẻ : "Mẹ
ơi, mẹ ở với con khi con ngủ nhé !" Nghĩ đến bao việc nhà chưa làm sau một ngày ở sở,
tôi đã tính ra ngoài để nó ngủ một mình. Chợt một ý tưởng nảy ra trong trí, tôi đến nằm
bên con, đặt tay con trong tay mình. Và trong lúc đứa con chìm vào giấc mộng, ý tưởng
đó biến thành lời nguyện : "Lạy Chúa, xin giúp son sống thế nào để khi bước vào hoàng
hôn cuộc đời, con có thể âu yếm nói với Cha trên trời : "Cha ơi, Cha ở với con khi con
ngủ nhé !"
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
      Chủ tế : Anh chị em thân mến, trung thành làm tròn mọi bổn phận đối với Chúa và
tha nhân là phương thế tốt nhất để đón chờ Chúa trở lại trong vinh quang. Với quyết tâm
luôn tỉnh thức và chờ đợi Chúa đến, chúng ta cùng dâng lời cầu xin :
1. Hội thánh không ngừng kêu gọi con cái mình tỉnh thức và cầu nguyện / Chúng ta hiệp
   lời cầu xin cho các vị mục tử / biết tìm mọi phương thế thích hợp / để giúp các tín hữu
   luôn luôn tỉnh thức và cầu nguyện không ngừng.
2. Trong đời sống thường ngày / có lắm người sống như mình không bao giờ chết /
   Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi người hiểu rằng / cái chết không buông tha bất cứ
   một ai / và nhiều khi xảy đến hết sức bất ngờ.
3. Tận tụy phục vụ tha nhân / là một trong những cách tỉnh thức đón mừng Chúa đến /
   Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các Kitô hữu / biết hết lòng phục vụ Chúa nơi những
   người đói khổ nghèo nàn.
4. Siêng năng lãnh nhận các bí tích / và tích cực sống lời Chúa dạy trong Tin mừng / là
   sẵn sàng / là tỉnh thức như Chúa dạy / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo
   xứ chúng ta / biết luôn chuẩn bị thật tất tâm hồn / để khi Chúa gọi trở về với Chúa /
   không ai bị Người khiển trách bất cứ điều gì.
      Chủ tế : Lạy Chúa, giữa bao sóng gió của cuộc đời, chúng con dễ ngã lòng nản chí
và lơ là trong việc chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ quyết định với Chúa là vị Thẩm phán công
minh. Vậy xin Chúa ban ơn trợ giúp cho chúng con. Chúng con cầu xin
VI. TRONG THÁNH LỄ
     - Trước kinh Lạy Cha : Khi đọc những lời "Xin Cha tha nợ chúng con", chúng ta
hãy xin Chúa tha thứ những tội chúng ta không chu toàn bổn phận hằng ngày như một
người đầy tớ trung thành.
      - Sau kinh Lạy Cha : "Lạy Cha xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, nhất là sự dữ tệ
hại là chết khi chưa kịp chuẩn bị gì cả. Xin đoái thương cho những ngày chúng con đàng
sống được bình an…"
VII. GIẢI TÁN
     Cuộc đời chúng ta đầy những bổn phận : bổn phận với Chúa, bổn phận với Giáo
Hội, bổn phận với xã hội, bổn phận với gia đình v.v. Trong tuần này chúng ta hãy cố
gắng chu toàn tất cả mọi bổn phận ấy một cách vui vẻ và trong tâm tình yêu mến.
Bài đọc thêm
                                 CHÚA NHỰT XX
                                        CHỦ ĐỀ :
                       SỰ QUẤY RỐI CẦN THIẾT




                          "Thầy đến để đem sự chia rẽ"
                                        (Lc 12,51)
     Sợi chỉ đỏ :
     - Bài đọc I : Ngôn sứ Giêrêmia bị coi là đã quấy rối tinh thần dân Israel.
     - Tin Mừng : Chúa Giêsu nói : "Thầy đến để đem sự chia rẽ".
     Minh họa
     - Mille images 122 C
     - "Thầy đến để đem sự chia rẽ" (Lc 12,51)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
      Anh chị em thân mến
      Ai ai cũng thích được sống yên ổn trong những thói quen của mình. Tuy nhiên cứ
mãi ở yên trong những thói quen xấu thì rất là tai hại. Bởi vậy cần phải có ai đó đánh
thức lương tâm, kết án sự xấu và lôi kéo con người trở về đường tốt. Đó là những sự quấy
rối cần thiết.
      Chúng ta xin Chúa giúp chúng ta can đảm đón nhận những sự quấy rối đó, và cũng
can đảm dám quấy rối trước những tình trạng xấu của kẻ khác.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
      - Chúng ta chỉ thích nghe những lời êm tai vừa ý và không đón nhận những lời thật
sửa lỗi chúng ta.
      - Nhiều khi chúng ta còn thù ghét những người thành tâm sửa lỗi chúng ta.
      - Chúng ta không can đảm đấu tranh cho công bình và sự thật.
III. LỜI CHÚA
      1. Bài đọc I (Gr 38,4-6.8-10)
      Thời ngôn sứ Giêrêmia, dân do thái phạm tội nhiều nên Thiên Chúa để cho quân
thù là đế quốc Babylone bao vây họ. Thay vì ăn năn sám hối và quay về nương tựa nơi
Chúa, họ vẫn tiếp tục làm tội và cậy vào thế lực ngoại bang. Ngôn sứ Giêrêmia vạch rõ
những sai lầm ấy và đe dọa rằng nếu họ cứ tiếp tục như thế thì có ngày Thiên Chúa sẽ
cho quân thù sẽ xâm chiếm xứ sở, tàn phá đền thờ và bắt dân đi lưu đày.
      Vì những lời nói thật đó, Giêrêmia bị coi là kẻ quấy rối tinh thần dân chúng và là
tên phản quốc. Dân chúng đã bắt ông quăng xuống một cái giếng sâu. Nhưng Chúa đã
cho người cứu ông lên.
      2. Đáp ca (Tv 39)
      Tâm tình Tv này rất hợp với Giêrêmia : Tôi đã trông cậy Chúa và Người đã
nghiêng mình về bên tôi. Người đã kéo tôi lên khỏi lỗ mồ, khỏi chỗ bùn nhơ…
      3. Tin Mừng (Lc 12,49-53)
      Đoạn này có hai ý :
      a/ Bằng hai hình ảnh "lửa" và "phép rửa", Chúa Giêsu nói về tương lai sắp tới (cc
49-50) :
      - "Lửa" ám chỉ sự thanh luyện. Chúa Giêsu đến trần gian để thanh luyện trần gian,
cho nên Ngài ước mong việc thanh luyện ấy sớm hoàn thành.
      - "Phép rửa" ám chỉ cuộc khổ nạn sắp tới : việc thanh luyện ấy chỉ hoàn thành sau
khi Ngài chịu nạn chịu chết và sống lại.
      b/ Bằng hai hình ảnh "hòa bình" và "chia rẽ", Chúa Giêsu kêu gọi người ta chọn lựa
thái độ trước Tin Mừng của Ngài (cc 51-53) : Nhiều người nghĩ rằng Đấng Messia là
Đấng mang hòa bình đến (x. Is 9,5). Chúa Giêsu xác nhận rằng đúng thực, sứ mạng của
Ngài là một sứ mạng Hòa bình (Is 9,5tt ; Dcr 9,10 ; Lc 2,14 ; Ep 2,14-15). Nhưng Ngài
thấy cần giải thích thêm : chữ "Hoà bình" có nhiều nghĩa : hoà bình kiểu thế gian và hoà
bình của Thiên Chúa. Chúa Giêsu nói rằng Ngài đến thế gian không phải để đem hòa
bình kiểu thế gian, mà là thứ hòa bình của Thiên Chúa. Thứ hoà bình của Thiên Chúa mà
Chúa Giêsu mang đến, người ta chỉ sẽ nhận được sau khi người ta đã cố gắng chiến đấu
để sống theo Tin mừng của Ngài. Thực tế cho thấy là sứ vụ của Chúa Giêsu đã gặp chống
đối, và Lời rao giảng của Ngài đã gây ra chia rẽ giữa những người tin và những người
không tin, chia rẽ xảy ra ngay trong lòng một gia đình (Lc 2,35 : có chia rẽ, thì tâm tư
người ta mới lộ ra).
      4. Bài đọc II (Dt 12,1-4) (Chủ đề phụ)
      Hoàn cảnh : Các kitô hữu gốc do thái đang gặp phải rất nhiều khó khăn. Một mặt
họ bị các đồng đạo do thái cũ thù ghét vì coi họ là những người phản đạo. mặt khác họ
cũng bị bách hại bởi đế quốc Rôma.
      Tác giả thư do thái đã nêu gương Chúa Giêsu để an ủi và khuyến khích họ : Chúng
ta hãy nhìn thẳng vào Chúa Giêsu. Ngài cũng gặp muôn vàn khó khăn nhưng đã kiên trì
chiến đấu và cuối cùng đã chiến thắng tất cả. Hãy noi gương Ngài và dựa vào sự trợ giúp
của Ngài mà chiến đấu.
IV. GỢI Ý GIẢNG
       * 1. "Thầy đến để đem sự chia rẽ"
       Những lời Chúa Giêsu nói trong bài Tin Mừng này thật kỳ lạ khác thường. Còn nhớ
có lần hai môn đệ xin Ngài sai lửa từ trời xuống thiêu đốt một làng Samaria không tiếp
rước Ngài, thì khi đó Ngài đã mắng hai ông và dùng đường khác mà đi. Thế mà hôm nay
Chúa Giêsu lại nói "Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian". Còn nhớ có lần Phêrô tuốt
gươm ra để bênh vực Ngài khi quân dữ đến bắt Ngài. Khi ấy Ngài đã bảo Phêrô xỏ gươm
vào bao vì ai dùng gươm thì sẽ chết vì gươm. Vậy mà hôm nay Ngài nói "Các con tưởng
Thầy đến để đem sự bình an xuống thế gian ư ? Thầy đến để đem sự chia rẽ !".
       Thực ra Chúa Giêsu đến trần gian không phải để gây chia rẽ và xáo trộn. Tuy nhiên
nhiều khi chính vì Ngài mà xáo trộn và chia rẽ xảy ra ! Điều này đặc biệt đúng trong thời
kỳ Giáo Hội sơ khai. Khi đó, ai bỏ đạo cũ (đạo Rôma, đạo Do thái) để theo đạo Chúa
Kitô thì bị gia đình, bạn bè và hàng xóm ghét bỏ, bách hại. Nhưng những kitô hữu ấy biết
làm gì khác hơn được : chọn bên này thì phải bỏ bên kia, và bên bị bỏ sẽ thù ghét mình.
       Dù Chúa Giêsu rất hiền lành nhưng, vì sứ mạng, Ngài phải nói thẳng nói thật và do
đó gây nên chống đối và chia rẽ : Ngài giảng dạy về lòng thương xót của Thiên Chúa đối
với những người tội lỗi. Lời giảng này làm cho những người tội lỗi tin theo Ngài, nhưng
lại khiến những người biệt phái chống lại Ngài. Ngài kêu gọi con người đừng bám vào
kho tàng của cải đời này, mà hãy tìm kho tàng không hư nát trong Nước Trời. Lời giảng
này khích lệ những người nghèo nhưng lại làm cho những người giàu nổi giận v.v.
       Trong Tin Mừng có đầy dẫy những lời chói tai như thế của Chúa Giêsu. Nếu chúng
ta chỉ lựa ra những lời thuận tai để đọc thì Tin Mừng chẳng mang lại ích lợi gì cho chúng
ta. Ngược lại, chính những lời làm ta khó chịu, những lời có tính cách quấy rối lương tâm
chúng ta mới là những lời giúp chúng ta hoán cải và tìm được ơn cứu độ.
       * 2. Sứ mạng ngôn sứ
       Ngôn sứ là người nói lời Thiên Chúa. Mà lời Thiên Chúa không phải lúc nào cũng
thuận tai loài người. Cho nên ngôn sứ thường bị coi là những người quấy rối, và bị ghét
bỏ.
       Nhưng kitô hữu chúng ta có sứ mạng ngôn sứ. Chúng ta có sứ mạng nói lên sự thật
để vạch trần sự gian dối ; chúng ta có sứ mạng đòi hỏi công bình mỗi khi gặp bất công.
       Kinh nghiệm cho thấy không có gì khiến người ta khó chịu cho bằng đòi hỏi sự thật
và công bình.
       Vì thế sứ mạng của kitô hữu càng khó khăn hơn.
       Trước chúng ta, đã có nhiều kitô hữu can đảm thi hành sứ mạng ngôn sứ của mình :
Martin Luther King rao giảng cho hòa bình và cho quyền tự do của người da đen. Ông đã
bị ám sát chết. Đức Giám mục Helder Camara tranh đấu cho người nghèo và cũng bị bắn
gục.
       Xã hội ngày nay có nhiều điều xấu, và những điều xấu ấy vẫn tồn tại lâu dài. Phải
chăng vì Kitô hữu đã bỏ quên hay đã hèn nhát không thi hành sứ vụ ngôn sứ của mình ?
      * 3. Ngọn lửa tình yêu
      Tại một khu phố cổ ấn Độ, trên đường cũng như trong nhà thường không có đèn.
Giữa những khu phố như thế, thỉnh thoảng người ta thấy mọc lên một ngôi đền Ấn Giáo.
Dĩ nhiên, trong những ngôi đền như thế, ánh sáng cũng không được đốt lên thường
xuyên.
      Từ trên nóc đền thờ cũng như dọc theo bốn bức tường, họ treo những chiếc lồng
đèn. Khoảng trống trong những chiếc lồng đèn ấy vừa vặn để cho vào một chiếc đèn dầu.
      Bình thường ngôi đền thờ vắng lạnh vì tăm tối. Nhưng cứ mỗi sáng sớm, khi các tín
hữu dùng đèn dầu soi đường để đi qua các khu phố đến đền thờ cầu nguyện, họ cũng
mang chính những ngọn đèn ấy và đặt vào trong những chiếc lồng đèn trong đền thờ.
Thành ra, khi mỗi tín hữu đặt ngọn đèn của mình vào trong các lồng đèn, thì ngôi đền thờ
bỗng sáng rực lên một cách lạ kỳ.
                                                *
      "Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã
bùng lên" (Lc 12,49). Đó là tâm nguyện của Chúa Giêsu và cũng là trách nhiệm của mỗi
người tín hữu chúng ta : Thế giới này là một ngôi đền thờ rộng lớn mà mỗi tín hữu phải
đặt vào đó ngọn lửa tình yêu, để thế giới này bừng sáng lên tình anh em một nhà.
      Ngọn lửa mà Chúa Giêsu đã ném vào thế giới này, chính là ngọn lửa tình yêu vắn
bừng cháy trong trái tim Người ; là ngọn lửa phục sinh đã bừng lên trong tâm hồn người
tín hữu giữa đêm tăm tối, cũng là ngọn lửa Thánh Thần đã bừng sáng trí khôn các tông đồ
ngày lễ Ngũ Tuần.
      Nếu con người cần cơm bánh để sống còn, thì họ cũng cần tình thương để tồn tại.
      Nếu con người cần áo quần để che thân, thì họ cũng cần tình thương để sưởi ấm.
      Nếu lòng hai môn đệ Em mau đã bừng cháy lên khi nghe Lời Chúa, thì nhân loại
sao chẳng rực sáng lên khi nghe lời yêu thương của Người ?
      Lời yêu thương đã được viết lên trên cây thập giá, trong cuộc khổ nạn đau thương,
đó chính là phép rửa mà Chúa Giêsu phải chịu, để ném lửa yêu thương vào trần gian.
      Như Thiên Chúa Giavê đã hiện ra với Môsê nơi bụi gai cháy sáng và kêu gọi ông đi
chu toàn sứ mạng, nay Người cũng sai chúng ta đi loan báo sứ điệp yêu thương cho trần
thế.
      Như Chúa Giêsu đã đẩy lui bóng tối tử thần bằng ánh sáng Phục sinh và sai các
môn đệ đi loan báo tin vui, nay Người cũng mời gọi chúng ta hãy xua tan bóng tối của
bất công, hận thù, nghèo đói với ánh sáng của tình thương cứu độ.
      Như Thánh Thần đã ngự xuống trên các tông đồ dưới hình lưới lửa để biến họ
thành chứng nhân Nước Trời, nay Người cũng muốn chúng ta mang ngọn lửa tình yêu,
thanh luyện và sưởi ấm các tâm hồn.
      Mahatma Gandhi, vị thánh của Ấn Độ đã nhận định rất sâu sắc về ngọn lửa tình yêu
này như sau : "Một vật cứng rắn đến đâu, cũng sẽ tan chảy trong lửa tình yêu. Nếu vật ấy
không tan chảy, chính vì ngọn lửa không đủ mạnh". (TP)
      * 4. Chấp nhận bị ghét
      Lòng ganh ghét không đơn giản chút nào, nhiều khi nó rất phức tạp khó lường.
Không phải người ta chỉ ghét những điều xấu, người ta có thể ghét cả những điều tốt nào
không hợp với người ta. Thí dụ kẻ nói dối ghét người nói thật, kẻ buôn gian bán lận ghét
người buôn bán thật thà v.v.
       Chính vì thế mà Chúa Giêsu khuyến cáo các kitô hữu phải chấp nhận bị ghét, có thể
bị ghét bởi chính những người thân của mình và ngay trong gia đình mình : "Từ nay 5
người trong một nhà sẽ chia rẽ nhau 3 chống lại 2 và 2 chống lại 3. Cha chống đối con
trai và con trai chống đối cha. Mẹ chống đối con gái và con gái chống đối mẹ…"
       Đó là những sự ghét đáng chấp nhận, vì nếu không chấp nhận thì có nghĩa là phản
bội lý tưởng Tin Mừng của mình.
       * 5. Hoà bình thật và hòa bình dỏm
       Một đầm lầy xem ra rất phẳng và đẹp ở bề mặt của nó
       Nhưng sâu bên dưới toàn là bùn sình rác rưởi hôi thúi.
       Một thứ hoà bình dựa trên những giả dối và bất công được thoả thuận với nhau chỉ
là thứ hòa bình dỏm. Chúa Giêsu đến trần gian không phải để mang lại thứ hoà bình dỏm
này.
       Thứ hoà bình thật Chúa Giêsu mang đến là thứ hòa bình mà trong đó sự thật được
tôn trọng, mọi quyền lợi của con người được tôn trọng.
       Những người cố gắng xây dựng nền hòa bình của Thiên Chúa có thể bị người đời
cho là những kẻ quấy rối, nhưng họ được Thiên Chúa gọi là "Con" của Ngài.
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
       Chủ tế : Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu đã đem ngọn lửa tình yêu của Người
xuống trần gian để sưởi ấm con tim băng giá của nhân loại. Với ước mong ngọn lửa ấy
bừng lên trên toàn thế giới, chúng ta cùng dâng lời cầu xin :
1. Hội thánh đã và đang làm hết mọi cách / để giúp các Kitô hữu hiệp nhất với nhau /
   Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa chúc lành cho nỗ lực cao quý / nhưng đầy khó khăn
   này.
2. Ngày nay / sự ganh tỵ / lòng ghen ghét / vẫn đang ngự trị ở khắp mọi nơi / Chúng ta
   hiệp lời cầu xin cho mọi người biết yêu thương và tôn trọng nhau.
3. Hiện giờ / bất hòa / chia rẽ vì bè phái / vẫn đang hoành hành trong các cộng đoàn
   giáo xứ / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi tín hữu / biết dẹp bỏ bất hòa và chia rẽ /
   để luôn sống hiệp nhất với nhau.
4. Đời sống gia đình chỉ thật sự hạnh phúc / khi các thành viên trong gia đình biết sống
   trên thuận dưới hòa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi gia đình trong giáo xứ chúng
   ta / biết luôn nêu gương cho các gia đình khác về đời sống bác ái yêu thương.
       Chủ tế : Lạy Chúa Giêsu, ghen ghét, hận thù, vừa trái với tinh thần bác ái của Chúa
vừa dẫn đến những hậu quả hết sức tai hại trong mối quan hệ thường ngày. Vì thế, xin
Chúa cho chúng con biết sống theo Lời Chúa dạy, và đừng bao giờ để cho lòng ghen ghét
và sự hận thù ảnh hưởng đến mọi suy nghĩ, lời nói và việc làm của chúng con. Chúa hằng
sống và hiển trị muôn đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
      - Trước kinh Lạy Cha : Nước Thiên Chúa là nơi chân lý và công lý ngự trị. Chúng
ta hãy cầu xin cho Nước Chúa mau trị đến.
VII. GIẢI TÁN
      Lời Chúa hôm nay kêu gọi chúng ta làm một việc rất khó, đó là làm chứng cho sự
thật và công bình. Với sự trợ giúp của Chúa, chúng ta hãy can đảm thi hành sứ mạng cao
cả này.
                                CHÚA NHỰT XXI
                                      CHỦ ĐỀ :
           CHÚA BAN ƠN CỨU ĐỘ CHO MỌI NGƯỜI




                "Hãy cố gắng qua cửa hẹp để vào Nước Trời"
                                       (Lc 13,24)
     Sợi chỉ đỏ :
     - Bài đọc I : "Người ta sẽ đưa tất cả những anh em các của thuộc mọi dân tộc về"
     - Đáp ca : "Muôn nước hỡi nào ca ngợi Chúa, ngàn dân ơi hãy chúc tụng Người"
     - Tin Mừng : "Thiên hạ sẽ từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên
Chúa"
     Minh họa
     - Mille images 80 C
     - "Hãy cố gắng qua cửa hẹp để vào Nước Trời" (Lc 13,24)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
      Anh chị em thân mến
      Dân do thái là dân riêng của Chúa. Còn chúng ta chỉ là dân ngoại. Vậy mà chúng ta
đã được Chúa thương, cho chúng ta biết Ngài và quy tụ chúng ta lại trong Giáo Hội của
Ngài.
      Chúng ta hãy cám ơn tình thương của Chúa, và hãy cầu nguyện để ngày càng có
thêm nhiều người được biết Chúa và đến với Ngài.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
     - Rất ít khi chúng ta biết cám ơn Chúa vì ơn được biết Ngài.
     - Cũng rất ít khi chúng ta quan tâm làm cho nhiều người khác cũng được biết Chúa
như chúng ta.
     - Chúng ta ngại đi qua "cửa hẹp", nghĩa là ngại khó khăn, ngại cố gắng.
III. LỜI CHÚA
      1. Bài đọc I (Is 66,18-21)
      Đây là đoạn kết của sách Isaia, qua đó Thiên Chúa tỏ cho biết giai đoạn cuối của
chương trình cứu độ của Ngài là tất cả mọi dân tộc (chứ không riêng gì dân do thái) sẽ tin
vào Ngài, đến với Ngài và hưởng hạnh phúc muôn đời với Ngài.
      2. Đáp ca (Tv 116)
      Thánh vịnh này nhấn mạnh lại ý tưởng của bài đọc I : kêu mời mọi nước mọi dân
hãy ca ngợi và chúc tụng Chúa.
      3. Tin Mừng (Lc 13,22-30)
      Hai câu trong đoạn Tin Mừng này đáng chú ý nhất :
      c.23 : Câu hỏi mà một người kia đặt ra cho Chúa Giêsu phản ánh quan tâm của
người Do Thái đương thời về số lượng những kẻ được cứu.
      Khi đặt vấn đề dựa theo số lượng, người ta sẽ có thái độ không thích hợp : nếu mọi
người đều được cứu thì thái độ sẽ là ỷ lại ; còn nếu có một số nhỏ được cứu thì thái độ sẽ
là chán nản, cố gắng làm chi cho uổng công.
      c.24 : Chúa Giêsu không trả lời thẳng câu hỏi. Người ta hỏi về số lượng. Ngài trả
lời về cách thức làm sao cho mình được ở trong số lượng những kẻ được cứu ấy, đó là
phải cố gắng, diễn tả bằng hình ảnh "đi qua cửa hẹp".
      - "Đi qua" : Động từ "qua" diễn ta sự thay đổi cách sống. Có rất nhiều người đứng
trước cái của hẹp ấy, nhưng chỉ những ai biết "đi qua" (thay đổi cách sống) thì mới vào
nhà được.
      - "Cửa hẹp" diễn ta sự cố gắng. Muốn vào Nước Trời thì phải cố gắng nhiều (và
khó khăn như lạc đà chui qua lỗ kim : xem Mt 19,24, Mc 10,25, Lc 18,25).
      Như thế, số lượng những kẻ vào Nước Trời (nhiều hay ít), và lý lịch của những
người ấy (do thái hay dân ngoại) đều không quan trọng. Vấn đề quan trọng là phải cố
gắng đi qua cửa hẹp mà vào.
      4. Bài đọc II (Dt 12,5-7.11-13) (Chủ đề phụ)
      Đoạn thư do thái này bàn đến những gian truân khốn khó.
      Như chúng ta đã biết, các kitô hữu gốc do thái phải chịu nhiều khốn khó từ phía đế
quốc rôma lẫn phía Do thái giáo.
      Tác giả cho họ biết rằng những gian nan khốn khó đó là những việc Chúa cho phép
xảy ra để thử thách và sửa dạy họ. Mà Chúa thương ai thì mới thử thách và sửa dạy người
ấy. Vì thế, họ đừng ngả lòng, trái lại hãy vui mừng vì biết mình được Chúa thương, và
kiên trì chịu đựng.
IV. GỢI Ý GIẢNG
     * 1. "Phải chăng số người được cứu thoát thì ít ?"
       Hôm đó có người hỏi Chúa Giêsu : "Phải chăng số người được cứu thoát thì ít ?"
Người hỏi câu này là một người do thái. Khi hỏi thế, người do thái này mong nhận được
câu trả lời là "đúng thế". Sở dĩ người này mong như vậy là vì dân do thái nghĩ rằng ơn
cứu rỗi được dành riêng cho dân tộc họ mà thôi.
       Một câu hỏi sai phát xuất từ một quan niệm sai. Cho nên Chúa Giêsu không trả lời.
Những điều Ngài nói sau đó cho ta thấy Ngài muốn đặt lại câu hỏi cho đúng : "Ai sẽ
được cứu rỗi ?" và "Muốn được cứu rỗi thì phải làm gì ?"
       "Ai sẽ được cứu rỗi ?" Thưa : tất cả mọi người : "Thiên hạ sẽ từ Đông Tây Nam
Bắc sẽ đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa". Vì thế, đừng ai nghĩ rằng bởi vì mình thuộc
thành phần ưu tiên nên chắc chắn sẽ được cứu rỗi, bởi vì rất có thể khi đó họ phải ngỡ
ngàng nghe Chúa nói "Ta không biết các ngươi từ đâu tới. Hãy cút đi cho khỏi mắt Ta".
       "Muốn được cứu rỗi thì phải làm gì ?" Thưa "hãy chiến đấu để qua cửa hẹp mười
vào". "Qua cửa hẹp" nghĩa là phải sám hối, phải uốn nắn đời sống theo những giáo huấn
của Tin Mừng, "ai muốn theo Ta, phải từ bỏ chính mình và vác thập giá hằng ngày mà
theo Ta"
       * 2. Ai sẽ được cứu rỗi ?
       Thời Chúa Giêsu nhiều người Do thái tưởng rằng ơn cứu rỗi chỉ dành riêng cho dân
tộc họ mà thôi. Vì thế khi họ hỏi Chúa Giêsu "Thưa Thầy, phải chăng chỉ có một số ít
người sẽ được cứu rỗi ?" thì họ thầm mong Chúa Giêsu sẽ trả lời "Phải" để xác nhận quan
điểm của họ.
       Nhưng Chúa Giêsu đâu có muốn xác nhận một quan điểm hẹp hòi như vậy, và
Chúa Giêsu cũng không muốn trả lời thẳng câu hỏi của họ. Nếu Chúa đáp "Phải" chỉ có
một ít người sẽ được cứu rỗi" thì sẽ sinh hậu quả là những người Do thái thành ra kiêu
căng tự mãn vì nắm chắc phần rỗi : vì tự mãn như thế họ không cần cố gắng gì thêm nữa.
Và những người khác không phải là Do thái thì sẽ nản lòng, tự nhủ "Ơn cứu rỗi không
thuộc về mình, thôi thì cố gắng làm chi cũng vô ích". Ngược lại nếu Chúa Giêsu đáp "Ơn
cứu rỗi được ban cho số đông" thì cũng làm cho mọi người ỷ lại, không cố gắng, bởi vì
cố gắng làm chi vì mình chắc chắn sẽ được rồi mà.
       Chính vì những lý do nêu trên mà Chúa Giêsu không trả lời thẳng câu hỏi dựa trên
số lượng, Chúa nhắm đến phẩm chất : Ơn cứu rỗi không phải là đặc quyền của một số
người nào, của một dân tộc nào, của một phe nhóm nào cả, mà thuộc về bất cứ ai biết
sống theo Lời Chúa dạy. Vì thế mà sẽ có những cảnh trớ trêu :
       - Những kẻ trước hết sẽ có thể nên sau hết ; ngược lại những kẻ sau hết có thể thành
trước hết. Dân tộc Do thái dù được biết Chúa sớm hơn hết nhưng nếu không sống theo
Lời Chúa thì có thể đi sau các dân khác tuy biết Chúa muộn hơn nhưng đã biết sống theo
Lời Chúa.
       - Chúa còn nói :"Nhiều người từ đông sang tây nam bắc sẽ được mời vào nước
Chúa đang khi con cái trong nhà bị đuổi ra", nghĩa là có thể các dân tộc khác sẽ vào
chiếm chỗ dân Do thái vì các dân tộc ấy đã biết sống theo Lời Chúa.
       Trên đây là ý nghĩa trực tiếp của đoạn Tin mừng, áp dụng cho dân Do thái và các
dân khác thời Chúa Giêsu. Còn ý nghĩa hiện thực áp dụng cho thời đại chúng ta ngày nay
là : không phải hễ có rửa tội, có đạo, có dự lễ, rước lễ, xưng tội, đọc kinh, nghe giảng vv
thì đương nhiên sẽ được cứu rỗi đâu. Nhưng ơn cứu rỗi được ban cho bất cứ kẻ nào sống
theo Lời Chúa, cho dù người đó có đạo hay là không có đạo. Thực vậy, có đạo mà không
sống theo Lời Chúa thì không bằng người tuy không có đạo, không biết Chúa nhưng cuộc
sống của họ lại theo đúng những điều Chúa dạy. Giáo thuyết này đưa đến 2 quan niệm
mới trong nền thần học ngày nay : (1) thứ nhất là quan niệm về những người Kitô hữu vô
danh : đó là những người tuy không có đạo, nhưng vì cuộc sống của họ phù hợp với tinh
thần Tin mừng nên vẫn được cái là Kitô hữu mặc dù họ không có danh hiệu Kitô hữu. (2)
Còn quan niệm thứ hai là về những người "Kitô hữu ngoại đao", nghĩa là những người
tuy có đạo nhưng lại không sống theo tinh thần Tin mừng nên bị coi là ngoại đạo mặc dù
họ có danh hiệu Kitô hữu.
       Nếu danh hiệu không làm nên thực chất của người Kitô hữu, thì là cái gì ? Thưa là
cuộc sống được thể hiện qua những phản ứng của mình trước mọi tình huống trong đời.
       Một nữ tu già ngồi sau một chiếc xe đạp, rồi có một chiếc xe hơi trên đó có một số
cán bộ chạy lướt qua. Chiếc he hơi lái hơi ẩu nên chạm chiếc xe đạp làm cho bà sơ già té
ngửa xuống, dập đầu xuống đường. Những cán bộ trên xe hơi vội vả xuống đỡ bà dậy.
Mặc dầu đau lắm nhưng bà cố gắng nói "Không sao đâu các con, xin Chúa chúc lành cho
các con". Câu nói đột ngột đó làm cho các ông cán bộ kia vừa tức cười vừa nghĩ ngợi :
tức cười vì các ông ấy đâu có tin Chúa mà cần tới phúc lành của Chúa, nhưng các ông
phải nghĩ ngợi vì phản ứng đầy bác ái và đầy đức tin của bà sơ : chỉ có kẻ nào quá quen
với tha thứ và lúc nào cũng luôn nhớ tới Chúa mới có thể thốt ra một câu như vậy". Và
sau đó những ông cán bộ ấy hay tới lui chăm sóc và thăm viếng vị nữ tu ấy, lòng rất mến
phục.
       Đó là những phản ứng, phản ứng thì lẹ làng, bất ngờ nhưng rất trung thực. Trước
một tình huống xảy ra, trong lòng mình thế nào thì mình sẽ phản ứng đúng như vậy.
Người nào chỉ có đạo trên danh nghĩa nhưng không quen sống theo Lời Chúa thì không
thể nào có được phản ứng mang tính chất Kitô giáo đích thực. Như thế, thước đo của lòng
đạo chúng ta chính là những phản ứng của chúng ta.
       Thí dụ như khi bị trộm mất đồ, không ít người có đạo đã đi coi thầy bói để đoán
xem ai đã lấy đồ của mình. Đây rõ ràng là phản ứng của người không đạo.
       Còn ông Gióp khi dồn dập nhà cửa bị cháy rụi, các vật bị cướp đi, con cháu bị chết
hết, bản thân mang chứng phong cùi gớm ghiếc đã biết nói "Xưa Chúa đã ban, nay Chúa
lấy lại, xin ngợi khen Chúa". Ông còn khuyên người khác "Mình biết lãnh nhận những ơn
lành của Chúa thì sao không biết chịu đựng những thử thách của Chúa,. Đó mới là phản
ứng của người có lòng đạo thực.
       Thế nhưng không thiếu người cho rằng : sống giữa một xã hội đầy tráo trở mà phản
ứng theo tinh thần Tin mừng thì là khờ dại quá. Xin hỏi lại : Thế thì đạo không có ăn
nhập gì với cuộc đời sao ? Con người chúng ta phải chia ra làm hai sao : một con người
hiền lành lúc ở nhà thờ đọc kinh dự lễ và một con người tráo trở gian manh khi cư xử với
người đời sao ! Không được, con người chúng ta phải là một ở nhà thờ cũng vậy mà ở
giữa chợ đời cũng vậy. Đạo chúng ta là đạo nhập thể vào đời chứ không phải chỉ là đạo ở
nhà thờ.
       Qua bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu muốn nói rằng không phải hể mang danh
nghĩa là người Do thái ngày xưa, hay người Công giáo ngày nay là đương nhiên được ơn
cứu rỗi ; không phải hể có rửa tội, hễ có thường xuyên đọc kinh rước lễ là đương nhiên
được ơn cứu rỗi. Nhưng ơn cứu rỗi là dành cho bất cứ ai biết sống theo Lời Chúa và có
những phản ứng hợp với tinh thần Tin mừng trong mọi tình huống cuộc đời.
       Xin Chúa giúp chúng ta không chỉ là những người Kitô hữu trên danh nghĩa nhưng
thấm nhuần tinh thần Kitô hữu trong cả cuộc sống, trong mọi cách suy nghĩ, lời nói, việc
làm của mình.
       * 3. Cửa nào Chúa đã đi qua ?
       Một buổi sáng náo nhiệt, người đàn bà sang trọng đi chiếc xe hơi bóng láng, lóng
lánh như kim cương tới cửa thiên đàng. Nghe tiếng còi điện lừng vang, thánh Phêrô vội
vã mở cửa dẫn vào. Khi vị thánh giữ cửa thiên đàng chỉ cho bác tài xế của bà một toà nhà
đồ sộ, thì bà sung sướng nghĩ thầm : "Bác tài mà còn được ở một toà nhà nguy nga tốt
đẹp như thế ! Còn tôi chắc phải được một dinh thự sang trọng lộng lẫy đến chừng nào !"
Và bà ta xoa tay vui sướng.
       Ngờ đâu khi bác tài đi rồi, thánh Phêrô lại chỉ vào một túp lều lụp xụp ở góc vườn
và nói :
       - Đó là nhà của bà.
       Người nhà giàu hốt hoảng, choáng váng đầu óc :
       - Nhà của tôi đó thật sao ? Không, tôi không thể nào sống trong một căn lều tồi tàn
xấu xí như thế được ?
       Thánh Phêrô vân vê chòm râu bạc, trả lời giữa hai cái nháy mắt :
       - Thưa bà, với vật liệu bà đã gởi lên cho tôi xưa nay, tôi chỉ làm được có ngần ấy
thôi !
                                                *
       "Có những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng
chót" (Lc 13,30). Đó là bất ngờ đau đớn cho "những kẻ đứng đầu". Họ là những người
được Chúa ban cho giàu có nhưng lại sống trong ích kỷ, chỉ biết thu vén cho mình những
của cải đời này, mà không biết chia sẻ trao ban như luật yêu thương Chúa dạy. Chính tài
sản đã làm họ vướng víu nên không thể qua "cửa hẹp" mà vào được Nước Trời.
       "Những kẻ đứng đầu" có thể là những ai được Chúa ban cho địa vị, chức quyền,
khôn ngoan, nhưng lại sống trong huênh hoang tự đắc. Thay vì dùng ơn lành Chúa ban để
nâng đỡ anh em, phục vụ cộng đoàn, họ lại nuôi dưỡng tham vọng cá nhân. Chính cái tôi
cồng kềnh đã làm họ vướng víu nên không thể qua "cửa hẹp" mà vào được Nước Trời.
       "Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào" (Lc 13,24). Nếu Chúa đã bảo hãy
"chiến đấu" tức là phải nỗ lực cố gắng thật nhiều, phải vất vả gian nan thật lâu, thì mới
vượt qua được "cửa hẹp". Nếu Chúa đã nhắc đến "cửa hẹp" thì phải hiểu là chỉ có những
người bé nhỏ mới lách qua được, chỉ có những trẻ thơ mới vào được dễ dàng. Chúa
phán : "Ai không tiếp nhận Nước Trời như một trẻ nhỏ thì không được vào" (Lc 18,17).
       "Cửa hẹp dẫn đến sự sống" (Mt 7,14), cửa hẹp đưa vào bàn tiệc Nước Trời, nhưng
không phải lúc nào cửa cũng mở : Sẽ đến giờ "chủ nhà đứng dậy và khoá cửa lại" (Lc
13,25) thì không cách gì, không lý lẽ chi để cửa mở ra lại. Đó chính là lúc vô cùng bất
hạnh cho những kẻ đến trễ : những kẻ mải mê tìm của cải danh vọng, thú vui phù du mà
quên đi hạnh phúc vĩnh hằng ; những kẻ cậy dựa vào đạo dòng, vào các việc lành đã làm,
vào tài đức đã đắc thủ mà quên đi Đấng mà họ phải kiếm tìm, để sống thân mật, để dâng
hiến và để yêu mến Người với tất cả trái tim.
      Ước gì chúng ta đừng đến lầm cửa, đó là cửa rộng thênh thang ; cửa tiền tài, sắc
dục, hư danh ; cửa dẫn vào cái chết muôn đời. Cũng đừng đến mà cửa đã đóng kín để
không phải nghe Chúa nói : "Ta không biết các anh từ đâu đến" (Lc 13,27) (TP)
      * 4. Thử thách giúp nên người
      Ở một số bộ lạc da đỏ, có tục lệ sau đây : khi một trẻ trai đến tuổi thành niên, người
cha của nó sẽ dẫn nó vào rừng, giao cho nó một cây giáo, sau đó người cha rút lui để lại
nó một mình trong rừng suốt đêm hôm ấy. Trong đêm đó, nó sẽ phải một mình ở trong
rừng, đối diện với nhiều nỗi sợ hãi : sợ cô đơn, sợ bóng tối, sợ thú dữ… Nếu nó hèn nhát
đòi theo cha về nhà thì nó vẫn bị coi là trẻ con. Nhưng nếu nó chịu đựng được tất cả và
sáng hôm sau rời khỏi khu rừng trở về với gia đình thì nó được chính thức công nhận là
người một trưởng thành.
      Nếu nói theo bài Tin Mừng hôm nay thì cái đêm khó khăn trong rừng ấy là cái "cửa
hẹp" ; còn nếu nói theo bài đọc II thì đó là "thử thách". Có qua thử thách hay cửa hẹp đó
thì chàng thiếu niên mới trở thành người.
      Tại sao gian nan cực khổ giúp ta nên người ?
      - Vì nó thanh luyện tâm hồn
      - Vì nó rèn luyện đức tính
      - Và vì nó sinh nhiều hoa trái tốt
      Chẳng những giúp ra nên người, gian nan cực khổ còn giúp ta nên người kitô hữu
tốt :
      - Sở dĩ Chúa cho phép gian nan cực khổ xảy đến với ta là vì Chúa biết nó có thể
làm ích cho chúng ta. Nói ngược lại, nếu nó chỉ có hại thì Chúa đã không cho nó xảy đến
với ta.
      - Nó khiến ta tìm đến Chúa
      - Nó giúp ta cảm nghiệm được quyền phép Chúa
      - Nó giúp ta cảm nhận được tình thương của Chúa
      - Và nó khiến ta biết thương xót những người gặp hoàn cảnh gian nan cực khổ như
ta.
      5. Chuyện minh họa
      a/ Cửa hẹp
      Một cặp vợ chồng trẻ nọ chia sẻ cho nhau nghe ước muốn có được một ngôi nhà
khang trang. Một nhà tỉ phú tình cờ theo dõi câu chuyện. Với tất cả nghiêm chỉnh. ông đề
nghị với họ : nếu cô vợ chịu ngủ với ông một đêm, ông sẽ tặng họ một triệu mỹ kim. Hai
vợ chồng đồng ý. Nhưng khi người vợ lên đường đến với nhà tỉ phú thì người chồng cũng
bắt đầu hối hận. Nhưng đã quá muộn. Sau một đêm để có một triệu mỹ kim, hai vợ chồng
đã tan vỡ (...) Con đường dễ dãi là con đường dẫn tới hư mất. Sự thành đạt thường không
đến cách ngẫu nhiên, mà là kết quả của những cố gắng và kiên nhẫn lâu dài
      b/ Tiếng Chúa
      Thiên Chúa nói thì thầm trong cơn vui sướng của chúng ta ; Ngài nói đủ nghe trong
lương tâm của chúng ta ; nhưng Ngài hô lớn trong những cơn đau của chúng ta (C.S.
Lewis).
      c/ Vào thiên đàng
      Một Rabbi do thái kia có đứa con theo Kitô giáo. Khi ông chết, Chúa Cha cho ông
vào thiên đàng. Nhưng ông nói :
      - Lạy Chúa, con chẳng đáng vào thiên đàng đâu, vì đứa con của con đã bỏ đạo
Giavê để theo đạo Kitô.
      - Có sao đâu ! Đức Chúa Cha an ủi, Ta thông cảm, Ta thông cảm. Ngày xưa Con
của Ta cũng thế !
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
      Chủ tế : Anh chị em thân mến, Thiên Chúa yêu thương và muốn cứu rỗi hết thảy
mọi người. Chúng ta cùng cảm tạ Chúa và dâng lời cầu xin :
1. Hội thánh luôn mời gọi con cái mình hiên ngang sống đức tin Chúa đã thương ban /
   Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các tín hữu / biết thể hiện niềm tin của mình qua những
   việc làm cụ thể trong đời sống thường ngày.
2. Ở bất cứ thời đại nào cũng đều có người thành tâm thiện chí đi tìm kiếm Chúa / Chúng
   ta hiệp lời cầu xin Chúa soi sáng / hướng dẫn / và nâng đỡ những ai đang trên con
   đường tìm gặp gỡ Người.
3. Hãy phấn đấu đi qua cửa hẹp mà vào / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các Kitô hữu
   hiểu rằng / chỉ khi đi vào con đường hẹp của Tin mừng / con đường đòi hỏi nhiều hy
   sinh gian khổ / họ mới có thể đi tới sự sống đời đời.
4. Chúa Giêsu nói : / Chỉ những ai thi hành thánh ý Chúa Cha / mới xứng đáng vào Nước
   Trời / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết hết lòng tuân
   giữ lề luật của Chúa, nhất là luật bác ái yêu thương.
      Chủ tế : Lạy Chúa, chỉ nguyên danh xưng Kitô hữu chưa đủ bảo đảm cho chúng con
vào Nước Trời, vì chúng con còn phải sống trọn vẹn niềm tin đã lãnh nhận nữa. Vậy xin
Chúa củng cố đức tin còn yếu kém của chúng con. Chúng con cầu xin
VI. TRONG THÁNH LỄ
      - Trước kinh Lạy Cha : Chút nữa khi đọc kinh Lạy Cha, chúng ta hãy đặc biệt cầu
xin cho "Nước Cha trị đến" để ngày càng có thêm nhiều người nhận biết Chúa và đến với
Chúa.
VII. GIẢI TÁN
      Chúng ta sắp trở lại với cuộc sống hằng ngày với biết bao cực nhọc và đau khổ.
Nhưng Lời Chúa hôm nay đã cho chúng ta biết đó chính là những thử thách mà vì yêu
thương chúng ta nên Chúa mới gởi đến cho chúng ta. Đó chính là cái cửa hẹp mà chúng
ta cần phải qua đó mới vào được Nước Trời. Vậy chúng ta hãy vui lòng đón nhận tất cả
những cực nhọc và đau khổ ấy với lòng yếu mến.
                              CHÚA NHỰT XXII
                                     CHỦ ĐỀ :
                KHUYẾN KHÍCH SỐNG KHIÊM HẠ




                          "Xin ông hãy nhường chỗ"
                                      (Lc 14,9)
      Sợi chỉ đỏ :
      - Bài đọc I : Những châm ngôn về sự khiêm hạ được sưu tầm trong một đoạn sách
Huấn ca.
      - Đáp ca : Ca tụng lòng ưu ái của Thiên Chúa dành cho những người nghèo hèn yếu
đuối.
      - Tin Mừng : Chúa Giêsu chỉ trích thói dành chỗ danh dự trong bàn tiệc và thói
thích mời những kẻ danh giá đến dự tiệc của mình.
      Minh họa
      - Mille images 83 C
      - "Xin ông hãy nhường chỗ" (Lc 14,9)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
      Anh chị em thân mến
      Ba khuynh hướng xấu lớn nhất của con người là "danh, lợi và thú". Lời Chúa hôm
nay sẽ dạy chúng ta về khuynh hướng hám danh, nói cách khác là tính kiêu căng.
      Chúng ta hãy chăm chú nghe Lời Chúa dạy bảo và hãy ngoan ngoãn sống theo giáo
huấn của Chúa.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
      - Chúng ta đều mang tính kiêu căng, mỗi người thể hiện một cách.
      - Vì ham danh vọng, chúng ta đã làm nhiều điều đáng trách
      - Chúng ta đối xử đặc biệt tốt đối với những người có địa vị, và khinh miệt những
kẻ thấp hèn.
III. LỜI CHÚA
       1. Bài đọc I (Hc 3,17-18.20.28-29)
       Đoạn sách Huấn ca này gom góp nhiều huấn dụ khôn ngoan về sự khiêm tốn :
       - Kẻ làm việc cách khiêm tốn thì được người khác mến yêu
       - Chính Thiên Chúa yêu thương những kẻ khiêm tốn
       - Kẻ kiêu căng khi lâm cảnh khốn khổ thì vô phương cứu chữa.
       2. Đáp ca (Tv 67)
       Thánh vịnh này được gọi là Bài ca của kẻ nghèo hèn : Lòng yêu thương của Thiên
Chúa đặc biệt dành cho những người yếu đuối, cô thế cô thân và nghèo hèn.
       3. Tin Mừng (Lc 14,1.7-14)
       Khung cảnh của câu chuyện này là Chúa Giêsu đến nhà một thủ lãnh nhóm
Pharisêu để dùng bữa, và nhóm Pharisêu cố dò xét Ngài. Trong khung cảnh bữa tiệc ấy,
Chúa Giêsu dạy hai bài học :
       a/ Bài học về việc chọn chỗ ngồi (cc 7-11) : chỗ ngồi tượng trưng cho địa vị.
       - Không nên tự mình tranh dành địa vị, vì có thể địa vị ấy không tương xứng với
khả năng và phẩm giá của mình.
       - Địa vị ấy, hãy để cho người khác sắp xếp cho mình, do sự đánh giá khách quan
của họ đối với mình.
       - Và tốt nhất là hãy để chính Chúa lo việc đó, vì "hễ ai tự nâng mình lên sẽ bị
(Thiên Chúa) hạ xuống, còn ai tự hạ mình xuống sẽ được (Thiên Chúa) nâng lên".
       b/ Bài học về việc phục vụ vô vị lợi : bài học phục vụ vô vị lợi. Chúa Giêsu lấy thí
dụ bằng việc mời khách dự tiệc :
       - "Hãy mời những người nghèo, người què, người cà thọt và người đui" : ba hạng
người sau chỉ là giải thích cho chữ "người nghèo". Chúa Giêsu dùng ba hạng đó để diễn
tả những người nghèo nhất, vì ba hạng này bị khinh miệt nhất và không được phép tham
dự những lễ nghi trong Đền thờ (2Sm 5,8 ; Lv 21,18).
       - "Họ không có gì đáp lễ" : người đời thường cư xử với nhau theo tiêu chuẩn có qua
có lại, do đó họ thường mời những kẻ mà sau này sẽ đền ơn họ bằng cách này hay cách
khác. Nhưng Chúa Giêsu khuyên hãy mời những kẻ không có gì đáp lại và cũng không
có khả năng đáp lại. Khi đó chính Thiên Chúa sẽ thay họ mà thưởng công cho kẻ đã mời
("ông sẽ được đáp lễ" : thể thụ động, ngụ ý Thiên Chúa là kẻ chủ động).
       4. Bài đọc II (Dt 12,18-19.22-24a) (Chủ đề phụ)
       Tác giả thư do thái tiếp tục khích lệ các kitô hữu gốc do thái : khi họ bỏ Do thái
giáo để theo Kitô giáo, xem ra như họ bỏ núi Sinai (một trong những biểu tượng của Do
thái giáo), nhưng bù lại họ được tiến lên núi Sion trên trời, trên đó có thành Giêrusalem
trên trời, họ được đến với chính Thiên Chúa.
IV. GỢI Ý GIẢNG
       * 1. Hai bài học ngược đời
         Nhân cơ hội được mời dự tiệc, Chúa Giêsu dùng hình ảnh bữa tiệc để dạy hai bài
học : bài học khi được mời dự tiệc và bài học khi đứng ra đãi tiệc. Cách dự tiệc và cách
đãi tiệc là hình ảnh của những cách sống.
         a/ Khi được mời dự tiệc :
         - Chúa Giêsu thấy người do thái hay chọn chỗ nhất mà ngồi. Không phải vì chỗ
nhất ăn ngon hơn, mà vì chỗ đó danh dự hơn (tiếng "chủ tịch" nghĩa là làm chủ chiếc
chiếu tiệc, lớn nhất trong chiếu). Như vậy "chỗ ngồi" là danh dự.
         - Những người do thái tự chọn chỗ danh dự nghĩa là tự tô vẽ danh dự cho mình.
Việc tự tô vẽ như thế có khi không đúng sự thật, cho nên có thể bị mời xuống hàng dưới.
Như vậy, danh dự của mình không phải do tự mình tô vẽ, mà do thực tế khách quan
người ta công nhân nơi mình và đặt mình ngồi vào đó. Kẻ tự tô vẽ danh dự có thể bị hố
và xấu hổ.
         - Chú ý câu cuối "Ai tự nâng mình lên sẽ bị hạ xuống" : Động từ "Bị hạ xuống" ở
thể thụ động, một kiếu tránh nói trực tiếp tới Thiên Chúa : không phải người đời mà
chính cả Thiên Chúa cũng hạ kẻ tự tô vẽ danh dự của mình. Như vậy, điều khám phá thứ
hai là Danh dự của mình là do Thiên Chúa đặt mình vào. Mà Thiên Chúa thì thường nâng
cao kẻ thấp hèn (Abel/Cain Giacóp/Êsau Giuse/Các anh Đavít/các anh Đức Maria v.v)
       b/ Khi đứng ra đãi tiệc :
         - Người do thái làm theo óc tính toán : do ut dat. Cái lợi là được người ta đền đáp
         - Chúa Giêsu dạy làm ơn và phục vụ không cần người ta đền đáp, vì chính Thiên
Chúa sẽ đền đáp, và như thế chắc chắn trọng hậu hơn.
       * 2. Con là không, Chúa là tất cả
       Một hôm Dương Chu sang nước Tống, vào ở trọ một nhà kia. Người chủ nhà có hai
nàng hầu, một nàng đẹp, một nàng xấu. Để ý quan sát Dương Chu thấy trong nhà ai cũng
quí trọng người thiếp xấu mà khinh rẻ người thiếp đẹp. Lấy làm lạ, ông mới dò hỏi cậu bé
giúp việc.
       Cậu bé tiết lộ :
       - Người thiếp đẹp hay kênh kiệu, tự cho mình là đẹp nên mất đẹp. Chúng tôi chẳng
ai còn nhìn ra cái đẹp của nàng. Trái lại, người thiếp xấu, tự biết mình xấu, sống hồn
nhiên vô tư với mọi người, nên không ai còn nhìn thấy cái xấu của nàng nữa.
       Dương Chu liền gọi học trò đến dặn :
       - Các con hãy ghi nhớ lời này : Giỏi mà bỏ được cái thói tự cho mình giỏi, thì đi
đâu mà chẳng được người yêu quí tôn trọng.
                                                  *
       "Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống ; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên" (Lc 14,11).
Chúa Giêsu rất ưa thích sự khiêm nhường mà còn làm gương trước cho mọi người. Là
một vị Thiên Chúa quyền năng, nhưng Người đã hạ mình làm kiếp phàm nhân. Là bậc
thầy trong thiên hạ, lại quì xuống rửa chân cho các đệ tử. Chỗ của Người là "chỗ nhất"
trên trời cao, nhưng lại chọn "chỗ cuối" dưới chân con người.
       Chúa Giêsu tự hạ mình xuống như thế : không phải là để được tôn lên, vì dưới vòm
trời này ngôi báu nào có thể chứa được Người. Người khiêm nhường đến tự huỷ như thế,
cũng là để phục vụ con người đến hết mình, và để yêu thương họ cho đến cùng. Vì thế,
khiêm nhường để gây chú ý, để được tiếng khen, để được tôn lên, mà không nhằm phục
vụ, yêu thương thì chỉ là kiêu ngạo trá hình mà thôi.
       Có thể nói, khiêm nhường như Chúa dạy, chính là "tự nhận mình là không và Chúa
là tất cả", nên chỉ cậy dựa vào Chúa mà hy sinh, mà phục vụ và yêu thương mọi người.
Chỉ có những ai hạ mình xuống như thế mới đáng được Chúa tôn lên.
       Thánh Giuse đã khiêm nhường phục vụ, yêu thương Đức Mẹ và Đức Giêsu tại quê
nghèo Nadarét, nên đã được tôn làm cha nuôi Chúa Cứu Thế.
       Đức Maria đã khiêm nhường nhận mình là nữ tì của Thiên Chúa, để suốt đời phục
vụ chăm lo cho Con Chúa Trời, nên đã được tôn làm Mẹ Thiên Chúa.
       Noi gương Chúa biết bao con người đang âm thầm xả thân cho đồng loại, họ khiêm
nhường làm những công việc dơ dáy hôi tanh, để chăm sóc cho những người phong cùi lở
loét, những bệnh nhân nan y bất trị, những người hấp hối nhặt được từ đường phố, những
trẻ em nghèo đói, thương tật trong các nước chiến tranh, lạc hậu.
       Chính khí yêu thương vô vị lợi, chính khi chúng ta "đãi tiệc những kẻ nghèo khó,
tàn tật, què quặt, đui mù, những kẻ không có khả năng mời lại", thì chúng ta "mới thật có
phúc", vì chính Thiên Chúa sẽ trả công cho chúng ta. Người không có ý phân biệt giàu
nghèo, thân sơ, vì trước mắt Thiên Chúa, chúng ta là anh em. Nhưng Người muốn lưu ý
chúng ta rằng : dù người được mời giàu hay nghèo, thân hay không thân, chúng ta cũng
đừng mong họ đáp trả lại theo kiểu "ăn miếng trả miếng". Đó là lòng bác ái vô vị lợi mà
Chúa muốn dạy chúng ta hôm nay.
       Có thể chúng ta thực thi việc bác ái cho anh em chỉ vì vụ lợi, vì khoe khoang, vì
muốn hơn người, vì trách nhiệm hay vì phần thưởng. Nhưng sự trao ban đích thực chính
là trao ban vì yêu thương. Thánh Gioan viết : "Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi
đã trao ban Con Một Người" (Ga 3,16). Chỉ những ai trao ban vô vị lợi, trao ban vì yêu
thương, trao ban chính bản thân mới trờ nên giống Thiên Chúa.
                                                *
       Lạy Chúa, Chúa thương những kẻ khiêm nhường, vì họ luôn nhận mình yếu hèn và
chỉ cậy dựa vào Chúa mà thôi.
       Xin Chúa dạy chúng con biết khiêm nhường mà phục vụ, dấn thân và trao ban mà
không mảy may tính toán, vì Chúa sẽ yêu thương chúng con nhiều hơn. Amen (TP)
       * 3. Những bậc thang xã hội
       Tổ chức xã hội nào cũng có những bậc thang cao thấp : trong cơ quan, trong trường
học, trong hội đoàn v.v. Chủ tịch hay Giám đốc là cao nhất, kế đến là Phó, rồi Thư ký,
quản lý v.v.
       Ngay trong Giáo Hội cũng thế : có một số người luôn được ngồi ghế danh dự, luôn
có quyền phát biểu trước… trong khi nhiều tín hữu khác chấp nhận thân phận thấp cổ bé
miệng của mình.
       Lời Chúa Giêsu hôm nay phải khiến chúng ta đặt lại vấn đề : "Những kẻ đứng chót
sẽ lên hàng đầu, và những kẻ hàng đầu sẽ hạ xuống chót". Làm thế nào để thực hành lời
Chúa mà không khiến cộng đoàn bị xáo trộn và cũng không phải thay thế một kiểu chủ
nghĩa hình thức này bằng một chủ nghĩa hình thức khác ?
       Sau đây là một số hoàn cảnh chúng ta cần suy nghĩ :
       - Cách chọn người đại diện cho những thành phần tín hữu.
       - Những hình thức ưu tiên trong cộng đoàn.
       - Cách đối xử với người nghèo, người ít học và cả người "tội lỗi" v.v.
       * 4. Đức tin bị vỡ mộng
       Đoạn thánh thư hôm nay được viết cho những tín hữu do thái bị vỡ mộng về đức
tin : họ đã rời bỏ Do thái giáo để theo Kitô giáo. Nhưng sau một thời gian, họ bị vỡ mộng
và có cảm giác bỏ mồi bắt bóng. Họ tưởng phụng vụ kitô giáo huy hoàng hơn Do thái
giáo, nhưng thực tế ngược hẳn lại ; họ tưởng nếp sống kitô giáo sung sướng hơn nếp sống
cũ, nhưng thực tế ngược hẳn lại… Những tín hữu gốc do thái này tiếc nuối thứ tín
ngưỡng ngày xưa của họ, cũng giống như dân Israel trong sa mạc tiếc nuối củ hành củ tỏi
lúc còn ở Ai cập.
       Nhiều tín hữu thích sống với thứ tín ngưỡng thời thơ ấu xa xưa vì họ thấy rất đẹp,
rất ngọt ngào : những chuyện thánh với rất nhiều phép lạ, những bài giáo lý dạy cho trẻ
em với những lối giải thích rất đơn giản về những vấn đề của cuộc sống đời này và đời
sau, những cách giải quyết vấn đề rất đơn giản hễ có công thì được thưởng và hễ có tội
thì bị phạt v.v.
       Thế rồi, khi họ đụng chạm với thực tế ngày nay, cái đức tin trẻ thơ ấy không trả lời
được những vấn nạn hóc búa. Và họ bị vỡ mộng.
       Nhưng sự vỡ mộng này là cần thiết, vì nó thúc giục chúng ta phải bồi dưỡng đức
tin, củng cố đức tin. Bởi vì không thể sống một cuộc sống trưởng thành chỉ với đức tin
của một đứa bé.
       5. Chuyện minh họa
       a/ Chỗ ngồi và người ngồi
       Một người chủ nhà kia mở một bữa tiệc và mời nhiều người đến dự. Trong số
khách mời, có một học giả nổi tiếng tên là Daniel. Khi Daniel đến, người chủ nhà mời
ông ngồi bàn trên. Nhưng Daniel từ chối, nói rằng ông muốn được ngồi chung với những
người bình dân nghèo nàn. Sau Daniel còn có nhiều người khách lần lượt đến. Ai cũng
dành ngồi bàn trên và những bàn gần phía trên. Rốt cuộc chỉ có cái bàn tận dưới cùng,
bàn mà Daniel đang ngồi, là còn chỗ trống. Sau cùng, ông thị trưởng đến. Vì không còn
ghế trống ở bất cứ bàn nào khác, nên người chủ nhà buộc lòng mời Ông Thị Trưởng ấy
đến ngồi bàn cuối chung với ông Daniel. Vị Thị Trưởng thắc mắc : "Nhưng đây là chiếc
bàn cuối mà !" Người chủ nhà nhanh trí đáp : "Thưa không, đây là bàn danh dự, vì là bàn
có Ông Daniel đang ngồi". Vị Thị Trưởng hết thắc mắc và ngồi vào chỗ chủ nhà chỉ.
       Ý nghĩa câu chuyện này là : không phải chỗ ngồi làm cho người ngồi được vinh
dự ; ngược lại chính người ngồi làm cho chỗ ngồi được vinh dự.
       b/ Cho thế nào mới có giá trị
       Nicholas là một người nổi tiếng về lòng quảng đại vì đã dùng rất nhiều của cải để
cho rất nhiều người. Ông chết và được dẫn tới cửa thiên đàng.
       Thánh Phêrô chỉ cho ông thấy 2 đống vàng, một đống to và một đống nhỏ, đống
nào cũng gồm nhiều cục vàng có kích cỡ khác nhau. Nicholas hỏi :
       - Những cục vàng kia để làm gì thế ?
       Thánh Phêrô giải thích :
       - Đó là phần thưởng dành cho những người có lòng quảng đại. Mỗi cục vàng tương
đương với một lần cho đi mà con người thực hiện khi còn sống.
       Nicholas phấn khởi trong lòng, tin chắc mình sẽ được thưởng rất nhiều. Nhưng
ngay lúc đó Thánh Phêrô nói tiếp :
       - Tuy nhiên không phải lần nào người ta cho cũng đều là thật lòng cả đâu. Đa số
những lần cho đều do tính toán vụ lợi. Chúng là những cục trong đống vàng lớn này,
không được kể.
       - Sao vậy ?
       - Đống vàng lớn tượng trưng cho những thứ mà người ta cho bà con, bạn bè thân
thích. Chúng chẳng có giá trị gì cả, vì ngay cả những tên trộm cướp cũng biết cho những
người thân của mình như thế.
       Thánh Phêrô vừa nói xong thì đống vàng lớn tan thành bụi.
       Tiếp đến, thánh Phêrô lấy một cái sàng có những lỗ khá to. Rồi Ngài lấy những cục
vàng trong đống còn lại để lên sàng mà sàng. Rất nhiều cục vàng bị lọt xuống. Và Thánh
Phêrô giải thích :
       - Những cục vàng bị lọt xuống ấy là những của người ta cho đi với tính toàn sẽ
được lại. Đó không thực sự là cho, mà là đầu tư, vì thế cũng không kể.
       Thế là những cục vàng ấy trở thành bụi.
       Thánh Phêrô chỉnh các lỗ sàng cho rộng ra một chút. Ngài lấy những cục vàng còn
lại đặt lên sàng và sàng lần nữa. Lại một số lọt xuống :
       - Đây là những của người ta cho đi để được người khác khen ngợi. Cũng là một
hình thức mua bán, cho nên cũng không kể.
       Mớ vàng ấy lại tan thành bụi.
       Thánh Phêrô lại chỉnh những lỗ sàng cho rộng hơn nữa và lại sàng mớ vàng còn lại.
Một số lại lọt xuống :
       - Đây là những của người ta cho đi để được cảm giác mình đã làm một việc tốt.
Chúng cũng không được kể.
       Và mớ vàng đó cũng lập tức tan thành bụi.
       Sau lần sàng thứ tư, thánh Phêrô nói :
       - Đây là những của người ta cho vì bổn phận. Cũng không được kể. Và chúng cũng
tan thành bụi.
       Thánh Phêrô chuẩn bị sàng lần thứ năm thì Nicholas đưa tay chặn lại : "Thôi thôi,
xin Ngài đừng sàng nữa, vì nếu cứ tiếp tục thì tôi sẽ chẳng còn gì cả". Thánh Phêrô ôn
tồn đáp :
       - Đúng thế, những của cho thực sự thì rất ít, cũng như vàng nguyên chất thì rất ít
vậy. Tuy nhiên anh đừng nản lòng, tôi có một tin vui cho anh.
       - Tin vui gì ?
       - Thiên Chúa là người quảng đại thật lòng nhất. Nào chúng ta hãy đến gặp Ngài.
       - Nhưng mà hai bàn tay của con rỗng không, con không có gì cả.
       - Nghĩa là anh nghèo chứ gì ! Thì càng tốt, bởi vì Thiên Chúa đối xử quảng đại hào
phóng nhất đối với những người nghèo mà tự biết mình nghèo.
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
      Chủ tế : Anh chị em thân mến, lý tưởng người Kitô hữu cần đạt được trong cuộc
sống trần gian là mỗi ngày một nên giống Chúa Giêsu hơn. Luôn tin tưởng vào ơn trợ
giúp của Chúa, chúng ta cùng dâng lời cầu xin :
1. Chúa Giêsu nói : / Anh em hãy học với tôi / vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường /
   Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các vị mục tử / luôn noi gương hiền lành và khiêm
   nhường của Chúa Giêsu, Vị Mục tử nhân hậu.
2. Con người vốn có rất nhiều tham vọng : / muốn được giàu sang / đam mê quyền lực /
   thích được địa vị cao trong xã hội / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi người / nhận
   thấy được tính mau qua của mọi thực tại trần gian.
3. Chúa ghét kẻ kiêu căng và thương người khiêm tốn / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các
   tín hữu hiểu được chân lý này / để cố gắng khiêm tốn và hiền lành trong cung cách xử
   sự của mình.
4. Đức bác ái buộc người tín hữu phải tôn trọng nhân phẩm / và chia sẻ cơm áo cho
   người nghèo khổ / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết cố
   gắng sống bác ái như Chúa đã dạy.
      Chủ tế : Lạy Chúa Giêsu, Chúa mời gọi chúng con hãy nên trọn lành như Cha trên
trời, mà một trong những phương thế hữu hiệu giúp người Kitô hữu đạt được mục tiêu
này chính là sống theo Lời Chúa dạy trong Tin mừng. Xin cho chúng con ý thức được
tầm quan trọng của Lời Chúa trong đời sống đức tin thường ngày. Chúa hằng sống và
hiển trị muôn đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
      - Trước kinh Lạy Cha : Kinh Lạy Cha nhắc chúng ta nhớ rằng mọi người chúng ta
là anh em với nhau do cùng một Cha là Thiên Chúa trên trời. Vậy chúng ta hãy đối xử
với nhau một cách quảng đại, thật tình chứ đừng tính toán thiệt hơn.
      - Sau kinh Lạy Cha : "Lạy Cha xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, đặc biệt là thói
kiêu ngạo, hám danh, vụ lợi… Xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống
được bình an…"
VII. GIẢI TÁN
      Xin Chúa giúp anh chị em trong tuần này biết sống khiêm tốn và quảng đại, vì "ai
nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên", và nếu chúng ta giúp
đỡ những người không có khả năng đáp trả thì chính Thiên Chúa sẽ thay mặt họ đáp trả
bội hậu cho chúng ta.
        CHÚA NHỰT XXIII
               CHỦ ĐỀ :
 Ý THỨC CÁI GIÁ PHẢI TRẢ
  KHI LÀM MÔN ĐỆ CHÚA




Từ bỏ mọi sự và vác thập giá theo Chúa
              (Lc 14,25-33)
      Sợi chỉ đỏ :
      - Bài đọc I : "Ai nào hiểu được Chúa muốn điều chi ?" Cần phải được Chúa ban ơn
khôn ngoan để có thể hiểu được ý định của Ngài.
      - Tin Mừng : Chúa Giêsu nói rõ ý định của Ngài : ai muốn làm môn đệ Ngài thì
phải sẵn sàng từ bỏ tất cả.
      Minh họa
      - Mille images 70 D
      - Từ bỏ mọi sự và vác thập giá theo Chúa (Lc 14,25-33)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
       Anh chị em thân mến
       Mỗi ngày Chúa nhật khi chúng ta đến với Chúa, chúng ta đã được nghe Chúa nói
với chúng ta nhiều điều, những điều rất ngọt ngào, những điều rất an ủi. Hôm nay Chúa
sẽ nói với chúng ta một điều không ngọt ngào lắm : Ngài muốn chúng ta phải hy sinh,
phải từ bỏ.
       Tại sao theo Chúa thì phải hy sinh và từ bỏ ? Và phải hy sinh từ bỏ những gì ?
       Chúng ta hãy chú ý nghe Chúa giải thích. Và xin Chúa giúp chúng ta can đảm đáp
lại lời kêu gọi của Ngài.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
     - Phải chăng từ trước tới nay chúng ta đi theo Chúa vì tính toán vụ lợi, nghĩa là chỉ
để được Chúa ban cho ơn này ơn nọ ?
     - Phải chăng chúng ta ít biết hy sinh ?
     - Phải chăng chúng ta rất ngại từ bỏ ?
III. LỜI CHÚA
      1. Bài đọc I (Kn 9,13-18)
      Sách Khôn ngoan sưu tập những suy nghĩ của nhiều thế hệ loài người về những vấn
đề căn bản. Đoạn trích hôm nay bàn về giới hạn của sự hiểu biết của con người :
      - Ngay cả những vấn đề thuộc hạ giới, tức là những vấn đề trong tầm tay con người
mà con người cũng phải rất nhọc công mới khám phá được, thậm chí nhiều điều con
người không hiểu nổi.
      - Huống chi những vấn đề thuộc thượng giới, những vấn đề liên quan đến cuộc
sống đời đời.
      - Vì thế, con người rất cần được Thiên Chúa ban ơn khôn ngoan để biết đường lối
của Chúa để mà đi theo và nhờ đó được ơn cứu độ.
      2. Đáp ca (Tv 89)
      Tv này triển khai những ý tưởng của bài đọc I :
      - Thân phận con người rất mỏng manh : "như cỏ đồng trổi mọc ban mai, nở hoa
vươn mạnh sớm ngày, chiều về ủ rũ tàn phai chẳng còn"
      - Do đó con người kêu xin Chúa : "Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống,
ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan"
      3. Tin Mừng (Lc 14,25-33)
       a. Khung cảnh : Khi ấy "Có rất nhiều người đi đường với Chúa Giêsu" : họ đang
cùng với Chúa Giêsu "tiến lên Giêrusalem". Nhưng có lẽ họ cho rằng đây là một sự tiến
lên để giành chiến thắng theo kiểu trần gian. Để xóa tan hiểu lầm này, Chúa Giêsu nói
những lời tiếp theo.
       b. Đại ý Chúa Giêsu nói : Ai muốn làm môn đệ Chúa Giêsu ("đi theo" Ngài) thì
phải yêu mến Ngài hơn (diễn tả theo kiểu đặc biệt sêmít là "ghét") tất cả những gì mình
tha thiết nhất, chẳng hạn cha mẹ, vợ con, anh em và cả mạng sống mình nữa.
       c. Sau đó Chúa Giêsu đưa ra hai dụ ngôn : Một người xây tháp trước khi xây phải
tính toán kỹ để chọn lựa quyết định có nên xây hay không. Một ông vua trước khi đi giao
chiến cũng phải tính toán kỹ để chọn lựa có nên giao chiến hay không. Cũng thế, nếu biết
theo Chúa Giêsu phải chấp nhận từ bỏ tất cả, thì trước khi theo phải tính toán cho kỹ.
       4. Bài đọc II (Plm 9b-10.12-17) (Chủ đề phụ)
       Đây là một phần của bức thư Phaolô viết cho một tín hữu của ngài là Philêmon.
       Hoàn cảnh : Khi ấy, một nô lệ của Philêmon tên là Ônêsimô bỏ nhà trốn đi có lẽ
sau khi đã ăn cắp một số tiền. Do hoàn cảnh nào đó đẩy đưa, Ônêsimô gặp Phaolô đang ở
tù. Ônêsimô xin theo đạo. Phaolô chấp thuận. Phaolô cũng quyến luyến Ônêsimô muốn
giữ anh lại với mình, nhưng không thể được. Vì thế Phaolô quyết định gởi Ônêsimô về
cho chủ. Nhưng Phaolô không gởi suông, mà cho Tychique đi kèm và còn mang theo lá
thư này nữa cho Philêmon trong đó Phaolô tế nhị gợi ý Philêmon sẽ đón nhận Ônêsimô
như một người anh em trong đức tin. Nhưng Phaolô không hề lạm dụng tình nghĩa của
Philêmon đối với mình để làm áp lực, trái lại chỉ nhẹ nhàng gợi ý và hy vọng Philêmon sẽ
vì lòng tốt mà làm việc đó.
IV. GỢI Ý GIẢNG
       * 1. Con đường theo Chúa
       Thánh Luca mở đầu bài tường thuật này như sau :"Có rất đông người đi theo Chúa
Giêsu. Ngài quay lại bảo họ". Trong ngôn ngữ Thánh kinh, "đi theo" có nghĩa là làm môn
đệ. Chúa Giêsu là ông thầy đi trước, các môn đệ đi theo phía sau. Thông thường ông thầy
chỉ cần đi trước cho các môn đệ đi theo. Nhưng trong chuyện này Chúa Giêsu đã "quay
lại bảo họ", nghĩa là Ngài có điều quan trọng muốn dặn dò kỹ các môn đệ.
       Điều quan trọng mà Chúa Giêsu muốn dặn dò kỹ các môn đệ là gì ? Đọc tiếp đoạn
Tin mừng chúng ta thấy Chúa dặn dò 2 điều : một điều tiêu cực là phải từ bỏ, một điều
tích cực là phải vác thập giá. Chúng ta hãy suy nghĩ về từng điều :
       1. Điều thứ nhất là từ bỏ
       a/ Tại sao làm môn đệ Chúa thì phải từ bỏ ? Vì đi theo Chúa giống như đi leo núi.
Nếu mang nhiều thứ cồng kềnh thì sẽ bận vướng nặng nề khiến không leo nhanh được,
thậm chí còn có thể bỏ cuộc.
       b/ Vậy phải từ bỏ những gì ? Chúa Giêsu kể : phải bỏ "cha mẹ, vợ con, anh chị em
và cả mạng sống mình". Qua cách nói "Cha mẹ, vợ con, anh chị em", ý Chúa muốn nói
tới gia đình ; còn qua chữ "mạng sống", ý Chúa muốn nói tới những gì thân thiết nhất của
mình. Nhưng ta hãy hiểu cho đúng ; Chúa không bảo người môn đệ phải bỏ những thứ
vừa kể một cách tiên thiên, mà là bỏ nếu như chúng làm bận vướng cho việc đi theo
Chúa. Gia đình là tốt, mạng sống là cần. Gắn bó với gia đình và tha thiết với mạng sống
không có gì là xấu cả. Tuy nhiên bất cứ khi nào mình cảm thấy 2 thứ đó trở thành bận
vướng, hay bất cứ khi nào Chúa soi sáng cho ta thấy như vậy, thì người môn đệ phải can
đảm từ bỏ.
       2. Điều quan trọng thứ hai mà Chúa Giêsu căn dặn chúng ta là vác Thập giá
       a/ Tại sao muốn đi theo Chúa thì nhất thiết phải với thập giá ? Vì, như đã vừa nói ở
phía trên, nếu đi theo Chúa giống như đi leo núi, thì thập giá giống như cây gậy của
người leo núi. Nó rất cần và rất có ích. Không có gậy để dò đường và để chống đỡ thì ta
sẽ mỏi chân, sẽ không đi nổi, có khi té ngã hay bỏ cuộc.
       b/ Điều thứ hai này có liên quan tới điều thứ nhất : chúng ta từ bỏ những thứ bận
vướng là để mình có thể thong dong mà vác thập giá.
       Chúng ta thường quên mất 2 việc rất quan trọng để thực sự xứng đáng làm môn đệ
Chúa :
       a) Xưa nay chúng ta quen tìm kiếm để được thêm chứ ít khi nào chủ động từ bỏ.
Thỉnh thoảng có từ bỏ chỉ là vì miễn cưỡng, vì rán chịu vậy mà thôi. Thí dụ khi chúng ta
bị mất tiền, mất đồ đạc, khi một người thân chết.
       b) Cũng thế xưa nay chúng ta không chủ động vác thánh giá. Thập giá nào Chúa
gởi thì chúng ta rán mà vác vậy thôi. Nguyên việc khám phá thứ nhất này cũng cho thấy
chúng ta chưa thực sự xứng đáng làm môn đệ Chúa Giêsu. Người môn đệ thật của Chúa
phải chủ động từ bỏ và chủ động vác thập giá.
       * 2. Đòi hỏi của tình yêu
       Giới Tử Thôi người nước Tần, đời Xuân Thu Chiến Quốc, là bầy tôi trung thành
của công tử Trùng Nhĩ.
       Khi công tử Trùng Nhĩ phải lưu vong nơi đất khách quê người, lương thực đã cạn
kiệt, công tử lại không thể ăn những loại rau hoang cỏ dại trong rừng. Giới Tử Thôi đã
lén cắt thịt đùi của mình nấu canh cho Trùng Nhĩ ăn.
       Về sau Trùng Nhĩ khôi phục lại nghiệp cả, làm vua nước Tần, Giới Tử Thôi xin về
làng ở ẩn, chứ không hề kể công lênh ngày xưa.
       Trùng Nhĩ dù sau này có làm vua thì cũng là người trần mắt thịt, mà Giới Từ Thôi
còn dám bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chịu khổ cực để theo hầu, hơn nữa còn hy sinh
chính thân mình để tỏ lòng trung thành với chủ nhân. Chúa Giêsu là Thiên Chúa, Đấng đã
yêu thương chúng ta trước khi chúng ta có mặt trên cõi đời này, lẽ nào chúng ta lại không
dám bỏ người thân, của cải, và ngay cả chính mình để bước theo Người ?
       Lời Chúa trong Tin Mừng hôm nay thật rõ ràng : "Ai đến với tôi mà không từ bỏ
cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi
được" (Lc 14,26). Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu động từ "dứt bỏ" không có nghĩa là cắt
đứt, là từ bỏ, mà là "ít hơn". Vì tiếng Hy Bá không có thể văn so sánh hơn kém, nên khi
cần diễn tả hơn kém người ta dùng lối văn đối ngẫu "yêu và bỏ". Thánh Matthêu hiểu như
vậy nên đã viết : "Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng đáng với Thầy" (Mi 10,37).
       Vậy ý của Chúa Giêsu là nếu ai muốn làm môn đệ Người thì phải đặt tình yêu Chúa
lên trên mọi thứ tình yêu, hay nói cách khác tình yêu Chúa phải thấm nhuần và hướng
dẫn mọi tình yêu : Tình yêu gia đình, bạn bè và ngay cả chính mình.
       Như thế, người tín hữu khi đã chọn theo Chúa, làm môn đệ của Người, họ vẫn phải
yêu mến người thân, gia đình, bạn bè ; họ vẫn phải yêu mến chính bản thân mình ; họ
cũng phải quí mến của cải như là những ơn lành Chúa ban. Nhưng khi cần thì tất cả
những tình cảm đó phải hy sinh cho tình yêu Thiên Chúa. Đó chính là bậc thang giá trị
mà người môn đệ nào khi theo Chúa cũng phải đặt lại cho mình.
       Nhưng có một cám dỗ rất nguy hiểm này, là Thiên Chúa thì linh thiêng xa vời, mà
con người và của cải thì sờ sờ trước mắt, lại hấp dẫn cuốn hút lạ thường, nên người ta dễ
đặt lại giá trị ưu tiên lúc nào mà chính mình cũng chẳng hay biết. Vì thế, Chúa mới cảnh
giác qua hai dụ ngôn "Xây tháp" và "Cuộc giao chiến". Tháp đã khởi công xây dựng,
cuộc chiến đã bắt đầu, thì không thể ngồi xuống mà bàn tính. Phải dồn vốn để xây tháp,
phải dồn sức mà tấn công. Nhiều người đã khởi công nhưng chẳng thành công, nhiều kẻ
đã chiến đấu nhưng không chiến thắng.
       Chúa muốn những kẻ theo Người phải trung thành trong tình yêu, và dám sống chết
với ơn gọi của mình. Người không chấp nhận "cầm cày mà còn quay lại sau lưng". Thật
vậy, những kẻ "đứng núi này trông núi nọ" thường là những người bỏ cuộc, và những kẻ
"bắt cá hai tay" là những người thua thiệt nhiều nhất. Đúng như Pierre Charles đã nói về
họ : "Có nhiều kẻ không leo đến đỉnh núi mà lại ngồi an hưởng ở lưng chừng với những
tiện nghi tầm thường nhỏ nhoi".
       Lạy Chúa, chúng con đã chọn Chúa là cùng đích cuộc đời, nhưng biết bao lần
chúng con chỉ thấy chọn Chúa là thua thiệt, là hy sinh, là mất mát.
       Xin đừng bao giờ để chúng con nản chí, bỏ cuộc, rút lui vì những đòi hôi gắt gao
của tình yêu, nhưng xin cho những thử thách ấy trở nên những cơ hội giúp chúng con lớn
lên trong tình yêu Chúa nhiều hơn. Amen. (TP)
       * 3. Lời nói thẳng thắn
       Dòng Thừa Sai Bác ái của Mẹ Têrêsa Calcutta đã rất nổi tiếng, nên có rất nhiều
thiếu nữ xin gia nhập. Nhưng Mẹ Têrêsa rất thẳng thắn, Mẹ nói với họ : "Công việc
người nữ tu dòng này rất cực khổ : chúng tôi phải phục vụ cho những người nghèo và
những người vô gia cư. Chúng tôi phải làm việc suốt 24 giờ mỗi ngày". Mẹ Têrêsa thẳng
thắn như thế để các thiếu nữ ý thức và cân nhắc cẩn thận trước khi gia nhập dòng.
       Gia nhập "dòng" của Chúa Giêsu để làm môn đệ Ngài còn cực khổ hơn nhiều. Vì
thế Chúa Giêsu cũng rất thẳng thắn nói rõ cho những kẻ đi theo Ngài : Ai muốn làm môn
đệ Ngài thì phải sẵn sàng từ bỏ tất cả và còn phải vác thập giá mà theo.
       Làm môn đệ Chúa không phải là bám theo một nhân vật quyền thế để có ô dù che
chở hay để chia xẻ vinh dự, mà là để sống theo gương Ngài : hy sinh tất cả vì yêu thương
mọi người.
       Bởi đó người muốn làm môn đệ Chúa cần phải suy nghĩ kỹ xem mình có thể đáp
ứng được những đòi hỏi khó khăn ấy không. Như người xây tháp phải suy nghĩ kỹ về khả
năng tài chính của mình, như một ông vua trước khi xuất chinh phải suy nghĩ kỹ về sức
mạnh quân sự của mình.
       Nếu chúng ta suy nghĩ kỹ về khả năng đáp ứng của mình trước hai đòi hỏi trên của
Chúa Giêsu, chắc là chúng ta nản lòng không dám làm môn đệ của Ngài nữa.
       Tuy nhiên gương các tông đồ là một khích lệ cho chúng ta : ban đầu các ông theo
Chúa Giêsu mà không suy nghĩ gì nhiều ; nhiều lúc các ông còn nghĩ rằng theo Chúa
Giêsu thì sẽ được chia quyền chia thế trong nước mà Ngài sẽ thành lập. Nhưng Chúa
Giêsu từ từ thanh luyện suy nghĩ của các ông. Sau ngày Chúa phục sinh, các ông mới
hiểu rõ thế nào là làm môn đệ Chúa ; và nhờ sức mạnh Chúa Thánh Thần các ông đã can
đảm từ bỏ tất cả và vác thập giá của mình đi theo Chúa một cách hăng hái và vui vẻ.
      Hiện giờ chúng ta chưa đủ khả năng đáp ứng những đòi hỏi của Chúa về một người
môn đệ. Nhưng ít ra ý thức của chúng ta về những đòi hỏi đó cũng giúp chúng ta không
đi theo Chúa vì những tính toán sai lệch. Nhìn gương các tông đồ và tin tưởng vào sự trợ
giúp của ơn Chúa, chúng ta có thể can đảm từ bỏ và vác thập giá đi theo Ngài.
      * 4. Người-đi-theo và người-môn-đệ
      Trong đoạn Tin Mừng này, có những cụm từ rất ý nghĩa, đó là "đi theo" và "làm
môn đệ". Thánh Luca đã xử dụng những cụm từ này rất khéo : "Khi ấy có rất đông người
đi theo Chúa Giêsu. Ngài quay lại bảo họ : Ai không dứt bỏ… thì không thể làm môn đệ
tôi. Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi thì không thể làm môn đệ tôi"  Rất đông
người "đi theo" Chúa Giêsu nhưng không phải tất cả đều là "môn đệ" Ngài ; chỉ những ai
đi theo mà từ bỏ và vác thập giá thì mới là môn đệ.
      Người-đi-theo chưa hẳn là người-môn-đệ
      Cũng như người-nói "Lạy Chúa lạy Chúa" chưa hẳn là người-làm theo ý Chúa.
      Cũng như người-đến-nhà-thờ chưa hẳn là người-tín-hữu.
      Cũng như người-mang-danh kitô hữu chưa hẳn là người-kitô-hữu.
      Điều khiến người-nói thành người-làm, người-đến-nhà-thờ thành người-tín-hữu,
người-đi-theo thành người-môn-đệ, người-mang-danh-kitô-hữu thành người-kitô-hữu-
đích-thực, đó là từ bỏ và vác thập giá.
      Một trong những khiếm khuyết của Giáo Hội - và là khiếm khuyết lớn nhất - đó là
trong Giáo Hội có rất nhiều người-đi-theo Chúa Giêsu, nhưng rất ít người-môn-đệ thực
sự của Ngài.
      * 5. Trả giá
      Muốn làm việc gì cũng phải trả giá cho việc đó. Việc càng trọng thì giá càng cao.
Nhiều người không làm xong việc mình muốn làm là vì không dám trả giá.
      Antoinette là một cô gái rất đẹp nhưng rất nghèo. Điều mơ ước duy nhất của cô là
trở thành giàu có, và cô nghĩ rằng cách dễ nhất là lấy được một người chồng giàu. Nhưng
rủi thay khi cô lấy chồng thì người chồng của cô chỉ là một kẻ thường dân. Thất vọng và
chán nản, cô chẳng muốn làm gì nữa, cũng chẳng muốn đi đâu hết.
      Một hôm, Antoinette nhận được thiệp mời đến dự một bữa tiệc gồm toàn những
người quý phái. Cô mừng lắm. Nhưng cô không có y phục và nữ trang sang trọng. Tuy
nhiên cô biết cách thu xếp : cô rút hết tiền tiết kiệm ra mua được một bộ áo đẹp ; cô đến
với Marie một bạn học cũ mượn được một chiếc vòng nạm kim cương.
      Thế là Antoinette xuất hiện trong bữa tiệc với một dáng vẻ rất xinh đẹp và sang
trọng. Mọi cặp mắt đều đổ dồn về cô. Cô rất sung sướng. Tuy nhiên khi tiệc tàn, trở về
nhà, cô hoảng hốt khi biết chiếc vòng nạm kim cương đã rơi mất. Tìm tới tìm lui nhiều
lần mà vẫn không thấy.
      Chẳng còn cách nào khác, cô đành phải đi vay 40 ngàn quan với lãi xuất cao để ra
tiệm kim hoàng mua một chiếc vòng y như thế trả lại cho Mary. Vì hai chiếc vòng rất
giống nhau nên Marie không thắc mắc gì cả.
      Từ đó trở đi, Antoinette phải làm đủ mọi việc để kiếm tiền trả nợ. Sau 10 năm, cô
trả xong nợ. Nhưng khi đó trông cô rất già và không còn xinh đẹp như ngày xưa nữa.
      Một hôm Antoinette và Marie tình cờ gặp nhau :
      - Ồ sao trông bạn già đi và tiều tụy như thế ? Marie giật mình hỏi.
      - Tất cả chỉ tại bạn đó.
      - Sao lại tại tôi ?
      Antoinette kể rõ đầu đuôi sự việc. Nghe xong Marie nói :
      - Trời ơi tội nghiệp cho bạn quá. Chiếc vòng nạm kim cương của tôi là đồ giả. Giá
chỉ có 400 quan thôi.
      Thế là đột ngột Antoinette được Marie trả lại 39.600 quan. Cô đã trở thành người
giàu có. Nhưng với cái giá là 10 năm làm quần quật đủ mọi thứ việc cùng với một thân
xác tiều tuỵ và một bộ mặt già nua.
      Phải chi Antoinette đã chịu khó làm việc ngay từ đầu thì cái giá đâu đến nỗi cao
quá như vậy !
      6. Chuyện minh họa
      a/ Một hôm, có một người đến hỏi một giáo sư nổi tiếng về một thanh niên : "Anh
ta có phải là môn đệ của Thầy không ?" Vị giáo sư đáp : "Quả thật anh ta đang theo học
những bài dạy của tôi. Nhưng không bao giờ anh ta là môn đệ của tôi".
      b/ Một vị vua đến thăm một thiền viện. Nhà vua hỏi vị thiền sư : "Trong thiền viện
này có tất cả bao nhiều người đang theo học". Thiền sư đáp "10 ngàn". Nhà vua rất ngạc
nhiên. Nhưng nhà vua càng ngạc nhiên hơn nữa khi thiền sư nói tiếp : "Trong số đó, số
môn đệ thật của tôi chỉ có 4 hoặc 5 người".
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
      Chủ tế : Anh chị em thân mến, có người nào biết được ý định của Thiên Chúa ? Ai
hiểu được Chúa muốn gì ? Với ước mong được Chúa gan Đức Khôn ngoan và Thánh
thần để giúp ta hiểu được thánh ý Người, chúng ta cùng dâng lời cầu xin :
1. Hội thánh luôn bênh vực những người thấp cổ bé miệng / bảo vệ những ai cô thế cô
   thân / giúp đỡ những kẻ đói rách bần cùng / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa nâng đỡ
   các công cuộc từ thiện của Hội thánh trên khắp hoàn cầu.
2. Ngày nay / tuy chế độ nô lệ không còn nữa / nhưng nhiều hình thức nô lệ khác tinh vi
   hơn vẫn tồn tại và phát triển / làm mất hết tự do và phẩm giá của con người / như việc
   buôn bán phụ nữ còn đang xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới / Chúng ta hiệp lời cầu xin
   cho những nhà lãnh đạo các quốc gia / sớm tìm được phương thế thích hợp / để tiêu
   diệt tội ác đáng kinh tởm này.
3. Trách nhiệm của người Kitô hữu / là cộng tác với hất thảy mọi người thành tâm thiện
   chí / để xây dựng trái đất này ngày càng xinh đẹp và hữu ích hơn / Chúng ta hiệp lời
   cầu xin cho những ai tin Chúa / biết cố gắng thực hiện trọn vẹn bổn phận cao quý này.
4. Chúa Giêsu nói : / Ai không vác thập giá mình mà theo tôi / thì không thể làm môn đệ
   tôi được / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / luôn can đảm
   đón nhận mọi thử thách / và trung kiên bước theo Chúa mái đến cùng.
      Chủ tế : Lạy Chúa, Chúa đã yêu thương và mời gọi chúng con làm con cái Chúa.
Xin Chúa giúp chúng con luôn sống xứng danh người Kitô hữu, để những anh chị em
chưa nhận biết Chúa, nhìn vào đời sống của chúng con mà nhận ra Chúa chính là tình
yêu. Chúng con cầu xin
VI. TRONG THÁNH LỄ
     - Trước kinh Lạy Cha : Tác giả đoạn sách Khôn ngoan hôm nay đã viết "ý định của
Chúa ai nào biết được". Chúng ta hãy xin Chúa tỏ cho chúng ta biết được thánh ý của
Ngài để chúng ta thi hành.
VII. GIẢI TÁN
      Chúng ta hãy ghi nhớ lời Chúa Giêsu "Ai không vác thập giá mình mà theo Ta thì
không xứng đáng làm môn đệ Ta". Trong tuần này chúng ta hãy can đảm vác lấy những
thập giá hằng ngày để theo Chúa.
Bài đọc thêm
                              CHÚA NHỰT XXIV
                                      CHỦ ĐỀ :
    LÒNG NHÂN TỪ THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA




                       Người mục tử đi tìm con chiên lạc
                                       (Lc 15,4)
     Sợi chỉ đỏ :
     - Bài đọc I : Thiên Chúa nhân từ tha thứ cho dân Israel đã thờ tượng con bê vàng.
     - Đáp ca : Lời nguyện sám hối của Tv 50
     - Tin Mừng : 3 dụ ngôn về lòng nhân từ của Thiên Chúa : con chiên lạc, đồng tiền
mất và đứa con đi hoang.
     - Bài đọc II : Thánh Phaolô tạ ơn Thiên Chúa vì lòng nhân từ thương xót của Ngài.
     Minh họa
     - Mille images 90 A
     - Người mục tử đi tìm con chiên lạc (Lc 15,4)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
       Anh chị em thân mến
       Chúng ta rất hạnh phúc vì có một Thiên Chúa rất nhân từ, Ngài sẵn sàng tha thứ
cho những kẻ tội lỗi biết sám hối. "Nếu Chúa chấp tội thì ai nào đứng vững được !"
       Thánh lễ là một bằng chứng biểu lộ lòng nhân từ của Chúa : mặc dù chúng ta nhiều
tội lỗi, nhưng Chúa vẫn mở rộng cửa đón chúng ta vào nhà Ngài và cho chúng ta cùng ăn
đồng bàn với Ngài.
       Chúng ta hãy bắt đầu Thánh lễ bằng cách nhìn nhận thân phận tội lỗi của mình và
xin Chúa tha thứ.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
     * Dùng công thức sám hối trong sách lễ Rôma trang 567.
III. LỜI CHÚA
       1. Bài đọc I (Xh 32,7-11.13-14)
       Đoạn này bắt đầu câu chuyện con bê vàng.
       Ngay sau khi Thiên Chúa kết Giao ước với dân Israel, họ đã vi phạm Giao ước đó
bằng cách đúc tượng một con bê vàng và thờ lạy trước tượng đó. Thiên Chúa rất giận.
Ngài cho Môsê biết Ngài muốn tiêu diệt họ, thay vào đó Ngài sẽ tạo một dân mới từ dòng
dõi Môsê. Nhưng Môsê đã van xin Thiên Chúa và cuối cùng Thiên Chúa nguôi giận
không giữ ý định tiêu diệt dân Israel nữa.
       Trong chuyện này có 2 điểm đáng chú ý :
       - Môsê đã liên kết với dân : mặc dù Thiên Chúa hứa làm một dân mới từ dòng dõi
của ông, nhưng ông vẫn xin Thiên Chúa duy trì dòng dõi Israel.
       - Thiên Chúa tha thứ cho dân không phải vì Môsê mà vì chính lòng nhân từ Thiên
Chúa của Ngài. Câu chuyện kết thúc bằng câu "Thiên Chúa đã thương, không giáng phạt
dân Ngài như Ngài đã đe".
       2. Đáp ca (Tv 50)
       Lời cầu nguyện của tội nhân sám hối. Lý do được nêu lên để nài xin tha thứ không
gì khác hơn là lòng nhân từ thương xót của Chúa : "Lạy Chúa xin lấy lòng nhân hậu xót
thương con, mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm".
       3. Tin Mừng (Lc 15,1-32)
       Khung cảnh : thấy Chúa Giêsu gần gũi với những người tội lỗi đến gần, nhóm
pharisêu và kinh sư trách Ngài. Chúa Giêsu đã dùng những dụ ngôn để trả lời cho họ.
       Có 3 dụ ngôn : 1 con chiên trong số 100 con bị mất, 1 đồng trong số 10 đồng bị
đánh rơi, và 1 đứa trong hai đứa con bỏ nhà đi hoang. Tỉ lệ mất mát ngày càng cao (1/100
 1/10  ½ ). Giá trị những thứ bị mất cũng ngày càng cao (1 con vật, đồng bạc – người
ta thường nói "đồng tiền liền khúc ruột – và 1 đứa con). Tất cả những dụ ngôn này đều đề
cao hình ảnh một Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Ngài xót xa khi một người lầm
đường rơi vào tội lỗi. Do đó Ngài tha thiết tìm cứu người tội lỗi. Khi cứu được một người
tội lỗi, Ngài rất vui mừng.
       4. Bài đọc II (1 Tm 1,12-17)
       Thánh Phaolô tạ ơn Thiên Chúa vì lòng nhân từ thương xót của Ngài :
     - "Trước kia tôi là kẻ lộng ngôn, bắt đạo và ngạo ngược, nhưng đã được Ngài
thương xót"
     - "Đức Kitô đã đến thế gian để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi"
     - "Sở dĩ tôi được thương xót là vì Chúa Giêsu Kitô muốn tỏ bày tất cả lòng đại
lượng của Ngài nơi tôi là kẻ đầu tiên, mà đặt tôi làm gương cho những ai sẽ tin vào
Ngài".
IV. GỢI Ý GIẢNG
       * 1. Giá trị của từng con người
       Một hội từ thiện kia xây dựng một ngôi trường nhằm giúp cho những thiếu niên hư
hỏng hoán cải. Khi bàn đến những chi tiết trong việc điều hành trường như mua sắm
phương tiện, thuê mướn giáo viên v.v. một hội viên phát biểu : "Chúng ta đừng ngại tốn
kém. Chỉ cần hoán cải được một thiếu niên thôi thì tốn bao nhiêu cũng đáng". Một người
khác hỏi tại sao thì ông này đáp : "Bởi vì thiếu niên hư hỏng ấy là con của tôi".
       Bài Tin Mừng hôm nay gồm tới 3 dụ ngôn. Dụ ngôn đầu xem ra không hợp lý : ai
lại bỏ 99 con chiên để đi tìm một con chiên lạc ? Dụ ngôn thứ hai cũng chẳng có sức
thuyết phục bao nhiêu : một đồng xu có đáng là bao so với công sức mà người đàn bà kia
bỏ ra để tìm lại nó ? Nhưng rồi tất cả đều trở thành hợp lý khi ta đọc dụ ngôn thứ ba : Ý
của Chúa Giêsu không nhằm nói tới con chiên, cũng không nói tới tiền bạc mà nói tới con
người. Trước mặt Thiên Chúa, mỗi một con người đều có giá trị vô cùng, bởi vì mỗi một
con người, dù là tội lỗi, cũng đều là con của Ngài.
       Tuy nhiên có mấy ai chia xẻ tâm ý của Chúa ? Những người pharisêu và các kinh
sư thấy Chúa Giêsu bỏ công lui tới với những người tội lỗi thì họ cho là mất công vô ích
nên xầm xì phản đối. Đối với họ, việc làm của Chúa Giêsu là không đáng, bởi vì những
kẻ tội lỗi là hạng đáng vất đi. Nhưng đối với Chúa Giêsu, đó là những con người, những
giá trị. Một đồng xu quý giá thế nào đối với người đàn bà nghèo khổ, một người con quý
giá thế nào đối với tấm lòng người cha, thì một người tội lỗi cũng đáng giá thế ấy đối với
tấm lòng của Thiên Chúa.
       Thế còn việc bỏ 99 con chiên trong đàn để đi tìm con chiên lạc thì sao ? Vì con
chiên ấy cần được chăm sóc hơn 99 con kia : nó cô đơn, nó bơ vơ, nó đói khát hơn, nó bị
nguy hiểm nhiều hơn. Vì thế nên người mục tử nhân lành không thể ở yên chờ nó tìm
được đường về, mà phải đích thân ra đi tìm nó. Chúa Giêsu đã làm như người mục tử ấy :
Ngài không chờ kẻ tội lỗi đến với mình, nhưng được bước trước đến với họ. Ngài kết
thân với họ trong tình trạng của họ còn đang là tội nhân, còn đang lầm lạc. Chính đó là
cách đối xử khác những người pharisêu và kinh sư, và chính đó là lý do khiến họ xầm xì
phản đối. Nhưng chính cách đối xử này đã hoán cải được một người pharisêu nổi tiếng là
Thánh Phaolô (bài đọc 2).
       * 2. Cái mất là cái quý
       Nhiều người không thể hiểu tại sao người mục tử bỏ 99 con chiên để đi tìm một con
chiên lạc, và người đàn bà còn 9 đồng trong tay lại chịu khó tìm cho bằng được một đồng
bị mất.
       Lý do là : cái mất đi trở thành cái quý giá. Rất nhiều thứ khi bị mất rồi chúng ta
mới thấy quý.
       Sự quý giá của một vật hay một người không chỉ do vật hay người đó đã làm ích
cho ta (thí dụ một chiếc đồng hồ chính xác, một người giúp việc tận tụy), mà còn do
những công sức mà ta đã đổ dồn vào đó (thí dụ bức tranh mà người họa sĩ đã tốn nhiều
thời gian để vẽ, một người thợ mà ông thầy đã dầy công đào tạo), và còn do những hy
sinh đau khổ mà ta đã dành cho vật hay người đó (như đứa con mà người mẹ phải sinh
nặng đẻ đau)
      Có một câu chuyện biến ngôn như sau : Chúa Giêsu gặp một người mục tử đang rất
buồn rầu. Ngài hỏi tại sao thì người ấy đáp : "Vì tôi lạc bị mất một con chiên". Chúa
Giêsu nói : "Để Ta đi tìm nó cho". Một lúc sau, Chúa Giêsu trở lại, ôm theo con chiên lạc
giao lại cho người mục tử, và căn dặn : "Từ nay anh phải yêu thương nó, chăm sóc nó
nhiều hơn những con khác nhé, vì Ta đã tốn rất nhiều công sức mới tìm lại được nó đó".
      Tất cả chúng ta đều là những đồng bạc đã từng bị mất, những con chiên đã từng đi
lạc và những đứa con đã từng đi hoang. Nhờ công lao khó nhọc của nhiều người và nhất
là của Chúa mà chúng ta đã được tìm lại. Vậy chúng ta phải có những tâm tình gì ?
      - Tâm tình cảm mến, vì mình đã hư mất mà đã được tìm lại.
      - Tâm tình vui sướng, vì biết mình là đối tượng được thương yêu nhiều hơn.
      - Và tâm tình tự trân trọng, đừng để mình bị lạc mất thêm một lần nào nữa.
      * 3. Những con người bị mất
      Không chỉ đồ vật hay thú vật bị mất, mà chính con người cũng có thể bị mất.
      Những con người bị mất ấy là ai ?
      - Là những đứa trẻ không tìm được hạnh phúc trong gia đình nên đi hoang.
      - Là những thiếu niên bị thói xấu xã hội lôi kéo.
      - Là những người nghiện ngập đến nỗi hư cả cuộc đời.
      - Là những vợ chồng bất thuận đến nỗi không còn là vợ chồng với nhau.
      - Là những anh em bất hòa không còn coi nhau là anh em nữa.
      - Là những tín hữu yếu đuối lỡ phạm tội nên mặc cảm và xa lánh gia đình xứ đạo.
      Những con người lạc mất ấy không ở đâu xa, mà đang ở bên cạnh chúng ta, ở giữa
chúng ta. Nhưng buồn thay, nhiều người không hề quan tâm đi tìm họ lại.
      * 4. Tuyệt đỉnh của yêu thương
      Một lần kia, các tu sĩ trong miền dẫn tới đức Giám Mục Amôna một thiếu nữ mang
bầu xin ngài ra hình phạt. Nhưng Đức cha đã ban phép lành cho thai nhi, rồi ra lệnh ban
cho cô sáu tấm vải bằng lanh mịn. Những kẻ tố cáo lại nói :
      - Tại sao Đức Cha làm như thế ? Xin ra cho nó một hình phạt.
      Ngài ôn tồn bảo :
      - Anh em thử nghĩ xem, cô ta đã đau khổ muốn chết được ; tôi phải làm gì hơn nữa.
      Nói thế rồi ngài cho cô ta về. Từ đấy không tu sĩ nào còn dám tố cáo ai nữa.
                                                *
      Cũng như các tu sĩ trong câu chuyện trên đây, nhóm Pharisêu và các kinh sư
thường lên án những người tội lỗi, nên khi Chúa Giêsu tiếp đón những hạng người này
thì họ lẩm bẩm kêu trách Người. Thấy vậy, Chúa Giêsu đã trả lời bằng ba dụ ngôn : Con
Chiên Lạc Mất, đồng Bạc Đánh Rơi, và Đứa Con Hoang Đàng, để bày tỏ lòng nhân hậu
và niềm vui của Thiên Chúa dành cho người tội lỗi hối cải ăn năn.
       Còn gì vui bằng khi cái đã mất lại tìm thấy được ; còn gì sướng hơn khi cái tìm thấy
lại là vật quí. Tìm kiếm chính là mục đích của Con Thiên Chúa khi xuống trần gian :
"Con Người đến tìm kiếm những gì đã mất". Con người là đối tượng duy nhất mà Thiên
Chúa muốn kiếm tìm. Con người thật vô cùng quí giá trước mặt Người. Thiên Chúa lao
đao vất vả đi tìm kiếm con người. Người không muốn để mất một ai trên trái đất này.
       Thiên Chúa yêu thương người tội lỗi, như người mục tử tốt lành sẵn sàng để chín
mươi chín con chiên lại đi tìm cho bằng được con chiên lạc mất. Khi tìm thấy rồi mừng
rỡ khoác chiên trên vai.
       Thiên Chúa yêu thương kẻ lầm lỡ, như người đàn bà cần mẫn, đốt đèn kiếm cho
được đồng bạc đánh rơi. Khi thấy rồi tíu tít chia vui với mọi người.
       Thiên Chúa yêu thương tội nhân, như người cha già nhân hậu, ngày ngày ra ngõ tìm
con. Khi thấy con rồi ông vui mừng chạy lại ôm choàng lấy nó.
       Thật vậy, "lỗi lầm là của con người và tha thứ là của Thiên Chúa" (A. Pope). Thiên
Chúa yêu thương con người và yêu thương đến cùng. Tuyệt đỉnh của yêu thương chính là
tha thứ, vì thế dù phải chịu hấp hối lâu dài và đớn đau khôn tả, phải chịu khinh miệt và
chối bỏ, nhưng Người vẫn cầu nguyện tha thiết : "Lạy Cha, xin tha cho họ". Đây chính là
lời rõ ràng và trang trọng nhất nói lên tâm hồn cao thượng và tấm lòng nhân hậu của
Thiên Chúa qua Chúa Giêsu.
       Thiên Chúa luôn sẵn sàng tha thứ cho chúng ta, những con người lầm lỗi ; nhưng
Người chỉ có thể thứ tha khi chúng ta thật lòng sám hối. Người trộm lành suốt một đời
lầm lỡ, thế mà chỉ trong giây phút cuối cùng, tỏ lòng sám hối ăn năn đủ trở nên một vị
thánh. Ông trở nên thánh không phải vì ông là người tội lỗi, nhưng vì ông nhận biết mình
là kẻ tội lỗi. Đứa con hoang đàng được người cha tha thứ cũng vì anh đã biết nhận ra lỗi
lầm, trở về sám hối ăn năn. Người cha không chỉ tha thứ mà còn phục hồi chức vị làm
con. Một chiếc nhẫn mới, một đôi giầy mới, một bữa tiệc linh đình, vinh dự còn lớn hơn
cả trước khi ra đi.
       Nếu Thiên Chúa đã tỏ lòng nhân hậu và tha thứ cho chúng ta, thì Người muốn
chúng ta cũng hãy tha thứ cho nhau như người cha nhân hậu xin ông anh cả tha thứ cho
đứa em lầm lỗi.
       Người ta chỉ có thể dễ dàng tha thứ cho kẻ khác khi ý thức thân phận mỏng dòn yếu
đuối của mình. Có nhận ra mình hay lầm lỗi, con người mới dễ cảm thông tha thứ cho
những lỗi lầm của anh em. Đừng bắt người có tội phải bị trừng phạt mới hả dạ, đừng đòi
hỏi cho được sự công bằng mới thôi, vì Martin Luther King có viết : "Nếu cứ áp dụng
luật mắt đền mắt thì mọi người đều trở nên mù loà".
                                                 *
       Lạy Chúa, nếu Chúa không tha thứ cho các tội nhân thì thiên đàng sẽ trống rỗng, và
thế giới này không có thánh nhân.
       Xin cho chúng con mỗi lần được Chúa thứ tha lại thấy mình nên giống Chúa hơn,
vì đã biết tha thứ cho anh em. Amen. (TP)
       5. Chuyện minh họa
       a/ Sự tha thứ của Chúa
       Một nhà truyền giáo trên một đảo ngạc nhiên khi nhìn thấy một phụ nữ mang một
nắm cát ướt bước vào túp lều của ông.
      - Ông biết đây là gì không ?
      - Nó giống như cát.
      - Ông có biết tại sao tôi mang nó vào đây không ?
      - Không, tôi không thể tưởng tương được tại sao.
      - Đây là tội tôi. Tội tôi không thể đếm được như cát biển. Làm thế nào tôi có thể
được tha thứ tất cả ?
      - Bà hãy đưa cát đó ra bãi biển và chất thành một ít cát. Rồi ngồi nhìn xem những
cơn sóng ập tới, chắc chắn sẽ cuốn đi tất cả. Đó là cách Chúa thực hiện sự tha thứ của
Ngài. Lòng nhân từ của Chúa bao la như đại dương. Hãy thành thật hối lỗi và Chúa sẽ tha
thứ.
      b/ Không cần đếm
        Ở Phi châu, có một bộ tộc khá kì lạ. Họ không bao giờ đếm, không ai biết tí gì về
toán học. Có người hỏi một người dân bản địa có bao nhiêu cừu. Anh đáp : không biết.
"Vậy nếu lỡ mất một hai con, làm sao anh biết ? " Câu trả lời thật ý nhị : "Không phải tôi
mất một con số, mà mất một bộ mặt."
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
      Chủ tế : Anh chị em thân mến, Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót. Người sẵn
sàng tha thứ mọi lỗi lầm của người có tội thật lòng ăn năn thống hối. Tin tưởng vào tình
thương tha thứ của Chúa, chúng ta cùng khẩn khoản nài xin :
1. Hội thánh là dấu chỉ tình thương của Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa Thánh
   thần / tuôn đổ đầy trành tình yêu của Người vào tâm hồn mọi thành phần Dân Chúa /
   để ai nấy đều trở nên sứ giả đem tình thương của Chúa đến cho hết thảy mọi người.
2. Hiện nay / có biết bao thanh thiếu niên bỏ nhà đi bụi đời vì rất nhiều nguyên nhân
   khác nhau / trong số đó nổi bật nhất là do thiếu tình thương / và sự quan tâm chăm
   sóc của cha mẹ / hoặc cha mẹ bất hòa hay ly dị / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các gia
   đình luôn là tổ ấm tình thương / là nơi nương tựa cho mọi thành viên của mình.
3. Thử thách gian truân nhiều khi làm cho con người lâm vào cảnh bế tắc / mất hết niềm
   hy vọng để vui sống / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các tín hữu / biết chạy đến cùng
   Chúa khi gặp buồn phiền đau khổ / để được Người nâng đỡ ủi an.
4. Chúa yêu thương tất cả mọi người / không kỳ thị thiên tư / không phân biệt đối xử với
   bất cứ ai / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết luôn noi
   gương Người trong cách cư xử của mình.
      Chủ tế : Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã dạy chúng con phải tha thứ cho nhau không chỉ
bảy lần, mà đến bảy mươi lần bảy. Xin ban ơn giúp sức để chúng con có thể sống trọn
vẹn lời Chúa dạy. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
     - Trước kinh Lạy Cha : Chúng ta là những người vô cùng hạnh phúc vì có một
người Cha vô cùng nhân từ thương xót là Thiên Chúa. Với tất cả tâm tình kính mến,
chúng ta hãy dâng lên Ngài lời Kinh Lạy Cha sau đây.
VII. GIẢI TÁN
     Chúng ta đã thấy Chúa đã đối xử với chúng ta cách nhân từ thương xót như thế nào.
Chúng ta cũng hãy đối xử như thế với những anh chị em chúng ta.
Bài đọc thêm
                                CHÚA NHỰT XXV
                                       CHỦ ĐỀ :
                       CÁCH QUẢN LÝ TIỀN CỦA




                  "Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa
                         vừa làm tôi tiền của được"
                                        (Lc 16,13)
      Sợi chỉ đỏ :
      - Bài đọc I : Ngôn sứ Amos nặng lời khiển trách những kẻ giàu có bóc lột người
nghèo.
      - Đáp ca : Thiên Chúa yêu thương những người nghèo khổ.
      - Tin Mừng : Qua dụ ngôn "người quản lý bất trung", Chúa Giêsu khuyên hãy dùng
tiền của vật chất để mua lấy tình nghĩa.
      Minh họa
      - Mille images 130 D
      - "Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được" (Lc 16,13)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
      Anh chị em thân mến
      Trong thời đại kinh tế thị trường và văn minh hưởng thụ ngày nay, tiền bạc là một
cám dỗ rất lớn, tiền bạc có thể làm cho người ta quên mất tình nghĩa với anh em và xa rời
tình yêu Thiên Chúa.
      Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy nghe lời Chúa dạy chúng ta biết sử dụng tiền bạc
như thế nào để nó luôn là đầy tớ phục vụ mình, chứ không bao giờ là ông chủ bắt ta nô lệ
nó.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
     - Chúng con quá mải mê kiếm tiền đến nỗi nhiều khi lơ là bổn phận đối với Chúa.
     - Chúng con quá coi trọng tiền bạc đến nỗi nhiều lần lỗi công bình và bác ái.
     - Chúng con chưa yêu mến Chúa trên hết mọi sự.
III. LỜI CHÚA
       1. Bài đọc I (Am 8,4-7)
       Ngôn sứ Amos mạnh mẽ lên án những tội lỗi của người giàu :
       - Họ mê kiếm thêm tiền đến nỗi ngay trong những ngày lễ như mồng một và sabát
họ chỉ mong cho ngày lễ ấy chóng qua để họ tiếp tục làm ăn kiếm thêm tiền.
       - Khi làm ăn, họ dùng đủ cách gian lận "làm cho cái đấu nhỏ lại, cho quả cân nặng
thêm".
       - Đặc biệt họ khai thác và bóc lột những người nghèo.
       2. Đáp ca (Tv 112)
       Ca ngợi Chúa vì đã cứu giúp và nâng đỡ những người nghèo.
       3. Tin Mừng (Lc 16,1-13)
       Trong đoạn Tin Mừng này, Chúa Giêsu dạy môn đệ mình cách xử dụng tiền bạc
của cải vật chất. Trước tiên Ngài dùng một dụ ngôn (người quản gia), và sau đó nói về
cách xử dụng tiền của.
       a. Dụ ngôn người quản gia : đối với dân Do Thái, quản gia không phải chỉ là một
trong những người làm mướn ăn lương của chủ, mà là một nhân vật rất có thế lực. Quản
gia là người thay mặt chủ để lo những chuyện tài sản trong nhà. Do đó có quyền thu xếp
tài sản của chủ cách nào tùy ý miễn sao có lợi cho chủ thôi. BJ nói quản gia không có
lương, nên thường tìm thu nhập thêm bằng cách kê thêm số của cho vay. Thí dụ cho vay
100 kê thành 120.
       - Chúa Giêsu nói người quản gia trong dụ ngôn này là "bất lương". Các nhà nghiên
cứu Thánh Kinh còn bàn cãi nhau về sự "bất lương" này (ăn gian tiền của chủ ? cho vay
ăn lời cắt cổ ? hay là sửa đổi giấy nợ ?...).
       - Nhưng điều Chúa Giêsu muốn ta noi gương nơi người quản gia này là cách xử
dụng tiền của : Người quản gia này là "con cái thế gian", thế mà còn biết sử dụng của cải
một cách khôn khéo bằng cách cho đi của cải hiện tại để đổi lấy sự bảo đảm cho tương
lai. "Con cái của sự sáng" phải noi gương đó, phải biết dùng của cải thế gian mà mua sắm
của cải trên trời.
       b. Những điểm đáng chú ý trong lời Chúa Giêsu dạy về tiền của :
       - Ngài đánh giá tiền của là "gian dối".
       - Ngài khuyên dùng tiền của đời này để mua lấy những giá trị đời sau.
       - Phải coi tiền của là đấy tớ phục vụ mình, chứ đừng coi chúng là ông chủ mà mình
phải làm nô lệ.
       - Chính những người được coi là đạo đức như biệt phái mà cũng mang tính tham
lam.
       4. Bài đọc II (1 Tm 2,1-8) (Chủ đề phụ)
       Thánh Giacôbê khuyên tín hữu mình đừng ganh tị tranh chấp với nhau :
       - Nguồn gốc của tranh chấp là lòng tham
       - Thay vì tranh chấp, hãy tích cực xây dựng hòa bình.
IV. GỢI Ý GIẢNG
      * 1. Dùng tiền của hiện tại để mua bảo đảm cho tương lai
      Dụ ngôn này nói tới một người quản gia kia bị tố cáo là phung phí tài sản của chủ
nên bị chủ báo tin là sẽ cho thôi việc. Anh ta lo sợ trước viễn tượng một tương lai bấp
bênh nên đã tìm cách xoay sở, để sau này khi anh mất việc thì có nhiều người giúp đỡ
anh.
      Mấu chốt của câu chuyện là cách xoay sở của anh : anh gọi những người thiếu nợ
đến và sửa lại giấy nợ, nghĩa là giảm bớt phần nợ mà họ phải trả. Làm như thế họ sẽ biết
ơn anh và sau này sẽ giúp anh để đền ơn.
      Thế nhưng cách xoay sở bằng cách sửa lại giấy nợ như thế có lương thiện hay
không ? Hiện có hai lối giải thích :
      - Giải thích thứ nhất cho rằng anh ta không lương thiện : lẽ ra con nợ thứ nhất phải
trả cho chủ 100 thùng dầu thì anh bớt đi chỉ còn phải trả 50 thùng thôi ; con nợ thứ hai lẽ
ra phải trả 1000 thùng lúa thì anh bớt đi chỉ còn 800. Như thế là làm thiệt hại cho chủ.
Anh ta lấy một phần tài sản của chủ để mua lấy tình cảm cho bản thân anh. Nói nôm na
hơn, anh ta "mượn đầu heo nấu cháo".
      - Giải thích thứ hai cho rằng anh lương thiện : Theo tục lệ do thái, người quản gia
không được trả lương, nhưng bù lại, chủ thường uyển chuyển hoặc làm ngơ để cho người
quản gia dùng tài sản của chủ mà kiếm ăn riêng, miễn sao không hại đến tài sản của chủ
thôi. Người quản gia này đã lấy 50 thùng dầu của chủ để cho người ta vay nhưng trong
giấy nợ anh ghi là 100 thùng, tức là có thêm 50 thùng mà anh ta sẽ hưởng ; cũng thế anh
lấy 800 thùng lúa của chủ để cho vay nhưng trong giấy nợ lại ghi là 1000 nghĩa là có
phần của anh 200 thùng. Đến lúc cần mua lòng người ta, người quản gia này đã hy sinh
phần lời mà anh được hưởng, anh dùng phần đó để mua tình cảm của những người thiếu
nợ. Nói nôm na, anh này đã "bỏ con tép để bắt con tôm". Như thế, anh xoay sở cách
lương thiện.
      Hai giải thích trên, giải thích nào cũng có phần đúng. Chúng ta không biết chọn
theo giải thích nào. Nhưng điều đáng chúng ta lưu ý, mà cũng là điều chính Chúa Giêsu
bảo chúng ta học theo, đó là anh biết dùng của cải vật chất hiện tại để mua sắm những thứ
bảo đảm cho tương lai : đối với người quản gia này, để mua lấy bảo đảm cho tương lai,
anh không tiếc phải hy sinh tài sản hiện tại. Hiện tại, anh làm ơn cho những người thiếu
nợ anh, để sau này những người đó sẽ trả ơn cho anh.
      * 2. Những việc nhỏ dẫn đến việc lớn
      Người ta không phạm một tội lỗi tày trời ngay trong một sớm một chiều ; người ta
cũng không làm một việc tốt vĩ đại ngay trong một sớm một chiều. Việc lớn là hậu quả
hay kết quả của những việc nho nhỏ mà người ta đã bắt đầu làm từ rất lâu trong quá khứ.
       Như người quản gia trong dụ ngôn này, có lẽ khi mới được chủ chọn làm người coi
sóc tài sản, anh đã làm rất tốt. Dần dần đồng tiền có sẵn trong tay cám dỗ anh ăn bớt ăn
xén, khởi sự là một số tiền nhỏ, dần dần lớn hơn… Rất có thể đôi khi lương tâm anh cũng
sống lại, khiến anh biết điều mình làm là sai trái. Nhưng vì đã quen ham tiền và quen
kiếm tiền cách bất chính nên anh không dừng lại được, trái lại càng ngày càng lún sâu
hơn trong tội lỗi. Cho đến một ngày kia, sự việc đổ bể, chủ gọi anh đến và cất chức anh.
       Tục ngữ có câu "Túi tham không đáy". Chúng ta đừng tự lừa dối mình rằng "Chỉ
một ít này thôi, chỉ một lần này thôi", bởi vì một khi đã dùng cách bất chính để bỏ vào túi
tham của mình một ít tiền thì cái túi ấy chẳng những không đầy, trái lại nó càng sâu thêm,
lòng tham của mình đói khát thêm và lại đòi ăn thêm nữa.
       Hằng ngày đọc báo, nghe đài và xem truyền hình, chúng ta thấy nhiều người phải ra
tòa rồi vào tù vì tội ăn cắp tài sản của người khác hoặc của công. Đáng chú ý là thủ phạm
của những vụ ăn cắp lớn không phải là những người nghèo mà là những người giàu. Họ
đâu có túng thiếu, họ còn dư thừa nữa là đàng khác. Nhưng căn bệnh nguy hiểm của họ là
tiền bạc họ có thay vì thỏa mãn họ thì lại làm cho họ thèm khát hơn.
       Cách tốt nhất để không bị đồng tiền làm hại là hãy kiếm tiền cách chân chính và
đừng bao giờ bắt đầu một hành vi gian tham dù rất nhỏ nhặt.
       * 3. Nhận lãnh để trao ban
       Có một nhà kia tính mời vài đạo sĩ tới lập đàn giải trừ tai nạn. Một đạo sĩ nọ tham
lam, muốn một mình hưởng trọn số tiền chủ nhà trả ông, liền nhận bao thầu hết việc lập
đàn cúng bái.
       Ông ta chẳng kể ngày đêm. Làm việc luôn tay luôn chân, không hề ngơi nghỉ. Cứ
như thế đến ngày thứ ba thì kiệt sức, đơ tay, ngã vật ra đất. Chủ nhà sợ ông ta chết, mang
hoạ, liền thuê người khiêng ông về miếu. Đạo sĩ nghe vậy, cố ngước đầu lên thì thào :
       Ông hãy đưa tiền thuê người cho tôi, tôi tự mình lần về miếu cũng được.
                                                 *
       Những người coi đồng tiền to hơn mạng sống của mình, rốt cuộc cũng chẳng được
gì. Thấu hiểu lòng ham mê tiền bạc của con người, Chúa Giêsu đã kể dụ ngôn người quản
gia khôn khéo. Người khen ông quản gia khôn khéo không phải vì hành động bất lương
của ông, nhưng vì ông biết lo xa cho tương lai của mình. Ông khôn khéo vì ông biết dùng
tiền của tạm bợ để mua lấy bạn hữu.
       Nếu "con cái đời này" biết phải làm gì và làm cách nào đối với tiền của để to liệu
cho ngày mai, thì tại sao "con cái sự sáng" lại không biết sử dụng ơn Chúa ban trong hiện
tại để lo cho phần rỗi của mình ở tương lai ?
       Nếu người quản gia bất lương biết dùng tiền của bất chính để mua lấy bạn hữu, sao
người tín hữu lại không biết sử dụng của cải phù dù, chia sẻ cho người nghèo khó để mua
lấy bạn hữu Nước Trời.
       Nếu người ta căn cứ vào cách dùng tiền của để biết được lòng người có trung tín
hay không, thì tại sao chúng ta lại không "trung tín trong việc nhỏ" là sử dụng tiền của để
bảo đảm cho ta của cải chân thật đời sau ?
       Thật vậy, chúng ta không trở nên giàu có với những điều mình đã nhận lãnh, mà là
với những điều mình đã trao ban. Tác giả Augier còn viết : "Trong dự tính của Thiên
Chúa, người giàu chỉ là viên thủ quĩ của người nghèo". Vì thế, chỉ khi nào biết quảng đại
trao ban cho những kẻ thiếu thốn, chúng ta mới thực là những quản gia biết làm theo ý
chủ, những quản gia trung tín và khôn ngoan. Chỉ khi nào biết coi tiền của là phương tiện
phục vụ cho cùng đích là Nước Trời chúng ta mới thựïc sự "làm tôi Thiên Chúa".
                                                  *
       Lạy Chúa, trong khi chúng con đang bôn ba tìm kiếm những của cải tạm bợ đời
này, xin cho chúng con cũng biết khôn ngoan tích trữ cho mình gia tài vĩnh cửu là hạnh
phúc Nước Trời. Amen. (TP)
       4. Chuyện minh họa
       a/ Cửa sổ hoặc tấm gương
       Một người do thái giàu có nhưng rất keo kiệt đến gặp một vị giáo trưởng để xin một
lời hướng dẫn cho cuộc sống của mình. Vị giáo trưởng đưa anh đến bên cửa sổ và nói :
"Ông hãy nhìn qua cửa sổ và tôi biết ông thấy gì." Không một chút do dự, người giàu có
trả lời : "Tôi thấy nhiều người đi qua đi lại." Sau đó vị giáo trưởng bảo người giàu có
quay mặt vào trong nhà và nhìn vào một tấm gương treo trên tường. Rồi ông cũng đặt câu
hỏi tương tự : "Nào, bây giờ ông thấy gì trong tấm gương ?" - "Dĩ nhiên tôi chỉ thấy tôi".
       Bấy giờ vị giáo trưởng mới rút ra một bài học : "Này nhé, tấm gương được làm
bằng kính, phía sau phủ một lớp bạc mỏng. Bao lâu lớp bạc mỏng còn dính chặt đàng sau
tấm kính thì nhìn vào đó ông sẽ không còn thấy người nào khác nữa mà chỉ thấy có mình
ông thôi. Trái lại khi nhìn qua tấm kính trong suốt ở cửa sổ, ông đã thấy được những
người khác. (Trích "Món quà giáng sinh")
       b/ Loại tiền cho đi
       Một người kia suốt đời chỉ lo thu gom tiền bạc, cho nên rất giàu. Khi chết, ông còn
ôm túi vàng theo mình đi sang cuộc sống bên kia. Đi một hồi ông thấy đói. Bỗng ông
thấy một quán ăn bên đường, liền ghé vào. Vì hà tiện, ông hỏi người chủ quán :
       - Tô cơm nhỏ này giá bao nhiêu ?
       - Chỉ một đồng thôi.
       - Còn tô lớn kia ?
       - Cũng chỉ một đồng thôi.
       Thấy rẻ, ông gọi luôn hai tô lớn. Nhưng người chủ quán bảo :
       - Ở đây chỉ xài loại tiền-cho-đi thôi. Ông có không ?
       Người hà tiện chỉ vào túi vàng của mình. Nhưng chủ quán nói :
       - Đó chỉ là thứ tiền-lấy-vào. Ở đây không xài được.
       - Thế tiền-cho-đi là tiền gì ?
       - Khi còn sống, mỗi lần ông cho ai bao nhiêu đồng thì ông được ban lại bấy nhiêu
đồng loại tiền-cho-đi.
       Ông nhà giàu lục lọi khắp nơi trong mình nhưng chẳng có đồng nào thuộc loại tiền-
cho-đi cả. Thế là ông phải nhịn đói.
       Bao nhiêu đồng tiền cho đi là bấy nhiêu đồng tiền để dành cho đời sau vậy.
       c/ Đạo một mắt
       Bác sĩ A.J. Gordon kể : ngày nọ, có một ông nhà giầu nhưng keo kiệt đến xin chữa
mắt. Sau khi khám nghiệm, bác sĩ cho biết phải chữa cả hai mắt, nếu không có nguy cơ bị
mù. Ông hỏi :
      - Nhưng giá bao nhiêu ?
      - Chữa mỗi mắt là 100 đô.
      Ông nhà giầu phân vân giữa tiền bạc và mù loà. Rồi ông nói với bác sĩ : "Tôi chỉ
chữa một mắt thôi, vì một mắt cũng đủ thấy tiền và đếm tiền. Lại đỡ tốn !"
      Nhiều người vẫn cầu nguyện : "Xin mở mắt con để thấy kì công của Chúa..."
Nhưng xem ra nhiều Kitô-hữu chỉ muốn Chúa mở cho mình một mắt để thấy công trình
của Chúa mà thôi, một mắt còn phải để mà trông coi gia sản !
      d/ Đổi tiền
      Đến nước khác, việc đầu tiên mà du khách phải làm là đổi tiền của mình thành tiền
đang lưu hành tại nước đó. Tiền của ta trên trái đất chẳng có giá trị gì trên trời, nếu nó
không đổi thành việc lành. Đó là ý nghĩa Lời Chúa nói với chàng thanh niên giầu có : cho
đi gia sản của anh để mua Nước Trời.
      5. Mảnh suy tư
      a/ Tiền
                Người công nhân đồ mồ hôi để có được nó
                Kẻ hoang phí thì đốt nó
                Chủ ngân hàng đem nó cho vay
                Đàn bà xài nó
                Kẻ lưu manh làm giả nó
                Nhân viên thuế vụ lấy nó
                Người hấp hối lìa bỏ nó
                Kẻ thừa kế tiếp thu nó
                Người tiết kiệm để dành nó
                Người keo kiệt thèm khát nó
                Kẻ ăn trộm chộp lấy nó
                Người giàu gia tăng nó
                Người cờ bạc bị mất nó
                Phần tôi thì dùng nó (Quote)
      b/ Khả năng thật của tiền bạc
      Tiền có thể mua được cái vỏ nhưng không mua được cái nhân
      Nó có thể mang đến cho bạn thức ăn, nhưng không mang đến khẩu vị
      Nó giúp bạn có nhiều người quen, nhưng không giúp bạn có bạn bè
      Nó giúp bạn có những đầy tớ, nhưng không giúp bạn có được lòng trung thành của
họ.
      Nó ban cho bạn những tháng ngày hưởng thụ, nhưng không cho bạn bình an và
hạnh phúc (Henrik Ibsen)
      c/ Những thứ mà tiền không mua được
      Có tiền và có những cái mua bằng tiền là tốt. Nhưng biết dùng tiền và đừng để mất
những thứ tiền không mua được còn tốt hơn.
        Có thể kể những thứ sau đây tiền không mua được :
        Tiền không mua được tình bạn chân thực.
        Tiền không mua được lương tâm trong sạch.
        Tiền không mua được niềm vui lành mạnh.
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
      Chủ tế : Anh chị em thân mến, Thiên Chúa là Đấng yêu thương và muốn cứu độ hết
thảy mọi người. Chúng ta cùng cảm tạ Chúa và dâng lời cầu xin :
1. Hội thánh là dấu chỉ ơn cứu độ cho muôn dân / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi
   thành phần trong Hội thánh / biết luôn quan tâm đến việc rao giảng Tin mừng cho mọi
   nước mọi dân.
2. Hiện nay / vẫn còn có biết bao người không nhà không cửa / nghèo khổ cùng cực /
   Chúng ta hiệp lời cầu xin cho việc xóa đói giảm nghèo / mang lại hiệu quả thiết thực
   cho những người bất hạnh trong xã hội.
3. Tiền bạc là một người đầy tớ tốt / nhưng luôn luôn là một ông chủ xấu / Chúng ta hiệp
   lời cầu xin cho các Kitô hữu / biết sử dụng của cải Chúa ban theo đúng tinh thần
   nghèo khó của Tin mừng.
4. Giúp mọi người sống xứng với nhân phẩm của mình / là bổn phận cao quý của người
   Kitô hữu / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết rộng rãi
   giúp đỡ những ai thật sự khó nghèo / để họ có thể sống xứng với thân phận con người.
      Chủ tế : Lạy Chúa Giêsu, Chúa dạy chúng con : Anh em không thể vừa làm tôi
Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được. Xin cho chúng con chỉ biết tôn thờ một mình
Thiên Chúa, và chỉ sử dụng tiền của như một phương tiện Chúa ban để nuôi sống bản
thân và gia đình, đóng góp vào việc công ích và chia sẻ cho những người nghèo khổ.
Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
     - Trước kinh Lạy Cha : Chúng ta sắp nói với Chúa Cha rằng "Xin cho chúng con
hôm nay lương thực hằng ngày". Lời nguyện này không nhằm xin cho có của ăn cho
bằng xin có tinh thần phó thác vào Chúa quan phòng thay vì óc tham lam tích trữ.
     - Sau kinh Lạy Cha : "Lạy Cha, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, đặc biệt xin cứu
chúng con khỏi tính tham lam và sự nô lệ tiền của, xin đoái thương cho những ngày
chúng con đang sống được bình an…"
VII. GIẢI TÁN
      Trước khi ra về, chúng ta hãy ôn lại một lời Chúa nói hôm nay "Anh em không thể
vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được". Trong tuần này, chúng ta hãy cố gắng
làm chủ tiền của và làm tôi Thiên Chúa.
       CHÚA NHỰT XXVI
             CHỦ ĐỀ :
NGƯỜI GIÀU VÀ NGƯỜI NGHÈO




   Người phú hộ và người ăn mày
            (Lc 16,19-31)
     Sợi chỉ đỏ :
     - Bài đọc I : Ngôn sứ Amos công kích những người giàu
     - Đáp ca : Thiên Chúa yêu thương và bênh vực người nghèo
     - Tin Mừng : Dụ ngôn người phú hộ và kẻ ăn mày tên Ladarô
     Minh họa
     - Mille images 87 A
     - Người phú hộ và người ăn mày (Lc 16,19-31)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
      Anh chị em thân mến
      Kiếm tiền và sử dụng tiền là những vấn đề rất quan trọng trong cuộc sống. Bởi thế,
hôm Chúa nhựt tuần trước Chúa Giêsu đã đề cập đến tiền bạc rồi, và hôm nay Ngài lại đề
cập đến nó một lần nữa. Ngài khuyến cáo chúng ta rằng tiền bạc có thể trở thành một mối
nguy, một cản trở chúng ta vào Nước Trời.
      Một lần nữa, chúng ta hãy xin lỗi Chúa vì những lầm lỡ đã phạm trong vấn đề tiền
bạc.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
     - Chúng ta coi trọng những người giàu và coi khinh những người nghèo.
     - Chúng ta làm ngơ không giúp đỡ những kẻ túng thiếu.
     - Nhiều lần chúng ta đã xử dụng tiền bạc một cách phung phí không hợp lý.
III. LỜI CHÚA
       1. Bài đọc I (Am 6,1a.4-7)
       Ngôn sứ Amos tung ra những lời đả kích rất nặng đối với những người giàu : họ lo
hưởng thụ, ăn uống, rượu chè, ca hát mà không quan tâm gì đến số phận của đất nước
đang lâm nguy.
       2. Đáp ca (Tv 145)
       Ca tụng tình thương của Chúa dành cho những người nghèo khổ về mọi phương
diện : đói khát, bị áp bức, tù tội, tật nguyền, đặc biệt là những cô nhi quả phụ.
       3. Tin Mừng (Lc 16,19-31)
       Người phú hộ trong dụ ngôn này đã quen cậy dựa vào tiền bạc của cải. Khi ông
chết thì những chỗ ông cậy dựa cũng tiêu tan luôn cho nên ông rơi vào cảnh rất khốn khổ.
Ladarô là một người nghèo không có chỗ dựa ở trần gian nên hoàn toàn cậy dựa vào
Chúa, nhờ đó sau khi chết đã được hưởng hạnh phúc trong vòng tay Thiên Chúa (qua
hình ảnh tổ phụ Abraham).
       Dụ ngôn này còn muốn gởi một lời nhắn nhủ đến những người giàu : họ nên sớm
thấy sai lầm của họ khi đặt niềm cậy trông vào những giá trị trần thế, để kịp thời quay về
trông cậy vào Chúa. Đừng chờ đến khi chết, thấy rõ đâu là chỗ dựa vững chắc rồi mới
sám hối, vì tới lúc đó, mọi việc đều không thể đảo ngược được.
       4. Bài đọc II (1 Tm 6,11-16) (Chủ đề phụ)
       Những lời khuyên Phaolô gởi cho môn đệ mình là Timôtêô. Phaolô nhấn mạnh đến
việc trau dồi các nhân đức tin, mến, nhẫn nại và hiền hòa.
IV. GỢI Ý GIẢNG
       * 1. Đừng quá hững hờ
       Xem ra người phú hộ trong Tin Mừng chẳng có tội gì để đáng phạt muôn đời trong
hỏa ngục : Ông không gian tham, không trộm cắp, không bóc lột… Cuộc đời ông ngày
này qua ngày khác chỉ có ăn uống linh đình và mặc lụa là gấm vóc, nghĩa là chỉ có hưởng
thụ cái tài sản giàu sang do ông làm ra, mà hưởng thụ như vậy là chính đáng chứ có gì là
tội đâu ? Tội không giúp đỡ Ladarô chăng ? Nếu ta đọc kỹ Tin Mừng từng chữ thì sẽ thấy
rằng Ladarô đã không mở miệng một lời để xin ông ta giúp đỡ, Ladarô chỉ âm thầm ao
ước được ăn những miếng bánh rơi. Nhưng vì chỉ âm thầm ao ước, mà không nói ra cho
nên không ai biết mà cho.
       Nhưng tại sao lại không biết ? Thưa vì không để ý. Ở cạnh bên nhau mà không thấy
nhau, không biết nhau, không giúp đỡ nhau thì thật là quá vô tình, quá hờ hững. Tội của
người phú hộ chính là tội hững hờ đó. Hoàn cảnh của Ladarô quá khốn khổ thế mà người
phú hộ vẫn hững hờ đến nỗi Ladarô phải chết vì đói đang khi ông ta lại quá dư thừa,
thành ra tội hững hờ của người phú hộ trở thành tội nặng làm cho ông ta đáng phạt trong
hỏa ngục.
       Chúng ta vừa khám phá ra một điểm đặc biệt của Tin Mừng : chúng ta không chỉ
phạm tội do việc làm, do lời nói, do ý tưởng, mà còn có thể phạm tội do quá hững hờ với
người khác nữa, và tội hững hờ này trong những hoàn cảnh quan trọng cũng có thể trở
thành tội trọng.
       Trong phim "Những đứa trẻ khốn khổ" có một cảnh rất thương tâm : một cô gái nhà
nghèo lên tỉnh tìm việc làm và bị dụ dỗ đến có con. Vì phải làm việc suốt ngày nên cô
không thể nuôi con mà phải gởi cho một người chủ quán nuôi giúp. Người chủ quán này
không có lương tâm, lợi dụng hoàn cảnh của cô để bóc lột : nay hắn gởi thư đòi tiền, mai
hắn lại đòi một số tiền khác. Người mẹ trẻ không có tiền nên chỉ biết nhịn ăn nhịn mặc,
hết tiền cô cắt mái tóc đem bán, hết tiền lại nhổ từng cái răng đêm bán nữa… và cô trở
thành rách rưới, ốm o, xấu xí. Nhưng cô càng gầy ốm, rách rưới, xấu xí thì cũng bị những
người khác khinh khi, ghét bỏ. Cảnh cô bị đuổi khỏi sở làm, co ro trong chiếc áo rách
chạy giữa trời đông tuyết lạnh, thỉnh thoảng dừng lại ôm ngục ho xù xụ… với cảnh cả
một đám đông người xúm lại đánh đập cô, xô cô té ngả xuống đất và nhào vô xâu xé
cô… những cảnh như thế làm cho chúng ta xem mà không khỏi cảm thấy thương tâm.
Tại sao ta cảm động ? Vì ta đã biết hoàn cảnh của cô ấy và khi ta thấy cô bị hành hạ như
vậy thì thương tâm. Còn những người kia, những người hành hạ cô, tại sao họ không
thương tâm ? Thưa vì họ không hiểu hoàn cảnh của cô, họ cùng ở một đường phố, cùng
làm chung một sở nhưng không hiểu hoàn cảnh của cô. Họ quá hững hờ.
       Chắc chắn có rất nhiều lần chúng ta cũng hững hờ như vậy.
       * 2. Giấy thông hành nước trời
       Ngày Xưa, bên Tàu có một ông vua tự cho mình là người yêu nước thương dân,
nhưng lại chẳng bao giờ để ý đến cảnh khổ của dân chúng. Trái lại, ông chỉ biết đến yến
tiệc linh đình, trang hoàng cung điện, xây cất dinh thự, sưu tầm những kỳ hoa dị thảo, để
mong được nở mày nở mặt với lân quốc.
       Một hôm, nhà vua nghe nói ở một ngôi chùa trong nước có một loại hoa hồng quí
hiếm, từng bông hoa to đẹp rực rỡ, bao phủ cả một khu vườn. Nhà vua báo tin cho vị sư
trụ trì là ông sẽ đến thăm để biết thứ hoa hồng quí lạ. Khi được tin báo và được biết giờ
vua sẽ đến, vị sư liền cắt tất cả những đoá hồng xinh tươi đổ vào hố rác chỉ để lại một
bông duy nhất đang thắm nở.
      Vào đến vườn, nhà vua lấy làm lạ vì thực tế khác hắn với tin đồn. Khi biết được sự
việc, nhà vua hỏi vị sư tại sao làm như thế. Vị sư từ tốn trả lời :
      - Thưa bệ hạ, nếu thần để tất cả các hoa nở rộ trên cành, bệ hạ sẽ không thưởng
thức được vẻ đẹp của từng bông hoa. Vì thần biết bệ hạ chỉ có thói quen nhìn đám đông
chứ không để ý đến từng cá nhân.
                                                 *
      Thiên Chúa của chúng ta không có thói quen chỉ nhìn đám đông, nhưng Người
quan tâm đến từng con người. Thiên Chúa yêu thương con người không có tính cách
chung chung, nhưng Người chăm sóc cho từng người một. Mỗi một con người là một
nhân vị, có nhân phẩm cao quí. Mỗi một con người là một tác phẩm tuyệt vời của Người,
với những ơn riêng mà người khác không có được Mỗi một con người là một bông hồng
rực rỡ sắc mầu, thơm ngát hương hoa.
      Người phú hộ trong bài Tin Mừng hôm nay sở dĩ phải trầm luân muôn kiếp, vì ông
đã không nhìn người nghèo khó Ladarô với cái nhìn ấy. Thậm chí ông cũng chẳng thèm
nhìn con người khốn khổ ngày ngày lê lết bên cổng nhà ông.
      Người phú hộ phải "chịu cực hình" không phải vì ông nhiều của cải, nhưng vì ông
đã không san sẻ của cải cho người thiếu thốn, ngay cả những của thừa thãi trên bàn tiệc
cũng chẳng đến tay người nghèo.
      Người phú hộ phải tống xuống biển lửa không phải vì ông đã làm ra nhiều của cải,
nhưng vì ông đã quá cậy dựa vào tiền của, trong khi người nghèo khó chỉ biết cậy dựa
vào Chúa ; Ladarô có nghĩa là "Thiên Chúa giúp đỡ".
      Vậy tội của người phú hộ chính là tội làm ngơ, tội phớt lờ, tội không nhìn, không
nghe, không thấy những Ladarô đang van xin cứu giúp trong cơn túng quẫn cùng cực.
Tội của người phú hộ chính là tội thiếu sót, tội đã không làm những gì lẽ ra mình phải
làm cho một ai đó đang cần trợ giúp. Bác sĩ Albert Schweitzer, người đã bán hết gia tài
kếch xù của ông, xây một bệnh viện và dấn thân cứu giúp những con người cùng khổ
nhất Châu Phi đã đặt ra câu hỏi cho chính mình : "Làm sao chúng ta có thể sống hạnh
phúc trong khi có biết bao người đang đau khổ ?".
      Sẽ có một ngày tất cả chúng ta bước vào một thế giới mà giấy thông hành không
phải !à tiền của nhưng chính là tình yêu. Chỉ có những ai yêu mến Thiên Chúa và thương
yêu anh em mới được bước vào.
      Sẽ có một ngày người phú hộ chẳng còn yến tiệc linh đình, chẳng còn trận vui tới
sáng, trận cười suốt đêm, nhưng sẽ phải đuổi khỏi bàn tiệc và lao xuống hoả hào muôn
kiếp.
      Sẽ có một ngày người Ladarô nghèo khó chẳng còn lê lết dưới đất đen, không còn
nhặt những miếng bánh vụn nơi bàn tiệc người phú hộ, nhưng sẽ được nâng lên "trong
lòng Ápraham" vui hưởng hạnh phúc muôn đời.
      Lời giảng của Đức Thánh Cha Gioan Phao lô II trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ
lần đầu tiên ngày 2.10.1979 đáng cho chúng ta suy nghĩ : "Chúng ta không thể thờ ơ vui
hưởng của cải và tự do của chúng ta nếu bất cứ ở vùng nào đó, người nghèo khó Ladarô
của thế kỷ 2O vẫn còn đang đứng chờ chúng ta ngoài cửa... Các bạn đừng bao giờ bằng
lòng với hành vi chỉ cho họ những mẩu bánh vụn nơi bàn tiệc. Các bạn chỉ nên lo lắng
cho đủ phần chính yếu của cuộc sống mà thôi chứ đừng tìm cách sống cho sung túc dư
dật, để nhờ đó các bạn có thể giúp đỡ những người nghèo khổ. Đồng thời, các bạn hãy
đối xử với họ như những thực khách trong gia đình các bạn".
                                                 *
       Lạy Chúa, thánh Tôm Aquinô đã dạy : "Những ngươi giàu có đã đánh cắp của
người nghèo khó khi họ tiêu xài phung phí những của cải dư thừa". Xin cho chúng con
biết san sẻ cho nhau, để trời đất này trở nên sung túc và yêu thương, vì giàu có thật là yêu
thương và nghèo nàn thật là ích kỷ.
       Xin dạy chúng con bí quyết làm giàu bằng cách chia sẻ cho nhau những của cải
Chúa ban. Amen. (TP)
       * 3. Những thế giới khác nhau
       Một ngày mùa hè, một người đàn ông ngồi trong văn phòng có gắn máy điều hòa.
Nhìn qua cửa sổ, ông thấy bên ngoài có một thanh niên đang lao động. Anh này làm việc
một cách rất uể oải và chậm chạp, chốc chốc lại buông tay ngồi nghỉ. Ông thầm nghĩ : cái
anh chàng này lười biếng quá. Ông mở cửa bước ra xem. Vừa ra ngoài ông đụng ngay cái
nóng hừng hực của mùa hè. Sức nóng làm mồ hôi ông toát ra và khiến mọi năng lực của
ông như tan biến đâu mất. Ông cảm thấy rất uể oải. Lúc đó ông mới hối hận vì đã vội
nghĩ xấu cho người thanh niên nọ : nếu ông cũng phải lao động ngoài trời dưới cái nóng
như thế thì chắc chắn ông cũng không làm gì hơn người thanh niên đó được.
       Người đàn ông và người thanh niên trên ở rất gần nhau, chỉ cách nhau một cánh
cửa, thế nhưng họ thuộc hai thế giới khác hẳn nhau. Vì thuộc hai thế giới khác nhau nên
người đàn ông không hiểu được và không thông cảm được với người thanh niên. Chỉ khi
ông bước ra khỏi thế giới mình đề đi vào thế giới của người thanh niên thì ông mới hiểu
và mới cảm thông.
       Người phú hộ và Ladarô trong dụ ngôn hôm nay cũng thế. Họ thuộc hai thế giới
khác hẳn nhau :
       - Một bên mặc toàn lụa là gấm vóc ; bên kia rách rưới tả tơi.
       - Một bên ngày ngày yến tiệc linh đình ; bên kia thì một mụn bánh cũng không có.
       - Một bên sống trong biệt thự ; bên kia nằm trước cổng nhà.
       - Tóm lại một bên như sống ở thiên đàng trần thế ; còn bên kia như sống ở hỏa ngục
trần gian.
       Hai người ở sát cạnh nhau nhưng hoàn toàn xa cách nhau. Thậm chí người phú hộ
còn không biết tới sự hiện diện của Ladarô.
       Hai bức tranh quá đối chọi này gọi cho chúng ta vài suy nghĩ :
       a/ Thiên Chúa và loài người cũng thuộc về hai thế giới khác nhau vô cùng. Nhưng
Con Thiên Chúa đã ra khỏi thế giới của Ngài để bước vào thế giới chúng ta. Thật là một
tình thương to lớn vô cùng !
       b/ Có rất nhiều người ở bên cạnh chúng ta nhưng thuộc về một thế giới khác hẳn
chúng ta cho nên chúng ta không hiểu họ, không nhận ra họ, thậm chí không ý thức đền
sự hiện diện của họ. Có khi nào chúng ta chịu khó ra khỏi thế giới của mình để bước vào
thế giới của họ chưa ?
       * 4. Sự giàu có thật và sự nghèo nàn thật
       Một người nhà giàu lái một chiếc xe Mercedes bóng láng đến bãi đậu xe. Một cậu
bé khoảng 11 tuổi ngắm nhìn chiếc xe bằng một ánh mắt ngạc nhiên và thèm muốn. Câu
chuyện bắt đầu :
       - Thưa ông, chiếc xe này của ông hả ?
       - Vâng.
       - Chà, nó đẹp quá. Ông mua bao nhiêu vậy ?
       - Chẳng dấu gì cháu, tôi không có mua. Anh tôi tặng tôi đó.
       - Nghĩa là ông không phải tốn một xu nào hết mà có được chiếc xe này ?
       - Đúng vậy.
       Cậu bé trầm ngâm một lúc rồi nói "Ước gì cháu…"
       Câu nói bỏ lửng. Người nhà giàu cố đoán phần sau của câu nói. Ông đoán cậu bé
định nói "Ước gì cháu cũng có một người anh như thế". Nhưng thật bất ngờ, cậu bé nói
"Ước gì cháu sẽ là một người anh như thế".
       Rồi người nhà giàu suy nghĩ : Tuy mình có một chiếc xe sang trọng, có một người
anh giàu có, nhưng lòng mình thì quá nghèo nàn. Còn cậu bé tuy ăn mặc tầm thường
nhưng tấm lòng cậu ấy giàu hơn mình nhiều, bởi cậu bé chỉ nghĩ đến việc cho đi.
       Người giàu thật là người biết cho ; người nghèo thật là người chỉ biết nhận.
       Người giàu thật là người có rất ít nhu cầu nên luôn cảm thấy đủ ; người nghèo thật
là người có quá nhiều nhu cầu nên luôn cảm thấy thiếu.
       Sự giàu có thật là giàu trong tâm hồn ; sự nghèo nàn thật là một tâm hồn trống rỗng.
       Bởi vậy cái giàu vật chất hay đi đôi với cái nghèo tâm hồn. Và đó cũng chính là cái
nguy hiểm của vật chất :
       - Nó khiến ta quá chú ý đến cái "có" mà quên xây dựng cái "là" của mình.
       - Mà những cái "có" ấy chỉ là vật chất và ngoại tại, nên chúng dễ khiến ta lơ là với
những giá trị tinh thần và cuộc sống nội tâm.
       - Quá quan tâm đến vật chất, chúng ta còn có thể bị chúng che mờ cặp mắt không
còn nhìn thấy tha nhân và Thiên Chúa.
       * 5. Bắt đầu từ đâu ?
       Một người nhà giàu nằm mơ thấy một đám rất đông những người nghèo và những
người bệnh tật đang kêu xin giúp đỡ. Cảnh tượng ấy khiến ông xúc động và hạ quyết tâm
sẽ đi tìm để giúp những người ấy.
       Sáng hôm sau ông lên xe đi tìm. Vừa ra khỏi cửa nhà, ông gặp ngay một người ăn
mày đang ngửa tay xin tiền. Ông định dừng xe lại, nhưng tự nghĩ hãy đi thêm để biết
thêm. Chiếc xe chạy qua những con đường, những khu chợ, những quãng trường… Càng
đi ông càng thấy những người nghèo khổ đông quá. Trong đầu ông bắt đầu vẽ ra rất nhiều
dự án để cứu giúp rất nhiều hạng người. Nhưng ông bối rối chưa biết phải bắt đầu từ đâu.
Đến chiều, ông quay xe về nhà, và gặp lại người ăn mày trước cổng, với cũng một tư thế
ấy và những lời van xin ấy. Tối hôm đó ông lại nằm mơ và lại nghe thấy những tiếng kêu
xin cứu giúp. Nhưng lần này những tiếng ấy không xuất phát từ đám đông, mà từ chính
người ăn mày nằm trước cổng nhà ông. Và ông hiểu ra : phải bắt đầu từ chính người ăn
mày ấy.
       Mẹ Têrêsa Calcutta nói : "Tôi luôn nghĩ rằng tình thương phải bắt đầu từ gia đình
mình trước, rồi đến khu xóm, đến thành phố… Yêu thương những người ở xa thì rất dễ,
nhưng yêu thương những người đang sống với mình hoặc đang ở sát cửa nhà mình mới là
khó. Tôi không đồng ý với những cách làm ồn ào. Tình thương phải bắt đầu từ một cá
nhân : muốn yêu thương một người, bạn phải tiếp xúc với người đó, gần gũi với người
đó". Mẹ Têrêsa còn kể : "Lần kia tôi đi dự một hội nghị ở Bombay về việc cứu giúp
những người nghèo. Đến cửa phòng hội, tôi thấy một người đang hấp hối. Tôi đưa người
ấy về nhà, sau đó người ấy chết, chết vì đói. Đang lúc đó bên trong phòng hội, hàng trăm
người đang hăng hái bàn luận về nạn đói và về vấn đề lương thực : làm thế nào để có
lương thực, để có cái này, để có cái kia… Đang lúc họ vạch ra kế hoạch cho cả 15 năm,
thì người này phải chết vì đói". Mẹ nói tiếp : "Tôi không bao giờ nhìn những đám đông
như là trách nhiệm của tôi. Tôi chỉ nhìn đến những cá nhân, bởi vì mỗi lần tôi chỉ yêu
thương được một người, mỗi lần tôi chỉ nuôi được một người. Tôi đã đưa một người về
nhà, nhưng nếu tôi không đưa một người ấy về nhà thì tôi đã không đưa 42.000 người về
nhà. Toàn thể công việc của tôi chỉ là một giọt nước trong đại dương. Nhưng nếu tôi
không góp một giọt nước ấy thì đại dương sẽ thiếu đi một giọt".
       6. Một chuyện khác
       Một tu sĩ kia vào một ngôi làng. Ông sắp sửa ngả lưng xuống một gốc cây để ngủ
qua đêm thì một người dân làng đến nói :
       - Xin ngài cho tôi viên ngọc quý ấy đi.
       - Viên ngọc nào ?
       - Đêm qua tôi mơ nghe thấy một tiếng nói bảo tôi rằng nếu tôi đi ra ngoài rìa làng
thì sẽ gặp một tu sĩ và tu sĩ ấy sẽ cho tôi một viên ngọc.
       Vị tu sĩ lục lọi trong túi xách, lấy ra một vật gì đó, hỏi :
       - Có phải là cái này không ? Nếu phải thì ông hãy cầm lấy.
       Người dân làng sung sướng vô cùng vì đó quả thật là một viên ngọc lớn hơn mọi
viên ngọc mà ông đã từng thấy. Đêm đó ông không ngủ được. Sáng hôm sau ông trở lại
chỗ cũ nói với vị tu sĩ :
       - Ngài hãy cầm lại viên ngọc của ngài đi. Thay vào đó xin ngài cho tôi một thứ quý
hơn nữa.
       - Thứ gì ?
       - Là thứ đã khiến ngài có thể đưa cho tôi một viên ngọc quý một cách dễ dàng như
thế.
       Lời bàn : Tâm hồn bên trong của người ta càng giàu thì nhu cầu bên ngoài của
người ta càng ít và người ta cũng ước muốn càng ít.
       7. Mảnh suy tư
       Sự giàu có thật được đo không phải bởi những thứ người ta thu tích, mà bởi những
thứ người ta cho đi.
       Sự giàu đáng giá nhất là giàu trong tâm hồn.
       Khi ta đóng cửa lòng mình lại là lúc ta bắt đầu chết ;
       Khi ta mở cửa lòng ra là lúc ta bắt đầu sống (FM)
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
      Chủ tế : Anh chị em thân mến, chúng ta cùng hướng lòng lên Thiên Chúa là "Cha
của người nghèo" và dâng lên Người những lời nguyện xin tha thiết của chúng ta :
1. Hội thánh luôn bênh vực những người nghèo khổ / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các vị
   mục tử / luôn quan tâm giúp đỡ những ai túng thiếu nghèo nàn.
2. Hằng năm vẫn còn biết bao người lớn cũng như trẻ em / chết đói ở nhiều nơi trên thế
   giới / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các dân tộc được phát triển / để hết thảy mọi
   người thoát được cảnh đói nghèo.
3. Đức bác ái đòi buộc người Kitô hữu phải chia sẻ tình thương và cơm áo / cho những
   người nghèo khổ bất hạnh / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các tín hữu / biết rộng rãi
   giúp đỡ những ai đói rách bần cùng.
4. Vui với người vui và khóc cùng người khóc / là bổn phận của những ai tin Chúa /
   Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết cố gắng sống theo lời
   nhắn nhủ của thánh Phaolô tông đồ.
      Chủ tế : Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã nói : Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được
Thiên Chúa xót thương. Xin cho chúng con biết hết lòng yêu thương tha nhân như chính
Chúa đã yêu thương chúng con. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
      - Trước kinh Lạy Cha : Khi chúng ta cầu nguyện "Xin Cha cho chúng con lương
thực hằng ngày", chúng ta hãy nghĩ đến những người nghèo túng và xin Chúa dùng chính
chúng ta làm những người giúp đỡ những người khốn khổ ấy.
      - Sau kinh Lạy Cha : "Lạy Cha, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, xin cho xã hội
này sớm thoát cảnh nghèo đói, xin đoái tho cho những ngày chúng con đàng sống được
bình an…"
VII. GIẢI TÁN
     Trong tuần này, chắc chắn anh chị em sẽ gặp những người nghèo, những người
bệnh… Tuy anh chị em không dư dả gì, nhưng đừng quá thờ ơ như người phú hộ bị Chúa
Giêsu chê trách trong bài Tin Mừng hôm nay.
  CHÚA NHỰT XXVII
       CHỦ ĐỀ :
ĐỨC TIN VÀ PHỤC VỤ




    "Hãy bật rễ đi"
        (Lc 17,6)
      Sợi chỉ đỏ :
      Các bài đọc hôm nay đều nói về Đức tin, mỗi bài đề cập đến đức tin dưới một khía
cạnh :
      - Bài đọc I : Tin là kiên nhẫn chờ đợi chương trình của Thiên Chúa được thực hiện.
      - Tin Mừng : Đức tin là nguồn sức mạnh giúp ta làm được những việc phi thường.
      - Bài đọc II : Tin là dựa vào sức mạnh của Chúa để hoàn thành sứ mạng Ngài giao.
      Ngoài ra, phần thứ hai của bài Tin Mừng cũng đề cập đến thái độ phục vụ khiêm
tốn như một người đầy tớ.
      Minh họa
      - Mille images 134 E
      - "Hãy bật rễ đi" (Lc 17,6)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
      Anh chị em thân mến
      Chúng ta vẫn nói rằng mình là tín hữu, nghĩa là người có đức tin. Nhưng thực ra
đức tin của chúng ta còn rất yếu, và chúng ta chưa thực sự sống đức tin của mình.
      Trong Thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy thưa với Chúa như các tông đồ xưa "Thưa
Thầy, xin ban thêm đức tin cho chúng con".
II. GỢI Ý SÁM HỐI
      - Chúng ta giao động không muốn tin nữa khi gặp phải những khó khăn trong đời
sống.
      - Chúng ta chưa thể hiện đức tin mình ra bằng một cách sống siêu nhiên phó thác
nơi Chúa quan phòng.
      - Chúng ta không khiêm tốn phục vụ mọi người như một người tôi tớ.
III. LỜI CHÚA
       1. Bài đọc I (Kb 1,2-3 ; 2,2-4)
       Ngôn sứ Kha-ba-cúc than thở với Chúa về những cảnh bất công cứ tồn tại và những
người ác cứ nhởn nhơ. Đáp lại, Thiên Chúa bảo ông hãy giữ vững lòng tin và đừng nản
lòng, vì khi đến thời của Ngài, Ngài sẽ ra tay tái lập sự công chính.
       2. Đáp ca (Tv 94)
       Tiếp nối tư tưởng của đoạn sách trên, Thánh vịnh 94 kêu gọi đừng khép kín cõi
lòng, nhưng hãy biết lắng nghe tiếng Chúa để biết được ý định của Ngài trong những lúc
gian truân thử thách.
       3. Tin Mừng (Lc 17,5-10)
       Đoạn Tin Mừng này gồm 2 giáo huấn của Chúa Giêsu : a/ Về sức mạnh của Đức
tin ; b/ Về việc phục vụ cách khiêm tốn.
       a. Đức tin : Những người trong tập thể Giáo Hội hãy cố gắng củng cố lòng tin của
mình. Nếu có lòng tin thì sẽ làm được nhiều điều phi thường.
       b. Phục vụ : Chúa Giêsu dạy muốn phục vụ, trước hết hãy khiêm tốn, khiêm tốn
đến mức tự coi mình là đầy tớ. Khi ta đã tự coi mình là đầy tớ rồi thì ta sẽ không ngại
phục vụ người khác, hơn nữa ta sẽ coi tất cả những gì ta làm cho người khác ta đều là bổn
phận.
       4. Bài đọc II (2 Tm 1,6-8.13-14)
       Thánh Phaolô kêu gọi Timôtêô đừng ngả lòng trước những khó khăn mục vụ, trái
lại hãy củng cố đức tin bằng cách khơi dậy đặc sủng của Thánh Thần mà Timôtêô đã
nhận được khi được đặt tay trao sứ mạng, và hãy dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa để
tiếp tục nhiệm vụ mình.
IV. GỢI Ý GIẢNG
      * 1. Đức tin - phục vụ
      Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, Thánh Luca ghi lại 2 điều Chúa Giêsu căn dặn
những kẻ muốn làm môn đệ Ngài.
      a. Điều thứ nhất là về đức tin : Câu chuyện khởi đầu với lời xin của các tông đồ
"Xin Thầy thêm đức tin cho chúng con". Ta hãy chú ý họ là các tông đồ chứ không phải
chỉ là môn đệ thường. Họ đã từng sống với Chúa Giêsu một thời gian dài, nghe biết bao
điều Ngài giảng dạy, thấy biết bao điều Ngài làm. Họ là thành phần ưu tú được chọn
riêng ra trong số 72 môn đệ. Thế mà họ vẫn cảm thấy mình thiếu đức tin.
      Các tông đồ mà còn cảm thấy thiếu đức tin, thì huống chi chúng ta ! Nhiều khi
chúng ta quỳ chầu trước Thánh Thể mà hình như không tin có Chúa đang ngự trong Nhà
tạm. Nhiều khi chúng ta rước lễ mà hình như không tin có Chúa đang thực sự ở trong
lòng ta. Và nhiều khi đứng trước một hoàn cảnh khó khăn, chúng ta hình như không tin
lời Chúa dạy "Can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian". Mặc dù chúng ta đã học giáo lý
nhiều, đã đọc Thánh Kinh nhiều, nhưng tại sao chúng ta không vững đức tin ? Như thế đủ
biết Đức tin không phải là kết quả của học hỏi, của kiến thức. Đức tin chính là một ơn
ban. Tại sao rất nhiều bậc thông thái không có đức tin, còn chúng ta không thông thái gì,
thế mà có đức tin. Rõ ràng vì Chúa thương chúng ta nên ban đức tin cho chúng ta. Và
chính vì đức tin là một ơn ban, cho nên chúng ta phải xin như các tông đồ ngày xưa :
"Lạy Thầy, xin ban thêm đức tin cho chúng con".
      Đức tin không phải là kết quả của học hỏi và của kiến thức. Ngược lại nhiều khi
càng học biết nhiều thì càng khó mà tin. Tại sao thế ? Thưa tại vì trong đức tin luôn có
một phần mờ tối, khi ta tin thì luôn có một phần mạo hiểm. Nếu tất cả đều sáng tỏ hết rồi
ta mới tin thì đấy không phải là đức tin. Nếu tất cả đều chắc chắn rồi ta mới dấn thân thỉ
đấy cũng không phải là một hành vi đức tin. Đức tin luôn có phần mờ tối, tin luôn đòi ta
mạo hiểm dấn thân. Nhưng nói thế không phải là chúng ta tin cách mù quáng, trái lại
chính vì chúng ta yêu. Xin lấy một thí dụ trong đời thường : ở một vùng kinh tế mới nọ,
có một thanh niên và một thiếu nữ quen nhau. Mỗi người họ đến từ một miền khác nhau.
Quen nhau một thời gian rồi họ yêu nhau. Và một hôm người thanh niên ngõ lời xin cưới
cô gái. Cô gái ưng thuận ngay. Người thanh niên mới hỏi : Em không biết gốc gác của
anh, không biết gia đình anh, em không sợ bị anh gạt hay sao mà dám giao phó cuộc đời
cho anh ? Cô gái đáp : không. Anh chàng hỏi thêm : Tại sao ? Và cô gái trả lời rất gọn :
vì em yêu anh.
      Người con gái ấy vì yêu nên đã tin người thanh niên nọ. Chúng ta cũng thế, nếu
chúng ta yêu Chúa thì chúng ta mới tin Chúa được, yêu càng nhiều thì tin càng mạnh.
Cho nên ngoài việc xin Chúa ban thêm đức tin, chúng ta cũng cần xin Chúa ban thêm
lòng yêu mến cho chúng ta.
      b. Điều thứ hai Chúa dạy trong bài Tin Mừng hôm nay là : người môn đệ Chúa phải
biết phục vụ, và phục vụ cách vô vụ lợi. Giống như một người đầy tớ, sau khi đã đi cày,
sau khi đã chăn chiên rồi về nhà còn phải dọn cơm cho chủ, đứng đó hầu hạ chủ, rồi dọn
dẹp. Xong xuôi hết thì nói "Tôi chỉ là đầy tớ vô dụng". Nhiều chuyên viên Thánh Kinh
nói rằng dịch chữ vô dụng không được đúng lắm. Ý nghĩa của nó là "Tôi chỉ là một người
đầy tớ mà thôi, không hơn không kém". Người đầy tớ thì đương nhiên phải phục vụ, phục
vụ là bổn phận của người đầy tớ. Cho nên dù có phục vụ nhiều thì cũng không có gì là
công lao để đòi chủ biết ơn.
      Khi Chúa Giêsu dùng hình ảnh người đầy tớ để làm bài học cho các môn đệ, Ngài
muốn nhắc chúng ta rằng làm môn đệ, làm tông đồ chính là làm đầy tớ. Bởi thế Đức giáo
Hoàng xưng mình là "Đầy tớ của các đầy tớ".
      Có một điểm rất sâu sắc về từ ngữ : trong Thánh Kinh, chữ "phục vụ" vừa chỉ việc
làm của một người đầy tớ đối với chủ, vừa chỉ việc làm của người tín hữu phụng thờ
Chúa. Tế lễ là phục vụ Chúa. Như thế, khi chúng ta phục vụ người ta thì cũng có nghĩa là
chúng ta đang phụng thờ Chúa. Và nếu như suốt ngày chúng ta lo phục vụ anh em thì
điều đó có nghĩa trọn ngày hôm đó của chúng ta là một Thánh lễ nối dài.
      * 2. Chiếc bình trống rỗng
      Một thầy Rabbi già đau bệnh nằm liệt giường. Các môn đệ thì thầm nói chuyện bên
cạnh ông. Họ hết lời ca tụng các nhân đức vô song của thầy.
      Một người trong bọn họ nói : "Từ thời Salomon đến nay, chưa có ai khôn ngoan
như thầy". Người khác nói : "Đức tin của thầy ngang ngửa với đức tin của tổ phụ
Abraham". Người thứ ba nói : "Chắc chắn sự kiên nhẫn của thầy không thua sự kiên nhẫn
của ông Gióp". Người thứ tư châm vào : "Về sự cầu nguyện thân mật với Chúa, chỉ có
Môsê và thầy mà thôi".
      Vị Rabbi tỏ ra bồn chồn không vui. Khi các môn đệ đã ra về hết, vợ ông mới hỏi :
      Ông có nghe họ ca tụng ông không ?
      - Có.
      - Thế tại sao ông lại tỏ ra bực dọc như thế ?
      Vị Rabbi than phiền :
      - Vì không có ai nhắc đến sự khiêm tốn của tôi ?
                                                 *
      Mong người ta ca ngợi sự khiêm tốn của mình thì chẳng còn khiêm tốn ! Cho dù
thầy Rabbi có khôn ngoan như Salomon, đức tin ngang ngửa với Abraham, kiên nhẫn
như ông Gióp và thân mật với Chúa như Môsê mà không có lòng khiêm tốn thì tất cả các
nhân đức ấy cũng chỉ đổ sông đổ biển mà thôi. Nếu người ta thực hành các nhân đức, chu
toàn các việc đạo, làm nhiều việc thiện, nhưng để tự mãn và khoe khoang công trạng thì
ngay lúc đó họ không còn thánh thiện nữa.
      Vì khiêm tốn là nền tảng của mọi nhân đức, nên hôm nay Chúa Giêsu đã dạy các
Tông đồ : "Khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói : "Chúng tôi là
những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi" (Lc 17,10). Thật vậy,
chúng ta là những đầy tớ của Thiên Chúa, chúng ta chỉ làm những gì phải làm. Cho dù là
đức Thánh Cha cũng luôn luôn nhận mình là "đầy tớ của các đầy tớ Chúa". Đã là đầy tớ
thì phải vâng lệnh chủ, làm tất cả những gì ông sai bảo mà không được kể công, cũng
không buộc ông phải nhớ ơn. Đó là chuyện hết sức bình thường, chuyện bổn phận. Có rất
nhiều bổn phận phải chu toàn như bổn phận "mến Chúa yêu người", có ai đám nhận mình
không hề thiếu sót. Cho dù họ có làm được điều gì tôn vinh Thiên Chúa hay phục vụ anh
em đồng loại, thì cũng là nhờ ơn Thiên Chúa ban cho.
      Kẻ kiêu ngạo không bao giờ cảm thấy mình cần Chúa, họ luôn tự mãn với thành
quả mình đã đạt được, luôn cho rằng thành công là do mình tạo nên. Đó là nỗi bi đát cố
hữu của những kẻ kiêu ngạo, của nhóm Pharisêu, và cũng là cám dỗ thường xuyên của
mỗi người chúng ta.
      Người khiêm tốn trái lại, luôn hãnh diện về những thiếu sót của mình, chính vì
thiếu sót nên họ càng phải cậy dựa vào Chúa nhiều hơn. Thế nên, khi được thành công thì
họ rất vui mừng cho rằng đó là món quà bất ngờ Chúa ban. Đó là lý do tại sao Chúa lại
yêu thích những con người khiêm tốn như thế.
      Nếu đã ý thức mình là thân phận nhỏ bé, là "đầy tớ vô dụng", thì cho dù khiêm tốn
bao nhiêu cũng không đủ nhưng kiêu căng một chút đã quá nhiều. Vì thế, chỉ có những ai
thấu hiểu thân phận yếu đuối của mình, mới chứa nổi Đấng mạnh mẽ vô song. Chỉ có
những kẻ xoá mình ra không mới có chỗ cho Đấng Vô Cùng. Chỉ có những chiếc bình
trống rỗng mới có thể đón nhận tràn đầy hồng ân.
                                                 *
      Lạy Chúa, có một ân huệ nào chúng con đã nhận lãnh mà không phải do Chúa
thương ban, có một điều thiện nào chúng con thực hiện mà chẳng do Chúa tác thành.
      Xin tiếp tục đổ đầy vào tâm hồn nhỏû bé, yếu đuối và bất toàn của chúng con
những điều tốt lành mà Chúa đã khởi sự cho chúng con. Amen. (TP)
      * 3. Phục vụ trong tình yêu
      Nhiều người xem Chúa như một ông chủ thuê người làm việc và con người là
những người được thuê ấy. Bởi thế, sau khi làm được một việc gì, họ nghĩ rằng Chúa
phải ban ơn cho họ, như một cách trả tiền công.
      Suy nghĩ trên hoàn toàn sai. Và rất may là suy nghĩ đó sai, bởi vì nếu Chúa thực sự
đối xử với ta như một ông chủ đối xử với người làm thì chắc chúng ta chẳng nhận được
bao nhiêu từ tay Ngài, bởi vì công lao của chúng ta chẳng có là bao.
      Qua bài Tin Mừng này, Chúa Giêsu dạy chúng ta biết rằng tương quan của Thiên
Chúa đối với loài người chúng ta là tương quan ân sủng và tình yêu, bởi vì Thiên Chúa là
Cha và chúng ta là con. Con cái làm việc theo ý Cha đâu phải để được Cha trả lương ; và
Cha ban gì cho con đâu phải vì trả nợ.
      Vả lại Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta và ban rất nhiều ơn cho chúng ta trước
khi chúng ta làm được việc gì xứng đáng với tình yêu của Ngài. Thánh Phaolô nói rằng
Thiên Chúa còn yêu thương chúng ta ngay khi chúng ta còn là những tội nhân. Vì thế tất
cả những gì chúng ta làm bây giờ chỉ là để đáp lại tình yêu của Ngài.
      Còn nữa, chúng ta tuân giữ những điều răn của Chúa không phải để được Ngài yêu
thương, nhưng chúng ta tuân giữ các điều răn Chúa bởi vì Ngài yêu thương chúng ta.
      Toàn bộ Tin Mừng của Chúa Giêsu có thể được diễn tả thế này : Chúa nhân từ kêu
gọi các môn đệ hãy phục vụ Ngài vì tình yêu chứ không phải vì bổn phận. Vì vậy, chỉ
đức tin thôi chưa đủ, còn phải có tình yêu nữa. Trong khi đức tin khiến cho mọi sự trở
thành có thể, thì tình yêu khiến cho mọi sự trở thành dễ dàng. (FM)
       4. Chuyện minh họa
       a/ Đức tin lớn lao
         Có một bà nổi tiếng đạo đức, nhân hậu và luôn bình tâm trước mọi thử thách. Một
bà khác ở cách xa ít dặm, nghe nói thì tìm đến, hi vọng học được bí quyết để sống bình
tâm và hạnh phúc. Bà hỏi :
       - Thưa bà, có phải bà có một đức tin lớn lao ?
       - Ồ không, tôi không phải là người có đức tin lớn lao, mà chỉ là người có đức tin bé
nhỏ đặt vào một Thiên Chúa lớn lao.
       b/ Tin người đáng tin
         Một bà già đứng ở ngã tư có nhiều chuyến tàu đi qua. Vì ít khi ra ngoài, nên bà
chẳng biết tàu nào về đâu. Sợ đi lạc, bà giơ vé ra hỏi một người đứng kế bên :
       - Tôi định đi Bay City, có phải đi tàu này không ?
       - Phải đó bà.
       Nhưng bà chưa an tâm. Biết đâu người ấy cũng không rành. Bà gặp người khác,
cũng hỏi :
       - Tôi định đi Bay City, có phải đi tàu này không ?
       - Phải đó bà.
       Nhưng bà vẫn chưa hết áy náy. Rồi bà gặp một người đeo phù hiệu nhân viên hoả
xa, bà hỏi :
       - Tôi định đi Bay City, có phải đi tàu này không ?
       - Phải, thưa bà.
       Thế là bà an tâm bước lên tàu. Bà đã tin người đáng tin. Đức tin là thế !
       c/ Phục vụ là hạnh phúc
       Tại văn phòng của một Cố vấn Tâm lý, một thiếu phụ vừa trẻ vừa giàu giải bày tâm
sự : "Bất cứ thứ gì tôi muốn thì chồng tôi đều cho cả. Tôi có đủ mọi "sự" nhưng trong
lòng trống vắng vô cùng. Xin bà hãy cho tôi một lời khuyên". Nhà Cố vấn tâm lý không
trả lời, nhưng bảo cô thư ký của bà kể chuyện đời cô. Cô này kể : chồng tôi đã chết, cách
nay 3 tháng con tôi cũng chết vì xe đụng. Tôi cảm thấy mất tất cả, tôi không ngủ được,
tôi không muốn ăn uống, tôi không bao giờ cười. Một hôm tôi đi làm về hơi khuya. Có
một chú mèo con cứ đi theo sau tôi. Trời lạnh. Tôi cũng tội nghiệp nó, nên tôi mở cửa
cho nó vào nhà. Tôi pha cho nó một ly sữa. Nó kêu meo meo và cọ mình vào chân tôi.
Lần đầu tiên tôi cười. Rồi tôi nghĩ : nếu việc giúp cho một chú mèo con có thể làm tôi
cười, thì việc giúp cho người nào đó chắc có thể làm tôi hạnh phúc. Thế là hôm sau tôi
nướng vài ổ bánh đem cho bà cụ hàng xóm đang bệnh. Mỗi ngày tôi cố làm vài việc gì đó
cho những người tôi gặp được vui vẻ. Và quả thực tôi đã thấy hạnh phúc. Tôi nghiệm ra
được điều này là ta sẽ không hạnh phúc khi ta chỉ chờ người khác đem lại hạnh phúc cho
mình ; ngược lại ta sẽ hạnh phúc thật khi ta làm cho người khác hạnh phúc". Nghe đến
đó, người thiếu phụ trẻ bật khóc. Cô đã có bất cứ thứ gì đồng tiền có thể mua được nhưng
cô đã đánh mất những thứ mà đồng tiền không mua nổi. Và cô quyết định noi gương cô
thư ký nọ. (Charlene Johnson).
       5. Mảnh suy tư
      Đức tin làm cho cuộc đời có ý nghĩa : vì một cuộc đời không có niềm tin cũng
giống như một đêm tối không ánh sao.
      Đức tin ban cho cuộc đời tinh thần hăng hái và niềm hy vọng : vì chúng ta cần hy
vọng cũng như cuộc sống cần lương thực. Nhưng muốn hy vọng thì phải có đức tin, và
đức tin sẽ mang đến niềm vui.
      Nhưng chúng ta đừng mong rằng đức tin sẽ soi tỏ hết mọi vấn đề, bởi vì đức tin là
trông cậy chứ không phải là sự hiển nhiên chắc chắn.
      Đức tin không phải là một sự vật mà là một mối tương quan, tương quan với Chúa.
      Người ta không nhận được đức tin trọn vẹn trong ngày rửa tội, nhưng phải nuôi lớn
đức tin hằng ngày.
      Đức tin lớn dần lên qua việc tập sống đức tin.
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
       Chủ tế : Anh chị em thân mến, đức tin là món quà vô giá Chúa ban tặng cho mỗi
người chúng ta. Với tâm tình cảm tạ tri ân Thiên Chúa là Tình yêu, chúng ta cùng dâng
lời cầu xin :
1. Đức Thánh Cha có sứ mạng củng cố đức tin của toàn thể dân thánh Chúa / Chúng ta
   hiệp lời cầu xin Chúa ân cần săn sóc giữ gìn người / để nhờ người / đức tin của mọi
   tín hữu luôn bền vững sắt son.
2. Tin là gắn bó với Chúa / là dấn thân theo Người / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các
   Kitô hữu / nhất là các Kitô hữu trẻ / dám xả thân vì Chúa và vì anh em / hầu mang sứ
   điệp yêu thương đến cho biết bao người chưa nhận biết Chúa.
3. Ngày nay / một số thanh niên đánh mất niềm tin của mình vì vốn liếng giáo lý còn quá
   ít / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các tín hữu biết tận dụng thời giờ Chúa ban / để học
   hỏi sâu rộng giáo lý của Chúa / nhờ đó đức tin của họ ngày càng trưởng thành và
   vững chắc hơn.
4. Tin còn là vâng theo thánh ý Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ
   chúng ta / biết noi gương Đức Mẹ / vâng theo thánh ý Chúa trong đời sống đức tin
   thường ngày.
       Chủ tế : Lạy Chúa, Chúa dạy chúng con phải luôn tin tưởng vào Chúa giữa muôn
vàn thử thách của cuộc đời, nhưng do bản tính yếu đuối, chúng con dễ buồn chán và thất
vọng khi gặp khó khăn. Vậy xin Chúa ban thêm lòng tin cho chúng con. Chúng con cầu
xin :
VI. TRONG THÁNH LỄ
      - Trước kinh Lạy Cha : Chúng ta không phải là đầy tớ của Chúa, mà là con của
Ngài. Vậy chúng ta hãy hân hoan trìu mến cùng dâng lên Ngài lời Kinh Lạy Cha.
VII. GIẢI TÁN
      Trong Thánh lễ hôm nay, Chúa đã nhắc chúng ta rằng Ngài là Cha của chúng ta và
tha nhân là anh em của chúng ta. Vậy trong tuần này chúng ta hãy sống với Thiên Chúa
trong tin yêu như con cái đối với Cha, và hãy phục vụ tha nhân như anh em phục vụ
nhau.
                           CHÚA NHỰT XXVIII
                                   CHỦ ĐỀ :
                           TÂM TÌNH BIẾT ƠN




                        Người cùi xứ Samaria trở lại
                      và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa
                                    (Lc 17,15)
     Sợi chỉ đỏ :
     - Bài đọc I : Lòng biết ơn của tướng Naaman người xứ Aram sau khi được khỏi
bệnh cùi.
     - Đáp ca : Ca tụng những ơn lành Thiên Chúa đã ban.
     - Tin Mừng : Lòng biết ơn của một người cùi đối với Chúa Giêsu.
     Minh họa
     - Mille images 110 D
     - Người cùi xứ Samaria trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa (Lc 17,15)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
     Anh chị em thân mến
      "Thánh lễ" còn được gọi bằng một tên khác đúng với ý nghĩa hơn, đó là "Lễ Tạ
Ơn". Mỗi khi tham dự Thánh lễ, chúng ta tạ ơn Chúa vì những ơn lành Ngài đã ban cho
chúng ta, đặc biệt các ơn Ngài ban qua Con Một của Ngài là Chúa Giêsu Kitô.
      Vậy giờ đây chúng ta hãy nhớ lại những ơn lành của Chúa để cảm tạ Ngài.
      Nhưng trước hết, chúng ta cũng ý thức rằng rất nhiều lần mình đã vô ơn với Chúa,
và thành tâm xin Ngài tha thứ cho chúng ta.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
     - Rất nhiều khi chúng ta nhận lãnh ơn Chúa ban, nhưng không biết tạ ơn Ngài.
     - Nhiều lần chúng ta tham dự Lễ Tạ Ơn, nhưng trong lòng không chút tâm tình tạ
ơn nào cả.
     - Những thánh giá trong cuộc đời cũng là những ơn lành Chúa ban. Nhưng chẳng
những chúng ta không vui lòng đón nhận, mà còn tìm cách trốn tránh.
III. LỜI CHÚA
      1. Bài đọc I (2 V 5,14-17)
      Chuyện ngôn sứ Êlisê chữa bệnh cùi cho tướng Naaman người xứ Aram :
      - Được biết bên xứ Israel có ngôn sứ Êlisa đã từng chữa trị nhiều người khỏi bệnh,
vua xứ Aram viết thư giới thiệu và đưa cho tướng Naaman đang mắc bệnh cùi đến cho
Êlisê cứu chữa.
      - Êlisê bảo Naaman xuống tắm 7 lần trong sông Giođan. Ban đầu Naaman không
chịu. Nhưng do một người hầu gái thuyết phục nên sau đó Naaman làm theo. Và ông đã
được khỏi bệnh cùi.
      - Naaman trở lại tạ ơn ngôn sứ Êlisê và tuyên dương quyền phép của Thiên Chúa.
      2. Đáp ca (Tv 97)
      Ca tụng những kỳ công của Thiên Chúa : "Hát lên mừng Chúa một bài ca mới vì
Người đã thực hiện bao kỳ công"
      3. Tin Mừng (Lc 17,11-19)
      a. Thái độ của 10 người cùi trong đoạn Tin Mừng này : biết phận mình nên khi thấy
Chúa Giêsu thì "dừng lại đàng xa" và kêu xin.
      b. Khi của Chúa Giêsu bảo họ "Hãy đi trình diện với các tư tế", Chúa Giêsu vừa thử
đức tin của họ vừa mời họ tin tuyệt đối vào Ngài :
        - Thử thách đức tin : vì Ngài không chữa bệnh ngay
        - Mời gọi đức tin : nếu họ đi là chứng tỏ họ tin Ngài chữa họ.
      c. 9 người cùi do thái không trở lại tạ ơn vì họ đã quen được ơn Chúa nên coi đó là
việc bình thường. Một người cùi xứ Samari trở lại tạ ơn vì nghĩ rằng mình không xứng
đáng được ơn, thế mà lại được.
      4. Bài đọc II (2 Tm 2,8-13)
      Mặc dù đang chịu cảnh khổ sở vì bị giam trong tù, nhưng Phaolô vẫn ca tụng Thiên
Chúa và quyết cùng chết với Chúa Giêsu để được cùng sống với Ngài.
IV. GỢI Ý GIẢNG
     * 1. Suy nghĩ về lòng biết ơn
      a. Chi tiết đánh động nhất trong bài Tin Mừng này là trong số 10 người cùi đã được
Chúa Giêsu chữa khỏi, chỉ có một người biết quay lại tạ ơn Ngài, mà người này lại là một
người Samaria ngoại đạo. Tại sao thế ?
      Thưa vì tâm lý thông thường của những kẻ "ở trong nhà" là nghĩ rằng mọi điều tốt
mà người nhà làm cho mình là đương nhiên. Còn những "kẻ ở ngoài" thì nghĩ rằng mình
chẳng có lý do nào để được những điều ấy, cho nên khi nhận được thì rất biết ơn. Câu
chuyện của bài đọc I minh chứng điều đó : Tướng Naaman không phải là người do thái
mà là một người Aram. Bởi đó khi ông được Thiên Chúa của Israel và ngôn sứ Êlisê chữa
cho khỏi cùi thì ông vô cùng biết ơn. Ông mang nhiều lễ vật đến tạ ơn Êlisê, và ông lớn
tiếng tôn vinh Thiên Chúa.
      b. Chúng ta muốn người chịu ơn ta phải tỏ lòng biết ơn ta, thế nhưng khi chịu ơn
người khác chúng ta lại ít tỏ lòng biết ơn. Điều này bộc lộ khuynh hướng ích kỷ của
chúng ta : chúng ta làm ơn là để được biết ơn. Nói cách khác, chúng ta làm vì mình chứ
không vì người khác.
      Chúa Giêsu thì ngược lại : Ngài muốn chúng ta tỏ lòng biết ơn Ngài không phải vì
Ngài mà vì ích lợi của chính chúng ta. "Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa ?"
Khi nói thế, Chúa Giêsu không nghĩ cho bản thân Ngài mà nghĩ cho những người cùi :
Ngài muốn họ có tâm tình tốt đối với Thiên Chúa, từ đó sẽ có một liên hệ tốt với Thiên
Chúa, và liên hệ tốt này lại phát sinh nhiều ơn lành khác nữa.
      c. Biết ơn Thiên Chúa là một điều rất tốt, không phải tốt cho Thiên Chúa, mà tốt
cho chính chúng ta : do bày tỏ lòng biết ơn, chúng ta sẽ ý thức hơn về tình thương của
Thiên Chúa ; do bày tỏ lòng biết ơn, chúng ta sẽ nhận thức rõ hơn về thân phận nghèo
nàn của mình ; hai ý thức ấy sẽ giúp chúng ta gắn bó với Chúa và nương tựa vào Ngài
nhiều hơn.
      d. Kẻ nào không biết cám ơn trong những việc nhỏ thì cũng không biết cám ơn
trong những việc lớn. Vì thế ta cần phải tập cám ơn trong từng việc nhỏ.
      e. Cám ơn Chúa vì những điều vừa ý mình thì rất dễ, nhưng cám ơn Chúa vì những
điều trái ý mình mới khó. Vì thế ta cần phải tập cám ơn Chúa về mọi điều xảy đến cho
mình : chuyện vui cũng như chuyện buồn, thành công cũng như thất bại, sức khoẻ cũng
như bệnh tật. Sự biết ơn về tất cả mọi điều xảy đến cho mình như thế còn phát sinh một
ích lợi nữa là khiến ta biết nhìn đời mình một cách toàn diện, thấy cả hiện tại và quá khứ,
từ đó ta sẽ nhận ra rằng đời mình được dẫn dắt bởi bàn tay yêu thương kỳ diệu của Chúa
như thế nào. Thực vậy, khi nhìn lại quá khứ, ta sẽ thấy rằng những điều làm ta thích và
những điều làm ta khổ không tách rời nhau, nhưng liên kết với nhau, đan xen nhau và đều
góp phần dẫn ta đến cái hiện tại tốt đẹp ngày nay, từ đó ta có thể nói như Thánh nữ
Têrêxa Hài Đồng "Tất cả đều là hồng ân".
      * 2. Suy nghĩ về 9 người cùi vô ơn
      Chín người cùi do thái không cảm thấy tâm tình biết ơn có lẽ vì trước đó họ chỉ
thấy tình trạng khốn khổ của họ chỉ là ngoài da, và sau đó họ cũng coi tình trạng được
khỏi của họ chỉ là ngoài da. Nói cách khác họ chẳng thấy gì khác ngoài một chứng bệnh
da liễu : Họ bị da liễu, Chúa Giêsu chữa họ khỏi da liễu, thế là xong. Họ trở về với nếp
sống cũ, với những thói quen cũ, những tật xấu cũ, những suy nghĩ cũ… Chẳng có gì
thay đổi trừ ra một làn da hết bệnh.
      Còn người cùi xứ Samaria, cũng như Naaman xứ Aram đã ý thức thân phận mình
khốn khổ sâu xa như thế nào : đau đớn phần xác, mặc cảm tâm lý, tủi nhục tinh thần,
cuộc đời như đã bị bỏ đi. Bởi vậy sau đó, cùng với sự khỏi bệnh ngoài da, họ còn được
cứu chữa về tâm lý, tinh thần và đạo đức nữa. Họ trở thành những con người mới hẳn.
        * 3. Suy nghĩ từ chuyện ông Naaman
        a. Chuyện tướng Naaman mắc bệnh cùi rồi được chữa khỏi cho ta thấy từ đau khổ
người ta có thể rút ra nhiều sự lành như thế nào.
        - Naaman là một con người có nhiều quyền hành và thế lực vì ông là tướng chỉ huy
quân đội nước Aram. Ông rất tự tin vào chính mình, chẳng cần gì đến Thiên Chúa.
        - Thế rồi chứng bệnh cùi khủng khiếp đã làm ông mất tất cả, đầy ông từ chóp đỉnh
xuống vực sâu của xã hội. Ông biết mình khốn khổ, ông cần ai đó cứu ông  Ông trở
thành khiêm tốn hơn.
        - Nhờ có người mách bảo, Naaman tìm đến với ngôn sứ Êlisê với hy vọng vị này
chỉ nói một lời hay làm một việc gì đó thôi thì ông sẽ khỏi bệnh ngay. Nhưng Êlisê bảo
ông đi tắm trong dòng sông Giođan nhỏ bé và phải tắm đến 7 lần. Ban đầu ông không
chịu, nhưng sau đó ông chấp nhận  Ông đã biết chịu đựng và kiên nhẫn.
        - Khi khỏi bệnh, Naaman ngoại đạo ấy còn khám phá một điều quan trọng hơn tất
cả, đó là có một Thiên Chúa thực sự và quyền năng.  Ông có đức tin.
        b. Cũng như Naaman trước khi bị bệnh, chúng ta ít nghĩ tới Chúa khi đời mình
đang thuận buồm xuôi gió. Chúng ta cho rằng đời mình hoàn toàn tùy thuộc vào khối óc
và đôi tay của mình.
        - Khi gian truân khốn khổ ập đến, ta chợt ý thức rằng mình quá nghèo nàn và yếu
đuối. Mắt ta được nhìn thấy mặt trái của cuộc đời, đầu ta biết cúi xuống, chân ta biết quỳ
xuống, và lòng ta biết hướng lên cao.
        - Như thế, đau khổ có rất nhiều lợi ích : nó đem ta đến gần Chúa hơn, nó khiến ta
bớt duy vật hơn, nó còn cho ta thấy những khía cạnh tốt lành ẩn giấu trong những điều
trái ý.
        * 4. Dòng suối ân tình
        Trong một chuyến bay từ Rôma về Nữu ước, Đức Tổng Giám Mục Fulton Sheen
chăm chú nhìn cô tiếp viên hàng không đang đi lại phục vụ quí khách. Thấy cử chỉ lạ của
Đức Tổng, cô tiếp viên mạnh dạn đến gần và hỏi :
        - Thưa Đức cha, có chuyện gì mà Đức Cha lại nhìn con như thế ?
        Vị Tổng Giám Mục nhoẻn miệng cười đáp :
        - Vì đôi mắt của con rất đẹp !
        - Vậy con phải làm gì để cám ơn Chúa đây ?
        - Con ạ ! Chúa đã lấy tất cả sắc đẹp của từng người phong trong trại cùi Di Linh mà
đem tặng cho con. Vậy con hãy đến đó chăm sóc cho họ mà đền đáp ơn Chúa.
        Quả thật, chỉ ít lâu sau người ta đã thấy người phụ nữ xinh đẹp này ngày đêm tận
tuỵ băng bó những vết thương lở loét cho các bệnh nhân phong, tại trại cùi Di Linh dưới
lớp áo dòng nữ tu.
                                                  *
        Phong cùi là một bệnh nan y khó trị, ai cũng ghê tởm và run sợ nếu mắc phải bệnh
này. Vào thời Chúa Giêsu nó còn khoác vào người bệnh nỗi nhục nhã trong tâm hồn, vì
người ta cho rằng họ là những người bị Thiên Chúa phạt. Những người mắc bệnh cùi bị
ruồng bỏ, bị coi là nhơ nhớp, phải sống cách ly trong một làng cùi xa mọi người, xa cả
người thân. Phải mặc áo rách, để đầu trần, lấy áo che miệng và phải hô lên rằng mình có
bệnh truyền nhiễm và nhơ nhớp để cho người lành biết mà tránh xa (x. Lv 13,1-44).
      Thế mà, trong bài Tin Mừng hôm nay kể lại chỉ một lời Chúa Giêsu phán ra thì vết
thương của thể xác và nỗi đau trong tâm hồn bao năm đè nặng bỗng tan biến hết. Căn
bệnh quái ác mà họ cứ tưởng phải gánh chịu suốt cả cuộc đời, nỗi ô nhục mà họ cứ tưởng
sẽ vĩnh viễn theo họ sang bên kia thế giới, thì nay đã được hoàn toàn tẩy xoá. Chỉ nhờ
quyền năng và lòng thương xót của Thiên Chúa mà họ như đã chết nay được hồi sinh,
niềm vui rộn rã như vỡ oà trong tim.
      Trớ trêu thay trong mười người được hưởng ơn chữa lành vô cùng lớn lao ấy, chỉ
có một người biết dâng lời tạ ơn, mà người ấy lại là người Samari ngoại đạo. Còn những
người vẫn tự hào là dân Thiên Chúa, dân riêng Chúa chọn lại sống vô ơn.
      Chúa Giêsu phải thốt lên lời quở trách : "Không phải cả mười người được sạch cả
sao ? Thế thì chín người kia đâu ? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ
có người ngoại bang này ?" (Lc 17,17-18). "Sở dĩ Chúa Giêsu xem trọng lòng biết ơn
cũng là vì ích lợi của kẻ được ơn mà thôi. Người Samari trở lại tạ ơn Thiên Chúa đã ban
cho anh ơn phần xác, thì Người lại ban thêm cho anh ơn phần hồn là củng cố niềm tin và
xác định tư cách tôn giáo của anh. Người nói : "Đứng dậy về đi ! Lòng tin của anh đã cứu
chữa anh" (Lc 17,19). Như thế, cám ơn lại là cơ hội để nhận được thêm ơn.
      Cuộc sống là một chuỗi những ân huệ nối tiếp theo nhau. Những ân huệ này đan
xen với những ân huệ khác. Có những ơn do nơi Thiên Chúa, và cũng có những ơn đến từ
con người. Vậy nếu cuộc sống là lãnh nhận thì người ta sẽ như thế nào nếu không hề biết
nói hai tiếng cám ơn, hoặc chẳng bao giờ bày tỏ tấm lòng tri ân ! Thú vật còn biết vẫy
đuôi cám ơn khi ném cho nó cục xương, còn người vô ơn khi nhận được ân huệ chỉ biết
trố mắt nhìn và câm lặng.
      Một đứa trẻ mới bập bẹ tập nói trong một gia đình có giáo dục, thì tiếng "cám ơn"
luôn nằm sẵn trên bờ môi. Một người có nhân cách thực sự là một người có lòng biết ơn.
Một người luôn thể hiện lòng biết ơn mới đích thực là con người. Lòng biết ơn là nét cao
đẹp nhất của con người. Biết ơn là nhận ra thân phận bất toàn của mình. Biết ơn là ý thức
về tình liên đới với người khác. Biết ơn là thể hiện niềm tin vào Thiên Chúa yêu thương
và quan phòng. Vì thế, lòng biết ơn chính là bông hoa rực rỡ, điểm tô cho cuộc sống con
người. Một tiếng nói "cám ơn" với tất cả chân thành, một cử chỉ biết ơn sâu xa sẽ làm cho
chúng ta nên người hơn, và thể hiện niềm tin sâu sắc hơn.
      Cả cuộc sống của Chúa Giêsu là một "bài ca tạ ơn". Người tạ ơn Cha trước khi cho
Ladarô sống lại, trước khi làm phép lạ hoá bánh và cá ra nhiều, trước khi lập phép Thánh
thể. Người không chỉ là mẫu mực về lòng biết ơn mà còn dạy chúng ta thể hiện lòng biết
ơn ấy : "Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy". Kể từ đó, mỗi thánh lễ mà Giáo
Hội cử hành được gọi là Thánh lễ Tạ ơn.
      Thánh Phaolô luôn dâng lời tạ ơn lên Chúa : "Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi
vì anh em, về ân huệ Người đã ban cho anh em nơi Đức Kitô" (1 Cr 1,4). Ngài cám ơn tất
cả những ai giúp ngài trong công việc mục vụ : "Quà anh em tặng cho tôi đó, chúng khác
nào hương thơm, lễ vật đẹp lòng Thiên Chúa và được Người chấp nhận" (Pl 4,10). Như
vậy, câu ngạn ngữ Anh nói rất chí lý : "Cho người có lòng biết ơn chính là cho vay".
                                                *
       Lạy Chúa, suốt cuộc đời chúng con ngụp lặn trong đại dương ân huệ của Chúa, suốt
đời chúng con được tắm mát trong dòng suối ân tình của anh em.
       Xin cho chúng con luôn biết sống có tình nghĩa. luôn thế kiện lòng biết ơn, luôn quí
trọng những hồng ân mà Chúa đã thương ban, và những gì mà anh em đã làm cho đời
chúng con thêm tươi đẹp và hạnh phúc hơn. Amen. (TP)
       5. Chuyện minh họa
       David đang đi đường thì gặp một người ăn xin. Anh cho người ấy một số tiền rồi
tiếp tục đi, lòng rất sung sướng. Nhưng chỉ một sau, anh cảm thấy bực bội khi chợt nhớ
hồi nảy người ăn xin kia không cám ơn anh. Anh đem chuyện ấy kể cho một Rabbi nghe.
       Vị Rabbi chăm chú lắng nghe, rồi hỏi :
       - Khi anh cho tiền người ăn mày, anh cảm thấy sao ?
       - Con thấy rất vui.
       - Thế đó không phải là phần thưởng cho con rồi đó sao ?
       - Nhưng con nghĩ rằng dù sao thì người ấy phải cám ơn con mới phải.
       - Thế sao con đã không cám ơn Chúa ?
       - Tại sao phải cám ơn Chúa ?
       - Vì Chúa đã ban cho con cơ hội làm dụng cụ cho Chúa thực hiện tình thương của
Ngài cho một con người khốn khổ. (FM)
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
      Chủ tế : Anh chị em thân mến, luôn tạ ơn Chúa vì những hồng ân Người ban tặng
cho ta là một trong những bổn phận quan trọng của người Kitô hữu. Với tâm tình con
thảo, chúng ta cùng cảm tạ Chúa và dâng lời cầu xin :
1. Hội thánh không ngừng quan tâm giúp đỡ những người nghèo khổ bất hạnh trong xã
   hội / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa chúc lành cho Hội thánh / trong công việc cao
   quý này.
2. Ước mơ tha thiết của con người là được sống khỏe mạnh và hạnh phúc / nhưng trong
   thực tế / bệnh tật vẫn đem đến cho con người đau khổ và bất hạnh / Chúng ta hiệp lời
   cầu xin cho những anh chị em đang đau khổ vì bệnh tật hành hạ / được Chúa thương
   nâng đỡ ủi an.
3. Bệnh phong cùi đem lại mặc cảm lớn lao / và nỗi bất hạnh tột cùng cho các bệnh
   nhân / vì họ cảm thấy bị loại trừ ra khỏi xã hội / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho có
   nhiều nhà hảo tâm / nâng đỡ những anh chị em kém may mắn này.
4. Có một thứ bệnh phong cùi đáng sợ hơn là tội lỗi / vì nó làm hoen ố tâm hồn con
   người / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết tẩy sạch bệnh
   phong cùi thiêng liêng này bằng bí tích Giải tội.
      Chủ tế : Lạy Chúa, biết bao giờ chúng con mới tạ ơn Chúa cho cân xứng với tình
thương hải hà của Chúa. Xin cho chúng con biết cố gắng đền đáp phần nào tình thương
ấy bằng chính đời sống bác ái yêu thương và tận tụy phục vụ tha nhân. Chúng con cầu
xin
VI. TRONG THÁNH LỄ
      - Trước kinh Lạy Cha : Thiên Chúa là Cha hằng ban xuống cho chúng ta là con cái
Ngài biết bao ơn lành. Vậy bây giờ chúng ta hãy sốt sắng dâng lên Ngài lời kinh Lạy Cha
để bày tỏ lòng biết ơn chân thành của chúng ta.
      - Trước khi rước lễ : Ơn cao trọng nhất mà Thiên Chúa ban cho chúng ta, đó là ban
chính Con Một của Ngài cứu chuộc chúng ta và còn trở thành lương thực nuôi dưỡng linh
hồn chúng ta. Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian…"
VII. GIẢI TÁN
     "Tất cả đều là hồng ân". Anh chị em hãy trở về với cuộc sống thường ngày, và
đừng quên cám ơn Chúa về tất cả những gì xảy đến trong cuộc đời.
                              CHÚA NHỰT XXIX
                                      CHỦ ĐỀ :
                        CẦU NGUYỆN KIÊN TRÌ




                          "Xin ngài minh xét cho tôi"
                                       (Lc 18,3)
    Sợi chỉ đỏ :
    - Bài đọc I : Nhờ Môsê cầu nguyện mà quân do thái đã chiến thắng quân của
Amaléc.
    - Tin Mừng : Gương kiên trì nài xin của một bà góa.
    Minh họa
    - Mille images 80 D
    - "Xin ngài minh xét cho tôi" (Lc 18,3)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
     Anh chị em thân mến
     Cầu nguyện và Tin luôn gắn liền với nhau : vì chúng ta Tin nên chúng ta cầu
nguyện, và nhờ cầu nguyện nên đức tin của chúng ta được củng cố thêm. Bởi thế Chúa
Giêsu dạy các tín hữu Ngài phải cầu nguyện luôn, nghĩa là không chỉ cầu nguyện khi gặp
chuyện gì khó khăn, mà phải cầu nguyện trong mọi lúc.
     Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy xin Chúa dạy chúng ta biết cầu nguyện và giúp
chúng ta cầu nguyện luôn, để đức tin của chúng ta ngày càng thêm vững mạnh.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
     - Chúng ta thường mải mê với công việc mà lười biếng cầu nguyện.
     - Tuy chúng ta có cầu nguyện nhưng chúng ta không cầu nguyện cách kiên trì.
     - Nhiều khi chúng ta cầu nguyện mà trong lòng không mấy tin tưởng vào Chúa.
III. LỜI CHÚA
      1. Bài đọc I (Xh 17,8-13)
      Chuyện này kể về thời dân do thái đang tiến vào Đất Hứa. Họ phải giao chiến với
những dân đã định cư sẵn trong miền đất đó. Đoạn này thuật cuộc giao chiến với quân
Amaléc :
      - Môsê giao cho ông Giôsuê dẫn quân đi giao chiến. Phần ông thì ở trên núi giang
tay cầu nguyện.
      - Khi nào Môsê còn giang tay cầu nguyện thì quân Israel thắng thế ; ngược lại khi
Môsê mỏi mệt quá bỏ tay xuống thì quân Israel thua. Người ta mới lấy một tảng đá kê
cho Môsê ngồi, lại cử thêm hai người giúp Môsê nâng tay lên. Nhờ đó Môsê có thể giang
tay cầu nguyện lâu giờ, và kết quả là Israel đã toàn thắng.
      Chuyện này muốn nói rằng chiến thắng không phải do sức mạnh của quân Israel,
mà nhờ sự phù hộ của Chúa do lời cầu nguyện của Môsê.
      2. Đáp ca (Tv 120)
      Thánh vịnh này tiếp nối ý tưởng của bài đọc I : "Ơn phù trợ tôi bởi nơi nao ? Ơn
phù trợ tôi đến từ Đức Chúa là Đấng dựng nên cả đất trời"
      3. Tin Mừng (Lc 18,1-8)
      Thánh Luca cho biết rõ ý nghĩa của dụ ngôn này là dạy "các môn đệ phải cầu
nguyện luôn, không được nản chí". Dụ ngôn có hai vai :
      - bà góa : trong xã hội do thái, các bà góa chịu nhiều thiệt thòi và không ai bênh
vực. Bà góa này có lẽ bị người ta ức hiếp nhưng vì không ai bênh vực nên chỉ còn biết
chạy đến kêu cứu với thẩm phán.
      - thẩm phán : lẽ ra nhiệm vụ của ông là bênh vực những người bị ức hiếp. Nhưng
ông thẩm phán này không bênh vực bà góa vì bà chẳng có lợi gì cho ông cả. Dù vậy, nhờ
bà cứ kiên trì kêu xin nên cuối cùng ông cũng xử công bình cho bà.
      * Bài học : một người bất công như viên thẩm phán mà còn phải chịu thua lòng
kiên trì của bà góa. Huống chi Thiên Chúa tốt lành, Ngài sẽ mau chóng bênh vực kẻ kêu
xin Ngài cách kiên trì.
      Tuy nhiên, có nhiều kẻ không kiên trì nên đã mất lòng tin. Đó là ý nghĩa câu cuối
cùng : "Nhưng khi Con Người ngự đến. liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa
chăng ?".
      4. Bài đọc II (2 Tm 3,14--4,2) (Chủ đề phụ)
      Phaolô biết rằng mình sắp chấm dứt cuộc đời nên viết thư cho môn đệ mình là
Timôtêô để khuyên ông này giữ vững những gì đã học được từ Sách Thánh.
IV. GỢI Ý GIẢNG
      * 1. Vai trò của cầu nguyện
      Không ai có thể sống đời Kitô hữu tốt mà không cầu nguyện. Nhưng chúng ta phải
hiểu cầu nguyện là gì và cầu nguyện thế nào.
      Có 3 người bị kẹt trong một căn phòng tối tăm và chẳng có cửa gì cả. Họ làm thế
nào để thoát khỏi tình trạng bế tắc này ?
      - Người thứ nhất là một nhà văn. Anh không có đức tin. Anh ngồi đấy và luôn
miệng nguyền rủa.
      - Người thứ hai là một tín hữu sốt sắng. Anh đã quỳ gối cầu nguyện rất lâu, sau đó
ngồi xuống chờ phép lạ.
      - Người thứ ba cũng là một tín hữu làm nghề thợ xây, vừa đạo đức vừa thực tế. Sau
khi cầu nguyện, anh lấy từ túi đồ nghề ra một cây búa và một chiếc đục, rồi bắt đầu đục
tường. Công việc rất lâu lắc và cực nhọc. Bụi bắn vào mặt anh, vào cả mắt anh. Mồ hôi
anh nhễ nhại. Nhưng anh vẫn kiên trì đục. Thỉnh thoảng dừng lại nói "Lạy Chúa, xin cứu
giúp chúng con".
      Đang lúc đó người thứ nhất vẫn ngồi ở một góc, vừa hút thuốc vừa nguyền rủa ;
người thứ hai ở một góc khác tiếp tục cầu nguyện.
      Cuối cùng người thứ ba đã mở được một lỗ lớn trong vách tường và cả 3 người đã
thoát ra khỏi căn phòng.
      Trên đây là 3 thái độ khác nhau đối với sự cầu nguyện :
      - Người thứ nhất coi cầu nguyện là mất giờ. Vì anh không có đức tin nên thái độ
của anh cũng hợp lý thôi. Nếu bạn không tin Chúa thì cầu nguyện với Ngài sao được ?
      - Người thứ hai coi cầu nguyện là một sự thay thế cho làm việc, vì thế sau khi cầu
nguyện xong người ấy ngồi chờ Chúa giúp. Phải thành thật nhìn nhận rằng chúng ta cũng
nhiều lần cầu nguyện cách này, đặc biệt là khi chúng ta cầu nguyện cho người khác. Chỉ
là những lời nói, và những lời đó trở thành một cái cớ để ta khỏi làm việc.
      - Người thứ ba tin tưởng vào hiệu quả của cầu nguyện, hiệu quả ấy không thay thế
làm việc, mà là trợ lực cho làm việc. Cầu xin điều gì thì đồng thời cũng cố gắng làm bất
cứ việc gì có thể để đạt được điều đó. Sự cầu nguyện này khơi lên niềm hy vọng và
khuyến khích lòng can đảm. Nó cũng giúp ta cảm nhận rằng Chúa ở kề bên ta và không
bỏ mặc ta trong cảnh khó khăn.
      * 2. Cầu nguyện luôn
      Đoạn Tin Mừng hôm nay bắt đầu như sau : "Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải cầu
nguyện luôn, không được nản chí". Nhiều người chưa thấy giá trị của sự cầu nguyện liên
tục. Họ nghĩ chỉ cần cầu nguyện khi có việc cần Chúa giúp, thế là đủ. Chuyện sau đây là
câu trả lời cho những người ấy.
      Có một thành phố nhỏ kia có đầy đủ mọi cơ quan và dịch vụ cần thiết như bệnh
viện, trường học, nhà thờ, tòa án, chợ, tiệm may, tiệm ăn v.v. Chỉ thiếu một điều là không
có thợ sửa đồng hồ. Bởi vậy các đồng hồ lớn đồng hồ nhỏ của những cư dân thành phố
này dần dần cái thì hư, cái thì chạy sai. Một số người quẳng đồng hồ vào tủ. Một số khác
cố gắng tự mình lau chùi, sửa chữa rồi tiếp tục dùng tạm mặc dù những chiếc đồng hồ ấy
chạy không được chính xác lắm.
      Một ngày kia có một người thợ sửa đồng hồ đến thành phố. Mọi người rất mừng, ai
nấy đều mang đồng hồ đến nhờ anh sửa. Tuy nhiên anh nói thật : "Tôi chỉ có thể sửa
những chiếc đồng hồ nào còn chạy. Còn những chiếc nào đã ngưng chạy từ lâu thì tôi
không sửa nỗi vì chúng rỉ sét hết rồi".
      Cầu nguyện luôn cũng giống như giữ cho chiếc đồng hồ đời ta luôn luôn chạy.
      Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu bảo chúng ta phải cầu nguyện luôn, vì :
      - Sự cầu nguyện luôn soi sáng niềm hy vọng và những dự định của chúng ta.
      - Sự cầu nguyện luôn giúp ta phân biệt được điều gì là quan trọng, điều gì là tầm
thường.
      - Sự cầu nguyện luôn giúp ta khám phá ra những ước vọng chân thật, những ray rứt
lương tâm bị bóp nghẹt, những nỗi khát khao bị quên lãng.
      - Sự cầu nguyện luôn chỉ cho ta thấy những lý tưởng cao đẹp cần vươn tới.
      - Và nhất là sự cầu nguyện luôn giữ ta thường xuyên gần gũi với Chúa.
      * 3. Hai tư thế cầu nguyện
      Hồi còn bé, chúng ta được dạy chấp tay lại khi cầu nguyện. Khi tham dự Thánh lễ,
chúng ta thấy Linh mục cầu nguyện giang tay. Đó là hai tư thế cầu nguyện.
      Cầu nguyện chấp tay có nghĩa là chúng ta tạm dừng những hoạt động để chuyên
tâm nghĩ đến Chúa. Còn cầu nguyện giang tay là để tỏ ra rằng chúng ta là những người
nghèo nàn trước mặt Chúa, chúng ta làm như người ăn xin đưa hai bàn tay không ra để
xin ơn Chúa.
      Hai tư thế cầu nguyện trên đều tốt. Và ngay cả những khi đôi bàn tay hoặc đôi cánh
tay chúng ta đều không chấp lại hay giang ra, chúng ta cũng đừng bao giờ quên ý nghĩa
của hai tư thế ấy. (FM)
      * 4. Cầu thay nguyện giúp
      Một lá thư được viết nguệch ngoạc của một đứa trẻ gởi vào bưu điện, và địa chỉ tới
là Chúa. Nhân viên bưu điện lấy làm lạ liền mở ra đọc. Thư viết rằng : "Chúa thân mến,
con là Tommy, con sáu tuổi. Ba con đã chết và mẹ con phải cực khổ để nuôi sáu anh em
con. Xin Chúa cho chúng con 30O đồng nhé".
      Đọc thư xong, anh nhân viên bưu điện rất xúc động và dưa cho các bạn đồng
nghiệp xem. Họ quyết định quyên góp để giúp gia đình cậu bé. Số tiền tổng cộng là 100
đồng, và họ gởi tới địa chỉ cậu bé.
      Vài tuần sau, họ nhận được lá thư thứ hai. HọÏ cũng mở ra đọc, thư viết như sau :
"Lần tới, Chúa có thể gởi trực tiếp cho gia đình con, vì gởi qua bưu điện, họ giữ lại 200
đồng !"
                                             *
      Nghe xong câu chuyện, chúng ta phải bật cười vì sự ngây ngô của cậu bé, nhưng
liền sau đó chúng ta lại cảm thấy hổ thẹn vì thấy bóng dáng mình thấp thoáng trong hình
ảnh cậu bé : Chúng ta cầu nguyện và muốn được Chúa đáp lời tức thì theo yêu cầu chúng
ta đề ra, nếu Người chậm đáp ứng hoặc đáp ứng chưa đủ "chỉ tiêu" chúng ta đưa ra, thì
chúng ta lại khó chịu, và cũng chẳng thèm cám ơn Người.
      Tin Mừng hôm nay Chúa dạy các môn đệ : "Phải cầu nguyện luôn, không được nản
chí" (Lc 18,1). Người muốn chúng ta hãy liên lỉ cầu nguyện và cầu nguyện cách kiên trì.
Như Môsê quì giang tay suốt ngày cầu nguyện cho dân Do thái thắng trận, như bà goá
suốt bao ngày tháng cầu xin quan toà minh xét cho bà, như thánh Mônica ròng rã 20 năm
trường cầu nguyện cho người con là Augúttinô trở lại, chúng ta hãy cầu nguyện liên tục
và bền chí, không hề nhàm chán, cả khi xem ra Chúa ngoảnh mặt làm ngơ.
      Chúng ta không nên tìm kiếm hiệu quả tức thì. Chúa sẽ đáp lời chúng ta lúc nào và
cách thức nào có lợi nhất cho chúng ta, theo như thánh ý nhiệm mầu của Người. Thời
gian Chúa nhậm lời có thể sẽ lâu hơn chúng ta tưởng, cách thức Người ban ơn có thể sẽ
khác với ước nguyện của chúng ta, nhưng bao giờ cũng là lúc thích hợp nhất cho linh hồn
chúng ta, bao giờ cũng là cách hữu hiệu nhất cho hạnh phúc vĩnh cửu của mỗi người.
      Thường chúng ta lầm tưởng rằng, hơn ai hết chúng ta là người biết rõ những điều
mình cần xin. Nhưng thánh Phao lô dạy : "Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho
phải, chính Thánh Thần sẽ cầu thay nguyện giúp chúng ta theo đúng ý Thiên Chúa" (Rm
8,21-27). Vì thế, Đức Tổng Giám Mục Fulton Sheen viết : "Pytago. đã cấm môn sinh của
ông không được cầu nguyện cho chính họ vì họ không biết điều gì là lợi ích cả". Khôn
ngoan hơn, Socrates dạy môn đồ ông chỉ xin những điều tốt lành, vì lẽ Thiên Chúa biết
tường tận những gì là lợi ích. Dốt nát và yếu đuối nên chúng ta phải xin Thánh Thần soi
sáng để chúng ta làm đẹp lòng Chúa trong lúc an bình cũng như khi xao xuyến.
      Như thế, cầu nguyện không phải là việc xin ơn này ơn nọ, theo óc vụ lợi của chúng
ta, cầu nguyện không phải là việc tránh né bổn phận để Thiên Chúa làm tất cả, cầu
nguyện cũng không phải là việc liệt kê ước muốn để mong chờ Chúa thực hiện. Nhưng
cầu nguyện đích thực chính là việc thực hành Đức Tin, nâng tâm hồn lên cùng Thiên
Chúa để đối thoại với Người, van xin Người tiếp tục ban ơn để chúng ta đủ sức thực hiện
thánh ý Người. Thấu hiểu sự yếu đuối của con người nên Chúa Giêsu than thở : "Khi Con
Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng ?" (Lc 18,8). Vậy,
cầu nguyện không phải là độc thoại mà là đối thoại liên lỉ và kiên trì với Thiên Chúa
trong Đức Tin để trung thành với Chúa cho tới khi Người lại đến.
                                               *
      Lạy Chúa, chúng con là những người yếu đuối, bất toàn và bất nhẫn, không biết
phải cầu nguyện thế nào cho phải đạo.
      Xin cho chúng con biết khiêm tốn, vâng theo ơn soi sáng của Thánh Thần, để
chúng con biết sống theo Thánh ý Chúa, hầu bền đỗ trong đức Tin và trung thành theo
Chúa đến cùng. Amen. (TP)
      5. Mảnh suy tư
      a/ Cầu nguyện là dầu giữ cho ngọn đèn đức tin luôn cháy sáng.
      - Hoa trái của cầu nguyện là đức tin
      - Hoa trái của đức tin là tình yêu
      - Hoa trái của tình yêu là phục vụ
      - Và hoa trái của phục vụ là bình an.
      b/ Lời cầu nguyện của ta được Chúa đáp lời, không phải khi chúng ta có được điều
chúng ta xin, mà khi chúng ta được Chúa ban cho ý thức Chúa đang gần gũi mình.
      - Lời cầu nguyện của bệnh nhân được đáp lời, không phải khi anh khỏi bệnh, mà
khi anh cảm nhận được Chúa vẫn ở cạnh mình, nhờ đó anh ý thức rằng cơn bệnh không
phải là hình phạt của Chúa, cũng không phải là dấu Chúa đã bỏ anh.
      - Có thể sự cầu nguyện không thay đổi thế giới, nhưng nó giúp ta có thể trực diện
với thế giới.
      c/ Hồi còn nhỏ, chúng ta đã được dạy cầu nguyện bằng cách đọc kinh. Bây giờ đã
lớn, chúng ta hãy học cầu nguyện bằng cách mở rộng cõi lòng ra cho Chúa.
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
       Chủ tế : Anh chị em thân mến, trải qua bao thế hệ, Đức Kitô đã muốn cho Hội thánh,
nhiệm thể của Người, phải không ngừng tiếp tục đời sống cầu nguyện và lễ tế hy sinh mà
Người đã khởi sự khi còn sống ở trần gian. Với quyết tâm tuân giữ lệnh truyền của Chúa,
chúng ta cùng dâng lời cầu xin :
1. Ngay từ đầu / các tín hữu đã chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy / luôn sống với
   nhau trong tình huynh đệ / siêng năng tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện không
   ngừng / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho người Kitô hữu ngày nay / biết noi gương các
   tín hữu ngày xưa mà siêng năng nguyện cầu.
2. Khiêm tốn và kiên trì khi cầu nguyện / là điều mà bài Tin mừng hôm nay muốn nói với
   tất cả mọi Kitô hữu / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các tín hữu / biết khiêm tốn dâng
   lên Chúa lời cầu khẩn thiết tha của mình.
3. Hội thánh kêu mời mọi tín hữu cầu nguyện theo lối các Giờ Kinh Phụng vụ / kể cả
   những người mà luật không buộc phải cử hành Thần vụ / Chúng ta hiệp lời cầu xin
   cho mọi tín hữu biết sốt sắng tham dự các Giờ Kinh Phụng vụ / vì đây là một trong
   những phương tiện giúp chúng ta nên thánh.
4. Lời kinh tuyệt vời Chúa Giêsu đã để lại cho người Kitô hữu là kinh Lạy cha / Chúng ta
   hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết vừa đọc vừa suy niệm / và sống
   tinh thần của lời kinh quan trọng nhất / trong đời sống đức tin của mình.
       Chủ tế : Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã truyền cho chúng con : Phải cầu nguyện luôn
và không bao giờ được chán nản. Xin Chúa cho mỗi người chúng con biết triệt để thực
thi lệnh truyền của Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
     - Trước kinh Lạy Cha : Không lời cầu nguyện nào tuyệt vời bằng lời cầu nguyện
chính Chúa Giêsu đã dạy chúng ta. Vậy chúng ta hãy cùng với Ngài cầu nguyện bằng
những lời Ngài dạy.
VII. GIẢI TÁN
      Chúng ta hãy ghi nhớ lời Chúa Giêsu dạy "Hãy cầu nguyện luôn, đừng bao giờ nản
chí". Chúc anh chị em được bình an nhờ làm theo lời Chúa dạy.
            CHÚA NHỰT XXX
                  CHỦ ĐỀ :
        CHÚA ĐÓN NHẬN
LỜI CẦU NGUYỆN KHIÊM NHƯỜNG
      CỦA NGƯỜI TỘI LỖI




Người biệt phái và người thu thuế cầu nguyện
                 (Lc 18,9-14)
     Sợi chỉ đỏ :
     - Bài đọc I : Lời cầu nguyện của kẻ nghèo khổ
     - Đáp ca : Kêu gọi những người nghèo khổ hãy cậy trông vào Chúa vì Ngài sẽ
nhậm lời họ cầu xin.
     - Tin Mừng : Chúa không màng lời cầu nguyện kiêu căng của người biệt phái,
nhưng ưa thích lời cầu nguyện khiêm tốn của người thu thuế.
     Minh họa
     - Mille images 80 E
     - Người biệt phái và người thu thuế cầu nguyện (Lc 18,9-14)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
      Anh chị em thân mến
      Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu kể có hai người lên đền thờ cầu
nguyện : Chúa nhậm lời cầu nguyện của người biệt phái nhưng nhậm lời cầu nguyện của
người thu thuế.
      Hôm nay chúng ta cũng lên đền thờ cầu nguyện. Chúng ta đừng đến với Chúa với
lòng tự phụ như người biệt phái, nhưng hãy đến với Ngài với tâm tình khiêm nhường
thống hối như người thu thuế.
      Trước hết, chúng ta hãy nhìn nhận tội lỗi mình và xin Chúa thứ tha.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
      - Như người biệt phái, nhiều khi chúng ta tự hào về những việc lành mình làm
được.
      - Như người biệt phái, nhiều khi chúng ta tỏ ra khinh miệt những người yếu đuối lỡ
sa phạm tội.
      - Như người thu thuế, chúng ta hãy khiêm tốn nhìn nhận thân phận tội lỗi mình và
xin Chúa thương xót.
III. LỜI CHÚA
      1. Bài đọc I (Hc 35,12-14.16-18)
      "Chúa nhậm lời kêu xin của kẻ nghèo hèn". Đây là chủ đề chính của đoạn sách
Huấn ca này và cũng là của toàn bộ Thánh Kinh : Trong Cựu Ước, Thiên Chúa luôn bênh
vực những người nghèo hèn yếu đuối ; trong Tân Ước, Chúa Giêsu tỏ ra yêu thương đặc
biệt những người bị xã hội coi khinh.
      2. Đáp ca (Tv 33)
      Kêu gọi những người nghèo khổ hãy cậy trông vào Chúa vì Ngài sẽ nhậm lời họ
cầu xin.
      3. Tin Mừng (Lc 18,9-14)
      Hai người lên đền thờ cầu nguyện là hai hình ảnh minh họa cho hai thái độ sống :
      - Người biệt phái : anh có rất nhiều lễ vật dâng lên Chúa nhưng thiếu tình yêu. Thứ
nhất là anh không yêu người khác ("tôi không như các người khác, hay là như tên thu
thuế kia") ; thứ hai là anh cũng không yêu Chúa : anh giữ luật và làm nhiều việc lành chỉ
để chứng tỏ cho Chúa biết anh là người đàng hoàng và do đó Chúa phải yêu thương anh,
ban thưởng anh.
      - Người thu thuế : anh chẳng có lễ vật gì dâng lên Chúa mà chỉ có tình yêu. Tình
yêu của anh không nồng nàn thắm thiết mà chỉ là một tình yêu muộn màn của đứa con tội
lỗi quay về với một tấm lòng tan nát, một trái tim đang kêu gọi tình thương xót của Chúa
("Lạy Chúa xin thương xót con là kẻ có tội")
      4. Bài đọc II (2 Tm 4,6-8.16-18) (Chủ đề phụ)
      Những suy nghĩ và tâm tình của Phaolô khi đang ngồi tù và biết mình sắp chết :
      - Nhìn lại cuộc sống đã qua, Phaolô an tâm vì thấy mình giống như một vận động
viên đã kiên trì chạy hết đường đua và sắp về tới đích.
      - Nghĩ tới những người đã làm khổ mình, Phaolô xin Chúa đừng chấp tội họ. Ông
cũng cảm tạ Chúa đã ban sức mạnh cho ông vượt qua mọi gian khổ ấy.
      - Nghĩ tới cái chết, Phaolô coi đó là một lễ tế dâng lên cho Chúa.
IV. GỢI Ý GIẢNG
       * 1. Tội và thân phận tội lỗi
       Công bình mà xét thì người biệt phái ít tội hơn người thu thuế.
       Nhưng điểm đáng chú ý là người biệt phái lại nói về tội lỗi nhiều hơn người thu
thuế : hắn đã kể ra những tội tham lam, bất chính, ngoại tình v.v. Tuy nhiên tất cả đều
là… tội của người khác ! Còn người thu thuế thì trái lại, tuy anh rất nhiều tội, nhưng anh
lại không kể các tội đó ra. Điều duy nhất anh kể ra là "Con là kẻ tội lỗi. Lạy Chúa xin
thương xót con"
       Thực ra người biệt phái cũng có tội : tội tự mãn, tội kiêu căng, tội khinh miệt người
khác… Nhưng hắn không ý thức các tội đó. Hắn không nhìn nhận mình là người tội lỗi.
Hắn không biết thân phận tội lỗi của mình.
       Chúa Giêsu phê phán người biệt phái vì : a/ Hắn chỉ nhìn thấy tội ; b/ chỉ nhìn thấy
tội của người khác ; c/ hoàn toàn không thấy thân phận tội lỗi của mình ; d/ hoàn toàn
không thấy lòng thương xót của Chúa.
       Chúa Giêsu đề cao người thu thuế vì : a/ Anh không những thấy tội mà còn thấy
thân phận tội lỗi của mình ; b/ Anh còn thấy được lòng thương xót của Chúa nữa.
       Cả hai người trên đều có thể thành bài học cho chúng ta.
       Trước hết, chúng ta cũng giống người biệt phái. Chúng ta rất ý thức về tội lỗi của
người khác nhưng lại không ý thức về tội lỗi của chính mình. Chúng ta nói về tội của
người khác nhiều hơn về tội của mình. Điều này thật nguy hiểm, vì nó ngăn cản không
cho chúng ta nhìn thấy tội lỗi của mình.
       Chúng ta cũng có thể học nơi người thu thuế. Anh dạy chúng ta can đảm xưng thú
những tội lỗi của mình. Anh chỉ cho chúng ta thấy chúng ta là kẻ tội lỗi, kẻ mang thân
phận tội lỗi.
       Nhiều người đến tòa cáo giải với một bảng liệt kê các tội đã phạm. Hầu hết các tội
trong bảng liệt kê ấy đều không khác nhau mấy từ lần xưng tội này đến lần xưng tội khác.
Xưng xong rồi ra về và mọi sự đều trở lại y như cũ. Việc xưng tội không giúp chúng ta
cải thiện con người bao nhiêu. Tại sao ? Vì chúng ta quá chú ý đến các thứ tội mà không
chú ý bao nhiêu đến thân phận tội lỗi của mình.
       Tội không chỉ là những việc làm xấu, mà chủ yếu là tình trạng xấu ta đang sống. Vì
thế điều cần thiết hơn không phải chỉ là xin Chúa tha tội cho mình, mà là xin Chúa
thương xót cứu vớt mình khỏi tình trạng xấu ấy.
       "Một người tội lỗi ý thức thân phận tội lỗi của mình còn tốt hơn một vị thánh ý thức
mình là thánh" (Yiddish).
       * 2. Một tấm lòng tan nát khiêm cung
       Trong xã hội do thái, ai cũng coi những người thu thuế là những kẻ tội lỗi. Trong
dụ ngôn này chính Chúa Giêsu cũng coi như thế, và chính người thu thuế cũng tự coi như
thế.
       Nhưng người thu thuế này đã lên đền thờ cầu nguyện, nghĩa là anh có thiện chí, anh
muốn từ bỏ tội lỗi, anh muốn được tha.
       Tuy nhiên khi xét lại quãng đời tội lỗi đã qua, anh biết rằng anh không thể nào
được tha : theo luật, một người lỗi đức công bình nếu muốn được tha thì phải trả hết tiền,
còn bồi thường thêm 1/5 nữa. Anh làm sao nhớ hết những kẻ mà anh làm hại, có nhớ
cũng không có tiền để trả, huống chi lại thường thêm 1/5...
       Lòng anh tan nát. Nhưng anh không tuyệt vọng : nếu theo luật, anh không thể được
tha thì anh sẽ kêu xin đến lòng thương xót của Chúa. Thế là anh thốt lên : "Lạy Chúa, xin
thương xót con là kẻ tội lỗi".
       Điểm đáng ta chú ý là anh thu thuế này đã trích những tiếng đầu của Thánh vịnh 50
("Lạy Chúa xin xót thương con theo lòng nhân hậu Chúa"). Mà trong Thánh vịnh này
cũng có câu "Chúa gần gũi những tấm lòng tan nát khiêm cung". Thiên Chúa đúng là như
thế. Người thu thuế đã kêu đến chính nơi phải kêu, chạm tới chính chỗ phải chạm. Vì vậy
Chúa đã thương xót anh, tha thứ tất cả cho anh, như lời Chúa Giêsu nói : "Ta nói cho các
ông biết : người này khi trở về thì đã nên công chính rồi".
       * 3. Lòng trí hướng về ai ?
       Người biệt phái và người thu thuế đều lên đền thờ và đều cầu nguyện. Nhưng lòng
trí của mỗi người hướng đến những hướng khác nhau.
       Lòng trí của người biệt phái hướng về ai ?
       - Trước hết là hướng về người khác : "Lạy Chúa, con không như bao kẻ khác, tham
lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia"
       - Đồng thời lúc đó cũng hướng về bản thân mình : "Con ăn chay mỗi tuần hai lần,
con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con"
       - Nơi quan trọng nhất phải hướng về là Thiên Chúa thì hắn lại bỏ qua !
       Còn lòng trí người thu thuế thì hướng thẳng về Thiên Chúa : "Lạy Thiên Chúa xin
thương xót con là kẻ tội lỗi".
       Chúng ta dễ phạm lại sai lầm của người biệt phái : khi cầu nguyện, lòng trí chúng ta
hướng về những nhu cầu ích kỷ của bản thân và than phiền về những điều khó chịu người
khác gây cho mình.
       Hãy học cầu nguyện như người thu thuế là hướng về Chúa. Có nghĩ về mình là để ý
thức thân phận tội lỗi của mình để rồi càng hướng về Chúa nhiều hơn.
       * 4. Ai là người công chính ?
       Ngày kia, Khổng tử dẫn học trò từ nước Lỗ sang nước Tề. Trong đám học trò có
Nhan Hồi và Tử Lộ là hai môn sinh được Khổng Tử sủng ái nhất. Thời Đông Chu, loạn
lạc khắp nơi khiến dân chúng lâm cảnh lầm than đói khổ. Thầy trò Khổng Tử cũng có
nhiều ngày nhịn đói cầm hơi.
       Ngày đầu tiên khi đến đất Tề, Khổng Tử và các môn sinh được một người giàu có
biếu cho một ít gạo. Khổng Tử liền phân công : Tử Lộ và một số môn sinh khác vào rừng
kiếm rau, còn Nhan Hồi đảm nhận việc nấu cơm.
       Đang khi nằm đọc sách ở nhà trên, Khổng Tử bỗng nghe tiếng động ở nhà bếp,
nhìn xuống, người bắt gặp Nhan hồi đang mở vung xới cơm cho vào tay nắm lại từng
nắm nhỏ rồi từ từ đưa vào miệng. Thấy cảnh học trò đang ăn vụng, Khổng Tử nhìn lên
trời than thở : "Người học trò tín cẩn nhất của ta lại là kẻ ăn vụng ?" Khi tử Lộ và các
môn sinh khác trở về thì nồi cơm cũng vừa chín. Khổng Tử cho tập họp tất cả lại và nói :
       - Bữa cơm đầu tiên này trên đất Tề làm cho thầy chạnh lòng nhớ đến quê hương.
Thầy nhớ đến cha mẹ, cho nên muốn xới một bát cơm để cúng cha mẹ, các con nghĩ có
nên không ? Nhưng liệu nồi cơm này có sạch chăng ?
       Nhan Hồi liền chắp tay thưa :
       - Dạ thưa Thầy, nồi cơm này không được sạch. Khi cơm vừa chín, con mở vung ra
xem thử, chẳng may một cơn gió tràn vào, bồ hóng bụi trần rơi xuống làm bẩn cả nồi
cơm, con đã nhanh tay đậy nồi cơm lại nhưng không kịp. Sau đó, con định xới lớp cơm
bẩn vất di, nhưng nghĩ rằng cơm ít mà anh em lại đông, nên con đã ăn phần cơm ấy. Thưa
Thầy, như vậy là hôm nay con đã ăn cơm rồi.
       Nghe Nhan Hồi nói xong, Khổng Tử lại ngẩng mặt lên trời mà than rằng :
       - Chao ôi ! Thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành
mà vẫn không hiểu được đúng sự thật. Suýt nữa Khổng Tử này đã trở thành kẻ hồ đồ !
                                                *
       Cho dù là bậc hiền triết như đức Khổng Tử thế mà suýt nữa đã trở thành kẻ hồ đồ,
suýt nữa đã phê phán người học trò rất mực chân thật và khiêm tốn, sẵn sàng chịu thiệt về
phần mình để được lợi cho anh em. Đó cũng là cám do rất thường gặp nơi những người
được xem là đạo đức thánh thiện, những người đã đắc thủ được một số nhân đức nào đó,
đã làm được nhiều việc lớn lao, đã leo lên được chức vụ cao trong xã hội, đã đạt được
một số thành tích trong đạo ngoài đời. Họ dễ tự mãn và khinh rẻ người khác lắm, nếu
chẳng công khai thì cũng ngấm ngầm, lúc thì giấu được khi thì lộ ra. Chuyện ấy thường
tình lắm nên Chúa Giêsu mới nhắc nhở chúng ta qua dụ ngôn : "Người Pharisêu công
chính và người thu thuế tội lỗi".
       Người Pharisêu lên đền thờ cầu nguyện nhưng thực ra là để khoe khoang thành
tích. Ông thưa chuyện với Chúa nhưng thực ra là ông đang độc thoại một mình. Ông "tạ
ơn Chúa" nhưng thực ra là ông muốn Chúa hãy biết ơn ông.
       Quả thật, bảng liệt kê công trạng của ông không có gì sai. Những điều luật cấm ông
không dám làm, những điều luật buộc thì ông còn làm hơn mức qui định. Ông thật là con
người đúng mực, một con người hoàn hảo, không có gì để chê trách, một tín đồ trung
thành với lề luật, một mẫu gương tuyệt vời. Chỉ tiếc có một điều là ông quá tự mãn tự
kiêu nên bao việc lành phúc đức của ông theo "cái tôi" bọt bèo của mình mà trôi ra sông
ra biển hết. Cái tôi của ông quá to, đến nỗi ông chỉ nhìn thấy mình mà không thấy Chúa ;
công trạng của ông quá nhiều đến nỗi ông chỉ nhìn thấy nó là đức độ của ông chứ không
phải là do ơn Chúa ; cái tự mãn của ông quá lớn, cho nên ông thẳng thừng khinh miệt anh
em.
       Sai lầm trầm trọng của ông Pharisêu bắt đầu từ câu này : "Vì con không như bao kẻ
khác : tham lam, bất chính, ngoại tình hoặc, như tên thu thuế kia" (Lc, 8,11). Giá như
ông đừng so sánh cuộc sống của ông với người khác, mà biết đem cuộc sống của mình
đối chiếu với cuộc sống thánh thiện của Đức Kitô, thì ông sẽ nhận ra mình còn thiếu sót
biết là bao nhiêu, mình còn bất toàn biết là dường nào. Chính khi đó, ông mới cần đến
lòng nhân từ xót thương của Chúa, cần đến sự tha thứ và khoan dung của Người. Chính
lúc đó, ông mới biết cầu nguyện bằng những lời lẽ chân thành và khiêm tốn của người
thu thuế : "Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi" (Lc 18,13).
       Sai lầm căn bản của người Pharisêu còn ở chỗ ông đã không nhận ra sự công chính
là một ân huệ Chúa ban (Pl 3,9) chứ không phải tự ông mà có, tự ông tuân giữ hoàn hảo
các lề luật được. Chính khi tự mãn thiếu khiêm tốn, và nhận sự công chính ấy là của riêng
mình thì ngay lúc đó ông đã mất ơn nghĩa với Chúa và không còn công chính nữa.
       Người thu thuế nhận mình lầm rỗi, ông biết rõ tội mình vô phương cứu chữa, chẳng
dám ngước mắt nhìn lên, chỉ biết đấm ngực ăn năn và kêu xin lòng thương xót Chúa. Ông
bất lực hoàn toàn, chỉ phó thác cho lòng Chúa khoan dung. Ngay lúc đó, ông đã trở nên
công chính bên trong. Chính tâm tình ấy mà Chúa đã nhìn xuống và làm cho ông nên
công chính.
       Như thế, những kẻ cho mình là thánh thiện, là đầy đủ, thì sẽ trở về con số không ;
còn những kẻ nhận mình là không thì sẽ đủ chỗ cho Đấng Vô Cùng. Vì phàm "Ai tôn
mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên" (Lc 18,14).
                                               *
       Lạy Chúa, chúng con có là gì mà chẳng do lòng Chúa thương ban. Xin cho chúng
con biết khiêm tốn nhận mình thiếu sót lỗi lầm, để được Chúa xót thương tha thứ.
       Xin cho cuộc sống chúng con luôn biết rập theo khuôn mẫu thánh thiện của Đức Ki
tô là Đấng Công Chính tuyệt đối. Amen. (TP)
       5. Mảnh suy tư
       Nếu người biệt phái có quyền thì chắc hẳn hắn đã không cho người thu thuế vào
đền thờ.
       Nhiều người trong chúng ta cũng nghĩ rằng những kẻ tội lỗi không được đến nhà
thờ : tội lỗi mà đến nhà thờ làm chi ? Chỉ là giả hình ! Nhà thờ là nơi dành cho những
người đạo đức thánh thiện.
       Nếu như thế thì nhà thờ sẽ rất nhỏ hẹp.
       Tưởng tượng xem một tiệm sửa giày mà chỉ nhận những đôi giày còn tốt thì có còn
là tiệm sửa giày không ! Một bệnh viện mà chỉ nhận những người khoẻ mạnh thì có còn
là bệnh viện không !
       Chúng ta đến nhà thờ không phải vì chúng ta xứng đáng mà vì chúng ta cần. Chúng
ta cần được lòng thương xót Chúa chữa trị, và chúng ta cũng cần sự nâng đỡ của anh chị
em trong cộng đoàn. (FM)
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
      Chủ tế : Anh chị em thân mến, trước mặt Thiên Chúa là Đấng vô cùng thánh thiện,
tất cả chúng ta đều là kẻ có tội, cần đến lòng thương xót và sự tha thứ của Chúa. Tin
tưởng vào lòng từ bi của Chúa, chúng ta cùng dâng lời cầu xin :
1. Hội thánh luôn mời gọi con cái mình tin tưởng vào tình thương tha thứ của Chúa /
   Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi thành viên trong đại gia đình Hội thánh / biết đặt
   trọn niềm tin tưởng vào Chúa là Đấng hay thương xót và thứ tha.
2. Hiện nay / nạn kỳ thị chủng tộc / khinh dể những sắc tộc yếu kém hơn mình / thanh lọc
   sắc tộc bằng các cuộc chiến tranh diệt chủng / vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi trên thế
   giới / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho đức bác ái của Chúa Kitô / thấm nhập và tác động
   đến mọi sinh hoạt trần thế / để mọi người biết yêu thương và tôn trọng nhau hơn.
3. Tự cho mình là thánh thiện và coi thường người khác / là thái độ kiêu căng đáng ghét /
   Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các tín hữu / biết ý thức thân phận tội lỗi của mình / để
   đừng bao giờ kết án hay khinh khi anh chị em của mình.
4. Cầu nguyện trong khiêm tốn là điều mà mỗi Kitô hữu cần ghi lòng tạc dạ / Chúng ta
   hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết thân thưa cùng Chúa / Lạy
   Chúa, xin thương xót chúng con là kẻ tội lỗi.
      Chủ tế : Lạy Chúa, Chúa thương người khiêm tốn và ghét kẻ kiêu căng. Xin Chúa
cho tất cả chúng con biết noi gương Chúa Giêsu, Con Chúa là Đấng có lòng hiền hậu và
khiêm nhường. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
     - Trước kinh Lạy Cha : Tất cả chúng ta đều có tội. Hơn nữa tất cả chúng ta đều
mang thân phận yếu đuối tội lỗi. Chúng ta hãy xin Chúa là Cha tha tội cho chúng ta và
hãy hứa với Ngài là chúng ta cũng tha thứ cho anh em chúng ta.
VII. GIẢI TÁN
     Là những kẻ tội lỗi đã được Chúa thương xót thứ tha, anh chị em hãy ra về và làm
chứng cho mọi người biết lòng thương xót Chúa.
      CHÚA NHỰT XXXI
          CHỦ ĐỀ :
CHÚA CỨU VỚT NGƯỜI TỘI LỖI




         Ông Dakêu
          (Lc 19,1-10)
       Sợi chỉ đỏ :
       - Bài đọc I : "Chúa nhắm mắt làm ngơ trước tội lỗi loài người, để họ còn ăn năn hối
cải"
       - Đáp ca : "Chúa là Đấng chậm giận và giàu tình thương"
       - Tin Mừng : "Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất"
       Minh họa
       - Mille images 115 B
       - Ông Dakêu (Lc 19,1-10)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
       Anh chị em thân mến
       Bài Tin Mừng hôm nay sẽ cho ta thấy Chúa Giêsu đi tìm và cứu vớt một người tội
lỗi là ông Dakêu. Chúa cũng đi tìm và cứu vớt chúng ta nếu chúng ta mở rộng cửa lòng
cho Chúa vào.
       Chúng ta hãy mở rộng cửa lòng mình và bắt đầu Thánh lễ.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
     - Rất nhiều lần Chúa đứng trước cửa lòng chúng con và gõ cửa, nhưng chúng con
đã không mở ra.
     - Chúa biết chúng con nhiều tội lỗi và Chúa chờ chúng con sám hối để Chúa tha.
Nhưng chúng con vẫn thờ ơ.
     - Nhiều lần Chúa nhìn chúng con và lên tiếng kêu gọi chúng con như Chúa đã nhìn
và kêu gọi ông Dakêu. Nhưng chúng con không đáp lại.
III. LỜI CHÚA
       1. Bài đọc I (Kn 11,22--12,2)
       Nhìn lại lịch sử, tác giả sách Khôn ngoan khám phá được đường lối hành xử của
Thiên Chúa : Ngài đối xử rất khoan hồng đối với những người tội lỗi.
       Tác giả cũng thấy được lý do của cách hành xử ấy : "vì Chúa yêu sự sống" và
không muốn ai phải chết. Bởi thế "những ai sa ngã, Ngài sửa dạy từ từ… để họ bỏ điều
ác".
       2. Đáp ca (Tv 144)
       Ca tụng lòng nhân từ của Chúa : "Ai quỵ ngã Chúa đều nâng dậy. Kẻ bì đè nén,
Ngài cho đứng thẳng lên"
       3. Tin Mừng (Lc 19,1-10)
       Mở đầu câu chuyện, ông Dakêu được mô tả là kẻ tội lỗi : thu thuế (lại còn "đứng
đầu những người thu thuế") và lo thu tích của cải ("và là người giàu có") - Cuối câu
chuyện, ông thay đổi hẳn : "Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này" ; phân phát tài sản
cho người nghèo (là điều Chúa Giêsu thường khuyên làm. x. Lc 12,33-34 16,1-8 16,9-13
v.v.) ; đền bù những thiệt hại đã gây cho người khác.
       Có hai nhân tố tạo nên sự thay đổi đó :
         - một là những cố gắng của chính Dakêu : "tìm cách xem" mặt Chúa Giêsu, "chạy
tới phía trước", "leo lên một cây sung để xem Chúa Giêsu".
         - hai là lòng nhân từ của Chúa Giêsu : Ngài "nhìn lên" ông, Ngài gọi ông "xuống
mau đi", Ngài đưa đề nghị đến nhà ông "Hôm nay tôi phải ở lại nhà ông". Chúa Giêsu tự
giới thiệu là "Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất".
       4. Bài đọc II (2 Tx 1,11--2,2)
       Ở giáo đoàn Thêxalônica, một số tín hữu cho rằng ngày tận thế đã gần đến. Vì thế
họ đâm ra lười biếng không muốn làm việc nữa.
       Thánh Phaolô viết thư khuyên tín hữu đừng tin vào những luận điệu ấy.
IV. GỢI Ý GIẢNG
      * 1. Ông Giakêu hoán cải trở lại
      Câu chuyện được kể lại trong bài Tin Mừng hôm nay có nhiều tình tiết diễn biến
như một vở kịch sinh động. Vậy chúng ta hãy theo dõi lần lượt những diễn biến đó.
      - Khởi đầu nhân vật thứ nhất xuất hiện. Đó là Chúa Giêsu. Ngài đang đi trên lộ
trình ngang qua thành Giêricô để tiện về thành Giêrusalem. Ngài chỉ đi như vậy thôi hay
là còn có một mục đích nào khác nữa không ? Câu chót của đoạn Tin Mừng này cho thấy
Chúa không phải chỉ đi lang thang, mà có mục đích rõ ràng, đó là để "tìm cứu vớt những
gì đã hư hỏng".
      - Tới phiên nhân vật thứ hai xuất hiện, đó là ông Giakêu, một người giàu có nổi
tiếng ở thành phố Giêricô này. Ông làm giàu nhờ nghề nghiệp của ông, trưởng ban thu
thuế. Dĩ nhiên nếu chỉ có đồng lương hàng tháng thì ông không giàu như vậy được. Sở dĩ
ông giàu là vì ông đã gian lận trong việc thu thuế. Ai cũng coi ông là một kẻ tội lỗi. Phần
Giakêu dù giàu nhưng vẫn thấy thiếu thốn một cái gì đó trong tâm hồn, ông đang muốn
tìm cái đó thì hay tin có Chúa Giêsu đang đi ngang qua thành phố. Ông vội vàng chạy tới
để mong gặp được Ngài. Nhưng dân chúng thì đông, mà ông thì thấp lùn không thể nhón
gót lên mà thấy Ngài được, nên ông trèo lên một cây sung cho dễ nhìn.
      - Xin hãy chú ý nghĩa của những chi tiết này : Chúa Giêsu đang đi tìm người tội lỗi,
và người tội lỗi cũng đang đi tìm Chúa. Hai bên gặp nhau và ơn cứu rỗi được thực hiện.
Ơn Cứu rỗi là kết quả của sự găïp gỡ của 2 phía : phía Chúa và phía người tội lỗi. Nếu
Chúa không đi tìm thì chẳng ai được cứu rỗi. Nhưng dù Chúa có tìm mà người tội lỗi
không đáp lại thì cũng chẳng có ơn cứu rỗi. Phải có sự hợp tác của cả 2 phía.
      - Khi hai nhân vật ấy gặp nhau, thì ai lên tiếng trước ? Thưa là Chúa Giêsu. Ngài
nhìn lên cây sung và nói với Giakêu. Xin chú ý lần nữa, chi tiết Chúa Giêsu lên tiếng
trước cũng có ý nghĩa lắm : mặc dù ơn cứu rỗi là sự hợp tác giữa 2 phía, nhưng sáng kiến
khởi đầu là từ phía Chúa.
      - Chúng ta hãy theo dõi tiếp câu chuyện. Chúa Giêsu lên tiếng trước, nhưng Ngài
nói gì ? Chúa nói "Ông Giakêu ơi, xuống mau đi vì hôm nay tôi cần đến trọ ở nhà ông".
Lại một lần nữa xin chú ý : Chúa Giêsu quả là người tế nhị. Chúa muốn giúp ông Giakêu
nhưng lại nói là Chúa cần ông giúp đỡ. Tế nhị là ở chỗ đó, để sau đó ông Giakêu không
ngại nhận sự giúp đỡ của Chúa.
      - Bây giờ tới nhóm nhân vật thứ ba, là quần chúng. Khi họ nghe Chúa Giêsu nói là
muốn đến ở trọ nhà một tên thu thuế tội lỗi như vậy thì họ ngạc nhiên đến ngỡ ngàng :
không lẽ nào một người thánh thiện như Chúa Giêsu mà lại đến ở nhà một người tội lỗi
như ông Giakêu sao ?
       - Phần ông Giakêu thì quá mừng rỡ trước đề nghị của Chúa Giêsu. Ông tức khắc có
một quyết định là từ nay sẽ chấm dứt lỗi làm ăn tội lỗi cũ. Ông sẽ lấy phân nửa tài sản
của ông để bố thí cho những người nghèo. Còn đối với những người đã bị ông gian lận
tiền bạc thì ông sẽ đền cho họ gấp bốn. Chúng ta nên biết rằng theo luật đạo Do thái ai
phạm tội lỗi đức công bình mà muốn được tha thì tùy mức tội nặng nhẹ mà phải đền bù
với mức độ khác nhau : nhẹ thì đền trả đủ số và cộng thêm 1/5 ; nặng thì phải đền gấp
đôi. Ông Giakêu xin đền gấp bốn nghĩa là ông tự thú tội ông quá năng. Còn theo luật
Rôma thì đối với những tội trộm cắp công khai thì phải đền gấp bốn. Ông Giakêu xin đền
gấp bốn tức là ông cũng thừa nhận mình là một tên tội lỗi công khai. Cho nên quyết định
của ông vừa là khiêm nhường, vừa là công bình vừa là bác ái.
       - Nhưng khi Giakêu chịu bỏ ra phân nửa tài sản đó bố thí cho kẻ nghèo, lại sẵn sàng
đền gấp bốn cho những ai bị ông làm thiệt hại thì tính ra số tiền ông phải bỏ thật quá
nhiều. Ông làm như vậy có phải là quá đáng không ? Hay hỏi cách khác : ông có tiếc vì
phải bỏ quá nhiều như vậy không ? Thưa chắc chắn là không, vì chính ông tự nguyện làm
như thế. Vả lại cái mà ông bỏ đi so với cái mà ông nhận được, tức là ơn tha thứ, thì chẳng
thấm tháp vào đâu cả. Cho nên ông không hề tiếc. Hơn nữa, cuộc trở lại nào mà không
phải từ bỏ.
       - Chúng ta hãy dừng lại ở tư tưởng chót này : Bất cứ cuộc trở lại nào cũng đòi phải
từ bỏ. Một người từ trước tới giờ không có đạo, tin vào đủ thứ mê tín dị đoan, nay trở lại
theo đạo thì phải từ bỏ tất cả những mê tín dị đoan ấy chỉ còn tin vào một mình Chúa duy
nhất mà thôi. Một người bấy lâu nay không giữ đạo, sống bê tha tội lỗi, nay muốn ăn năn
trở lại thì cũng phải từ bỏ con đường tội lỗi cũ. Đó là những cuộc trở lại lớn. Còn những
cuộc trở lại nhỏ hơn thì cũng thế, cũng phải từ bỏ. Từ trước tới giờ, anh làm ăn bằng
những mánh khóe gian lận, nay anh muốn trở lại sống tốt thì tức nhiên anh phải bỏ những
món tiền gian lận ấy. Chứ không thể nào vừa muốn sống đàng hoàng mà vừa tiếp tục
những kiểu làm ăn gian lận cũ được. Hay từ trước tới giờ anh quen nhậu nhẹt rượu chè
say sưa, làm cho gia đình buồn khổ, làm cho phẩm cách mình bị hạ thấp, nay anh muốn
sống tử tế lại thì đương nhiên anh phải bỏ tật rượu chè say sưa ấy. Có một số người ghiền
rượu đã nói rằng : bỏ rượu thì nếu cố gắng một chút chắc sẽ bỏ được, nhưng cái khó là
như người ta nói, muốn bỏ rượu thì phải bỏ bạn luôn. Gương từ bỏ hết sức quảng đại của
ông Giakêu là câu trả lời cho thắc mắc đó : Nếu thực tình muốn sống đàng hoàng hơn, thì
phải thực sự bỏ rượu, mà nếu vì bỏ rượu mà mất bạn, thì cũng phải đành mất vậy thôi.
Bởi vì chân lý đã được nêu rõ trong bài Tin Mừng này : bất cứ cuộc trở lại nào, dù lớn dù
nhỏ, cũng đòi ta phải từ bỏ hết.
       Niềm vui sướng của ông Giakêu khi trở lại là một niềm vui rất lớn. Lớn đến nỗi
ông trở thành một con người hết sức hào phóng, quảng đại bỏ đi hơn phân nửa tài sản của
mình mà cũng không tiếc. Nếu chúng ta trở lại từ những gì xấu xa khuyết điểm cũ của ta
để sống đàng hoàng tử tế hơn, thì chắc chúng ta cũng sẽ hưởng được niềm vui sướng to
lớn như vậy trong tâm hồn. Nhưng, như Tin Mừng hôm nay dạy, bất cứ cuộc trở lại nào
cũng đòi hỏi phải từ bỏ. Vậy, trong Thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy xin Chúa ban thêm
ơn giúp chúng ta can đảm từ bỏ, để chúng ta được vui mừng trong niềm vui trở lại.
       * 2. Có một cái nhìn như thế
       Nhiều đệ tử đang theo học Thiền định dưới sự hướng dẫn của thiền sư Sengai. Một
người trong bọn họ thường hay thức dậy ban đêm, vượt tường ra phố để dạo mát cho thoả
thích.
      Một đêm kia, Sengai đi giám thị phòng ngủ, thấy một đệ tử vắng mặt và cũng khám
phá ra được chiếc ghế đẩu cao mà anh ta thường dùng để leo qua tường. Sengai dời chiếc
ghế đi chỗ khác và đứng thay vào chỗ đó. Khi anh chàng rong chơi trở về, không biết
rằng Sengai là chiếc ghế, anh ta đặt chân lên đầu thầy và nhảy xuống đất. Lúc khám phá
ra việc mình đã làm, anh ta hoảng sợ, nhưng Sengai nhẹ nhàng bảo :
      - Sáng sớm hôm nay trời lạnh lắm. Con hãy cẩn thận kẻo bị cảm đấy ?
      Từ đó, người đệ tử ấy không bao giờ bỏ ra ngoài ban đêm nữa. Anh chuyên tâm
học tập và trở thành người đệ tử gương mẫu của thầy Sengai.
                                                *
      Thiên Chúa không những tế nhị, dịu dàng, và nhân từ như thầy Sengai mà Người
còn khoan dung, tha thứ và yêu thương những con người tội lỗi.
      Ông Gia kêu là một trưởng ty thuế vụ thành Giêricô, một người giàu có vì lạm thu
bất chính. Ông bị liệt vào số những kẻ tội lội, bị khai trừ và khinh bỉ. Chúa Giêsu không
nhìn ông bằng con mắt ấy, Người ngước nhìn ông đang ngồi trên cây sung ; một cái nhìn
thân thiện, có sức cảm hoá tâm hồn ; một cái nhìn nhân từ như không thấy tội gì trong
ông. Chính cái nhìn đầy chân tình và yêu thương ấy đã khiến ông nhìn lại chính mình và
quyết tâm đổi mới.
      Người nói với ông : "Này Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà
ông !" (Lc 19,5). Hạnh phúc quá bất ngờ : Người không chỉ biết ông đang ở trên cây mà
còn biết cả tên ông. Người không chỉ muốn đến thăm mà còn xin ở lại nhà ông. Ông chỉ
có một ao ước nhỏ nhoi là được nhìn thấy Người, nhưng Người lại cho ông cả một ân huệ
lớn lao vượt quá lòng ông mong ước. Ông chỉ muốn thấy kẻ đã chữa cho anh mù Báctimê
là người thế nào, nhưng chính Đấng ấy lại chữa lành đôi mắt tâm hồn ông.
      Vâng, chính đôi mắt tâm hồn ông đã bừng sáng, để ông không chỉ thấy một con
người bình thường trước mặt, nhưng còn thấy Người chính là Đấng ban ơn cứu độ, đầy
lòng nhân từ và xót thương ; để ông không chỉ thấy tiền bạc là tất cả nhưng còn thấy cần
chia sẻ và trao ban. Ông đã quá vui mừng hứa với Chúa : "Thưa Ngài, này đây phân nửa
tài sản của tôi, tôi cho người nghèo, và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền
gấp bốn" (Lc 19,8). Và chúa chỉ chờ có thế, để nói với mọi người : "Ơn cứu độ đã đến
cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Ápraham" (Lc 19,9). Thật vậy, ở đâu
có Chúa hiện diện là có ơn cứu độ, ở đâu có ơn cứu độ là có sự tha thứ. Ông Giakêu đã
được thứ tha để được nhận lại làm con cái Ápraham, con cái của lòng tin, con cái của
Thiên Chúa.
      Và chắc chắn, không ai có thể ngăn cản ông ngồi đồng bàn với Chúa, trong bữa tiệc
hân hoan ngay sau đó. Chắc chắn, ông Gia kêu không còn giàu có như trước nữa, nhưng
ông sẽ hạnh phúc hơn nhiều. Chắc chắn thân xác ông vẫn lùn như xưa, nhưng tâm hồn
ông đã cao thượng hơn gấp bội. Những người được Chúa "tìm đến và cứu chữa" bao giờ
cũng trỗi vượt trong nhân cách và kiên vững trong lòng tin.
                                             *
      Lạy Chúa, có rất nhiều người cần chúng con nhìn họ với cái nhìn của Chúa. Có rất
nhiều người mong chúng con ghé thăm.
      Xin cho chúng con một tấm lòng khoan dung như Chúa, và một tâm hồn quảng đại
như Giakêu, để cả thế giới này trở nên con cái Ápraham, và được hưởng nhờ ơn cứu độ
của Chúa. Amen.
      * 3. Hoán cải bằng con tim
      Chắc hẳn Dakêu đã nghe người ta nói nhiều điều tốt về Chúa Giêsu. Nhưng ông
muốn chính mình gặp Ngài, lý do thứ nhất là để xem tướng mạo Ngài ra sao, và lý do thứ
hai quan trọng hơn là để biết con người của Ngài thế nào.
      Hôm đó cũng có rất đông người muốn nhìn thấy Chúa Giêsu. Họ ở cạnh Ngài, họ
bao quanh Ngài. Còn Dakêu thì không đến gần được, ông phải trèo lên một cây sung. Thế
mà Chúa Giêsu lại đặc biệt để ý tới ông. Thật sung sướng khi được người khác để ý tới.
      Tuy nhiên, để ý tới ai không hẳn chỉ là để chăm sóc hay khen ngợi người đó. Nếu
người đó là kẻ xấu thì có thể người ta để ý tới để mà dò xét hay khiển trách. Dakêu là
người xấu, nhưng Chúa Giêsu để ý tới ông không phải để khiển trách. Ngài dừng lại và
nhìn lên ông. Dakêu hiểu là Chúa Giêsu quan tâm đến ông. Được để ý tới là sung sướng,
được quan tâm lại càng sung sướng hơn.
      Chúa Giêsu còn nói với Dakêu nữa. Đặc biệt là Ngài không nói một lời nào về
những tội lỗi của ông. Thay vào đó Ngài gọi đích danh ông "Này ông Dakêu". Rồi Ngài
gọi ông xuống "Xuống mau đi". Ngài còn ngỏ ý muốn đến trọ nhà ông "Hôm nay tôi phải
ở lại nhà ông". Điều này không ai ngờ. Dakêu không ngờ, mà tất cả mọi người có mặt ở
đó cũng không thể ngờ một người đạo đức như thế mà lại đến trọ nhà một người tội lỗi
công khai. Dakêu sung sướng quá, "Ông vội vàng trèo xuống và mừng rỡ đón rước
Ngài". Ban đầu ông chỉ mong nhìn được Chúa Giêsu một cái thôi. Bây giờ ông được nhìn
Ngài mặt đối mặt và sắp được ở chung với Ngài ngay trong nhà của ông nữa.
      Dakêu đã biết chẳng những tướng mạo mà cả con người của Chúa Giêsu. Ông còn
biết được tâm hồn dạt dào yêu thương của Ngài nữa.
      Và khi nhìn thấy tâm hồn Chúa Giêsu rồi, Dakêu cũng nhìn lại tâm hồn của ông :
một tâm hồn đầy tội lỗi. Ông thấy đời mình bấy lâu nay như một sa mạc khô cằn, thế mà
hôm nay Chúa Giêsu lại đến, như một cơn mưa rào.
      Thế là Dakêu hoán cải. Cuộc hoán cải thể hiện bằng những hành động cụ thể : đền
bồi tất cả những thiệt hại đã gây ra cho người khác, và phân chia tài sản mình cho những
người nghèo. Đây không phải là hoán cải chỉ bằng ý muốn mà bằng cả con tim : Dakêu
đã biết xót xa cho những người bị ông làm thiệt hại, và biết yêu thương những người
nghèo khổ. Đây chính là sự hoán cải thật, vì con tim có hoán cải thì cuộc đời mới hoán
cải thật.
      Con tim của Dakêu hoán cải nhờ Chúa Giêsu đã để ý tới ông, quan tâm ông, đối xử
nhẹ nhàng với ông. Goethe đã viết : "Hãy đối xử với một người như người ấy là, và
người ấy sẽ xấu hơn. Hãy đối xử với người ấy như người ấy phải là, hoặc như người ấy
muốn là, và người ấy sẽ tốt hơn. Bởi vì những ước muốn trong chúng ta chính là phần tốt
nhất của con người chúng ta".
      Chúa Giêsu hiểu rằng những việc làm xấu của Dakêu không phải là toàn phần con
người của ông ; Ngài hiểu trong ông còn có phần tốt, phần muốn làm điều tốt và có khả
năng làm những điều tốt ấy. Ngài đã khơi lên chính cái phần tốt ấy.
      Cuộc hoán cải của Dakêu là hoán cải con tim, là hướng con tim về điều tốt.
      Cũng giống như Dakêu, trong con người chúng ta cũng có phần tốt mặc dù có thể
phần tốt ấy xưa nay bị những việc xấu chèn ép và chưa phát huy ra. Hãy hoán cải con tim
bằng cách để Chúa để ý đến ta, quan tâm ta, nói với ta, trọ trong tim ta và đánh động con
tim ta.
       * 4. Từ đứng nhìn đến tham dự
       Nhiều khi chúng ta xem Tivi, thấy những cảnh nghèo, cảnh khổ, cảnh tai nạn…
Chúng ta cảm động. Nhưng chỉ một thoáng thôi. Sau đó tới phần chiếu phim, chúng ta
say sưa theo dõi chuyện phim, những xúc động kia đã tan biến đâu mất. Nghĩa là chúng
ta thường là khách bàng quan, là khán giả.
       Ông Dakêu cũng thế. Hôm đó ông muốn làm khán giả. Ông trèo lên một cành cây
để nhìn xuống. Ở vị trí đó, ông có thể nhìn Chúa Giêsu và nhìn mọi người mà không bị ai
nhìn ông. Ông là một người ngoài cuộc, không cùng đám đông đi theo Chúa Giêsu. Cũng
như trước đó ông đã là một người ngoài cuộc : ông giàu có, đầy đủ, không cần đến ai,
cũng không muốn dây dưa làm chi đến đa số người khác nghèo nàn thiếu thốn.
       Nhưng điều gì đã xảy ra ? Chúa Giêsu gọi Dakêu xuống, Ngài ngỏ ý đến trọ nhà
ông. Nghĩa là Ngài kéo ông ra khỏi tư thế khán giả bàng quan để nhập cuộc và tham gia.
Và như chúng ta thấy, Dakêu đã tham gia tích cực như thế nào.
       * 5. Dakêu, tấm gương hoán cải
       Câu chuyện về ông Dakêu có nhiều chi tiết giúp chúng ta hiểu thế nào là hoán cải
thật :
       - Ông tích cực đi tìm Chúa : "Ông chạy tới phía trước, leo lên một cây sung".
       - Khi nghe tiếng Chúa gọi, ông đã nhanh chóng và vui mừng đáp lại : "Ông vội
vàng tụt xuống"
       - Ông còn "vui mừng đón rước Ngài về nhà".
       - Ông nhìn nhận tội lỗi của mình và còn thứ nhận trước mặt mọi người.
       - Ông đền bù những thiệt hại mình gây cho kẻ khác
       - Hơn nữa, Ông còn lấy tài sản bố thí cho người nghèo.
       Hoán cải thật là từ bỏ những tội lỗi, quảng đại đáp lại tiếng Chúa và tổ chức lại đời
sống mới.
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
     Chủ tế : Anh chị em thân mến, Chúa là Đấng từ bi nhân hậu. Người yêu thương và
muốn cứu rỗi hết thảy mọi người. Chúng ta cùng cảm tạ Chúa và dâng lời cầu xin :
1. Hội thánh là đoàn chiên của Đức Kitô / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các vị mục tử
   luôn noi gương Người / mà đối xử nhân từ với các con chiên lạc đã thật lòng sám hối
   ăn năn.
2. Ông Dakêu tìm cách để xem cho biết Chúa Giêsu là ai / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho
   những ai đang đi tìm Chúa / đều được Người chỉ lối đưa đường / trong cuộc hành
   trình tìm về nguồn chân thiện mỹ.
3. Trong đời sống thường ngày / lúc nào cũng có những người bị đồng loại của mình
   khinh dể / cô lập / và đối xử tệ bạc / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những ai là nạn
   nhân của áp bức bất công / được Chúa thương nâng đỡ ủi an.
4. Ý thức thân phận tội lỗi của mình / và quyết tâm đổi mới đời sống nên hoàn thiện hơn /
   là điều mà mọi Kitô hữu cần quan tâm thực hiện / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng
   đoàn giáo xứ chúng ta hiểu được điều đó / và cố gắng thực hiện trong đời sống đức tin
   thường ngày.
       Chủ tế : Lạy Chúa, không ai trong chúng con là hoàn toàn trước mặt Chúa. Vậy xin
Chúa ban cho chúng con biết noi gương Chúa mà có một cái nhìn khoan dung đối với lỗi
lầm của anh chị em mình. Chúng con cầu xin :
VI. TRONG THÁNH LỄ
      - Trước kinh Lạy Cha : Chúng ta hãy đọc kinh Lạy Cha trong tâm tình của ông
Dakêu, xin Thiên Chúa là Cha tha thứ những tội lỗi của chúng ta và giúp chúng ta hoán
cải thật lòng.
VII. GIẢI TÁN
     Anh chị em đã thấy ông Dakêu sau khi hoán cải đã rất rộng rãi đem tài sản mình
phân chia cho người nghèo. Anh chị em cũng hãy cố gắng noi theo gương chia xẻ ấy.
Bài đọc thêm
                              CHÚA NHỰT XXXII
                                      CHỦ ĐỀ :
                          CUỘC SỐNG ĐỜI SAU




                                 Kẻ chết sống lại
                                     (Lc 20,27-38)
     Sợi chỉ đỏ :
     - Bài đọc I : Chuyện một bà mẹ và 7 đứa con tử đạo. Họ dám chết bởi vì họ tin
tưởng vào cuộc sống mai sau.
     - Tin Mừng : Chúa Giêsu tranh luận với nhóm Sađóc về vấn đề kẻ chết sống lại.
     Minh họa
     - Mille images 139 D
     - Kẻ chết sống lại (Lc 20,27-38)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
      Anh chị em thân mến
      Lời Chúa hôm nay bảo đảm có một cuộc sống đời sau. Đây quả là một niềm hy
vọng vui mừng, vì cuộc sống nơi dương thế của chúng ta sẽ không kết thúc bằng ngõ cụt,
nhưng đó là một chặng của cuộc hành trình về cõi trường sinh.
      Chúng ta hãy cầu xin Chúa giúp chúng ta sống thế nào để sẽ mãi hạnh phúc trong
cuộc sống đời sau.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
      - Chúng ta quá lo cho cuộc sống đời này mà ít lo cho cuộc sống đời sau.
      - Nhiều khi chúng ta sống buông thả như không có đời sau.
      - Cách sống của chúng ta chưa thuyết phục được người khác rằng chúng ta thực sự
tin có đời sau.
III. LỜI CHÚA
      1. Bài đọc I (2 Mcb 7,1-2.9-14)
      Chuyện kẻ về thời vua Antiochus bắt đạo. Một bà mẹ và 7 người con thà chịu chết
chứ không chịu bỏ đạo Chúa.
      Trích đoạn này chỉ ghi cái chết của 4 người con đầu. Lời họ nói với vua đều khẳng
định Chúa sẽ cho họ hưởng sự sống đời đời.
      2. Đáp ca (Tv 16)
      Đây là lời cầu nguyện của những vị tử đạo : "Con đã sống công minh chính trực,
con sẽ được trông thấy mặt Ngài. Khi thức giấc, con sẽ được thỏa tình chiêm ngưỡng
Thánh nhan"
      3. Tin Mừng (Lc 20,27-38)
      Mặc dù nhóm Sađốc không tin vào cuộc sống đời sau, nhưng qua lời lẽ của họ,
người ta thấy họ có một quan niệm hết sức vật chất về cuộc sống ấy : ở đời sau người ta
cũng cưới vợ lấy chồng sinh con và hưởng thụ tất cả những lạc thú như đời này.
      Trong câu trả lời, Chúa Giêsu vừa xác nhận có cuộc sống đời sau, vừa cho biết ý
nghĩa của cuộc sống ấy :
      - Đời sau người ta sẽ bất tử, do đó không cần lưu truyền nói giống, cho nên cũng
không cần cưới vợ lấy chồng.
      - Hạnh phúc duy nhất và cũng là quan tâm duy nhất của người sống đời sau là được
ở gần Chúa để phụng thờ Chúa, như các thiên thần vậy.
      4. Bài đọc II (2 Tx 2,16--3,5) (Chủ đề phụ)
      Như đã trình bày (Chúa nhựt 31), nhiều tín hữu ở giáo đoàn Thêxalônica nghĩ rằng
sắp tận thế nên đâm ra lười biếng không làm việc và sống buông thả. Trong trích đoạn
của Chúa nhựt trước, thánh Phaolô đã vạch ra sai lầm của suy nghĩ đó.
      Trong trích đoạn hôm nay, Thánh Phaolô nói thêm : dù không biết chắc khi nào tận
thế và Chúa lại đến, nhưng các tín hữu phải sống trong niềm hy vọng và mong chờ Chúa
đến. Chính niềm hy vọng và sự mong chờ này sẽ là động lực giúp họ sống tốt.
IV. GỢI Ý GIẢNG
     * 1. Bàn về việc sống lại
     Ông Cao Bá Quát là một nhà thơ nổi tiếng trong lịch sử văn học Việt nam. Ông có
mấy câu thơ như sau :
                             "Ba vạn sáu ngàn ngày lá mấy,
                        Cảnh phù du trông thấy những nực cười.
                            Thôi công đâu chuốc lấy sự đời
                          Tiêu khiển một vài chung lếu láo."
       Ông Cao Bá Quát nghĩ rằng đời người vắn vỏi lắm, dài nhất là 3 vạn 6 ngàn ngày,
nghĩa là 100 năm, sau đó thì ai cũng chết, mà chết là hết tất cả, cho nên còn sống bao lâu
thì hãy lo ăn chơi, hưởng thụ, uống rượu "tiêu khiển một vài chung lếu láo". Những
người không tin có đời sau, không tin có sống lại, thì cũng dễ rơi vào quan niệm sống
buông trôi hưởng thụ như 4 câu thơ trên.
       Thời Chúa Giêsu, phái Sađốc cũng không tin có sống lại. Họ dựa vào một khoản
luật của Môsê để đặt ra một câu chuyện lố bịch chế diễu Chúa Giêsu. Khoản luật đó là :
Nếu một người đàn ông có vợ nhưng chưa có con mà bị chết, thì một trong các anh em
trai của người chết ấy phải cưới lấy người vợ góa. Khi sinh ra đứa con đầu tiên thì phải
coi đứa con đó là con của người đàn ông quá cố. Mục đích của luật này là để cho người
quá cố không bị tuyệt tự, nhưng vẫn có con lưu truyền nòi giống cho mình. Phái Sađốc đã
căn cứ vào khoản luật này và đặt ra một thí dụ : gia đình kia có 7 anh em trai, người thứ
nhất lấy vợ rồi chết mà không có con, người thứ hai lấy người vợ góa đó nhưng cũng chết
không con, tới người thứ 3, thứ tư, năm, sáu bảy đều lần lượt lấy người vợ góa đó và
cũng đều chết mà không có con. Vậy khi sống lại thì người đàn bà này sẽ là vợ của ai ?
Ta thấy mục đích của phái Sađốc là mỉa mai cho rằng sống lại là việc phi lý, vì nếu có
sống lại thì chẳng lẽ người đàn bà ấy có thể là vợ chung của tập thể 7 anh em kia sao ?
       Nhưng Chúa Giêsu đã trả lời rất khôn khéo. Ngài vừa chứng minh rằng sống lại là
một điều hợp lý, vừa giải thích cho người ta hiểu tình trạng của kẻ sống lại như thế nào.
       Trước hết, để chứng minh rằng sống lại là điều hợp lý, Chúa Giêsu lập luận rằng
Thiên Chúa là Chúa của kẻ sống, chỉ có kẻ sống mới hưởng được tình thương của Chúa.
Nếu chết mà là hết thì đâu còn hưởng được tình thương của Chúa. Do đó Chúa phải cho
kẻ chết sống lại để họ có thể hưởng được tình thương Chúa mãi mãi. Lập luận này đối
với chúng ta ngày nay thì hơi lạ tai, khó hiểu. Nhưng đối với người Do thái thời đó, vốn
rất quen với quan niệm "Thiên Chúa là Chúa của kẻ sống", thì họ đều dễ hiểu. Tóm lại là
Chúa Giêsu khẳng định rằng kẻ chết sẽ được sống lại.
       Rồi Chúa Giêsu còn giải thích tình trạng của kẻ sống lại như thế nào : đó là một
cuộc sống khác hẳn cuộc sống bây giờ, không còn cưới vợ lấy chồng nữa ; cuộc sống ấy
rất thánh thiện như "các thiên thần" cuộc sống ấy rất thân mật với Chúa, kẻ lành sống lại
được coi là "Con của Chúa".
       Tóm lại, bài Tin Mừng hôm nay thuật lại một cuộc tranh luận về giáo lý giữa phái
Sađốc và Chúa Giêsu. Phái Sađốc mỉa mai việc kẻ chết sống lại, còn Chúa Giêsu thì
khẳng định tín điều ấy. Chúng ta chẳng cần đi sâu vào chi tiết cuộc tranh luận đó làm chi.
Điều cần chúng ta quan tâm hơn là hãy suy nghĩ về niềm tin của mình. Vấn đề thực tế đối
với chúng ta là chúng ta tin có sự sống lại Vậy nếu chúng ta tin có sống lại thì bây giờ
chúng ta phải sống như thế nào ?
       Hồi nảy chúng ta đã nghe lại mấy câu thơ của ông Cao bá Quát với chủ trương còn
sống bao lâu thì hãy ăn chơi, hưởng thụ cho tối đa, kẻo chết rồi sẽ không còn được hưởng
thụ nữa. Đây là quan niệm của những người không tin có sống lại. Vì quan niệm như vậy,
cho nên nếu họ có sống buông thả, chạy theo hưởng thụ thì cũng là hợp lý thôi. Thế
nhưng có những người có đạo mà cũng sống theo kiểu đó, quan tâm duy nhất của họ là
chỉ lo ăn, lo mặc, lo xài, lo mua sắm, lo chơi, lo thỏa mãn những nhu cầu vật chất. Sống
kiểu đó là mâu thuẫn với niềm tin của mình.
       Hạng người thứ hai không quá duy vật như số người vừa kể trên. Tuy họ mãi mê
kiếm tiền và rất coi trọng cuộc sống vật chất, nhưng họ vẫn không quên đời sau. Họ ít
đến nhà thờ, ít đọc kinh cầu nguyện, nhưng họ chịu khó bỏ tiền ra để xin lễ, chịu khó bỏ
tiền ra để góp phần xây sửa nhà thờ, đóng góp tiền bạc khi có những cuộc quyên góp…
Bỏ tiền ra như vậy là họ yên tâm, cho rằng mình đã có bỏ vốn để đầu tư cho đời sau. Có
phải đó là niềm tin vào sự sống lại không ? Có lẽ cũng là niềm tin, nhưng là tin lệch lạc :
hạnh phúc đời sau không phải mua được bằng tiền bạc đâu. Đời này thì có tiền mua tiên
cũng được, nhưng đời sau không phải vậy !
       Thiết nghĩ nếu chúng ta tin rằng có sống lại, thì chúng ta phải thể hiện niềm tin ấy
bằng cách sống của mình. Thể hiện thế nào ?
       - Trước hết, ta phải biết đánh giá những biến cố xảy ra ở đời này bằng cặp mắt đức
tin : người không tin thì rất sợ chết, rất sợ bệnh tật, rất sợ mất mát, rất sợ đau khổ. Họ sợ
như vậy là phải, bởi vì họ không biết có đời sau. Chỉ có mỗi đời này mà đời này lại bệnh
tật, mất mát, khổ sở và chết nữa thì không sợ sao được. Nhưng người có đạo như chúng
ta đã tin có đời sau, đã tin rằng đời này chỉ là tạm, đời sau mới vĩnh viễn, mà cũng sợ như
thế tức là mâu thuẫn với niềm tin của mình.
       - Điểm thứ hai để thể hiện niềm tin của mình vào sự sống lại là chúng ta phải biết
phân chia thời giờ của ta để quan tâm chăm lo mọi mặt :
       Dành một phần thời giờ để lo làm ăn sinh sống.
       Dành thêm một phần thời giờ khác để gần gũi với con cái, giáo dục gia đình.
       Thêm một phần thời giờ nữa để xây dựng những tương quan xã hội.
       Và chắc chắn cũng phải dành một phần thời giờ để lo việc đạo, đời sau.
       Chúng ta phải nhớ nguyên tắc "Gieo gì thì gặt nấy" : nếu chúng ta dành hết thời giờ
ở đời này để chỉ lo tiền bạc vật chất thì chúng ta chỉ gặt được tiền bạc vật chất mà thôi ;
nếu ta không dành thời giờ để xây dựng hạnh phúc gia đình thì sẽ không có gì lạ nếu gia
đình ta chẳng hạnh phúc ; nếu ta không đầu tư thờ giờ và công khó để lo cho đời sau thì
mong gì đời sau ta sẽ được hạnh phúc.
       Dưới đây là một câu ngạn ngữ phương Tây cho chúng ta suy nghĩ :
       Nếu bạn muốn hạnh phúc một ngày, hãy mua một cái áo mới
       Nếu bạn muốn hạnh phúc một tuần, hãy làm thịt một con heo.
       Nếu bạn muốn hạnh phúc một năm, hãy cưới vợ lấy chồng.
       Nếu bạn muốn hạnh phúc một đời, hãy làm người sống tử tế
       Nếu bạn muốn hạnh phúc một muôn đời, hãy làm người có đạo tốt.
       * 2. Sống lại
       Đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe đề cập đến vấn đề kẻ chết sống lại. Mỗi khi
chúng ta đọc kinh Tin Kính, chúng ta vẫn tuyên xưng "Tôi tin xác loài người ngày sau
sống lại". Chúng ta tuyên xưng như thế và chúng ta tin điều đó dễ dàng. Chứ thực ra vấn
đề này không dễ dàng cả vào thời Chúa Giêsu lẫn ở thời nay.
       Thời nay có nhiều người chỉ nghĩ đến vật chất : ngay cả Thiên Chúa, linh hồn và
đời sau họ còn không tin, huống chi là tin chuyện xác loài người chết rồi mà một ngày kia
còn sống lại được. Thời Chúa Giêsu 2000 năm trước đây cũng thế. Vấn đề kẻ chết sống
lại là một tín điều không phải do trí óc con người lý luận ra, mà do Thiên Chúa mạc khải
dần dần qua dòng thời gian. Ở thời xa xưa, khi mạc khải Chúa chưa tỏ hiện trọn vẹn,
người Do thái cũng tin như những dân ngoại : Họ tin rằng sau khi chết, phần linh hồn của
con người còn tồn tại, tồn tại trong cõi âm phủ tối tăm không ánh sáng vì thiếu hết mọi
hạnh phúc, linh hồn kẻ lành người dữ sau khi chết đều phải rời vào cõi âm phủ buồn thảm
đó. Còn phần xác thì tiêu tan ra, không hy vọng gì sống lại được. Mãi đến thời anh em
nhà Macabê khởi đầu dành độc lập cho đất nước Do thái, nghĩa là khoảng 100 năm trước
Chúa Giáng sinh, mạc khải mới cho biết xác loài người có ngày sẽ sống lại. Chính vì tin
tưởng như thế nên vào thời này, như đoạn sách thánh lúc nãy thuật lại, có 7 anh em nhà
bị bắt và được dụ dỗ bỏ đạo, 7 anh em sẵn sàng thà chết phần xác mà không bỏ đạo còn
hơn là chết luôn phần hồn vì tội chối Chúa, vì họ tin chắc rằng xác thể họ sẽ không chết
mãi, nhưng Thiên Chúa sẽ cho sống lại vinh hiển. Tuy đã có mạc khải như thế, nhưng
cho tới thời Chúa Giêsu, vẫn có người còn chưa tin theo. Đại biểu của những kẻ không
tin này là phái Sađóc. Vì không tin, nên khi nghe Chúa Giêsu giảng về kẻ chết sống lại,
họ mỉa mai chế giễu và đến với Chúa đặt ra một câu hỏi lố bịch cốt ý chọc ghẹo Chúa.
Họ lý luận : nếu như ông nói người ta sẽ sống lại, thì giả sử một nhà kia có 7 con trai, anh
cả lấy vợ rồi chết. Và căn cứ theo luật Môsê thì em kế phải cưới người vợ góa để có con
nối dõi tông đường, nhưng em kế cũng chết mà không con, rồi người thứ ba lấy, rồi cũng
chết, cứ thế cho đến hết 7 anh em. Vậy khi sống lại thì người đàn bà kia là vợ của ai ?
Khi hỏi như thế, nhóm Sađóc dĩ nhiên không cần Chúa trả lời rằng người đàn bà đó là vợ
của ai cả, nhưng muốn Chúa bị bắt bí và phải thú nhận rằng giáo lý của Ngài về việc kẻ
chết sống lại lại là bố bịch và do đó Ngài phải phủ nhận giáo lý đó để đi theo lập trường
của họ. Nhưng trong câu trả lời của Chúa Giêsu, Ngài chẳng những giải thích rõ hơn về
việc kẻ chết sống lại, mà còn trả lời thẳng về việc ai là chồng của người đàn kia. Đại khái
Ngài bảo : vấn đề kẻ chết sống lại là một điều chắc chắc có căn cứ trên sách thánh, bởi
Thiên Chúa đã phán Ngài là Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp, mà Thiên Chúa không
là Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống, cho nên các tổ phụ đó tuy đã lìa đời nhưng
vẫn là kẻ sống và xác thể họ sẽ sống lại. Ngài còn cho phái Sađóc biết thêm rằng : sau khi
sống lại người ta không còn sống theo những điều kiện của đời này, nghĩa là không còn
cưới vợ lấy chồng nữa.
      Tất cả đều hướng về Thiên Chúa là nguồn hạnh phúc thật và độc nhất, và là Đấng
thoả mãn mọi nhu cầu của con người.
      Chúng ta là con cái Chúa đang sống giữa con cái thế gian như một nhóm thiểu số,
như hạt muối trong lòng đất, như nhúm men trong thúng bột. Nhiều người sống quanh ta
không tin ở đời sau, và đa số không tin việc sống lại. Do chính cuộc sống chúng ta, chúng
ta phải làm sao chứng minh cho mọi người về niềm tin của chúng ta :
      - Tin rằng xác loài người ngày sau sống lại, chúng ta phải làm sao cho mọi người
thấy rằng ngoài những giá trị thuần túy vật chất như tiền bạc, cơm áo, tài sản… còn có
những giá trị tinh thần quý báu hơn như thà mất mát một vài tiện ích vật chất chứ không
phạm tội để bảo tồn những giá trị thiêng liêng của linh hồn ; như không khư khư nhắm
mắt chỉ lo cho đời sống vật chất đời này mà quên mất đời sau : như dám quảng đại hy
sinh chia xẻ những của cải mình đang có cho những người anh chị em túng thiếu hơn
mình…
      Một niềm tin chắc chắn và được biểu lộ qua một cuộc sống cụ thể như thế mới làm
cho những kẻ không tin không chế nhạo chúng ta và còn có sức lôi kéo họ đi theo niềm
tin của chúng ta về việc kẻ chết sống lại.
      * 3. Hợp hoan bên chúa
      Trong kho tàng chuyện cổ Tây Phương có câu chuyện Công Chúa Ngủ Trong
Rừng, như sau :
       Ngày xưa, ở vương quốc hạnh phúc, nhà vua sinh dược một công chúa xinh đẹp
tuyệt vời. Lễ rửa tội được tổ chức linh đình, có mặt các bà tiên, mỗi bà tặng công chúa
một món quà là một lời chúc tốt đẹp.
       Dù không được mời, mụ phù thuỷ ghen tức cũng bay đến, lẩm bẩm câu chúc dữ :
"Một ngày kia, cái suốt chỉ sẽ đâm vào tay công chúa và con bé sẽ phải chết !" Nói xong,
mụ bay vù qua cửa sổ. Mọi người buồn bã mất vui. May thay, vẫn còn một bà tiên tốt
bụng đến trễ. Bà nói : "Ta sẽ làm nhẹ lời nguyền rủa ấy : cô bé sẽ không chết, chỉ ngủ
một giấc rất dài cho tới khi một hoàng tử tốt lành, sẽ đến nắm tay kéo dậy và cô sẽ được
hạnh phúc mãi mãi".
       Để đề phòng, nhà vua cấm tất cả thần dân không được dùng suốt chỉ. Nhưng một
ngày kia, công chúa lên tháp canh trong lâu dài và thấy một bà lão đang khâu vá. Cô xin
bà cho khâu thử. Thế là cái suốt chỉ đâm vào tay cô, cô lăn ra chết !
       Người ta đặt xác cô giữa lâu đài, nhưng các bà tiên tốt bụng đã khiến mọi người
trong lâu đài cùng bất tỉnh cả. Một rừng cây mọc lên che phủ lâu đài. Hoa thơm cỏ lạ bốn
mùa đua nở.
       Thời gian trôi đi đã ngàn năm, cho đến khi một hoàng tử lịch lãm đi săn ngang qua
đó, khám phá ra toà lâu đài. Chàng bước vào ngỡ ngàng trước nàng công chúa xinh đẹp.
Hoàng tử đã quì gối cầm tay công chúa, và nàng liền mở mắt chỗi dậy. Thế là hoàng tử
rước công chúa về kinh thành, xin vua cha tổ chức lễ cưới linh đình.
                                                  *
       Công chúa ngủ trong rừng chính là hình ảnh của n người tín hữu an nghỉ trong ơn
nghĩa Chúa. Sau một giấc ngủ dài họ được Thái Tử Bình An là chính Chúa Giêsu cầm tay
nâng dậy, đưa vào tiệc cưới Nước Trời.
       Chúng ta tin rằng con người sinh ra là để được sống mãi. Cái chết chỉ là ngưỡng
cửa đưa vào chốn trường sinh. Một người chỉ có một cuộc sống, cuộc sống đời này sẽ
quyết định số phận cho cuộc sống đời sau. Việc thiện hôm nay sẽ bảo đảm cho hạnh phúc
ngày mai. Đúng như câu hát của nhạc sĩ Hoàng Vân : "Ngày mai, đang bắt đầu từ ngày
hôm nay".
       Phái Xa đốc, trái lại, họ không tin có sự sống đời sau, cũng chẳng tin có sự sống lại,
nên hôm nay, Chúa Giêsu muốn tiết lộ một vài hình ảnh của đời sau rằng : Đời sau khác
hẳn đời này. Người ta "không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng" vì con người "không thể
chết nữa", nên đâu cần sinh con để bảo tồn nòi giống, nhưng được "sống ngang hàng với
các thiên thần" là ca ngợi, tôn vinh và phụng thờ Thiên Chúa. Họ được thông phần vinh
quang Thiên Chúa (Lv 12,7), được dự phần vào dòng dõi của Người (1 Ga 3,2). Thánh
Phao lô viết : "Việc kẻ chất sống lại cũng vậy. Gieo xuống thì hư nát, mà chỗi dậy thì bất
diệt, gieo xuống thì hèn hạ, mà chỗi dậy thì vinh quang ; gieo xuống thì yếu đuối, mà
chỗi dậy thì mạnh mẽ ; gieo xuống là thân thể có sinh khí mà chỗi dậy là thân thể có thần
khí (1 Cr 15,42-44).
       Quả thật, con người được Thiên Chúa dựng nên để sống trường sinh, nhưng vì sự
đố kỵ của ma quỷ mà cái chết đã nhập vào thế gian. Thánh ý của Thiên Chúa không thể
mãi mãi bị ngăn chặn bởi quỷ ma, con người phải tìm lại được quyền bất tử của mình. Đó
là sự sống lại của những người Công chính. Lời than thở của thánh Augúttinô đã nói lên
nỗi khát khao của con người : "Lạy chúa Chúa đã dựng nên con hướng về Chúa, nên lòng
con luôn khắc khoải cho đến khi được nghỉ an trong Chúa".
      Chúa dựng nên con người để hưởng hạnh phúc, nhưng không chỉ là hạnh phúc tạm
bợ đời này, mà là hạnh phúc vĩnh hằng đời sau. Sống là một cuộc hành trình tiến về đời
sau, về với Đấng hằng đợi chờ và yêu thương ta mãi mãi. Đừng mải mê với những hạnh
phúc mau qua, những lạc thú bên đường mà quên cùng đích cuộc đời là phải gặp được
Chúa. Có những kẻ sống như thể mình không bao giờ phải chết, họ ung dung hưởng thụ
những thú vui trần tục. Họ đã chết ngay khi còn đang sống. Có những kẻ sống như thể chỉ
có đời này, tự điển sống của họ không có từ "đời sau". Họ đang sống mà như đã chết.
                                              *
      Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa đã cho chúng con hưởng dùng hương hoa của
cuộc sống cùng với bao niềm vui và hạnh phúc. Chúng con chỉ xin Chúa thêm một ân huệ
này là cho chúng con được về hợp hoan với Chúa đời đời. Amen. (TP)
      * 4. Nghĩ đến sự chết
      Càng lớn tuổi, chúng ta càng ý thức rằng cuộc sống này ngắn ngủi chừng nào và
mỏng dòn như thế nào. Và mặc dù không muốn, càng ngày chúng ta càng nghĩ nhiều về
sự chết.
      Việc suy nghĩ về sự chết không nên khiến chúng ta bi quan sợ hãi, trái lại nó phải
đem đến cho chúng ta những giá trị tích cực : nhờ nghĩ đến cái chết, chúng ta sẽ yêu quý
sự sống hơn ; nhờ nghĩ đến cái chết, chúng ta sẽ đón nhận từng ngày sống như một món
quà ; và khi đón nhận cuộc sống như một món quà của Chúa, chúng ta sẽ sống mà yêu
thương Chúa nhiều hơn.
      Chết chỉ là một bước đi qua. Tuy nhiên, nhiều người nghe nói thế mà không muốn
tin như thế. Thực ra, có gì khó tin lắm đâu ? Cuộc đời vốn gồm nhiều bước đi qua :
      - Khi chúng ta sinh ra là chúng ta đi qua từ cuộc sống trong bụng mẹ sang cuộc
sống bên ngoài.
      - Khi chúng ta đến trường là chúng ta đi qua từ cuộc sống ở gia đình nhỏ bé sang
cuộc sống ở một cộng đồng rộng lớn hơn.
      - Khi lập gia đình là chúng ta đi qua từ cuộc sống một mình sang cuộc sống lứa đôi.
      - Khi đến tuổi hưu dưỡng, chúng ta sẽ đi qua từ cuộc sống làm việc sang cuộc sống
nghỉ ngơi.
      Mỗi một bước đi qua đều dẫn đến một tình trạng vừa giống như chết nhưng đồng
thời cũng là một cách sống mới.
      Thì ngày chết cũng vậy : đó là một bước đi qua từ cuộc sống đời này sang cuộc
sống đời sau.
      * 5. Làm chứng cho niềm tin vào cuộc sống đời sau
      Bà mẹ và 7 người con trong bài đọc I là những người tin có sự sống đời sau, và họ
đã làm chứng cho niềm tin ấy bằng cách dám hy sinh mạng sống đời này.
      Chúng ta tuyên xưng có sự sống đời sau thì chúng ta cũng phải làm chứng cho
người khác thấy là chúng ta thực sự tin như thế. Người khác mà thấy chúng ta thực sự tin
như thế thì có thể họ mới tin theo chúng ta.
      Nhưng thế nào là chứng tỏ mình thực sự tin vào cuộc sống đời sau ?
      - Là chúng ta dám từ bỏ những thứ mà cuộc sống đời này cần.
      - Là chúng ta không quá sợ khổ và sợ chết.
      - Là trong khi còn sống, chúng ta không chỉ tìm kiếm những giá trị vật chất để bảo
đảm cho đời này, mà còn tìm kiếm cách hăng say hơn những giá trị tinh thần và đạo đức
là bảo đảm cho cuộc sống đời sau.
      * 6. Kinh nghiệm cận tử
      Mấy năm gần đây, một số bác sĩ người Đức và Mỹ đã rất chú ý đến hiện tượng mà
họ gọi là "kinh nghiệm cận tử" (near death experience) : nhiều người vì một tai nạn hay
một lý do nào đó đã ngất đi trong một thời gian khá dài. Về mặt thể lý, coi như họ đã
chết. Nhưng sau đó họ sống lại. Các bác sĩ đã phỏng vấn 1370 người ấy. Trong những
điều họ thuật lại, có những điểm mà ai cũng nhất trí, như sau :
      - Cảm nghiệm thứ nhất của những người ấy là thấy mình rời khỏi thân xác của
mình, đồng thời cảm thấy nhẹ nhàng dễ chịu sau khi rời khỏi thân xác.
      - Cảm nghiệm thứ hai là thấy mình đi trong một đường hầm rất dài. Sau khi đi hết
đường hầm thì tới một vùng ánh sáng và gặp một Đấng tỏa ra ánh sáng. Thứ ánh sáng
này sáng hơn mọi thứ ánh sáng họ đã từng thấy ở trần gian nhưng không chói mắt mà lại
rất dễ chịu, đến nỗi họ muốn được ở mãi trong ánh sáng đó và bên cạnh Đấng tỏa ánh
sáng đó.
      - Cảm nghiệm thứ ba là được Đấng sáng láng ấy cho thấy lại cuộc đời của họ,
giống như xem một cuốn phim quay tất cả những lời nói việc làm và suy nghĩ của họ từ
hồi có trí khôn cho đến lúc chết. Lúc xem lại cuốn phim cuộc đời ấy, khi thấy một việc
xấu thì tự nhiên lòng họ cảm thấy buồn và bứt rứt khó chịu, đồng thời đấng sáng láng ấy
đánh giá cho họ biết đó là một việc làm không tốt. Ngược lại khi thấy một việc tốt thì họ
cảm thấy vui, dễ chịu và hạnh phúc, đồng thời đấng sáng láng ấy khen thưởng. Những
việc tốt là những việc đã làm vì lòng yêu thương, những việc xấu là những việc họ đã làm
do động cơ không yêu thương.
      - Được ở trong ánh sáng huyền diệu ấy và ở gần đấng sáng láng ấy, ai cũng cảm
thấy vô cùng hạnh phúc nên muốn ở lại mãi, nhưng Đấng ấy bảo : "Bây giờ con chưa
được ở lại, vì con còn nhiều việc bổn phận phải làm ở trần gian. Vậy con phải về". Và khi
đó là lúc họ tỉnh lại.
      - Tất cả những người sống lại ấy đều thay đổi cách sống : từ đó trở đi họ không sợ
chết nữa ; họ không coi trọng việc tìm kiếm danh lợi thú nữa mà chỉ lo chu toàn bổn phận
và đối xử với mọi người bằng tình thương.
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
      Chủ tế : Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu nói : Chính Thầy là sự sống lại và là sự
sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ
không bao giờ phải chết. Tin tưởng vài tín điều kẻ chết sống lại, chúng ta cùng dâng lời
cầu xin :
1. Hội thánh là hiện thân của Thiên Chúa Tình yêu / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi
   thành viên trong đại gia đình Hội thánh / biết cố gắng sống trọn vẹn đức bác ái yêu
   thương / để mọi người nhận biết Chúa qua chính đời sống của mình.
2. Thử thách gian truân dễ làm cho con người mất niềm tin / Chúng ta hiệp lời cầu xin
   cho những ai đang gặp khó khăn / buồn phiền trong cuộc sống / biết tìm đến Chúa là
   Đấng hay an ủi kẻ ưu phiền.
3. Chúa yêu thương hết thảy mọi người / không bao giờ kỳ thị thiên tư / Chúng ta hiệp lời
   cầu xin cho các Kitô hữu / biết noi gương Chúa trong cách cư xử của mình.
4. Cuộc sống hôm nay quyết định số phận mai sau của người tín hữu / Chúng ta hiệp lời
   cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết nhiệt thành sống đức tin / để nhờ đó mà
   được hưởng sự sống đời đời.
      Chủ tế : Lạy Chúa Giêsu Kitô, việc Chúa Phục sinh từ cõi chết là một đảm bảo cho
cuộc sống đời sau của chúng con. Xin cho chúng con biết tuân giữ trọn vẹn Lề Luật của
Chúa, để sau này cùng được chung hưởng vinh phúc trên trời với Chúa là Đấng hằng
sống và hiển trị muôn đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
      - Trước kinh Lạy Cha : Thiên Chúa là Cha chúng ta và chúng ta là con của Ngài.
Ngài dẫn dắt từng bước chân ta đi trên con đường dương thế này, và cuối cùng Ngài sẽ
dẫn chúng ta về nhà Ngài. Với tất cả lòng tin yêu phó thác, chúng ta hãy cầu nguyện với
Ngài.
VII. GIẢI TÁN
      Xin Thiên Chúa thắp lên trong lòng anh chị em niềm hy vọng vào cuộc sống đời
sau. Xin cho niềm hy vọng ấy là động cơ giúp anh chị em sống tốt trong từng giây phút
của cuộc sống đời này. Lễ xong, chúc anh chị em luôn bình an.
      CHÚA NHỰT XXXIII
            CHỦ ĐỀ :
      NGÀY CỦA CHÚA




"Sẽ có nhiều người mạo danh Thầy"
             (Lc 21,8)
     Sợi chỉ đỏ :
     - Bài đọc I : Khi Ngày của Chúa đến, những kẻ gian ác sẽ bị tiêu diệt, còn những
người công chính sẽ được vinh quang.
     - Đáp ca : Chúa ngự đến xét xử muôn dân theo lẽ công bình.
     - Bài đọc II : Trong khi đón chờ Ngày đó, tín hữu không được lười biếng mà trái lại
càng phải tích cực làm việc.
     - Tin Mừng : Chúa Giêsu tiên báo - bằng cách diễn tả khải huyền - về ngày thành
Giêrusalem bị tàn phá và về những điều xảy ra trước khi Ngày của Chúa đến.
     Minh họa
     - Mille images 139 A
     - "Sẽ có nhiều người mạo danh Thầy" (Lc 21,8)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
      Anh chị em thân mến
      Sống theo năm Phụng vụ giống như làm một cuộc hành trình. Hôm nay đã gần hết
năm Phụng vụ, Giáo Hội mời gọi chúng ta nghĩ đến lúc tận cùng của thời gian, còn được
gọi là ngày tận thế.
      Chúng ta thường nghe người ta bàn tán về ngày tận thế, với những hiện tượng
khủng khiếp và những tai ương rất đáng sợ. Nhưng thực ra ngày đó có khủng khiếp
không, khi nào nó đến và chúng ta phải chuẩn bị đón ngày đó ra sao ? Đó là những vấn
đề mà Lời Chúa hôm nay sẽ giải thích cho chúng ta.
      Nhưng trước hết, như thường lệ, chúng ta hãy bắt đầu Thánh lễ bằng tâm tình sám
hối lội lỗi chúng ta.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
      - Chúng ta sống như đám lục bình trôi, nghĩa là không nghĩ đến chặng cuối của
cuộc hành trình đời mình.
      - Nhìn lại một năm phụng vụ sắp hết, chúng ta thấy mình đã có rất nhiều thiếu sót.
      - Trước những hoàn cảnh khó khăn, chúng ta đã chán nản và hầu như mất lòng tin.
III. LỜI CHÚA
      1. Bài đọc I (Ml 3,19-20a)
      Trích đoạn này nói về "Ngày của Chúa". Thuật ngữ này được Thánh Kinh dùng khá
nhiều, với ý nghĩa là lúc Thiên Chúa chính thức ngự trị. Thánh Kinh mô tả ngày đó bằng
những hình ảnh của văn thể khải huyền với ý nghĩa ám chỉ, nên ta không nên hiểu theo
nghĩa đen. Ý nghĩa chính của những hình ảnh đó là :
      - Khi đó Thiên Chúa sẽ tiêu diệt những thế lực gian tà.
      - Và Khi đó Ngài sẽ cho những người công chính được vinh quang.
      2. Đáp ca (Tv 97)
      Tv này cũng nói tới Ngày Thiên Chúa đến. Đó không phải là một ngày khủng khiếp
- có khủng khiếp chăng là chỉ đối với những kẻ gian ác - mà là một ngày hân hoan. Bởi
đó tác giả Thánh vịnh kêu mời mọi người - và cả vũ trụ vạn vật - hãy đàn hát lên để
mừng đón Chúa.
      3. Tin Mừng (Lc 21,5-19)
      Đoạn này mở đầu một đơn vị văn chương được gọi là "diễn từ chung luận" (Lc
21,5-36), trong đó Chúa Giêsu bàn đến những vấn đề "chung kết" của lịch sử là : sự sụp
đổ của thành Giêrusalem, ngày tận thế, và ngày Đức Kitô quang lâm. Diễn từ này khó
hiểu, một phần vì được viết theo văn thể khải huyền, phần khác vì 3 biến cố trên được
nhắc đến xen lẫn nhau khiến người đọc không biết rõ những câu nào nói đến biến cố nào.
      - các câu 5-6 : Chúa Giêsu tiên báo thành Giêrusalem sẽ bị tàn phá.
      - câu 7 : thính giả liên tưởng tới ngày tận thế nên hỏi Chúa Giêsu khi nào thì tận thế
và có dấu nào báo trước không.
      - câu 8-11 : Chúa Giêsu không muốn cho biết những dấu chỉ rõ ràng về ngày tận
thế. Bởi đó trước tiên Ngài khuyên người ta chớ tin vào những dấu chỉ mà người này
người nọ đưa ra cho rằng sắp tận thế. Kế đó Ngài dùng những hình ảnh khải huyền khó
hiểu để nói một cách úp úp mở mở rằng khi tận thế thì những gì xưa nay người ta cho là
chắc chắn đều sẽ lung lay.
      - các câu 12-19 : Chúa Giêsu báo trước cho môn đệ mình biết rằng có một thời kỳ
Giáo Hội sẽ bị bắt bớ. Rồi Ngài dạy họ phải sống thế nào trong thời kỳ đó : hãy coi
những khốn khó đó là dịp để ta làm chứng cho Chúa (câu 13) ; đừng sợ phải bào chữa thế
nào, vì Ngài sẽ ban cho họ sự khôn ngoan mà kẻ thù không thể nào thắng được (cc 14-
15) ; đừng sợ khi bị bắt bớ và thù ghét, vì vẫn có Chúa quan phòng trong tất cả những
hoàn cảnh éo le đó (cc 16-18) ; phải kiên trì (câu 19).
      4. Bài đọc II (2 Tx 3,7-12)
      Nhiều tín hữu trong giáo đoàn Thêxalônica nghĩ rằng sắp đến ngày tận thế, cho nên
họ lười biếng không muốn làm gì nữa cả.
      Thánh Phaolô khiển trách điều đó. Ngài lấy chính bản thân ngài ra làm gương :
không bao giờ sống vô kỷ luật, không ăn bám vào ai, trái lại luôn làm lụng vất vả. Phaolô
đã nói một câu rất nặng : "Ai không làm việc thì đừng ăn"
IV. GỢI Ý GIẢNG
      * 1. Thời gian
      Trong kho tàng văn hóa phong phú của Trung Quốc, người ta đọc thấy một câu
truyện răn đời sau đây : Ngày xửa ngày xưa có một vị hoàng đế, tuổi đã quá bát tuần, mà
vẫn chưa đọc được một quyển sách nào của các bậc thánh hiền. Bộ sách mà nhà vua thèm
khát được đọc là Bộ Sách Lịch Sử Loài Người
      Nhưng khốn nỗi cuộc đời nhà vua, từ mái đầu xanh đến lúc tóc đã bạc phơ, răng đã
long, không lúc nào được rảnh rỗi thư nhàn. Cuộc đời nhà vua luôn luôn sống trên lưng
ngựa, nằm sương gối tuyết trên bãi chiến trường của thời chinh chiến loạn lạc. Nay chinh
phục nước này, mai ngăn chặn nước kia xâm lăng. Đôi mắt của nhà vua chỉ nhìn thấy có
gươm giáo và máu lửa. Nhà vua rất ân hận vì trong suốt cuộc đời chưa có hân hạnh được
đọc một trang sách của các bậc thánh hiền.
      Nay chiến tranh đã tạm yên, đất nước đã thanh bình. Nhà vua muốn dành thời gian
còn lại để đọc cho kỳ được Bộ Sách Lịch Sử Loài Người, để tìm hiểu xưa nay con người
sống để làm gì, chết đi về đâu ? ! Nhưng phiền một nỗi, tuổi của nhà vua đã quá cao, mà
bộ sách lại quá dầy. Biết sức mình không thể đọc hết bộ sách, nhà vua ra lệnh cho viên
quan ngự sử làm thay mình công việc khó khăn ấy. Với sự giúp đỡ của một ủy ban 50
ngườiø, viên quan ngự sử bắt đầu miệt mài đọc sách.
       Sau 10 năm cắm cúi đọc, viên quan ngự sử và ủy ban đã có thể tóm tắt Bộ Sách
Lịch Sử Loài Người thành 10 cuốn và mang vào triều đình dâng lên nhà vua. Nhưng vừa
nhìn thấy 10 cuốn sách và đo lường tuổi tác sức khỏe của mình, nhà vua lại cảm thấy
không còn đủ sức đọc hết bộ sách, dù đã được rút ngắn thành 10 cuốn ! ! Nhà vua bèn ra
lệnh cho viên quan ngự sử và ủy ban tiếp tục làm việc thêm một thời gian nữa.
       Sau 5 năm làm việc thêm, viên quan ngự sử và ủy ban đã tóm lược Bộ Sách Lịch
Sử Loài Người thành 5 cuốn. Nhưng khi ủy ban và viên quan ngự sử mang 5 cuốn sách
vào cung ra mắt nhà vua thì cũng chính là lúc nhà vua đang hấp hối trên giường bệnh.
Biết mình không còn sống bao lâu, cũng không thể nào đọc được dù chỉ một trang sách,
nhà vua mới thều thào nói với viên quan ngự sử hãy tóm tắt Bộ Sách Lịch Sử Loài Người
chỉ trong một câu thôi.
       Lúc đó viên quan trưởng ban tu sử mới tâu trình nhà vua như sau : " Hạ thần xin
vâng mệnh. Lịch Sử Loài Người từ khai thiên lập địa đến giờ là con người sinh ra để khổ
rồi chết ! ! " Nhà vua gật đầu… Đôi môi khô héo của nhà vua bỗng nở một nụ cười mãn
nguyện rồi tắt thở ! ! Giữa lúc ấy, viên quan ngự sử cũng nấc lên mấy tiếng rồi trút hơi
thở cuối cùng ! !
       Nhìn lại một năm sắp qua, với biết bao nhiêu biến cố vì khổ đau, bệnh tật, tai nạn,
động đất, lũ lụt, chiến tranh, chết chóc đã xảy ra với loài người cũng như cho gia đình và
bản thân, có lẽ nhiều người trong chúng ta cũng muốn đi đến kết luận bi quan như viên
quan ngự sử của nhà vua trong câu truyện răn đời trên đây :" Con người sinh ra để khổ
rồi chết ! ".
       Chúng ta có bi quan nhìn đời như viên quan ngự sử không ? Hoàn toàn không ! !
Chúng ta không chối bỏ thực tại của khổ đau, của bệnh tật, của chết chóc. Nhưng chúng
ta biết rằng Thiên Chúa tạo dựng nên thế giới, tạo nên chúng ta là để cho chúng ta được
sống và sống dồi dào. Cho nên hướng đi lịch sử của loài người không phải là ngõ cụt của
sự chết mà là sự sống. Bên kia của thất bại khổ đau, bên kia của bệnh tật chết chóc, cuộc
sống vẫn còn tiếp tục có ý nghĩa và đáng sống.
       Vì thế không có tâm tình nào thích hợp cho chúng ta trong những ngày cuối năm
này cho bằng Cảm Tạ và Phó Thác. Cảm Tạ và Phó Thác tất cả cho Thượng Đế, vì Ngài
là Cha của chúng ta, luôn yêu thương và quan phòng cuộc đời chúng ta. Cảm Tạ và Phó
Thác vì Ngài là Thượng Đế của Tình Thương, của sự Sống. Cảm Tạ và Phó Thác vì Ngài
là Đường, là Sự Thật và là Lẽ Sống của chúng ta. Cảm Tạ và Phó Thác cho Thượng Đế,
vì nhờ Ngài cuộc sống này vẫn tiếp tục có ý nghĩa và đáng sống.
       Trong muôn vàn khổ đau của cuộc sống, chúng ta hãy hân hoan lập lại : Thượng Đế
Yêu Thương Tôi Như Chỉ Có Một Mình Tôi Trên Cõi Đời Này. Đừng bao giờ chúng ta
quên một chân lý căn bản soi sáng cho đời ta : " Chúng ta không chỉ sinh ra cho cuộc
sống đời tạm này mà cho cuộc sống vĩnh cửu đời sau ". Đó chính là Niềm Tin của Bạn,
của tôi và của mọi người. (Linh mục Trần quý Thiện)
       * 2. Trắc nghiệm đức tin
       Một hôm vua Ai Cập đang đứng chiêm ngưỡng những công trình mà ông cho xây
dựng tại thành phố Êliôpôli, bỗng có cụ già râu tóc bạc phơ không biết từ đâu tới đã cười
ngạo nghễ và thách thức nhà vua :
      - Hãy bỏ lại tất cả và cút đi !
      Nhà vua giận tím gan, nhưng ông ta đã nén giận và hỏi :
      - Hỡi lão già, ngươi là ai mà dám ra lệnh cho ta cách hỗn xược như thế ? Không lẽ
ngươi quyền thế hơn ta ?
      Ông lão quả quyết :
      - Đúng thế ! Vì ta là thời gian.
      Nghe đến tên thời gian, vua Ai Cập tái mặt, té nhào khỏi ngai vàng. Cùng với ông,
cả đế quốc Ai Cập cũng sụp đổ.
      Lão già Thời Gian cũng rảo qua khắp các đế quốc trên địa cầu. Lão đi đến đâu, các
đế quốc đều rơi như sung rụng.
      Nhưng ngày kia, người ta bỗng thấy xuất hiện tại đồi Vatican một cụ già khác. Lão
già Thời Gian cũng một giọng điệu vô cùng hách dịch đến trước thành Vatican gầm lớn :
      - Ta là Thời Gian đây !
      Tiếng gầm thét đó làm rung chuyển trái đất, nhưng lại không làm cho cụ già trên
đồi Vatican mảy may lo sợ. Cụ bình tĩnh đáp :
      - Còn ta, ta chính là Vĩnh Cửu ! Xuyên qua các thế hệ ta phải đại diện cho lòng
chung thuỷ của Thiên Chúa đối với con người.
                                                *
      Không có gì là vĩnh cửu dưới bầu trời này. Nhiều người Do thái nhìn ngắm và khen
ngợi đền thờ Giêrusalem nguy nga tráng lệ, được xây cất bằng đá cẩm thạch nguyên khối,
mỗi cây cột cao hơn 12 mét. Đền thờ được trang trí với cây nho lớn bằng vàng ròng,
quyên góp từ các tín hữu (2 Mcb 2,13). Mặt tiền đền thờ được dát bằng vàng lá, mỗi khi
mặt trời lên, nó phản chiếu ánh sáng chói loà rực rỡ. Nhìn từ xa, đền thờ trông như một
núi tuyết khổng lồ vì màu trắng toát của đá cẩm thạch. Chính vẻ huy hoàng lộng lẫy của
đền thờ mà người ta tưởng nó sẽ tồn tại vĩnh viễn.
      Chúa Giêsu đã đánh đổ quan niệm sai lầm đó. Người loan báo đền thờ sẽ bị tàn phá
một cách thảm hại, không còn hòn đá nào chồng trên hòn đá nào. Quả thật, tiên báo này
đã hoàn toàn ứng nghiệm năm 70 sau Công nguyên, khi vua Titô đem quân bao vây, tàn
sát dân chúng, bắt những tù binh, và thiêu huỷ đền thờ thành ra hoang vu tiêu điều.
      Mọi người kinh hoàng sợ hãi khi nghe Chúa Giêsu loan báo việc đền thờ bị phá
huỷ. Họ xin Người cho biết thời gian và điềm báo trước. Nhưng Người không cho biết gì
thêm lại còn dựa vào lời tiên báo trên để nói về ngày tận thế. Trước ngày đó, sẽ có những
thử thách đức tin.
      Có thể có những ngôn sứ giả hiệu, mạo danh Chúa để mê hoặc tín hữu, hay loan
báo thời gian đã đến gần để làm mất niềm hy vọng nơi những kẻ tin.
      Có thể có những cuộc bách hại các tín hữu, thậm chí cả sự chia rẽ trong các gia
đình.
      Nhưng Người khuyên họ : "Đừng sợ". Hãy tin tưởng trong phó thác và bền đỗ
trong đức tin, vì Thiên Chúa luôn quan phòng chở che cho những ai cậy trông nơi Người.
      Đối với Chúa Giêsu, bách hại và thử thách không phải là điều đáng sợ mà là một cơ
may, để người tin hữu có dịp "làm chứng" : để cho kẻ bách hại hiểu biết đức tin của
người tín hữu, và để người tín hữu chứng tỏ lòng tin vào Thiên Chúa trong cơn thử thách.
      Quả thật, Thiên Chúa muốn niềm tin phải là một hành động tín nhiệm sâu xa nơi
Người, một biểu lộ tín thác tuyệt đối vào Người, cho dù có phải chịu thử thách đớn đau
nhất, kể cả sự chết. Đức Tổng Giám Mục Fulton Sheen có viết : "Để trắc nghiệm đức tin
của ta, cần phải xem phản ứng lúc đau khổ và thử thách, chứ không phải lúc thuận buồm
xuôi gió".
                                              *
      Lạy Chúa, đức tin không giữ cho chúng con khôi chết, cũng không cứu chúng con
thoát đau khổ, nhưng đức tin chính là hiến dâng mạng sống.
      Xin ban thêm đức tin cho chúng con, để trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng con vẫn
luôn kiên trì giữ vững niềm tin vào Chúa. Amen. (TP)
      * 3. Làm chứng trong gian khổ
      a. Trong bài Tin Mừng này, Chúa Giêsu nói đến nhiều cảnh gian truân khổ sở như
chiến tranh, bắt bớ, thiên tai, chia rẻ v.v. Nhưng cái đáng chú ý là Chúa Giêsu nói rằng
"Đó sẽ là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy". Tại sao ? Thưa vì :
      Trong lúc tối tăm người ta mới cần ánh sáng hơn
      Trong thời buổi đầy dối gian, người ta mới cần sự thật hơn
      Trong xã hội đầy hận thù, người ta mới cần tình thương hơn
      Trong chiến tranh người ta mới cần đến hòa bình hơn.
      Thời đại chúng ta ngày nay là thời văn minh hưởng thụ, người ta chạy theo vật
chất, người ta chỉ quan tâm đến đời này. Một bầu không khí thờ ơ với tôn giáo bao trùm
khắp nơi. Có thể nói, đây là thời kỳ khủng hoảng đức tin. Nhưng chính trong thời kỳ này,
từ tận thâm tâm, con người mới cần đức tin hơn. Vì thế đây là thời gian tốt để tín hữu
chúng ta làm chứng về đức tin của mình.
      b. Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu cũng nói đến sự sụp đổ của thành Giêrusalem.
Ngày nay cũng có nhiều sụp đổ : không chỉ là sụp đổ một ngôi nhà mà sụp đổ rất nhiều
thứ. Chỉ có một điều bền vững không bao giờ sụp đổ thôi, đó là tình thương của Chúa. Vì
vậy, đây cũng là cơ hội cho tín hữu chúng ta làm chứng về tình thương của Thiên Chúa.
      * 4. Kiên trì
      Cuối bài Tin Mừng này, sau khi nói đến những gian truân thử thách, Chúa Giêsu
khuyên chúng ta hãy kiên trì : "Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình".
      Kiên trì là gì ? Thưa là dù gặp phải gian truân thử thách, ta không lùi bước, không
nản lòng, không bỏ cuộc nhưng vẫn luôn giữ vững niềm tin và lý tưởng sống của mình.
      Anne Frank là một cô bé do thái bị bọn Đức quốc xã bắt giam trong trại tập trung.
Nơi đó cô bé đã chứng kiến biết bao cảnh khổ, cô đã thấy rất nhiều người vì quá khổ mà
trở thành mất nhân phẩm, mất lý tưởng, mất đức tin. Chính cô cũng khổ và nhiều lần
hoang mang tự hỏi : có công lý thật không, có Thiên Chúa không ? Nhưng sau những lúc
giao động ấy, cô cương quyết giữ vững niềm tin của mình : cô tin rằng dù biểu hiện bên
ngoài của con người có gian ác thế nào đi nữa thì trong thâm tâm con người vẫn tốt ; dù
hiện tại có xấu xa đến đâu đi nữa nhưng cuối cùng sự thiện sẽ chiến thắng sự ác ; dù hiện
nay xem ra Thiên Chúa vắng mặt, nhưng chính Thiên Chúa là người có tiếng nói cuối
cùng. Những suy nghĩ ấy được cô ghi lại trong một quyển nhật ký. Sau chiến tranh thế
giới thứ 2, quyển "Nhật ký Anne Frank" đã được xuất bản, được dịch ra rất nhiều thứ
tiếng, và nổi tiếng khắp thế giới.
      Điều gì giúp người ta kiên trì ? Trước hết đó là xác tín về lẽ phải của mình ; thứ hai
là gương can đảm chịu đựng của những người khác ; và thứ ba, nhưng quan trọng nhất, là
đức tin tôn giáo. Gandhi nói : "Người nào tin vào Thiên Chúa thì không bao giờ thất
vọng, bởi vì người đó biết rằng cuối cùng thì sự thật sẽ chiến thắng".
      Chúa Giêsu bảo các môn đệ "Anh em đừng sợ". "Đừng sợ" không có nghĩa là
không có cảm giác sợ, mà là không để cho cảm giác ấy đè bẹp mình, nhưng mình phải
làm chủ cảm giác ấy và chiến thắng nó. "Anh hùng không phải là người không biết sợ mà
là người chiến thắng nỗi sợ" (Solzhenitsyn)
      5. Chuyện minh họa
      a/ Thời gian
      Người kia rất tham việc, không dám lãng phí một phút nào.
      Trên đường ra phố, ông dự định xem sẽ mua sắm ở cửa hiệu nào. Trong cửa hiệu,
ông dự định nơi ông sẽ đi dạo. Trong lúc đi dạo, ông dự định nơi ông sẽ đến ăn. Trong
khi ăn món chính, ông dự định sẽ ăn món tráng miệng gì. Trong khi tráng miệng, ông
nhìn bảng danh mục để chọn xe buýt về nhà.
      Ông chẳng bao giờ chú ý đến những gì ông đang làm. Ông luôn chuẩn bị cho
những sự việc kế tiếp.
      Một ngày kia ông phải đối đầu với điều mà ông không chuẩn bị là cái chết. Khi sắp
chết, ông kinh ngạc về cuộc đời trống rỗng và vô nghĩa của mình. Ông chẳng bao giờ
sống với hiện tại.
      b/ Ngã lòng
      Nếu bạn cậy vào sức riêng của mình thì chẳng lạ gì bạn sẽ sớm ngã lòng. Kẻ khiêm
nhường thực thì không ngã lòng, kẻ ngã lòng không phải là người khiêm nhường thật bởi
vì người ấy cậy dựa vào một cái gì đó ngoài Chúa" (J.N.D."Scripture Truth")
      c/ Kiên trì
      Một người đưa tin đến một lâu đài cũ kỹ và anh lấy búa gõ cửa. Không ai trả lời.
Anh lại gõ và chỉ có tiếng vang dội lại. Nhưng anh biết có người trong nhà, anh nhìn thấy
họ qua cửa sổ. Giận sôi lên, anh cầm búa và lấy hết sức giáng mạnh vào cửa hai ba chục
lần.
      Một khuôn mặt cau có ngó qua lỗ then cửa và lịch sự hỏi xem người khách muốn
vào không.
      Vị khách nói như mê sảng : "Này ông, tôi vào được không ? Chẳng lẽ ai muốn vào
cũng phải gõ như tôi ?".
      - Ồ, ông biết đấy : Có nhiều trẻ ở xung quanh đến đây, chúng gõ cửa một vài lần rồi
bỏ chạy, nên chúng tôi biết là không cần để ý đến chúng. Nhưng khi nghe ông gõ cửa, tôi
thực sự thấy ông muốn vào. Vì thế tôi ra mở cửa.
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
       Chủ tế : Anh chị em thân mến, kiên nhẫn chịu đựng thử thách trong tinh thần phó
thác, tin tưởng vào Chúa quan phòng, là những việc mà mỗi Kitô hữu cần ghi nhớ và thực
hiện trong cuộc sống thường ngày. Luôn vững tin vào Chúa là Cha từ bi nhân hậu, chúng
ta cùng dâng lời cầu xin :
1. Hội thánh không ngừng khuyên nhủ con cái mình đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa
   trung thành / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi thành phần Dân Chúa luôn xác tín
   rằng / Chúa luôn trung tín thực hiện những gì người đã hứa ban.
2. Thiên tai / đói khát / bệnh tật / làm khổ biết bao người trên thế giới / Chúng ta hiệp lời
   cầu xin Chúa ban cho chúng ta thời tiết thuận hòa / mùa màng bội thu / để mọi người
   được sống yên ổn / hạnh phúc và an bình.
3. Tất cả mọi sự đều qua đi / không có gì là tồn tại vĩnh viễn ngoài một mình Thiên
   Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các tín hữu / biết ý thức về tính mau qua của mọi
   thực tại trần gian / để đừng quá bám víu vào danh vọng / địa vị và của cải ở trần gian
   này.
4. Chúa Giêsu mời gọi người Kitô hữu hãy tích trữ kho tàng trên trời / là nơi không có
   trộm cắp / không hề bị mối mọt gậm nhấm / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn
   giáo xứ chúng ta / biết tích trữ kho tàng trên trời bằng những việc lành phúc đức của
   mình.
      Chủ tế : Lạy Chúa, giữa bao dông tố của cuộc sống thường ngày, chúng con thường
hay hoang mang dao động và đôi khi tuyệt vọng nữa, vì đức tin của chúng con còn quá
yếu kém. Vậy xin Chúa thương ban thêm đức tin cho chúng con. Chúng con cầu xin
VI. TRONG THÁNH LỄ
      - Trước kinh Lạy Cha : Dù chúng ta đang sống trong hoàn cảnh khó khăn, nhưng
chúng ta vẫn an lòng, vì chúng ta biết có Thiên Chúa là Cha luôn yêu thương và chăm
sóc chúng ta. Chúng ta hãy cùng cầu nguyện với Ngài :
VII. GIẢI TÁN
      Hôm nay chúng ta đã biết cuộc hành trình dương thế sẽ dẫn chúng ta đến đâu. Vậy
chúng ta hãy can đảm tiếp tục cuộc hành trình, với sự đồng hành yêu thương của Chúa.
                           CHÚA NHỰT CUỐI CÙNG
                           LỄ CHÚA GIÊSU LÀ VUA
                                       CHỦ ĐỀ :
                           CHÚA GIÊSU LÀ VUA




                             Vua Giêsu trên Thập giá
                                      (Lc 23,35-43)
      Sợi chỉ đỏ :
      - Bài đọc I : Vua Đavít là hình ảnh Chúa Giêsu là Vua.
      - Tin Mừng : Lúc Chúa Giêsu bị đóng đinh trên thập giá chính là lúc Ngài lên ngôi
làm vua, ban ơn cứu độ cho tất cả mọi người.
      - Bài đọc II : Chúa Giêsu được Thiên Chúa đặt làm vua của hết mọi loài trên trời
dưới đất.
      Minh họa
      - Mille images 169 E
      - Vua Giêsu trên Thập giá (Lc 23,35-43)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
      Anh chị em thân mến
      Hôm nay là Chúa nhựt cuối cùng của năm phụng vụ. Lời Chúa vạch cho chúng ta
thấy lúc tận cùng của thời gian Chúa Giêsu sẽ làm vua ngự trị trên toàn thể mọi sự và mọi
người. Nhưng từ nay cho đến lúc đó, Chúa vẫn làm vua trong lòng những người tin cậy
và yêu mến Ngài.
      Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy cầu xin Chúa giúp chúng ta nhận thức vị trí và
vai trò làm vua của Chúa trên cuộc đời chúng ta, đồng thời xin Chúa cũng giúp chúng ta
phụng thờ Ngài cho xứng đáng.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
      - Chúng ta đã tôn thờ những "vua" khác không phải là Chúa, như tiền bạc, danh
vọng, lạc thú v.v.
      - Chúng ta không sống theo sự dẫn dắt của Chúa.
      - Chúng ta không sống theo luật của Nước Chúa là luật yêu thương.
III. LỜI CHÚA
       1. Bài đọc I (2 Sm 5,1-3)
       Đoạn này thuật cuộc phong vương lần thứ hai cho Đavít. Cần nhớ rằng sau khi Vua
Saun chết, các chi tộc miền Nam đã phong Đavít làm vua của họ. Một thời gian sau, vì
mến mộ tài đức của Đavít nên các chi tộc miền Bắc cũng phong Đavít làm vua họ nữa.
Như thế là đất nước thống nhất dưới quyền lãnh đạo một vị vua duy nhất.
       Trong biến cố này, Thiên Chúa cũng lên tiếng. Ngài nói với Đavít : "Chính ngươi
sẽ chăn dắt Israel, dân của Ta". Câu này rất ý nghĩa : vua Đavít chỉ là "người chăn dắt"
dân "của Thiên Chúa". Chính Thiên Chúa mới là Vua thật của "dân Ngài".
       2. Đáp ca (Tv 121)
       Đây là một ca khúc lên đền, nghĩa là ca khúc mà những người hành hương hát khi
họ tiến đến gần đền thờ Giêrusalem.
       Tuy những người hành hương tiến đến nơi có đặt "ngai vàng của vương triều
Đavít", nhưng họ ý thức rằng họ là những "chi tộc của Chúa" vì chính Chúa mới là vua
thật của họ.
       3. Tin Mừng (Lc 23,35-43)
       Đoạn Tin Mừng này mô tả cảnh Chúa Giêsu trên thập giá :
       - Phía dưới thập giá, dân chúng "đứng nhìn" cách bàng quan như không liên can gì
đến mình, các thủ lãnh do thái thì chế nhạo "Hắn đã cứu người khác thì hãy cứu lấy mình
đi nếu thật hắn là Đấng Kitô", lính tráng cũng chế diễu "Nếu ông là vua dân do thái thì
hãy cứu lấy mình đi".
       - Trên đầu Ngài có bảng viết "Đây là vua người do thái"
       - Bên cạnh Ngài có hai tên gian phi : một tên hùa theo đám người phía dưới để chế
diễu Ngài ; tên kia công nhận Ngài là vua nên nói với Ngài "Khi ngài vào Nước của Ngài
thì xin nhớ đến tôi".
       Nghĩa là : thánh Luca đã cố ý trình bày Chúa Giêsu trên thập giá như một vị vua
đang ngự trên ngai của mình. Nhưng đa số những người ở dưới và bên cạnh, vì đã quá
quen với hình ảnh một ông vua trần gian nên chẳng những không nhận ra Ngài mà còn
chế nhạo Ngài.
       4. Bài đọc II (Cl 1,12-20)
       Thánh Phaolô trích dẫn một bài thánh thi trình bày địa vị của Chúa Giêsu Kitô :
       - Đối với Thiên Chúa : Chúa Giêsu là hình ảnh của Thiên Chúa.
       - Đối với công trình sáng tạo : nhờ Chúa Giêsu mà muôn vật được tạo thành.
     - Đối với công trình cứu độ : nhờ cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá mà mọi
người được giao hòa lại với Thiên Chúa.
     Như thế, Chúa Giêsu là Vua tối cao trên toàn thể vũ trụ.
IV. GỢI Ý GIẢNG
       * 1. Nguồn gốc và ý nghĩa Lễ Chúa Giêsu là Vua
       Một triết gia đã đưa ra một nhận định rất bi quan : "Homo homini lupus" : con
người là lang sói của con người. Lang sói là một loài thu dữ, bản tính thích tấn công, cắn
xé và giết chóc. Thế mà loài người lại giống với loài thú dữ đó, luôn luôn tấn công nhau,
cấu xé và giết chóc nhau.
       Bởi vậy một sử gia đã đưa ra một kết luận tương tự với nhận định bi quan của triết
gia trên : lịch sử loài người là một chuỗi những cuộc chiến tranh liên tiếp nhau. Từ khi có
loài người trên mặt đất này cho đến nay, có mấy khi mà loài người được hưởng thái
bình ? Hầu hết thời gian lịch sử của loài người đều là chiến tranh. Gần đây nhất là 2 cuộc
thế giới đại chiến, cuộc thứ nhất kéo dài từ năm 1914 đến 1918, làm cho 8.700.000 người
chết ; cuộc thứ hai từ năm 1939 đến năm 1945, giết chết thêm 40 triệu sinh mạng nữa. Và
hiện nay cả loài người đều phập phòng lo sợ sẽ xảy ra một cuộc đại chiến lần thứ 3 với
những vũ khí hạt nhân. Lần này không phải chỉ có 8.700.000 người chết, hay 40 triệu
người chết mà là tất cả mọi người, trái đất sẽ nổ tung, toàn thể loài người sẽ bị tiêu diệt.
       Tại sao loài người chúng ta, một loài người có trí khôn, biết suy nghĩ, một loài cao
hơn tất cả mọi loài vật khác mà lại cư xử với nhau một cách ngu xuẩn như vậy ? Thưa vì
trong con người chúng ta vừa có tính thú vừa có tính người : tính thú thì giống như loài
lang sói hung dữ cấu xé lẫn nhau, còn tính người là có trí khôn biết suy nghĩ biết tính
toán. Khi buông trôi theo tính thú thì loài người chiến tranh với nhau ; và nếu con người
lại dùng cái trí khôn ngoan của tính người để phục vụ cho cái tính thú kia thì con người
lại càng dã man hung dữ làm hại nhau còn hơn loài sang sói đích thực nữa. Điều đáng
tiếc là trong hầu hết lịch sự quá khứ, con người đã buông theo cái tính thú đó. Vì thế mà
lịch sử loài người đã là lịch sử của một chuỗi những cuộc chiến tranh liên tiếp nhau.
       Cho nên trong bối cảnh giữa 2 cuộc chiến tranh thế giới làm chết hàng mấy chục
triệu sinh mạng con người như thế, ngày 11.12.1925, Đức Giáo Hoàng Piô XI đã thiết lập
Lễ Chúa Kitô Vua, mục đích là để cầu nguyện cho loài người thôi đừng buông theo tính
thú mà cấu xé lẫn nhau, các nước đừng nuôi mộng bá chủ hoàn cầu mà chinh chiến với
nhau ; nhưng mọi người hãy suy phục vương quyền Chúa Kitô và xây dựng vương quốc
của Ngài, Đức Giáo Hoàng coi đó là chấm dứt chiến tranh.
       Sở dĩ loài người cứ luôn làm hại làm khổ lẫn nhau là vì loài người còn sống theo
cái tính thú trong mình. Vậy nếu muốn cho loài người hoà thuận với nhau để cùng nhau
chung hưởng thái bình thì loài người phải sống theo cái tính người, gồm có những đức
tính mà Chúa đã dạy chúng ta trong Tin Mừng. Con người sống đúng là con người. Chúa
Giêsu gọi đó là Sự Thật ; còn ngôn ngữ phụng vụ hôm nay thì gọi đó là vương quyền,
vương quốc của Chúa Kitô. Nước Chúa. Ai sống theo những giá trị Tin Mừng để thành
người hơn thì người đó thuộc về Nước Chúa ; ai giúp cho người khác sống theo những
giá trị Tin Mừng ấy thì người đó đang mở mang Nước Chúa ; và khi mọi người, dù có
đạo hay không có đạo, đều sống theo những giá trị Tin Mừng ấy, thì đó là thời Nước
Chúa đã trị đến.
       Hôm nay là Chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ. Giáo hội đặt lễ Chúa Kitô Vua
vào Chúa Nhật cuối cùng này, cũng có ý nghĩa : đó là ước nguyện sao cho cuối cùng tất
cả mọi người đều ở trong Nước Chúa, một nước chỉ có hoà thuận yêu thương, một nước
thái bình hạnh phúc.
       Phần mỗi người chúng ta, hãy cố gắng xứng đáng là một công dân Nước Chúa,
nghĩa là biết sống đúng tính người, sống theo lương tâm, sống hoà thuận, yêu thương,
làm việc lành theo lời dạy của Tin Mừng. Chúng ta cũng hãy cố gắng mở mang Nước
Chúa bằng cách làm cho thêm nhiều người khác cũng biết sống hoà thuận yêu thương
sống theo lương tâm và làm việc lành như vậy.
       * 2. Chân lý cuối cùng
       Trong những Chúa nhựt cuối của năm phụng vụ, Lời Chúa mời chúng ta nghĩ đến
lúc tận cùng của thời gian, để thấy trước khi ấy tình hình sẽ như thế nào, và nhờ đó mỗi
người cũng biết điều chỉnh cuộc sống mình trong hiện tại cho phù hợp với viễn ảnh cuối
cùng ấy.
       - Bằng ngôn ngữ khải huyền, các sách Tin Mừng mô tả lúc đó mặt trời mất sáng,
mặt trăng tối sầm lại và các tinh tú trên trời rụng xuống. Qua những hình ảnh lạ lùng ấy,
tác giả muốn nói rằng khi đến lúc tận cùng của thời gian, tất cả mọi thứ mà xưa nay
người ta coi là quyền lực đều sụp đổ hết, để chỉ còn quyền lực của Thiên Chúa tồn tại và
ngự trị.
       - Còn sách Huấn ca Ben Sira thì mô tả một cách thi vị hơn và bằng những hình ảnh
gần gũi hơn :
                 "Phù hoa nối tiếp phù hoa, trần gian tất cả chỉ là phù hoa...
                      Hoa nào không phai tàn. Trăng nào không khuyết
                 Ngày nào mà không có đêm. Yến tiệc nào không có lúc tàn
                                  Phù hoa nối tiếp phù hoa..."
       - Một thi sĩ khác cũng có những suy nghĩ tương tự, ông suy nghĩ về thời gian :
                      "Khi tôi là một đứa trẻ... tôi thấy thời gian bò tới
                      Khi tôi là một thanh niên... tôi thấy thời gian đi bộ
                        Khi tôi trưởng thành... tôi thấy thời gian chạy
              Cuối cùng khi tôi bước vào tuổi chín muồi thì thấy thời gian bay
                    Chẳng bao lâu nữa tôi chết, lúc đó thời gian đã đi mất
  Ôi lạy Chúa Giêsu, khi cái chết đến, thì ngoài Ngài ra, không còn gì là quan trọng nữa"
       Những dẫn nhập khá dài dòng trên chỉ nhằm giúp chúng ta hiểu bài Tin Mừng lễ
Chúa Kitô Vua hôm nay theo đúng hướng mà Phụng vụ của ngày Chúa nhựt cuối năm
Phụng vụ muốn chúng ta hiểu. Trong hướng đó, chúng ta thấy được một số chân lý sau
đây :
       - Thứ nhất : Đến lúc tận cùng của thời gian, nghĩa là đến ngày tận thế, hoặc ngày
chết của mỗi người, thì chúng ta sẽ thấy tất cả đều sẽ sụp đổ : tiền bạc, danh vọng, sức
khoẻ, thế lực, thú vui.... Tất cả đều không còn ý nghĩa và tầm quan trọng gì đối với bản
thân mình hết. Đúng như lời của bài thơ chót mà tôi vừa đọc : "Lạy Chúa Giêsu, khi cái
chết đến thì ngoài Ngài ra không còn gì là quan trọng nữa".
       - Thứ hai : Nếu khi đó chỉ có Chúa là quan trọng thì từ trước tới lúc đó trong cuộc
sống, chỉ những ai gắn bó và nương dựa vào Chúa mới thấy yên lòng ; còn những người
quen tìm kiếm, chạy theo và nương dựa vào những thế lực khác như tiền bạc, quyền lực,
thú vui v.v. sẽ thấy chới với, cô đơn, trơ trụi...
       - Thứ ba : Khi đó, đối với tất cả mọi người, dù tin hay không tin, dù tốt hay xấu,
mọi người đều mở mắt và nhận thực rằng Chúa Giêsu chính là Kitô và là Vua thật. Kitô
nghĩa là Đấng Cứu Vớt, Vua nghĩa là Đấng thống trị. Nhiều người trong lúc còn sống đã
tưởng rằng nguồn cứu vớt của họ và thế lực hỗ trợ họ là tiền tài danh lợi thế gian, nhưng
khi đó họ sẽ biết họ lầm. Chẳng hạn các nhân vật trong bài Tin Mừng hôm nay : Các thủ
lãnh do thái, quân lính, Philatô và tên gian ác ở bên trái Ngài. Chiều hôm đó trên đồi Sọ,
họ tưởng Chúa Giêsu đang thất thế vì rõ ràng Ngài đang bị treo, bị đóng đinh dính cứng
vào thập giá. Họ chế nhạo Ngài "Nào có giỏi thì thử xuống khỏi thập giá đi". Họ cũng gọi
Ngài là Kitô đó, cũng gọi Ngài là Vua đó, nhưng gọi một cách mỉa mai, gọi để nhạo
báng : chẳng qua hắn chỉ là một tên Kitô dỏm, một ông vua cỏ mà thôi ! Nhưng đến ngày
cùng tận, tất cả những người ấy sẽ sửng sờ khi thấy kẻ bị họ nhạo báng ấy lại xuất hiện
với tất cả uy quyền và vinh quang, để xét xử và trừng phạt họ. Ngài đúng là Kitô và là
Vua. Chiều hôm ấy trên đồi sọ, chỉ có một người đã nhận biết Ngài, đó là người trộm
lành ở bên phải. Anh đã tin Ngài là Vua nên anh nói "Khi nào Ngài vào Nước của Ngài" ;
anh cũng tin Ngài là Đấng Kitô cứu thế nên mới thưa "Xin Ngài cứu tôi, xin hãy nhớ đến
tôi". Và chúng ta hãy suy nghĩ : hiện bây giờ người trộm lành ấy đang ở đâu ? Chắc chắn
anh đang ở bên Chúa và hưởng hạnh phúc trong nước Chúa, như lời Chúa Giêsu đã hứa
với anh chiều hôm ấy : "Ta bảo thật, ngay hôm nay anh sẽ được ở với Ta trên thiên
đàng". Thật hạnh phúc thay cho người trộm lành, cả một đời gian ác tội lỗi, nhưng cuối
cùng đã gặp được hạnh phúc thiên đàng, nhờ anh đã hiểu được phải trao cuộc đời cho ai
và bám víu vào ai.
       Cái chân lý mà mãi đến phút cuối đời người trộm lành mới thấy được ấy, Phụng vụ
muốn chỉ cho chúng ta thấy ngay từ hôm nay : Chúa Giêsu chính là Đấng Kitô cứu vớt,
Ngài chính là Vua. Ngoài Ngài ra không có ai, không có cái gì là vua thật và có thể cứu
chúng ta thật. Vậy ngay từ hôm nay chúng ta hãy quyết định trao gởi cuộc đời mình cho
Ngài, sống gắn bó với Ngài, và từ bỏ tất cả những gì nghịch với Ngài. Có như thế chúng
ta mới có thể hưởng hạnh phúc muôn đời bên cạnh Ngài, là Kitô thật và là Vua thật của
chúng ta.
       * 3. Cơn cám dỗ cuối cùng
       Vua Cảnh Công nước Tề, một hôm lên chơi núi Ngưu Sơn. Nghĩ rằng có ngày sẽ
phải chết và giang sơn gấm vóc lại lọt vào tay kẻ khác, vua liền trào nước mắt tiếc
thương. Đoàn tuỳ tùng thấy vua khóc cũng khóc theo. Duy chỉ có Án Tử là chúm miệng
cười. Vua chau mày hỏi :
       - Tại sao người ta ai cũng khóc cả, mà nhà ngươi lại cười ?
       Án tử trả lời :
       - Nếu các vua đời trước mà sống, thì vua ngày nay hẳn còn phải mặc áo tơi đội nón
lá. Nhờ thế sự thăng trầm mà nay đến lượt vua được mặc áo gấm, đội mũ ngọc. Thế mà
vua lại khóc. Thấy đấng làm vua bất nhân, bầy tôi siểm nịnh, tôi không cười sao được ?
                                                   *
       Vua trần gian có thần dân để cai trị, có quan quân để sai khiến, có tiền của mỹ nữ
để truy hoan.
       Chúa Giêsu trái lại, Người không làm vua theo kiểu thường tình ấy. Người đã
khẳng định : "Nước tôi không thuộc về thế gian này" (Ga 18,36). Vì thế, cung cách của vị
vua Giêsu hoàn toàn mới lạ. Tin Mừng hôm nay sẽ nói lên tính cách Vương Quyền ấy
của Người.
       Dưới hình thức nhạo báng của các thủ lãnh Do thái, của lính tráng, của bản án treo
trên thập giá, đã nói !ên vương quyền của Chúa Giêsu : "Hắn đã cứu được người khác,
thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấâng Ki tô của Thiên Chúa, người được Thiên Chúa
tuyển chọn" (Lc 23,35). "Đấng Kitôâ" chính là người được xức dầu, là tước hiệu của vua.
"Người Thiên Chúa tuyển chọn" chính là tước hiệu Thiên Sai, là Đấng Cứu Thế. Nhất là
lời tuyên xưng của người trộm lành đã nói lên vương quyền của Người : "Khi nào về
Nước của Người, xin nhớ đến tôi" (Lc 35,42).
       Tuy nhiên, nước của Chúa Giêsu không nhằm tư lợi cá nhân như các thủ lãnh khiêu
khích, cũng không để ra oai quyền uy như bọn lính thách thức. Nước của Người là Nước
Tình Yêu, vương quyền của Người là để phục vụ. Vì thế, Người đã không "xuống khỏi
thập giá" cách ngoạn mục, nhưng đã "kéo mọi người" lên với Người (Ga 13, 32). Người
đã không "cứu lấy chính mình", nhưng đã "cứu lấy mọi người" khỏi chết muôn đời nhờ
cái chết của Người.
       Người đã sẵn lòng chịu chết giữa hai tên gian phi, như lời Kinh Thánh rằng :
"Người đã hiến thân chịu chết và bị liệt vào hàng phạm nhân" (ls 53,12). Người đã hoà
mình trong đám người tội lỗi, đã chịu chung số phận của họ, Người đã sống và đã chết
giữa đám tội nhân, như lời đồn đại về Người : "Bạn của người thu thuế và phường tội
lỗi" (Mi 11,19).
       Vâng, vương quyền của Người không cai trị bằng sức mạnh biểu dương, nhưng
chinh phục bằng "khối" tình yêu thương. Chính vì thế mà Người đã chiến thắng cơn cám
dỗ cuối cùng, là lời thách thức xuống khỏi thập giá, để sẵn lòng chịu chết hầu cứu chuộc
con người tội lỗi, chính là thần dân của Người,
       Thần dân đầu tiên mà vị Vua có vương miện là mão gai, và ngai vàng là gỗ thánh
giá đã chinh phục, chính là người trộm lành. Giữa lúc những kẻ trước đây tung hô vạn tuế
nay lại nhạo báng Người, giữa lúc các môn đệ thề sống chết với Người nay lại bỏ trốn
hết, thì chỉ có một mình anh, người trộm lành, lên tiếng bênh vực Người : Anh mắng
người trộm dữ : "Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng
không biết sợ ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông
này có làm điều gì trái !" (Lc 35,40-41). Anh tỏ lòng kính sợ Chúa và ăn năn sám hối, đó
là thái độ của người sẵn sàng đón nhận ơn cứu độ.
       Hơn nữa giữa lúc chương trình của Chúa Giêsu dường như thất bại, không còn hy
vọng cứu vãn ; giữa lúc thập tử nhất sinh, gần kề cái chết, thì chỉ mình anh, người trộm
lành, đã tin vào Chúa, tin vào sự sống đời sau, và tin vào vương quyền của Người. Anh
cầu nguyện : "Lạy Ngài, khi nào về Nước Ngài, xin nhớ đến tôi". Người nhận lời tức
khắc : "Ngay hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta" (Lc 35,43).
       Một lời hứa mà Người chưa hề ban cho ai dù đó là người thân tín và yêu quí nhất
của Người.
       Một lời hứa được thực hiện ngay tức thì, không đợi đến sáng phục sinh hay ngày
thế mạt.
       Một lời hứa đi vào vương quốc của những người công chính, qui tụ quanh vua
Giêsu vinh hiển.
      Lời hứa ban hạnh phúc cho anh trộm lành chính là cuộc sống thân mật với Vua
Giêsu, mà anh đã chia sẻ số phận của Người trên thập giá. Cuộc đời của anh tưởng chừng
như vĩnh viễn khép lại, nhưng chỉ với một chút niềm tin trong anh bừng sáng, một lòng
sám hối chân thành, đã khiến cửa trời rộng mở, đón tiếp anh thênh thang bước vào. Chính
từ khi anh trộm lành nhận ra người tử tù bị đóng đinh là vua trời, nhận ra sự sống trong
cõi chết, phục sinh trong tử nạn, thì Vua Giêsu tiếp tục lan rộng cuộc chinh phục đến viên
đại đội trưởng khiến ông cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa : "Người này quả thật là công
chính" (Lc 23,48).
      Và trong suốt 2000 năm qua, Người vẫn luôn đón nhận vào trong vương quốc tình
yêu của Người ; những thần dân biết duy trì tinh thần hiệp nhất, phục vụ và yêu thương.
Chỉ những ai biết sám hối ăn năn, tin nhận vào quyền năng và tình thương của Chúa như
anh trộm lành, môi được vào trong vương quốc của Người. Chỉ những người biết kính sợ
Thiên Chúa và tin tưởng vào sự sống đời sau mới được ban cho Nước Trời.
                                                *
      Lạy Chúa, xin cho đức tin chúng con đủ mạnh đểâ thấy Chúa không ngừng lôi kéo
cả thế giới về với Người.
      Xin dạy chúng con luôn cộng tác với Chúa để xây dựng Nước Trời ngay trong cuộc
sống này, nhờ biết đẩy lui sự dữ trên địa cầu, trong khi kiến tạo an bình và yêu thương.
Amen. (TP)
      * 4. Hai tên gian phi
      Các sách Tin Mừng ghi nhận rằng cùng bị đóng đinh chung với Chúa Giêsu hôm ấy
còn có hai tên gian phi. Phần Tin Mừng theo thánh thì phân biệt có một người đã sám
hối, còn người kia thì không. Chúng ta hãy xem xét từng người.
      Trước tiên là tên gian phi không sám hối. Hắn chẳng còn tình cảm, chẳng còn
lương tri, chẳng còn nhân tính gì nữa cả. Bởi vì tới lúc sắp chết mà hắn cũng không chút
hối hận. Ngay cả Chúa Giêsu cũng chẳng thể cứu hắn. Thực vậy, chẳng ai có thể cứu
được người không chịu để cho mình được cứu. Tấm lòng thương xót của Thiên Chúa vẫn
có sẵn đấy, nhưng tối thiểu con người phải muốn đón nhận. Oscar Wilde viết : "Kẻ đang
ở trong tình trạng nổi loạn không thể nhận được ơn sủng".
      Chúng ta nhìn sang tên gian phi sám hối. Nhiều người đã nghĩ rằng người này được
cứu độ dễ dàng quá : sau một đời tội lỗi, anh ta chỉ cần nói với Chúa Giêsu một lời thôi
thì được tha thứ hết. Anh đã ăn trộm mọi thứ, và cuối cùng lại ăn trộm luôn thiên đàng
nữa. Có người khắt khe nghĩ rằng ít ra Thiên Chúa phải bắt anh ta ở trong luyện ngục một
thời gian nào đó mới phải.
      Thực ra nếu tìm hiểu kỹ trường hợp anh ta, chúng ta sẽ thấy rằng anh đã làm được
một việc không phải là nhỏ và cũng không phải là dễ :
      - Khi bị treo trên thập giá, anh không buông theo khuynh hướng xấu có sẵn trong
mình mà bực bội và bất mãn để rồi có những phản ứng như tên gian phi kia, là thù người
và hận đời rồi chửi bới lung tung. Thay vào đó, anh nhìn lại chính cuộc đời của mình.
Anh đã thấy gì ? Thấy cả đời anh chỉ là một đống rác rưởi chẳng có chút gì tốt cả. Từ đó
anh ý thức rằng mình đã làm hỏng tất cả : không phải chỉ làm hỏng nhiều việc, mà còn
làm hỏng chính cuộc đời mình. Anh biết tội mình, anh nhận trách nhiệm về đời mình.
       - Sau đó anh lên tiếng can gián tên gian phi kia đừng chửi rủa Chúa Giêsu nữa. Và
anh quay sang kêu xin Ngài "Ông Giêsu ơi, khi nào Ông vào Nước của Ông, xin nhớ đến
tôi".
       Người ta vẫn có khuynh hướng đổ lỗi cho người khác chứ không chịu nhận trách
nhiệm vào mình. Chuyện gì cũng nói "tại cái này", "bị cái khác", "do người này", "vì
người nọ" v.v. Nhiều người còn viện vào khoa tâm lý mà ngụy biện rằng chẳng có gì là
tội thực sự cả, tất cả chỉ do hoàn cảnh đẩy đưa ; con người bị tác động bởi nhiều động cơ
vượt tầm kiểm soát của mình.
       Người gian phi sám hối bị tác động bởi hoàn cảnh bên ngoài nhiều lắm chứ : những
đau đớn thể xác làm anh khó chịu, những tiếng la ó của dân chúng làm anh tự ái, án tử
hình thập giá làm anh nhục nhã… Những thứ ấy đều xúi anh nổi loạn. Ngoài ra cái chết
gần kề cũng xúi anh thất vọng : tới giờ phút này còn hy vọng gì sửa đổi tình thế được
nữa ; vả lại tội anh đã quá nhiều và quá rõ…
       Có thể sám hối được trong hoàn cảnh như thế không phải là một việc dễ. Tuy nhiên
anh đã sám hối. Việc sám hối ấy đã mang lại cho anh chẳng những ơn tha thứ, mà còn cả
thiên đàng.
       Người gian phi sám hối dạy cho chúng ta biết rằng : không bao giờ là quá trễ để
quay về với Chúa, không tội nào là quá nặng để không được thứ tha, bao lâu ta còn thở là
ta còn cơ hội để hưởng lòng thương xót Chúa.
       * 5. Chúa Giêsu là vua như thế nào ?
       a. Làm vua có thể có nhiều cách, không nhất thiết cứ phải có đất đai, lãnh thổ, có
quân đội, triều đình… mới là vua. Người ta vẫn nói : «vua dầu lửa», «vua xe hơi», «vua
bóng đá», v.v… mặc dù những ông vua này không có quân đội, không cai trị ai. Chúa
Giêsu không những làm vua hiểu theo nghĩa bóng, mà đích thực Ngài là vua hiểu theo
nghĩa đen, nghĩa chính thức của từ «vua».
       Trước hết, Ngài là vua, vua của cả vũ trụ, của cả trần gian, của cả nhân loại, vì Ngài
chính là Ngôi Lời, một trong Ba Ngôi Thiên Chúa đã tạo dựng nên muôn loài vạn vật
trong vũ trụ. Thánh Kinh viết : «Nhờ Ngài, vạn vật được tạo thành, và không có Ngài thì
chẳng có gì được tạo thành» (Ga 1,3 ; xem 1,10). Ngài là vua của thế giới, nên đến ngày
chung cuộc, chính Ngài sẽ là người đến phán xét trần gian với tư cách một vị vua (Mt
25,34).
       Thế gian này có nhiều nước, mỗi nước có một ông vua. Nhưng Ngài là vua cả thế
gian, cả vũ trụ, nên Ngài là Vua trên hết các vua, là Vua của muôn vua.
       b. Đức Kitô là vua. Nhưng Ngài khác với các vua khác ở chỗ : để cai trị, các vua
khác dùng quyền lực, còn Ngài dùng tình thương. Thật vậy, Ngài yêu thương mọi người,
mọi con dân của Ngài như người mục tử tốt lành yêu thương chăn dắt đoàn chiên, biết rõ
từng con chiên một, và sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì lợi ích của chiên (xem Ga
10,11-16). Ngài hành xử như thế vì Ngài là Thiên Chúa, mà «Thiên Chúa là tình yêu» (1
Ga 4,8). Trong thực tế, Ngài đã hy sinh chết trên thập giá một cách khổ nhục để cứu nhân
loại, là con dân được Thiên Chúa trao cho Ngài quyền cai trị.
       c. Chúa Giêsu không chỉ là vua vũ trụ, vua của cả trần gian, mà Ngài còn là vua của
tâm hồn mỗi người. Vì yêu thương, vị vua ấy ngự ngay trong thâm cung tâm hồn của mỗi
người để sẵn sàng thi ân giáng phúc, ban sức mạnh, thánh hóa, làm cho họ ngày càng tốt
đẹp, mạnh mẽ và hạnh phúc hơn. Tuy nhiên, Ngài có làm được điều đó hay không còn
tùy thuộc vào sự tự do chấp nhận và sự tự nguyện cộng tác của chúng ta. Ngài sẽ không
làm được gì cho chúng ta nếu chúng ta không muốn Ngài làm, hoặc nếu chúng ta hoàn
toàn thụ động không cộng tác gì vào công việc mà Ngài muốn làm cho ta.
      Để Ngài có thể hành động biến đổi con ta nên tốt đẹp, mạnh mẽ, thánh thiện hơn, ta
cần tôn Ngài làm vua tâm hồn mình, bằng cách :
      – Trước tiên, phải thường xuyên ý thức về sự hiện diện của Ngài ở trong ta.
      – Kế đến là ý thức rằng Ngài là tình thương, Ngài yêu thương ta hơn tất cả mọi
người, và sẵn sàng làm tất cả những gì ta cần cho sự phát triển và hạnh phúc của ta.
      – Đồng thời ý thức Ngài là sức mạnh toàn năng, có thể thực hiện tất cả những gì
Ngài muốn nơi ta.
      – Vì thế, ta nhường quyền làm chủ bản thân ta cho Ngài, để Ngài hoàn toàn làm
chủ bản thân ta. Ta không còn hành động theo ý riêng ta nữa, mà hoàn toàn hành xử theo
ý của Ngài.
      – Vì Ngài yêu thương ta, sáng suốt và khôn ngoan hơn ta rất nhiều, lại có khả năng
làm tất cả những gì Ngài muốn, nên ta hãy hoàn toàn phó thác vận mệnh của ta cho Ngài.
      – Và cuối cùng là luôn luôn sống trong bình an, hạnh phúc của một người được
Đức Kitô yêu thương và phù trợ. Hãy hưởng niềm hạnh phúc của một người được Vua
của cả trần gian này yêu thương và quan tâm săn sóc. Hãy tin tưởng và luôn luôn an tâm
rằng nhờ quyền năng của Ngài, tất cả những gì xảy đến cho ta đều hết sức có lợi, đều trở
nên vô cùng tốt đẹp cho ta, cho dù hiện nay ta chưa hiểu rõ.1[1]
      Nắm vững điều đó, ta sẽ thấy có Đức Kitô ngự trong tâm hồn mình là như có được
một «cây đèn thần» trong tay, một «bùa hộ mạng» an toàn, một «vị thần bảo trợ» hữu
hiệu, một «người tình chung thủy» luôn luôn ở với ta suốt cuộc đời. Lúc đó ta sẽ sung
sướng cảm nghiệm được như thánh Phaolô : «Tôi làm được tất cả mọi sự nhờ Đấng ban
sức mạnh cho tôi» (Pl 4,13). (Nguyễn chính Kết)
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
     Chủ tế : Anh chị em thân mến, khi bị đóng đinh trên thập giá, người trộm lành đã
thưa với Chúa Giêsu : Lạy Ngài, khi vào Nước Ngài, xin nhớ đến tôi. chúng ta cũng
mượn lời khẩn cầu ấy để thân thưa với Thiên Chúa là Cha chúng ta :




1[1]
       «Thiên Chúa khiến mọi sự rốt cuộc đều trở nên ích lợi cho những ai yêu mến Ngài» (Rm 8,28).
1. Hội thánh là một bà mẹ hiền / yêu thương hết thảy mọi con cái của mình / Chúng ta
   hiệp lời cầu xin cho các vị mục tử luôn nhớ đến những người nghèo khổ bất hạnh / và
   tìm mọi cách giúp họ sống xứng nhân phẩm của mình.
2. Chúa Giêsu Kitô là vị Vua đem lại hòa bình thật sự cho nhân loại / Chúng ta hiệp lời
   cầu xin Chúa tiêu diệt mầm mống chiến tranh / hận thù và bạo lực / để hết thảy mọi
   người được an cư lạc nghiệp.
3. Hiện nay / có một số anh chị em tận tụy hy sinh / phục vụ những người bị nhiễm HIV /
   Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa ban ơn nâng đỡ những sứ giả của tình thương / đang
   xả thân vì đồng loại của mình.
4. Chúa Giêsu là vị Vua nhân ái / luôn chia sẻ mọi vui buồn với thần dân của mình /
   Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết luôn tin tưởng và phó
   thác cuộc đời cho vị vua đầy lòng nhân ái này.
      Chủ tế : Lạy Chúa Giêsu, vì yêu thương mà Chúa đã chết trên thập giá để cứu chuộc
chúng con. Xin cho chúng con cũng biết yêu thương và giúp đỡ hết thảy mọi người như
Chúa đã luôn luôn yêu thương và không ngừng nâng đỡ chúng con. Chúa hằng sống và
hiển trị muôn đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
     - Trước kinh Lạy Cha : Trong ngày lễ kính Chúa Giêsu là Vua hôm nay, chúng ta
hãy đặc biệt cầu xin cho Nước Chúa mau trị đến trong cõi lòng mọi người.
     - Trước rước lễ : Vua Giêsu đã thương mời chúng ta đến dự tiệc của Ngài. Chúng ta
hãy đến dự tiệc thánh trong tâm tình biết ơn và cảm mến. "Đây Chiên Thiên Chúa…"
VII. GIẢI TÁN
      Trong khi chờ đợi ngày Chúa Giêsu hoàn toàn làm Vua toàn thể nhân loại, mỗi
người chúng ta hãy cố gắng làm một công dân xứng đáng của Nước Chúa, đó là hằng
ngày thực hiện giới luật yêu thương.
                      TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
       1. José Feder, Alain Gorius et leur équipe, Célébrer le dimanche, C. Nouvelles
éditions Mame, Paris, 1977.
       2. Flor McCarthy, New Sunday and Holy Day Liturgies, Year C, Dominican
Publications. Dubblin 1998. Viết tắt là FM.
       3. NN, Fiches dominicales, Bulletin de liaison et d’animation des équipes
liturgiques du diocèse de Saint-Brieuc et Tréguier. Année C. France, 1994.
       4. Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu", năm C. Viết tắt là TP.
       5. Jean - Francois Kieffer, Mille images d’Evangile, France 2000.
       6. Henri Delhougne, Les Pères de l’Eglise commentent l’Evangile, sưu tập
Mysteria, Nxb Brepols, Paris 1991.
       7. Linh mục Inhaxio Hồ văn Xuân, Lời nguyện tín hữu ABC, Tp HCM, 2001.
       8. Bản tin Vietcatholic.

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Tags:
Stats:
views:10
posted:10/24/2012
language:Vietnamese
pages:243