cac-bai-giang-chuanhat-14-tn-c

Document Sample
cac-bai-giang-chuanhat-14-tn-c Powered By Docstoc
					                                      14 TN - C
                            Lc 10:1-12, 17-20
                                4-7-2010
SỨ MẠNG CỦA 72 MÔN ĐỆ ………….…….…. Lm. PX Vũ Phan Long, ofm              02
CHÚA SAI TÔI ĐI LOAN BÁO TIN BÌNH AN ...Lm. Ca o H          X          13
TÂM BÃO ……………………..…………….……. Lm. Mark Link, SJ                          23
CHÚA NH T THỨ 14 TN-C ..…………….……. Lm. Augustine, SJ                    28
VÀO NHÀ, VÀO THÀNH PHỐ ………………... Lm. An n Ng              n Cao S , SJ 34
PHÚC ÂM HOÁ ẢN THÂN TRƯỚC HẾT…... Lm. Igna T n Ng                      38
ĐỒNG LÚA MÊNH MÔNG …….………. Lm. G se Ng              n Hưng Lợ , CSsR   41
MỪNG VÌ ĐƯỢC GHI DANH NƯỚC TRỜI ….…. Lm. G se Anmai, CSsR              43
RA ĐI RAO GIẢNG TIN MỪNG ….…..…… Lm. G se Đ nh L L m                   49
NGHỊCH LÝ ..……………..…….……….…... Lm. G se T D T               n          61
NHƯ CHIÊN GIỮA SÓI RỪNG .….……..... Lm. An Phong T n Đ         Phư ng   63
NẦY THẦY SAI ANH EM ĐI …………….… Lm. G se Ph m Ngọ Ng n, Csjb 66
NHIỆT TÂM VỚI SỰC CÔNG ẰNG CỦA ….... Lm. Giuse Tú N , NMS              69
RA ĐI LOAN ÁO TIN MỪNG ………………..... Lm. An Phong, OP                    72
CHIÊN CON GIỮA ẦY SÓI ..………................ Lm. G se Đ V n L , OP      75
NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC SAI ĐI …….….. Lm. G se Ng           n Cao L , OP      82
CHÚA SAI ĐI …………………………….. Lm. G a b Ph m V n Phượng, OP 87
CHÚA NH T THỨ 14 TN-C ..…….…..… G . V nh Long …..……..…...... t 90 – 110




                                                                        1
                 SỨ MẠNG CỦA 72 MÔN ĐỆ
Việc loan báo Tin Mừng không thể là chuyện của một cá nhân riêng lẻ mà là
việc của một cộng đoàn.

                                                Lm. PX Vũ Phan Long, ofm
I. NGỮ CẢNH
Vừa bắt đầu phần tường thuật cuộc hành trình lên
Giêrusalem (9,51), tác giả Luca đưa vào truyện Đức Giêsu
cử bảy mươi [hai] môn đệ đi để dọn đường cho Người
(10,1-12). Trước đây, ta thấy Người đã phái Nhóm Mười
Hai đi rao giảng và chữa lành (9,1-6). Bây giờ đến lượt bảy
mươi [hai] môn đệ được sai đi. Bản văn kết thúc với những
lời Đức Giêsu chúc dữ cho các thành thuộc miền Galilê và
nhận xét của Người về các môn đệ như là đại diện cho
chính Người và cho Đấng sai phái Người (10,13-15.16).
Bản văn phụng vụ không đọc đoạn này.

II. Ố CỤC
Bản văn có thể chia thành ba phần:
    1) Đức Giêsu chỉ định và sai phái bảy mươi [hai] môn đệ
       (10,1);
    2) Đức Giêsu ban chỉ thị cho bảy mươi [hai] môn đệ
       (10,2-12);
    3) Những nhận định sau khi bảy mươi [hai] môn đệ đi
       giảng về (10,17-20).

III. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
- Chúa (1): Danh hiệu kyrios được tác phẩm Lc-Cv dùng
cho cả Đức Chúa (YHWH) và Đức Giêsu. Dùng cho Đức
Chúa (YHWH) thì đã có trước Lc (x. Mc 11,9;
12,11.29.30.36; Lc 4,8//Mt 4,10 [thuộc Q]; Lc 4,12//Mt 4,7;
Lc 10,27 [thuộc L]; 2 Cr 3,17-18). Đây là cách dịch YHWH
                                                          2
của Bản LXX. Tại Paléttina tiền Kitô giáo, người Do-thái gọi
YHWH bằng tiếng Híp-ri là ’âdôn, “Chúa”, tiếng A-ram là
mârê’ hoặc mâryâ’, và tiếng Hy-lạp là kyrios. Rất có thể các
Kitô hữu gốc Do-thái tại Paléttina đã chuyển danh hiệu “Đức
Chúa” này từ YHWH sang cho Đức Giêsu, đặc biệt trong tư
cách Đấng Phục Sinh. Và như thế, điều này có nghĩa là lời
tuyên xưng tiên khởi “Giêsu là Chúa” (1 Cr 12,3; Rm 10,9)
là một câu đáp lại kêrygma tiên khởi. Dùng danh hiệu kyrios
cho Đức Giêsu có nghĩa là đặt Người trên cùng một bình
diện với với YHWH, mà không đồng hóa Người với YHWH,
do chỗ không bao giờ Người được gọi là ’abbâ’.

Khi so sánh với Mc (chỉ một lần dùng danh hiệu này cho
Đức Giêsu: Mc 11,3), ta thấy Lc dùng thường xuyên
(7,13.19; 10,1.39.41; 11,39; 12,42a; 13,15; 17,5.6; 18,6;
19,8a.31.34; [20,44]; 22,61 [2x]; 24,3.34); điều này khiến
phải lưu ý. Ở đây, đơn giản là Lc sử dụng một danh hiệu
nay đã thành thông dụng vào thời ông, như phần tường
thuật của sách Cv cho thấy (vd: 1,21; 4,33; 514; 8,16…).
Trong thời gian Đức Giêsu hoạt động công khai, nhiều
người gọi Ngườii bằng từ ở hô-cách[1] kyrie (5,8.12; 6,46
[2x]; 7,6; 9,54.59.61; 10,17.40; 11,1; 12,41; 13,23.25; 17,37;
18,41; 22,33.38.49). Trong các ví dụ này, không dễ gì mà
xác định được từ nào phải dịch là “ngài” (theo nghĩa trần
thế) và từ nào phải dịch là “Chúa” (theo nghĩa tôn giáo). Rất
có thể vào lúc viết, tác giả Lc nhắm đến nghĩa tôn giáo, kể
cả cho từ ở hô-cách.

Đàng khác, ta phải ghi nhận rằng Lc còn trở ngược lại mà
gán danh hiệu kyrios cho giai đoạn đầu của cuộc sống trần
thế của Đức Giêsu: lời các sứ thần loan báo cho các mục
đồng về “Chúa” ở Bêlem (2,11); lời bà Êlisabét chào Đức
                                                            3
Maria là “Thân Mẫu Chúa tôi” (1,43); lời Đức Maria tự nhận
mình là “nữ tỳ của Chúa” (1,38). Các danh hiệu này đúng
ra nhắm đến YHWH.

Khi sử dụng kyrios cho cả YHWH lẫn Đức Giêsu trong tác
phẩm, tác giả Lc nhận danh hiệu này theo nghĩa lâu nay
vẫn được hiểu trong cộng đoàn ki-tô hữu tiên khởi, tức là
coi Đức Giêsu Phục Sinh ở trên cùng một bình diện với
YHWH. Khi rọi phóng danh hiệu này, một danh hiệu phát
sinh từ cuộc Phục Sinh, ngược lại sau cho những phần đầu
của truyện về Đức Giêsu, tác giả bao trùm tính cách của
Đức Giêsu bằng một ảnh hưởng thật ra thuộc về giai đoạn
ba của cuộc đời Người.

- bảy mươi hai người khác (1): nghĩa là khác với Nhóm
Mười Hai, nhưng cũng rất có thể khác với cả những sứ giả
ở 9,52. “Bảy mươi” hay “bảy mươi hai”? Dù có áp dụng
phương pháp phê bình văn bản, chúng ta vẫn không thể
quyết định dứt khoát cho con số nào. Các thủ bản quan
trọng hỗ trợ cho cả hai bên. Đọc vào các tác phẩm Kinh
Thánh, ta thấy dường như số bảy mươi có ưu thế hơn: bảy
mươi kỳ mục được Môsê chọn (Xh 24,1; Ds 11,16.24); bảy
mươi con cháu của Giacóp (Xh 1,5; Đnl 10,22); bảy mươi
năm (Dcr 7,5 [?]). Con số bảy mươi hai chỉ xuất hiện chính
thức một lần khi sách Ds (31,38) nói đến số bò bê phải
dâng cho Đức Chúa. Tuy nhiên, dường như bản văn Cựu
Ước nằm đàng sau con số là St 10,2-31, là danh sách các
dân trên thế giới: bản văn Híp-ri thì đọc là “bảy mươi”, còn
Bản LXX lại đọc là “bảy mươi hai”. Dù sao, tác giả TM III đặt
sứ mạng phổ quát của Họi Thánh của ông trên nền tảng là
sứ mạng của Đức Giêsu.


                                                           4
- cứ từng hai người một (1): Người ta nói rằng tập tục đi
hai người với nhau là của người Do-thái, nhưng ta không
thấy trong Cựu Ước có tập tục này. Đi từng cặp có thể là để
nâng đỡ lẫn nhau trên đường; nhưng theo nghĩa mạnh hơn,
đó là để làm chứng (vì pháp luật đòi phải có chứng của hai
người: Đnl 19,15; Ds 35,30. Xem trường hợp Phaolô và
Banaba: Cv 13,1; Phaolô và Xila: Cv 15,40; Phêrô và Gioan:
Cv 8,14; Banaba và Máccô: Cv 15,40; Giuđa và Xila: Cv
15,32).

- Lúa chín đầy đồng (2): Theo TM Lc, đây là một hình ảnh
của thời gian trong đó việc rao giảng về Nước Thiên Chúa
được thực hiện (x. 8,15.16-17). Đã đến giờ loan báo Nước
Thiên Chúa cách rộng rãi và con số người chấp nhận sứ
điệp sẽ đông. Trong Cựu Ước, mùa gặt là một hình ảnh nói
về việc Thiên Chúa xét xử muôn dân vào thời cánh chung
(Ge 4.1-13; Is 27,11-12).

- hãy xin chủ mùa gặt (2): Chỉ thị này hàm ý là công việc
của Đức Giêsu và sứ mạng của các môn đệ nằm dưới sự
quan phòng của chính Thiên Chúa: Ngài đang tạo ra một
giai đoạn mới trong việc rao giảng nhằm cứu độ và Ngài sẽ
là thẩm phán vào “ngày ấy” (c. 12).

- như chiên con đi vào giữa bầy sói (3): Hình ảnh này gợi
ra những nguy hiểm, chống đối, thù nghịch, đi theo hoạt
động của các môn đệ, cũng như hoạt động của chính Đức
Giêsu.

- đừng chào hỏi ai dọc đường (4): Người ta giải thích lệnh
này nhiều cách. (1) Các môn đệ không được mất giờ vào
việc nói chuyện với dân chúng vì mùa màng cần phải gặt
                                                         5
gấp. Họ chỉ nên gửi lời chào đến các nhà và các thành thôi
(x. 2 V 4,29). (2) Các môn đệ phải tập trung vào việc rao
giảng và chữa lành, chứ không vào những vấn đề trần thế.
Quan hệ do việc rao giảng về Nước Thiên Chúa đòi hỏi
không được đo lường bằng thái độ lịch sự hay những lời
chào hỏi. (3) Đây là một lưu ý về thái độ thù nghịch mà các
môn đệ Đức Giêsu, trong tư cách là những tiền hô của
Người, phải sẵn sàng đối mặt.

- bình an (5): Cần hiểu “bình an” này theo nghĩa của từ
shalôm trong Cựu Ước (do ngữ căn shlm, có nghĩa là “sự
đầy đủ, sự toàn vẹn”), diễn tả lòng quảng đại của Thiên
Chúa đang hiện diện và hoạt động nhằm cứu độ. Và diều
này được thực hiện cụ thể nhờ công trình cứu độ của Đức
Giêsu (x. 7,50; 8,48; 24,36).

- ai đáng hưởng bình an (6): dịch sát là “con cái của sự
bình an”, tức là một người mở ra và có thể đón nhận hoa
trái ơn cứu độ do Đức Giêsu mang đến.

- bình an của anh em (6): nghĩa là sự bình an anh em
mang đến trong tư cách sứ giả của Thầy.

- vào bất cứ thành nào (10): Cả thành phải đối diện với lời
rao giảng và việc chữa lành. Các môn đệ phải làm một
hành vi công khai.

- nghe đến danh hầy (17): dịch sát là “trong / với danh
Thầy”, nghĩa là khi kêu cầu danh Thầy. Viêc dùng danh Đức
Giêsu trở thành một đề tài quen thuộc trong Cv (3,6;
4,10.17-18.30; 5,40; 9,27).

                                                         6
- hầy đã thấy Satan như một tia chớp từ trời sa xuống
(18): Ta có thể hiểu câu văn này theo hai cách: a) “Thầy đã
thấy Satan sa xuống như một tia-chớp-từ-trời”: “từ trời” bổ
nghĩa cho “chớp” và “trời” là nơi xuất phát “chớp” (P.
Joušon; F.W. Lewis); b) “Thầy đã thấy Satan như một tia
chớp từ trời sa xuống”: cách dịch này gợi đến kiểu Cựu
Ước mô tả Satan như “kẻ đối lập”, một công chức của triều
đình thiên quốc của YHWH có nhiệm vụ tố cáo loài người (G
1,6-12; 2,1-7; Dcr 3,1-2); vậy cách dịch này muốn nói rằng
Satan đã bị trục xuất khỏi vai trò đó (Fitzmyer). Cách dịch
này hợp lý hơn.

Đây không phải là một thị kiến của Đức Giêsu tiền hữu, bởi
vì sự tiền hữu của Người không được Lc để ý đến trong
TM, cũng không phải là một thị kiến Đức Giêsu có trong một
lúc xuất thần trong thời gian đi hoạt động. Đây cũng không
phải là một thị kiến báo trước về một điều sẽ xảy ra trong
cuộc phán xét cuối cùng. Đúng hơn, Đức Giêsu “thấy” đây
là một cách nói biểu tượng nhằm tóm tắt các hiệu quả mà
các môn đệ đã đạt được khi đi thi hành sứ vụ.

- rắn rết, bọ cạp (19): Ở Paléttina, ai cũng biết rắn và bọ
cạp là nguồn gây ra sự dữ thể lý, nhưng Cựu Ước dùng
như biểu tượng để nói về mọi thứ sự dữ (x. Đnl 8,15; Ds
21,6-9; Hc 21,2; 1 V 12,11.14; Hc 39,30).

- tên anh em đã được ghi trên trời (20): Lời này gợi ý tới
một hình ảnh của Cựu Ước: quyển sách sự sống ở trên
trời, ghi tên những người thuộc về dân Thiên Chúa (Xh
32,32-33; Tv 69,28; 56,9; 87,6; Is 4,3; 34,16; Đn 12,1; Ml
3,16-17; Tân Ước dùng lại: Pl 4,3; Dt 12,23; Kh 3,6; 13,8;
17,8; 20,12.15; 21,27).
                                                         7
IV. Ý NGHĨA CỦA ẢN VĂN

*Đức Giêsu chỉ định và sai phái 72 môn đệ (1)
Ngoài việc sai phái Nhóm Mười Hai đi rao giảng và chữa
lành (Lc 9,1-6), TM III kể rằng Đức Giêsu có chọn và cử một
nhóm môn đệ khác (bảy mươi hay bảy mươi hai người) đi
trước để dọn đường cho Người (10,1-12). Tuy Lc mô tả
Đức Giêsu đang trên đường lên Giêrusalem, tác giả không
bao giờ cho biết các môn đệ được sai phái đi đâu và sau đó
từ đâu trở về. Nhưng qua việc sai phái nhóm môn đệ này,
ta hiểu là Đức Giêsu và sứ điệp của Người nhắm đến toàn
thể nhân loại.

* Đức Giêsu ban chỉ thị cho 72 môn đệ (2-12)
Đây là bản văn nhắc lại những chỉ thị ban cho Nhóm Mười
Hai ở Lc 9,1-6, nhưng nêu bật hai điểm quan trọng: tính cấp
bách và thái độ thù nghịch. Các môn đệ phải đi từng hai
người một vì phải hành động trong tư cách chứng nhân.
Các ông không được để cho các trở ngại làm chùn bước
khi đi rao giảng về Nước Thiên Chúa. Việc chữa lành và
loan báo phải làm nhanh như những thợ gặt phải nhanh tay
thu hoạch lúa chín về kho. Các ông phải hiểu rằng các ông
không được cử đi để làm những bổn phận xã hội, bởi vì
những gì các ông phải giảng và phải làm sẽ đặt các ông ra
một bên. Các ông sẽ không có giờ mà chào hỏi như quen
làm, hay để ý tới loại lương thực các ông sẽ dùng, hoặc tìm
nơi trú ngụ tiện nghi hơn. Sứ điệp các ông phải truyền đạt
là: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông”. Cung cách
các ông làm việc là cung cách của các thợ gặt đang vội gặt
lúa kẻo lúa bị hư đi. Tuy nhiên, các ông được cử đi như
chiên con đi vào giữa bầy sói, nghĩa là không có phương

                                                         8
thế tự vệ, như những thọ tạo yếu đuối đứng trước những
tấn công gần kề.

Cc. 5-7 bàn đến cách cư xử của các môn đệ trong các nhà;
còn cc. 8-9 bàn đến lối sống của các ông trong các thành
phố.

Dường như lý do khiến tác giả Lc viết bản văn lặp lại này
(“điệp văn”) là sứ mạng rao giảng không chỉ dành riêng cho
Nhóm Mười Hai; những “người khác” cũng sẽ tham gia vào
việc làm chứng cho Đức Giêsu và cho Lời của Người. Đây
là chiều hướng của sách Cv.

Đức Giêsu không tức khắc truyền các môn đệ rao giảng và
chữa lành. Vừa ghi nhận “lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại
ít” xong, Ngài bảo các ông hãy cầu nguyện để xin Thiên
Chúa sai thợ gặt đến. Việc gặt lúa là công việc của Thiên
Chúa; các môn đệ chỉ là những người thợ được cử đến làm
việc mà thôi. Như thế, kết quả của công việc thu hoạch
không những lệ thuộc vào sự cộng tác của các ông, mà còn
tùy thuộc vào lời cầu nguyện của các ông nữa. Chủ ruộng
là Thiên Chúa (người ta phải rao giảng Nước của Ngài). Ở
8,11, Lời của Ngài được ví với hạt giống gieo vào lòng đất.
Bây giờ việc rao giảng về Nước được gián tiếp so sánh với
một mùa gặt. Đến đây ta ghi nhận rằng Đức Giêsu nhấn
mạnh trên nhu cầu có các môn đệ như là các cộng sự viên;
còn bản thân Người là người được sai đi rao giảng (4,18)
nay sai những “người khác” đi, và đi đông người (10,1); các
ông sẽ là những đại diện của Người (10,16).

Các chỉ thị kết thúc bằng một ghi nhận mang giọng đe dọa
so sánh các thành đã từ chối các môn đệ tương tự thành
                                                       9
quê hương Người là Nadarét, đã từ chối sứ điệp của
Người, hoặc làng Samari nọ đã không tiếp đón Người
khiến các môn đệ muốn xin lửa trời xuống thiêu hủy (9,53-
54), với một thành Cựu Ước trứ danh, là Xơđom, đã bị lửa
và diêm sinh thiêu rụi (St 19,24). Vào ngày phán xét,
Xơđom với tất cả sự gian ác của thành lại được xử khoan
hồng hơn các thành kia vì họ đã loại trừ những đặc sứ của
Thiên Chúa. Lời đe dọa này trở thành điểm tựa cho những
lời nguyền rủa sau đó (nhưng Phụng vụ không đọc ở đây).

Đến đây, cộng đoàn Kitô hữu thời tác giả Lc thấy những nỗ
lực truyền giáo của họ được liên kết với sứ mạng của chính
Đức Giêsu. Như vậy, công việc rao giảng của cộng đoàn
Kitô hữu tiên khởi được bén rễ trong giáo huấn và lệnh
truyền này của Đức Giêsu.

* hững nhận định sau khi bảy mươi [hai] môn đệ đi
giảng về (17-20)
Tác giả đã gắn vào truyện Đức Giêsu sai phái “bảy mươi
[hai] người khác” một lời tường thuật về việc các ông trở về,
phần báo cáo của các ông về kết quả mỹ mãn, và ba lời
bình của Đức Giêsu về báo cáo của các ông cho biết những
hiệu quả đạt được trong tư cách đại diện của Người. Người
ta không thể bỏ qua một bên, sự tương phản giữa sự việc
Xatan từ trời rơi xuống và việc tên các môn đệ được ghi
trên trời, và bên kia, sự tương phản giữa điều đi theo “danh”
Người và hậu quả của công việc họ làm, là “tên” của họ
thực sự được ghi trên trời.

Đức Giêsu tóm các hiệu quả của sứ vụ của bảy mươi [hai]
ông bằng hình ảnh Xatan bị trục xuất khỏi ngai (c. 18). Sau
đó (c. 19), Người giải thích thêm sự thất bại của tà thần:
                                                         10
trong tư cách đại diện của Đức Giêsu, các môn đệ có
“quyền” trên mọi dạng biểu lộ của tà thần (thể lý, biểu
tượng, và nhân học). Nhận xét cuối cùng của Đức Giêsu (c.
20) đưa sứ vụ của các môn đệ vào đúng viễn tượng thiên
giới: lý do khiến các ông vui mừng là vì chính Thiên Chúa
đã ghi tên các ông vào sổ hằng sống, vào danh sách những
kẻ được Ngài ưu ái. Đức Giêsu lái sự chú ý của các môn đệ
ra khỏi những tư tưởng về một thành công lẫy lừng, gây
cảm giác mạnh, để đi đến một nhận định về tư cách của họ
trên trời. Có quyền lực trên ma quỉ không bảo đảm cho có
sự sống; được ghi tên vào sổ sự sống mới là điều đáng
kể.

+ Kết luận
Các đòi hỏi của Đức Giêsu với bảy mươi [hai] môn đệ giống
với những đòi hỏi đối với Nhóm Mười Hai (9,1-6). Hẳn đây
cũng là những yêu cầu mà các nhà thừa sai mọi thời phải
đáp ứng: loan báo hòa bình thiên sai và Nước Thiên Chúa
đang đến, trong sự dịu êm và nghèo khó, nhân ái và phục
vụ, vô vị lợi và chấp nhận nếp sống bấp bênh, thiếu tiện
nghi và an toàn. Chỉ với cái giá này, các môn đệ mới đạt
được chiến thắng trên Thần Dữ và công trạng được Thiên
Chúa ghi nhớ.

V. GỢI Ý SUY NIỆM

1. Đức Giêsu đã ghi nhận: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt
lại ít”. Tuy nhiên, Người lại mời các môn đệ cầu xin chủ
mùa gặt gửi thợ đến. Như thế, Người nhắc các ông nhớ
rằng Thiên Chúa là Chúa của dân chúng và tất cả những gì
liên hệ đến dân chúng thì đều ở dưới quyền chúa tể của
                                                      11
Thiên Chúa. Ai muốn thật sự giúp đỡ dân chúng, thì không
thể tự mình đi theo sáng kiến riêng và nhân danh mình,
nhưng phải được chủ mùa gặt sai đi.

2. Chính Đức Giêsu đã sai các môn đệ đi. Người xử sự như
là chủ mùa gặt. Thật ra Người làm nhân danh Thiên Chúa
và làm vì lòng từ bi thương xót đối với dân. Các môn đệ ra
đi phải chu toàn sứ mạng theo chiều hướng này.

3. Hành lý các môn đệ mang theo chẳng có gì, ngoài sứ
điệp phải truyền đạt. Các ông không là gì khác ngoài tư
cách sứ giả của sứ điệp này và các ông không mang theo
gì ngoài sứ điệp này. Rõ ràng các ông cần một hành trang
và một nơi cư ngụ. Tuy nhiên, các ông không được đòi hỏi
gì và bận tâm gì cả. Các ông chỉ phải hoàn toàn quan tâm
đến sứ điệp của các ông mà thôi. Một đòi hỏi phải nghèo
khó, khiêm nhường và chấp nhận yếu đuối như thế, thì
ngược lại với cám dỗ muốn đạt hiệu năng bằng mọi giá.

4. Việc loan báo Tin Mừng không thể là chuyện của một cá
nhân riêng lẻ mà là việc của một cộng đoàn, cho dù ở dạng
phôi thai. Không người môn đệ nào có thể tự cho rằng mình
có sứ điệp Kitô giáo và có thể phản ảnh được hết sự phong
phú của sứ điệp. Chính là trong đối thoại mà tôi sẽ nói về
một vị Thiên Chúa đã chấp nhận đối thoại với loài người
cho đến độ trở thành một người trong loài người.
………………
[1] Vocative.



                                      Lm. PX Vũ Phan Long, ofm



                                                          12
CHÚA SAI TÔI ĐI LOAN ÁO TIN ÌNH AN VÀ HẠNH
                    PHÚC
                                           Lm.   arolô   ồ ặc Xái
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
Anh chị em thân mến
Bài Tin Mừng hôm nay thuật chuyện Chúa Giêsu sai 72
môn đệ đi khắp nơi như những sứ giả của sự bình an và
hạnh phúc. Ngày nay Chúa cũng sai chúng ta như thế.
Nhưng muốn là những sứ giả của bình an và hạnh phúc thì
trước tiên chúng ta phải có bình an và hạnh phúc trong lòng
chúng ta. Đó là hai ơn rất quý mà chúng ta hãy xin Chúa
ban trong Thánh lễ này.

II. GỢI Ý SÁM HỐI
     Chúng ta chỉ lo đến phần rỗi của riêng mình mà
      không nghĩ đến việc cứu rỗi người khác.
     Trong cuộc sống chung đụng với người khác, chúng
      ta chưa thực sự là những người mang lại bình an và
      hạnh phúc cho họ.
     Chúng ta chưa được như Thánh Phaolô, biết sung
      sướng hãnh diện vì Thập Giá Đức Kitô.

III. LỜI CHÚA
1.     đọc I Is 66, 10-14c
Vua Cyrus nước Ba Tư vừa tiêu diệt đế quốc Babylon và ký
sắc lệnh cho phép dân Do Thái hồi hương. Trong bầu khí
phấn khởi vui mừng đó, ngôn sứ Isaia nói tiên tri rằng Thiên
Chúa sẽ ban phúc lành cho dân. Điều đáng lưu ý là phúc


                                                              13
lành quý giá nhất chính là ơn bình an: "Ta sẽ làm cho bình
an chảy đến nó (Giêrusalem) như con sông".

2. Đ    a Tv 65
Tv này reo mừng Thiên Chúa và ca ngợi về những ơn lành
của Ngài.

3.     đọc II Gl 6, 14-18 (Chủ đề phụ)
Trong đoạn thư này gởi tín hữu Galata, Thánh Phaolô chia
xẻ cho họ biết một Tin Mừng đặc biệt mà Ngài khám phá ra,
đó là giá trị tuyệt vời của thập giá Đức Kitô:
    Thập giá đã mang lại ơn cứu độ cho mọi người
    Thập giá trở thành lẽ sống của Phaolô
    Thập giá là nguồn bình an và hạnh phúc của Ngài.

4. Tin M ng Lc 10, 1-12. 17-20
Đoạn Tin Mừng này đã được Phụng vụ cắt bớt khúc giữa
(cc 13-16), để chỉ còn lại hai phần chính: Chúa Giêsu sai
các môn đệ đi rao giảng (cc 1-12), và các môn đệ rao giảng
xong trở về kể chuyện cho Ngài nghe (cc 17-20)
    a/ Chúa Giêsu sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng:
    Theo tường thuật của Thánh Luca, Chúa Giêsu đã sai đi
    rao giảng không phải chỉ nhóm tông đồ mà còn cả nhóm
    môn đệ nữa. Luca muốn nhấn mạnh rằng không riêng gì
    các tông đồ, mà tất cả mọi người đều được Chúa Giêsu
    sai đi rao giảng Tin Mừng. Ý này lại được làm rõ thêm
    với con số 72. Đây là số dân của loài người mà St 10 đã
    liệt kê.


                                                        14
"Từng nhóm hai người": Việc loan Tin mừng không phải
là việc của một cá nhân riêng lẻ, mà là việc của cộng
đoàn, không phải là độc quyền của riêng ai, nhưng phải
liên đới và liên kết với nhiều người khác.
"Hãy cầu xin": Việc đầu tiên mà nhà truyền giáo phải
làm là "cầu xin". Thiên Chúa là chủ mùa gặt, nhận ai
vào Nước Thiên Chúa là quyền của Ngài và là ơn của
Ngài. Chúa Giêsu bảo cầu xin là để các môn đệ ý thức
rằng họ được gọi là nhờ ơn Chúa, và để có thêm nhiều
người nữa nhận được ơn ấy.
"Như chiên non vào giữa sói rừng": Chúa Giêsu khuyến
cáo các môn đệ về những hiểm nguy và sự thù nghịch
mà có thể họ sẽ gặp phải.
"Đừng chào ai dọc đường": việc chào hỏi của người
Phương Đông thường kéo theo những câu chuyện rề rà
rất lâu. Trong khi sứ mạng loan Tin mừng đòi phải gấp.
"Bình an cho nhà này": đây vừa là một lời chúc vừa là
một lời ban ơn bởi vì nó có sức tạo nên điều nó chúc (Is
45, 23). Người rao giảng Tin Mừng phải là "con cái của
sự bình an". Họ phải có bình an trong mình và sau đó
đem bình an ấy ban lại cho người khác. Nếu nhà nào
đáng được hưởng ơn bình an thì được bình an, nếu
không thì ơn bình an trở lại cho người chúc.
"Cứ ở lại nhà ấy": gặp nhà nào đầu tiên cho ở thì người
môn đệ hãy ở đó. Đừng tìm hiểu nhà để so sánh chọn
lựa nhà nào tiện nghi hơn. Điều quan trọng là loan báo
Tin mừng Nước Thiên Chúa chứ không phải tiện nghi
cho mình hoặc cách người ta tiếp rước mình.
"Ăn uống của người ta cung cấp cho mình": sứ mạng
của môn đệ đừng để bị ảnh hưởng bởi những quan tâm


                                                     15
có tính cách trần thế (đòi hỏi hoặc e ngại những gì của
ăn uống người ta lo cho mình).
"Thợ đáng trả lương": đây là một nguyên tắc (1Tm 5,
18; 1Cr 9, 11). Nhưng người thừa sai cũng có thể tự ý
từ chối (1Cr 9, 14-18).
"Người ta dọn thức gì cứ ăn thức ấy": Người rao giảng
Tin Mừng Chúa Giêsu không còn bị bận vướng bởi luật
Môsê về sự phân loại thức ăn nào sạch, thức ăn nào dơ
(1Cr 10, 27).
"Hãy chữa lành các bệnh nhân": đây là dấu hiệu Nước
Thiên Chúa gần đến.
"Phủi bụi chân": người Do Thái thường phủi bụi chân
khi từ một vùng đất ngoại trở về đất Palestina vốn được
coi là đất thánh. Cử chỉ này có nghĩa là không có chung
đụng giữa Israel và dân ngoại. Thành nào không đón
nhận sứ điệp của Chúa Giêsu thì cũng cắt đứt liên hệ
với dân Thiên Chúa, trách nhiệm là thuộc về họ.
Thành đó sẽ đáng chịu phán xét trong ngày chung thẩm,
họ sẽ bị trừng phạt nặng nề còn hơn Sôđôma ngày xưa.
Việc các thừa sai đến loan Tin mừng là cơ hội cho
người ta chọn lựa để hoặc được cứu độ hoặc bị luận
phạt.

b/ Sau một thời gian đi truyền giáo trở về, các môn đệ
vui mừng kể lại cho Chúa Giêsu nghe những thành
công của mình. Nhân dịp này Chúa Giêsu nhận xét về
kết quả ấy của họ: Ngài chia vui với họ vì những thành
công ấy. Nhưng Ngài cho biết họ càng nên vui mừng
hơn vì Thiên Chúa đã coi họ là công dân của Nước Trời
("tên các con được ghi trên trời")


                                                    16
IV. GỢI Ý GIẢNG
* 1. Những kẻ mang bình an
Lời đầu tiên mà Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải nói khi
vào một nhà nào là "Bình an cho nhà này". Như thế nghĩa là
họ sẽ làm những sứ giả của sự bình an. Nói cách khác, làm
sứ giả của bình an là sứ mạng đầu tiên của người môn đệ
Chúa.

Bắc Ai Len là một đất nước mà hai khối dân Công giáo và
Tin lành thù ghét nhau và nhiều lần bắn giết nhau. Vào một
dịp lễ Giáng sinh, một Linh mục công giáo đi sang bên kia
đường để đến thăm một Mục sư Tin Lành. Vị Mục sư rất
cảm động, đón tiếp vị Linh mục rất niềm nỡ. Ít lâu sau Vị
Mục Sư cũng sang bên kia đường để thăm vị Linh mục.
Tình thân giữa hai người ngày càng thắm thiết hơn. Tuy
nhiên một vài tín đồ lớn tuổi thì nổi giận. Họ tìm đủ cách để
cấp trên của Giáo Hội thuyên chuyển vị Mục sư ấy đi nơi
khác.

Vị Linh mục và Vị Mục sư trên chỉ làm điều mà tất cả các
môn đệ Chúa Giêsu phải làm, đó là làm những sứ giả của
bình an và hòa giải trong một xã hội có nhiều chia rẻ.
Bình an không phải là một cái gì tiêu cực do không có chiến
tranh và thù hận. Nó đòi phải có tinh thần cởi mở, tình
huynh đệ, lòng khoan dung, thiện chí và ước muốn hòa giải.
Nó buộc chúng ta đi đến với người khác. Nó giúp chúng ta
gỡ bỏ những rào cản của nghi kỵ, sợ hãi, thành kiến và óc
cố chấp.

Trước lúc Rước Lễ, chủ tế chúc "Bình an của Chúa hằng ở
cùng anh chị em". Đây thực là một món quà quý giá mà thế
                                                      17
gian không thể ban tặng được. Tiếp đó chủ tế kêu gọi "Anh
chị em hãy chúc bình an cho nhau". Đáp lời Ngài, chúng ta
chào nhau, đến bắt tay nhau hoặc ôm hôn nhau. Ước chi
những cử chỉ đó không phải chỉ là hình thức mà thực sự
bày tỏ lòng thân thiện của chúng ta. Cuối Thánh lễ, chủ tế
lại chúc "Chúc anh chị em ra về bình an". Câu này có nghĩa
là chúng ta đã đến nhà thờ lãnh nhận bình an của Chúa,
vậy khi ra về chúng ta cũng hãy mang bình an ấy đến cho
mọi người chúng ta sẽ gặp gỡ.

* 2. Mênh mông lúa đồng
Một buổi tối nọ, ông John Keller, một diễn giả nổi tiếng
được mời thuyết trình trước khoảng một trăm ngàn người
tại vận động trường Los Angeles. Đang diễn thuyết, bỗng
ông dừng lại và nói: "Xin các bạn đừng sợ. Tôi sắp cho tắt
tất cả đèn trong sân vận động này".

Đèn tắt, sân vận động chìm sâu trong bóng tối dày đặc. Ông
John Keller nói tiếp: "Bây giờ tôi đốt lên một que diêm.
Những ai nhìn thấy ánh lửa của que diêm tôi đốt thì hãy kêu
lớn lên: "Đã thấy!" Một que diêm được bật lên, cả vận động
trường vang lên: "Đã thấy!"

Sau khi đèn được bật sáng, ông John Keller giải thích: "Ánh
sáng của một hành động nhân ái nhỏ như một que diêm sẽ
chiếu sáng trong đêm tăm tối của nhân loại y như vậy".

Một lần nữa, tất cả đèn trong sân vận động lại tắt. Một giọng
nói vang lên ra lệnh: "Tất cả những ai có mang theo hộp
quẹt, xin hãy đốt cháy lên!" Bỗng chốc, cả vận động trường
rực sáng.
                                                           18
Ông John Kener kết luận: "Tất cả chúng ta hợp lực cùng
nhau, có thể chiến thắng bóng tối, sự dữ và oán thù bằng
những đốm sáng nhỏ của tình thương và lòng tốt của chúng
ta".

Đã qua 2000 năm nhưng lời dạy của Chúa Giêsu vẫn như
đang nói với chúng ta hôm nay: "Lúa chín đầy đồng mà thợ
gặt lại ít" (Lc 10, 2). Thế giới có trên 6 tỉ người, mà kẻ tin
vào Chúa mới chỉ hơn một tỉ. Riêng tại Á Châu, chiếm 2/3
dân số thế giới, nhưng người Công giáo chỉ không tới 3%.

Cánh đồng lúa mênh mông còn bị bỏ hoang không thợ gặt
hái. Thế giới này dường như vẫn còn mò mẫm trong bóng
đêm dày đặc của sự dữ, của tranh chấp, của oán thù; rất
cần những đốm sáng của tình thương, của khoan dung, của
tha thứ. Thế nên, không lạ gì Chúa Giêsu đã nói: "Anh em
hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con vào giữa
bầy sói" (Lc 10, 3).

"Ra đi" chứ không phải "ở lại", đó là một lệnh truyền. Cả
cuộc đời của Thầy là một hành trình: Sinh ra ngoài đường,
sống và rao giảng ngoài đường, cuối cùng chết cũng ngoài
đường. Thầy luôn lên đường và không ngừng ra đi. Công
đồng Vaticano II cũng long trọng khẳng định: "Tự bản tính,
Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo" (TG 2). Đức Thánh Cha
Gian Phao lô II cũng quả quyết: "Không một ai trong những
người rin vào Đức Kitô, không một tổ chức nào trong Giáo
Hội được miễn khỏi trách vụ cao cả này: Đó là toan báo
Đức Kitô cho mọi dân tộc" (Sứ vụ Đấng Cứu Độ, 3).

Vậy ơn gọi của người tín hữu Kitô là "Ra đi".
                                                           19
  - Ra đi đem "bình an" đến cho các dân tộc, bình an giữa
    mọi người với nhau, bình an với Chúa.
  - Ra đi chữa lành bệnh nơi thể xác cũng như trong tâm
    hồn.
  - Ra đi loan báo Nước Thiên Chúa đã đến gần, nước tình
    yêu và ân sủng, nước công chính và bình an.
Thánh Phao lô đã phải thốt lên: "Khốn cho thân tôi: nếu tôi
không rao giảng Tin Mừng" (1Cr 9, 16). Nhưng việc làm mới
chứng thực cho lời rao giảng, và lời rao giảng sẽ soi sáng
cho việc làm. Ra đi là để làm chứng, và lời chứng sáng giá
nhất chính là việc làm. Đúng như L. Moody đã nói: "Các
ngọn hải đăng không thổi còi ầm ĩ, chúng chỉ chiếu sáng".
(TP)

* 3. "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít"
Catherine de Hueck Doherty làm việc trong một quán bar ở
Mahattan. Đến 4 giờ sáng, cô nói lời tạm biệt với các khách
uống rượu. Một người hỏi:
  - Cô đi đâu?
  - Tôi phải đi Nhà thờ dự Thánh lễ, vì hôm nay là Chúa
     nhật.
  - Thế cô là người công giáo hả?
  - Đúng vậy.
Nhiều người trong đám khách rất ngạc nhiên vì không ngờ
Catherine có thể vừa là một người công giáo ngoan đạo
vừa làm việc tại một nơi phức tạp như vậy. Vài tuần sau,
một người trong đám khách trở lại nói với Catherine: "Cô đã
khiến tôi suy nghĩ nhiều. Cô có thể vừa sống đạo tốt vừa
làm việc ơ một nơi như thế này, thì tại sao tôi không thể!"
Và người ấy đã trở lại nhà thờ.

                                                        20
Lần khác, Catherine đang trên đường tới trạm xe điện ngầm
thì gặp một bà cụ. Bà cụ mở lời "Cô có vui lòng nói chuyện
với tôi giây lát không?" Cô vui vẻ nhận lời. Hai người đã nói
chuyện với nhau trong suốt chặng đường. Sau đó hai người
còn kết thân với nhau và Catherine thường xuyên tới thăm
viếng bà cụ cho tới ngày bà cụ qua đời.

"Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít". Một kitô hữu có ý
muốn làm thợ gặt như cô Catherine thì không bao giờ thiếu
dịp để gặt lúa cho Chúa.

* 4. Mảnh suy tư
Tông đồ là kẻ được sai đi. Vì thế làm tông đồ rất khác với
làm chuyên viên. Làm chuyên viên thì cần phải có tài năng.
Còn làm tông đồ thì chỉ cần đi theo lệnh Chúa sai, đến với
người Chúa sai mình đến, và mọi việc khác hầu như Chúa
sẽ làm tất cả.

* 5. Chuyện minh họa
     a/ Đi giảng
     Ngày kia, thánh Phanxicô Assadi nói với một thày dòng:
     "Nào chúng ta cùng đi phố và giảng đạo. " Hai người ra
     đi, hết con đường trước mặt, quẹo sang đường khác rồi
     về nhà. Thày dòng thắc mắc hỏi: "Con nghe ngài nói là
     mình đi phố và giảng đạo cơ mà!" Thánh Phanxicô đáp:
     "Chúng ta đã giảng đạo rồi đó! Khi chúng ta đi đường.
     Mọi người nhìn ta, thấy phong cách của ta, nghĩ về đời
     sống của ta và rồi họ sẽ thắc mắc về nguồn sống nơi
     linh hồn của họ. Như thế chẳng phải là ta đã giảng đạo
     cho họ rồi sao?"

                                                          21
   Câu nói của thánh nhân quả là khôn ngoan. Người Kitô-
   hữu không có cách truyền giáo nào hay hơn là chính
   đời sống chứng tá của họ.
   b/ Khuôn vàng thước ngọc
   "Hãy nói về Chúa cho những người quanh bạn nghe; và
   hãy nói về những người quanh bạn cho Chúa nghe".

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
 hủ tế: Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu mời gọi người
Kitô hữu cộng tác vào công cuộc cứu chuộc của Người. Với
ước mong trở nên những sứ giả Tin mừng cứu độ, chúng ta
cùng dâng lời cầu xin:

   1. Hội thánh là dấu chỉ ơn cứu độ Chúa sẵn sàng ban
   cho hết thảy mọi người / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa
   gửi nhiều thợ gặt lành nghề / đem tin mừng đến cho mọi
   loài thọ tạo.
   2. Khát vọng sâu xa nhất của con người ở mọi thời đại /
   là được sống bình an và hạnh phúc / Chúng ta hiệp lời
   cầu xin Chúa ban hòa bình cho những vùng còn khói
   lửa chiến tranh / để hết thảy mọi người đều được sống
   hạnh phúc và an bình.
   3. Tin tưởng vào Chúa quan phòng là thái độ người Kitô
   hữu cần có suốt cuộc đời của mình / Chúng ta hiệp lời
   cầu xin cho mọi tín hữu / biết đặt trọn niềm tin vào sự
   quan phòng kỳ diệu của Chúa / mỗi khi gặp thử thách
   gian truân.
   4. Số linh mục trên thế giới ngày nay thiếu hụt trầm
   trọng / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ
   chúng ta / biết góp phần vào việc đào tạo linh mục

                                                       22
   tương lai của các giáo phận / bằng lời cầu nguyện /
   cũng như bằng việc rộng rãi giúp đỡ Chủng viện.

 hủ tế: Lạy Chúa Giêsu, Chúa sai chúng con đem Tin
mừng cứu độ, mang sứ điệp yêu thương đến cho biết bao
anh chị em chưa nhận biết Chúa. Xin Chúa cho chúng con
biết dùng đời sống bác ái yêu thương và phục vụ tận tụy,
mà làm tròn sứ mạng này. Chúa hằng sống và hiển trị muôn
đời.


                                                         Lm.   arolô   ồ ặc Xái




                               TÂM BÃO
    hủ đề: "Sứ vụ của chúng ta là đem bình an của Đức Kitô đến cho thế gian"

                                                             Lm. Mark Link, SJ
Trong năm 1980, một tờ báo phát hành trên toàn quốc có
đăng một câu chuyện khác thường. Một người kia ra xe của
ông đang đậu trước một trung tâm thương mại lớn. Ngay
trên ghế ngồi, có một mẩu giấy viết:
"Thưa ông/bà;
Tôi đã định ăn cắp chiếc xe này cho đến khi tôi chợt nhìn
thấy hàng chữ 'Peace-Be-to-You' (Bình An-Cho-Bạn) dán
trên kính xe. Nó làm tôi do dự và suy nghĩ. Tôi nghĩ nếu tôi
ăn cắp chiếc xe này, ông bà chắc chắn sẽ không có bình
an, và ngược lại, tôi cũng không cảm thấy bình an, vì đây là
'chuyến ăn hàng' đầu tiên của tôi.
Do đó, 'bình an cho bạn' và cho tôi. Nhớ lái xe cẩn thận và
lần sau đừng quên khóa cửa."
                                                                               23
Ký tên: "Người Muốn Ăn Cắp Xe."

Câu chuyện khác thường đó làm sáng tỏ mệnh lệnh khác
thường của Chúa Giêsu mà Người đã ban cho các môn đệ
trong bài phúc âm hôm nay:
"Vào bất cứ nhà nào, trước hết các con hãy nói, 'Bình an
cho nhà này.' Nếu một người yêu chuộng bình an sống ở
đó, lời chúc bình an của các con sẽ ở với họ; nếu không,
hãy lấy lại lời chúc bình an."
Áp dụng điều này vào câu chuyện nói trên, chúng ta thấy
câu "Bình An-Cho-Bạn" đã nới rộng sự bình an của Đức
Kitô đến cho người muốn ăn cắp xe. Tên trộm này là người
bình an trong tâm hồn, và bình an của Đức Kitô đã ngự trên
hắn ta.
Điều đó nêu lên một câu hỏi: Chúng ta muốn nói gì về "bình
an của Đức Kitô"? Bình an đó được cấu tạo bởi những gì?

Khi Kinh Thánh dùng chữ bình an, nó có bốn ý nghĩa khác
nhau.
 - Thứ nhất, nó được dùng trong ý nghĩa quân sự--để chỉ
   về sự thiếu vắng chiến tranh giữa các quốc gia. Do đó,
   chúng ta nói, "Các quốc gia đang sống bình yên."
 - Thứ hai, nó được dùng ý nghĩa cá nhân--để chỉ về một
   cảm giác hạnh phúc của con người. Do đó, chúng ta nói,
   "Chúng tôi hòa thuận với nhau."
 - Thứ ba, Kinh Thánh dùng chữ bình an trong ý nghĩa tôn
   giáo--để chỉ về một tương giao đúng đắn giữa Thiên
   Chúa và con người. Do đó, chúng ta nói, "Chúng ta hài
   hòa với Thiên Chúa."


                                                       24
Sau cùng, Kinh Thánh dùng chữ bình an để chỉ một tình
trạng mà trong đó mọi người trên mặt đất hài hòa với Thiên
Chúa, tha nhân, và với chính mình. Đây là điều chúng ta
muốn nói qua chữ "bình an của Đức Kitô".

Đây cũng là điều Đức Giêsu muốn nói khi Người tuyên bố,
"Thầy để lại bình an cho các con; chính bình an của Thầy
mà Thầy ban cho các con" (Gioan 14:27). Vị linh mục nhắc
lại lời này khi cử hành Thánh Lễ. Sự bình an này thì không
gì khác hơn là Nước Thiên Chúa được trị đến trên mặt đất-
là vương quốc mà chúng ta thường cầu xin trong kinh Lạy
Cha khi chúng ta đọc, "Xin cho Nước Cha trị đến..."

Chính sự bình an này mà Đức Giêsu đã truyền cho các môn
đệ hãy đem vào thế gian trong thời ấy. Chính sự bình an
này mà Đức Giêsu truyền cho chúng ta đem vào thế gian
trong thời đại chúng ta.
Chúng ta sẽ là các khí cụ mà sự bình an của Đức Kitô sẽ
được trải rộng đến mọi người trong mọi quốc gia trên thế
giới.

Một loại suy sau đây có thể giúp chúng ta biết ý Chúa muốn
chúng ta thi hành điều này như thế nào.
Khi gió của cơn bão nhiệt đới lên quá 75 dặm một giờ,
người ta gọi nó là "typhoon" (bão lớn) khi xảy ra ở Thái Bình
Dương, và gọi là "hurricane" (cuồng phong) khi xảy ra ở Đại
Tây Dương.
Để có một ý niệm thế nào là trận cuồng phong, hãy tưởng
tượng ra đĩa "frisbee" với một lỗ hổng ở giữa.
Bây giờ, thử tưởng tượng đĩa ấy lớn dần cho tới khi nó rộng
đến 100 dặm và lỗ hổng ở giữa rộng đến 10 dặm. Và rồi
                                                           25
hãy tưởng tượng cái đĩa khổng lồ ấy xoay tròn với tốc độ
100 dặm một giờ. Đó là cơn cuồng phong hay cơn bão.
Phần đáng chú ý của cơn bão là tâm điểm của nó-cái lỗ
hổng ở giữa đĩa "frisbee". Mặc dù gió lốc đang gào thét
chung quanh tâm bão với tốc độ 100 dặm một giờ, nhưng ở
tâm bão thì lại êm ả. Không có một chút gió lốc.

Nếu bạn đứng trong tâm bão và nhìn lên, bạn sẽ thấy bầu
trời xanh và ánh nắng chói chang.
Tâm bão là một hình ảnh tốt để nói lên điều Đức Giêsu
nhắn nhủ chúng ta trong Tiệc Thánh Thể, khi chúng ta quy
tụ để chia sẻ bữa tiệc ấy vào mỗi Chúa Nhật.

Có biết bao cơn bão chung quanh chúng ta ở trong thế giới
này. Con người gào thét và lấy của nhau; các nhóm dấy
loạn và cướp bóc; quốc gia này đánh nhau với quốc gia
khác.
Tuy nhiên, ở bàn Tiệc Thánh Thể thì lại êm ả. Chúng ta
nhìn lên và thấy bầu trời xanh cùng ánh nắng chói chang.
Chúng ta đang ở tâm bão. Chúng ta vui hưởng "bình an của
Đức Kitô."

Đức Giêsu ban cho chúng ta sự bình an này không phải để
chúng ta ở mãi trong đó, nhưng để bồi dưỡng trong giây lát.
Cũng như tâm bão chỉ kéo dài chừng một giờ đồng hồ khi
bão đi qua, bữa Tiệc Thánh Thể cũng chỉ khoảng một giờ.
Đức Giêsu không bao giờ muốn chúng ta ở mãi trong tâm
bão. Người muốn chúng ta đi vào cơn bão. Đức Giêsu
muốn từ bàn Tiệc Thánh Thể, chúng ta tiến bước để trở
nên tâm bão giữa các trận cuồng phong của thế gian.

                                                        26
Người muốn chúng ta chia sẻ sự bình an của Người, mà
chúng ta được cảm nghiệm trong Thánh Lễ, với toàn thế
giới.
Người muốn chúng ta trở thành các khí cụ mà qua đó sự
bình an của Đức Kitô được trải rộng trên toàn thế giới.

Và vì thế Kinh Thánh nói về bốn loại bình an: sự bình yên
giữa các quốc gia, sự hòa thuận giữa chúng ta, sự hài hòa
với Thiên Chúa, và bình an của Đức Kitô-đó là một tình
trạng mà mọi người trên thế giới hài hòa với Thiên Chúa,
tha nhân và chính mình.
Sự bình an sau cùng này, bình an của Đức Kitô, thì không
gì khác hơn là sự trị đến của Vương Quốc Thiên Chúa.
 - Chính sự bình an này mà Đức Giêsu đã thể hiện khi làm
    người.
 - Chính sự bình an này mà Đức Giêsu đã truyền cho các
    môn đệ phải đem vào thế gian trong thời đại của họ.
 - Chính sự bình an này mà Đức Giêsu truyền chúng ta
    phải đem vào thế gian trong thời đại chúng ta.
 - Chính sự bình an này mà chúng ta cầu xin Chúa Giêsu
    tuôn đổ trên chúng ta vào sáng hôm nay:

  "Lạy Chúa, xin giúp con trở nên khí cụ bình an của Chúa,
   Để nơi thù hận, con đem đến tình yêu;
   nơi xúc phạm, con đem đến tinh thần tha thứ;
   nơi nghi kỵ, con đem đến niềm tin;
   nơi bất hoà, con đem đến sự hoà hợp;
   nơi thất vọng, con đem đến hy vọng;

                                                       27
   nơi bóng tối, con đem đến sự sáng;
   nơi buồn sầu, con đem đến niềm vui.

   Lạy Chúa, xin hãy dạy con
   tìm an ủi người hơn được người ủi an,
   tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết;
   tìm yêu mến người hơn được người mến yêu.
   Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ;
   chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân;
   chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời."
   (Thánh Phanxicô Assisi)



                                             Lm. Mark Link, SJ



                  CHÚA NH T THỨ 14 TN-C
                                            Lm. Augustine, SJ
Một cậu bé 15 tuổi ngồi bên cạnh bố là người đang lái xe
ngang qua một phi trường tí hon tại một thị trấn thuộc tiểu
bang Ô-hai-ô (Ohio) của Hoa Kỳ, thì thình lình một phi cơ
đang bay thấp mà người lái không còn kiểm soát được nữa,
chúi mũi xuống đường. Thấy thế cậu bé hét lên: "Bố ơi, bố
ơi! Dừng lại ngay!"

Vài phút sau, cậu bé lôi chàng phi công ra khỏi chiếc máy
bay ngộ nạn. Ðó là một chàng sinh viên 20 tuổi đang tập
cất cánh và hạ cánh máy bay lên xuống. Chàng thanh niên
ấy đã tắt thở trong tay cậu bé.


                                                          28
Vừa về tới nhà, cậu bé liền chạy lại ôm má vừa khóc vừa
nói: "Mẹ ơi! Anh ấy là bạn con! Anh ấy chỉ mới có 20 tuổi!"
Cậu bé rơi vào một cơn khủng hoảng tâm thần nên không
ăn uống gì. Cậu liền vào phòng, đóng cửa lại và leo lên
giường nằm.

Ðiều khiến cậu bé rơi vào cơn khủng hoảng là vì chính cậu
đang cố công dành lấy bằng lái may bay cho bằng được
sang năm ở tuổi 16. Cậu đi làm ngoài giờ ở một tiệm tạp
hóa, kiếm được đồng nào liền dốc hết vào việc học tập lái
máy bay. Bố mẹ cậu rất lo lắng về hậu quả của thảm kịch
nói trên. Họ nghĩ thảm kịch ấy có thể gây hại không nhỏ
cho con mình. Ông bà chưa rõ cậu bé 15 tuổi này còn dám
tiếp tục học lái may bay nữa không. Nhưng ông bà đã nhất
trí để cho cậu bé tự do quyết định về vấn đề đó.

  hững đức tính của húa Giêsu
Hai ngày sau tấn thảm kịch nói trên, mẹ cậu mang bánh
bích qui bà mới nướng lên cho cậu ăn. Bà nhìn vào ngăn
kéo bàn học của con và thấy có một tập vở mở trang. Ðó là
tập vở cậu bé còn giữ lại từ hồi thơ ấu. Ngay ở trang đầu
bà đọc thấy hàng chữ hoa: "ÐỨC TÍNH CỦA CHÚA
GIÊSU". Kế đến, bà thấy con mình liệt kê những đức tính
sau đây:
   - Chúa Giêsu không hề phạm tội.
   - Chúa Giêsu khiêm nhường và nâng đỡ người nghèo.
   - Chúa không ích kỷ
   - Chúa sống rất gần gũi với Thiên Chúa Cha là Cha
      của Người


                                                        29
Bà hiểu ngay con bà cũng biết theo gương Chúa Giêsu để
cầu nguyện mỗi khi phải quyết định điều gì quan trọng. Thế
là bà quay về phía con mà hỏi:
    - Con quyết định thế nào về vấn đề học bay?
Cậu bé liền nhìn vào mắt mẹ mà trả lời:
    - Thưa mẹ, con hy vọng rằng mẹ và bố sẽ hiểu cho
       con, nhưng với ơn Chúa giúp, con sẽ phải tiếp tục
       học bay.
Người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng
Cậu bé đó chính là Nguyễn An Ðông (Neil Armstrong) ngày
20.7.1969 đã trở thành người đầu tiên đặt chân lên mặt
trăng.
Câu chuyện kể lại cho thấy con người của Ðức Giêsu đã
ảnh hưởng không nhỏ trên Nguyễn An Ðông. Ngay từ thời
thơ ấu, cậu đã biết chiêm ngưỡng cuộc đời Ðức Giêsu. Rồi
khi gặp gian nan thử thách, cậu đã không quên cậy dựa vào
Ðức Giêsu để lãnh lấy trách nhiệm cho tương lai đời mình.

Bài Tin Mừng hôm nay chủ yếu nói về những con người
như Nguyễn An Ðông, mà Thầy Giêsu chỉ định và sai đi cứ
từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi
mà chính Thầy sẽ đến (c.1). Những người ấy là loại người
nào? Tại sao Thầy Giêsu chọn con số bảy mươi hai? Họ
phải trở nên những con người như thế nào khi Thầy sai họ
đi? Họ có đạt được điều Thầy chờ đợi nơi họ chăng?

Chỉ có thánh Luca ghi lại cuộc sai phái các môn đệ đợt hai
này sau cuộc sai phái thứ nhất (Lc 9,1-6) liên quan tới
Nhóm Mười Hai. Tác giả có thể dành cho đợt hai một ý
nghĩa đặc biệt về sinh hoạt truyền giáo của Giáo Hội sau khi
Ðức Giêsu đã ra đi. Con số bảy mươi hai, theo các thầy
                                                         30
ráp-bi của Do Thái giáo, chỉ về toàn cầu theo sách Sáng
Thế chương 10 của bản văn Hy Lạp. Các môn đệ "được
sai đi trước" (c.1) để chuẩn bị cho việc rao giảng thay vì
đảm đang chính việc rao giảng. Họ được phái đi cứ từng
hai người một để việc họ làm chứng về Ðức Giêsu và về
Nước Thiên Chúa mang tính cách chính thức (x. Mt 8,16).
Nước Thiên Chúa phải do chính Thiên Chúa làm chủ. Do
đó các môn đệ được cổ võ cầu nguyện để chính chủ mùa
gặt sai thợ gặt đi gặt lúa về (c.2)

  ránh mọi ảo tưởng
Các môn đệ phải tránh mọi ảo tưởng. Trong thực tế họ
phải kể mình như những con chiên ở giữa sói rừng nên
phải hoàn toàn cậy dựa vào Chúa về tất cả những điều họ
cần. Một số những điều Ðức Giêsu căn dặn Nhóm Mười
Hai (9,1-5) cũng được nhắc lại ở đây. Những người được
sai đi phải ý thức về tính cấp bách của Tin Mừng, nên họ
không được dừng lại thăm hỏi người này người kia vì đó là
việc thường tốn phí nhiều thời giờ theo phong tục người
Trung Ðông.

Tin Mừng được công bố chính là Lời của Thiên Chúa. Lời
đó không thể được kể như sứ điệp mà loài người có thể
nhận hoặc khước từ tùy ý. Mọi người đều phải đối diện với
ngày phán xét để nhận ra trách nhiệm của mình đối với Lời
của Thiên Chúa.
 ên họ được ghi trên trời
Khi bảy mươi hai môn đệ đi sứ vụ trở về, họ lấy làm lạ về
quyền lực đã được ban cho họ nhân danh Thầy Giêsu.
Chính họ đã trừ được quỉ khỏi những người chúng ám.
Như vậy là họ cùng với Thầy Giêsu đẩy lui được quyền bá
                                                       31
chủ của quỉ thần trên mặt đất này. Thầy Giêsu xác nhận
điều đó là đúng khi nói "Thầy đã thấy Satan như một tia
chớp từ trời sa xuống." (c.18). Nhưng Thầy có ý đặt các
môn đệ trong viễn tượng cánh chung với cuộc chiến thắng
cuối cùng chính Thầy sẽ mang lại (Ga 12,31; Rm 16,20).
Các môn đệ cần phải nhìn xa thấy rộng theo viễn tượng đó.
Họ phải tránh cái nhìn thiển cận khiến họ dừng lại ở vinh
quang và quyền lực trần thế mà quên rằng họ phải theo
Thầy Giêsu lên Giêrusalem cho tới đỉnh Can-vê trước đã.
Thầy khuyến cáo họ chỉ nên mừng vì tên họ đã được ghi
trên trời mà thôi (c.20).

  oàn Giáo ội được sai đến với toàn thế giới
Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy bảy mươi hai môn đệ được
sai phái thêm sau chuyến sai phái Nhóm Mười Hai (Lc 9,1-
6) vì "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít" (Lc 10,2). Bài Tin
Mừng cũng hàm ý cho thấy việc tông đồ không phải chỉ là
việc giới hạn giữa mười hai môn đệ đầu tiên mà Ðức Giêsu
sai phái đi. Ðó là việc của toàn thể Giáo Hội như sách Giáo
Lý của Giáo Hội Công Giáo dạy (số 863). Toàn Giáo Hội
được sai đến với toàn thế giới. Mọi thành viên của Giáo
Hội đều được dự phần vào cuộc sai phái chung đó tuy mỗi
người mỗi khác. "Chính ơn gọi Kitô hữu tự bản chất đã là
ơn gọi để làm tông đồ" theo lời Công Ðồng Vaticanô II (Hoạt
Ðộng Tông Ðồ, số 2). Thực ra mọi hoạt động của Giáo Hội
là Nhiệm Thể của Chúa Kitô nhằm trải rộng vương quyền
của Chúa Kitô trên khắp mặt đất, đều được gọi là việc tông
đồ.

"Chính Ðức Kitô được Chúa Cha sai đi là nguồn suối cũng
như nguồn gốc của toàn thể công cuộc tông đồ của Giáo
Hội" (Hoạt Ðộng Tông Ðồ, số 4). Việc tông đồ của các thừa
                                                       32
tác viên có chức thánh cũng như của các Kitô hữu giáo dân,
mang lại kết quả là do họ sống gắn bó với Ðức Kitô. Việc
tông đồ mang những hình thức rất khác nhau do những ơn
gọi khác nhau và những hồng ân khác nhau từ Chúa Thánh
Linh. Nhưng đức ái luôn là linh hồn của mọi việc tông đồ,
nhất là đức ái phát sinh do Thánh Thể.

Mộ số       hỏ gợ ý
1. Bạn hiểu thế nào về lời Chúa Giêsu nói rằng: "Lúa chín
đầy đồng mà thợ gặt lại ít" (c.12)? Thợ gặt không những
chỉ về các thừa tác viên có chức thánh mà còn chỉ về mọi
thành phần Dân Chúa. Riêng bạn làm thế nào đáp ứng
được điều Chúa chờ đợi nơi phần đóng góp của bạn? Hay
coi biết bao người chung quanh bạn cần được nghe hoặc
được làm chứng về Chúa Giêsu, Ðấng cứu độ trong ngày
sau hết? Nhưng để được cứu thì ngay trong hiện tại họ đã
phải sống như thế nào?
2. Tập vở của cậu bé Nguyễn An Ðông trong câu chuyện
nói trên có ghi một số những ÐỨC TÍNH của Chúa Giêsu,
bạn có thể kể thêm một số những đức tính khác của Chúa
Giêsu chăng? Ðể giới thiệu Chúa Giêsu với người thời nay,
bạn nghĩ có những đức tính nào của Chúa Giêsu được
người thời nay chú ý nhất?
                                             Lm. Augustine, SJ




             VÀO NHÀ, VÀO THÀNH PHỐ
                                  Lm.   ntôn guy n ao Siêu, SJ

 LỜI CHÚA:    Lc 10,1-12.17-20

                                                           33
1
   Sau đó, Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai
các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các
thành, các nơi mà chính Người sẽ đến. 2 Người bảo các
ông:
"Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin
chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. 3 Anh em hãy ra đi. Này
Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. 4
Ðừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào
hỏi ai dọc đường. 5 Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói:
"Bình an cho nhà này !" 6 Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình
an, thì bình an của anh em sẽ đến đậu trên người ấy; bằng
không, thì bình an đó sẽ quay về với anh em. 7 Hãy ở lại
nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng
thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Ðừng đi hết nhà
nọ đến nhà kia. 8 Vào bất cứ thành nào mà được người ta
tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. 9
Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ:
"Triều đại Thiên Chúa đã đến gần các ông". 10 Nhưng vào
bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra
các quảng trường mà nói: 11 "Ngay cả bụi trong thành các
ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các
ông. Tuy nhiên các ông phải biết điều này: Triều Ðại Thiên
Chúa đã đến gần". 12 Thầy nói cho anh em hay: trong ngày
ấy, thành Xơđom còn được xử khoan hồng hơn thành đó".
17
    Nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở nói: "Thưa Thầy,
nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục
chúng con". 18 Ðức Giêsu bảo các ông: "Thầy đã thấy Xatan
như một tia chớp từ trời sa xuống. 19 Ðây, Thầy đã ban cho
anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế
lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. 20 Tuy
nhiên, anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh
em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời".

                                                        34
 SUY NIỆM
Dân số Châu Á chiếm gần hai phần ba thế giới nhưng số
người nhận biết Chúa chưa tới 3%. Cánh đồng lúa chín
mênh mông đang cần thợ gặt. Ðức Giêsu hôm nay vẫn có
nhiều nơi Ngài muốn đến, nhiều căn nhà, nhiều thành phố
Ngài muốn đặt chân. Ngài cần những người đi trước để
chuẩn bị cuộc gặp gỡ giữa Ngài với con người.

Khoa học càng tiến bộ, cuộc sống càng văn minh thì càng
có nhiều lãnh vực mới Ðức Giêsu cần vào. Ðưa Ngài vào
thật là một thách đố cho chúng ta. Ngài phải vào cả những
nơi tưởng như bị cấm. Nhưng nếu chúng ta được Ngài sai
vào trước, thì thế nào cuối cùng Ngài cũng vào được.

Nếp sống cao ở thành thị vừa gây cản trở, vừa cung ứng
cho ta nhiều phương tiện để đưa Ngài vào. Hãy chuẩn bị
cho Ngài vào thành phố của bạn, vào trường học, sân vận
động, vào xí nghiệp, công ty... Hãy chuẩn bị để Ngài vào
từng nhà, gặp từng người. Mọi Kitô hữu đều được mời gọi
để làm việc đó.

Ðâu là khuôn mặt của người được sai hôm xưa? Hiền lành
như chiên giữa bầy sói. Khó nghèo thanh bạch, không túi
tiền, giầy dép, bao bị. Khiêm tốn đón nhận sự giúp đỡ về
nhà ở cơm ăn. Tôn trọng tự do tha nhân, chấp nhận bị từ
chối.
Người Châu Á hôm nay dễ đón nhận người tông đồ sống
khổ hạnh, thoát tục, sống thư thái, trầm tư, sống nhân từ,
phục vụ. Cuộc sống của họ phải tỏa hương thơm của thế

                                                       35
giới mai sau, phải có khả năng nâng con người lên Ðấng
Tuyệt Ðối.

Ðâu là đóng góp của người được sai hôm xưa? Vừa chữa
người đau yếu và trừ quỷ, vừa loan báo về triều đại Thiên
Chúa gần đến. Việc làm chứng thực lời giảng, lời giảng soi
sáng việc làm. Cả hai đều đem lại niềm vui, bình an và hạnh
phúc.

Thế giới hôm nay vẫn là một thế giới bệnh tật, một thế giới
thèm khát tự do, thèm được là mình. Chúng ta sẽ rao giảng
gì cho 97% dân Châu Á mà phần đông đã tin vào một Ðấng
Cứu Ðộ? Ðức Giêsu đem đến cho nhân loại quà tặng đặc
biệt nào? Chúng ta phải tập trình bày sứ điệp Kitô giáo,
nên cũng phải học nhiều nơi các tôn giáo Á Châu.

Các giám mục Malaysia, Singapore và Brunei đã liệt kê
những gì có thể học được nơi họ. Học cầu nguyện, ăn
chay, bố thí nơi người Hồi giáo. Học suy niệm và chiêm
niệm nơi người Ấn giáo. Học từ bỏ của cải và trọng sự sống
nơi người Phật tử. Học thái độ thảo hiếu, tôn lão kính
trưởng nơi đạo Khổng. Học sự đơn sơ, khiêm tốn nơi người
theo đạo Lão. Càng học, ta càng dễ giới thiệu Ðức Giêsu,
và càng thấy Ngài đang ẩn mình nơi những tôn giáo khác.


 GỢI Ý CHIA SẼ
    Theo ý bạn, đâu là những nét đặc biệt của mẹ Têrêxa
     Calcutta, khiến cả thế giới mộ mến?



                                                        36
    Theo ý bạn, muốn truyền giáo thành công cho dân tộc
     Việt Nam, người tông đồ cần có những đức tính căn
     bản nào?


 CẦU NGUYỆN
Lạy Chúa Giêsu, xin sai chúng con lên đường nhẹ nhàng và
thanh thoát, không chút cậy dựa vào khả năng bản thân
hay vào những phương tiện trần thế.

Xin cho chúng con làm được những gì Chúa đã làm: rao
giảng Tin Mừng, trừ quỷ, chữa lành những người ốm đau.
Xin cho chúng con biết chia sẻ Tin Mừng với niềm vui của
người tìm được viên ngọc quý, biết nói về Ngài như nói về
một người bạn thân.

Xin ban cho chúng con khả năng đẩy lui bóng tối của sự dữ,
bất công và sa đọa.
Xin giúp chúng con lau khô những giọt lệ của bao người đau
khổ thể xác tinh thần.

Lạy Chúa Giêsu, thế giới thật bao la mà vòng tay chúng con
quá nhỏ. Xin dạy chúng con biết nắm lấy tay nhau mà tin
tưởng lên đường, nhẹ nhàng và thanh thoát.



                                  Lm.   ntôn guy n ao Siêu, SJ




                                                           37
   PHÚC ÂM HOÁ ẢN THÂN MÌNH TRƯỚC HẾT
                                           Lm.   gnatiô rần   gà
Người chủ ruộng sẽ rất lo âu và sốt ruột khi nhìn thấy đồng
lúa mênh mông bát ngát của mình đang vào thời kỳ chín rục
mà chẳng tìm đâu ra thợ gặt để thu hoạch lúa về kho.

Chúa Giê-su cũng cảm thấy tâm hồn nôn nao xao xuyến khi
phần đông nhân loại đang cần được cứu độ nhưng chẳng
mấy ai dấn bước đem ơn cứu độ cho bao người.

Thế nên, khi sai 72 môn đệ ra đi, Chúa Giê-su căn dặn các
ông: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy
xin chủ ruộng sai thợ ra gặt lúa về". Lời căn dặn nầy hôm
nay cũng được lặp lại với mỗi người chúng ta. Đáp lời Chúa
mời gọi, chúng ta sẵn sàng cầu xin có thêm thợ gặt, nhưng
vấn đề là chúng ta sẽ cầu cho ai đi làm thợ gặt đây?

A     hợ g     ủa Chúa?
Khi cầu xin ơn bình an, sức khoẻ và may mắn, thì chúng ta
cầu cho bản thân ta trước; còn khi cầu cho có người làm
thợ gặt trong cánh đồng của Chúa, thì chúng ta cầu Chúa
ban ơn đó cho những người khác, ngoại trừ ta!

Nhưng, dù muốn dù không thì chúng ta đã là thợ gặt chính
danh ngay từ khi được lãnh Bí Tích Thánh Tẩy. Nhờ Bí Tích
nầy, chúng ta đã trở nên chi thể của Chúa Giê-su, nên đã
được thông dự vào chức vụ ngôn sứ, tức sứ vụ loan Tin
Mừng của Người. Vậy thì trách nhiệm ‘gặt lúa’ là trách
nhiệm của chúng ta, không thể thoái thác được, trừ phi
chúng ta tự tách lìa mình khỏi Thân Thể Chúa.

                                                              38
Là thợ gặt của Thiên Chúa, chúng ta cũng được sai đi để
loan Tin Mừng Nước Trời, để đẩy lùi quyền lực của ma quỷ
như 12 tông đồ và 72 môn đệ xưa.

A    ngườ    n đượ ao g ảng ướ          n?
Đứng trước đồng lúa mênh mông, thợ gặt không biết phải
bắt đầu từ đâu? Nói khác đi, phải loan Tin Mừng cho ai
trước hết ?

Giáo điểm đầu tiên cần được truyền giảng Tin Mừng là
chính bản thân chúng ta, vì dù mang danh là ki-tô-hữu
nhưng có thể chúng ta còn xa lạ với Tin Mừng.

Xa lạ với Tin Mừng vì chúng ta chưa đọc hết Tin Mừng và
chưa từng khám phá kho tàng khôn ngoan chứa đựng trong
đó.

Xa lạ với Tin Mừng vì đời sống chúng ta và những giáo
huấn của Tin Mừng còn cách biệt rất xa!

Nếu Tin Mừng của Chúa Giê-su chưa sáng lên trong cuộc
đời ta, trong tim ta, trong lòng ta… thì làm sao chúng ta có
thể đem lửa Tin Mừng ấy thắp lên cho người khác được.
Không ai có thể cho điều mình không có. Thế nên, chính
bản thân chúng ta phải được phúc âm hoá trước, rồi ta mới
có thể phúc âm hoá tha nhân.

A   ngườ      n đượ x a       ma q ỷ ướ     n?
Sứ mạng thứ hai mà Chúa Giê-su uỷ thác cho các môn đệ
song song với việc loan báo Tin Mừng là giải thoát con
người khỏi quyền lực của Sa-tan.
                                                         39
Chưa bao giờ quyền lực Sa-tan trở nên khủng khiếp và
mãnh liệt như trong thế kỷ nầy. Ma quỷ đã tận dụng mọi
phương tiện truyền thông như sách báo, văn chương nghệ
thuật, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình, internet, âm
nhạc, hội họa… để lôi cuốn nhiều người vào cạm bẫy và tội
lỗi.

Ma quỷ đang hoành hành khắp nơi trên thế giới, nhưng
cũng phải nhận rằng ma quỷ cũng đang chi phối mạnh mẽ
cuộc đời chúng ta, đang lôi kéo chúng ta làm nhiều điều sai
trái.

Một người đang mang xiềng xích không thể giải thoát được
ai. Vậy thì trước khi giải thoát người khác khỏi ách Sa-tan,
chúng ta phải tự giải thoát mình trước.

Vậy người đầu tiên cần được giải thoát khỏi quyền lực ma
quỷ lại cũng là chính chúng ta.

Qua Tin Mừng hôm nay, thánh Luca thuật lại cho chúng ta
biết sau cuộc hành trình truyền giáo ngắn ngày, 72 môn đệ
vui vẻ trở về báo cáo với Chúa Giê-su những thắng lợi vẻ
vang: “Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng
phải khuất phục chúng con”.

Xin Chúa giúp chúng ta cũng đạt được những thắng lợi vẻ
vang như vậy ngay trên chính cuộc sống của mình.


                                           Lm.   gnatiô rần   gà




                                                              40
               ĐỒNG LÚA MÊNH MÔNG
                                  Lm. Giuse guy n   ưng Lợi,   SsR
Thế giới thật mênh mông, thênh thang và rộng lớn.Nơi đâu
cũng có người, nơi đâu Tin Mừng cũng cần phải được rao
giảng. Thật vậy, cánh đồng truyền giáo lúc nào cũng bao la
bát ngát, Chúa Giêsu đã gợi ý cho các môn đệ: ” Lúa chín
đầy đồng mà thợ gặt lại ít “ ( Lc 10, 2 ). Do đó, lệnh truyền
giáo của Chúa quả lúc nào cũng có ý nghĩa: ” Anh em hãy
đi khắp tứ phương thiên hạ…mà làm cho nhiều người trở
thành môn đệ “…

Đứng trước đồng lúa mênh mông, Chúa Giêsu đã thấy mọi
vấn đề khó khăn của việc loan báo Tin Mừng và trách
nhiệm, vai trò của những môn đệ của Chúa, nên Ngài đã sai
các môn đệ: ” anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi
như chiên con vào giữa bầy sói “ ( Lc 10, 3 ). Tuy giống như
chiên ở giữa sói rừng nghĩa là các môn đệ, các tông đồ sẽ
gặp khó khăn, sống bấp bênh, không được đảm bảo: ”
Không được mang theo túi tiền, bao bị, giầy dép. Không
được lân la, trò chuyện, chào hỏi ai dọc đường “ ( Lc 10, 4b
). Chúa dặn các môn đệ ra đi truyền giáo phải sống hiền
lành và siêu thoát. Chúa cho các môn đệ thấy thi hành sứ
mạng rao giảng không thể lệ thuộc vào của cải ở trần gian,
không bám lấy những gì chóng qua, không phí phạm thời
giờ vì những chuyện phù phiếm ở đời, đơn sơ đón nhận sự
giúp đỡ của người khác về ăn ở, tôn trọng việc tin hay
không tin của kẻ khác, cứ kiên nhẫn chờ đợi, phó thác, cậy
trông vào Chúa và sự tác động của Chúa Thánh Thần.
Chúa nói với các môn đệ: ” Anh em hãy ra đi “. Ra đi có
nghĩa là không ở lại, không bám víu vào bất cứ sự gì chóng
qua, mà ra đi là đi mãi, đi hoài, đi không ngừng và loan báo
Tin Mừng cho tới khi không còn hiện diện ở thế giới này
                                                          41
nữa. Chúa Giêsu đã làm gương cho các môn đệ vì Ngài
được sinh ra ngoài đồng, sống và loan báo Nước Thiên
Chúa ngoài đường, không nhà, không cửa, không nơi tựa
đầu. Đời của Chúa là một cuộc hành trình không ngừng.
Ngài đã làm mọi việc, đã rao giảng và chết ở ngoài đường,
ở trên đồi vắng. Chúa Giêsu đã không lên đường và không
ngừng ra đi. Chúa dạy các môn đệ và mọi người phải
truyền giáo, phải loan báo Tin Mừng, không ai được lẩn trốn
trách nhiệm rao giảng Tin Mừng. Từ Chúa Giêsu cho đến
ngày nay, dân Chúa đã không ngừng lên đường và ra đi.
Hãy nhìn một cách tổng quát cánh đồng thế giới ngày nay:
cả nhân loại sống trên mọi nước cho tới giờ phút này đã
hơn 7 tỷ người, người tin vào Chúa kể cả Công giáo, Tin
lành, Chính thống giáo mới được hơn 1 tỷ. Lục địa Á Châu
rất đông dân nhưng tỷ lệ biết Chúa mới được hơn 3%, do
đó, việc loan báo Tin Mừng luôn trở nên khẩn thiết, cấp
bách. Người biết Chúa chỉ chiếm 1/7 tỷ lệ dân số thế giới.
Lúa chín vàng không có thợ gặt. Thế giới hình như vẫn còn
bước đi trong dò dẫm, trong đêm tối âm u của nhiều tranh
chấp, hận thù, sự dữ và thế giới này đang cần, thật cần tình
thương, cần sự an bình, quảng đại, khoan dung, và tha thứ.
Lời của thánh Phanxicô khó khăn: ” Đem tình thương vào
nơi tranh chấp, đem ủi an đến chốn ưu sầu “ quả thực là lời
tình yêu khẩn thiết: ” Yêu đến quên mình. Yêu đến chấp
nhận cái chết trên thập giá. Yêu mới nói lên lời. Yêu để tha
thứ “. Chúa vẫn sai nhân loại, sai con người ra đi đem sự
an bình, đem tha thứ. Đi để chữa lành và đi để loan báo
rằng Nước Chúa đã gần đến. Hội Thánh qua nhiều thời đại
đã không ngừng sai các tông đồ ra đi loan báo Nước Thiên
Chúa. Công Đồng Vaticanô II đã nói: ” Bản chất Giáo hội là
truyền giáo “ và Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã nói:
”…Không một ai được miễn trừ sứ vụ cao cả này “.Thánh

                                                         42
Phaolô xác tín cách thâm sâu: ” Khốn thân tôi, nếu tôi không
rao giảng Tin Mừng “ ( 1 Co 9, 16 ).

Lạy chúa Giêsu, xin sai Thánh Thần đến biến đổi tâm hồn
mỗi người chúng con, để chúng con can đảm, hiên ngang ra
đi loan báo Tin Mừng cứu độ của Chúa. Amen.


                                 Lm. Giuse guy n   ưng Lợi,   SsR



      MỪNG VÌ ĐƯỢC GHI DANH NƯỚC TRỜI
                                         Lm. Giuse Anmai, CSsR
Nhớ lại một cha già trong nhà Dòng, gốc của Ngài là người
Huế nên Ngài hay nói với những ai thăm Ngài rằng mỗi
người hãy nhìn lên Thánh Giá Chúa và sống “in như ri”.
Giọng Huế rất hay với chữ “in như ri”. “In như ri” chính là
chữ “In ri” (Vua dân Do Thái) được treo trên đầu Chúa
Giêsu. Câu nói dí dỏm của Cha già xem ra mà hay đó chứ !
Là kitô hữu, phải chăng mỗi người được mời gọi nhìn lên
thánh giá Chúa và sống mầu nhiệm ấy.

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, nhiều người đã kinh
nghiệm và đã sống mầu nhiệm thánh giá ấy. Một trong
những người đã sống mầu nhiệm thánh giá một cách trọn
vẹn đó chính là Thánh Phaolô tông đồ. Khẳng định về kinh
nghiệm của thánh giá hôm nay chúng ta được nghe Thánh
Phaolô tông đồ nhắc lại : “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về
điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta! Nhờ
thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối
với tôi, và tôi đối với thế gian”.


                                                              43
Chẳng cần phải minh giải nhiều, chẳng phải nói nhiều,
những người mang tên là kitô hữu đã biết khá nhiều về con
người của Phaolô. Phaolô đã hơn một lần bay nhảy và đã
hơn một lần bách hại đạo Chúa Giêsu. Phaolô đã bằng mọi
cách diệt cho bằng được nhưng ai xưng mình là kitô hữu.
Thế nhưng, sau khi được Thiên Chúa “mở mắt” cho thấy
Ngài thì cuộc đời của Phaolô thay đổi hoàn toàn. Cứ đọc lại
tất cả các thư của Thánh Phaolô, chúng ta sẽ thấy rõ cảm
nghiệm của Ngài về Chúa Giêsu.

Phải nói rằng cuộc đời của Phaolô là một cuộc đời tuyệt
vời. Trước khi biết Chúa Giêsu thì Phaolô sống theo kiểu
người đời nhưng khi biết Chúa Giêsu thì Phaolô đã sống
chết với con người mang tên Giêsu đó. Với Phaolô, đâu
phải đơn giản để sống chết với Chúa Giêsu vì trước đó
Phaolô là người bách hại Chúa. Khi cuộc đời của Phaolô
thay đổi 180 độ thì chẳng ai tin được. Người ta đã cho rằng
Phaolô là người giả tạo vì trước đó thì bắt Chúa còn sau thì
lại rao giảng Tin mừng về con người mà trước đây mình
bách hại. Vì Chúa Giêsu, Phaolô đã lội ngược dòng để minh
chứng cuộc đời của mình thuộc về Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu - Nước Thiên Chúa lúc nào cũng đối nghịch với
thế gian thì phải. Thế gian thì sống bất minh, sống gian tà,
sống thiếu sự thật còn Nước Thiên Chúa là nước của sự
thật, sự sống vĩnh cửu. Những ai sống vì Nước Thiên Chúa,
sống với Nước Thiên Chúa, sống cho Nước Thiên Chúa thì
bị người đời thoá mạ và ngược đãi. Không dừng lại ở thoá
mạ, ngược đãi mà còn bị loại trừ ra khỏi thế gian này cho
rảnh mắt.


                                                         44
Người bị loại ra khỏi thế gian mà ai ai cũng biết đó chính là
Chúa Giêsu. Chúa Giêsu biết trước chương trình của Chúa
Cha dành cho Ngài và giờ của Ngài phải đến thế gian.
Thật sự ra Chúa Giêsu đã biết trước thế gian như thế nào
nhưng vì Thánh ý của Cha nên Ngài vẫn đến. Chúa Giêsu
đã đến thật và Ngài đã sống giữa thế gian này. Sống giữa
thế gian, dẫu là Con Chí Thánh của Cha trên trời ấy nhưng
Chúa Giêsu đã đón nhận tất cả những đau khổ của thế gian
dành cho Ngài. Chúa Giêsu là Chúa còn phải đón nhận đau
khổ như vậy để rồi môn đệ của Chúa, những người theo
Chúa cũng phải sống cái đau khổ như Thầy Chí Thánh đã
sống.

Biết trước được những khó khăn ấy, khi sai các môn đệ đi
rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã cảnh báo cho các ông :
“Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi
vào giữa bầy sói. Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép.
Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường.5 Vào bất cứ nhà nào,
trước tiên hãy nói: "Bình an cho nhà này! " Nếu ở đó, có ai
đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với
người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em.
Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh
em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng
đi hết nhà nọ đến nhà kia. Vào bất cứ thành nào mà được
người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh
em. Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với
họ: "Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông." Nhưng vào
bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra
các quảng trường mà nói: "Ngay cả bụi trong thành các ông
dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông.
Tuy nhiên các ông phải biết điều này: Triều Đại Thiên Chúa
đã đến gần." Thầy nói cho anh em hay: trong ngày ấy,

                                                          45
thành Xơ-đôm còn được xử khoan hồng hơn thành đó."
Sau khi nghe lời chỉ bảo của Thầy, các môn đệ đã ra đi và
đã trở về và thưa chuyện với Thầy "Thưa Thầy, nghe đến
danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con." Và
rồi, Chúa Giê-su bảo với các môn đệ rằng : "Thầy đã thấy
Xa-tan như một tia chớp từ trời sa xuống” Sau đó Chúa
Giêsu đã ban cho các môn đệ quyền năng để các ông có
thể đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù. Tất cả thế
lực của Kẻ Thù bày ra nhưng sẽ không làm được gì các
môn đệ cả. Chúa Giêsu còn dặn dò thêm : “Tuy nhiên, anh
em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng
hãy mừng vì tên anh em đã được ghi”.

Chúa Giêsu nhắc nhở cho các môn đệ rằng đừng mừng với
cái chuyện quỷ thần khuất phục nhưng hãy vui mừng vì tên
của các môn đệ, của những người theo Chúa sẽ được ghi
ở Giêrusalem mới, ở Nước Trời. Niềm vui của Giêrusalem
Thiên Quốc không giống như niềm vui của trần gian, của
cuộc đời mà nhiều người tìm kiếm, theo đuổi. Niềm vui của
Giêrusalem Thiên Quốc được ngôn sứ Isaia vừa nói qua bài
đọc thứ nhất mà chúng ta vừa nghe :

      Hãy vui mừng với Giê-ru-sa-lem,
      hãy vì Thành Đô mà hoan hỷ,
      hỡi tất cả những người yêu mến Thành Đô!
      Hãy cùng Giêrusalem khấp khởi mừng,
      hỡi tất cả những người đã than khóc Thành Đô,
      để được Thành Đô cho hưởng trọn nguồn an ủi,
      được thoả thích nếm mùi sung mãn vinh quang,
      như trẻ thơ bú no bầu sữa mẹ.

                                                          46
Vì Đức Chúa phán như sau:

Này Ta tuôn đổ xuống Thành Đô ơn thái bình tựa dòng
sông cả, và Ta khiến của cải chư dân chảy về tràn lan như
thác vỡ bờ. Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ, được
bồng ẵm bên hông, nâng niu trên đầu gối. Như mẹ hiền an
ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy; tại Giêrusalem,
các ngươi sẽ được an ủi vỗ về. Nhìn thấy thế, lòng các bạn
sẽ đầy hoan lạc, thân mình được tươi tốt như cỏ đồng
xanh. Đức Chúa sẽ biểu dương quyền lực của Người cho
các tôi tớ biết, và nổi cơn thịnh nộ với các kẻ thù.

Ở trong Giêrusalem Thiên Quốc, ở Thành Đô của Thiên
Chúa thì những người yêu mến Thành Đô sẽ vui mừng, sẽ
được bình an như trẻ thơ được bú no bầu sữa mẹ và sẽ
được nâng niu trên đầu gối, được bồng ẵm bên hông như
Mẹ hiền vậy. Khi ở Thành Đô thì những thù địch sẽ bị đẩy
lui bởi cơn thịnh nộ của Đức Chúa.

Giêrusalem Thiên Quốc, Nước Trời luôn luôn nghịch lại với
thế lực của ma quỷ, của thế gian, của sự ác để rồi những ai
muốn vào Giêrusalem Thiên Quốc, muốn vào Nước Trời
cũng phải sống như các môn đệ ngày xưa đã sống nghĩa là
phải sống như chiên sống giữa sói rừng vậy. Thế nhưng,
những ai tin tưởng và phó thác cuộc đời mình trong lòng
bàn tay của Thiên Chúa thì tất cả những thế lực của ma quỷ
sẽ không làm hại những người tin được. Kinh nghiệm ấy
hết sức rõ ràng nơi cuộc đời của những người môn đệ thân
tín, của các thánh nam nữ của Thiên Chúa, đặc biệt nơi các
Thánh Tử Đạo của Thiên Chúa. Những môn đệ thân tín,
các thánh nam nữ của Thiên Chúa, các Thánh Tử Đạo của
Thiên Chúa đã bị thế gian cấu xé, nghiền nát nhưng rồi
                                                        47
trước mặt Thiên Chúa, các Ngài đã sống hết mình, hết lòng,
hết sức, hết trí khôn cho Nước Trời, cho Thành Đô của
Thiên Chúa nơi Thiên Quốc.

Chuyện quan trọng của người môn đệ, của người theo
Chúa Giêsu đó là làm sao tên của mình được ghi ở trên
Trời. Tất cả mọi chuyện, tất cả mọi sự rồi sẽ qua đi mà thôi.
Giữa cái lựa chọn Nước Trời và trần gian này không phải là
đơn giản, nhiều và nhiều người muốn chạy theo cái thế gian
này để bỏ cái vinh quang Nước Trời mà Thiên Chúa mời
gọi.

Nguyện xin Thầy Chí Thánh ban thêm ơn, ban thêm sức
mạnh và đặc biệt ban thêm quyền năng cho những ai tín
thác vào Chúa để rồi nhờ ơn Chúa những người đó có thể
chống chõi tất cả những mưu mô của các thần để sau cuộc
chiến ở cõi đời này thì những người ấy được vào hưởng
nhan Thánh Chúa và được vào hưởng Giêrusalem Thiên
Quốc như Chúa đã hứa ban.




                                          Lm. Giuse Anmai, CSsR




                                                            48
            RA ĐI RAO GIẢNG TIN MỪNG
                                        Lm. Giuse Đinh Lập Li m


Đức Giêsu đã đi rao giảng Tin mừng Nước Trời cho dân
chúng để đem lại ơn cứu độ cho họ. Mối ưu tư hàng đầu
của Ngài là làm cho mọi người được nghe biết Tin mừng.
Mối ưu tư ấy đã được diễn tả trong lúc thổ lộ tâm tình với
các môn đệ: ”Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít. Vậy các
con hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt lúa về”(Lc 10,2).

Sau khi đã trang bị cho họ những khả năng tinh thần tuyệt
diệu, Đức Giêsu đã sai 72 môn đệ đi loan báo Tin mừng
bình an cho mọi người. Ngài ân cần khuyên họ đừng lo tìm
an toàn nơi các phương tiện vật chất trần gian. Họ vâng lời
ra đi và đã trở về trong hân hoan. Đức Kitô cho họ biết họ
hãy vui mừng vì tên tuổi họ đã được ghi trên Nước Trời.

Ngày nay, Đức Giêsu vẫn muốn cho công việc rao giảng Tin
mừng ấy phải được tiếp tục trong Hội thánh. Vậy những ai
được và phải loan báo Tin mừng ấy ? Đó là mọi Kitô hữu.
Tất cả những ai đã được chịu phép rửa tội đều có sứ mạng
nên thánh và truyền giáo (Redmptoris Missio)). Như vậy,
các thợ gặt trong cánh đồng truyền giáo không phải chỉ là
các Linh mục và nam nữ tu sĩ mà là mọi người mang danh
là Kitô hữu. Chúng ta hãy tham gia vào việc truyền giáo
bằng cách sống sâu sắc niềm tin của mình và cố gắng trở
nên muối đất và ánh sáng cho trần gian trong mọi môi
trường xã hội mình đang sống.

I. CÁNH ĐỒNG TRUYỀN GIÁO HÔM NAY
1. Cánh đ ng úa hín S ha
                                                           49
Đức Giêsu đã ra đi rao giảng Tin mừng về Nước Thiên
Chúa. Ngài nhận thấy dân chúng muốn được nghe rao
giảng Tin mừng. Có những người quên ăn quên ngủ đi theo
Chúa để được nghe Ngài giảng, đến nỗi thấy họ đói, Ngài
đã làm cho bánh hoá nhiều hai lần để nuôi sống họ. Ngài
thấy cánh đồng truyền giáo còn rộng rãi bao la bát ngát trải
rộng ra trước mắt Ngài. Cánh đồng lúa chín là mối ưu tư
hàng đầu của Ngài, nên khi đi qua cánh đồng lúa chín
Sichar, đúng là tức cảnh sinh tình, Ngài đã bộc lộ tâm tư với
các môn đệ: ”Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, vậy các
con hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt đến gặt lúa của Người”(Lc
10,2).

2. C nh đ ng           n g o h m na
Chúng ta nhận thấy trên thế giới hôm nay có gần 7 tỷ
người, nhưng mới có 1,5 tỷ người biết Chúa. Tại Á châu,
trong số 3,5 tỷ người mới chỉ có 100 triệu tín hữu Công
giáo, tính theo tỷ lệ là 2,6%. Như vậy, cứ 100 cánh đồng lúa
chín, mới có 2,6 cánh đồng có thợ gặt, còn 97,4 cánh đồng
bị bỏ hoang. Chưa kể toàn bộ cánh đồng đã bị bỏ hoang
mãi cho đến thế kỷ 16 mới có thợ gặt. Đặc biệt thánh
Phanxicô Xaxiê không chỉ là thợ gặt mà là máy gặt.

Riêng tại Việt nam chúng ta, dân số hiện nay lên tới 86
triệu, mà số người Công giáo mới tới hơn 6 triệu, tính ra
mới được 7%, còn lại 93% kia thì sao ? Cánh đồng truyền
giáo của chúng ta vẫn còn trải ra trước mắt.

Vì thế, trước tình trạng khẩn cấp ngày nay, Thượng Hội
đồng Giám Mục Á châu đã được tổ chức tại Roma, từ
ngày19/04 đến 15/05/1998, gồm có 158 vị đại diện hàng
Giám mục Á châu và một số Giám mục đại diện các châu
                                                    50
lục khác, cùng với một số chuyên viên, tất cả 230 vị dưới
quyền hướng dẫn của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II để
bàn về vấn đề truyền giáo của Á châu ngày nay.

3. Đ     G s sa        m n đệ đ        ng o
Chỉ có Luca tường thuật việc Đức Giêsu chọn 72 môn đệ và
sai đi trước “đến các thành và các nơi mà chính Ngài sẽ
tới”. Con số 72 hay 70 (tùy theo thủ bản Hy lạp hay Hy bá)
có liên hệ với con số 72 dân tộc làm nên nhân loại theo bản
thống kê dân số của Kinh Thánh sau cơn đại hồng thủy (St
10,10).

Theo các giáo phụ của Giáo hội Công giáo, số 72 là con số
có tính cách biểu tượng của các dân tộc và quốc gia trên
thế giới vào thời Đức Giêsu sinh sống.

H. Cousin giải thích thêm: Bảy mươi hai ông thực ra không
phải chỉ là những giao liên tiền trạm, nhưng họ chính là
những đại sứ đặc mệnh toàn quyền, giống như nhóm Mười
Hai, có quyền lực trên các thần dữ (9,17) và có trách nhiệm
công bố Nước Thiên Chúa (10,11). Như thế tác giả muốn
xác định rằng không chỉ có Mười Hai ông mới được chính
thức được Đức Giêsu bổ nhiệm đi truyền giáo trước lễ Vượt
qua. Nhưng khi Đấng Phục Sinh hiện ra, thì cả Nhóm Mười
Một với những người đồng hành sẽ là những người được
Chúa trao cho sứ mạng truyền giáo(Fiches dominicales C, tr 239).

II. TƯ CÁCH CỦA NHÀ TRUYỀN GIÁO
1. T nh h n h ệ h ng
Đức Giêsu sai “Cứ từng hai người” đi trước Ngài vì họ phải
hoạt động với tư cách chứng nhân. Theo truyền thống Kinh
                                                             51
Thánh, người ta không được đặt tin tưởng vào lời xác quyết
của một người duy nhất, mà cần phải có lời của hai hoặc ba
nhân chứng.

H. Cousin quả quyết: “Con số hai không do ngẫu nhiên, bởi
vì khi có tranh cãi (Đnl 19,15), câu nói đáng tin phải dựa
trên lời của hai hoặc ba nhân chứng, trường hợp giả dụ
được nói đến ở câu 10-11. Trong sách Công vụ Tông đồ,
Luca sẽ minh hoạ công việc truyền giáo của “từng cặp”, như
Phaolô và Barnabê (13,2-4), Barnabê và Marcô, Phaolô và
Sila (15,39-40). (Fiches dominicales C, tr 240).

2. T nh h n hị đ ng
Đức Giêsu nhắn nhủ các môn đệ: ”Thầy sai các con đi như
chiên con đi giữa bầy sói” (Lc 10,3). Các con hãy ra đi ! Đây
là một lệnh truyền. Ngài không che giấu sự khó khăn trong
việc truyền giáo. Sự khó khăn này do kẻ thù của Nước Trời
gây ra. Các ông sẽ bị bắt bớ bởi đó là số phận của những
kẻ được gọi để rao giảng Nước Trời. Đứng trước những
khó khăn, các môn đệ như con chiên giữa sói rừng. Con
chiên thì hiền lành. Vì thế các môn đệ phải có lòng khoan
dung, nhân hậu và yêu thương thù địch, chứ không thù oán
như thái độ của Giacôbê và Gioan đối với người Samaria
(Lc 9,54).

3. T nh h n s     thoát
“Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giầy dép...”. Đức Giêsu
đòi các môn đệ phải có tinh thần siêu thoát đối với của cải
vật chất. Nói rõ ra, Ngài đòi các môn đệ phải sống khó
nghèo thực sự, vì khó nghèo là điều kiện để được vào
Nước Trời (Lc 6,20). Không nên ỷ vào các phương tiện của
con người. Đức Giêsu đã không sử dụng võ khí của quyền
                                                        52
lực, của giầu sang, lộng lẫy, huy hoàng... Do đó, yêu sách
đầu tiên của Giáo hội là theo gương của Thầy mình là trở
nên khó nghèo.

4. Tinh thần nhanh nhẹn
      “Đừng chào hỏi ai dọc đường”.
Đây không phải là một lệnh về sự vô lễ, nhưng là một sứ
mệnh khẩn cấp không được trì hoãn. Giống như xưa kia
người đầy tớ của tiên tri Êlisê trong sách các Vua (2V 4,29),
các sứ giả được lệnh lên đường đừng mất nhiều thì giờ
trong việc chào hỏi dài dòng của người phương Đông.

Lời khuyên nhủ này có ý nhắc nhở các môn đệ hãy tránh xa
những chuyện vô ích thường thấy trong xã hội Cận đông
thời Đức Giêsu. Người môn đệ đi truyền giáo đừng chia trí
nhưng dồn nỗ lực vào việc rao giảng Nước Trời là điều cấp
bách.

5. T nh h n k n nhẫn
       “Vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón”.
Đức Giêsu đã có kinh nghiệm về vấn đề này. Ngài đã phải
đối diện với những thất bại, những sự khước từ, chống đối,
không tin. Do đó, Ngài muốn truyền cho các môn đệ kinh
nghiệm đó để các ông đừng ngạc nhiên, đừng thất vọng.
Nhưng các ông hãy tin chắc rằng, dù các ông có muốn hay
không, một ngày kia, Thiên Chúa sẽ hiển trị, Nước Thiên
Chúa sẽ phổ biến khắp nơi.

Tuy nhiên, về phía các ông, trong thời gian rao giảng Tin
mừng, các ông sẽ gặp phải sự chống đối và khước từ. Các
ông hãy nhẫn nhục chịu đựng, đừng nổi nóng lên như
                                                          53
trường hợp ông Giacôbê và Gioan muốn xin lửa trên trời
xuống đốt cháy dân làng Samaria đã dám từ chối không tiếp
nhận Đức Giêsu và các ông. Sau cùng, những thất bại cấp
thời của các ông vẫn góp phần vào việc làm thành một
thành công lớn: Nước Chúa sẽ hiển trị. Đừng sợ thất bại vì
ngạn ngữ Pháp có nói: ”Thất bại là mẹ thành công”.

III. ƠN GỌI RA ĐI TRUYỀN GIÁO
1. S m ng          n g o ủa mọ ngườ
Khi xuống thế làm người, một phần nào đó, Đức Giêsu bị
hạn chế trong không gian và thời gian, nhưng quyền năng
của một Ngôi Vị Thiên Chúa nơi Ngài đâu có bị giảm sút.
Thế mà, thay vì sống trăm tuổi hay trường thọ hơn nữa để
có đủ thời giờ rao giảng Tin mừng cứu độ muôn dân thì
Ngài lại chỉ sống có 33 năm và dành vỏn vẹn có 3 năm để đi
giảng đạo. Thêm vào đó, Ngài còn nhờ đến mấy ông quê
mùa, dốt nát phụ giúp công việc truyền đạo khi chọn 12
Tông đồ và 72 môn đệ. Kết quả là sau 20 thế kỷ, nhân loại
nay đã gần 7 tỷ người mà chỉ có một tỷ rưỡi Kitô hữu. Tại
sao Chúa không dùng quyền phép bắt nhân loại theo đạo
cả mà phải nhờ đến con người phụ giúp và còn dạy phải xin
Chúa Cha sai thêm thợ gặt truyền giáo ?

Lý do là vì Chúa muốn mọi tín hữu phải thâm tín rằng việc
rao giảng tin mừng, mở rộng Nước Chúa là công việc của
con người, chứ không phải để mặc Chúa lo toan, định liệu
cả. Vì thế, Khi Đức Giêsu bảo chúng ta xin Chúa Cha sai
thêm thợ gặt, điều đó chứng tỏ Chúa muốn trao cho chúng
ta trách nhiệm là phải lo lấy phần rỗi của mình và của anh
em nữa.

Ngay khi lãnh Bí tích Rửa tội, người Kitô hữu đã được Chúa
                                                        54
Cứu Thế kêu mời tham gia vào sứ mạng truyền giáo. Trong
hiến chế tín lý Lumen gentium, công đồng VaticanII nhấn
mạnh rằng ơn gọi nên thánh phổ quát bao gồm trong lời
mời gọi mọi người tiến đến sự trọn hảo của lòng bác ái. Sự
nên thánh và sứ mạng truyền giáo là những khía cạnh bất
khả phân ly của ơn gọi dành cho mọi người đã chịu phép
rửa tội. Cam kết trở nên thánh thiện hơn được liên kết chặt
chẽ với sứ mạng truyền bá thông điệp cứu độ.

Trong thông điệp Redemptoris Missio của Đức Giáo hoàng
Gioan Phaolô 2, đoạn 9, có nhắc lại rằng: ”Mọi tín hữu được
mời gọi đến với sự thánh thiện và sứ mạng truyền giáo”.

2. V ệ T ng đ g o d n
Bảy mươi hai môn đệ còn là hình bóng của mọi tín hữu
được kêu mời tham gia vào việc tông đồ của hàng Giáo
phẩm. Đức Giêsu đã nói: ”Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì
ít”. Vậy thợ gặt là ai ? Trước đây người ta thường dành
danh xưng “thợ gặt” cho các Linh mục. các tu sĩ nam nữ,
các nhà truyền giáo. Đây là một nhầm lẫn. Không ai có thể
trở thành Kitô hữu mà lại không cảm nghiệm nơi mình nỗi lo
âu của Đức Giêsu trước cánh đồng lúa chín mênh mông.
Những tác vụ đa dạng sẽ làm nảy sinh những hình thức
hoạt động khác nhau nơi mỗi người, nhưng ai nấy theo
cách của mình, đều được gọi và làm việc ở đồng lúa chín
(L. Sintas).

Thánh Luca cho biết các cộng đoàn Kitô hữu được khai
sinh ở giữa các đô thị và vùng đất của dân ngoại. Một số
các nhà thờ địa phương ấy được khai sinh không phải do
hoạt động của các tông đồ được chính thức ủy nhiệm,
nhưng do hoạt động tông đồ của giáo dân, của các ông, các
                                                       55
bà phải di chuyển vì nghề nghiệp và họ đã loan báo Đức
Giêsu (Rm 16).

Giáo hội được xây dựng trên nền tảng Tông đồ thì đồng
thời cũng dựa trên sức mạnh của từng viên gạch nối kết đó
đây xuất hiện những Giáo hội địa phương giữa vùng đất
“ngoại” do những người đàn ông đàn bà giáo dân gầy dựng.
Giáo hội Triều tiên chẳng hạn đã được khai lập đầu tiên
không phải do các Linh mục thừa sai mà do chính giáo dân
bản xứ, như ngày xưa, tiếng gọi của một người Macédonia:
”Hãy vượt biển, đến cùng chúng tôi”(Cv 16,9) đã hấp dẫn
Phaolô và là nguyên do của giáo đoàn.

T    ện: Đ a ủa Chúa.
Vào cuối thế chiến thứ hai, để thu phục thiện cảm và tin
tưởng của người dân trong làng vừa mới đuợc giải phóng
khỏi tay quân Đức Quốc xã, toán lính thuộc lực lượng đồng
minh cố gắng lượm lại từng mảnh vỡ của bức tượng Chúa
Giêsu đã được dựng lên ở quảng trường trước ngôi nhà
thờ nhỏ, trung tâm sinh hoạt của làng quê miền cực nam
nước Italia.

Sau nhiều ngày cố gắng, toán lính đã gắn lại được gần như
toàn bức tượng của Chúa. Nhưng chỉ có đôi tay bức tượng
là không thể nào hàn gắn lại được. Vì các mảnh vụn lớp thì
bị bể quá nhỏ, lớp thì đã bị nát thành như bụi.

Sau nhiều giờ bàn luận và gần như sắp quyết định bỏ dở
công việc, thì một người trong toán lính có sáng kiến tìm lấy
hai khúc gỗ gắn vào nơi hai cánh tay bị bể nát của bức
tượng, rồi viết vào đó một hàng chữ bất hủ, không những
đánh động được tâm hồn những người dân trong làng, mà
                                                           56
còn thu hút được nhiều khách du lịch đến vùng này để đọc
tận mắt hàng chữ đầy ý nghĩa. Các bạn có thể đoán được
hàng chữ này không ? Đó là:
         “ Í      Ạ LÀ ĐÔ        Y Ủ          ”.

3. T     n g o bằng sống n m n.
Trong bí tích Rửa tội, Linh mục hỏi người chịu phép rửa:
   - Hôm nay con xin gì cùng Hội thánh ?
Người chịu phép thưa:
   - Thưa, con xin đức tin.
Linh mục hỏi tiếp:
   - Đức tin sinh ơn ích gì cho con ?
Người chịu phép thưa:
   - Thưa, đức tin đem lại cho con sự sống đời đời.
Như vậy, Thiên Chúa đã ban đức tin cho người chịu phép
rửa tội, và một khi đã là một Kitô hữu thì phải có đức tin.
Một Kitô chỉ có đức tin thôi chưa đủ, còn phải sống đức tin
nữa, nghĩa là phải thể hiện đức tin ấy trong cuộc sống hằng
ngày. Chính vì thế, thánh Giacôbê đã quả quyết: ”Đức tin
không có việc làm là đức tin chết”.

Có người cho rằng sống đức tin Kitô giáo là biết “sống tử tế”
với mọi người. Sống tử tế là sống thế nào cho xứng với
danh hiệu là “Kitô hữu”, người được mang tên Chúa, được
thuộc về Chúa. Một trong những cuốn phim gây nhiều chú ý
nhất ở ngoại quốc trong thập niên 80 là phim “Truyện tử tế”
của đạo diễn Trần văn Thủy. Cuốn phim này được hãng
truyền hình Pháp S.R.K mua và được trình chiếu trong
chương trình có tên “Đại dương”. Khi một ký giả ngoại quốc
hỏi: ”Những người Kitô Việt nam có thể làm gì để giúp dân
                                                          57
tộc họ sống tử tế”? Nhà đạo diễn đã trả lời: ”Điều người ta
mong đợi ở các người Kitô hữu Việt nam là niềm tin của họ
và họ phải sống điều họ tin.

Lời phát biểu của nhà đạo diễn trên đây đáng để chúng ta
suy nghĩ. Sống trong một dân tộc còn nhiều người chưa biết
Chúa. Sống trong một đất nước còn nhiều khó khăn. Sống
trong một xã hội còn nhiều giả dối, gian manh, lừa đảo, tiêu
cực, thì đối với người Kitô, tin và sống niềm tin của mình là
phải sống, phải tin thật tử tế, tức là tin và sống tình nhân
loại, sống quảng đại, tóm lại là sống tình người với nhau.
Tin và sống như thế không phải chỉ là cách sống dành cho
các nữ tu, các linh mục mà cũng chính là sứ mạng và ơn
gọi của mỗi Kitô hữu chúng ta (Phạm văn Phượng, Chia sẻ
Tin mừng, năm C, tr 161).

T    ện: Đ      n sống động
Felix Frankfurter là một quan toà nổi tiếng của toà án tối cao
của Hoa kỳ. Một lần kia ông được đưa vào bệnh viện, ở đó
ông quen biết một y tá có tên là Lucy. Họ có những lúc ngồi
nói chuyện thân mật và ông biết nhiều điều về Lucy.

Trước đó, chưa bao giờ ông gặp được người nào có lòng
quảng đại và nhân hậu như chị. Và ông bắt đầu tự hỏi và
suy nghĩ, cố gắng phám phá suối nguồn của thái độ của chị.
Điều ông khám phá như sau: Suối nguồn ấy không có gì là
bí ẩn. Nó đơn giản, chỉ là sự áp dụng thực hành đức tin của
chị.

Lucy không bao giờ biết đức tin sống động của chị có ảnh
hưởng như thế nào, nhưng chị đã làm cho Đức Giêsu hiện
diện cụ thể trong bệnh viện này. Chị đem đến đôi bàn tay
                                                      58
mà Đức Giêsu cần đến. Đức Giêsu cần những nhân chứng
cho người ta như chị Lucy đến nỗi Người có thể trở thành
Đấng an ủi như Người muốn làm.

Một quan hệ thật sự với Đức Giêsu sẽ có một ảnh hưởng
cả khi người có mối quan hệ ấy không đề cập đến Đức
Giêsu. Dĩ nhiên, những người tin vào Đức Giêsu và yêu
mến Người, cũng sẽ, khi thuận lợi, nói về Đức Giêsu một
cách rõ ràng cởi mở (McCarthy).

4. T     n g o bằng đèn s ng v m ố đấ .
Đức Giêsu đã gọi các môn đệ của Ngài là muối cho đời và
ánh sáng cho thế gian (Mt13-14). Muối, ánh sáng và thành
xây trên núi là những hình ảnh nói lên vai trò chứng tá của
môn đệ Chúa trên trần gian.

Muối thì thấp hèn, âm thầm và khiêm tốn, nhưng muối có
hai công dụng chính: ướp cho khỏi hư và làm gia vị. Người
môn đệ phải giữ cho xã hội khỏi suy thoái, đồng thời giúp
cho sự thăng tiến của xã hội. Người Kitô hữu mang danh
nghĩa là con cái Thiên Chúa, phải hết sức bảo vệ và phát
triển danh nghĩa ấy trong môi trường thế gian, nếu không
làm như vậy, thì người Kitô hữu đã bị biến chất và trở nên
vô dụng, vô tích sự.

Còn ánh sáng thì rực rỡ, huy hoàng. Ánh sáng soi cho
người ta thấy rõ đường đi, nhận rõ các đồ vật. Người Kitô
hữu là con cái sự sáng, phải dùng đời sống gương mẫu và
chứng tá của mình để soi dẫn cho những người chung
quanh biết đường về cùng Thiên Chúa. Việc tỏa sáng bằng
đời sống gương sáng và chứng tích để lôi cuốn, phải được

                                                        59
coi là bổn phận của người Kitô hữu vì “đèn thắp lên là để
soi sáng cho mọi người trong nhà”.

Là muối, là ánh sáng thế gian, hơn ai hết, Kitô hữu chúng ta
cần phải thắp sáng lên niềm hy vọng bằng cuộc sống toả
lan tình nghười. Dù chỉ là ngọn đèn mù mờ giữa biển khơi,
chứng từ của một Kitô hữu vẫn luôn cần thiết cho cuộc
sống.

T   ện: Ảnh hưởng ủa h ng .
Ông Pi-tơ Bơ-rốt là một người ngoài công giáo, ông hằng
ước ao chứng kiến đời sống thánh thiện của Giám mục
Fénelon. Ngày kia ông đã liên lạc với vị Giám mục thời
danh xin ngài cho ông tới thăm một thời gian.

Vị Giám mục đã niềm nở tiếp đón khách và đối xử ân cần
đến nỗi Pi-tơ Bơ-rốt còn thấy thoải mái hơn cả ở nhà mình.
Tuy nhiên chỉ lưu lại được vài ngày ông đã thu dọn hành lý,
chào vị Giám mục và ra đi trước thời hạn dự định.

Khi được hỏi tại sao ông lại vội vàng bỏ đi như vậy, ông Pi-
tơ Bơ-rốt đã thú nhận: ”Tôi không thể ở lại lâu hơn. Vì nếu
còn ở lại sớm muộn tôi cũng sẽ theo đạo Công giáo mất,
một điều mà hiện tại bản thân tôi chưa muốn”.



                                         Lm. Giuse Đinh Lập Li m




                                                            60
                       NGHỊCH LÝ
                                         Lm. Giuse ạ   uy uyền
Nghịch lý của thời đại chúng ta đó là:
  - Đường phố rộng hơn, quan điểm lại hẹp hòi hơn
  - Chúng ta giành nhiều hơn nhưng lại có ít hơn
  - Mua sắm nhiều hơn nhưng hưởng thụ lại ít hơn
  - Chúng ta có những tòa nhà đồ sộ hơn nhưng gia đình
    lại bé nhỏ hơn.
  - Cuộc sống tiện nghi hơn nhưng ít thời gian nhàn rỗi hơn
  - Bằng cấp nhiều hơn nhưng giá trị lại ít hơn
  - Hiểu biết nhiều hơn nhưng nhận xét lại kém hơn
  - Nhiều nhân tài hơn nhưng ít sáng tạo hơn
  - Chúng ta sở hữu nhiều hơn nhưng nhân cách giảm
    nhiều hơn
  - Chúng ta nói quá nhiều, yêu thương thì quá ít và ghen
    ghét lại nhiều hơn
  - Chúng ta biết cách mưu sinh nhưng không biết tạo
    dựng cuộc sống
  - Chúng ta sống thọ hơn nhưng sống ít ý nghĩa hơn
  - Chúng ta làm được những điều cao sang nhưng lại
    không làm được điều đơn giản với đồng loại.

Vâng, cuộc sống xem ra tiến bộ hơn nhưng đáng tiếc chúng
ta lại đang đánh mất nhiều hơn. Mất tình gia đình, mất tình
bạn, mất tình làng nghĩa xóm. Cái mất lớn nhất của thời đại
hôm nay chính là mất niềm vui của sự bình an tâm hồn. Vì
cuộc đời hôm nay có quá nhiều những rủi ro, có quá nhiều
những căng thẳng, những bất trắc khiến con người hôm
nay dù có nhiều tiền, nhiều của, nhiều vật chất nhưng lại có

                                                           61
rất ít những giây phút thư thái bình an. Cuộc đời luôn đong
đầy những lo toan khiến con người hôm nay luôn phải sống
trong cảnh đối phó với những nghịch cảnh có thể đưa tới.
Bên cạnh sự vật lộn với cuộc sống quá nhiều khó khăn, sự
bươn chải để tìm miếng cơm manh áo, cuộc sống chung
quanh lại còn quá nhiều những sự dữ bủa vây như muốn
nhậm chìm con người. Những tệ nạn xã hội như: xì ke, ma
tuý, mại dâm, . . . luôn là những cạm bẫy có thể xâm chiếm
và làm mất đi sự bình an nơi các gia đình. Thực tế, đã có
biết bao gia đình khô cạn nước mắt vì một đứa con đang
lao vào con đường xì ke, ma tuý; đã có biết bao gia đình tan
nát vì lối sống buông thả, phóng túng của những người
chồng thiếu trách nhiệm; đã có biết bao gia đình đang u sầu
vì những quan hệ bất chính của những người cha, người
mẹ đang làm gương mù gương xấu cho đàn con. Sự dữ
dường như đang khống chế con người hôm nay. Sự dữ
dường như đang làm chủ xã hội hôm nay khiến con người
luôn cảm thấy bất an và lo sợ.

Cách đây hơn 2000 năm, Chúa Giê-su cũng nhìn thấy sự
dữ đang hoành hành. Sự dữ đang gây nên những đau khổ,
đổ vỡ, mất mát cho biết bao con người. Sự dữ luôn làm cho
con người lo sợ, bất an. Chúa đã sai các môn đệ ra đi trong
tình trạng khẩn trương và cấp bách. Cấp bách đến độ
không cần chuẩn bị những hành trang bên mình như giầy,
dép, bao bị,… Chúa muốn các môn đệ hãy ưu tiên cho việc
đem tin mừng đến cho muôn người. Tin mừng mà Chúa
muốn các môn đệ đem đến cho nhân trần chính là đẩy lùi
sự dữ và kiến tạo bình an cho các tâm hồn. Chúa bảo với
các môn đệ hãy mang bình an của Chúa đến cho muôn
người. Bình an của những con người thoát khỏi sự thống trị
của sự dữ khi đón nhận tin mừng Nước Trời. Bình an sẽ
                                                         62
được tặng ban khi Triều đại Nước Thiên Chúa thống trị địa
cầu.

Lời mời gọi đó dường như vẫn đang cấp bách trong thời đại
hôm nay. Một thời đại có quá nhiều sự dữ. Một thời đại của
sự hưởng thụ, ích kỷ đã biến con người thành sự dữ đang
giết chết bản thân và tha nhân. Chúa vẫn đang tha thiết mời
gọi mỗi người chúng ta hãy chung tay góp sức đẩy lùi sự
dữ ra khỏi gia đình, khỏi môi trường chúng ta sống. Hãy nói
không với tội lỗi. Hãy tránh xa những cám dỗ tội lỗi. Hãy
sống ngay lành để có niềm vui của sự bình an trong tâm
hồn, và trao ban bình an cho tha nhân.

Nguyện xin Chúa là hoàng tử bình an ban bình an đến cho
mỗi người chúng ta để nhờ đó chúng ta cũng biết trao ban
bình an cho nhau. Xin cho mỗi người chúng ta cũng trở
thành những sứ giả bình an cho thế giới hôm nay. Amen

                                           Lm. Giuse Tạ   uy uyền




             NHƯ CHIÊN GIỮA SÓI RỪNG
                                   Lm.   n Phong rần Đức Phương
Chúa Nhật hôm nay nói đến niềm hân hoan của những tâm
hồn tôn thờ và đặt niềm tin nơi Chúa, sau khi đã vượt qua
được những vất vả và thử thách. Bài Phúc Âm đặc biệt nói
đến nhiệm vụ truyền giáo mà Chúa trao cho mỗi tín hữu
chúng ta.



                                                              63
Bài Đọc I (Isaia 66: 10-14): Nói đến niềm vui mừng của Dân
Chúa sau cuộc lưu đầy, được trở về tái thiết lại quê hương
và thành thánh Giêrusalem, được Thiên Chúa thứ tha lỗi
lầm và ban muôn vàn ơn an ủi. Bài Đọc II (Galat 6: 14-18):
Thánh Phaolô nhắc nhở các tín hữu hãy luôn cố gắng sống
như “những con người mới” và hãy mang trong tâm hồn
những hình ảnh khổ nạn của Chúa Giêsu trên thập giá để
luôn sống bình an trong Chúa giữa mọi thử thách. Bài Phúc
Âm (Luca 10: 1-12, 17-20): Chúa Giêsu sai thêm 72 môn đệ
“đi từng hai người một đến các thành mà Chúa sẽ đến…”
Chúa cũng dặn các ông những điều phải giữ và phải làm để
đối phó với những hoàn cảnh khó khăn trên bước đường
truyền giáo. Khi trở về sau những ngày truyền giáo, các ông
rất đỗi vui mừng vì những thành quả thật lớn lao, Chúa
Giêsu đã hướng tâm trí các ông về những niềm vui lớn hơn
nữa là niềm vui được thưởng công trên Nước Chúa sau
này, vì đó là mục đích cuối cùng của mọi nỗ lực sống đức
tin và truyền giáo.

Chúng ta đều biết Chúa đã chọn 12 tông đồ, cũng đã sai
các ông đi thực tập truyền giáo (Matthêu 10: 1-16; Luca 9:
1-6). Nhưng trong Bài Phúc Âm hôm nay ghi lại việc Chúa
“lại sai 72 người khác đi trước đến các thành mà chính
Chúa cũng sẽ đến”. Các nhà chú giải Thánh Kinh cho là con
số 72 (hoặc 70) để chỉ công cuộc truyền giáo sau này cho
các dân ngoài Do Thái, và vì thế cánh đồng truyền giáo thật
bao la và cần thật nhiều thợ gặt: “Lúa chín đầy đồng mà thợ
gặt thì it…”

Công việc truyền giáo là bổn phận của mỗi tín hữu chúng
ta. Cánh đồng truyền giáo thật bao la. “Lúa thì đã chín đầy
đồng” (nghĩa là đã có bao nhiêu người đã sẵn sàng đi theo
                                                        64
Chúa); nhưng lại “thiếu thợ gặt” (nghĩa là thiếu nhiều người
để giúp đỡ họ đến với Chúa và đi theo Chúa). Vì vậy, mỗi
tín hữu chúng ta đều có bổn phận làm thợ gặt trên cánh
đồng truyền giáo của Chúa bằng cách này hay cách khác
tùy theo hoàn cảnh. Đó là việc Tông Đồ Giáo Dân mà mỗi
tín hữu chúng ta phải chu toàn.

Trên con đường truyền giáo, chúng ta thường phải đối phó
với nhiều khó khăn, nhiều khi vượt quá khả năng của chúng
ta, nên chúng ta cần phải cầu nguyện nhiều; chúng ta phải
nỗ lực, nhưng kết quả là do Ơn Thánh Chúa. “Nếu mà
Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng
công!...”(Thánh Vịnh 127).

Hơn nữa, chúng ta cũng luôn gặp phải những chống đối,
thù ghét và mưu mô hiểm độc của thế gian, nhất là của các
“Ngôn Sứ Giả” (Matthêu 7: 15); đặc biệt nguy hiểm hơn cả
là ‘những sói dữ đột nhập vào hàng ngũ của chúng ta...”
(Công Vụ 20: 29; 1Gioan 2: 19); vì thế, Chúa bảo các Tông
đồ và mỗi người chúng ta phải coi chừng: “Thày sai các con
đi như chiên giữa bầy sói!” Chiên làm sao có thể đương đầu
với sói dữ! Chúa lại bảo chúng ta: “Hãy khôn ngoan như
con rắn, và đơn sơ như chim bồ câu!” Có Chúa phù trợ,
chúng ta vẫn có thể vượt thắng tất cả! Giáo Hội Chúa mọi
thời và mọi nơi luôn bị bách hại thảm khốc cách này hay
cách khác; nhưng Chúa vẫn giúp Giáo Hội vượt qua tất cả.
Các Hoàng đế Rôma đã bách hại tàn nhẫn Giáo Hội lúc ban
đầu. Các Giáo Hội ở Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản, Phi
Châu… cũng đều đã bị bách hại tàn khốc ngay từ lúc ban
đầu. Nhưng thời gian qua đi, các triều đại Vua Chúa đó đều
đã qua đi hết, nhưng Giáo Hội Chúa vẫn tồn tại và phát
triển.
                                                         65
Chế độ Cộng Sản vô thần cũng tưởng sẽ tiêu diệt dễ dàng
Đạo Thánh Chúa, nhưng rồi chế độ đó cũng đã tan rã dần
dần, còn Giáo Hội Chúa lại vẫn tồn tại và phát triển. Chúa
vẫn ở cùng Giáo Hội (Matcô 16:20; Matthêu 28:20). Thánh
Thần Chúa luôn thánh hóa và gìn giữ Giáo Hội vượt qua
mọi thử thách. Đừng sợ! Đừng la hoảng! Đừng trách cứ lẫn
nhau! Vì Thánh Phaolô đã bảo chúng ta trong thư Galat (5:
15): “ANH EM HÃY COI CHỪNG, NẾU ANH EM CẮN XÉ
LẪN NHAU LÀ ANH EM TỰ TIÊU DIỆT LẪN NHAU ĐÓ!”

Xin cùng hiệp lời cầu nguyện chung cho nhau, cho toàn thể
Giáo Hội, cách riêng cho các nơi đang bị bách hại, cho Quê
Hương và Giáo Hội Việt Nam.


                                   Lm.   n Phong rần Đức Phương



              NẦY THẦY SAI ANH EM ĐI
                                  Lm. Giuse Phạm   gọc   gôn,   sjb
Trên đường lên Giêrusalem, sau khi đề ra những điều kiện
để trở nên môn đệ đích thực, Chúa Giêsu liền sai 72 môn
đệ đi rao giảng Tin mừng. Cũng như nhóm 12, các môn đệ
này đã từ bỏ mọi sự, đáp ứng được những đòi hỏi, những
điều kiện mà Chúa đưa ra. Giờ đây, chính các ông cũng sẽ
rời xa Thầy mình để ra đi loan báo Tin mừng cứu rỗi cho
muôn dân theo đúng lệnh truyền của Chúa.

Lời căn dặn của Chúa Giêsu khi sai 72 môn đệ ra đi so với
những lời Người dùng trước đó để nói với 12 Tông đồ chi
tiết và rõ ràng hơn nhiều. Lý do để Chúa sai các ông đi rao

                                                                66
giảng Tin mừng là vì “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít”.
Và vì thế, Chúa Giêsu mời gọi các ông tham dự vào sứ
mệnh rao truyền Nước Thiên Chúa cũng như gia tăng việc
cầu nguyện không ngừng để xin Chúa Cha sai nhiều thợ
lành nghề đến đồng lúa chín vàng đang chờ người thu
hoạch.

Chúa Giêsu đã không ngần ngại loan báo cho các môn đệ
biết trước những gian nan khốn khó đang sẵn chờ các ông
ở phía trước. Hành trình của các ông ra đi được ví như
“chiên con đi vào giữa bầy sói”. Sứ giả của Thiên Chúa một
khi phục mệnh ra đi thì cần phải chấp nhận đi vào những
hoàn cảnh khó khăn và thử thách, đi đến những nơi mình
không muốn, và ngay cả liều mất mạng sống nữa. Họ chấp
nhận những thử thách gian lao, là vì, đối với họ, niềm vui
chính là được chính Chúa Giêsu tin tưởng trao phó cho
công việc loan báo sứ điệp Tin mừng- sứ điệp của tình yêu.
Họ vui mừng và tự do chấp nhận ra đi vì họ cảm nhận được
tình yêu của Thiên Chúa mời gọi và thúc bách họ. Họ hoàn
toàn tự do và vui vẻ ra đi bởi họ hiểu rằng tình yêu là một
lời mời gọi chứ không bao giờ là một sự cưỡng bức. Thế
nên, vâng lời Thiên Chúa tình yêu, họ ra đi….

Hành trang của các nhà truyền giáo cũng được Chúa Giêsu
giản lược hết bao có thể. “Đừng mang theo túi tiền, bao bị
hay giày dép”. Hẳn chúng ta biết đây chính là sứ mệnh đòi
hỏi gắt gao, thúc bách người môn đệ phải sống ngay lập
tức thái độ từ bỏ mọi sự và tin tưởng phó thác vào tay Chúa
quan phòng. Thật thế, không mang theo túi tiền, tức là
người môn đệ sẽ cảm nhận một cuộc sống bấp bênh,
không biết ngày mai sẽ ra sao, tương lai dường như không
được đảm bảo; không mang bao bị và giày dép là nhằm
                                                        67
tránh đi những thứ đồ đạc cồng kềnh, không cần thiết và
tránh đi những tiện nghi thường dùng; cũng đừng chào hỏi
ai dọc đường, tức là đừng quá lãng phí thời gian vì cách
chào theo kiểu phương Đông thường dài dòng mà sứ vụ
rao giảng Tin mừng thì đang khẩn cấp. Sứ mệnh ra đi của
các môn đệ là một sứ mệnh không biên giới. Các ông được
sai đến mọi nơi để mang đến cho người dân nơi đó quà
tặng Bình an của Đấng Thiên sai, lời chúc lành từ trời mà
Thiên Chúa muốn ban tặng cho con người.

“Họ ra đi, mang hạt giống vãi gieo, lúc trở về, reo vui hớn
hở, vai nặng gánh lúa vàng” (Tv 125, 6). Tác giả thánh vịnh
diễn tả thật đúng tâm trạng của 72 môn đệ về những gì các
ông đã thực hiện khi vâng lệnh Chúa ra đi loan báo Tin
mừng. Các ông vui mừng hớn hở vì thành quả do sứ vụ rao
giảng Tin mừng mang lại. Đồng thời các ông còn cảm
nghiệm hiệu quả nhiệm lạ từ quyền năng uy quyền của
Thầy mình. “Nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng khuất
phục chúng con”. Có thể đối với các ông, thành quả của
những chuyến “ra khơi”, và những ơn ích do Chúa ân ban
mà mắt các ông được chứng kiến là niềm hạnh phúc tột
cùng rồi. Thế nhưng, với Chúa Giêsu, đó chưa phải là đỉnh
điểm của hạnh phúc. Thật vậy, Chúa Giêsu tiếp tục giúp các
ông nhận thức tầm quan trọng sâu xa từ những gì các ông
đã làm vì danh Chúa cho nhân trần. Đồng thời Người cũng
khai mở cho các ông biết nguồn gốc quyền năng mà các
ông đã có dịp cảm nghiệm, tất cả đều do ân huệ nhưng
không của Thiên Chúa muốn qua các ông ban tặng cho con
người. Chúa Giêsu còn cho các ông biết rằng, niềm hạnh
phúc vĩnh cửu, niềm vui của các ông chính là “tên của anh
em được ghi trên trời”. Còn hạnh phúc nào hơn hạnh phúc
này, còn thành quả và ân phúc nào hơn đặc ân vô biên mà

                                                        68
Thiên Chúa đã ban tặng cho các ông sau khi các ông đã
chu toàn lệnh truyền của Chúa, đến với muôn dân loan báo
Tin mừng cứu rỗi? Đó chính là nguồn hạnh phúc đích thực
mà Chúa muốn trao ban cho hết những ai xả thân vì Tin
mừng.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta theo chân các môn đệ
tiếp tục ra đi làm chứng cho tình yêu Chúa Kytô giữa lòng
nhân loại. Bản chất của Giáo hội Chúa Kytô chính là sứ vụ
truyền giáo. Vì thế, chúng ta không ngừng cầu xin Chúa ban
cho Giáo hội thêm nhiều tâm hồn quảng đại đáp lại tiếng
Chúa kêu mời. Xin Chúa cho mỗi người trong chúng ta ý
thức hơn nữa sứ mạng mà Chúa và Giáo hội mời gọi là
“Hãy ra khơi” rao giảng Tình yêu Thiên Chúa cho muôn
người.
                                  Lm. Giuse Phạm   gọc   gôn,   sjb



   NHIỆT TÂM VỚI SỰC CÔNG ẰNG CỦA THIÊN
            CHÚA TRONG TÂM HỒN
                                          Lm. Giuse ú     ạc,   MS
Làm thế nào để chúng ta có thể mừng vui khi không có gì
đáng để vui mừng? Những tiếng gọi hân hoan khi chúng ta
đang lâm vào bi kịch, phiền não hoặc những khó khăn khác
có thể gây tổn hại và giận dữ. Và đó lại chính là những gì
mà nhà tiên tri nói với dân Do Thái thực hiện. Jerusalem
đang trong tình trạng hỗn độn – những người lưu vong đã
từ Babylon trở về để thấy những đổ nát, hoang tàn. Sau
nhiều thập kỷ ở đó có vẻ như là không có gì thay đổi đáng
kể và những hình ảnh mỹ miều từ những lời tiên tri trước đó
bắt đầy rung lên khá sáo rỗng. Hãy vui mừng – hãy khôi
phục lại.
                                                                69
Nhưng một cuộc kiểm tra chặt chẽ hơn về đoạn trích đã
khám phá ra rằng dân chúng đã được yêu cầu mừng vui với
những sự việc chưa trông thấy. Ý nguyện của Thiên Chúa
là cuộc sống mới, hạnh phúc và phong phú dồi dào về thực
tế, đây là một phản chiếu bản chất của Thiên Chúa. Đây là
những món quà mà Thiên Chúa chuẩn bị để ban tặng cho
những người ngụ cư Jerusalem, nhưng sự ban tặng và
cuộc sống mới này hoàn toàn không đến ngay bây giờ.

Những món quà hứa hẹn vẫn mãi tận chân trời xa xôi.
Trong một ý nghĩa mà người dân được khuyến khích để vui
mừng trong hiện tại về một điều gì đó còn ở tương lai và đó
là một lời giải thích có tác dụng hữ hiệu của niềm hy vọng.
Trong thời đại cùa chính chúng ta niềm hân hoan tột đỉnh là
một mặt hàng khan hiếm. Nó như thể bị bồng bềnh trôi nổi
trong sợ hãi lo âu, tiêu cực. Chúng ta có tin tưởng vào bản
tính từ bi và bao dung của Thiên Chúa không? Chúng ta có
tin vào những ơn phúc hứa hẹn của Thiên Chúa Không?
Chúng ta phải biết và tin rằng Thiên Chúa luôn ở cùng
chúng ta và rằng thoát khỏi bóng tối và sự hỗn độn này sẽ
phát triển một điều gì đó tốt đẹp hơn và cuộc sống đầy hứa
hẹn. Duy nhất điều đó sẽ trở nên thích đáng để dỗ dành
một chút mừng vui từ những tâm hồn sợ hãi và lo âu của
chúng ta.

Thập giá có một ý nghĩa đặc biệt đối với Thánh Phao-lô. Đó
là thanh tiêu chuẩn hoặc đo lường bởi những gì là quan
trọng và giá trị của mọi thứ được đo lường. Không có nhiều
nhặn gì để chống chịu được sự thử nghiệm. Thập giá nói về
sự từ bỏ, sống cho tha nhân, hiệp nhất và trọn vẹn, chia sẻ,
không sở hữu và một loạt những điều khác mà không phải
tính đồng bộ và đường lối thuộc những nền văn hóa và xã
                                                         70
hội mà con người hoạt động. Thiên Chúa đã đến với công
trình sáng tạo một trật tự mới trong Đức Ki-tô và trong trật
tự tinh thần mới này nhiều vấn đề giày vò chúng ta dẫn đến
một ánh sáng mới. Đối với Thánh Phao-lô, vấn đề cần thiết
đối với việc cắt bì để được công nhận vào cộng đồng dân
Chúa đã trở nên không phải là vấn đề tranh cãi. Thực tế
của Chúa Ki-tô và mọi việc mà Người đã thực hiện là cuộc
đời, cái chết và sự sống lại của Người vượt quá những mối
quan tâm của con người. Nắm bắt được sự phối cảnh của
Thánh Phao-lô có thế giúp chúng ta ai nấy để có một cái
nhìn rõ ràng hơn và bình tĩnh hơn – thế giới quan mà chúng
ta đang sống.

Chúa Giê-su mong đợi một cuộc đón tiếp tẻ nhạt và có
phần nguy hiểm dành cho Bảy Mươi Hai môn đệ mà Người
giao thực hiện sứ vụ. Chúa Giê-su khuyên họ đừng gây rắc
rối, phức tạp mà hãy đi nhẹ nhàng và tiếp tục chuyến đi.
Hãy cho đi một cách hào phóng và nhân từ - những ai tâm
hồn họ rộng mở sẽ lãnh nhận phúc lành của các con và sẽ
được ủi an, khuyến khích. Phàm sẽ có những người không
nhận lãnh và những người có thể là hoàn toàn thù địch.
Cuối cùng họ sẽ là kẻ thua cuộc. Và Bảy Mươi Hai môn đệ
đừng lãng phí thời gia với họ.

Công việc của các tông đồ chẳng có gì là ngoạn mục. Họ
phải hàn gắn, chúc phúc, khuyến khích và khai tâm con
người trước sự hiện diện tức thì của Thiên Chúa. Đó là
những gì Satan mang xuống và làm cho nó “giáng như sét
đánh” – khước từ để được nắm quyền bởi bóng tối thế gian,
sợ hãi và bạo lực nhưng vẫn tiếp tục thực hiện sứ mệnh
của Thiên Chúa êm đềm và hoan hỷ. Đó là sứ mệnh thuộc
môn đệ của Chúa Giê-su đã hoàn thành và đó là sứ mệnh
                                                         71
của những ai hôm nay chấp nhận để tự gọi mình là môn đệ
hoặc tông đồ của Chúa Giê-su.

Nói về sự kết thúc trật tự của thế giới và khởi sự triều đại
của Thiên Chúa quả là khó nếu chúng ta cứ mải mê vương
vấn trong trật tự đó. Giáo Hội đối diện một tương lai với sự
phong phú vật chất, quyền lực và thanh danh ít hơn mà đã
được hưởng trong quá khứ - có lẽ không phải là một điều
xấu. Điều này có thể mang lại sự tự do, tự phát và cơ hội để
tin vào độc nhất đối với quyền năng và thần khí của Thiên
Chúa như Bảy Mươi Hai môn đệ đã thực hiện trong đoạn
Tin Mừng. Những người lao động cần thiết thì quá ít nhưng
điều đó không chỉ có nghĩa là nguyện cầu thiên hướng
truyền thống mà vì sự ủy thác và nhiệt tâm đối với một phần
của tất cả mọi người đã được chịu phép rửa. Vì Chúa Giê-
su đã nhắc nhở các môn đệ của Người, nó không thuộc về
quyền lực và thể hiện bề ngoài mà thuộc về việc có tên của
chúng ta trên thiên đàng bởi nhiệt tâm đối với sự công bình
và lòng nhân từ thương xót của Thiên Chúa bốc cháy trong
tâm hồn chúng ta. (Nguồn: Regis College – The School of Theology)
                                              Lm. Giuse ú   ạc,   MS



              RA ĐI LOAN        ÁO TIN MỪNG
                                                  Lm. An Phong, OP
Tin mừng chúa nhật 14 thường niên C là trình thuật Ðức
Giêsu gởi các môn đệ lên đường sứ vụ... Người sai họ đi
như "con chiên ở giữa sói rừng..., đừng mang theo túi tiền,
bao bị, giày dép... nhưng nói bình an cho nhà này" (Lc
10,4). Người sai họ đi "cứ từng hai người", vì theo luật Do
Thái, chứng từ hợp pháp phải dựa trên hai hoặc ba nhân
chứng (Ðnl 19,15). Trong Giáo hội sơ khai, "cứ từng hai
                                                         72
người" như Phaolô và Banaba (Cv 13,2), Banaba và Maccô
(Cv 15,39), Phaolô và Sila (Cv 15,40), Timôthê và Sila (Cv
17,4)... đã đi rao giảng Tin mừng với nhau. "Nếu vào thành
nào mà người ta không tiếp đón các con, thì... hãy phủi bụi
đất lại..." là một lời cảnh giác cho những ai không đón nhận
Tin mừng. Hình ảnh các môn đệ trở về vui mừng và "Satan
từ trời rơi xuống như luồng chớp" muốn nói lên việc rao
giảng Tin mừng được thành tựu và các ngài đã thắng được
Satan.

Ðức Giêsu đã đưa ra những điều kiện thiết yếu cho những
ai muốn đi rao giảng Tin mừng "không túi tiền, không bao
bị, giày dép". Họ phải là những người nghèo khó, khiêm
tốn, và thậm chí yếu đuối, để có khả năng tin tưởng và bám
víu vào Thiên Chúa. Họ được sai đến những nơi nguy hiểm,
thiếu an toàn, nhưng lại nói lời bình an. Cơn cám dỗ về tiện
nghi vật chất luôn đe dọa những người đi rao giảng Tin
mừng. Cơn cám dỗ về ngại khó vẫn luôn làm những người
đi rao giảng Tin mừng chùn bước. Như thế, người đi rao
giảng Tin mừng "đừng khoe khoang về điều gì khác, ngoại
trừ về thập giá Ðức Giêsu Kitô" (Gl 6.14).

Hơn thế nữa, "sự bình an của các con sẽ đến trên những ai
đón nhận Tin mừng". Người đi rao giảng Tin mừng là người
có được sự bình an của Thiên Chúa. Từ đó đem sự bình an
này đến cho người khác. Ðem đến sự bình an của Thiên
Chúa cùng với Nước Thiên Chúa đang đến gần chính là rao
giảng Tin mừng. Mọi hình thức áp đặt, đe dọa, "rút phép
thông công", những cuộc thánh chiến... sẽ làm tiêu tan sự
bình an. Bình an cho nhà này, cho ngôn ngữ, cho phong tục
tập quán này, cho các truyền thống, các giá trị, các nghi
thức phải là tâm niệm của những người đi rao giảng Tin
                                                       73
mừng. Tin mừng cần được hội nhập, được sống trong một
nền văn hóa của một dân tộc cụ thể, cùng với những phong
tục tập quán, truyền thống của dân tộc đó. Tin mừng chỉ có
thể được đón nhận trong tình yêu và tự do.

Là kitô hữu, nhờ bí tích Rửa tội và Thêm sức, chúng ta là
những người rao giảng Tin mừng cho mọi người chung
quanh. Chúng ta được Thiên Chúa gởi đến để đem lại bình
an cho người khác. Những người chung quanh chúng ta sẽ
dễ dàng đón nhận sứ điệp của chúng ta, nếu sứ điệp đó
được loan báo cách vô vị lợi, nhẹ nhàng, trong tinh thần
phục vụ. Chứng từ "cứ từng hai người" là hình ảnh yêu
thương lẫn nhau, cộng tác với người khác, không ghen
tương hay thành kiến, là một chứng từ mạnh mẽ, có giá trị
làm cho Tin mừng dễ được đón nhận. Các kitô gữu đầu tiên
tại Antiôkia đã từng gây ấn tượng tốt đẹp cho cư dân tại đó
bằng nếp sống đoàn kết yêu thương nhau, khiến cư dân tại
đó đã phải thốt lên "Kìa xem họ yêu thương nhau biết bao".
Vào thời bách hại đạo tại Việt Nam, cha ông chúng ta đã
được những người chung quanh gọi là "những người theo
đạo yêu nhau". Những chứng từ như thế có sức thuyết
phục mạnh mẽ hơn là "văn hay chữ tốt".

Khi phải đối diện với những bất an toàn của cuộc sống,
chứng từ lòng tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên
Chúa cũng là một lời rao giảng tốt đẹp.

Phải chăng chúng ta đang rao giảng Tin mừng của Ðức
Giêsu bằng chính đời sống yêu thương và phục vụ của
mình ?


                                                        74
Lạy Chúa,
ngày nay trên thế giới còn nhiều người chưa đón nhận Tin
mừng. Chúng con xin Chúa gởi đến những người rao giảng
tin mừng đầy lòng yêu thương, nhiệt tâm tông đồ. Xin cho
chúng con trở nên những chứng nhân Tin mừng bằng đời
sống của mình.


                                             Lm. An Phong, OP



             CHIÊN CON GIỮA ẦY SÓI
                                      Lm. Giuse Đ V n L c, OP


Từ thế kỷ VII, Tin Mừng đã được loan báo tại Trung Hoa.
Trải qua hơn chục thế kỷ, các thừa sai không ngớt tìm cách
rao giảng Tin Mừng cho nước đông dân nhất thế giới này.
Trong nhiều thế kỷ, cuộc truyền giáo bị khựng lại vì những
thử thách và bách hại. Có thể nói lịch sử Giáo Hội Trung
Hoa (GHTH) trải qua năm giai đoạn. Từ thập niên 1980,
cuộc loan báo Tin Mừng lần thứ năm khởi sự. Tới nay
GHTH vẫn bị bách hại.

Giữa lúc GHTH đang gặp thử thách lớn lao vì những bách
hại của nhà cầm quyền, ÐGH Bênêđictô XVI viết một lá thư
cho dân tộc Trung Hoa. Theo linh mục Federico Lombardi,
Giám đốc Văn phòng Báo chí Tòa Thánh, lá thư đó cho thấy
tình yêu Đức Kitô “làm cho con người đi vào một chiều kích
mới, nơi lòng khoan dung và tình yêu mến đối với cả kẻ thù
địch có thể làm chứng tá cho sự thắng thế của Thập giá
trên mọi yếu đuối và bất hạnh của con người. Càng trở
thành thuần Trung Hoa, GH càng thực sự là chính mình. Đó
                                                          75
chính là cốt lõi thông điệp tuyệt diệu, trung thực và cao cả
của ÐGH .” (1)

Lá thư của ÐGH quả thực là một Tin Mừng cho người
Trung Hoa. Dù bị cấm đoán và bưng bít, giáo dân Trung
Hoa cũng vẫn bắt kịp nhịp sống Tin Mừng. Từ xưa tới nay,
đã gặp bao nhiêu trở ngại, GHTH vẫn kiên cường. Tin
Mừng vẫn tìm mọi cách lọt đến lòng người.

Cuộc truyền giáo ở Trung Hoa đã có một lịch sử lâu dài hơn
Việt nam rất nhiều. Tin Mừng đến với họ sớm hơn chúng ta
gần 10 thế kỷ. Vậy mà tới nay, giáo dân Trung Hoa cũng chỉ
mới khoảng 15 triệu trong số gần 1.5 tỉ dân số. Phải chăng
Tin Mừng bất lực? Bao giờ Nước Thiên Chúa (NTC) mới
đến với dân tộc Trung Hoa?

CÔNG TRÌNH THIÊN CHÚA
Ðứng trước cánh đồng truyền giáo bao la là Á châu, nhất là
Trung Hoa, ÐGH Gioan Phaolô II đã hướng tầm nhìn GH
Hoàn vũ về miền đất linh thiêng trù phú đó. Nhưng suốt hơn
13 thế kỷ qua, vẫn chưa thấy mùa lúa chín trên cánh đồng
truyền giáo Trung Hoa. Phải chăng thực tế không xảy ra
như Ðức Giêsu tiên báo?

Thực ra, “lúa chín đầy đồng” là công trình của Thiên Chúa,
chứ không phải của con người. Thiên Chúa mới là chủ sai
thợ đến gặt lúa (x. Lc 10:3). Ngay từ thời Chúa Giêsu, GH
đã sinh ra trong tình trạng thiếu thốn. Chính Chúa đã phải
cảnh giác các môn đệ : “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại
ít.” (Lc 10:2) Ðó là thân phận GH. Lúc nào GH cũng nghèo
túng và thiếu phương tiện thi hành bổn phận. Nhưng càng
                                                         76
thiếu thốn và nghèo túng, GH càng được mời gọi đặt tất cả
niềm tin nơi Chúa. Cánh đồng không thiếu lúa chín, nhưng
chỉ thiếu những người thợ tin Thiên Chúa làm chủ cánh
đồng. Chỉ tin như thế, họ mới không phản bội sứ mệnh khi
xử dụng quyền lực và phương tiện trần gian. Nhờ niềm tin
đó, họ dễ dàng sống khiêm tốn và vâng nghe Chúa Thánh
Linh. Khiêm tốn chắc chắn là bí quyết làm cho công cuộc
rao giảng Tin Mừng sinh hoa kết quả dồi dào. Chỉ nơi
những người có lòng tin, Thiên Chúa mới thi thố tất cả
quyền năng tuyệt đối. Người khiêm tốn biết nhường bước
và đón chào ông chủ là Thiên Chúa vào vườn nho hay cánh
đồng đầy lúa chín.

Cả về phương diện tập thể lẫn cá nhân, vật chất cũng như
tinh thần, họ hoàn toàn bị tước đoạt vì NTC. Chúa nói :
“Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào
hỏi ai dọc đường.” (Lc 10:3) Còn gì nữa đâu mà kiêu ngạo ?
Tất cả mọi phương tiện và tương quan xã hội đều phải trở
thành xa lạ đối với họ. Chỉ còn một mình họ với Chúa trong
công cuộc xây dựng và chiến đấu cho NTC. Như vậy chưa
đủ sao ? Khi nghe lời Chúa căn dặn : “Thầy sai anh em đi
như chiên con đi vào giữa bầy sói,” (Lc 10:3) người môn đệ
nào chẳng run sợ? Run sợ vì lực lượng không cân xứng.
Cuộc đối đầu vượt quá tầm sức chiên con. Sao Chúa không
sai họ vào giữa đoàn chiên có phải tốt hơn không? Làm sao
chiến thắng lực lượng sự ác lớn như thế? Nhưng kết quả lại
về phần chiên con. Thật bất ngờ! Rõ ràng sức mạnh không
từ môn đệ, nhưng từ Thày. Nếu Thày không là Thiên Chúa,
làm sao chiến thắng lớn lao như thế?!

Chiến thắng lớn lao đó phát xuất từ thánh giá. Trước đây
các môn đệ đã từng coi thập giá là biểu tượng cho sự thất
                                                       77
bại và là gương mù cho dân ngoại. Nhưng “Thiên Chúa đã
tôn vinh Người trên mọi sự …” vì Ðức Giêsu đã “vâng lời
cho đến chết và chết trên thập giá.”(Pl 2:8-9) Khi tuyệt đối
vâng phục thánh ý Chúa Cha, Người đã khám phá tất cả
sức mạnh tình yêu và sự thật cần thiết cho công cuộc giải
thoát nhân loại. Bởi đấy, Người đã tìm được niềm vui và
cũng trở thành nguồn vui cho mọi người. Khi gặp khổ đau,
thập giá và cái chết, Ðức Giêsu đã kiên nhẫn biết chừng
nào. Người kiên nhẫn vì tin rằng đó là thánh ý Chúa Cha.
Tình yêu Chúa Cha đã khiến Người có sức mạnh phi
thường. Không đối lực nào có thể thắng nổi.

Tin tưởng nơi Chúa, người môn đệ sẽ nhận ra tất cả những
giới hạn của mình, nhưng đồng thời nhìn thấy những hoa
trái lạ lùng do bàn tay Thiên Chúa hành động qua những
phương tiện nghèo nàn. Sau một ngày mệt nhọc trong cánh
đồng của Chúa, “nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở nói:
‘Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải
khuất phục chúng con.’” (Lc 10:17) Tất cả đều nhờ sức
mạnh Chúa.

SỨ ÐIỆP DUY NHẤT
Dù chỉ là chiên con bị tước lột trần trụi giữa bầy lang sói,
người môn đệ vẫn hiên ngang bước theo Ðức Kitô. Không
phải lúc nào cuộc hành trình cũng trải đầy hoa hồng. Có
nhiều lúc không êm ả chút nào. Những biến cố lớn nhỏ như
sóng gió ập đến. Khi gặp thử thách như thế, có những
người môn đệ quên cả việc rao giảng Tin Mừng và bẻ cong
Tin Mừng theo thời đại và hoàn cảnh, mong thỏa mãn
những nhu cầu trần tục. Họ tin vào sức mạnh phương tiện
như các tổ chức trần thế. Cố gây sức mạnh bằng cách tăng

                                                         78
cường nhân sự, phương tiện, của cải, quyền lực, danh
vọng v.v.

Nhưng sức mạnh NTC không đến từ những phương tiện
trần thế. NTC không thể biến đổi đến nỗi đánh mất bản
chất. Người môn đệ phải có lập trường dứt khoát và rõ rệt.
Chính Ðức Giêsu đã minh xác với các môn đệ như thế. Dù
được đón tiếp hay không, họ phải nhất quyết rao giảng cho
mọi người : “Triều Ðại Thiên Chúa đã đến gần.” (Lc 10:9.11)
Không phải vì bầy sói đông quá mà khiếp đảm đến nỗi
không dám mở miệng rao giảng NTC nữa. Không thể vì
những lực lượng bất hảo hay bất chính đang siết gọng kìm
mà không dám tranh đấu để xây dựng NTC. NTC không thể
dựa trên bất công, vì bản chất và nền tảng của NTC là công
lý. Chính lập trường này làm cho người môn đệ đứng vững
và ngẩng đầu hãnh diện trước những thách thức của kẻ
thù. Lập trường đó chính Chúa đề ra và củng cố bằng sức
mạnh Thánh Linh. Không có Thánh Linh không thể giữ nổi
lập trường và sứ điệp duy nhất đó trong mọi hoàn cảnh.
Hoàn cảnh rất phức tạp và khắc nghiệt. Hỏa mù vô cùng
dầy đặc. Nếu Chúa không đưa ra nguyên tắc và sứ mệnh
đó, chắc chắn không ai có thể phá vỡ cơn hỏa mù.

Khi hoạt động trong GH, người môn đệ nhắm biến đổi toàn
thể thế giới. Là phần tử GH, họ có sứ mệnh phục vụ NTC,
tức là tranh đấu cho công lý, hòa bình, tự do và mọi người
biết tôn trọng nhân quyền. Tất cả đều nằm trong kế hoạch
Thiên Chúa tối cao nhằm cứu độ muôn dân. Nhiều người
muốn đánh lạc hướng khi chủ trương NTC vượt trên trần
thế và nhằm xây dựng trời mới đất mới, chứ không phải
trần gian. Bởi vậy, họ muốn biến sứ điệp của Ðức Giêsu

                                                        79
thành chuyện tư riêng hay cá nhân. Chiều cạnh xã hội của
NTC hoàn toàn bị coi thường và quên lãng.

Ngày nay, dù sống trong hoàn cảnh nào, Kitô hữu cần phải
nỗ lực cứu Chúa Giêsu khỏi ngục tù cá nhân chủ nghĩa và
đem Người trở lại đời sống xã hội. (2) Nếu đặt Chúa Giêsu
vào hoàn cảnh văn hóa xã hội thời Người và nhìn sứ mệnh
Người trong bối cảnh phục hồi Israel và loan báo “năm đại
hồng ân” cho dân Người, chúng ta sẽ thấy rõ sứ điệp Ðức
Giêsu hàm ý chính trị. Người muốn triệt để tái cấu trúc mọi
cơ cấu xã hội hiện hành trên nền tảng giao ước. (3) Ðể thực
hiện công cuộc đó, Người muốn mọi quyền lực trên đời phải
mang tính tương đối và nhường bước cho những đòi hỏi
của NTC. Có một số người muốn sứ điệp Ðức Giêsu về
NTC chỉ thuần túy mang tính tôn giáo và không liên quan tới
các cơ cấu chính trị xã hội. Thực ra, Tin Mừng liên quan tới
những thực tại sâu xa của trần thế. Bởi thế, sứ điệp của
Chúa Giêsu là một phản ứng rõ rệt trước một thế giới đầy
áp bức và những cơ chế của một trật tự xã hội bất công. (4)

CƠ HỘI PHỤC VỤ
Tới đây, chúng ta cần lắng nghe vị Ðại Diện Chúa Kitô.
Hoàn cảnh GHVN cũng tương tự GHTH. Trong mọi hoàn
cảnh, “Giáo Hội không thể và không được tự đảm nhận
chính trường để đem lại một xã hội công bình nhất. Giáo
Hội không thể và không được thay thế chính quyền. Tuy
nhiên đồng thời Giáo Hội không thể và không đươc ở bên lề
cuộc đấu tranh cho công bình. Qua lý chứng, Giáo Hội phải
tham gia và phải thức tỉnh năng lực thiêng liêng cần thiết
cho công lý chiếm ưu thế và thành công. Bao giờ công lý
cũng đòi phải hy sinh. Một xã hội công bình phải là thành
quả của chính trị, chứ không phải của Giáo Hội. Tuy nhiên
                                                       80
cổ võ cho công bình qua những nỗ lực nhằm giúp cởi mở
tâm trí và ý chí theo những đòi hỏi của công ích, là điều can
hệ đến Giáo Hội cách sâu xa.

Nhờ những nguyên tắc không thể đảo ngược này hướng
dẫn, những vấn đề đang tồn đọng không thể được giải
quyết qua sự xung đột với các nhà cầm quyền dân sự hợp
hiến. Nhưng đồng thời không thể tùng phục những nhà cầm
quyền ấy khi họ can thiệp vô lý vào những vấn đề liên quan
đến đức tin và kỷ luật của Giáo Hội. Các nhà chức trách
dân sự cần nhận thức rõ Giáo Hội luôn dạy các tín hữu trở
nên những công dân tốt, tôn trọng và đóng góp tích cực cho
công ích của đất nước. Nhưng rõ ràng Giáo Hội cũng đòi
hỏi Nhà Nước phải tôn trọng quyền tự do tôn giáo chân
chính và bảo đảm cho những người dân Công Giáo được
thi hành đầy đủ niềm tin của mình.” (5)

Ðàng khác, Giáo hội được thành lập để phục vụ NTC, chứ
không phải để chiếm chỗ của NTC. Nếu không phục vụ
NTC, GH sinh ra để làm gì ? Phục vụ NTC nghĩa là tranh
đấu cho xã hội ngày càng “công chính, bình an và hoan lạc
trong Thánh Thần.” (Rm 14:17)
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết can đảm phục vụ NTC, để
công lý mau ngự trị trên quê hương yêu dấu chúng con.
Amen.
____________
1. VietCatholic 03/07/2007.
2. x. Hollenbach 1898:11-22.
3. Dictionary of Fundamental Theology 1995:589.
4. x. Hollenbach 1898:37-48.
5.       ÐGH        Bênêđictô        XVI,       Lá        Thư     Gởi       Người   CGTH,
http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/letters/2007/documents/hf_ben-
xvi_let_20070527_china_en.html
                                                               Lm. Giuse Đ V n L c, OP
                                                                                      81
            NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC SAI ĐI
                                    Lm. Giuse guy n   ao Luật, OP
Một cộng đoàn có nhiều thành phần
Đoạn Tin Mừng của thánh Luca cho độc giả cái nhìn tổng
quát về cách thức Đức Giêsu quan niệm và tổ chức hoạt
động của Người.

Đức Giêsu đã chọn mười hai Tông Đồ : đó là một kế hoạch.
Đối với người Do-thái, việc quy tụ mười hai chi tộc Ít-ra-en
là sự kiện đánh dấu triều đại Thiên Chúa đã khởi đầu.
Nhóm Mười Hai chính là hình ảnh tượng trưng cho việc quy
tụ này.

Ngoài Nhóm Mười Hai, còn có những người thường xuyên
đi theo Đức Giêsu trong các cuộc hành trình. Họ đã từ bỏ
gia đình và mọi sự để đi theo Người. Họ là những người
phục vụ dân Ít-ra-en mới đang được sinh ra.

Lại có những người ở một chỗ. Họ cũng là những người
gắn bó với Đức Giêsu, nhưng Người không đòi hỏi họ phải
giữ những điều kiện như những người thuộc các nhóm trên.
Những người này tạo nên một nền tảng bền vững, những
người đón tiếp và trợ giúp các Tông Đồ về phương diện vật
chất. Họ là những nhóm nhỏ cư ngụ tại các làng mạc hay
tại các thành phố. Họ là những người nhiệt thành và sẵn
sàng đáp ứng khi cần.

Vậy, trên đường lên Giêrusalem, Đức Giêsu biết rằng giờ
quyết định đã điểm, nên Người đẩy tiến độ công việc đi
nhanh hơn : mùa gặt đã đến ! Ông chủ đưa ra hiệu lệnh thu

                                                             82
gom. Công việc lúc này của Đức Giêsu không phải là nhằm
thuyết phục những người từ chối lời mời gọi của Tin Mừng.
Trong nhãn quan của Đức Giêsu, Ít-ra-en mới sẽ nên hấp
dẫn trước hết nhờ chứng tá. Đàng khác, Ít-ra-en mới không
chỉ thu họp những con chiên lạc mà sau này sẽ nhận ra vị
chủ chăn đích thực, nhưng Ít-ra-en mới này còn xuất hiện
như một ngọn đuốc giữa thế giới, làm cho dân ngoại phải
ngỡ ngàng thán phục.

Như thế, các môn đệ của Đức Giêsu có nhiệm vụ đi loan
báo và bày tỏ sự sinh ra của thế giới mới. Vương quốc của
Xa-tan bị sụp đổ và vương quốc của Thiên Chúa được sinh
ra. Vương quốc này đem lại bình an, như lời Đức Giêsu
nhắn nhủ các môn đệ trước khi sai các ông đi.

  ộng đoàn được sai đi
Trong cuộc đời công khai của Đức Giêsu, Nhóm Mười Hai
là những người gắn bó chặt chẽ với Người. Các ông là
những người được Đức Giêsu huấn luyện cách đặc biệt, và
cũng là những người thường xuyên trao đổi với Đức Giêsu.
Theo Tin Mừng Mát-thêu, các ông là những người được
Đức Giêsu kêu gọi, được Người ban cho quyền trên các
thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn
tật nguyền (x. Mt 10,1).

Mười hai Tông Đồ vì có mười hai chi tộc Ít-ra-en. Con số
này là biểu tượng thích hợp cho thấy rằng cách hành động
của Đức Giêsu vẫn nằm trong đường hướng vốn có của
Thánh Kinh : một nhóm nhỏ những người tin, được Thần
Khí tuyển chọn và soi sáng. Cộng đoàn ấy là những người
đem Tin Mừng cho toàn thế giới. Cộng đoàn ấy sẽ bất trung

                                                      83
nếu chỉ dành riêng cho mình, nếu chỉ nghĩ đến mình. Ngược
lại, cộng đoàn ấy sẽ trung tín một khi phát triển thêm mãi,
đến vô tận. "Cho đến tận cùng cõi đất."

Vậy, nhiều lần trong Tin Mừng, người ta thấy cộng đoàn
Tông Đồ đã phát triển vượt trên số mười hai. Ở đây là "bảy
mươi hai người khác." Những con người này phải có những
phẩm chất nào ? Chắc chắn các ông là những người "đã
thấy và đã nghe", đã cảm thấy bị thôi thúc từ bên trong do
sứ điệp của Đức Giêsu gợi lên. Chính sự thúc đẩy này là
một lệnh truyền sai đi, một thư ủy nhiệm "Hãy đi nói ..."

Như vậy, sự hiểu biết về Đức Giêsu càng tăng thêm thì
cộng đoàn các môn đệ càng mở rộng thêm, thì mười hai trở
thành bảy mươi hai... và mười hai lần bảy mươi hai. Trong
cộng đoàn này, mọi thành viên đều có trách nhiệm làm cho
cộng đoàn thêm mở rộng nhờ sự hiểu biết sâu xa hơn về
Đức Giêsu. Như mười hai chi tộc của Ít-ra-en, cộng đoàn ấy
trở thành như một hạt giống được gieo vào lòng đất. Hạt
giống ấy tiềm ẩn một sức mạnh và sẽ mọc lên, vươn thành
một cây rất lớn.

Từ cộng đoàn này, các ông được sai đi, hai người một.
Điều này cho thấy Tin Mừng chỉ xuất hiện thực sự nhờ lời
chứng của nhiều người. Đó là lời loan báo của một Hội
Thánh thu nhỏ. Và nhóm hai người đó không giữ nguyên
tình trạng này. Sẽ có thêm người thứ ba, tức là những
người sẽ nghe và sẽ tin. Sau đó, đến lượt họ lại trở thành
bạn hữu, trở thành môn đệ.



                                                        84
Các môn đệ được sai đi để làm gì ? Không phải để thâu
nạp thêm hội viên nhằm củng cố sức mạnh của cộng đoàn
nhờ số đông. Các ông được sai đi để loan báo : "Triều đại
Thiên Chúa đã đến gần." Các môn đệ do Đức Giêsu sai đi
có sứ mạng rõ rệt là loan báo rằng con người hoàn toàn
không thể hiểu được nếu không có Thiên Chúa, con người
không chỉ sống nhờ cơm bánh, và điều tốt đẹp nhất họ vẫn
khao khát nay đã có trong Tin Mừng Đức Giêsu. Họ không
còn phải chờ đợi một người nào nữa.

Trong Đức Giêsu, nhân loại đã có những lời đem lại sự
sống vượt trên sự chết.

 ùng với lời cầu nguyện
Yếu tố vững bền nhất của Kitô giáo là lệnh truyền không
bao giờ được ngừng lại, phải luôn tiến về phía trước. Hội
Thánh vẫn còn là một phần nhân loại trong đó Đức Kitô bắt
đầu tìm kiếm khuôn mặt đích thực của Người: vẫn còn
những người khác đang ở bên ngoài, Hội Thánh có sứ
mạng đưa họ về gia nhập.

Mục đích của sứ vụ tông đồ không chỉ là tìm kiếm thành
công, nhưng là chuẩn bị giúp con người gặp gỡ với Đức
Kitô. Chúng ta là những người truyền giáo, chúng ta có
nhiệm vụ dọn đường. Nếu chúng ta có chịu vất vả, đó chính
là vì Đức Kitô, chính Người thôi thúc chúng ta tiếp đón
người khác, và cũng chính Người là Đấng mà chúng ta phải
bày tỏ. Thiên Chúa cần đến chúng ta, nhưng chính Người
điều hành.



                                                      85
Như thế, chúng ta hiểu được mối liên hệ thâm sâu giữa lời
cầu nguyện và hoạt động tông đồ. Cầu nguyện, đó là xin
Thiên Chúa thi thố quyền lực vô cùng lớn lao cho chúng ta
là những tín hữu (x. Ep 1,19), đó là đưa mũi khoan vào tầng
sâu của nhân loại để làm vọt lên nguồn nước là chính Đức
Kitô.

      Thật là điên rồ
      khi hy vọng con người lắng nghe nhau;
      thật là uổng công vô ích
      khi phàn nàn than van;
      thật là đáng xấu hổ
      khi kêu la gào thét.
      Lạy Thiên Chúa,
      xin cho con
      khám phá thấy sự êm dịu của việc cầu nguyện.
      theo Pierre-Henri Simon




                                   Lm. Giuse guy n   ao Luật, OP




                                                            86
                      CHÚA SAI ĐI
                                Lm. Giacôbê Phạm V n Phượng, OP
Trong ba năm truyền giảng Tin Mừng, có thể nói, Chúa Giê-
su có rất đông người đi theo làm môn đệ, ngoài 12 người
được Chúa kêu gọi và đặt làm tông đồ, còn có nhiều người
khác nữa, bằng chứng : bài Tin Mừng cho biết Chúa sai 72
môn đệ đi rao giảng. Đúng vậy, Chúa Giê-su có rất đông
môn đệ, các ông luôn đi theo Chúa, được nghe những lời
Chúa giảng dạy và chứng kiến những việc Chúa làm. Sau
một thời gian huấn luyện như vậy, Chúa sai các ông đi tập
sự truyền giảng, tức là cách huấn luyện thực hành. Nhưng
vì là lần đầu tiên các ông đi hoạt động truyền giáo, có lẽ
chưa có kinh nghiệm gì, nên Chúa đã chỉ bảo cho các ông
những điều cần thiết như bài Tin Mừng ghi lại.

Trước hết, về cách sống trong khi đi truyền giảng. Chúa bảo
các ông phải sống khó nghèo và phó thác, nghĩa là không
có chút của gì có thể là dư thừa, mà chỉ nên có những gì là
nhu cầu tối thiểu. Đừng mang túi tiền, ngay cả chút tiền lẻ
giắt trong lưng để phòng thân cũng không cần; bao bị đi
đường cũng không cần, vì có mang theo đồ gì đâu mà phải
có bao bị để đựng; cũng không cần mang giầy dép, vì tông
đồ có thể đi chân không trên các nẻo đường truyền giáo.
Tóm lại, Chúa bảo các ông phải có tinh thần hoàn toàn phó
thác vào Thiên Chúa quan phòng, ai lo tìm vinh danh Chúa
thì Chúa sẽ lo cho họ mọi sự.

Thứ hai, về cách đối xử với mọi người, Chúa bảo : đừng
chào hỏi ai dọc đường. Không phải Chúa bảo sống bất lịch
sự đâu, nhưng đừng để mất thời giờ vào những chuyện
không cần thiết. Rồi đến nhà nào, hãy chúc bình an cho nhà
                                                            87
ấy. Các tông đồ là những sứ giả bình an, mang bình an đến
cho những ai có lòng thành tâm đón nhận Tin Mừng nước
trời. Còn nếu các tông đồ chúc sự bình an cho họ mà họ lại
không xứng đáng, thì chính các tông đồ sẽ được hưởng sự
bình an đó. Trong trường hợp các tông đồ đến truyền giáo
ở nơi nào mà người ta từ chối không đón nhận các ông thì
sao? Chúa cho phép các ông ra khỏi nơi đó và ngay cả bụi
cát dính ở chân cũng hãy giũ trả lại họ để làm chứng tố cáo
họ.

Thứ ba, về nội dung các tông đồ sẽ rao giảng. Đó là rao
giảng Tin Mừng Nước Trời, loan báo cho mọi người biết:
“Nước Trời đã đến gần”. Đây cũng là đề tài truyền giảng
của Gio-an Tẩy Giả, của chính Chúa Giê-su, và cũng là sứ
mệnh của Giáo hội sau này cho đến tận thế. Đồng thời
Chúa cũng ban cho các ông quyền xua trừ ma quỷ và làm
nhiều phép lạ để củng cố lời giảng của các ông.

Sau hết, để kết thúc những huấn thị truyền giáo, Chúa lưu ý
các môn đệ phải đề phòng thái độ đừng tìm kiếm hư danh
hay tự hào không chính đáng, không cần lấy điểm với
người đời, nhưng phải nhằm làm vinh danh Chúa, mưu ích
lợi cho các linh hồn. Như thế, chắc chắn các ông sẽ được
phần thưởng lớn lao trên trời.

Đó là ý nghĩa của bài Tin Mừng. Còn chúng ta hôm nay thì
sao ? Chúa có sai chúng ta đi rao giảng Tin Mừng không ?
Mỗi người chúng ta khi đã chịu phép rửa tội và thêm sức là
chúng ta đã trở thành môn đệ được Chúa sai đi rao giảng
Tin Mừng. Mỗi người hãy cố gắng trở thành một nhà truyền
giáo, tùy hoàn cảnh và cách thế riêng của mình. Vậy chúng
ta có thể rao giảng thế nào ? Có nhiều cách, chúng ta muốn
                                                        88
theo cách nào cũng được, nhưng nhất thiết không thể bỏ
qua hay thiếu hai cách sau, là cầu nguyện cho việc truyền
giáo và sống đời sống chứng nhân.

Trước hết, cầu nguyện cho việc truyền giáo. Đây là việc
quan trọng hàng đầu, thiếu cầu nguyện, hoạt động sẽ không
kết quả. Có thể nói, cầu nguyện là linh hồn của hoạt động
truyền giáo, nó đem đến cho những hoạt động một sức
sống kín múc tận đầu nguồn sứ mạng. Trong bài Tin Mừng
hôm nay, chính Chúa Giê-su cũng đã nói : “Lúa chín đầy
đồng mà thợ gặt thì ít, các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi
gặt lúa”, nghĩa là sự cộng tác mà Chúa đòi hỏi nơi chúng ta
để có thêm số thợ gặt, có tính cách siêu nhiên, là cầu xin,
cầu nguyện, bởi vì không phải ai cũng có thể đi đây đó
truyền giáo, nhưng cầu nguyện cho việc truyền giáo thì ai
cũng có thể làm được. Hơn nữa, cầu nguyện còn chứng tỏ
lòng tin tưởng, cậy trông của chúng ta, bởi vì từ việc sai thợ
gặt đến cánh đồng truyền giáo cho đến việc cứu độ thực thụ
là làm cho người ta chấp nhận Tin Mừng, trở về với Chúa,
tin theo Chúa…tất cả đều do Chúa. Vì thế, cầu nguyện cho
việc truyền giáo là một việc rất quan trọng và cần thiết.

Thứ hai, chúng ta hãy truyền giáo bằng chính đời sống của
mình. Đây là cách truyền giáo tốt nhất và hữu hiệu nhất,
truyền giáo bằng đời sống tốt đẹp của chúng ta. Chúng ta
hãy sống tốt đẹp trong gia đình, với xóm ngõ, trong giáo xứ
và với những người chung quanh, bất kỳ là lương hay giáo,
có đạo hay không. Một đời sống đạo đức, chân thành, cởi
mở, yêu thương là một tấm gương sáng trước mặt mọi
người, đặc biệt là thể hiện tình yêu thương của chúng ta.
Mẹ Tê-rê-sa Can-cút-ta đã nói : “Truyền giáo hữu hiệu nhất
là dùng cả cuộc sống của mình để làm cho người ta biết và
                                                           89
yêu mến Chúa Giê-su. Truyền giáo không chỉ là rao giảng
một giáo lý mà thiết yếu là chia sẻ một cuộc sống yêu
thương”.

Như vậy, gương sáng và tình yêu thương là bằng chứng
cho người ta nhận ra Thiên Chúa. Có nhiều người không
bao giờ thấy chúng ta cầu nguyện sốt sắng ở nhà thờ, vì họ
có đạo đâu mà đến nhà thờ, nhưng họ thấy cách chúng ta
biểu lộ tình thương với họ hay với những người chung
quanh mà họ nhận ra Thiên Chúa của tình yêu. Nếu chúng
ta sống thực sự yêu thương thì không ai có thể đánh giá sai
lầm về đạo Chúa, khi chúng ta chứng minh tình yêu bằng
đời sống tốt thì chúng ta thực sự trở nên những người bạn
tốt của nhau. Chúng ta hãy suy nghĩ : chúng ta đã làm gì,
đang làm gì để đóng góp phần mình vào công cuộc truyền
giáo của Giáo hội, đăc biệt trong việc cầu nguyện và đời
sống chứng nhân của chúng ta.


                                   Lm. Giacôbê Phạm V n Phượng, OP



                  CHÚA NH T 14 TN C
                       Lc 10, 1-12,17-20

                                                     Gp. Vĩnh Long
“Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4, 8). Kitô giáo là ngôn ngữ
của tình yêu mà Thiên Chúa đã nói qua người Con của
Ngài, Chúa Giêsu Kitô. Chúa Giêsu là sứ giả của Thiên
Chúa Cha, là Người Con Yêu Dấu, trong Chúa Giêsu, Đức
Chúa Cha đặt trọn vẹn tất cả tình yêu thương của mình.
Chúa Giêsu đến trần thế để mang tình yêu đó cho nhân loại
(Ga 3, 16). Vì tình yêu luôn luôn đòi hỏi phải chia sẻ và ban

                                                               90
phát, cũng như chính Chúa Giêsu đã tự ý hy sinh bản thân
mình cho nhân loại, và mọi tạo vật đều được mời gọi tham
gia chia sẻ vào sự sống và tình yêu của Thiên Chúa. Do đó,
Chúa Giêsu không ước mốn sự gì khác ngoài việc nhìn thấy
tình yêu Thiên Chúa càng ngày càng lan rộng khắp mặt đất,
giống như ngọn lửa cháy lan toả ra khắp nơi “Ta đến để
ném lửa vào mặt đất, và ước mong lửa ấy đã bùng lên” (Lc
12, 49)

Để ngọn lửa tình yêu của Thiên Chúa bùng cháy lên trong
tim mọi người, Chúa Giêsu chọn 72 môn đệ và sai họ đi vào
thế giới để rao giảng Tin mừng về Nước Thiên Chúa với lời
nhắc nhở: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Vậy anh em
hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. Nầy Thầy sai anh
em đi như chiên con vào giữa bầy sói” (Lc 10, 2-3). Các
môn đệ đã được kêu gọi để chứng tỏ tình yêu trong mọi
khía cạnh của đời sống chứng nhân của mình. Họ ra đi
từng hai người một là dấu chỉ sự hiệp nhất của các môn đệ
Chúa Kitô. Họ phải mời gọi và cầu xin Thiên Chúa ban thêm
các tông đồ của tình yêu trên cánh đồng truyền giáo. Họ
phải cố gắng bắt chước sự hiền hoà của con chiên để tha
thứ và chấp nhận sự bạc đãi của sói rừng, ngay cả sự chết
như thánh Gioan đã dạy: “Căn cứ vào điều này, đó là Đức
Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy cả chúng ta nữa,
chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em” (1Ga 3, 16). Giống
như những môn đệ của Chúa Giêsu, sứ mệnh truyền giáo
của chúng ta không phải là dùng sức mạnh của bạo lực để
bẻ gẫy những con tim, nhưng chinh phục những con tim
bằng cách làm chúng phải tự chảy mềm ra, mềm lại dưới
ảnh hưởng của tình yêu Thiên Chúa (GLCG 2104-2109).



                                                        91
Khi sai 72 môn đệ ra đi, Chúa Giêsu cũng cảnh giác họ
rằng: “Ta sai các các con như con chiên ở giữa sói rừng”
(Lc 10, 3). Sói rừng biểu tượng cho những quyền lực chống
lại Tin mừng, những sự bắt bớ cấm cách, những thử thách,
và những đối xử bất công. Thiên Chúa là Tình yêu, nhưng
Ngài cũng rất công bằng chính trực. Quả vậy, Chúa Giêsu
đã dặn các môn đệ: “Các con đừng mang theo túi tiền, bao
bị, giày dép” (Lc 10, 4). Nhiều người nghĩ rằng Ngài muốn
đề cao sự nghèo khó của các nhà truyền giáo. Hiểu như thế
cũng có ý nghĩa, nhưng đây không phải là ý của Ngài. Ngài
dặn họ đừng mang theo vì chính những người đón tiếp các
môn đệ có bổn phận phải cung cấp cho các ngài những thứ
cần thiết này. Nói một cách khác, Chúa kêu gọi giáo dân
phải rộng lượng và quảng đại đối với những người làm
công cho Vương Quốc Thiên Chúa. Tư tưởng của Chúa
Giêsu đã được giải thích rất rõ ràng trong câu 7: “Vì người
thợ đáng được trả công” (Lc 10,7).

Nhân dịp suy gẫm bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta cũng
phải xét lại lương tâm của chúng ta trong việc đóng góp cho
sứ mệnh truyền giáo và xây dựng Vương Quốc Thiên Chúa
(1 Cr 9, 16). Tư tưởng gia Jean Jacques Rousseau đã kể lại
lời khuyên nhủ rất khôn ngoan cho chúng ta như sau: “Khi
chết, mỗi người sẽ chỉ mang theo được trong lòng hai bàn
tay nắm chặt cái mà người ấy đã cho đi” (1Tm 6, 7-9).

Trong Sứ Điệp Khánh Nhật Truyền Giáo 2003, ĐGH Gioan
Phaolô II, số 4 có nói: “Qua phép Rửa Tội, tất cả các tín
hữu được mời gọi nên thánh”. Trong Hiến Chế Tín Lý
Lumen Gentium, Công Đồng Vaticanô II nhấn mạnh rằng
ơn gọi nên thánh phổ quát bao gồm trong lời mời gọi mọi
người tiến đến sự trọn hảo của lòng bác ái. Sự nên thánh
                                                      92
và sứ mạng truyền giáo là những khía cạnh bât khả phân ly
của ơn gọi dành cho mọi người đã chịu phép rửa. Cam kết
trở nên thánh thiện hơn đuợc liên kết chặt chẽ với sứ mạng
truyền bá thông điệp cứu độ. Trong Thông Điệp
Redemptoris Missio, đoạn 90, tôi đã nhắc lại rằng; “Mọi tín
hữu được mời gọi đến với sự thánh thiện và sứ mạng
truyền giáo”.

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con quảng đại đáp trả làm
chứng nhân cho Chúa. Xin cho có nhiều tâm hồn quảng đại
đáp lời mời gọi bước theo Chúa. Amen.



                   ÌNH AN ĐÍCH THỰC
                      Lc 10, 1-12. 17-20

                                                Gp. Vĩnh Long
Luca là thánh sử duy nhất kể lại cho ta về sứ mạng của 72
môn đệ. Những môn đệ này được sai đi từng hai người
một, vì lời chứng của hai người là lời chứng thật. Chắc khi
đi rao giảng các môn đệ cũng sẽ gặp nhiều trắc trở, nhưng
sự vất vả không chuẩn miễn cho các ông khỏi những khó
khăn và nguy hiểm. Các ông như chiên lành tay không
trước mặt sói rừng. Dẫu vậy những người được Chúa sai đi
và làm công việc do Chúa chỉ định, phải tuyệt đối tin tưởng
vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Không mang theo tiền,
lương thực hay đồ dùng cá nhân kềng càng, họ phải tiến
thẳng đến mục đích chứ đừng dừng lại dọc đường mà
chuyện vãn bàn tính mất thời giờ với những người qua
đường. Nói khác đi, họ chỉ có một điều quan tâm là rao
giảng Lời Chúa cho mọi người, một thành, một làng, một
nhà mà họ được sai đến và làm việc tại đó.
                                                         93
Công việc trước hết phải làm khi vừa bước chân tới là chúc
bình an cho người ta, vì bình an vốn là dấu chỉ và bằng
chứng của ơn cứu độ, của việc Chúa đến nếu xứng đáng
họ sẽ được lãnh nhận. Sự bình an nói đây là sự bình an
của ơn cứu độ, kết quả sự can thiệp đặc biệt của Chúa, nên
cũng gọi là sự bình an của Nước Thiên Chúa. Bởi thế, đây
chính là điều phụng vụ muốn dùng tới khi chọn đọc bài phúc
âm này, vừa nói đến Đức Kitô đã đem đến sự bình an, một
thứ bình mà thế giới không thể ban được, vừa nói lên sứ
mạng của Hội Thánh là tiếp tục đem đến cho nhân loại sự
bình an của Chúa.

Ngoài ra Đức Giêsu cũng khuyên các ông hãy đón nhận
cách đơn sơ, giản di nơi ở cũng như lương thực mà người
ta cung cấp nơi mình, không phải lo đến việc trả các phí tổn
bằng tiền, mà chỉ lo trả bằng công tác của mình thôi. Ngoài
ra cũng phải tránh những vấn đề làm cho người ta khó chịu
như về lương thực hoặc tiện nghi. Nhưng phải biết bắt
chước Chúa sẵn sàng chữa lành những bệnh nhân tật
nguyền cho người ta một cách miễn phí. Vì đây cũng là dấu
chỉ của thời thiên sai như Isaia đã loan báo.Và sau cùng
nếu bị người ta sua đuổi thì cũng phải loan báo Nước Trời
đã đến gần, và nói thẳng cho họ biết rằng họ phải hoàn toàn
chịu trách nhiệm về sự từ chối đó. Cũng nến để tất cả
những gì thuộc về họ, cho dù là bụi đết dính chân cũng để
lại để cảnh cáo họ.

Chỉ sau một thời gian ngắn, công việc rao giảng của các
môn đệ hiển nhiên được thành công một cách đáng kể, và
các ông đã hân hoan trở về bên Chúa Giêsu. Họ vui mừng
hãnh diện vì làm tốt công việc được trao phó: rao giảng tin
mừng, chữa bệnh tật. Tuy nhiên điều vượt quá sự mong
                                                        94
mỏi của các ông là đã sua đuổi được ma qủy . Vì thế, các
ông rất lấy làm hạnh phúc về việc đó cách rõ rệt nhưng
cũng khá ngây ngô.

Chúa Giêsu muốn làm cho họ phải chưng hửng, Ngài chỉ
muốn so sánh “chiến thắng” của họ với ánh chớp lóe lên từ
trời xuống đất. Ngài cũng nói thêm về quyền năng mà Ngài
đã ban cho họ trên Satan và các thứ thù địch sẽ được biểu
lộ qua việc dẫn trên rắn rết mà chẳng hề hấn gì. Tuy nhiên
Đức Giêsu muốn đưa họ đến một quan điểm đúng đắn là
hạnh phúc đích thực không phải ở chỗ thắng ma qủy hay ở
chỗ làm lụng vất vả rồi thành công, mà hệ tại ở chỗ chắc
chắn mình được cứu rỗi: “hãy vui mừng vì tên các người đã
được ghi trên trời”. Quả thực đây mới chính là điều đem lại
cho chúng ta sự bình an thực sự và vững bền không ai lấy
mất được.

Sự bình an chân thật , sự bình an trong tâm hồn là của
riêng những con người sống trong tình yêu của Chúa, sống
trong tương giao mật thiết với Chúa và hoàn toàn vâng
phục Ngài. Tội lỗi đã làm con người mất đi sự bình an đó, vì
nó làm cho con người trở nên thù nghịch cùng Thiên Chúa.
Chỉ có Thiên Chúa mới trả cho chúng ta sự bình an đã mất,
vì chỉ mình Ngài có quyền tha thứ tội lỗi cho chúng ta. Vì thế
muốn lấy lại được sự bình an phải đến với Đức Kitô, tuyệt
đối tin tưởng vào Đức Kitô, tham dự vào mầu nhiệm thập
giá của Ngài. Ngoài ra không có con đường cứu độ nào
khác.

Nhờ Bí Tích Thánh Thể được cử hành, một bí tích mà Đức
Giêsu đã thiết lập làm giao ước muôn đời cho hội thánh,

                                                           95
chúng ta được phúc hiện tại hóa mầu nhiệm thập giá, tham
dự vào hy tế đền tội với tất cả tham dự phong phú của nó.
Chúng ta hãy tham dự vào cách ý thức tích cực và tron vẹn
để chúng ta được bình an trong Đức Kitô, và chúng ta
không quên cảm ta lòng thương xót bao la của Ngài.

Lạy Chúa, xin cho con nhận ra chỉ khi nào con ở trong và ở
bên Đức Giêsu con mới tìm được sự bình an đích, và cũng
cho con luôn nhận ra sứ mạng của mỗi người Kitô hữu là
đem bình an Tin Mừng đến cho người khác. Amen



           CHÚA NH T XIV THƯỜNG NIÊN
                       Lc 10,1-2.17-20

                                                Gp. Vĩnh Long
Anh chị em thân mến.
Trong thời buổi kinh tế thị trường, tất cả mọi mặt hàng đều
phải có chất lượng, nếu muốn được đứng vững. Chúng ta
nhìn thấy có rất nhiều nhóm người, họ mặc đồng phục, trên
nón và trên áo có ghi tên sản phẩm mà họ mang đi. Đó là
những chuyên viên tiếp thị.

Họ đi giới thiệu sản phẩm. Không biết sản phẩm họ giới
thiệu như thế nào, mọi người đều chưa biết. Nhưng trước
tiên, những con người này phải có một phong cách cho
xứng đáng, thì sản phẩm của họ mới được nhiều người biết
đến. Thế mà cũng có những người lừa đão. Họ cũng giới
thiệu sản phẩm và có trúng thưởng. Rất nhiều người bị sụp
vào bẩy, họ phải trả một số tiền, để nhận món hàng cùng
với quà trúng thưởng mà cay đắng. Những chuyên viên tiếp
                                                         96
thị như thế, chắc không ai muốn nhìn thấy họ thêm lần nào
nữa.

Chúa Giêsu nhìn thấy những khách hàng của Ngài đang
thiếu thốn, đang khao khát. Ngài sai các chuyên viên tiếp thị
của Ngài đến với họ. Các chuyên viên này không giới thiệu
mặt hàng để mang mối lợi về kinh tế. Nhưng giới thiệu
Nước Trời. Những người được sai đi cũng phải có phong
cách của Nước Trời. Họ đến đem sự Bình an cho những
khách hàng của họ, đồng thời còn chữa lành những chứng
bệnh, những đau khổ của con người. Muốn được như thế
trước tiên họ phải co, thì mới có thể cho được. Họ không
được mang gì hết, không được tìm những phương thế để
bảo vệ cho thân xác. Nhưng mang hành trang của nước
trời, đó là sự bình an.

Họ đã thành công, đã tìm được thị trường cho Nước Trời.
Họ vui mừng báo tin cho chủ mình. Niềm vui của họ còn
được đong đầy thêm vì đã được chắm công để trọng
thưởng, không phải như niềm vui chóng qua, nhưng là phần
thưởng đời đời cho những người xứng đáng.

" Lúa chính đấy đồng mà thợ gặt thì ít."
Mỗi ngày lời mời gọi càng cấp thiết hơn. Mỗi ngày nhu cầu
con người càng cần thiết hơn, càng chờ đợi, càng khao
khát nhiều hơn.
Thị trường hôm nay rất cần những chuyên viên tiếp thị cho
nước trời. Chúa Giêsu cũng nói với những con người của
thời đại mới, những người trong chúng ta:" Lúa chính đầy
đồng mà thợ gặt thì ít." Ngài cũng sai chúng ta làm những
chuyên viên tiếp thị cho Nước Trời. Chúng ta cũng đã gia
                                                          97
nhập, đã lãnh sứ mạng. Mỗi người cũng đã ra đi, đã rao
giảng. Có người trở về báo cáo được vui mừng vì kết quả
tốt đẹp, nhưng cũng có người không dám nói gì hết, vì đã
hoàn toàn thất bại.

Giờ này đây, mỗi người ngồi trước mặt Chúa và báo cáo
thành tích của mình đi. Trải qua bao nhiêu năm tháng của
đời người, đó là những năm tháng mà Thiên Chúa mời gọi
đi rao giảng, đi tiếp thị, giới thiệu Nước Trời cho người
khác. Mỗi người một hoàn cảnh, một môi trường khác nhau.
Rao giảng tiếp thị không chỉ bằng lời nói suông, nhưng còn
bằng cả con người, cả cuộc sống. Cứ nhìn lại xem, những
người chung quanh, khi nhìn vào đời sống của chúng ta và
họ nhận ra được gì? Họ nhận ra được một Chúa Kitô đang
sống, đang hoạt động, đang mời gọi họ, đang phục vu,
đang yêu thương tất cả mọi người. Hay họ nhận ra một con
người trần thế, với những tiền bạc, với những tham lam,
những nóng nãy giận hờn, với những ích kỷ nhỏ nhen, với
những mánh khóe mưu mô mà họ không dám đến gần
được nếu không muốn bị hại.

Nhìn lại quãng đời đã qua như thế, chúng ta sẽ thấy được
báo cáo của mình mang lại niềm vui hay nỗi buồn. Nếu là
vui mừng, chúng ta cũng được vui mừng thêm vì tên chúng
ta đã được ghi trên trời. Còn nếu chưa hòan thành được
trách nhiệm của một chuyên viên tiếp thị cho Nước Trời, thì
giờ đây cũng vẫn còn thời gian để chúng ta làm lại, sữa đỗi
lại cách giới thiệu, qua việc sữa đỗi cách sống, cho xứng
đáng, thích hợp hơn. Có như thế, chúng ta sẽ đạt được
niềm vui nước trời.


                                                        98
Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho chúng ta biết lắng
nghe mệnh lệnh của Chúa, để hoàn thành trách nhiệm thật
tốt trong hoàn cảnh sống và đạt được niềm vui Nước Trời.



        THI HÀNH SỨ MẠNG CỦA ĐỨC KITÔ
                         Lc 10, 1-9

                                                Gp. Vĩnh Long
Anh chị em thân mến! Sau một thời gian được ở với Thầy
nay các môn đệ được Chúa Giêsu sai đi làm công tác tông
đồ, loan báo Tin mừng Nước Thiên Chúa cho muôn dân mà
ưu tiên là dân Israel. Hôm nay thánh Luca ghi lại khung
cảnh “xuất quân” của đoàn môn đệ Chúa Giêsu. Qua đoạn
Tin mừng Lc 10, 1-9 ta được đọc hôm nay ta học được tính
chất của sứ điệp cũng như nội dung của sứ điệp mà Chúa
Giêsu muốn các môn đệ mình loan báo. Chúa Giêsu sai các
môn đệ và Ngài cũng sai mỗi người chúng ta cộng tác để
cho Nước Chúa được lan rộng. Ta hãy suy niệm để biết
phải thực hiện như thế nào và cần loan báo những gì cho
triều đại Nước Thiên Chúa.

Trước hết người môn đệ rao giảng tin mừng phải là người
được Chúa Giêsu sai đi, đi từ hai người một và vào các
thành mà chính Chúa Giêsu sẽ đến. Nhiệm vụ của các môn
đệ này là như những nhà tiền trạm, dọn đường để Chúa
Giêsu thực hiện sứ mạng. Nhưng phải đi hai người một và
không mang bao bị, túi tiền, giày dép… cho thấy nhiệm vụ
này là một nhiệm vụ khẩn thiết phải biết bỏ đi những gì thứ
yếu để chọn cái chính yếu là loa n báo Đấng Cứu Thế. Phải
đi hai người một vì là người minh chứng nên chứng này
phải thật mà thật thì phải có hai người trở lên như quy ước
                                                         99
thời ấy. Vả lại việc loan báo tin mừng không phải là việc của
cá nhân riêng lẻ mà là việc của cộng đoàn và cũng không
phải là độc quyền của riêng ai nhưng phải liên kết với nhiều
người khác. Ý thức mình là người được sai đi chứ không
phải là chủ nên người môn đệ phải xin chủ ruộng chính là
Thiên Chúa cho mình được làm thợ gặt trong cánh đồng
của Chúa tức là làm người loan báo tin mừng. Chúa Giêsu
còn dạy tỉ mỉ các môn đệ về các vấn đề cơ bản của công
tác truyền giáo như “Đừng mang theo bao bị, túi tiền, giầy
dép… đừng đi nhà này sang nhà kia…”. Như đã nói sứ điệp
nước Thiên Chúa là chính yếu phải làm sao cho sứ điệp ấy
được loan báo. Nhưng sứ điệp đó là gì? Sứ điệp đó là Bình
An, là Triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Nều liên kế với
những câu trước ta thấy ChúaGiêsu chính là Bình An, là
Triều đại Nước Thiên Chúa đang đến các môn đệ đang mở
đường để Chúa Giêsu đến được với mọi người. Chúa
Giêsu đang đến với con người, Ngài là Vua Bình An, là
Đấng Cứu Độ, ai đón nhận Ngài thì được hưởng sự bình
an, được hưởng ơn cứu độ, con ai từ chối Ngài thì đã tự
tách mình ra khỏi sự sống ắt hẳn đi đến diệt vong.

Bài Tin mừng hôm nay cho ta thấy sứ mạng loan báo Tin
mừng là công việc của chính Thiên Chúa nên muốn là thợ
gặt phải cầu xin chủ ruộng để được là thợ gặt. Người loan
báo tin mừng phải là người được sai đi nên ta hãy ý thức
việc loan báo tin mừng không phải là phát kiến từ cá nhân
nhưng là từ Thiên Chúa. Mỗi người chúng ta được mời gọi
trở nên thợ gặt của Chúa. Y thức đây là việc của Chúa nên
ta hãy biết phó thác trông cậy vào Chúa, và để khi thành
công ta không tự hào tự mãn cũng như khi thất bại ta không
chán chường buông xuôi. Tất cả là do thánh ý Thiên Chúa,
chúng ta là người được Thiên Chúa mời gọi cộng tác.
                                                         100
Được mời gọi theo Đức Kitô, làm công việc của Đức Kitô ta
hãy nghe lời Ngài mà trang bị hành trang lên đường thật
nhẹ nhàng khiêm tốn. Hãy tín thác vào sự quan phòng của
Thiên Chúa. Khi Chúa sai chúng ta đi chắc chắn Chúa đã
chuẩn bị cho chúng ta mọi thứ để chúng ta có thể chu toàn
sứ mạng quan trọng là chúng ta có biết phó thác hay không.
Ngày nay là thời của tiến bộ khoa học, nhưng đòi hỏi của
tiền tài vật chất lôi kéo chúng ta và đôi khi làm ta mờ tối đến
độ coi đó như là những nhu cầu chính yếu để ta có thể loan
báo Tin mừng hiệu quả. Hãy nhớ rằng ta đang loan báo sự
gì, loan báo tin mừng của Chúa hay chính bản thân chúng
ta. Cái gì là chính yếu Lời Chúa hay tiền tài vật chất.

Người môn đệ của Chúa Giêsu cũng đòi hỏi phải là con
người của bình an. Bởi Chúa Giêsu chính là bình an đích
thực. Loan báo Chúa Giêsu là loan báo sự bình an, mà có
loan báo sự bình an được đòi hỏi người môn đệ phải là
người có sự bình an trước tiên. Bình an không chỉ là thư
thái, thoải mái mà là Nước Thiên Chúa đang đến, là ơn cứu
độ đang đến.

Ước gì ta biết sống khiêm tốn, giản dị để biết phó thác mọi
sự cho Chúa.
Ước gì tha nhân nhận được nơi chúng ta sự bình an đích
thực khi ta biết sống gắn bó với Chúa.
Ước gì mỗi người Kitô hữu chúng ta thực hiện được căn
tính của mình là đem Tin mừng cho những người xung
quanh
                                                   Gp. Vĩnh Long




                                                           101
                    SỨ GIẢ HOÀ ÌNH
                        Lc 10,1-2.17-20

                                                   Gp. Vĩnh Long
Giả như có một gia đình hay một cộng đoàn vì lý do nào đó
phải sống trong tình trạng bất hoà. Các thành viên chống
đối và tìm nhiều cách để hại nhau. Lúc ấy chắc chắn những
người trong cuộc không còn sáng suốt nữa. Từ đó họ trở
nên những người gây mất bình an cho nhau. Bởi lẽ, họ
đang có xung đột nội tâm. Trường hợp như thế rất cần một
hay nhiều người ngoài cuộc đến giúp kiến tạo hoà bình.

Con người dường như sống trong bất cứ thời đại nào cũng
đều có khuynh hướng gây bất hoà cho nhau. Ngay từ
những trang đầu của Bộ Kinh Thánh đã cho thấy ông Ađam
đã hớn hở reo lên khi Thiên Chúa dẫn đến cho ông bà Eva:
“Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!” (St
2, 23). Tuy nhiên, sau khi phạm tội thì ông lại trở mặt với
bà. Chúa hiện đến hỏi, ông đã vội vàng đổ lỗi cho bà cách
không thương tiếc: “Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã
cho con trái cây ấy, nên con ăn” (St 3, 12). Con người trở
nên bất hoà nhau kể từ đấy. Vì ghen tỵ mà Cain đã không
ngần ngại giết chính em ruột của mình là Abel (St 4, 1-16).

Các Tông đồ theo Chúa Giêsu cũng không tránh khỏi
khuynh hướng ấy. Các ông đã tranh giành địa vị lẫn nhau
(Mc 10,35 - 40). Càng sống trong tình trạng như vậy chúng
ta sẽ càng trở thành những người mất bình an. Hiểu được
tình trạng đó nên Thiên Chúa đã dùng mọi cách đem lại
bình an cho con người chúng ta. Chính Chúa Giêsu là hiện
thân, là sứ giả hoà bình hoàn hảo của Thiên Chúa. Ngày
Chúa Giêsu sinh ra các sứ thần đã tung hô: “Vinh danh
                                                           102
Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa
thương” (Lc 2, 14).

Chúa Giêsu cũng muốn cho có nhiều người chia sẻ sứ
mạng ấy với Người. Vì thế, hôm nay Người chỉ định thêm
72 môn đệ nữa. Con số 72 là con số hoàn hảo theo quan
niệm của người Do thái. Nghĩa là Người muốn cho mọi
người được hưởng sự bình an. Đồng thời, Người cũng
muốn cho mọi người biết đem đến sự bình an cho nhau.

Người ta thường nói: “An cư thì mới lập nghiệp” hay “Người
ta không thể cho cái gì họ không có”. Do đó, làm sao chúng
ta có thể là sứ giả hoà bình khi trong chính tâm hồn của
mình còn sự xung đột. Để tránh sự xung đột ấy Chúa Giêsu
chỉ cho các môn đệ cũng như cho chúng ta: “Đừng mang
theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc
đường.Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: Bình an cho
nhà này” và “Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống
thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được
trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia”. Điều quan trọng
là hãy loan báo “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần”.

Chúng ta đang sống trong thế giới mà phần đông người ta
chỉ biết đổ xô nhau tìm kiếm những tiện nghi vật chất đời
này. Họ tưởng rằng tiện nghi vật chất đời này sẽ đem lại
bình an. Nhưng thật ra tiền bạc vật chất chỉ là phương tiện
cho cuộc sống. Nếu chúng ta xem nó như cứu cánh đời
mình thì nó chỉ đem lại sự bình an giả tạo. Bởi vì để có
nhiều tiền của, người ta có thể bất chấp tất cả. Thậm chí
anh chị em ruột cũng sẵn sàng hại nhau.


                                                       103
Chỉ khi nào sống theo Lời Chúa dạy và những chỉ dẫn của
Giáo hội chúng ta mới có được bình an đích thực. Khi đó tự
nhiên những ý muốn và những cách sống ghen tỵ, ganh
ghét, chia rẻ...sẽ tự nhiên biến mất khỏi ta. Và khi ấy chúng
ta đang là sứ giả hoà bình đích thực của Thiên Chúa cho
những anh chị em xung quanh.


             SAI ĐI LOAN ÁO TIN MỪNG
                         Lc 10,1-2.17-20

                                                   Gp. Vĩnh Long
1. Cách đây ít lâu, có một cô giáo, sống xa nhà thờ hàng
chục cây số, đến gặp tôi, cô nói rằng: “Thưa cha, có một số
con em của gia đình Công giáo gần chỗ con ở, đến tuổi học
giáo lý rước lễ, thêm sức rồi mà không có điều kiện đến nhà
thờ để học giáo lý dịp hè nầy. Con có thể tìm cách giúp cho
các em nầy được hay không ?”. Tôi biết cô nầy có khả năng
dạy giáo lý, nên tôi nói với cô rằng, việc đó quá tốt, tôi hoàn
toàn ủng hộ cô.

Có rất nhiều Kitô hữu tuy không sống trong bậc tu trì nhưng
rất tích cực trong việc loan báo Tin Mừng, những người nầy
cách nào đó đã hiểu được lời dạy về việc truyền giáo của
Đức Kitô. Như trong đoạn Tin Mừng được chọn đọc Chúa
Nhật hôm nay, Đức Giêsu không những chọn và sai nhóm
Mười Hai mà còn chọn và sai 72 môn đệ làm việc tông đồ
nữa. Điều này cho thấy Chúa muốn mọi tín hữu đều phải
tham gia vào việc tông đồ. Bởi con số 72 ở đây không
những tượng trưng cho số nhiều mà còn mang tính toàn
thể, số 72 đây là số các dân tộc của loài người mà sách
Sáng thế chương 10 đã đề cập đến.

                                                           104
2. Lời mời gọi truyền giáo của Đức Giêsu vẫn như đang gởi
đến với mỗi chúng ta: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít”.
Thật vậy, sau 2.000 năm Tin Mừng được rao truyền, ta thấy
khắp nơi có bóng thánh giá, đó là điều đáng mừng. Thế
nhưng chúng ta nghĩ gì khi số người tin vào Chúa mới
khoảng 2 tỉ, trong khi đó khoảng hai phần ba nhân loại còn
lại chưa biết Chúa!? Còn tại Việt Nam chúng ta, số người
tin vào Chúa chỉ khoảng mười phần trăm! Có nơi cả huyện
chỉ có một ngôi nhà thờ Công giáo, dĩ nhiên do nhiều
nguyên nhân! Nhưng dầu sao cũng làm cho chúng ta suy
nghĩ cánh đồng lúa mênh mông còn bị bỏ hoang không thợ
chăm sóc, gặt hái. Thế giới này dường như vẫn còn dày
đặc của bóng tối, sự dữ… rất cần ánh sáng của Tin Mừng
soi dọi. Cho nên, không lạ gì Chúa Giêsu đã nói: “Anh em
hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con vào giữa
bầy sói”.

3. Đức Giêsu đã ra đi loan báo Tin Mừng Nước Trời, người
cũng sai các môn đệ phải ra đi. Thánh Phaolô đã từng thốt
lên rằng: Đối với tôi, rao giảng Tin Mừng là một sự cần thiết
bắt buộc tôi phải làm, khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng
Tin Mừng (x.1Cr 9,16)! Công đồng Vaticanô II cũng đã
khẳng định:“Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo”
(Ad Gentes 2). Cuộc sống con người đa dạng, phong phú
thì việc truyền giáo cũng có thể thực hiện bằng nhiều
phương cách, chẳng hạn như:
    - Có thể đó bằng phương cách dấn thân trong ơn gọi
    linh mục, tu sĩ mà trong những tháng hè nầy như là mùa
    thu hoạch ơn gọi qua những lễ khấn dòng, truyền chức
    mà chúng ta tham dự.
    - Có thể đó là cộng tác với các linh mục, tu sĩ. Bởi có
    những họ đạo có đến hàng trăm em học sinh giáo lý,
                                                         105
   nếu không có các giáo lý viên cộng tác, thì làm sao các
   linh mục có thể giúp cho các em học tốt được! Có thể
   cộng tác bằng việc giúp đỡ tài chính cho việc truyền
   giáo nữa.
   - Có thể đó là việc hy sinh của các giáo lý viên đến tận
   gia đình những người muốn học để chia sẻ niềm tin, do
   họ rất xa nhà thờ nhưng không có điều kiện đến để học
   giáo lý.
   - Có thể là chia sẻ, dạy về Chúa cho những người gần
   gũi, con em ngay trong gia đình mình. Bởi không phải
   nơi nào giáo dân muốn tụ họp lại để học giáo lý, đọc
   kinh thì có thể thực hiện được cách dễ dàng. Thật vậy,
   có những nơi muốn phục hồi lại nơi thờ tự bị chiến tranh
   tàn phá thì không đơn giản gì và rất nhiều nơi lẽ ra phải
   có nhà thờ thì không dễ gì thực hiện được! Tôi được biết
   có gia đình ở cách nhà thờ gần nhất là trên 20 cây số.
   Nơi linh mục tới lui không phải thuận lợi, nhưng các
   thành viên trong gia đình nầy vẫn giữ vững đức tin, qua
   hàng chục năm như thế, do đâu ? Thưa do người cha
   của gia đình nầy hằng ngày cùng với con mình đọc kinh
   hôm, kinh mai, kể những câu chuyện về Đức Giêsu cho
   con cháu mình nghe.

4. Một phương thức rao giảng Tin Mừng rất hữu hiệu đó là
dấn thân phục vụ xã hội theo tinh thần công bình, bác ái của
Đức Kitô. Đây là phương cách mà Kitô hữu nào cũng có thể
thực hiện được nơi môi trường mình sống, mình làm việc.
Xã hội xem ra đang phát triển, nhưng nhìn kỹ lại đang tụt
dốc về nhiều phương diện, nhất là về đạo đức, một thực tế
không ai chối cãi được. Cho nên hơn bao giờ hết Tin Mừng
của Chúa cần phải được rao giảng, nhất là bằng đời sống

                                                        106
chứng nhân. Người ta thường nói : “lời nói lung lay, việc
lành lôi kéo”.

Trước những điều xấu trong xã hội, chúng ta thường làm
thinh bỏ qua hay phàn nàn, trách móc. Hãy chọn phương
cách tích cực hơn, như một danh nhân đã nói :“Thà đốt lên
một ngọn nến tuy nhỏ, nhưng hơn là ngồi đó mà nguyền rủa
bóng đêm”. Thật vậy, trước cảnh gian lận trong cuộc sống,
một đời sống ngay lành của người Kitô hữu quả là một
ngọn nến. Trước cuộc sống buông thả của các thanh niên
nam nữ, một đời sống trong sạch của các Kitô hữu không là
một ngọn nến sao? Trước lời thô lỗ, tục tằn của các bạn trẻ,
một lời nói thanh tao của ta quả là một ngọn nến… Như các
ngọn hải đăng không ồn ào mà chúng chỉ lặng lẽ chiếu
sáng, nhưng ánh sáng của nó thật hữu ích. Đời sống tốt
đẹp của người Kitô hữu cũng thế.

5. Như người thợ làm việc tích cực, đúng cách, bao giờ
cũng mang lại hiệu quả tốt đẹp; cũng vậy, chắc chắn những
hy sinh, cố gắng của chúng ta trong việc truyền giáo theo ý
Chúa cũng sẽ mang lại hiệu quả. Điều nầy làm chúng ta vui
mừng, nhưng đáng vui mừng hơn đó là tên của chúng ta
được ghi trên trời (x. Lc 10,20), hay nói cách khác, phần
thưởng cách xứng hợp mà Thiên Chúa sẽ tặng ban cho
những ai tích cực làm tông đồ Ngài.
                                                Gp. Vĩnh Long




                                                        107
                          SAI ĐI
                       Lc 10,1-2.17-20
                                               Gp. Vĩnh Long
“Không có vị tiên tri nào được chấp nhận nơi quê hương
mình..” (Lc 3, 24)
Bài TM hôm nay kể lại việc Chúa Giêsu sai các môn đệ ra đi
loan báo TM về Nước Thiên Chúa. Trước khi sai đi, Chúa
ân cần dạy dổ họ nhiều điều… Và rồi, họ đã ra đi và trở về
trong hân hoan, tường thuật lại kết quả họ làm được…Câu
chuyện về việc ra đi truyền giáo của Đức Cha Lambert de la
Motte, GM tông tòa đầu tiên của địa phận Đàng Trong VN
(từ sông Gianh trở vào Nam), là điển hình của câu chuyện
TM Chúa sai các môn đệ ra đi hôm nay….Kính mời anh chị
em cùng suy niệm.

a. Có mấy điểm chúng ta sẽ theo dỏi tìm hiểu hôm nay:
* Phúc âm ghi (Lc c.1-3): Chúa sai 72 môn đệ khác, ngoài
nhóm 12: “ Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít…Thầy sai
anh em đi như chiên giữa bầy sói.” Chúa Giêsu đã có chủ ý
chọn các môn đệ, dạy dổ họ rồi sai họ đi. Đây không phải là
việc tình cờ… Năm 1659, Tòa thánh đặt Cha Lambert de la
Motte làm GM tông tòa đầu tiên địa phận Đàng Trong.
Trước đó đã có các nhà truyền giáo đến xứ này, nhưng
chưa chính thức. Xưa Chúa sai các môn đệ ra đi như chiên
giữa bầy sói, nay Tòa thánh cũng sai Đức Cha Lambert và
các Lm đến VN đầy gian nan thử thách. Dự định đi tàu, tàu
vỡ; đành phải đi bộ. Bệnh hoạn giữa đường tưởng mạng
vong. Ngài đến đất Thái Lan vẫn chưa yên, còn bị người Bồ
Đào Nha đòi bắt và trục xuất (vì lúc đó Tòa thánh muốn
thoát khỏi quyền bảo hộ của nhà vua Bồ). Ngài còn bị viên


                                                       108
quan trấn thủ Nha Ru đầu độc, vì ông này theo người Bồ,
suýt chết, phải hơn tháng mới khỏi bệnh…

* Lc c.4: Chúa nói: các con đừng mang túi tiền, bao bị, dày
dép: Chúa dạy hãy tin cậy vào Chúa, đừng tin và cũng đừng
lo cho bản thân… Những năm đầu tiên trên đất truyền giáo,
Đức Cha Lambert và các vị thừa sai đã thảo luận và soạn
“huấn thị cho người tông đồ”. Ngài sẽ gởi về tòa thánh xin
phép cho họ thực hành bộ luật này. Ngày nay khi đọc lại bộ
luật đó, người ta sẽ rất ngạc nhiên vì tính nghiêm túc và
khắc khổ của nó. Ngoài việc tuân giữ bình thường của giới
tu sĩ, các ngài còn tự nguyện hãm mình phạt xác để cho kết
quả truyền giáo lên cao như: cấm ăn thịt và uống rượu – ăn
chay cả tuần trừ chúa nhật và lễ nghỉ– ngủ nghỉ đơn giản –
nguyện ngắm lâu giờ trong ngày. Cuối cùng Tòa thánh
không chấp nhận những luật lệ gắt gao này như: ăn chay
trường kỳ và cấm tuyệt đối không ăn thịt… Dù vậy khi biết ý
của Tòa thánh, Đức Cha là người vâng lời Tòa thánh trước
tiên và sốt sắng nữa.

* Lc c.5.9: Chúa nói: khi vào nhà nào, hãy chúc lành cho
họ…hãy chữa những ai đau yếu và nói với mọi người:
Nước Thiên Chúa đã đến gần… điều bận tâm cả đời của
Đức Cha Lambert, dù ngài là một ông tây, một Giám mục, là
xem coi giáo đoàn ngài có trách nhiệm phát triển đến đâu.
Đi đến đâu, ngài đều được mọi người yêu mến, yêu mến vì
lòng đạo đức, đơn sơ và khiêm tốn của ngài. Ngài ăn uống
đạm bạc, ăn ít, không bao giờ uống rượu. Dù rất ghét ăn
thịt, nhưng khi biết ý chỉ của Tòa thánh và hội Thừa sai
Paris , ngài vâng lời cho dọn thịt lên bàn ăn ngay. Lòng bác
ái của ngài dành cho người nghèo, bệnh tật không biên
giới. Cứ ba tuần, ngài cử người đi thăm các tù nhân, giúp
                                                         109
đở tiền bạc rộng rải cho họ. Vì quá lo lắng cho công cuộc
truyền giáo, ngài rất bận tâm đào tạo hàng giáo sĩ, thày
giàng, thành lập dòng MTG thuộc quyền địa phận. Cuộc đời
truyền giáo của ngài xem ra cũng được Chúa thưởng công
bằng một số việc lạ như: chữa cho hoàng đệ của vua Xiêm
khỏi liệt một phần– trừ quỷ cho một cô gái – cứu sống một
hài nhi coi như đã chết – và sau khi chết còn chữa cho một
anh thanh niên mù 8 năm được sáng mắt…

b. Gợi ý sống và chia sẻ: Chúa Giêsu đã nói với các mộn đệ
được sai đi: đừng vui mừng vì ma quỉ bị khuất phục, nhưng
hãy vui mừng vì tên của anh em được ghi trên trời. Đức
Cha Lambert chắc chắn đã vui mừng như lời Chúa Giêsu
nói. Còn phần chúng ta, vui mừng cách nào đây?

                                              Gp. Vĩnh Long




                                                      110

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Tags:
Stats:
views:5
posted:10/19/2012
language:Unknown
pages:110