Gemological Institute of America

Document Sample
Gemological Institute of America Powered By Docstoc
					KIM CƯƠNG


      Trong các loại ngọc quý kim cương được xem như đứng hàng đầu. Người tiêu dùng cũng đã
quen thuộc với cụm từ ”Kim cương là vĩnh cữu” và nhẫn cưới bằng kim cương cũng được xem như
là một cách thể hiện tình yêu vĩnh cữu với thời gian, vì thế nên không có một loại ngọc quý nào có thể
sánh được với kim cương.




      CẤU TRÚC



                                         Kim cương được cấu tạo bằng một loại nguyên tử Carbon
                                   (C) duy nhất, sắp thật khít nhau trong một khối lập phương gọi là ô
                                   cơ bản có thể tích nhỏ nhất. Do thế mật độ của các nguyên tử
                                   tương đối cao ứng với tỷ trọng SG=3.52, cùng lúc độ cứng cũng
                                   cao (độ cứng Mohs = 10) cứng nhất, đứng đầu trong các ngọc quý
                                   tự nhiên lẫn nhân tạo.




                                        Trong tự nhiên, nguồn Carbon để hình thành kim cương chủ
                                  yếu nằm trong thực vật và carbonate. Khi bị vùi lấp, trong quá trình
địa chất, chúng biến thành than bùn, than đá, than chì . . . Khi môi trường hội đủ điều kiện về nhiệt độ
và áp suất, các nguyên tử carbon được nén khít với nhau tạo thành kim cương trong hệ tinh thể lập
phương.

      Trong ô cơ bản của hệ này, các nguyên tử C chiếm vị trí các đỉnh, tâm các mặt vuông và trong
ruột có chứa thêm 4 nguyên tử C. Cách kết tinh theo hệ lập phương cho được môi trường đẵng
hướng, vận tốc ánh sáng truyền trong tinh thể cố định theo mọi phương ứng với chiết suất RI=2.417
không đổi.

      Trong kim cương thường gặp chiết suất đơn này không hoàn toàn cố định, một số nơi nào đó
trong môi trường tinh thể người ta thường gặp có hiện tượng lưỡng chiết suất bất thường mà quan
sát qua 2 nicol vuông góc hiện tượng tắt hẳn của môi trường đẳng hướng đã chuyển sang ít nhiều dị
hướng ở những nơi mà không thấy tắt hoàn toàn (strong strain).

                               DẠNG TINH THỂ

                               Dạng tinh thể thường gặp ngoài tự nhiên thường có hình bát diện đều
                         với 8 mặt lồi hình tam giác hay khối lập phương hoặc dạng khác thuộc tam
                         bát diện có 24 mặt tam giác, lục bát diện có 48 mặt tam giác, 12 mặt thoi . .
                         .Cát    khai    tốt  theo    hệ   mặt     {111}   của    bát    diện   đều.
     TIÊU CHUẨN 4C (carat, color, clarity, cut)



      Có 4 yếu tố ảnh hưởng đến giá trị của kim cương gọi tắt là tiêu chuẩn 4C đó là trọng lượng
(Carat), màu sắc (Color), độ sạch (Clarity) và tỷ lệ cắt mài (Cut).




     MÀU SẮC (color)



                             Màu sắc của kim cương cũng đa dạng, tùy theo màu sắc người ta chia
                       kim cương thành hai nhóm không màu và có màu. Nhóm không màu gồm
                       những viên kim cương hoàn toàn không mang màu cho đến màu vàng rất
                       nhạt.

                               Ở loại không màu (Cape), màu được phân cấp và được biểu diễn
                          bằng các mẫu tự bắt đầu bằng chữ D (hoàn toàn không màu, thường gọi là
                          nước D) cho đến Z (màu sậm dần, có màu vàng nhạt), giá trị của kim cương
                          cũng giảm theo độ tăng của màu vàng. Dưới tác dụng của tia cực tím UV,
                          thường có nhiều trong ánh nắng ban mai, một số kim cương (loại mà trong
cấu trúc của kim cương có Nitrogen tập trung lại thành nhóm) có hiện tượng phát huỳnh quang màu
lam nhẹ sẽ hòa với màu vàng của viên đá để trở thành trắng hơn và làm cho viên đá có thể nhận
định sai, tăng lên vài “nước”.

Bảng phân cấp màu theo tiêu chuẩn của GIA:
    MÀU         GIA*         CIBJO*
                 D       Cực kỳ trắng +
 KHÔNG MÀU       E        Cực kỳ trắng
                 F         Rất trắng+
                 G          Rất trắng
                 H            Trắng
GẦN KHÔNG MÀU
                 I     Rất trắng hơi có màu
                 J      Trắng hơi có màu
  VÀNG NHẠT      K
                          Trắng có màu
                 L
     đến
                 M          Có màu 1
  NÂU NHẠT
VÀNG RẤT NHẠT    N
                 O
     đến         P          Có màu 2
                 Q
 NÂU RẤT NHẠT    R
  VÀNG SÁNG      S
                            Có màu 3
                 T
                 đến                              U
                                                  V
            NÂU SÁNG                                  W
                                                      X
                                                      Y
                                                      Z
    VÀNG RƯỢU CHAMPAGNE
      VÀNG RƯỢU CONAC
          PHỚT LỤC                                    C+

            PHỚT NÂU
           PHỚT VÀNG
           PHỚT HỒNG                           LIGHT FANCY                       FANCY COLOR
            PHỚT LAM
                VÀNG                              FANCY
                 LỤC                         FANCY INTENSE
                 LAM
                 TÍM
                HỒNG                              VIVID
                 ĐỎ
                              * GIA = Gemological Institute of America.
  * CIBJO = Confederation Internationale de la Bijouterie, Joaillsrie, Ortevrerie, des diamants, perles et
                                          pierres precieuses.




                Nhóm kim cương màu (fancy) có thể gặp các màu khác như lam, vàng, hồng, lục, tím,
đỏ, đen . . .




       ĐỘ SẠCH (clarity).

                Nhóm kim cương màu (fancy) có thể gặp các màu khác như lam, vàng, hồng, lục, tím,
đỏ, đen . . .




       ĐỘ SẠCH (clarity)

     Độ sạch cũng là một trong các tiêu chuẩn phân cấp kim cương. Độ sạch dùng phân cấp viên
đá qua sự hiện diện, số lượng và kích thước của những tạp chất (bên trong) cũng như những khiếm
khuyết bề mặt (bên ngoài). Rất hiếm kim cương không có khuyết điểm nào, nghĩa là không tìm thấy
một tạp chất hay khuyết điểm bề mặt nào cho dù quan sát dưới loupe 10X bởi một người giàu kinh
nghiệm. Nếu các tiêu chuẩn đánh giá khác cũng tốt như vậy, viên đá sẽ đạt giá trị cao nhất.




F (hay FL) Flawless: không tạp chất. Quan sát dưới loupe 10X.

IF (Internally Flawless): không tạp chất bên trong. Quan sát dưới loupe 10X.

VVS1-2(Very very slightly included): tạp chất cực nhỏ, rất khó thấy.

VS1-2 (Very slightly included): tạp chất rất nhỏ, khó thấy.

SI1-2 (Slightly included): tạp chất nhỏ, dễ thấy.

I1 (Included): tạp chất lớn, dễ thấy (bằng loupe 10X và mắt trần).

I2-3(Included): tạp chất lớn, dễ thấy (bằng mắt trần).

      TRỌNG LƯỢNG – (Carat)



      Carat là đơn vị đo trọng lượng. Có 5 carat trong một gam. Trọng lượng của kim cương được
tính bằng carat. Một carat được chia thành 100 points.




                                    1 carat =1.00 carat=100points
                                    1/2 carat= 0.50 carat= 50 points
                                    1/4 carat=0.25 carat= 25 points




      Cùng một trọng lượng, cùng một chất lượng về màu sắc và độ sạch, thí dụ một viên 5ct có giá
đắt hơn một lô 5 viên 1ct cùng chất lượng.
      DẠNG CẮT (cut).



      Kim cương khi mài giác phải bảo đảm độ chiếu sáng và độ tán sắc tối đa, nhờ đó ánh sáng vào
viên đá tách thành đơn sắc khi trở ra đến mắt người quan sát thấy lấp lánh gọi là “lửa”. Ở dạng mài
tròn chiếu (round brilliant cut), bằng phép tính toán đã xác định chính xác công thức mài theo tỷ lệ %
của các phần của viên đá như sơ đồ sau:




                           Typical Diamond Proportion Analysis Chart
      Tỷ lệ cắt mài cũng là một tiêu chuẩn đánh giá giá trị của kim cương. Trong thị trường, kim
cương được bán tính theo trọng lượng của viên đá, thế nhưng một viên nước “D”, không tạp chất, cắt
không chuẩn (quá cạn hay quá sâu) sẽ trông như bị “chết”, không chiếu, không có “lửa” sẽ kém bắt
mắt hơn một viên mài đúng chuẩn cho dù màu thấp hơn, chứa tạp chất nhiều hơn. Mài đúng tỷ lệ tuy
hao tốn đá thô nhiều nhưng thành phẩm có được một viên mài giác chiếu sáng sinh động và giá trị
viên đá đạt đến mức cao nhất.
     Cắt cạn              Cắt sâu          Cắt đúng




       Khi kim cương cắt dạng viên tròn chiếu theo đúng tỷ lệ hoàn hảo ta có một sự liên quan giữa
trọng lượng (ct) và kích cỡ viên đá (đường kính mm) theo bảng tra sau:




                             Bảng Tỷ lệ giửa Kích cở và Trọng lượng




                           Size           Weight: pts           Weight:
                 Weight:
                           (diameter):    (diameter):           fractions
                 0.05ct    1.00mm         5pts                  1/20th
                 0.10ct    3.00mm         10pts                 1/10th
                 0.20ct    3.85mm         20pts                 1/5th
                 0.25ct    4.10mm         25pts                 1/4
                 0.33ct    4.55mm         33pts                 1/3rd
                 0.40ct    4.80mm         40pts
                 0.50ct    5.15mm         50pts                 1/2
                 0.66ct    5.72mm         66pts                 2/3
                 0.75ct    6.00mm         75pts                 3/4
                 0.90ct    6.40mm         90pts
                 1.00ct    6.65mm         100pts                1 carat
                 1.50ct    7.50mm         150pts                1 1/2
                 2.00ct     8.10mm          200pts                 2 carats




      DẠNG CẮT MŨI TÊN VÀ TRÁI TIM



                       Vào thập niên 80 một nhà chế tác người Nhật lần đầu tiên cắt một viên kim
                cương đạt đến độ các giác phản chiếu của viên đá phủ giáp mí nhau tạo thành kính
                vạn hoa khi nhìn qua ống quan sát phản chiếu. Kỷ thuật này nhanh chóng lan truyền
                và phát triển đến các nhà chế tác khắp nơi. Kim cương cắt dạng Trái tim & mũi tên
                (gọi tắt H&A – heart & arrow) du nhập vào Hoa Kỳ vào giữa thập niên 90. Những
                viên kim cương chất lượng tốt cắt dạng Trái tim & Mũi tên đều có giá trị vì tính đồng
                nhất và chất lượng tối ưu với cách cắt mài cực kỳ tinh tế. Đôi khi nó được mệnh
                danh là kiểu cắt siêu lý tưởng (superideals).

                      Khi nhìn qua ống quan sát phản chiếu (một dụng cụ quang học để xem kim
                 cương cắt mài dạng Trái tim & Mũi tên) ta sẽ thấy các mũi tên tỏa tia ra ở mặt bàn
của phần trên (crown) viên đá. Nếu xoay ngược viên đá, từ chóp đáy các trái tim quy tụ về đây.

Các phòng giám định Hoa Kỳ vẫn chưa có chuẩn phân cấp về độ cân đối quang học của loại Trái tim
& Mũi tên này. Kim cương cắt dạng Trái tim & Mũi tên có tính cân đối, nhưng không phải bất kỳ viên
kim cương nào cũng đạt được những thông số cắt lý tưởng cho nên lượng ánh sáng dội trở lại trong
viên đá cũng không đạt được mức tối đa.


Tourmaline
                          Tourmaline bắt nguồn từ chữ turmali thuộc ngôn ngữ vùng Nam Á, có nghĩa
                          là “trộn lẫn”. Do có các màu hay phối hợp giữa các màu nhiều hơn các đá
                          khác trong tự nhiên nên đá này mang tên như thế. Có lẽ đó là lý do mà các
                          nhà thần bí xưa kia tin rằng tourmaline có thể cho họ sức mạnh trực giác
                          nghệ thuật: đá này có đủ các màu để diễn tả mọi cảm xúc.

                          Lịch sử và truyền thuyết:

                         Vì màu của chúng giống hầu hết các đá quý khác nên tourmaline hay bị
nhầm trong thời kỳ cổ đại. Chẳng hạn như một số đá “ruby” trong trang sức Hoàng gia Nga thực sự
là tourmaline rubellite.

Các khoa học gia rất quan tâm đến tourmaline do chúng có một đặc điểm tinh thể lạ: chúng thu được
một điện tích phân cực khi bị nung nhiệt hay bị ép.

Cùng với đá opal, tourmaline là đá mừng sinh nhật tháng 10 ở Mỹ.

Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:

Màu giá trị nhất của tourmaline là xanh mạnh sáng, nhưng hiếm và màu lục. Chúng được tìm thấy
đầu tiên ở Paraíba Brazin (gọi là tourmaline paraíba) và sau nầy ở Nigeria.

Tourmaline indicolite màu xanh và rubellite màu đỏ cũng được ưa chuộng, nhưng đá chất lượng đẹp
khó tìm thấy. Tourmaline màu lục mạnh có ở Kenya và Tanzania, gọi là tourmaline chrome, cũng
hiếm và giá trị cao.

Tourmaline hồng và lục thì phổ biến và giá rẻ hơn.

Một số tourmaline có nhiều màu trong cùng một tinh thể. Chúng được cắt mài thành các viên đá hai
màu hay ba màu được gọi là tourmaline 2 màu, 3 màu. Hai màu thường đi chung là hồng và lục.

Vì rubellite màu đỏ, hồng và paríba thường chứa nhiều bao thể, nên một số bao thể được chấp nhận
và không làm giảm giá trị nhiều như các đá tourmaline khác.

Vì chúng tăng trưởng thành các tinh thể hình bút chì nên tourmaline thường được cắt mài theo kiểu
emerald với hình chữ nhật dài. Nhiều dạng khác cũng có.

Nguồn gốc:




Brazin là nguồn của nhiều loại tourmaline đủ màu.

Còn tìm thấy tourmailne ở Tanzania, Kenya, Madagasca, Mozambique, Namibia, Nigeria, Zambia,
Afghanistan, Pakistan, Sri Lanka, California và Maine thuộc Mỹ.

Xử lý tăng vẻ đẹp thường gặp:

Màu hồng ở tourmaline có thể được cải thiện bằng bức xạ, một số màu xanh và lục được tăng lên
nhờ xử lý nhiệt, tuy nhiên các màu xử lý không bền và không thể phát hiện được, do đó không ai biết
được mức độ phổ biến các xử lý này.

Rubellite và paraíba thường chứa nhiều bao thể nên có thể được xử lý lấp đầy: các khe nứt sát bề
mặt được lấp đầy bằng nhựa để khó nhìn thấy chúng hơn.

Bảo quản và làm sạch:

Tourmaline có độ cứng 7 đến 7,5 trên thang Mohs và bền nên có theo đeo hàng ngày.

Rửa với xà phòng và nước ấm: dùng bàn chải chà phía sau viên đá là nơi có thể tích tụ nhiều chất
dơ. Không được dùng máy siêu âm để rửa rubellite và paraíba.
Alexandrite
Alexandrite là một loại khoáng vật độc đáo nhất của nhóm đá quý chrysoberyl, do đổi màu từ lục
trong ánh sáng ban ngày hoặc huỳnh quang cho đến màu đỏ phớt tím trong ánh sáng vàng nóng. Sự
biến đổi màu đỏ-lục này là điều kỳ diệu nhất trong vương quốc đá quý. Hiếm và có giá trị, alexandrite
đôi khi còn xuất hiện trong các cuộc đấu giá đồ trang sức. Ngày nay thỉnh thoảng mới khai thác được
đá chất lượng quý.




Lịch sử và truyền thuyết:

Lần đầu tiên phát hiện alexandrite là tại Nga năm 1830. Vì các vua chúa Nga thích màu lục và đỏ nên
nó được đặt theo tên của vua Nga lúc ấy là Czar Alexander.

Tiffani & Co. ở Nữu Ước rất danh tiếng về nữ trang gắn alexandrite xinh đẹp, tạo nên nhiều chiếc
nhẫn thanh lịch vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.

Ở Mỹ, alexandrite là đá mừng sinh nhật trong tháng 6.

Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:

Alexandrite chất lượng tốt thì cực kỳ hiếm và có giá trị cao.

Màu được ưa thích của alexandrite là đỏ ruby và lục emerald, tuy nhiên khó mà có được màu như ý
này.

Khi định giá alexandrite thì phải chú ý sự thay đổi màu: đá càng đổi màu kỳ diệu và hoàn toàn giữa
đỏ và lục, khi đổi màu không vướng sắc nâu hay xám thì đá càng hiếm và càng có giá trị.

Các yếu tố giá trị quan trọng khác như độ hấp dẫn, độ đậm của hai màu, độ sạch và chất lượng cắt
mài. Vì là đá quý hiếm, nên dù cùng một chất lượng, viên nào lớn giá sẽ rất cao.

Alexandrite thường được mài giác theo hình ovan và hình nệm.

Vào những năm 1950 đến 1960, saphia tổng hợp đổi màu từ xanh nhạt đến tím đã được bán rất
nhiều với tên alexandrite để dùng làm nữ trang bạc rẻ tiền. Có thể xác định dễ dàng đá giả
alexandrite này vì màu của nó khác hẳn với alexandrite tự nhiên. Còn loại alexandite tổng hợp thật
sự thì cũng đã được chế tạo và có các đặc điểm rất giống với đá tự nhiên.

Nguồn gốc:
Nguồn alexandrite đầu tiên là mỏ trong dãy núi Ural thuộc Nga, tuy nhiên đã bị đóng cửa từ lâu sau
vài thập niên khai thác, hiện nay trên thị trường chỉ có rất ít đá xuất xứ từ Nga. Đẹp nhất là đá có màu
đỏ và lục thật sự.

Năm 1987, tại Hematita, Brazin, đã phát hiện được alexandrite màu đẹp và đổi màu rõ từ đỏ dâu tây
đến lục hơi xanh. Đá quý ở Hematita này có giá trị cao tuy nhiên sản lượng suy giảm đến nay chỉ còn
nhỏ giọt.

Cũng tìm thấy alexandrite ở Srilanka, Tanzania, Madagasca, Ấn Độ và ở một số vùng khác thuộc
Brazin, nhưng loại màu đẹp thì rất ít.

Xử lý tăng vẻ đẹp thường gặp:

Chưa thấy xử lý tăng vẻ đẹp đối với alexandrite.

Bảo quản và làm sạch:

Giống như các đá nhóm chrysoberyl, alexandrite là loại đá quý bền chắc, đạt độ cứng 8,5 trong thang
Mohs, độ cứng chắc rất cao.
Rửa alexandrite với xà phòng: dùng bàn chải đánh răng bôi một ít xà phòng rồi chà phía dưới viên đá
là nơi dính nhiều chất dơ.


Tsavorite
                       Đông Châu Phi là nơi tích tụ garnet nhiều nhất thế giới. Trong số chúng, quan
                       trọng nhất là garnet tsavorite, là một khoáng màu lục sáng thuộc nhóm phụ
                       garnet grossular. Tsavorite được phát hiện năm 1968 nhưng nhanh chóng trở
                       thành đá quý hàng đầu của giới sưu tập. Ngay cả trong các nước như Kenya
                       và Tanzania chúng cũng rất hiếm, làm cho đá garnet màu lục mạnh này cần
                       được nghiên cứu.

                       Lịch sử và truyền thuyết:

                       Công ty Tiffany & Co. đã đặt tên Tsavorite theo tên công viên quốc gia Tsavo
thuộc Kenya, là nơi chúng được phát hiện đầu tiên. Một nhà bán lẻ New York là người đầu tiên tiếp
thị Tsavorite vào năm 1974. Ở Châu Âu, chúng được gọi là Tsavolite.

Viên Tsavorite giữ kỷ lục lớn nhất chỉ nặng 24 carat.

Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:
Màu của Tsavorite là lục phớt vàng nhạt đến sẫm đến lục. Màu đẹp nhất là lục mạnh sáng giống màu
của cỏ mùa xuân sau cơn mưa.

Tsavorite cỡ hơn 3 carat thì rất hiếm.

Ovan là hình dạng cắt mài phổ biến nhất ở Tsavorite, nhưng vì quá hiếm nên người ta cũng cắt mài
theo dạng đá thô để giữ trọng lượng và kích thước tối đa, cho nên đôi khi cũng thấy những hình dạng
lạ.

Nguồn gốc:

Tsavorite được khai thác chỉ ở Kenya và Tanzania. Mỏ nổi tiếng nhất tên là Bò Cạp ở Kenya. Mới
đây, người ta cũng phát hiện được Tsavorite ở Madagasca.




Xử lý tăng vẻ đẹp thường gặp:

Chưa thấy xử lý thường gặp trên Tsavorite.

Bảo quản và làm sạch:

Garnet cũng như Tsavorite là những đá vững bền thích hợp để đeo hàng ngày.

Rửa garnnet với xà phòng: dùng bàn chải chà phía sau viên đá là nơi tích tụ nhiều chất dơ.




Aquamarine
                          Aquamarine, gọi là ngọc của biển vì tên của nó bắt nguồn từ “nước biển”.
                          Aqua (nước) lấp lánh như nước biển và màu của nó là xanh nhạt đến vừa,
                          thường pha lẫn một chút màu lục.



                          Lịch sử và truyền thuyết:

Truyền thuyết cho rằng aquamarine là báu vật của nàng tiên cá, nó có quyền năng giúp cho các thủy
thủ an toàn trên biển. Quyền năng của nó được tăng lên khi nhúng vào trong nước.

Người ta cũng cho rằng aquamarine sẽ giúp đem lại sự bình an cho các đôi uyên ương. Vì năng
lượng của nó bảo đảm cho một cuộc hôn nhân bền vững và hạnh phúc nên aquamarine đã trở thành
một món quà cưới quý giá.
Aquamarine còn chống lại sự hãm hại của ma quỷ.

Khi mơ thấy aquamarine nghĩa là ta sắp có một người bạn mới.

Ở Mỹ, aquamarine là đá mừng sinh nhật trong tháng 3.

Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:

Aquamarine thường có màu xanh nhạt, nhưng nếu màu càng xanh thì càng có giá trị. Người sành
điệu thì lại thích màu xanh thuần khiết, không pha lẫn màu lục hay xám. Nếu bạn thích aquamarine
màu xanh phớt lục-vàng thì giá sẽ rẻ hơn.

Đá kích thước nhỏ ít khi có màu đậm, nghĩa là đá càng lớn thì màu càng đậm.

Vì thường là màu nhạt nên dễ nhìn thấy các tạp chất bên trong do đó hầu hết các nhà sưu tập
thường tìm các viên aquamarine có độ sạch cao.

Aquamarine thường được cắt mài theo kiểu emerald hay ovan.

Nguồn gốc:

Aquamarine có ở Brazin, Zambia, Mozambic, Angola, Nigeria, Madagasca và các quốc gia khác.




Xử lý tăng vẻ đẹp thường gặp:

Thường nung nóng aquamarine màu xanh phớt lục để khử yếu tố màu vàng. Xử lý này tạo màu xanh
thuần túy, vững bền, không phai và không thể phát hiện được.

Bảo quản và làm sạch:

Với độ cứng là 7,5 trên thang Mohs, aquamarine là đá quý bền vững, thích hợp cho việc đeo nó hàng
ngày.

Rửa với xà phòng: dùng bàn chải chà phía sau viên đá nơi có thể dính nhiều chất dơ.


Cẩm thạch là đá gì và xuất xứ ở đâu ?
Cẩm thạch là loại đá quý rất được ưa chuộng ở khu vực châu Á, nhiều nhất là Trung Quốc.
Dân chúng của xứ sở này đã sử dụng cẩm thạch từ hơn 1000 năm nay, họ dùng chúng làm đồ
trang sức hoặc giữ gìn như báu vật. Người dân Việt Nam từ xưa đến nay cũng rất ưa thích đá
cẩm thạch.




Hình 1: Viên đá jadeite xuất xứ
Myanmar, dạng ovan cabochon,
màu lục táo. Myanmar là nguồn
cung cấp jadeite đẹp nhất thế
giới. Hình của Wimon Manorotkul.

Cẩm thạch (jade) là danh từ chung để chỉ hai loại đá quý riêng biệt, là jadeite và nepherite. Cẩm
thạch là loại đá quý đa khoáng, nghĩa là jadeite hoặc nepherite chỉ là một trong các thành phần tạo
đá, tuy nhiên hàm lượng của chúng chiếm đa số nên tên của chúng được dùng để gọi tên đá, như
cẩm thạch jadeite hoặc cẩm thạch nepherite. Hiện nay trên thị trường quốc tế, jadeite được ưa
chuộng và có giá trị cao hơn nepherite vì thường có màu sắc đẹp hơn, trong và cứng chắc hơn.

Nguồn jadeite phổ biến ở Myanmar, Guatemala, Nga, Mỹ. Nguồn nepherite ở Trung Quốc, Nga,
Canada, New Zeland và Mỹ. Đá jadeite đẹp nhất thế giới là từ Myanmar (xem hình 1 và 2), chúng
được bán vào Trung Quốc từ cuối thế kỷ 16. Việt Nam chưa tìm được nguồn cẩm thạch đẹp. Toàn bộ
cẩm thạch ở Việt Nam đều được nhập khẩu từ nước ngoài, chủ yếu từ Hong Kong vì đây là một trong
những nơi chế tác và buôn bán cẩm thạch lớn nhất thế giới.
Hình 2: Các mẫu đá thô cẩm thạch jadeite Myanmar. Hình bên phải là một
tảng jadeite lớn, lớp da bên ngoài đã bị phong hoá nhưng vẫn còn lộ các đốm
màu lục. Hai hình bên trái cho thấy bên trong 2 viên đá cuội cẩm thạch
thường là màu lục không đều, lớp sát bề mặt có màu nâu, cam là do bị phong
hóa. Hình của Richard W. Hughes

Thị trường Việt Nam thường dùng từ chung là cẩm thạch, thông thường khi nói đến cẩm thạch thì
người ta hay nghĩ đó là jadeite chứ không nghĩ đến nepherite vì có lẽ loại này ít được bày bán.

Cẩm thạch được cấu tạo bởi những hạt và sợi cực nhỏ kết dính vào nhau. Chúng có độ cứng thấp
hơn nhiều loại đá quý như kim cương, ruby, saphia, topaz, thạch anh. Tuy nhiên nhờ cấu tạo vi sợi và
hạt nên chúng có độ dai chắc cao nhất, nhờ tính chất này mà người ta có thể cắt cẩm thạch thành
những miếng rất mỏng.
Chrysoberyl mắt mèo
                           Khi nhìn vào viên cabochon chrysoberyl mắt mèo, ta thấy một dải rực sáng phản chiếu quét ngang
                           qua phần vòm làm cho viên đá giống y mắt của một con mèo. Cùng một họ hàng với alexandrite
                           thay đổi màu, loại đá quý nhóm chrysoberyl này là một điển hình nổi tiếng nhất về hiệu ứng mắt
                           mèo, hiệu ứng này có được do ánh sáng tác động lên các bao thể li ti hình kim bên trong viên đá
                           (do đó đá mắt mèo thường không trong suốt).

                           Lịch sử và truyền thuyết:

                           Người Hy Lạp cổ gọi chrysoberyl mắt mèo là cymophane, nghĩa là “ánh sáng di chuyển”.

                           Trong nhiều nền văn hóa xưa, người ta cho rằng chrysoberyl mắt mèo có khả năng trị được các
                           bệnh của mắt.

“Mắt” của viên đá chrysoberyl mắt mèo sẽ nháy được khi bạn chiếu 2 nguồn sáng lên nó và rồi xoay viên đá. Khi xoay viên đá,
mắt sẽ tách ra thành 2 dải sáng xa dần rồi sau đó chập lại. Hiệu ứng này gọi là “mở và khép”.

Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:

Yếu tố giá trị quan trọng nhất của đá mắt mèo đó là độ mạnh, sự sắc nét và đối xứng của mắt.

Màu của chrysoberyl mắt mèo từ nâu “mật ong” cho đến lục “táo”, trong đó màu vàng kim có giá cao nhất.

Loại chrysoberyl mắt mèo đẹp thường có hiện tượng “sữa và mật ong”. Khi chiếu sáng theo chiều thẳng góc với mắt, hướng
vào hông viên đá, thì một bên mắt sẽ có màu trắng sữa, bên kia vẫn giữ màu vàng kim đến nâu. Khi xoay viên đá, màu lại
xoay theo.

Để thấy được hiệu ứng mắt mèo thì phải mài viên chrysoberyl theo dạng tròn hoặc ovan, phần mặt trên hình vòm, láng mịn,
gọi là kiểu cabochon.

Cũng có một loại chrysoberyl trong suốt, có màu vàng đến màu vàng kim - mật ong. Những đá này thường được mài giác và
làm ta nhớ đến các đá quý cũng có màu vàng và trong như saphia, topaz hay citrine.

Nguồn gốc:

Chrysoberyl có hiệu ứng mắt mèo được tìm thấy ở Sri Lanka, Brazin, Tanzania, Madagasca, Ấn Độ và một số nơi khác.
Xử lý tăng vẻ đẹp thường gặp:

Chưa thấy xử lý nào trên chrysoberyl.

Bảo quản và làm sạch:

Chrysoberyl là loại đá quý cứng chắc và vững bền, độ cứng 8,5 trên thang Mohs, với độ cứng chắc tuyệt vời. Do đó nó rất phổ
biến trong các nhẫn của phái nam.
Rửa chrysoberyl bằng xà phòng trong nước ấm: dùng bàn chải chà vào phía sau viên đá là nơi có thể dính nhiều chất dơ.


Demantoid
                               Demantoid là một khoáng vật thuộc nhóm garnet. Lửa của nó lóe màu cầu
                               vồng, đây là đặc tính không phổ biến ở nhóm garnet: thực tế thì tên của nó
                               có nghĩa là “giống kim cương”. Nhưng cả hai, lửa và màu lục sáng đều có
                               giá của chúng: vì demantoid là loại garnet hiếm nhất, và chưa bao giờ tìm
                               thấy viên nào trên vài carat.

                               Lịch sử và truyền thuyết:

                               Vào giữa những năm 1800, tại vùng núi Ural thuộc Nga, người ta tìm thấy
                               loại garnet màu lục có lửa này.

Công ty Tiffany & Co. là đơn vị mua demantoid của Nga nhiều nhất.

Trong khoảng thời gian cực thịnh, từ 1885 đến 1915, người ta dùng demantoid rất nhiều trong nữ
trang nhờ vẻ đẹp của nó. Màu lục sáng của nó tô điểm lên các mẫu hình thạch sùng, cá, côn trùng,
hoa và lá cây.

Giá đấu kỷ lục đạt được cho nhà Christies Hong Kong là 10.000 USD một carat đối với viên
demantoid nặng 4 carat, được bao quanh bởi các viên kim cương nhỏ cắt giác hoa hồng, nằm trong
chiếc nhẫn của Pháp vào thời điểm chuyển đổi thiên niên kỷ.

Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:

Demantoid màu lục đậm và thuần khiết là loại được ưa thích.

Thông thường nữ trang demantoid chỉ có các viên đá nhỏ: vì đá lớn cực kỳ hiếm.

Demantoid rất hiếm và thường gặp nhất trong các nữ trang xưa. Các nhà sưu tập luôn tìm kiếm các
bộ nữ trang thời Victory có nhiều đá nhỏ màu lục sáng có dạng tròn hay ovan.
Garnet demantoid ở Nga thường có tạp chất dạng sợi của amiăng. Các sợi này đôi khi tạo nên một
hoa văn đẹp có hình như một đuôi ngựa, do đó gọi chúng là bao thể “đuôi ngựa”. Viên demantoid nào
có bao thể đưôi ngựa rõ ràng sẽ có giá trị đặc biệt đối với các nhà sưu tập: đây là một thí dụ về bao
thể giúp làm tăng chứ không phải làm hạ giá trị của viên đá, bởi vì nó chứng tỏ là có xuất xứ xa xưa
từ nước Nga.

Nguồn gốc:

Ngày nay các mỏ ở Nga chỉ sản xuất được một chút demantoid. Các mỏ ở Namibia, Ý, và Mexico
khai thác được đá đẹp rất ít.




Xử lý tăng vẻ đẹp thường gặp:

Chưa thấy một xử lý tăng vẻ đẹp nào trên garnet demantoid.

Bảo quản và làm sạch:

Rửa garnet với xà phòng trong nước ấm: dùng bàn chải chà phía sau viên đá là nơi có thể dính nhiều
chất dơ.

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Tags:
Stats:
views:7
posted:9/17/2012
language:Vietnamese
pages:18