Ngoai ngu chuyen nganh

Document Sample
Ngoai ngu chuyen nganh Powered By Docstoc
					              Unit 3: The procedure of building construction
        When an architect receives a commission for a building, he meets the client
and discusses his requirements. After visiting the site, the architect draws up
preliminary plans and, together with a rough estimate of the cost, submits them to the
client for his approval. If the client suggest changes, the architect incorporates them
into the final design which shows the exact dimension of every part of the building. At
this stage, several building contractors are invited to bid for the job of constructing
the building. When they submit their tender or prices, the architect assists his client in
selecting the best one and helps him to draw up a contract between the client and
the contractor.
        Work now starts on the building. As contruction proceeds, the architect makes
periodic inspections to make sure that the building is being constructed according to
his plans and that the materials specified in the contract are being used. During the
building period, the cliend pays the bills from the contractor. Subsequently, the
contractor completes the building and the client occupies it. For six months after
completion there is a period known as the “defects liability period”. During this period,
the contractor must correct any defects tha appear in the fabric of the building.
Finally, when all the defects have been corrected, the client takes full possesion of
the building.

                    Bài 3: Quá trình xây dựng công trình
       Khi 1 kts nhận nv thiết kế 1 công trình, anh ấy gặp chủ đầu tư và thảo luận
những y/c của CĐT. Sau khi thăm mặt bằng xd, KTS sẽ phác thảo sơ bộ bản thiết
kế, và cùng với bản dự toán sơ bộ chi phí, nộp chúng cho CĐT để CĐT phê duyệt.
Nếu CĐT đề nghị thay đổi, lúc này KTS sẽ bổ xung chúng vào trong bản tk cuối
cùng, bản tk mà đã chỉ rõ những kích thước của mỗi phần của ngôi nhà. Lúc này
một vài nhà thầu xd được mời để đấu thầu cho công việc xd toà nhà. Khi họ trình hồ
sơ thầu hoặc giá, kTS giúp đỡ khách hàng của mình soạn thảo 1 bản hợp đồng giữa
CĐT và nhà thầu.
       Bây giờ bắt đầu công việc trên công trình. Khi tiến hành xây dựng, kiến trúc
sư tiến hành kiểm tra định kỳ để đảm bảo rằng việc xây dựng đang được xây dựng
theo đúng tk của anh ta và rằng các vật liệu quy định trong hợp đồng đang được sử
dụng. Trong thời gian xây dựng, các chủ đàu tư thanh toán các hóa đơn từ nhà thầu.
Sau đó, nhà thầu hoàn thành việc xây dựng và khách hàng sở hữu nó. Trong thời
gian sáu tháng sau khi hoàn thành công trình có một khoảng thời gian được gọi là
"giai đoạn bảo hành”. Trong thời gian này, các nhà thầu phải sửa chữa bất cứ
khuyết tật nào xuất hiện trong cấu trúc của công trình. Cuối cùng, khi tất cả các
khuyết tật đã được sửa chữa, khách hàng sẽ sở hữu đầy đủ công trình.
                                Unit 9: Site labour
        The two most important men on a construction site are the contractor’s agent and
the navvy. The agent is important because he acts for the contractors and has the
authority of the contractor on the site. The navvy is important because he, with perhaps
hundreds of other navvies, does must of he work. Compared with these two, although
no civil engineer will happily admit it, the resident engineer comes third, for without him
the work would be completed in time, though perhaps badly and at high cost to the
client. Most of the civil engineering design has been done by the time the contract has
been signed, and the contractor is bound to follow the design as it is laid down in the
drawings, though normally no contract is left without the supervision of a resident
engineer or at least of a clerk of the works or a civil engineering inspector.
        But between the agent and the navvy there are many other man who organize
the work, help it to go smoothly, see to the arrival of the essential materials, check their
quality and help to get the contract finished on time. The chief of these is the general
foreman, a man who as worked for many years on contraction sites, either as a navvy
and then as a ganger in charge of a group (gang) of navvies, or more usually, as a
tradesman and then a foreman of his trade.
        Tradesman in civil engineering or building is the name given to masons,
bricklayers, carpenters, plasterers, mechanical fitters and others who do a special kind
of work with their hands (a trade) for which they gained the skill by a boyhood
apprenticeship to a skilled man.
        Since navvies do the concreting and digging which are essential to most
foundation work, and foundations, are the first work after the demolition and site
clearance, navvies are usually the first man employed on a building site.
                        Bài 9: Lao động trên công trường
       Hai lực lượng quan trọng nhất trên công trường xd là người phụ trách thi công
và lao động. người phụ trách thi công quan trọng vì anh ta hành động cho nhà thầu và
có quyền của nhà thầu trên công trường. lực lượng lao động quan trọng bởi vì họ có
thể lên tới hàng trăm người làm chủ yếu các công việc. So với hai lực lượng này, mặc
dù không có kỹ sư xd vẫn vui vẻ chấp nhận điều đó, những kỹ sư thường trú được biết
đến như lực lượng thứ 3, mà nếu không có anh ta thì công việc vẫn được hoàn thành
trong thời gian, mặc dù có lẽ nặng và ở mức giá cao cho chủ đầu tư. Hầu hết các thiết
kế kỹ thuật dân dụng đã được thực hiện bởi thời gian hợp đồng đã được ký, và nhà
thầu là tuân theo thiết kế như là đã trình bày tại các bản vẽ, mặc dù không có hợp đồng
thường là trái mà không có sự giám sát của một kỹ sư thường trú hoặc ít nhất của một
người theo dõi tiến độ của công trình hoặc một người giám sát kĩ thuật.
        Nhưng giữa chủ đầu tư và lực lượng lao động có rất nhiều người khác, những
người tổ chức công việc, giúp nó trôi chảy, xem đến sự xuất hiện của các vật liệu cần
thiết, kiểm tra chất lượng của họ và giúp đỡ nhà thầu kết thúc đúng tiến độ. Trưởng của
những người này là đốc công chung, một người đã làm việc nhiều năm trên công
trường hoặc như là một người thợ và sau đó như là một đội trưởng phụ trách một
nhóm của những lao động, hoặc phổ thông hơn, như là một thợ công trình và sau đó
đốc công cho công trình của anh ta.
        Thợ công trình trong xây dựng dân dụng hay các công trình là tên được đặt cho
những thợ nề, thợ xây, thợ mộc, thợ trát tường, thợ lắp ráp cơ khí và những người
khác làm 1 dạng đặc biệt của công việc với đôi bàn tay của họ (1 nghề) mà họ đã đạt
được những kĩ năng trong thời gian học việc từ thời niên thiếu tới 1 thợ lành nghề.
        Từ những thợ làm bê tông và đào bới đó là cần thiết nhất cho công việc làm nền
móng, và móng là công việc đầu tiên sau khi dọn dẹp và giải phóng mặt bằng, những
người thợ thường là người đầu tiên làm việc trên công trường.




                                Unit 11: Water supply
        A water supply for a town usually includes a storage reservoir at the source of
the supply, a pipeline from storage reservoir to the distribution reservoir near the town,
and finally distribution pipes buried in the streets, taking the water to the houses, shops,
factories, and offices. The main equipment is thus the two reservoir and the pipeline
between them. The function of the storage reservoir is to keep enough water over one
or several years to provide for all high demands in dry periods, and the distribution
reservoir has the same function for the day or the week. The storage reservoir by its
existence allows the supply sources to be smaller and less expensive, and the
distribution reservoir similarly allows the pipeline and pumps to be smaller and
cheaper than the would be if it did not exist.
        In the United states, some of whose cities have the largest water use in the world
per person, the average use per person varies from 200 to 5000 litres per day,
averaging some 500 litres/day/person. But it must not be assumed that colder countries
will eventually reach the same level of use, because much of the highest US demand
comes from the water spent in summer on air conditioning equipment and the watering
of gardens,
        Water engineers must therefore study the water use per person in their own
country and choose a figure based on the most advanced community there. The chosen
consumption per head must be multiplied by the estimated population at the date for
which the supply is being planned, some thirty years ahead or more. The supply and
the storage equipment must be designed to be large enough for this period since
neither of them is so easily extended as the distribution system. This can be extended
as the need arises and as the houses are built.
                       Bài 11: Hệ thống cung cấp nước
        Một sự cung cấp nước (cho) Một thành phố thông thường bao gồm Một bể chứa
tại nguồn cấp, một ống dẫn từ bể chứa kho đến bể phân phối gần thành phố, và cuối
cùng những ống phân phối được chôn cất trong những đường phố, đang đưa nước đi
những nhà, những cửa hàng, những nhà máy, và những văn phòng. Thiết bị chính như
vậy là hai bể chứa và ống dẫn giữa chúng. Chức năng (của) bể chứa sẽ giữ đủ nước
hơn một hay vài năm để cung cấp (cho) tất cả các yêu cầu cao trong những mùa khô,
và bể phân phối có chức năng giống như vậy trong ngày hay tuần. Bởi sự tồn tại của
bể chứa nó cho phép những nguồn cung cấp nhỏ hơn và ít đắt hơn, và bể phân phối
tương tự cho phép ống dẫn và những cái bơm nhỏ hơn và rẻ hơn so với hay là nếu nó
không tồn tại.
        Ở Mỹ, một số những thành phố có mức sử dụng nước lớn nhất trên thế giới bình
quân đầu người, mức sử dụng trung bình bình quân đầu người thay đổi từ 200 tới 5000
lit mỗi ngày, tính trung bình 500 lit/ ngày/ người. Nhưng nó phải không được giả thiết
rằng những nước lạnh hơn sẽ dần dần đạt đến mức sử dụng giống như vậy, bởi vì
nhiều nhu cầu người Mỹ cao nhất đến từ nước được tiêu thụ trong mùa hè trên thiết bị
điều hoà không khí và tưới tiêu.
        Bởi vậy những kỹ sư Nước phải nghiên cứu mức sử dụng bình quân đầu người
ở chính đất nước của họ và chọn một số liệu được dựa vào cộng đồng dân cư tiên tiến
nhất ở đó. Mức tiêu thụ bình quân đầu người được chọn phải được nhân lên bởi dân
số ước tính được đánh giá vào thời gian đó sự cung cấp đang được lập kế hoạch, ba
mươi năm sau hay hơn nữa. Sự cung cấp và thiết bị chứa phải được thiết kế đủ lớn
cho thời kỳ này bởi vì cả hai không dễ dàng được mở rộng như hệ thống phân phối.
Cái này có thể mở rộng khi nhu cầu tăng lên và những nhà được xây dựng.

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Tags:
Stats:
views:13
posted:8/31/2012
language:English
pages:4