Docstoc

VanLuong.Blogspot.Com_TD961

Document Sample
VanLuong.Blogspot.Com_TD961 Powered By Docstoc
					        Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


                                 LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
       Bước vào thế kỷ XXI, nhân loại đã bước vào kỷ nguyên thông tin, kỷ
nguyên của Internet và World Wide Web với sự phát triển của nền kinh tế
tri thức. Sự phát triển của công nghệ thông tin đã tác động đến mọi bình
diện của xã hội, làm thay đổi sự tương tác giữa người cán bộ thư viện với
vốn tài liệu, nguồn lực thông tin và người đọc. Sự xuất hiện của mạng máy
tính kỹ thuật lưu trữ và chuyển dạng tài liệu đã dẫn đến việc hình thành các
thư viện hiện đại, làm biến đổi sâu sắc quá trình tổ chức, thu nhập, xử lý và
phục vụ của các cơ quan thư viện thông tin. Thực tế dó đã đòi hỏi người
cán bộ thư việc thông tin phải có những năng lực mới. Để đào tạo được đội
ngũ cán bộ thư viện thông tin đáp ứng được các yêu cầu đặt ra của thực tế
là trách nhiệm của các cơ sở đào tạo. Trên thực tế trong những năm gần
đây đào tạo cán bộ thư viện thông tin là một trong những chuyên ngành đào
tạo có nhiều sự biến động.
       Trong điều kiện xã hội thông tin hiện đại, có nhiều cơ hội cũng như
nhiều thách thức đã và đang đặt ra đối với công tác đào tạo cán bộ thư viện
thông tin. Tính chất nghề thư viện đã có nhiều thay đổi so với trước đây và
sẽ còn tiếp tục thay đổi với việc áp dụng các phương tiện và công nghệ
thông tin hiện đại. Làm thế nào để tìm ra được các mô hình và giải pháp
thích hợp cho công tác đào tạo cán bộ thư viện thông tin để các sản phẩm
đào tạo đáp ứng được các yêu cầu đặt ra trong thực tế. Đó là một vấn đề có
tính chất chiến lược và được toàn ngành thư viện thông tin hết sức quan
tâm.
       Tìm hiểu, nghiên cúu và đánh giá đúng thực trạng công tác đào tạo
cán bộ thư viện thông tin ở Việt Nam trong các cơ sở đào tạo cũng như
công tác đào tạo bồi dưỡng kiến thức nghề nghiệp tại các thư viện và cơ
quan thông tin, thu thập các ý kiến nhận xét về kết quả đào tạo của các



                                          1
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


trường đào tạo cán bộ thư viện thông tin trong bối cạnh công nghiệp hoá
hiện đại hoá là những vấn đề cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
     Đề tài nghiên cứu về công tác đào tạo cán bộ thư viện thông tin ở Việt
Nam. Do điều kiện và thời gian nghiên cứu có hạn, đề tài tập trung vào
nghiên cứu công tác đào tạo chuyên nghiệp ở trình độ đại học.
3. Mục tiêu của đề tài
     - Nghiên cứu tìm ra một số giải pháp, phương thức và mô hình thích
hợp về đào tạo cán bộ thư viện thông tin ở Việt Nam nhằm đáp ứng các yêu
cầu đặt ra của xã hội thông tin hiện đại.
     - Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đề xuất các giải pháp cụ thể để nâng
cao chất lượng đào tạo nghề thư viện thông tin tạo ra các sản phẩm đào tạo
có đầy đủ năng lực và phẩm chất đáp ứng được yêu cầy của thực tế.
4. Phương pháp nghiên cúu
     Phương pháp luận được sử dụng trong đề tài là phương pháp duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử , nghiên cứu xây dựng mô hình và giải pháp
về đào tạo cán bộ thư viện trong điều kiện xã hội thông tin đặt trong hoàn
cảnh thực tiễn cụ thể của Việt Nam.
     Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài là: Tổng hợp,
phân tích tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, Khảo sát thực tế tại các
cơ sở đào tạo và một số thư viện, cơ quan thông tin, Phỏng vấn, điều tra
bằng an két. Đối tượng phỏng vấn, điều tra là các cán bộ lãnh đạo trong các
thư viện và cơ quan thông tin cùng các chuyên gia trong ngành. Tổng hợp,
phân tích các kết quả phỏng vấn, điều tra được.
5. Nội dung nghiên cứu.
     Đề tài được hoàn thành với 176 trang. Ngoài phần lời nói đầu, kết
luận, phụ lục, nội dung đề tài được chia thành 3 chương:
     - Chương 1: Công tác đào tạo cán bộ thư viện thông tin và các yêu cầu
đặt ra trong điều kiện xã hội thông tin hiện đại.

                                         2
        Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


     - Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo cán bộ thông tin thư viện ở
Việt Nam.
     - Chương 3: Mô hình và giải pháp về đào tạo cán bộ thông tin thư viện
ở Việt Nam trong điều kiện xã hội thông tin hiện đại.
     Phần phụ lục bao gồm: Các nguyên tắc chỉ đạo chương trình giáo dục
thông tin thư viện chuyên nghiệp-2000 của IFLA, các chương trình đào tạo
của Việt Nam và nước ngoài, mẫu phiếu điều tra.
     Trong quá trình thực hiẹn đề tài chúng tôi đã nhận được sự quan tâm,
tạo điều kiẹn giúp đỡ của Bộ Văn Hoá Thông Tin, Trường Đại học Văn
Hoá Hà Nội,, Khoa Thư viện Thông Tin, Phòng Nghiên cứu khoa học của
trường, các trung tâm thông tin, thư viện và nhiều bạn đồng nghiệp.
     Nhân đây chúng tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Bộ Văn Hoá
Thông Tin, Trường Đại học Văn Hoá Hà Nội, Các Quý Cơ quan và bạn
hữu đã tận tình giúp đỡ và cho chúng tôi những lời chỉ bảo quý báu.
     Mặc dù đã nỗ lực về mọi mặt, nhưng do thời gian và kinh phí có hạn,
cho nên công trình của chúng tôi sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất
định.
     Chúng tôi rất mong được những ý kiến góp ý của các bạn đồng nghiệp
và những ai quan tâm đến vấn đề này.
                                                                Nhóm nghiên cứu




                                          3
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


        CHƯƠNG I: CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÁN BỘ THƯ VIỆN
THÔNG TIN VÀ CÁC YÊU CẦU ĐẶT RA TRONG ĐIỀU KIỆN XÃ
                      HỘI THÔNG TIN HIỆN ĐẠI
1. Khái quát về công tác đào tạo cán bộ thư viện thông tin ở trên thế
giới và ở Việt Nam.
1.1 Công tác đào tạo cán bộ thư viện thông tin trên thế giới.
    Thư viện đã xuất hiện từ thiên niên kỷ thứ ba trước Công nguyên và
nghề thư viện cũng ra đời với sự phát triển của thư viện. Nhưng bộ môn thư
viện học, với tư cách là một bộ môn khoa học có đối tượng nghiên cứu rõ
ràng mới chỉ hình thành vào cuối thế kỷ XIX. Việc đào tạo nghề thư viện
một cách có hệ thống và quy mô cũng chỉ được bắt đầu tiến hành vào thời
điểm đó.
    Trong một thời kỳ dài do tính chất của thư viện còn khá đơn giản chủ
yếu là tàng trữ nên chức năng chủ yếu của người cán bộ thư viện là quản lý
thư viện, quản lý kho sách. Kho sách thư viện không lớn lắm vì thế người
cán bộ thư viện có thể dễ dàng nắm bắt để phục vụ người đọc. Đến thế kỷ
XVII, cùng với sự xuất hiện chủ nghĩa tư bản, các thư viện công cộng và
một số thư viện chuyên ngành đã thành lập kéo theo sự phát triển của nhu
cầu đọc đại trà. Lúc bấy giờ kho sách của các thư viện đã tăng lên, số
lượng người đọc đông thêm, nhu cầu của những đọc mở rộng, tính chất của
công tác thư viện phải được đào tạo về chuyên môn. Việc đào tạo nghề thư
viện một cách một cách có hệ thống và quy mô cũng chỉ được bắt đầu tiến
hành vào thế giữa thế kỷ XIX ở các nước phát triển. Việc thành lập các
hiệp hội thư viện và việc tổ chức đào tạo nghề thư viện đánh dấu sự công
nhận của xã hội đối với nghề thư viện và qua đó nó cũng thể hiện sự phát
triển của nghề thư viện với tư cách là một nghề độc lập. Vào năm 1876
Hội thư viện Mỹ (ALA) là tổ chức hội thư viện đầu tiên được thành lập.
Tiếp theo đó, Hội thư việ Anh được thành lập vào năm 1877, Giới cán bộ



                                        4
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


thư viện Đức năm 1900, Hội cán bộ thư viện Đan Mạch năm 1905, Hội cán
bộ thư viện Pháp năm 1906…
     Vào thời điểm đó chưa có sự quản lý nhà nước về sự nghiệp thư viện.
các hội và các hiệp hội thư viện đã nhận trách nhiệm đào tạo cán bộ thư
viện. Hình thức đào tạo chủ yếu lúc bấy giờ là các lớp huấn luỵện ngắn
ngày do các nhóm thư viện hoặc các hội thư viện đứng ra tổ chức. Hình
thức này đã được áp dụng phổ biến ở trên thế giới cho đến giữa thế kỷ XX.
Mỹ là quốc gia có lịch sử đào tạo cán bộ thư viện thông tin sớm nhất thế
giới. Năm 1987 Menvil Dewey đã thành lập trường đào tạo cán bộ thư viện
đầu tiên. Đó là trường dạy nghề thư viện đầu tiên của Mỹ và cùng là trường
đầu tiên trên thế giới. Việc đào tạo nghề thư viện một cách có hệ thống và
quy mô cũng chỉ được bắt đầu của Dewey chú trọng vào khía cạnh kỹ thậut
thực hành của ngành thư viện. Trong một thời gian dài, công tác đào tạo
cán bộ thư viện ở Mỹ đã thực hiện theo hướng này. Cho đến ngày nay, mô
hình và phương pháp đào tạo cán bộ thư viện thông tin ở Mỹ vẫn được
đánh giá là có chất lượng cao, đứng vào loại hàng đầu thế giới.
     Ở Châu Âu đến đầu thế kỷ XX một số trường đào tạo nghề thư viện
mới được thành lập. Chẳng hạn như ở Đức, Trường chuyên ngành như
Viện ở Lepdích được thành lập năm 1915, ở Anh trường Lưu trữ và thư
viện nằm trong Trường đại học tổng hợp Luân Đôn được thành lập năm
1919, ở Achentina Trường thư viện ở Buênôs-Airex được thành lập năm
1922, ở Pháp trường thư viện nằm trong trường Đại học Thiên chúa giáo ở
Paris được thành lập năm 1925 , Trường thư viẹn hoàng gia ở Xtốckhôm
của Thủy Điển được thành lập năm 1926….
     Trên thế giới, trong lĩnh vực nghề nghiệp thư viện thông tin, người ta
phân chia thành hai hình thái đào tạo: Đào tạo bồi dưỡng nghề nghiệp, đào
tạo chuyên nghiệp. Đặc trưng phân biệt của hình thái đào tạo bồi dưỡng
nghề nghiệp đào tạo chuyên nghiệp là tính pháp lý của văn bằng cấp sau
khoá học. Vì thế những khoá học này còn được gọi là khoá học không có

                                        5
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


cấp vị, còn đào tạo chuyên nghiệp là loại hình đào tạo có kèm theo văn
bằng. Học viên qua các khoá này được cấp văn bằng xác nhận một cấp học
tương ứng. Vì thế các khoá học đào tạo chuyên nghiệp còn được gọi là
khoá học có cấp vị.
     Đào tạo bồi dưỡng là một hình thức đào tạo quan trọng được các
nước trên thế giới hết sức quan tâm. IFLA đã thành lập một tiểu ban
chuyên theo dõi về công tác đào tạo bồi dưỡng. Đào tạo bồi dưỡng còn
được gọi là đào tạo liên tục. Tiểu ban này có nhiệm vụ khuyến khích và
thúc đẩy các chương trình đào tạo về khoa học thư viện thông tin quốc tế,
giúp cho người cán bộ TVTT trên toàn thế giới có thể trao đổi thông tin,
phát triển các kỹ năng nghề nghiệp, thúc đẩy công tác giáo dục thường
xuyên. Tính đến nay IFLA đã 5 lần tổ chức hội nghị quốc tế về vấn đề đào
tạo bồi dưỡng.
  Trong ngành thông tin thư viện loại hình đào tạo không cấp vị mà người
ta vẫn quen gọi là đào tạo bồi dưỡng (kiến thức cơ bản hoặc nâng cao) có
tầm quan trọng đặc biệt. Đối với các nước phát triển khái niệm đồng nghĩa
với dạng đào tạo này là đào tạo thường xuyên. Và vấn đề đào tạo thường
xuyên hiện đang trở thành biện pháp hàng đầu của công nghệ giáo dục mới.
Các hội thư viện thông tin của các nước IFLA và UNESCO đã quan tâm
đến vấn đề này từ lâu và các tổ chức này đã coi đó là một trong những
phương tiện chủ yếu để phát triển nguồn lực thông tin thư viện và không
ngừng nâng cao chất lượng của các cán bộ công tác trong lĩnh vực này.
     Về đào tạo chuyên nghiệp, trong hệ thống đào tạo nhân lực ngành
thông tin, thư viện hiện nay trên thế giới hiện có ba cấp vị : Cử nhân, thạc
sĩ và tiến sĩ. Hiện nay hầu hết ở các nước phát triển đều có đào tạo cả ba
cấp vị này. Tại Mỹ việc đào tạo văn bằng thạc sĩ và tiến sĩ nghề thư viện đã
xuất hiện từ những năm 50. Ở các nước phát triển khác như Pháp, Anh,
Nga, ôxtrâylia, Nhật bản... việc đào tạo sau đại học đều có cả hai trình độ:
thạc sĩ và tiến sĩ.

                                         6
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


    Năm 1971 IFLA đã tiến hành kỳ họp thứ 37 ở Livơpul. Chủ đề được
đưa ra là "Tổ chức nghề thư viện" trong đó vấn đề được chú ý nhiều nhất là
vấn đề đào tạo cán bộ thư viện. Từ năm 1977, Tiểu ban Trường thư viện và
công tác đào tạo cán bộ thư viện của IFLA đã tiến hành chương trình
nghiên cứu "Sự tương đương của việc đào tạo cán bộ thư viện".
    Mục đích của chương trình này là thông qua các tiêu chuẩn quốc tế
trong lĩnh vực đào tạo cán bộ thư viện. Bức tranh về đào tạo cán bộ thư
viện trên thế giới vào những năm 70-80 của thế kỷ XX rất phong phú đa
dạng. Mặc dù UNESCO và IFLA đã nỗ lực trong việc đề xuất ra một
phương pháp đào tạo thống nhất trong đào tạo cán bò thư viện nhưng trên
thực tế trong các cơ quan đào tạo cán bộ thư viện chưa có được sự thống
nhất thực sự do nhiều nguyên nhân khác nhau: sự phát triển của kinh tế xã
hội của các nước khác nhau, đặc tính nghề nghiệp của hệ thống giáo dục,
nền tảng tư tưởng của việc tổ chức sự nghiệp thư viện, quan điểm khác
nhau về nghề nghiệp và thậm chí các khuynh hướng phát triển nghề nghiệp
cũng không thể đồng nhất ở tất cả các nước trên thế giới. Tuyên ngôn của
UNESCO về các thư viện công cộng năm 1972 đã đặt ra các yêu cầu về
đào tạo chuyên nghiệp bắt buộc dối với cán bộ thư viện. Sau đó UNESCO
đã xuất bản cuốn “Sách chỉ dẫn cho các trường thư viện và thông tin trên
thê giới". Trong lần xuất bản vào năm 1985, cuốn sách đã thống kê hơn
600 trường thư viện đào tạo cán bộ thư viện của 92 nước. Hiện nay con số
này không dừng lại ở đó.
    Theo con số thống kê trong "Bách khoa toàn thư về dịch vụ thông tin
thư viện", hơn 70 chương trình giáo dục khoa học thư viện được áp dụng
trong các trường học ở Mỹ và Canada đã được Hội thư viện Mỹ (ALA)
phát triển và sự hội tụ của nghề thư viện với khoa học thông tin đã được
phản ánh thông qua các chương trình đào tạo.
    Tại Canađa ở miền Bắc nước Mỹ người ta rất chú trọng đến vấn đề kỹ
thuật trong công tác thư viện. Để trở thành người cán bộ thư viện, người ta

                                        7
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


phải học một trong bảy chương trình do hội thư viện Mỹ thiết lập Khoá đào
tạo thư viện đầu tiên được tiến hành tại trường đại học tổng hợp Mc.Gill
vào năm 1904. Chương trình đào tạo sau đại học bắt đầu được tiến hành
vào năm 1931 . Vào những năm 90 của thế kỷ XX, nhiều trường đã đổi tên
do ảnh hưởng của sự phát triển của khoa học thông tin.
     Ở Anh đào tạo thư viện có phần khác biệt so với Bắc Mỹ. Hội thư
viện Anh có một vai trò quan trọng trong công tác đào tạo cán bộ thư viện.
Ngay từ cuối thế kỷ XIX, Hiến chương Hoàng gia Anh đã ban đặc quyền
cho Hội thư viện Anh "tổ chức các kỳ thi về thư viện học và cấp bằng".
Năm 1964 Hội thư viện Anh đã ban hành một chương trình giảng dạy mới
gồm 2 năm học liên tục cho những người chưa tốt nghiệp và 1 năm cho
những người đã tốt nghiệp một bằng đại học khác. Bằng của Hội thư viện
Anh có thể được cấp thông qua viết luận mà không phải thi. Vào thập kỷ 60
ở Anh có 6 trường đào tạo cán bộ thư viện trong đó trường Đại học tổng
hợp Luân đôn là trường có lịch sử lâu đời nhất. Ở Anh hiện có 17 trường
đào tạo cán bộ thư viện thông tin. Cũng như các nước tư bản khác, các
trường đào tạo cán bộ thông tin thư viện của Anh tiến hành theo hai dạng :
đào tạo cử nhân cho các học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học có đủ tiêu
chuẩn và đào tạo cho những người đã tết nghiệp một bằng đại học khác.
Hầu hết các trường cấp bằng đại học thứ nhất cho các sinh viên sau 3 hoặc
4 năm học. Nhiều trường cấp chứng chỉ tốt nghiệp đại học và cấp bằng thạc
sĩ hoặc cao hơn là bằng tiến sĩ. Tất cả các trường đào tạo cán bộ thư viện ở
Anh đều phải tuân theo quy chế của Hội thư viện Anh.
     Ở Đức có nhiều trường đào tạo cán bộ thư viện thông tin bậc đại học.
Về chương trình tuỳ theo mục tiêu đào tạo các trường có các chương trình
tương ứng. Ví dụ: trường Thư viện của Thư viện quốc gia Bavar ở
Muynich chỉ đào tạo cán bộ cho các thư viện khoa học. Tại Đức có hai hình
thức đào tạo đại học chuyên ngành thông tin thư viện. Hình thức đào tạo
phổ biến được áp dụng ở Đức là đào tạo cho các người đã tốt nghiệp đại

                                        8
        Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


học các ngành khác sau đó vào học hai năm: một năm lý thuyết, một năm
thực hành. Sau khoá học học sinh được cấp bằng thạc sĩ Và một hình thức
khác là tuyển chọn học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học đủ điều kiện
theo học. Sau khoá học học sinh được cấp bằng cử nhân thông tin thư viện.
Thời gian học là 4 năm.
       Tại Ôxtrâylia có 1 1 trường đào tạo chuyên ngành thông tin thư viện
với 3 cấp bậc cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ.
       Ở Trung quốc hiện có 50 trường đại học tổng hợp và cao đăng có đào
tạo về khoa học thư viện. Hai cơ sở đào tạo lâu đời nhất là Trường đại học
Tổng hợp Vũ Hán và Trường đại học Tổng hợp Bắc Kinh. Ngay từ năm
1964 Khoa thư viện Trường đại học tổng hợp Bắc kinh đã bắt đầu đào tạo
chương trình thạc sĩ. Từ năm 1991, Trung Quốc đã có 2 trường đào tạo cấp
bằng tiến sĩ thông tin thư viện. (Trường đại học Vũ Hán có quyền đào tạo
tiến sĩ thõng tin, trường đại học Bắc kinh : tiến sĩ thư viện).
       Ở Thái Lan: Việc đào tạo cử nhân Thư viện bắt đầu từ 1959 tại khoa
nghệ thuật của Trường đại học Chubalóngkorn. Hiện nay có 6 trường đào
tạo cán bộ thư viện bậc đại học.
       Ở Inđônêxia: Hiện có 3 trường đại học đảm nhiệm việc đào tạo cán bộ
Thư viện bậc Đại học. Việc đào tạo cán bộ Thư viện bậc đại học bắt đầu từ
1985.
       Ở Malaixia: Việc đào tạo cán bộ Thư viện bậc Đại học ở Malaixia
được tiến hành từ năm 1957. Hiện có 3 trường đào tạo cán bộ thư viện bậc
đại học.
       Ở Philipin: Việc đào tạo cán bộ bậc đại học xuất hiện rất sớm, từ năm
1916       tại trường Đại học Philipin. Hiện ở Philipin có 26 trường đào tạo
cán bộ Thư viện bậc đại học. Do qui mô to lớn của việc đào tạo này nên
những người tốt nghiệp đại học thư viện ở Philipin có thể được gọi với cái
tên khác nhau: cử nhân khoa học về khoa học thư viện (BSLS); cử nhân



                                          9
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


khoa học thư viện (BSI); cử nhân nghệ thuật chuyên ngành thư viện
(ABLS); cử nhân khoa học giáo dục chuyên ngành thư viện (BSELS).
     Ở Camơrun. cho đèn những năm cuối của thập kỷ 80 của thế kỷ XX,
vẫn chưa có trường đào tạo cán bộ thư viện. Các cán bộ thư viện được đào
tạo ở Anh, Canađa, Pháp, Nigiêria và Mỹ. Mãi đến năm 1986 Bộ Đại học
của Camơrun mới đưa ra quyết định thành lập một trường đào tạo cán bộ
thư viện.
     Về chương trình đào tạo hiện nay mỗi nước và mỗi trường dạy nghề
thư viện đều có xây dựng một chương trình đào tạo riêng. Các chương trình
đó có những nét đặc thù chung về một số môn học cốt lõi nhưng các trường
cũng không phải tuân thủ đào tạo theo một chương trình thống nhất. Hầu
hết các chương trình đều có hai phần : Phần cốt lõi (Bao gồm các môn học
bắt buộc) và phần tự chọn cho phép học sinh tự lựa chọn các môn học mà
họ cần. Thông thường ở những nước có Hội thư viện thông tin, Hội sẽ có
trách nhiệm kiểm soát các chương trình đào tạo này. Những nước không có
hội thư viện, việc đào tạo do các trường đảm nhiệm dưới sự kiểm soát và
chỉ đạo của các Bộ chủ quản. Năm 1976, IFLA đã đưa ra "Các tiêu chuẩn
cho các trường dạy nghề thư viện" trên khắp thế giới. Theo quy định của
tiêu chuẩn này một chương trình hạt nhân đã được đề xuất bao gồm 12 môn
học chính sau:
     1. Thư viện trong xã hội và thư viện là một cơ quan truyền thống
     2. Thư mục
     3. Biên mục và phân loại
     4. Phục vụ tra cứu và phục vụ người đọc
     5. Lựa chọn và bổ sung
     6. Quản lý thư viện
     7. Lịch sử thư viện
     8. Thông tin (nghiên cứu về sách )
     9. Các phương pháp nghiên cứu

                                        10
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


     10. Tư động hoá thư viện
     11. Thông tin học và tư liệu
     12. Trụ sở và trang thiết bị thư viện
     Việc tuân thủ theo các tiêu chuẩn của IFLA về vấn đề xây dựng các
chương trình hạt nhân trong các trường đào tạo cán bộ thư viện thông tin
trên thế giới không hoàn toàn đồng nhất. Có trường áp dụng có trường
không áp dụng. Hoặc có môn học theo chuẩn có môn học không theo. Ví
dụ như ở Mỹ hầu hết các trường đều loại môn thư mục ra khỏi chương trình
hạt nhân mà chỉ để môn học đó ở phần tự chọn không bắt buộc. Theo con
số thống kê nghiên cứu của các nhà thư viện học Mỹ: Môn học về công tác
tra cứu được 44 trong số 47 trường đưa vào chương trình hạt nhân. Môn
học về biên mục được 40 trong số 47 trường đưa vào chương trình hạt
nhân. Môn học thư viện trong xã hội được 37 trong số 47 trường đưa vào
chương trình hạt nhân của mình. Đây là ba chuyên đề được các trường dạy
nghề thư viện ở Mỹ quan tâm áp dụng nhiều nhất. Còn các chuyên đề, môn
học khác thuộc 12 môn học theo tiêu chuẩn của IFLA chỉ được chưa đến
một nửa các trường đưa vào chương trình bắt buộc. Có 4 chuyên đề, môn
học bị tất cả các trường ở Mỹ loại bỏ là : lịch sử thư viện, Thư tịch, Phương
pháp nghiên cứu và lựa chọn sách. Trong khi đó một số trường lại đưa vào
chương trình hạt nhân của mình các môn học mới như : Tìm kiếm dữ liệu
trực tuyến và phân tích hệ thống thông tin.
     Đến tháng 12 năm 2000, IFLA đã phê chuẩn sửa đổi các tiêu chuẩn
này thành “Các nguyên tắc chỉ đạo chương trình giáo dục thư viện thông
tin chuyên nghiệp”. (Có thể tham khảo thêm trong Phụ lục l). IFLA đã
khuyến cáo các chương trình đào tạo thư viện cần bao gồm 10 môn học hạt
nhân như sau:
     1 - Môi trường thông tin, các đao đức và chính sách thông tin, lịch sử
của lĩnh vực này.
     2- Sự hình thành thông tin, giao tiếp và sử dụng

                                        11
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


    3- Các nhu cầu thông tin định mức và các dịch vụ trả lời chỉ định .
    4- Quy trình chuyển giao thông tin
    5- Sự tổ chức, tìm kiếm, bảo quản và giữ gìn thông tin
    6- Sự nghiên cứu, phân tích và giải thích về thông tin
    7- Việc áp dụng các kỹ thuật thông tin và truyền thông vào các sán
phẩm và dịch vụ thông tin thư viện.
    8- Việc quản lý tài nguyên thông tin và quản lý tri thức.
    9- Việc quản lý các cơ quan (tổ chức) thông tin
    10 Sự ước định về chất lượng và số lượng của các kết quả sử dụng
    thông tin thư viện.
    Về hình thức và phương thức đào tạo: ở các nước tiên tiến người ta đã
áp dụng rất sâu rộng công nghệ thông tin vào công tác đào tạo. Chẳng
những các phương tiện hiện đai được sử dụng vào việc giảng dạy mà ngay
cả các hình thức học cũng hết sức phong phú nhờ các công nghệ mới.
Ngoài việc học tại trường tại lớp học sinh còn có thể nhận được sự giáo dục
và đào tạo theo hình thức đào tạo từ xa, học qua thư. học theo các phương
tiện multimedia, học qua mạng và học thông qua vô tuyến truyền hình...
    Hiện nay ở các nước phát triển có hai xu hướng đào tạo chính là đào
tạo đơn mục đích và đào tạo theo chuyên ngành. Đào tạo đơn mục đích là
dạng đào tạo truyền thống chú trọng trang bị cho học viên các kiến thức
nghiệp vụ thư viện thông tin đơn thuần, nói một các khác đó là cách đào tạo
các kỹ năng chuyên ngành thông tin thư viện. Cách đào tạo theo kiểu này bị
coi là cổ điển không năng động. Còn đào tạo theo chuyên ngành là một
dạng đào tạo mới được áp dụng trong những năm gần đây. Trong mô hình
đào tạo này người ta lấy chủ đề chuyên môn (Kinh tế, thương mại, luật
pháp, công nghệ, y tế, nghệ thuật, văn học...) làm trọng tâm. Học sinh sẽ
phải học một chuyên ngành do họ lựa chọn, sau đó học thêm các kiến thức
về chuyên môn nghiệp vụ thông tin thư viện. Đào tạo theo hướng này tỏ ra
thích ứng hơn với xu hướng chuyên môn hoá trong thực tế hiện nay.

                                       12
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


     Để thúc đẩy công tác nghiên cứu, giảng dạy và các hoạt động trong
đào tạo khoa học thông tin thư viện tại nhiều nước phát triển trên thế giới
người ta đã thành lập các hội giáo dục khoa học thư viện thông tin, hội các
trường đào tạo cán bộ thư viện thông tin. Có những hội đã thu hút được
nhiều cơ sở đào tạo và cá nhân tham gia. Tiêu biểu như ALISE (Hội giáo
dục khoa học thư viện thông tin) của Mỹ. Vào năm 1995 hội đã có số thành
viên tham gia đông kỷ lục: 701 cá nhân và 59 trường đào tạo cán bộ thư
viện ở Mỹ và Canađa. Những tổ chức nghề nghiệp chuyên sâu này thực sự
giúp cho các người làm công tác giảng dạy và các cơ sở đào tạo có một
tiếng nói chung, tạo ra nhiều cơ hội để không ngừng nâng cao kiến thức,
cập nhật thông tin, chia sẻ các vấn đề thực tiễn nghề nghiệp đặt ra.
1.2. Công tác đào tao cán bộ thư viện thong tin ở Việt Nam
     So với các nước trên thế giới, việc đào tạo cán bộ thư viện xuất hiện ở
Việt Nam khá muộn. Trong lịch sử, thư viện ở Việt Nam bắt đầu được
thành lập từ thế kỷ Xi nhưng việc đào tạo nghề thư viện chỉ mới thực sự bắt
đầu được tiến hành vào thế kỷ XX. Trước thế kỷ XX, nghề thư viện được
coi là một nghề mang tính kinh nghiệm và kỹ thuật đơn thuần. Công tác
đào tạo cán bộ thư viện không thực sự được chú trọng. Người làm công tác
thư viện thường chỉ được hướng dẫn trước khi đảm trách công việc. Việc
đào tạo cán bộ phụ trách thư viện cho Việt Nam thời kỳ thuộc Pháp được
tiến hành tại Pháp. Tính đến năm 1960, ở Việt Nam mới có một lớp tập
huấn do chuyên gia Liên xô sang giảng dạy.
     Hiện nay công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ thư viện được tiến
hành dưới nhiều hình thức và cấp độ khác nhau. Cũng như các nước trên
thế giới ở Việt Nam có hai hình thái đào tạo: Đào tạo chuyên nghiệp và bồi
dưỡng nghề nghiệp.
     Đào tạo chuyên nghiệp hay còn gọi là đào tạo theo các văn bằng.
Công tác đào tạo chuyên nghiệp nghề TVTT là do các cơ sở đào tạo chuyên



                                        13
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


nghiệp nghề TVTT đảm nhiệm. Về văn bằng hiện tồn tại bốn trình độ cơ
bản sau: trung học, cao đẳng, cử nhân và thạc sĩ.
     Việc đào tạo cán bộ thư viện bậc trung học hiện do các trường trung
học và cao đẳng văn hoá nghệ thuật tại các địa phương đảm nhiệm. Cả
nước có 23 trường trung học và 2 trường cao đẳng văn hoá nghệ thuật
nhưng chỉ có một số trường có đào tạo cán bộ thư viện bậc trung cấp, điển
hình như: các trường văn hoá nghệ thuật Ờ các tỉnh thành phố Hải Phòng,
Thanh Hoá, Bình Định, Đà Năng, Trường Cao đẳng Văn hoá thành phố Hồ
Chí Mỉnh…
     Về trình độ cao đẳng hiện Việt Nam có 2 Trường cao đẳng văn hoá
nghệ thuật tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh tiến hành đào tạo cán bộ
thư viện trình độ cao đẳng.
     Về trình độ đại học hiện có bốn cơ sở đào tạo cán bộ TVTT bậc đại
học (nặng về nghiệp vụ thư viện) bao gồm: Khoa Thư viện Thông tin
Trường Đại học Văn hoá Hà Nội, Bộ môn Thông tin Thư viện trường đại
học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, Khoa Thông tin Thư viện trường
Cao đẳng Văn hoá thành phố HỒ Chí Minh, Khoa Thư viện Thông tin học
trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh. Bên
cạnh đó còn có một số trường đào tạo cán bộ quản trị thông tin như: Khoa
Thông tin học và quản trị thông tin trường Đại học dân lập Đông Đô... Hầu
hết cả bốn trường quốc lập kể trên đều đào tạo cử nhân thư viện dưới hai
hình thức: Chính quy và tại chức. Các sinh viên theo học tại các trường này
đều học chung một chương trình của trường đó không có phân ban theo các
chuyên ngành.
     Về trình độ trên đại học: Việt Nam bắt đầu đào tạo cao học thư viện từ
năm 1991. Hiện nay có hai cơ sở đào tạo thạc sĩ thư viện. Đó là Trường Đại
học Văn hoá Hà Nội và Đại học khoa học xã hội và nhân văn quốc gia
thành phố Hồ Chí Minh. Tại Việt Nam chưa có đào tạo văn bằng tiến sĩ thư
viện học.

                                       14
        Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


       Ở Việt Nam hoạt động đào tạo bồi dưỡng được áp dụng cho các đối
tượng là cán bộ hiện đang công tác trong lĩnh vực TVTT nhằm trang bị các
kiến thức và kỹ năng gắn với chuyên đề cụ thể: Biên mục, phân loại, định
từ khoá, phân tích nhu cầu tin. khai thác sử dụng lnternet, hướng dẫn sử
dụng phần mềm CDS/ISIS, tự động hoá trong công tác thư viện, xử lý bao
gói thông tin, tài liệu điện tử, quản trị mạng, ngôn ngữ Siêu văn bản... Các
khoá học này có thể do các cơ sở đào tạo hoặc một số trung tâm thông tin
và thư viện lớn như: Trung tâm thông tin tư liệu khoa học & công nghệ
quốc gia, Viện thông tin khoa học xã hội, Thư viện quốc gia Việt Nam,
Thư viện quân đội trung ương... Các lớp học này thường được tổ chức
trong thời gian khoảng từ 1 tuần đến 1 tháng nhằm giới thiệu và hướng dẫn
sử dụng những công nghệ mới cho các cán bộ thông tin thư viện hoặc
những người quan tâm đến các vấn đề này. Ngoài ra cũng có một số nơi tổ
chức các đào tạo sơ cấp thư viện dưới dạng các lớp cơ sở thư viện học, cơ
sở thông tin thư viện học. Sau các khoá học này, học viên được cấp chứng
chỉ.




                                         15
        Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


   CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÁN BỘ
                  THÔNG TIN THƯ VIỆN Ở VIỆT NAM


1. Đào tạo chuyên nghiệp
1.1. Đào tạo cán bộ thư viện thông tin bậc trung học và trình độ cao
đẳng.
       Trong thời gian dài từ năm 1961 đến năm 1976 việc đào tạo cán bộ
thư viện bậc trung học do Khoa Thư viện trường Lý luận và nghiệp vụ (Đại
học Văn hoá Hà Nội ngày nay) đảm nhiệm. Đã có 10 khoá với gần 400
sinh viên trung cấp thư viện được đào tạo tại đây. Từ năm 1976, Khoa Thư
viện thôi không đào tạo cán bộ thư viện bậc trung học nữa. Nhiệm vụ này
được chuyển sang cho một số trường văn hoá nghệ thuật của các tỉnh thành
phố.
       Hiện nay có 13 trường cao đẳng và trung học Văn hoá Nghệ thuật
tham gia vào việc đào tạo cán bộ thư viện bậc trung học. Tiêu biểu như
Trường Cao đẳng Văn hoá thành phố Hồ Chí Minh, trường Cao đẳng Văn
hoá Nghệ thuật tỉnh Khánh Hoà và 11 trường trung học khác.
       Hệ trung học học tập trung trong 2 năm. Từ năm 2000 trở về trước các
trường đào tạo cán bộ thư viện bậc trung học tự xây dựng một chương trình
đào tạo riêng. Việc đào tạo cán bộ thư viện bậc trung học không được tiến
hành thường xuyên liên tục tại các trường như việc đào tạo ở các trình độ
khác. Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thông qua Chương trình đào tạo
trung cấp thư viện áp dụng chung cho tất cả các trường. Tuy nhiên do tính
chất không đào tạo thường xuyên nên các trường trung học chưa hình thành
một đội ngũ cán bộ giảng dạy có tính chuyên nghiệp. Phần lớn cán bộ
giảng dạy của các trường trung học văn hoá nghệ thuật được mời thỉnh
giảng từ các thư viện tỉnh, thành phố. Mỗi trường trung học đào tạo cán bộ
thư viện chỉ có một cán bộ chuyên trách về vấn đề tổ chức lớp, mời giáo
viên và trực tiếp tham gia giảng dạy một vài môn học.

                                         16
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


     Tại Trường Cao đẳng Văn hoá thành phố Hồ Chí Minh công tác đào
tạo cán bộ thư viện bậc trung học được mở ở cả hai hệ: chính quy và tại
chức. Ngoài các lớp học được tổ chức tại trường, trường còn liên kết với
một số Sở giáo dục các tỉnh như Sóc Trăng, An Giang, Lâm Đồng để mở
một số lớp trung học thư viện cho các cán bộ thư viện trường học còn rất
cao. Những lớp đã mở thường có sĩ số trên 80 học sinh. Các dạng đào tạo
theo đơn đặt hàng này đã được trường quan tâm từ mấy năm gần đây.
     Về đào tạo cán bộ thư viện trình độ cao đẳng: Hiện nay có hai cơ quan
đào tạo cán bộ thư viện trình độ cao đẳng. Đó là: Trường Cao đẳng Văn
hoá thành phố Hồ Chí Minh và Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội. Việc
đào tạo cán bộ thư viện bậc cao đẳng được tiến hành thường xuyên tại
trường Cao đẳng Văn hoá thành phố Hồ Chí Minh. Trường đã xây dựng
được một chương trình đào tạo hệ cao đẳng riêng áp dụng chung cho cả hệ
chính quy và tại chức. Thời gian đào tạo là 3 năm. Mục tiêu đào tạo trình
độ cao đẳng được trường xác định là: đào tạo cán bộ thư viện – thông tin có
kiến thức và kỹ năng nghiệp vụ bậc cao đẳng, có định hướng chính trị đúng
và phẩm chất đạo đức tốt, có khả năng thực hiện các công đoạn trong quy
trình công nghệ của một trung tâm thư viện – thông tin lớn hoặc có khả
năng quản trị độc lập một cơ sở thư viện – thông tin vừa và nhỏ.
     Để tạo điều kiện cho sinh viên có thể học tiếp ở trình độ cao hơn khi
xây dựng chương trình trường có tính đến sự liên thông với chương trình
đào tạo trình độ đại học (Có thể tham khảo thêm trong phần phụ lục). Tính
đến năm 2004 trường đã chiêu sinh được 8 khoá. Trên thực tế Trường Cao
đẳng nghệ thuật Hà Nội có tham gia vào việc đào tạo cán bộ thư viện
nhưng với hệ cao đẳng trường mới đang chuẩn bị bắt đầu.
1.2. Đào tạo cán bộ thư viện thông tin trình độ đại học.
     Như phần trên đã trình bày hiện nay có 5 cơ sở đào tạo cán bộ TVTT
trình độ đại học. Đó là: Khoa Thư viện Thông tin thuộc Đại học văn hoá
Hà Nội, Bộ môn Thông tin Thư viện thuộc Đại học Khoa học xã hội và

                                       17
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Thông tin thư viện thuộc Trường
Cao đẳng văn hoá thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Thông tin học và quản trị
thông tin thuộc đại học dân lập Đông Đô. Trong các cơ sở đào tạo cán bộ
TBTT trình độ đại học, Khoa Thư viện Thông tin là một khoa đào tạo cán
bộ thông tin thư viện bậc đại học ra đời sớm nhất. Năm 1961 Uỷ ban Kế
hoạch Nhà nước và phủ Thủ tướng đã ra quyết định thành lập khoa Thư
viện. Nhiệm vụ ban đầu của khoa là đào tạo cán bộ thư viện bậc đại học và
trung học.
     Nếu xét trong cả quá trình thì việc đào tạo cán bộ thư viện tại khoa
cũng có thời kỳ bị gián đoạn. Từ khi thành lập đến nay khoa đã chiêu sinh
được 35 khoá chính quy, 8 khoá tại chức tại trường và nhiều lớp tại chức
các đối tượng khắp cả nước. Khoa Thông tin Thư viện Trường Đại học Văn
hoá Hà Nội đã từng thực hiện 3 phương án:
     - Đào tạo cán bộ thư viện cho các Thư viện công cộng đại chúng và
Thư viện khoa tổng hợp. Các khoá 1, 3, 6, 7, 8, 10 đến 31 (tính đến năm
1998) được tổ chức đào tạo trực tiếp tại trường với thời gian là 4 năm, nền
tảng khoa học cơ bản là văn hoá, lịch sử, giáo dục học và tâm lý học.
     - Đào tạo cán bộ thư viện cho các thư viện khoa học và chuyên ngành.
Để thực hiện phương án này, trường đã gửi sinh viên học ba năm khoa học
cơ bản tại các trường đại học khác như: Đại học Tổng hợp Hà Nội, trường
Đại học Bách khoa và trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội. Sau đó về
trường học 1,5 năm nghiệp vụ thư viện, thư mục. Các khoá 2, 4, 5 được áp
dụng đào tạo.
     - Đào tạo cán bộ thư viện cho các thư viện chuyên ngành khoa học tự
nhiên, được thực hiện trực tiếp tại trường trên nền tảng khoa học cơ bản là
toán, lý, hoá với thời gian 4, 5 năm (áp dụng chỉ một lần đối với sinh viên
khoá 9).
     Từ năm 1961 đến năm 1998 mục tiêu đào tạo của trường Đại học Văn
hoá Hà Nội chủ yếu là đào tạo cán bộ cho thư viện khoa học tổng hợp. Từ

                                       18
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


năm 1988 đến nay, trường Đại học Văn hoá Hà Nội chỉ đào tạo cán bộ thư
viện theo một chương trình đan xen giữa các môn chuyên ngành thư viện
thông tin thư mục với các môn khoa học cơ bản khác mà nền tảng là khoa
học xã hội và nhân văn.
     Sau đây chúng tôi xin điểm qua một số nét cơ bản về khoa thông tin
thư viện với công tác đào tạo cán bộ thư viện thông tin hiện nay.
     Về đội ngũ cán bộ, hiện tại Khoa Thư viện Thông tin có 15 cán bộ,
trong đó có 1 phó tiến sĩ, 5 thạc sĩ và 2 người hiện đang theo học sau đại
học. Đây là một số lượng khá khiêm tốn. Với đội ngũ như vậy thực tế là
chưa mạnh và có phần giảm sút so với trước đây (có thời khoa đã từng có 4
tiến sĩ, 6 thạc sĩ). Nhưng bù lại, Khoa Thư viện Thông tin đã thu hút và
nhận được sự cộng tác giúp đỡ của nhiều phó tiến tĩ và các chuyên gia
thông tin thư viện đầu ngành. Nhờ vậy việc đào tạo được đảm bảo hơn.
     Trong một vài năm gần đây, nhà trường đã bắt đầu quan tâm đến việc
nâng cao trình độ bồi dưỡng kiến thức cho giảng viên bằng cách cử cán bộ
đi học sau đại học ở trong và ngoài nước. Năm 1998, Trường đã tổ chức
mời một giáo sư tiến sĩ chuyên ngành thông tin – thư viện của Úc sang
giảng dạy và giới thiệu về những xu hướng mới trong dịch vụ thông tin thư
viện. Hình thức học hỏi trao đổi kinh nghiệm này là một điều kiện tốt giúp
cho các giảng viên có thể cập nhật thêm kiến thức mới, góp phần làm
phong phú hơn chương trình và nội dung các bài giảng của mình.
     Về phương thức đào tạo: Khoa Thư viện Thông tin đã tiến hành
giảng dạy lý thuyết song song với thực hành. Ngoài các buổi học trên lớp,
sinh viên còn được tổ chức đi tham quan, nghe báo cáo ngoại khoá và đi
thực tập (năm thứ ba: 6 tuần, năm thứ tư: 12 tuần) tại các thư viện và trung
tâm thông tin. Với những môn học gắn liền với xử lý tài liệu (như mô tả
thư mục, phân loại, định chủ đề, mô tả nội dung tài liệu, tổ chức kho…),
tìm tin, lưu trữ tin,… các giảng viên luôn luôn chú trọng cho sinh viên thực
hành tại chỗ. Từ năm 1996, Khoa Thư viện Thông tin đã được trường cho

                                       19
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


phép tổ chức một thư viện thực hành riêng. Nhờ vậy việc thực hành của
sinh viên có nhiều thuận lợi và chất lượng đào tạo cũng được nâng lên.
     Không chỉ đơn thuần dừng lại ở việc dạy kiến thức, dạy nghề, thực
hiện phương châm của Bộ giáo dục và đào tạo “Biến quá trình đào tạo
thành quá trình tự đào tạo”, Khoa Thông tin – Thư viện đã rất chú trọng
đến việc hướng dẫn cho sinh viên tham gia vào công tác nghiên cứu khoa
học. Ngoài việc định kỷ ra các đề tài khoá luận, luận văn cho sinh viên năm
thứ ba, thứ tư, các giảng viên còn hướng dẫn cho sinh viên thực hiện nhiều
đề tài nghiên cứu tập trung vào những vấn đề mới, những vấn đề cấp bách
của ngành. Hội thảo khoa học của sinh viên được tổ chức hàng năm. Một
số em đã đạt giải cao trong cuộc thi nghiên cứu khoa học toàn quốc.
     Bên cạnh phương thức đào tạo, một yếu tố không thể không nhắc đến
khi bàn về công tác đào tạo của bất cứ một ngành nghề nào là: chương trình
đào tạo.
     Về chương trình đào tạo: Khoa học Thông tin – Thư viện đã cố gắng
không ngừng đổi mới và hoàn thiện chương trình đào tạo của mình trong
suốt quá trình hoạt động từ trước đến nay. Đặc biệt từ năm 1992, với việc
đổi tên khoa thư viện thành thông tin, thư viện, nhiều môn học đã được xây
dựng và triển khai đưa vào giảng dạy như: Tin học, thông tin học đại
cương, định chủ đề tài liệu, mô tả nội dung tài liệu, tìm tin và phổ biến
thông tin… Trong vài năm gần đây học sinh còn được học thêm môn tin
học tư liệu, hệ quản trị CDS/ISIS và công nghệ thông tin… nhiều chuyên
đề mới được mở ra và chương trình đào tạo mới đã phần nào đáp ứng được
yêu cầu cảu thực tế. Năm 2002, trước yêu cầu bức thiết của thực tế và sự
biến động cơ bản của nghề thư viện thông tin dưới sự tác động của công
nghệ thông tin và truyền thông, theo quyết định số 3440/QĐ BGD&ĐT của
Bộ giáo dục và đào tạo Hội đồng ngành thư viện đã được thành lập để xây
dựng chương trình khung giáo dục đại học chuyên ngành thư viện thông tin
cho các cơ sở đào tạo nghề thư viện thông tin ở Việt Nam. Dưới sự chủ trì

                                       20
        Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


của trường Đại học Văn hoá Hà Nội, với sự tham gia của 19 nhà chuyên
môn, các cán bộ giảng dạy và các chuyên gia đầu ngành trong cả nước, một
chương trình khung đã được xây dựng với 120 đơn vị học trình, 27 môn
học (gồm 10 môn cơ sở và 17 môn chuyên ngành) và 16 nhóm học phần tự
chọn.
     Khi xây dựng chương trình khung Hội đồng ngành thư viện đã xác
định mục tiêu đào tạo cán bộ thư viện thông tin ở bậc đại học có trình độ lý
luận và nghiệp vụ về tổ chức các hoạt động trong các thư viện và cơ quan
thông tin tư liệu ở trung ương và địa phương, về kiến thức có khả năng nắm
vững cơ sở lý luận và phương pháp luận của thư viện học, thông tin học và
thư mục học; về kỹ năng có kỹ năng thực hành thành thạo các khâu nghiệp
vụ của hoạt động thư viện, thông tin tư liệu có khả năng sử dụng công nghệ
thông tin hiện đại. Nếu đối chiếu với những yêu cầu đặt ra đối với người
cán bộ thư viện thông tin đã phân tích ở trên mục tiêu này đã bao quát và
đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn.
     Trong chương trình mới nhiều môn học và học phần mới đã được xây
dựng: Pháp chế thư viện thông tin, Nhập môn công nghệ thông tin, mạng
thông tin máy tính, thư viện điện tử, xuất bản điện tử. Một số môn học đã
được tài thành lập như sử sách và thư viện. Tên gọi và nội dung một số
môn học đã được mở rộng đổi mới như: Biên mục mô tả, Tổ chức và bảo
quản kho tài liệu, Định chủ đề và định từ khoá, Lưu trữ thông tin và bộ máy
tra cứu…
     Với những bổ sung và sự đổi mới này chương trình khung đã phần
nào được cập nhật, rút ngắn khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn, đón đầu
được sự phát triển của nghề nghiệp trong tương lai.
     Về cơ sở vật chất: Trong những năm gần đây, để bắt kịp với sự phát
triển của công nghệ thông tin và để trang bị cho sinh viên những kiến thức
và kỹ năng sử dụng công nghệ mới Trường Đại học Văn hoá Hà Nội đã xây
dựng được một dàn máy tính với gần bốn chục máy. Khoa thông tin thư

                                         21
        Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


viện cũng có máy riêng. Nhà trường đã cho phép một số bộ phận nối mạng
Internet để phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu và học tập của giáo
viên cũng như học sinh. Bên cạnh đó Khoa thông tin thư viện còn tổ chức
riêng một thư viện thực hành với trên 6000 tài liệu, hơn 300 tư liệu nghiệp
vụ và hàng trăm các khoá luận, luận văn của sinh viên các khoá. Đó chính
là những phương tiện hỗ trợ rất đắc lực cho việc đào tạo của trường và của
khoa.
     Về công tác nghiên cứu khoa học: Để không ngừng cập nhật kiến
thức mới và thực hiện phương châm gắn liền lí luận với thực tiễn, các cán
bộ giảng viên trong khoa đã có nhiều cố gắng tích cực tham gia các đề tài
nghiên cứu khoa học. Một số đề tài đã và sẽ được nghiệm thu và đem áp
dụng vào thực tiễn góp phần nâng cao chất lượng các bài giảng.
     Đó là những mặt mạnh của Khoa Thư viện Thông tin so với một số cơ
sở đào tạo khác. Tuy nhiên cũng còn không ít điều tồn tại trong công tác
đào tạo khiến chúng ta không thể bỏ qua được. Điều nổi cộm kiến chúng ta
đã nhiều lần băn khoăn trăn trở là mặc dù khoa thông tin – thư viện đã có
hơn 40 năm đào tạo nhưng vẫn chưa xây dựng được một hệ thống các giáo
trình phong phú và đầy đủ, vẫn có những môn học, học sinh chỉ hoàn toàn
học theo những lời giảng của thầy cô.
     Các tài liệu tham khảo chuyên ngành vốn không có nhiều lại nằm
phân tán trong nhiều cơ quan thông tin thư viện. Những tư liệu viết về
những vấn đề mới phần lớn là của các nước ngoài. Trong khi đó vì kinh phí
hạn hẹp, hiện nay Trường Đại học Văn hoá Hà Nội chưa nhập bất cứ một
tạp chí ngoại văn nào. Điều kiện trao đổi, sưu tập và dịch thuật các tư liệu
tham khảo chưa được quan tâm thoả đáng. Vì thế không nói đến học sinh
mà ngay cả giảng viên cũng gặp không ít khó khăn khi cần đọc và tham
khảo tài liệu. Việc nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên chủ yếu phụ thuộc
vào sự cố gắng nỗ lực của các cá nhân.



                                         22
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


     Về phương thức đào tạo, mặc dù có quan tâm đến việc cho học sinh đi
tìm hiểu thực tế nhưng do kinh phí hạn hẹp nên học sinh ít có điều kiện tiếp
xúc với các cơ quan thông tin thư viện. Thật đáng buồn là trong nhiều năm
nay, học sinh chuyên ngành thông tin – thư viện mặc dù đã học đến năm
thứ ba học kỳ hai chưa một lần được đến thư viện quốc gia hoặc các trung
tâm thông tin, thư viện lớn. Tinh thần và ý thức nghề nghiệp phải chăng vì
thế chưa được bồi đắp trong sinh viên?
     Bên cạnh đó, việc lên lớp của các giảng viên hiện tại vẫn chỉ có một
hình thức đơn điệu chủ yếu là giảng viên nói và sinh viên nghe với công cụ
quen thuộc là bảng đen và phấn trắng. Việc sử dụng và áp dụng các phương
tiện và công nghệ hiện đại trong công tác giảng dạy vẫn còn xa vời đối với
các giảng viên Khoa Thông tin – Thư viện.
     Như ở trên đã đề cập, trong những năm gần đây, Khoa Thông tin –
Thư viện đã được tổ chức lại một thư viện thực tập riêng và thư viện thực
hành này đã hỗ trợ khá đắc lực cho công tác đào tạo của khoa nhưng thư
viện đó nhìn chung cũng chưa thật xứng đáng với yêu cầu và tính chất của
nó. Thư viện mới chỉ đơn thuần là một nơi chứa các sách và tài liệu thực
hành phục vụ cho các môn xử lý tài liệu.
     Khoa Thông tin thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn Hà Nội cũng là một cơ sở đào tạo lớn ở Việt Nam.
     Tiền thân của Bộ môn Thông tin Thư viện học Trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn là tổ thư viên thuộc khoa Sử trường Đại học Tổng
hợp Hà Nội. Năm 1973, theo quyết định của Bộ Đại học và Trung học
chuyên nghiệp việc đào tạo cán bộ thư viện bậc đại học được chuyển giao
từ trường lý luận nghiệp vụ sang Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tổ thư viện
thuộc khoa Sử của trường.
     Khoảng trong 10 năm từ 1973 đến 1982 tổ thư viện Trường Đại học
Tổng hợp Hà Nội đã đào tạo được 7 khoá với 250 sinh viên tốt nghiệp ra
trường. Từ năm 1982, việc đào tạo cán bộ thư viện bậc đại học lại được

                                       23
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


trao trả về Trường Đại học Văn hoá Hà Nội. Từ đó cho đến năm 1994 việc
đào tạo cán bộ thư viện bậc đại học bị gián đoạn. Trong thời gian này trung
tâm thông tin của trường có thỉnh thoảng mở các lớp tại chức. Có 117 học
sinh đã tốt nghiệp đại học tại chức tại trung tâm trong 11 năm đó. Năm
1995, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Trường Đại
học Quốc gia Hà Nội ra quyết định cho thành lập lại tổ bộ môn thông tin
thư viện trực thuộc ban giám hiệu. Từ đó đến nay, Bộ môn Thông tin Thư
viện liên tục tuyển sinh đào tạo chuyên ngành thông tin thư viện. Ban đầu
Bộ môn đã nhận học sinh từ mọi khối thi A, B, C, D. Từ năm 1998 Bộ môn
chỉ nhận học sinh thi tuyển đầu vào 2 khối: C và D.
     Về đội ngũ giáo viên, cán bộ giảng dạy: Bộ môn hiện có 19 người,
trong đó có 2 tiến sĩ, 4 giáo viên kiêm nhiệm trong trung tâm thông tin của
trường và các giáo viên thỉnh giảng. Tính đến nay bộ môn đã chiêu sinh
được 10 khoá. Bộ môn cũng đã mở được một số lớp tại chức ở Hà Nội và
địa phương.
     Được sự quan tâm đầu tư của nhà trường, Bộ môn đã xây dựng được
một chương trình đào tạo chuyên ngành thông tin thư viện với 120 đơn vị
học trình, chia làm 3 khối: Khối kiến thức cơ bản, khối kiến thức nghiệp vụ
và khối kiến thức nghiệp vụ chuyên sâu. Nhìn chung chương trình do Bộ
môn xây dựng đã cập nhật được các vấn đề mới và chú trọng trang bị cho
sinh viên các kiến thức và kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin hiện đại.
Việc phân bổ chương trình cân đối giữa ba phần: Kiến thức thư viện thư
mục, ứng dụng tin học và kiến thức thông tin tư liệu. (Có thể tham khảo
thêm trong phần phục lục 1). Ngoài các giờ học lý thuyết và thực hành trên
lớp sinh viên của trường đại học khoa học xã hội và nhân văn quốc gia phải
đi thực tập 2 tháng tại các cơ quan thông tin, thư viện (ít hơn so với Trường
Đại học Văn hoá Hà Nội và Khoa Thư viện Thông tin học của trường Khoa
học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh).



                                        24
        Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


       Về cơ sở vật chất: do được tổ chức đào tạo trong môi trường của đại
học quốc gia nên trang thiết bị và cơ sở vật chất khoa được sử dụng trong
quá trình đào tạo tương đối đầy đủ và hiện đại. Trường Đại học quốc gia
Hà Nội đã nối mạng Internet từ năm 1998 và riêng bộ môn thông tin thư
viện cũng được trang bị máy tính và máy quét Scaner. Tuy bộ môn đến nay
chưa có một thư viện thực hành riêng nhưng được sự hỗ trợ đắc lực của
trung tâm thông tin tư liệu của trường nên việc thực hành của sinh viên
nhìn chung là đảm bảo.
       Quan hệ hợp tác của bộ môn với các bộ phận khác ở trong trường và
các cơ quan trong ngành nhìn chung rất mở rộng. Nhờ vào vị thế và uy tín
của trường nên quan hệ hợp tác của bộ môn với nước ngoài cũng được triển
khai. Việc cử và tạo điều kiện cho cán bộ giảng viên của bộ môn đi học và
tham quan ở nước ngoài để nâng cao trình độ rất dễ dàng và có nhiều thuận
lợi.
       Về phương thức đào tạo: nhìn chung Bộ môn Thông tin Thư viện
Trường Đại học Khoa học và Nhân văn cũng không có gì khác xa lắm so
với Trường Đại học Văn hoá Hà Nội. Do thời gian đào tạo không liên tục
nên số lượng các giáo trình đã được biên soạn tại bộ môn cũng không
nhiều. Song vì nhiều lý do khác nhau, một phần do phương tiện vật chất
của trường Đại học Quốc gia Hà Nội tương đối đầy đủ hiện đại và một
phần do bộ môn chú trọng đào tạo công nghệ mới nên khả năng sử dụng
các phương tiện hiện đại và công nghệ thông tin của các sinh viên tốt
nghiệp của bộ môn có phần cao hơn so với các cơ sở đào tạo khác.
       Bên cạnh hai cơ sở đào tạo kể trên Khoa thư viện và thông tin học của
Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh là
một trong năm cơ sở đào tạo chuyên nghiệp ngành thông tin thư viện lớn ở
nước ta. Khoa được thành lập năm 1984. Đội ngũ cán bộ giảng dạy hiện có
8 người, trong đó chỉ có 1 tiến sĩ, 3 thạc sĩ. Về chương trình đào tạo, hiện
khoa đã xây dựng được một chương trình đào tạo chuyên ngành thư viện

                                         25
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


thông tin gồm 2 bộ phận: các môn chuyên ngành bắt buộc, các môn tự
chọn. (Có thể tham khảo thêm trong phần phụ lục). Chương trình này đã
cập nhật được những môn học mới, gắn liền với công nghệ hiện đại. Nhưng
bên cạnh đó không ít các môn hiện nay hầu hết các trường đào tạo ngành
thư viện thông tin đều rút xuống thành chuyên đề thì khoa vẫn để nguyên
chẳng hạn như: Thư mục văn hoá nghệ thuật, thư mục khao học kỹ thật,
công tác địa chí… Điều đáng chú ý là trong chương trình đào tạo của Khoa
Thư viện Thông tin học đã triển khai đưa đào tạo về lưu trữ học cho sinh
viên của mình. Với các môn học tự chọn, khoa xây dựng tương đối hợp lý,
bổ sung thiết thực cho các môn học bắt buộc. Chẳng hạn như: các phần
Bảng phân loại BBK của thư viện thành phố Hồ Chí Minh, Bảng phân loại
PTB, Bảng phân loại 19 dãy.. Các chuyên đề về thông tin học được nêu
trong chương trình tương đối phong phú và phù hợp với thực tế. Ngoài việc
học lý thuyết và thực hành ở trên lớp, cũng giống như các cơ sở đào tạo
khác học sinh của khoa còn phải đi thực tập tại các cơ sở cơ quan thông tin,
thư viện.
     Công tác biên soạn giáo trình, tài liệu tham khảo của trường bắt đầu
được triển khai trong những năm gần đây. Số lượng các giáo trình đã được
biên soạn cũng còn rất hạn chế.
     Ở Việt Nam, Khoa thư viện thuộc Trường Cao đẳng văn hoá cũng
đóng góp một phần vào việc đào tạo cán bộ TVTT trình độ đại học. Trường
Cao đẳng Văn hoá thành phố Hồ Chí Minh được thành lập năm 1976 trực
thuộc Bộ Văn hoá thông tin và Khoa Thư viện đã được thành lập ngay sau
khi trường có quyết định thành lập. Do chưa có đủ tư cách pháp nhân để
đào tạo bậc đại học nên về chương trình đào tạo và nội dung đào tạo trường
áp dụng theo Trường Đại học Văn hoá Hà Nội. Bằng Đại học chính quy và
tại chức đều do Trường Đại học Văn hoá Hà Nội cấp.




                                        26
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


     Khoa hiện có 6 người, trong đó có 5 thạc sĩ, 4 giảng dạy kiêm nhiệm
trong trường và mời cộng tác viên. Giáo trình chủ yếu là sao chụp và mua
của các trường khác. Đối tượng tuyển sinh là khối C.
     Tất cả bốn cơ sở đào tạo trên dù tên gọi có khác nhau, chương trình
đào tạo có khác nhau đôi chút nhưng cùng hướng tới mục tiêu đào tạo cán
bộ TVTT với nội dung cốt lõi là đào tạo cán bộ thư viện. Cùng tham góp
vào việc đào tạo cán bộ TVTT bậc đại học còn có Khoa Thông tin học và
quản trị thông tin thuộc Đại học Đông Đô. Mục tiêu đào tạo của cơ sở đào
tạo này có phần khác biệt hơn so với bốn cơ sở nói trên.
     Khoa Thông tin học và quản trị thông tin được thành lập ngày 14
tháng 9 năm 1996 cùng với việc thành lập Trường Đại học Dân lập Đông
Đô. Mục tiêu đào tạo của khoa là đào tạo các cử nhân khoa học có trình độ
lý luận về khoa học thông tin và nghiệp vụ chuyên môn về quản trị thông
tin, đáp ứng ngành rộng, có khả năng làm việc trong các tổ chức thông tin,
tư liệu, thư viện, văn phòng thuộc mọi lĩnh vực quản lý nhà nước, kinh tế
thương mại, khoa học, công nghệ giáo dục và đào tạo. Thời gian học cũng
là 4 năm. Sinh viên được tuyển đầu vào với 3 khối: A, D, và C.
     Là một cơ sở đào tạo dân lập nên phần lớn đội ngũ cán bộ giảng dạy
của khoa hiện nay là kiêm nhiệm thỉnh giảng từ các cơ quan và các cơ sở
đào tạo khác.
     Về chương trình đào tạo Khoa Thông tin học và quản trị thông tin đã
xây dựng được một chương trình độc lập tương đối hoàn chỉnh với 47 đơn
vị học trình cho khối kiến thức cốt lõi, 55 đơn vị học trình cho khối kiến
thức chuyên môn và 21 đơn vị học trình cho các chuyên đề tự chọn (Có thể
tham khảo thêm trong phần phụ lục).
     Về cơ sở vật chất do mới được thành lập và chưa có được trụ sở cố
định nên khoa chưa có điều kiện đầu tư nhiều.
     Vì những sai sót mắc phải, với lý do kiện toàn tổ chức và đảm bảo
chất lượng đào tạo, Khoa Thông tin học và quản trị thông tin cũng đã bị Bộ

                                       27
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


Giáo dục và đào tạo không cho phép đào tạo cán bộ thông tin học trong
một thời gian. Tuy nhiên nếu xét tới công tác đào tạo cán bộ TVTT bậc đại
học ở Việt Nam chúng ta cũng không thể không nhắc tới cơ sở đào tạo này.
1.3. Đào tạo cán bộ thư viện trình độ thạc sĩ
    Hiện nay ở Việt Nam có hai cơ sở đào tạo cán bộ thư viện – thông tin
trình độ thạc sĩ. Đó là Trường Đại học Văn hoá Hà Nội và Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh. Trường Đại học
Văn hoá Hà Nội đã có bề dày đào tạo thạc sĩ khoa học thư viện 13 năm còn
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh bắt
đầu đào tạo thạc sĩ thư viện học từ năm 2003.
    Năm 1991, tại Trường Đại học văn hoá Hà Nội, ngay sau khi Khoa
Sau đại học được thành lập trường đã tuyển sinh cao học thư viện. Khoa
Sau Đại học chịu trách nhiệm quản lý, tuyển sinh, theo dõi đầu vào, đầu ra
đảm nhiệm các quy chế đào tạo, nội dung chương trình đào tạo. Chất lượng
đào tạo thạc sĩ thông tin thư viện ở Trường Đại học Văn hoá Hà Nội đang
ngày càng được nâng cao. Tính đến nay Trường Đại học văn hoá Hà Nội đã
có 6 khoá học viên ra trường với 113 người được cấp bằng thạc sĩ khoa học
thư viện. Nhiều người trong số họ đã và đang trở thành những cán bộ chủ
chốt, hoặc cán bộ nghiệp vụ hàng đầu của các cơ quan thông tin thư viện
trong cả nước.
    Chương trình đào tạo cao học thư viện đã được xây dựng và được nhà
trường chính thức thông qua năm 1998 (có thể tham khảo thêm trong phần
phụ lục). Theo quy định hiện hành học sinh muốn theo học phải thi đầu vào
ba môn: Cơ sở thông tin học, triết học, và ngoại ngữ chường trình C. Ngoài
các kiến thức chuyên ngành học viên còn phải học thêm các môn học bổ trợ
như: phương pháp nghiên cứu khoa học, phương pháp giảng dạy đại học,
triết học… Việc đào tạo thạc sĩ thư viện được tiến hành dưới dạng đào tạo
tại chức. Thời gian kéo dài 3 năm. Mỗi năm học 4 tháng chia làm 2 kỳ.



                                       28
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


Cuối khoá học các học viên phải hoàn thành một luận văn nghiên cứu về
một vấn đề nào đó do mình tự chọn.
     Chương trình đào tạo cao học thông tin – thư viện đã được cải tiến
một bước, giúp học viên tiếp cận được những thành tựu nghề nghiệp hiện
đại: thiết kế các CSDL, ứng dụng các chuẩn nghiệp vụ quốc tế, khai thác
mạng thông tin – thư viện thông dụng trong nước và quốc tế,… Đội ngũ
cán bộ giảng dạy sau đại học tiếp tục phát triển do nhà trường đã chú ý tới
hợp tác với các chuyên gia trong lĩnh vực có liên quan: công nghệ thông
tin, quản lý,… cơ sở vật chất từng bước được đầu tư và phát triển. Đặc biệt
kỳ thi tuyển sinh sau đại học được tổ chức ngày càng chặt chẽ, nghiêm túc
hơn, đảm bảo nâng cao chất lượng đầu vào của đào tạo sau đại học.
     Tuy nhiên so với yêu cầu phát triển của sự nghiệp thư viện thông tin
trong giai đoạn đổi mới, đào tạo sau đại học vẫn còn bộc lộ khá nhiều điểm
yếu, làm hạn chế đáng kể chất lượng đào tạo. Đa số thạc sĩ thư viện thông
tin được đào tạo trong nước vẫn chỉ thành thạo các kỹ năng nghiệp vụ
truyền thống, yếu về các kỹ năng tổ chức các sản phẩm và dịch vụ thông
tin, tài liệu tỏng xã hội toàn cầu hoá ngày nay. Số lượng đề tài luận văn tốt
nghiệp có liên quan trực tiếp tới các kỹ năng xử lý thông tin, tài liệu hiện
đại chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ, chỉ chiếm khoảng 20% trong tổng số đề tài luận
văn tốt nghiệp đã bảo vệ thành công.
     Về chương trình cao học thông tin thư viện dù đã được chỉnh lý năm
2000 và có những bước tiến rất lớn so với chương trình cũ (1991), nhưng
nhìn chung vẫn nặng về lý thuyết, nhiều kỹ năng nghề nghiệp hiện đại chưa
được chú ý đúng mức, thậm chí có nhiều phần còn trùng lặp với chương
trình ở bậc đại học. Có lẽ do chưa ổn định được chương trình và nội dung
giảng dạy nên đã quá trình đào tạo liên tục 13 năm mà học viên vẫn phải
“học chay” tất cả các môn chuyên ngành đều chưa có giáo trình.
     Về phương pháp giảng dạy dù đã được cải tiến một bước, nhưng vẫn
còn lạc hâu, nặng nề về thuyết trình lý thuyết, ít hình ảnh trực quan và đặc

                                        29
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


biệt là rất ít thời gian thực hành, thảo luận. Môn nặng về thực hành nhất
trong chương trình cao học là “Mạng thông tin thư viện cũng chỉ đạt tỷ lệ
1/3 giờ học được thực hành. Về phía học viên, phần lớn chưa chủ động,
tích cực trong học tập. Mặc dù khi tuyển vào học viên phải thi ngoại ngữ
nhưng nhìn chung khả năng sử dụng ngoại ngữ của các thạc sĩ thư viện học
còn yếu, hạn chế trong việc tham khảo tài liệu nước ngoài.
     Về cơ sở vật chất: Nhìn chung còn thiếu và điều đó đã ảnh hưởng khá
lớn tới chất lượng giảng dạy và học tập. Khoa Sau đại học trường Đại học
Văn hoá Hà Nội đã có một phòng máy gồm 1 máy chủ và 7 máy tính cá
nhân, tuy nhiên chất lượng máy tính kém, dung lượng bộ nhớ nhỏ, cấu hình
không tương thích với việc khai thác các dịch vụ thông tin hiện đại do phần
lớn các máy được mua từ những năm 1996 – 1997. Lượng máy quá ít, chất
lượng kém đã làm giảm hiệu quả của các giờ thực hành vốn đã ít ỏi. Hệ
thống tài liệu tham khảo chuyên ngành rất nghèo nàn. Về đội ngũ cán bộ
giảng dạy sau đại học tương đối đông đảo với hơn 20 cộng tác viên nhưng
phần lớn được đào tạo ở Nga từ năm 1995 trở về trước nên còn yếu về kỹ
năng tổ chức các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện hiện đại.
     Trường Đh Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh
trên thực tế mới bắt đầu triển khai đào tạo thạc sĩ thư viện học. Chương
trình đào tạo của trường này về cơ bản giống như chương trình của trường
Đại học Văn hoá Hà Nội. Do việc bố trí thời gian chưa thật thoả đáng nên
số lượng người tham dự khoá đào tạo còn rất hạn chế.
2. Đào tạo bồi dưỡng
     Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thư viện, các trường đào tạo
cán bộ thư viện và các thư viện, cơ quan thông tin lớn ở Việt Nam đã rất
quan tâm đến việc tổ chức đào tạo bồi dưỡng nghề thư viện. Trong phạm vi
tiểu mục này chúng tôi tập trung vào tìm hiểu công tác đào tạo bồi dưỡng
tại một số cơ quan tiêu biểu trong ngành thư viện thông tin hiện nay.



                                       30
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


2.1. Thư viện Quốc gia Việt Nam
    Thư viện quốc gia Việt Nam được thành lập năm 1957 trên cơ sở Thư
viện Trung ương xứ Đông Dương. Đây là thư viện lớn nhất toàn quốc. Thư
viện quốc gia có quan hệ với gần 300 tổ chức, thư viện của gần 100 nước
trên thế giới. Thư viện quốc gia được đặt dưới sự chỉ đạo của Bộ Văn hoá
thông tin. Tuy không phải là cơ sở đào tạo chuyên nghiệp nhưng thư viện
quốc gia đã đóng một phần không nhỏ vào việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ
thư viện ở Việt Nam. Một trong những chức năng quan trọng thư viện quốc
gia hiện đang đảm nhiệm là đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho hệ thống thư
viện công cộng.
     Ngay từ khi mới thành lập, Thư viện quốc gia đã tổ chức được nhiều
lớp học sơ cấp, trung cấp cho các cán bộ thư viện tỉnh thành phố và thư
viện cơ sở. Chỉ tính riêng cuối thập kỷ 50 đầu thập kỷ 60 Thư viện quốc gia
đã tổ chức được trên 70 lớp ngắn hạn cho hơn hai nghìn người cho các thư
viện công đoàn, thư viện các lực lượng vũ trang, thư viện trường học, thư
viện các hợp tác xã nông nghiệp và các cơ quan. Năm 1961 khi cơ sở đào
tạo chuyên nghiệp là Khoa thư viện Trường lý luận và nghiệp vụ được
thành lập và sau đó nhiều cơ sở đào tạo chuyên ngành thư viện thông tin
xuất hiện, tính chất đào tạo của thư viện quốc gia thay đổi và hiện nay chủ
yếu thư viện chỉ còn đào tạo với hình thái đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ.
Với vị trí thư viện đầu ngành có trách nhiệm hướng dẫn và chỉ đạo nghiệp
vụ cho các thư viện địa phương nên việc đào tạo lại nhằm nâng cao trình độ
nghiệp vụ cho cá nhân cán bộ thư viện tỉnh, thành phố, huyện thị và đặc
biệt là đào tạo cán bộ tin học cho toàn hệ thống thư viện công cộng là một
trong những công tác trọng tâm cảu thư viện quốc gia. Hiện nay phòng
quản lý nghiệp vụ được giao chịu trách nhiệm trước ban giám đốc về khâu
công tác này. Theo định hướng của ban giám đốc thư viện quốc gia Thư
viện sẽ thường xuyên tiến hành việc mở những lớp chuyên đề về các vấn đề
mới trong lĩnh vực công tác thư viện như chính sách nhà nước về công tác

                                       31
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


thư viện, đầu tư và kinh tế trong công tác thư viện, tin học hoá công tác thư
viện và các đầu vào thư viện… bên cạnh việc mở định kỳ các lớp và vấn đề
kỹ thuật cơ bản trong công tác thư viện như xử lý tài liệu, làm tờ khai tiền
máy, ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác thư viện. Những lớp học
này thường được tổ chức dưới dạng lớp học tập trung với thời gian từ 1
tuần đến 1 tháng tuỳ theo yêu cầu và tính chất của


     Thiếu trang 55


     thông tin và hình thành “Văn hoá thông tin” ở nước ta có một ý nghĩa
quốc sách, chiến lược hàng đầu trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng
thông tin quốc gia và hội nhập vào xã hội thông tin toàn cầu sắp tới”, ông
Tạ Bá Hưng, Giám đốc Trung tâm – luôn rất quan tâm đến việc đào tạo bồi
dưỡng cán bộ thông tin, thư viện trong toàn hệ thống. Trung tâm đã đi đầu
tiên phong trong việc tổ chức được nhiều lớp học về vấn đề áp dụng công
nghệ hiện đại vào hoạt động thông tin tư liệu và những vấn đề mới được
nhiều người hoan nghênh như: “Marketing trong hoạt động thông tin tư
liệu”, “Xây dựng và quản trị CSDL tư liệu bằng phần mềm CDS/ISIS”,
“Xử lý bao gói thông tin”, “Tổ chức đảm bảo thông tin”, “Khai thác và sử
dụng nguồn lực thông tin”, “Khai thác các dịch vụ trên Internet”, “Quản
trị thông tin trong môi trường điện tử”, “Cài đặt và sử dụng Winisis”,
“Xây dựng tiềm lực, tổ chức và khai thác các nguồn lực thông tin khoa học
và công nghệ”…
     Hàng năm Trung tâm được Bộ Khoa học cung cấp một khoản kinh phí
lớn cho việc mở các lớp học bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ. Ngoài ra Trung
tâm còn chủ động trong việc hợp tác với nước ngoài trong việc tổ chức các
khoá đào tạo. Trong khuôn khổ Dự án Mạng thông tin cho tương lai, từ
năm 2001 đến 2004, Trung tâm đã phối hợp với trường quản trị thông tin
thuộc Đại học tổng hợp Victoria của Niu Dilân tổ chức 9 lớp tập huấn với

                                        32
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


những chuyên đề về việc ứng dụng các công nghệ mới được toàn ngành hết
sức quan tâm như: Chính sách thông tin quốc gia và nhu cầu thông tin quốc
gia, Số hoá các nguồn tin, Dịch vụ thông tin, Phân tích nhu cầu tin, Trình
bày thông tin đa phương tiện, Kỹ thuật số hoá nâng cao, Kỹ thuật đánh giá
các dịch vụ thông tin…
    Trên thực tế đối tượng tham gia các lớp tập huấn tại Trung tâm đã
không chỉ dừng lại trong phạm vi hệ thống thư viện khoa học kỹ thuật và
các cơ quan thông tin mà còn mở rộng ra trong toàn ngành thư viện thông
tin và thu hút cả giảng viên cảu các trường đại học. Tính chất các lớp đào
tạo bồi dưỡng của trung tâm cũng hết sức đa dạng với các lớp cơ sở,
chuyên đề và nâng cao.
2.3. Viện thông tin khoa học xã hội.
    Viện thông tin khoa học xã hội trực thuộc Trung tâm thông tin khoa
học xã hội và nhân văn quốc gia hình thành trên cơ sở sát nhập Ban thông
tin khoa học xã hội và Thư viện khoa học xã hội.
    Là thư viện lớn trong Trung tâm, viện giữ vai trò và nhiệm vụ hướng
dẫn chỉ đạo nghiệp vụ cho các thư viện các Viện nghiên cứu trong trung
tâm. Thỉnh thoảng viện có tổ chức lớp bồi dưỡng tập huấn cho các cán bộ
làm công tác thư viện, thông tin trong toàn Trung tâm. Các lớp bồi dưỡng
đó thường tập trung vào những chủ đề sau:
    - Tổ chức công tác thông tin khoa học xã hội.
    - Các nguồn thông tin tài liệu khoa học xã hội.
    - Tổ chức các tài liệu khoa học xã hội.
    - Xuất bản các ấn phẩm thông tin khoa học xã hội.
    - Tin học trong công tác thông tin khoa học xã hội…
    Tuy nhiên ảnh hưởng của Viện thông tin khoa học xã hội trong lĩnh
vực bồi dưỡng đào tạo nghề thư viện chủ yếu chỉ dừng lại trong phạm vi
các cán bộ thư viện thông tin công tác tại Trung tâm thông tin khoa học xã
hội và nhân văn quốc gia.

                                       33
        Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


2.4. Trung tâm thông tin thư viện y học trung ương
       Trung tâm thông tin thư viện y học trung ương của Bộ y tế được thành
lập năm 1979 trên cơ sở Thư viện y học trung ương, hiện giữ vị trí trung
tâm thông tin thư viện đầu ngành của hệ thống thư viện y dược ở Việt
Nam. Trong những năm qua để phát huy vai trò đứng đầu hệ thống, Trung
tâm thông tin y học trung ương đã thường xuyên mở lớp đào tạo bồi dưỡng
nghiệp vụ và chuyển giao công nghệ mới cho các cơ quan thông tin thư
viện trong ngành y. Nội dung bồi dưỡng được xoay quanh các chủ đề chính
sau:
       - Các nguồn tài liệu và cung cấp tài liệu y dược.
       - Đề mục chủ đề y dược và công tác thư mục y dược.
       - Hệ thống phân loại ngành y.
       - Mô tả theo quy tắc ISBD.
       - Ứng dụng tin học vào hoạt động thông tin y dược.
       - Công tác người đọc và người dùng tin y dược.
       Những lớp học này thường được tổ chức trong vòng 1 tuần và không
có cấp chứng chỉ cuối khoá. Ảnh hưởng của trung tâm thông tin thư viện y
học trung ương vấn đề đào tạo bồi dưỡng cũng chủ yếu chỉ dừng lại trong
phạm vi ngành y.
2.5. Thư viện trung ương quân đội
       Thư viện Quân đội (TVQĐ) thành lập năm 1957. Đó là một thư viện
khoa học chuyên ngành về quân sự cấp nhà nước, thư viện trung tâm đầu
ngành của hệ thống thư viện trong quân đội, một trong những trung tâm
văn hoá, giáo dục, khoa học trong quân đội. Một trong hai chức năng quan
trọng của Thư viện Quân đội là tham mưu giúp Bộ Quốc phòng và Tổng
cục chính trị trong việc nghiên cứu đề xuất về phương hướng chủ trương,
nội dung và biện pháp công tác thư viện trong quân đội, theo dõi kiểm tra
hướng dẫn nghiệp vụ cho các thư viện trong toàn hệ thống quân đội. Vì thế



                                         34
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


trong suốt những năm qua thư viện đã rất quan tâm đến việc bồi dưỡng
nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ thư viện trong toàn quân.
     Do đặc thù các cán bộ phụ trách thư viện của nhiều đơn vị quân đội
luôn thay đổi do điều kiện công tác nên TVQĐ đã không tổ chức các lớp
tập huấn cho cán bộ phụ trách thư viện trong toàn quân (Bao gồm các binh
chủng, quân khu, quân chủng và học viện). Trong những năm gần đây các
lớp học này được tổ chức định kỳ hàng năm. Nhờ có các lớp học này học
viên được cập nhật các kiến thức thông tin thư viện mới.
     Ngoài TVQĐ còn tổ chức các lớp bồi dưỡng cho nhân viên thư viện
và các cán bộ phụ trách câu lạc bộ. Những lớp học này thường được tổ
chức dưới dạng học tập trung từ 15 ngày đến 1 tháng. Việc tổ chức các lớp
tập huấn và huấn luyện này do phòng nghiệp vụ đảm nhiệm.
2.6. Vụ thư viện Bộ Văn hoá thông tin.
     Vụ thông tin, tiền thân là Vụ thư viện và câu lạc bộ được thành lập lại,
tách ra từ Vụ Văn hoá quần chúng và tư viện vào năm 1995. Đây là cơ
quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước hoạt động thư viện, tham vấn
cho Bộ Văn hoá Thông tin về quản lý sự nghiệp thư viện. trong những năm
gần đây, Vụ rất quan tâm đến việc mở lớp bồi dưỡng trình độ quản lý cho
các cán bộ thư viện.
     Năm 1997, Vụ thư viện đã trực tiếp tổ chức 2 lớp nâng cao năng lực
quản lý cho 130 cán bộ thư viện vùng cao, biên giới hải đảo và dân tộc
Chăm Khơme.
     Năm 1998, để thực hiện chủ trương củng cố mạng lưới thư viện
huyện, thị Vụ đã phối hợp với các hội liên hiệp thư viện theo khu vực tổ
chức 7 lớp học bồi dưỡng kiến thức quản lý cho gần 300 cán bộ thư viện
huyện. Năm 1999 Vụ tiếp cận thêm 3 lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý thư
viện cấp huyện cho 180 cán bộ thư viện huyện thị và 2 lớp bồi dưỡng kiến
thức quản lý thư viện cấp tỉnh, thành phố cho 120 chánh, phó giám đốc,
trưởng phòng chỉ đạo cơ sở của 64 thư viện tỉnh thành phố. Các lớp học

                                       35
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


học này đều tổ chức dưới dạng học tập trung trong thời gian từ một tuần
đến 10 ngày. Tính đến nay hầu hết các cán bộ quản lý thư viện huyện thị và
các tỉnh thành phố trong cả nước đều đã được theo học các lớp do vụ tổ
chức. Nhờ các dịp học tập này chẳng những trình độ quản lý của các cán bộ
được nâng cao mà qua lớp học các học viên cũng có điều kiện học hỏi thêm
các kinh nghiệm quản lý tiên tiên của các thư viện bạn và các nước khác
trong khu vực và thế giới.
     Trong những năm qua từ 2000 đến 2004 vụ đã liên tục mở các lớp đào
tạo cho các cán bộ thư viện cơ sở để có thể đẩy mạnh phong trào thư viện
cơ sở ở Việt Nam. Trên thực tế vụ đã đang và thu hút được tài trợ của một
số tổ chức quốc tế trong việc tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn nâng cao
trình độ cho đội ngũ cán bộ thư viện ở Việt Nam.
2.7. Một số tổ chức Hội nghề nghiệp
     Ở Việt Nam hiện nay có một số tổ chức, hội nghề nghiệp tiêu biểu
như: Hội thông tin tài liệu khoa học và công nghệ Việt Nam, Liên hiệp thư
viện các tỉnh đồng bằng Sông Hồng, Liên hiệp thư viện các tỉnh duyên hải
phía Bắc, Liên hiệp thư viện các tỉnh miền núi phía Bắc, Liên hiệp thư viện
các tỉnh Bắc Miền Trung, Liên hiệp thư viện các tỉnh Nam Trung BỘ và
Tây Nguyên, Liên hiệp thư viện miền Đông và cực Nam Trung Bộ, Liên
hiệp thư viện các tỉnh đồng băng Sông Cửu Long, Liên hiệp thư viện các
trường đại học khu vực phía Bắc (bao gồm các trường từ Huế trở ra), Liên
hiệp thư viện các trường đại học các tỉnh phía Nam (bao gồm các tỉnh từ
Đà Nẵng trở vào). Các tổ chức nghề nghiệp này cũng đã tích cực tham góp
vào công tác đào tạo bồi dưỡng bằng nhiều hình thức khác nhau. Trong số
các tổ chức nghề nghiệp trên Liên hiệp thư viện các trường đại học khu vực
phía Bắc và Liên hiệp thư viện các trường ' đại học các tỉnh phía Nam đã có
nhiều nỗ lực trong việc bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bò các thư viện đại
học. Hai liên hiệp này đã mời được các chuyên gia nước ngoài tổ chức các
lớp tập huấn về những vấn đề mới đang được nhiều thư viện và trung tâm

                                       36
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


thông tin các trường đại học quan tâm như: Bảo quản tài liệu, giới thiệu và
hướng dẫn sử dụng quy tắc biên mục Anh Mỹ AACR2, thực hành phân loại
theo bảng phân loại thập phân Dewey, tổ chức quản lý phòng đọc đa
phương tiện...Những hình thức đào tạo bồi dưỡng của các tổ chức nghề
nghiệp này đã góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng đôi ngũ
cán bộ thư viện trong phạm vi các khu vực, các vùng trong nước và trong
mạng lưới thư viện các trường đại học.
3. Nhận xét về công tác đào tạo cán bộ thư viện thông tin.
3.1 Kết quả đợt phỏng vấn, xin ý kiến về công tác đào tạo cán bộ thư
viện thông tin.
     Trong quá trình thực hiện đề tài, để tham khảo ý kiến của các chuyên
gia đầu ngành, những người tham gia thường xuyên và quá trình đào tạo
cán bộ thông tin thư viện, chúng tôi đã tiến hành nhiều cuộc điều tra, phỏng
vấn trực tiếp.
     Sau đây chúng tôi xin hệ thống lại những ý kiến của những người đã
tham gia vào các cuộc điều tra phỏng vấn đó.
         Bà Nguyễn Thị Ngọc Thuần - Vụ trưởng vụ Thư viện đã tập
trung nhận xét về chất lượng cán bộ thư viện trong hệ thống thư viện công
cộng do trường Đại học Văn hoá đào tạo. Hiện nay, ở nước ta đã hình
thành hệ thống thư viện công cộng bao gồm Thư viện Quốc gia Việt nam
và 64 thư viện tỉnh, thành phố; 574 thư viện cấp huyện và một mạng lưới
thư viện, tủ sách phòng đọc sách cơ sở trải rộng khắp từ TW đến địa
phương với một đội ngũ cán bộ thư viện gần 2000 người. Ngoại trừ thư
viện Quốc gia và thư viện KHTH thành phố Hồ Chí Minh có 102 cán bộ,
hầu hết thư viện cấp tỉnh có từ là đến 25 cán bộ, thư viện cấp huyện có từ 1
đến 2 cán bộ. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ tốt nghiệp đại học Văn hoá Hà
Nội được đào tạo cơ bản, có trình độ chuyên môn vững vàng, có kinh
nghiệm công tác; đặc biệt có lòng yêu nghề, say mê với nghề nghiệp. Tuy
nhiên đội ngũ cán bộ thư viện của hệ thống thư viện công cộng trước yêu

                                        37
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


cầu phát triển mới đã bộc lộ một số hạn chế mà sự yếu kém lớn nhất là
thiếu và chưa được trang bị kịp thời những kiến thức mới và công nghệ
thông tin và các kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin cũng như khả năng
sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, khai thác mạng...trong hoạt
động thư viện. Về trình độ ngoại ngữ: mặc dù đã được đưa vào thành môn
học chính thức, nhưng thực tế khả năng sử dụng ngoại ngữ của sinh viên tốt
nghiệp ra trường chưa tốt, nhất là với việc đọc hiểu tài liệu, do đó hạn chế
việc tiếp thu những kiến thức mới về lĩnh vực thư viện của các nước trên
thế giới. Mặt khác, hơn 80 % số cán bộ thư viện được đào tạo chuyên
nghiệp ngành thư viện chỉ được trang bị chủ yếu những kiến thức về các
môn khoa học xã hội và nhân văn, kiến thức tổ chức và hoạt động của thư
viện truyền thống. Trong đó việc yêu cầu xử lý thông tin trong các lĩnh vực
khoa học công nghệ nhằm phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế của đất
nước, của địa phương thì các thư viện công cộng chưa đáp ứng được do
trình độ đội ngũ cán bộ công chức hạn chế. Hầu hết các sinh viên ra trường
đều chịu ảnh hưởng khá nặng nề của những kiến thức mang tính lối mòn
được thu nạp trong trường do đó khả năng sáng tạo, độc lập suy nghĩ và
tính thích ứng với môi trường mới.
         Theo ý kiến của ông Phạm Thế Khang, Giám đốc Thư viện Quốc
gia Việt Nam:
     Mọi ngành, mọi nghề phát triển được, ngoài sự nỗ lực của bản thân
đòi hỏi phải nắm được thời cơ, vận hội của mình. Thời cơ trong lĩnh vực
văn hoá nói chung và công tác đào tạo cán bộ thư viện nói riêng cần phải
tận dụng và nắm bắt được là sự đầu tư và sự quan tâm của Đảng và Nhà
nước đến lĩnh vực này.
     Trong chương trình hành động nhằm “phát triển nền văn hoá tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc" Đảng cũng đã vạch ra kế hoạch và định hướng
phát triển công tác thư viện. Nhờ vậy các thư viện đã được đầu tư kinh phí.
Sau khi Nghị quyết Trung ương 2 được ban hành, quy chế thư viện trường

                                       38
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


phổ thông được xây dựng hệ thống thư viện giáo dục không ngừng được
phát triển. Tháng 9 năm 1997 cả nước chỉ có 13.000 trường phổ thông có
thư viện đến nay số lượng thư viện trường học đã lên tới 17.000.
     Mạng lưới các thư viện trường Đại học, Cao đẳng cũng phất triển,
hoạt động có chất lượng. . . Đó chính là những điều kiện thuận lợi mà công
tác Đào tạo cán bộ thư viện cần phải nắm bắt được. Vấn đề đặt ra là trường
nên tính đến một mô hình đào tạo để có sản phẩm là các cán bộ thư viện
năng động. Mặt khác cũng nên biết kết hợp với các ngành các cấp để mở
rộng đối tượng và các hình thức đào tạo nghề thư viện, thông tin đáp ứng
yêu cầu của xã hội.
     Tiếp nhận cán bộ tốt nghiệp từ nhiều cơ sở đào tạo khác nhau tôi có
một số nhận xét cụ thể sau: Trình độ ngoại ngữ của các nhóm sinh viên
tăng theo thời gian đào tạo. Chất lượng ngoại ngữ các khoá gần đây khá
hơn trước nhiều. Trình độ tin học của các nhóm cũng tăng theo thời gian
đào tạo như trình độ ngoại ngữ . Các cán bộ được đào tạo tại Trường Đại
học Văn hoá, nhìn chung làm việc rất cần cù, tận tuỵ với bạn đọc, chất
lượng chuyên môn nghiệp vụ thư viện vững vàng. Trong khi đó, cán bộ
được đào tạo từ Đại học Quốc gia có phần thua kém phàn này nhưng khả
năng sử dụng ngoại ngữ và ứng dụng tin học lại có phần khá hơn.
     Theo ý kiến của TS Nguyễn Thế Đức, nguyên Giám đốc Thư viện
Quốc gia Việt Nam:
     Nhìn chung chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo nói chung và của
Trường Đại học Văn hoá Hà Nội nói riêng trong mấy năm gần đây có tiến
bộ rõ rệt. Học sinh tốt nghiệp có khả năng thích nghi với công việc hơn
trước. Nhưng qua thực tế tham dự các hội đồng chấm luận văn tôi nhận
thấy các cơ sở đào tạo ở Việt Nam nói chung chưa quan tâm dẫn việc đào
tạo khả năng làm việc độc lập cho học sinh. Cần phải đào tạo và làm thế
nào đó đế học sinh có khả năng am hiểu công việc và cách thức tổ chức
công việc hơn nữa.

                                       39
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


     Trên thực tế việc áp dụng công nghệ thông tin sẽ còn tiến triển nhanh
hơn chúng ta dự kiến. Nhiều thư viện huyện rồi cũng sẽ được trang bị máy
tính. Mục tiêu cần tính đến chính là người đọc, người sử dụng. Việc tính
toán và đáp ứng được các nhu cầu của người đọc chính là một trong những
định hướng chiến lược. Làm thế nào để thư viện góp phần vào sự phát triển
của nông nghiệp và nông thôn ? Đó là những vấn đề thư viện cần giải
quyết. Người nông dân không có nhiều thời gian để đọc sách. Họ chỉ cần
người cán bộ thư viện trả lời những câu hỏi về các thông tin cụ thể liên
quan đến vấn đề mà họ quan tâm. Người cán bộ thư viện không đáp ứng
được diều đó thì nghề thư viện sẽ chết. Nêu ra vấn đề này, tôi muốn các cơ
sở đào tạo nghề thư viện phải chú trọng hơn nữa đến việc trang bị các kỹ
năng sử dụng công nghệ thông tin hiện đại kết hợp với kỹ năng nghề
nghiệp cho học sinh.
     Về việc phân chuyên ngành, không nên chú trọng đến loại hình thư
viện. Chì nên thành lập các các Chuyên đề không bắt buộc để cho các học
sinh quan tâm đến chuyên đề nào thì học chuyên đề đó. Vấn đề cơ bản đặt
ra là phải đào tạo cho học sinh khả năng năng động trong công tác.
     Về phương thức đào tạo, có thể tham khảo thêm phương thức đào tạo
trong ngành y- có nghĩa là phải chú trọng đến việc thực hành và thực tập.
Không rèn luyện các kỹ năng thực hành thì lý thuyết sẽ không có sức sống.
     Ý kiến của bà Hà Thu Cúc PTS, nguyên Phó Giám đốc thư viện
Quốc gia Việt Nam:
     Về phương thức đào tạo, nhà trường nên chú trọng thực hành hơn nữa.
Tránh tình trạng nặng về lí luận lý thuyết, nhẹ về thực hành. Nhưng cũng
không nên chỉ chú trọng vào thực hành như các nước tư bản, đặc biệt là
Mỹ. Không nên chàng màng, phải xác định đúng mục tiêu đào tạo là đào
đào tạo cán bộ TVTT bậc đại học. Nếu chỉ dừng lại ở kỹ năng thực hành thì
đó là đào tạo các cán bộ trung cấp.



                                       40
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


     Và một yếu tố không kém phần quan trọng là phải có đầy đủ sách giáo
khoa, giáo trình cho học sinh học tập tham khảo. tính đến nay, hệ thống
sách giáo khoa, giáo trình của Khoa Thư viện Thông tin Trường Đại học
Văn hoá Hà Nội nói riêng và của các cơ sở đào tạo khác ở Việt Nam nói
chung còn chưa thật đầy đủ. Nếu không có đủ sách giáo khoa, giáo trình và
tài liệu tham khảo thì khó có thể nói tới dạy tốt và học tốt.
     Nếu không có đủ sách giáo khoa, giáo trình và tài liệu tham khảo thì
khó có thể nói tới dạy tốt và học tốt.
     Về chương trình đào tạo, do có một số lần được tham gia vào việc xây
dựng góp ý cho chương trình đào tạo của trường chúng tôi thấy: nhà trường
nên nghiên cứu để xây dựng được một chương trình đào tạo hợp lý hơn,
tránh tình trạng vừa thiếu vừa trùng lặp.
     Riêng về các môn Thông tin, nên quan tâm hơn nữa đến việc cập nhật
kiến thức mới. Chương trình đào tạo chuyên ngành thông tin thư viện cần
phải tính đến việc đón đầu được các yêu cầu của thực tế, nhất là trong bối
cảnh các thư viện và cơ quan thông tin đang đẩy mạnh việc áp dụng công
nghệ thông tin như hiện nay.
     Để soạn thảo ra chương trình đào tạo phù hợp và để nâng cao chất
lượng bài giảng, cán bộ giảng viên cần chú trọng hơn đến vấn đề tham khảo
tài liệu, nhất là các tài liệu của nước ngoài.
     Ngoài ra trong chương trình đào tạo chuyên ngành cũng nên đưa vào
những vấn đề thời sự, những vấn đề mà ngành quan tâm. Về mô hình đào
tạo có thể tham khảo thêm cách đào tạo thạc sĩ ở nước ngoài: Các học viên
tết nghiệp đại học một ngành khác có thể nhận bằng thạc sĩ thư viện sau khi
học thêm một năm chuyên ngành thư viện. Điều này sẽ tạo khả năng mở
rộng ngành nghề, thu hút thêm nhiều đối tượng có nhu cầu.
     Qua thực tế quản lý những năm qua chúng tôi thấy nhìn chung các cán
bộ thư viện được đào tạo từ trường Đại học Văn hoá Hà Nội nói riêng và



                                         41
        Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


các trường khác nói chung còn thụ động, chưa năng động đáp ứng được
yêu cầu của thư viện.
       Khi biên soạn các chương trình đào tạo và giảng dạy, khoa và trường
Đại học Văn hoả nên chú trọng hơn đến các kinh nghiệm và thành tựu cũng
như tài liệu tham khảo về lĩnh vực thông tin - thư viện của các nước trong
khu vực và các nước ngoài khác, đặc biệt là của Mỹ, Anh, Úc, Nga . . .
       Vấn đề đào tạo thạc sĩ, chúng tôi thấy mình có thể tham khảo thêm về
mô hình đào tạo của nước ngoài: chú trọng đào tạo thạc sĩ cho người có
nhu cầu, đặc biệt là những người tốt nghiệp 1 đại học khác. Có thể kết hợp
học thêm 1 năm rưỡi về nghề sau đó đào tạo thạc sĩ.
       Và một điều nhà trường cũng không nên bỏ qua là vấn đề Marketing.
Cần phải làm cho xã hội quan tâm và hiểu hơn về nghề thư viện có như vậy
mới khuyến khích và thu hút được nhiều người hơn theo học ngành nghề
này.
       Ngoài ra điểm cuối cùng chúng tôi muốn nói tới là vấn đề cập nhật
kiến thức mới. Trong thực tế, các thư viện đang tiến dần đến tự động hoá
các hoạt động của mình,vì thế công tác đào tạo cán bộ TVTT cần phải đón
đầu được các yêu cầu và đòi hỏi của thực tiễn, tránh tình trạng thực tiễn đã
có nhiều biến động, thay đổi, mà lý luận lại tụt hậu phía sau.
       * Ý kiến của TS Nguyễn Thu Thảo - Trung tâm thông tin khoa học
và công nghệ Quốc gia: Trong những năm gần đây chương trình đào tạo
được củng cố và đổi mới.Tuy nhiên các cơ sở đào tạo cần phải xác định
được những mục tiêu mong muốn vươn tới bao gồm:
       Mục tiêu tổng quát: Làm cho sinh viên hiểu thư viện như một thiết
chế văn hoá, lạo cho sinh viên khả năng vận hành các thao tác kỹ thuật
trong thư viện và cơ quan thông tin chuyên nghiệp hiện đại, cũng như thao
tác vận hành các quá trình thông tin trong các cơ quan, tổ chức không
chuyên về thông tin - thư viện.



                                         42
         Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


        Khuyến nghị này mong muốn tạo một bản sắc riêng của Đại học Văn
hoá Hà Nội, khác với các trường khác có đào tạo lĩnh vực liên quan (Đại
học Quốc gia, Đại học dân lập Đông Đô). Sinh viên ở đây sau khi tốt
nghiệp không nhất thiết phải trở thành những người nghiên cứu hoặc quản
lý, chỉ đạo vĩ mô, mà trước tiên phải là người biết vận hành kỹ thuật thư
viện và thông tin trong môi trường xã hội Việt Nam.
        Mục tiêu cụ thể: đảm bảo cho sinh viên:
        Hiểu rõ bản chất của hoạt động thư viện - thông tin, trả lời được hai
câu hỏi: Tại sao lại có những việc như vậy trong thư viện và cơ quan thông
tin, và phải làm những công việc đó như thế nào.
        Có khả năng hoà nhập với hoạt động thư viện - thông tin thực tế tại
Việt Nam và nước ngoài. Có kỹ năng thực hiện các qui trình thông tin - thư
viện.
        Có khả năng hoà nhập với cộng đồng khoa học: có khả năng giao lưu
với các nhà khoa học, và kỹ năng tìm hiểu nhu cầu sử dụng thông tin - thư
viện của họ.
        Có khả năng tiếp tục nâng cao trình độ của bản thân, ở trong nước
cũng như nước ngoài.
        Về cơ cấu thời gian, nếu quy ước chia nội dung của vốn kiến thức cần
trang bị cho sinh viên làm 3 loại:
        - Cung cấp lý luận
        - Cung cấp thông tin
        - Cung cấp kỹ năng
        Cần phải xem xét căn cứ vào những ràng buộc của thực tế hiện nay:
Trình độ học sinh đầu vào còn thấp, điều kiện máy móc thiết bị hạn chế,
những bất cập từ phía giảng viên: thiếu về số lượng, không được thường
xuyên đào tạo nâng cao trình độ, tài liệu tham khảo chủ yếu bằng tiếng
nước ngoài, chưa được dịch sang tiếng Việt.



                                          43
        Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


       Trước thực tế đó khi xây dựng chương trình các cơ sở đào tạo cần
phân định ro ràng sự khác nhau giữa chương trình đào tạo ngành thông tin -
thư viện của Đại học KHXH & NVQG với chương trình đào tạo ngành thư
viện - thông tin của Đại học Văn hoá: Đại học văn hoá thiên về hoạt động,
kỹ năng. Đại học KHXH & NVQG thiên về nghiên cứu.
       Cần phân định rõ sự khác nhau về mục tiêu đào tạo ngành Thư viện -
thông tin với các ngành khác trong phạm vi Đại học Văn hoá: Ngành Thư
viện - Thông tin có mục tiêu chính là vận hành các thao tác kỹ thuật, thiên
về hướng của các ngành khoa học công nghệ, đặc biệt là trong giai đoạn
hiện nay.
       * Ý kiến của TS Mạc Văn Trọng, nguyên Giám đốc thư viện Quân
đội.
       Việc đào tạo cán bộ thư viện tại trường Đại học Văn hoá Hà Nội đã có
một bề dày đáng khích lệ. Là người được đào tạo tại khoá 1 và liên tục làm
công tác quản lý thư viện trong nhiều năm qua chúng tôi có một số suy
nghĩ sau:
       Về thực chương trình và phương thức đào tạo, thực chất trường đã có
nhiều thay đổi và đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.
       Thực chất khoá 1 : Trong giai đoạn này thực chất trường đã tiến hành
thử nghiệm chương trình đào tạo cán bộ thư viện Khoá 2: Trường đã gửi
học sinh đi học các môn khoa học cơ bản ở trường đại học, sau đó đến năm
cuối mới đào tạo nghiệp vụ chuyên ngành thư viện tại trường. Khoá 3: thực
hiện đào tạo tại trường. Khoá 4, khoá 5: Gửi học sinh đi một số trường sau
đó quay lại trường để học nghiệp vụ vào năm cuối. Từ khoá 6 trở đi, nhà
trường đào tạo tại chỗ.
       Thực tế cho thấy những sinh viên được đào tạo theo phương thức khoá
2, khoá 4, khoá 5 nhìn chung có nhiều ưu thế và năng động hơn cả các khoá
khác.



                                         44
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


    Phải chăng điều đó khẳng định một điều nếu như có nền khoa học cơ
bản vững chắc và toàn diện khả năng công tác cũng được nâng cao hơn.
Mặt khác những khoá này cũng một phần thể nghiệm: học sinh có kiến
thức của 1 số chuyên ngành nhất định, nhờ vậy cũng có khả năng thích
nghi hơn cho các thư viện chuyên ngành và thư viện khoa học.
    Không nên dừng lại ở quan niệm: Một trường đào tạo có một địa chỉ
cố định và với một chuyên ngành nhất định.
    Trong một lần gặp gỡ và nói chuyện tại một Hội nghị thư viện toàn
quốc, đồng chí Nguyễn Khoa Điềm đã nói một câu tôi rất tâm đắc: “Thư
viện là nơi chuyển giao tri thức, thư viện là nơi chuyển giao công nghệ”.
Có điều mỗi thư viện có một đặc thù khác nhau. Thư viện quốc gia khác
thư viện quân đội. Tính chất đặc thù của thư viện công cộng và thư viện
chuyên ngành cũng không đồng nhất. Nhưng hiện tại mô hình và chương
trình đào tạo chỉ có một cái chung nhất. Và cán bộ được đào tạo ra chỉ có
những kiến thức chung và để làm cho mọi thư viện. Điều đó đã hợp lý
chưa? Nhà trường cần xem xét cân nhấc thêm. Với nền kiến thức cơ bản
đơn thuần là khoa học xã hội như hiện nay liệu có thể đáp ứng được yêu
cầu của các thư viện chuyên ngành, nhất là các thư viện chuyên ngành khoa
học kỹ thuật? Những cán bộ thư viện có chuyên môn nghiệp vụ lại có thêm
kiến thức của một chuyên ngành sẽ dễ dàng thích nghi và đáp ứng yêu cáu
của thư viện thuộc chuyên ngành đó.
    * Ý kiến của ông Kiều Văn Hốt, Phó Giám đốc thư viện Quốc gia
Việt Nam.
    Nhìn chung chất lượng đào tạo cán bộ thư viện trong một vài năm gần
đây có phần được nâng cao hơn so với trước. Nhưng một trong những yếu
điểm cơ bản của các sinh viên được đào tạo tại trường là: ngoại ngữ kém và
chưa thực sự biết sử dụng máy tính. Trong bối cảnh hiện nay, đó là hai
công cụ, hai phương tiện giúp người cán bộ thư viện nối thêm tầm với để



                                       45
         Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


tiếp cận, mở mang hiểu biết, chuyên môn nghiệp vụ phụ vụ cho người dùng
tin nói chung và người đọc nói riêng.
        Bên cạnh đó có một điểm mà nhà trường có thể chưa thực sự quan
tâm, đó là phương thức giảng dạy. Học sinh còn quá thụ động do ảnh
hưởng của lối đào tạo truyền thống: thầy giảng, học sinh ghi. Và khi học
cũng không có gì ngoài sự ghi chép ấy. Là một trường có bề dày gần 40
năm đào tạo, vậy mà hệ thống giáo trình và tài liệu tham khảo chẳng có
được là bao. Và có nhiều môn có giáo trình rồi, lên lớp giảng viên lại đọc
lại cho học sinh nghe những điều đã viết trong giáo trình ấy. Nếu cứ đào
tạo theo phương thức ấy thì làm sao có được các cán bộ thư viện năng
động. Thêm vào đó, các giảng viên cũng chưa phải là người có khả năng
cập nhật kiến thức tết. Nhiều điều đem ra giảng đã không theo kịp với thực
tiễn.
        Một điểm khác biệt giữa Việt Nam và các nước ngoài trong đào tạo
cán bộ thư viện là, chương trình đào tạo của các trường có đào tạo Cán bộ
Thông tin - Thư viện của Việt Nam phần lớn là chương trình cùng học sinh
hầu như sẽ chỉ được học 1 chương trình cố định suốt năm này qua năm
khác. Các môn học và chuyên đề mở hầu như chưa được chú trọng. Trong
khi đó ở nước ngoài, người ta rất quan tâm đến việc mở ra các môn học và
chuyên đề mở để học sinh tự chọn. Có chuyên đề chỉ có 5 hoặc 6 học sinh
học nhưng vẫn được nhà trường đáp ứng. Có như vậy thì mới tạo ra khả
năng thích nghi cho sinh viên sau khi ra trường. Nếu anh ta dự định sẽ vào
làm ở một thư viện thiếu nhi và thư' viện chuyên ngành, anh ta có thể tự
chọn thêm các chuyên đề sâu về loại hình thư viện này và qua đó anh ta có
được những kiến thức cần thiết để làm việc trong tương lai. Vì thế nên
chăng trường Văn hoá nói chung và Khoa Thư viện Thông tin nói riêng cần
có sự đào tạo hơn nữa cho việc xây dựng chương trình đào tạo nhất là xây
dựng các môn học và chuyên đề tự chọn đáp ứng được yêu cầu của thực tế.



                                          46
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


     Bên cạnh đó có một vấn đề cũng cần xem xét thêm là việc phân chia
các môn học theo bộ môn. Thực chất trong điều kiện hiện nay nhiều môn
học - cung cấp các kỹ năng thực hành ứng với dây chuyền xử lý tài liệu, xử
lý thông tin trong thực tiễn - được phân chia theo bộ môn thư viện học và
thông tin học nhiều khi không thoả đáng. Có những vấn đề rất gần nhau,
thậm chí cùng nằm ở khâu xử lý tài liệu như định chủ đề, định từ khoá lại
bị phân thành 2 môn thuộc hai bộ môn là hết sức khiên cưỡng thiếu hệ
thống, không lôgic. Trong thực tiễn thật khó mà phân biệt rạch ròi gianh
giới giữa thư viện học và thông tin học. Vì thế việc phân bố các môn học
cần phải hợp lý và phần nào phản ánh đúng và sát thực tế hơn.
     * Ý kiến của GS.TS. Đoàn Phan Tân: Để nâng cao chất lượng đào
tạo cán bộ Thông tin -Thư viện, có nhiều vấn đề phải tính đến. Nhưng tựu
chung lại là mấy vấn đề sau.
     Thứ nhất Khoa Thư viện Thông tin phải quan tâm hơn đến việc đào
tạo và cung cấp cho sinh viên kỹ năng sử dụng mạng về khai thác thông tin
trên Internet. Chỉ dừng lại ở các phương pháp tìm tin truyền thống là chưa
đủ. Thứ hai, khoa cần phải quan tâm là đầu tư vào thư viện thực hành, làm
sao để cho thư viện này phải trở thành thư viện kiểu mẫu cho học sinh học
tập. Kiểu mẫu ở đây thể hiện trên nhưng bình diện sau: Về vốn tài liệu
ngoài các tài liệu bằng giấy như sách báo tạp chí thư viện phải bổ sung
thêm các tài liệu điện tử với các vật mang tin đa phương tiện. Về bò máy
tra cứu bên ngoài các mục lục truyền thống như: mục lục phân loại mục lục
chữ cái, mếu lục chủ đề, mục công vụ... thư viện phải xây dựng được các
hộp phiếu dữ kiện, các cơ sở dữ liệu... và cơ bản là phải nối mạng để giảng
viên và sinh viên có thể nghiên cứu, học tạo với ra bên ngoài. Nói tóm lại là
làm thế nào đó để thư viện thực hành có thể trở thành "phòng thí nghiệp” là
nơi phụ vụ đắc lực cho việc thực hành rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho
học sinh.



                                        47
        Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


       Thứ ba: Về mặt chương trình, khoa cũng cần có sự đầu tư hơn nữa để
xây dựng được một chương trình đào tạo cán bộ thư viện thông tin thích
hợp với điều kiện hiện nay, khi mà xu hướng tự động hoá công tác thư viện
đã trở thành phổ biến.
       * Ý kiến của TS Trần Đình Quang, nguyên chủ nhiệm Khoa Thư viện
Thông tin trường Đại học Văn hoá Hà Nội.
       Là người đã có điều kiện theo dõi, quản lý và trực tiếp giảng dạy tại
khoa, tôi thấy hiện nay cũng còn có nhiều điều chúng ta phải xem xét.
       Thứ nhất, với nền khoa học cơ bản là khoa học xã hội như hiện nay
cán bộ thư viện khoa đào tạo chủ yếu chỉ thích hợp làm ở các thư viện công
cộng cỡ vừa và nhỏ. Còn đối với các thư viện chuyên ngành đặc biệt là
chuyên đề khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật thì còn có nhiều điểm
thiếu hụt. Cố nhiên để khắc phục được điểm yếu này cũng có rất nhiều khó
khăn.
       Thứ hai: Từ trước đến nay ta mới chỉ đào tạo theo cái ta tự có chứ
chưa quan tâm và tính đến được hết những cái mà xã hội cần. Vấn đề quan
trọng là phải đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Theo như tôi được biết hiện
nay đã có hiện tượng bão hoà trong tuyển dụng. Có những thư viện chỉ có
nhu cầu tuyển dụng một, hai cán bộ thư viện nhưng hồ sơ xin việc lại lên
tới mấy chục: thậm chí hàng trăm đơn. Vấn đề chính theo tôi, vị thế và uy
tín của những cơ sở đào tạo không căn cứ vào số lượng tuyển sinh mà chủ
yếu sẽ phụ thuộc vào chất lượng đào tạo. Chất lượng đó thể hiện ở khả
năng đáp ứng các yêu cầu thực tế của các cơ quan thông tin, thư viện hiện
nay.
       * Ý kiến của ông Vũ Văn Sơn, Tổng Thư ký hội thông tin tư liệu khoa
học và công nghệ Việt Nam:
       Các thư viện, cơ quan hiện nay đang phải đối mặt với sự bùng nổ
thông tin trên khắp toàn cầu. Làm thế nào để kiểm soát được tài liệu, kiểm
soát được thòng tin. Đó là một vấn đề nan giải. Công tác đào tạo cán bộ

                                         48
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


thông tin, thư viện không thể không quan tâm đến điều đó. Và hai yếu tố
quan trọng hàng đầu khiến cho các nhà đào tạo phải chú ý đến là xây dựng
được một chương trình tích hợp và đa dạng hoá phương thức đào tạo để
đáp ứng nhu cầu của xã hội. Các môn học về công nghệ thông tin, phương
pháp tìm tin hiện đại, kỹ năng sử dụng Internet để khai thác các dịch vụ...
cần phải sớm được cập nhật. Người cán bộ thư viện hơn bao giờ hết phải là
người có khả năng sàng lọc, phân tích, bao gói thông tin... cho nên nếu chỉ
dừng ở việc trang bị những kỹ năng nghiệp vụ truyền thống thì chưa đủ.
Trước những yêu cầu mới của việc đào tạo nguồn lực thông tin thư viện với
xu thế hội nhập với khu vực và thế giới cần nâng cao hơn nữa chất lượng
đào tạo để các sản phẩm đầu ra của nhà trường có thể góp phần thoả mãn
nhu cầu ngày càng tăng về các sản phẩm và dịch vụ thông tin nhất là đối
với các sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng. Phải làm thế nào đó để sinh
viên có khả năng sử dụng công nghệ thông tin như là một phương tiện đắc
lực cho việc phục vụ người dùng tin và người đọc sau này.
     *Theo ý kiến của bà Nguyễn Thị Doanh, nguyên Phó giám đốc Sở
Văn hoá Thông tin Hà Tây, nguyên giám đốc thư viện tỉnh Hà Tây: Người
cán bộ thư viên hiện nay cần phải có những khả năng sau:
     - Phải biết sưu tầm khai thác tài liệu tổng hợp thông tin của nhiều vấn
đề, nhiều lĩnh vực đáp ứng cao nhất yêu cầu thông tin cho nhiều đối tượng
bạn đọc.
     - Phải chuyển tải những kiến thức trong sách báo một cách đầy đủ,
nhanh chóng tới người đọc theo nhu cầu của họ Phải biết tổ chức lưu trữ,
quản lý sử dụng tài liệu, khuyến khích và tổ chức cho xã hội sử dụng tài
liệu một cách hiệu quả nhất.
     - Phải chủ động sáng tạo hơn, phải là người có khả năng chuyển tải
thông tin, nhanh chóng thích nghi và phản ứng kịp thời với tình hình thực
tiễn, về phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin hiện đại và đáp ứng



                                       49
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


được nhu cầu dùng tin của các đối tượng bạn đọc ở nhiều lĩnh vực trình độ
khác nhau.
     Trước đây tôi đã phụ trách thư viện tỉnh Hà Tây trong nhiều năm. Qua
việc trực tiếp thu nhận cán bộ đến làm việc tại thư viện tôi có nhận xét:
     Về những điểm đã đạt được: Sinh viên ra trường đã được đào tạo cơ
bản, được trang bị những kiến thức về: Các khâu công tác nghiệp vụ, chu
trình đi của sách vào thư viện như các khâu bổ sung, đăng ký, phân loại
sách báo, tóm tắt nội dung tài liệu, lập tờ khai worksheet, nhập cơ sở dữ
liệu; Tổ chức các kho sách và hệ thống mục lục để quản lý và sử dụng - bảo
quản tài liệu đáp ứng việc phục vụ nhu cầu của bạn đọc; Đã tiếp cận




                                        50
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


quản lý bạn đọc cấp đôi thẻ, vào nhật ký hàng ngày theo những quy định
của thư viện; Hướng dẫn bạn đọc sử dụng thông tin. tra tìm tài liệu qua hệ
thống mục lục, trên máy vi tính; Biên soạn thư mục. trích báo tạp chí theo
các chủ đề tạo nguồn sán phẩm để thông tin cho đông đảo đối tượng bạn
đọc với những chủ đề, nội dung khác nhau.
     Bên cạnh những ưu điểm trên cũng có một số điểm chúng tôi muốn
lưu ý các cơ sở đào tạo:
     - Trình độ của sinh viên mới ra trường chưa đồng đều. Phần lớn các
em nắm vững lý thuyết đã học vận dụng vào thực tế. Song vẫn còn có
những cá biệt quá bỡ ngỡ với những công việc ở thư viện mà công việc đó
chỉ đơn thuần là nghiệp vụ.
     - Trình độ ngoại ngữ còn hạn chế nên chưa đáp ứng được xử lý sách
ngoại văn, nhất là khai thác tài liệu để phục vụ độc giả có trình độ ngoại
ngữ, có nhu cầu sử dụng tài liệu ngoại văn.
     - Trình độ về tin học cũng hạn chế, việc sú dụng máy vi tính chưa
thành thạo để truy nhập dữ liệu và tìm kiếm thông tin.
     - Kỹ năng viết, thuyết trình còn hạn chế nên khâu công tác tuyên
truyền, tổ chức các hoạt động nổi của thư viện gặp nhiều khó khăn.
     * Ý kiến của Đại tá Đỗ Gia Nam, giám đốc thư viện Quân đội: Các
thư viện, tủ sách quân đội hoạt động theo một hệ thống riêng dưới sự chỉ
đạo, hướng dẫn nghiệp vụ của Thư viện Trung ương Quân đội. Vì thế chăm
lo xây dựng đội ngũ cán bộ thư viện là một vấn đề rất quan trọng đối với
chúng tôi. Trong quân đội chúng tôi chưa có một trường riêng đào tạo cán
bộ thư viện bậc đại học. Vì thế chúng tôi thường cử cán bộ đi học tại các
trường đào tạo cán bộ thư viện theo địa dư: như trường Đại học Văn hoá,
trường Đại học Quốc gia, trường Cao đẳng Văn hoá Thành phố HÒ Chí
Minh. Về hình thức chủ yếu chúng tôi cư cán bộ đi học hệ tại chức. Riêng
các lớp huấn luyện do bản thân thư viện quân đội tổ chức chủ yếu là các
lớp ngắn hạn từ là ngày đến 1 tháng.

                                        51
           Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


      Một trong những đặc thù của các thư viện trong quân đội là cán bộ
luôn thay đổi do điều kiện công tác. Họ thường chí đảm nhiệm trách nhiệm
đó trong vòng từ 1 đến 2 năm vì thế hàng năm chúng tôi có tổ chức các lớp
tập huấn cho các cán bộ phụ trách thư viện trong toàn quân (bao gồm các
quân khu, quân chủng, binh chủng và học viện) và lớp bồi dưỡng cho nhân
viên thư viện phụ trách các phòng đọc sách và câu lạc bộ (cấp sư đoàn, tỉnh
đội...).
      Khoa Thư viện Thông tin trường Đại học Văn hoá là một cơ sở đào
tạo có bề dày, sự hợp tác quan hệ giữa khoa với thư viện quân đội cũng đã
được thiết lập, nên chăng khoa cũng nên tổ chức một số chuyên đề vì thư
viện quân đội. Chúng tôi sẵn sàng là các cộng tác viên.
      Trong những năm gần đây với xu hướng xã hội hoá công tác thư viện,
chúng tôi đã mở rộng đối tượng phụ vụ ra ngoài các cán bộ thuộc quân đội.
Vì thế về phía trường để có thể xã hội hoá công tác đào tạo, nên chăng
nghiên cứu mở ra nhiều dạng lớp học khác nhau với những hình thức huấn
luyện, bồi dưỡng ngắn ngày theo một số chuyên đề nhất định để thu hút
ngày càng đông các đối tượng có nhu cầu. Những lớp đó có thể tổ chức
định kỳ và theo yêu cầu. Khoa thư viện trường Đại học Văn hoá không làm
thì sẽ có các cơ sở đào tạo sẽ tiến hành làm việc đó. Vì thế phải biết tận
dụng và vị thế của mình.
      * Ý kiến của bá Nguyễn Thu Hà, phó giám đốc thư viện Trường Đại
học Khoa học Huế: Ngày nay đã xuất hiện nhiều hình thức đào tạo mới:
đào tạo từ xa, đào tạo văn bằng hai, đào tạo theo địa chỉ. Theo suy nghĩ của
tôi, Khoa Thư viện Thông tin trường Đại học Văn hoá cũng nên quan tâm
đến những phương thức này. Thực tế cho thấy có không ít người đã tốt
nghiệp một đại học khác có nhu cầu học văn bằng hai là thư viện (như tôi
chẳng hạn: tôi đã tốt nghiệp đại học Sử), lại phải học tại chức 4 năm thì quả
thật là quá vất vả và mất thời gian, nhất là những người đã có tuổi. Qua
việc học tập và tìm hiểu về chương trình đào tạo của trường chúng tôi thấy

                                            52
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


rằng nhà trường nên cập nhật thêm những tri thức mới, môn học mới đặc
biệt là chuyên ngành thông tin. Bên cạnh đó cũng cần giữ gìn và phát triển
tính đặc thù trong chuyên ngành thư viện.
3.2. Kết quả đợt trưng cầu ý kiến bằng an két
     Trong quá trình thực hiện đề tài, ngoài việc phỏng vấn trao đổi với các
chuyên gia đầu ngành về vấn đề đào tạo cán bộ thư viện thông tin, chúng
tôi còn tiến hành một cuộc điều tra bằng anket.
     Đối tượng người xin trưng cầu ý kiến là các cán bộ lãnh đạo, các nhà
quản lý, phụ trách các cơ quan thông tin thư viện lớn như: Thư viện quốc
gia, Trung tâm khoa học & công nghệ quốc gia, Viện thông tin khoa học xã
hội, Thư viện trung ương quân đội, các thư viện tỉnh thành phố, thư viện
trường đại học, cao đẳng và thư viện chuyên ngành.
     Tổng số phiếu phát ra 1 10 phiếu.
     Tổng số phiếu thu được 98 phiếu.
     Sau đây chúng tôi xin tổng kết các số liệu thu được trong quá trình
điều tra.
     1. Về số lượng cán bộ thông tin Thư viện hiện có và nhu cầu sử dụng
cán bộ thông tin Thư viện của các Thư viện và cơ quan thông tin qua điều
tra chúng tôi thu được kết quả như sau:
     Có khoảng 20 % thư viện không trả lời câu hỏi này bằng các con số cụ
thể. 45% không trả lời về số lượng cán bộ dự kiến đến năm 2010. Lý do
bản thân các thư viện không thể tự quyết hoàn toàn bề mặt biên chế.
     Qua việc điều tra kết hợp với phỏng vấn, chúng tôi nhận thấy nhìn
chung trình độ đào tạo của đội ngũ cán bộ thư viện ở Việt Nam còn chưa
cao. Chỉ có 3% cán bộ đang công tác tại các thư viện và trung tâm thông tin
được điều tra có trình độ trên đại học (thạc sĩ và tiến sĩ), 73% có trình độ
đại học và cao đẳng (bao gồm cả đại học cao đẳng ngành thư viện và các
ngành khác), trong đó có 5% cán bộ tốt nghiệp đại học ngành khác nhưng
chưa có nghiệp vụ thư viện, 16% cán bộ thư viện có trình độ trung cấp thư

                                        53
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


viện 8% cán bộ thư viện tốt nghiệp trung cấp ngành khác hoặc trung học
phổ thông chưa được đào tạo nghề thư viện. Nhu cầu sử dụng cán bộ theo
dự kiến đến năm 2010 có tăng lên nhiều cả về số lượng lẫn chất lượng.
     Hầu hết các thư viện và cơ quan thông tin được điều tra đều có dự
kiến sẽ tăng số lượng cán bộ thư viện lên so với hiện tại. Chẳng hạn như:
Thư viện Quốc gia hiện tại có 175 cán bộ, vào năm 2010 dự kiến có
khoảng 200 người; Trung tâm Thông tin Thư viện trường Đại học Quốc gia
hiện có 65 cán bộ, dự kiến sẽ có 105 cán bộ. 15% thư viện có dự kiến tăng
số lượng cán bộ lên gấp rưỡi, tập trung vào các tỉnh Trung và miền Nam
(Ví dụ như: Thư viện tỉnh Phú Yên hiện tại có 21 cán bộ dự kiến sẽ có 30
cán bộ,Thư viện tỉnh An Giang hiện tại có 1 9 cán bộ dự kiến sẽ có 30 cán
bộ, Thư viện tỉnh Đồng Tháp hiện tại có 1 4 cán bộ dự kiến sẽ có 20 cán
bộ, Thư viện tỉnh Khánh Hoà hiện tại có 27 cán bộ dự kiến sẽ có 40 cán
bộ..). Một số rất ít thư viện có dự kiến tăng số lượng cán bộ lên gấp đôi,
gấp ba (Ví dụ như: Thư viện tỉnh Bình Dương hiện tại có 15 cán bộ dự kiến
sẽ có 3 1 cán bộ, Thư viện đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh: hiện
tại có 21cán bộ dự kiến sẽ có 35 cán bộ, Thư viện tỉnh Tây Ninh hiện tại có
18 cán bộ dự kiến sẽ có 50 cán bộ). Hầu hết các nhà quản lý, lãnh đạo thư
viện lớn đều khẳng định sẽ không tuyển dụng cán bộ hệ tại chức và hệ
trung cấp, họ chỉ tuyển cán bộ tốt nghiệp hệ chính quy.
2. Ý kiến đánh giá về chất lượng cán bộ thư viện, thông tin tốt nghiệp từ
các trường Đại học nói chung và được đào tạo từ Trường Đại học Văn hoá
Hà Nội nói riêng. Trong phiếu điều tra chúng tôi có thăm dò ý kiến đánh
giá về cán bộ thư viện tốt nghiệp đại học văn hoá Hà Nội, đại học quốc gia
Hà Nội và các trường đại học khác nhưng khi nhận lại các ý kiến phản hồi,
chúng tôi chỉ nhận được chủ yếu là các ý kiến nhận xét về cán bộ được đào
tạo tại đại học văn hoá và các đại học khác. Kết quả cụ thể như sau:




                                       54
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368




                                  Cán bộ được đào tạo         Cán bộ được đào
                                       tại Trường            tạo tại các trường
STT        Ý kiến đánh giá
                                       ĐHVHHN                        khác
                                  Số ý kiến      Tỉ lệ %    Số ý kiến       Tỉ lệ %
1      Đã đáp ứng được yêu
       cầu của cơ quan về             71          72,4          56           57,2
       nghiệp vụ thư viện.
2      Năng động có khả
                                      34          34,6          39           39,8
       năng làm việc độc lập
3      Chưa có kỹ thuật
       chuyên sâu trong các           29          29,6          35           35,7
       khâu xử lý.
4      Chưa cập nhật kiến
                                      38          38,7          39           39,8
       thức mới
5      Chưa biết sử dụng các
                                      49           50           36           36,8
       phương tiện hiện đại.
6      Nghiệp     vụ   chuyên
                                       7           7,1          18           13,3
       môn yếu.


      Riêng ý kiến đánh giá thêm, chúng tôi tập hợp lại như sau:
      * Nguyễn Thị Phương - Giám đốc Thư viện tỉnh Hải Dương.
      - Số cán bộ tốt nghiệp đại học Thư viện ở Thư viện Hải Dương đều là
học sinh Trường Đại học Văn hoá Hà Nội. Nhìn chung: Hệ chính quy, các
học sinh đều phát huy tốt. Riêng học sinh tại chức thì còn có nhiều hạn chế;
đặc biệt là các lớp hiện đang học.
      *Ts Chu Ngọc Lâm: Các cán bộ tốt nghiệp đại học thư viện nhìn
chung còn yếu về ngoại ngữ. Khả năng tuyên truyền giỏi thiệu sách cũng
còn yếu.

                                        55
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


      * Ông Bùi Minh Tiến, Giám đốc Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc: Khả năng
của cán bộ tốt nghiệp đại học thư viện về tuyên truyền giới thiệu sách, tiếp
cận xã hội còn rất hạn chế. Đề nghị tăng cường các kỹ năng trên khi đào
tạo và cần luyện cho sinh viên biết viết chữ thư viện.
      * Bà Nguyễn Thị Hồng Dung, Phó Giám đốc Thư viện tỉnh Yên Bái:
kiến thức xã hội và hiểu biết xã hội của các sinh viên tốt nghiệp đại học thư
viện còn yếu. Khả năng độc lập triển khai công việc (tổ chức điều hành)
còn yếu. Chưa có kỹ năng tuyên truyền miệng, phần lớn chỉ thừa hành công
việc mà thiếu sự nhạy bén, phát hiện tham mưu, góp ý cho sự phát triển của
thư viện.
      * Ông Nguyễn Minh Hiệp, Giám đốc Thư viện Đại học khoa học tự
nhiên thành phố Hồ Chí Minh: Khả năng tiếp thu chuyên môn mới của cán
bộ thư .
      * Ông Lê Đình Hào, giám đốc thư viện tỉnh Quảng Trị: Tri thức xã
hội của các cán bộ tốt nghiệp đại học thư viện chưa toàn diện.
      * Bà Nông Thị Vinh, Giám đốc thư viện tỉnh Cao Bằng: Các cán bộ
trẻ mới ra trường thường không có khả năng làm marketing và thư mục
chuyên đề.
      * Bà Hoàng Thị Hà, phụ trách Thư viện đại học Y Hà Nội: cần cho
sinh viên thâm nhập vào thực tế nhiều hơn để các em không bị quá bỡ ngỡ
khi ra trường còng tác
3. Ý kiến về nhu cầu cử cán bộ đi học của các cơ quan thông tin Thư viện.
STT                  Lớp học                   Nhu cầu     Tỷ lệ %     Xếp TT
  1    Lớp bổ túc kiến thức mới cho
       cán bộ đã tốt nghiệp đại học thư           76          77           1
       viện từ nhiều năm trước.
  2    Văn bằng 2 cho cán bộ đã tốt
                                                  38         38,7          6
       nghiệp đại học khác.



                                        56
        Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


  3     Lớp hướng dẫn sử dụng máy vi
                                                   39         39,8          4
        tính và hệ quản trị CSDL.
  4     Các lớp đào tạo về xử lý tài liệu.         40         40,8          3
  5     Tìm tin và phổ biến thông tin.             43         43,8          2
  6     Công nghệ thông tin.                       31         31,6          8
  7     Thư mục và Biên soạn thư mục.              22         22,4          9
  8     Các quy tắc biên mục, giới thiệu
                                                   37         37,7          7
        về MARC.
  9     Quản lý Thư viện và các cơ
                                                   39         39,8          4
        quan TT.


      Qua việc tổng hợp các ý kiến về việc mở lớp, chúng ta thấy hầu hết
các cơ quan thông tin và Thư viện đều có nhu cầu cừ cán bộ đi học các lớp
bổ túc kiến thức mới cho các cán bộ đã tốt nghiệp đại học Thư viện từ
nhiều năm trước. Đây là một nhu cầu nổi bật đặt lên hàng đầu mà các cơ sở
đào tạo nói chung và Trường Đại học Văn hoá Hà Nội nói riêng cần quan
tâm hơn nữa.
      Ngoài ra còn có một số ý kiến đề xuất về việc mở lớp, chúng tôi tập
hợp lại như sau:
      * Ông Hà Xuân Đào, Giám đốc Thư viện khoa học tổng hợp Đà Nẵng:
Nên tổ chức các lớp theo khu vực và thời gian không quá dài để các thư
viện có thể cử cán bộ đi học mà không ảnh hưởng nhiều đến công việc.
      * Ông Bùi Minh Tiến, Giám đốc Thư viện khoa học tổng hợp tỉnh
Vĩnh Phúc: Các lớp học trên trước khi tổ chức cần thông báo rx nội dung
chi tiết.
      * Bà Nguyễn Thị Hoà Vinh, Giám đốc thư viện tỉnh Thừa Thiên Huế:
Nên mở thêm các lớp về nối mạng, truy cập Internet và thiết kế trang Web.
      * Bà Lê Thị Tiến, Giám đốc thư viện thành phố Hai Phòng: Nên mở
thêm các khoá đào tạo chuyên đề về bảo quản tài liệu.

                                         57
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


      * Bà Nguyễn Thị Hồng Dung, Phó Giám đốc Thư viện tỉnh Yên Bái:
Nếu các lớp đào tạo kỹ năng chuyên biệt là lớp học thuộc dạng đào tạo tiếp
tục, cập nhật thông tin và yêu cầu nâng cao thì thư viện sẽ cử người đi học.
Đối với những lớp về công nghệ thông tin , hướng dẫn sứ dụng máy tính và
quản trị các cơ sở dữ liệu giống như Thư viện Quốc gia đã tổ chức thì thư
viện cũng cần phải xem xét thêm.
      * Ông Dương Thái Nhơn, Giám đốc Thư viện tỉnh Phú Yên: Cần tổ
chức thêm các lớp học về vấn đề tổ chức hạ tầng cơ sở thông tin và quán trị
mạng, tổ chức ngân hàng dữ liệu trong thư viện.
      * Ông Đỗ Đăng Đông, Phụ trách Thư viện trường Cao đẳng Sư phạm
Thanh Hoá: Đề nghị sớm thường xuyên mở các lớp đào tạo kỹ thuật kỹ
năng chuyên biệt tại các đơn vị có yêu cầu (bồi dưỡng nghiệp vụ theo
chuyên đề). Ngoài ra nên sớm mở lớp đào tạo đại học thứ 2 cho những
người đã có bằng cử nhân.
      * Bà Nguyễn Thị Minh Thư, Giám đốc Thư viện tỉnh Phú Thọ: Các
lớp tập huấn, đào tạo ngắn ngày nên ưu tiên tập trung vào nội dung kỹ thuật
nghiệp vụ, giảm bớt báo cáo chuyên đề ngoại khoá và tham quan thực tế.
      * Ông Nguyễn Hữu Thọ: Trưởng phòng thông tin tư liệu Thư viện
Học viện Hành chính Quốc gia Phân viện Đà Năng: Nên mở nhiều lớp bồi
dưỡng kiến thức cơ bản về thư viện để những cán bộ có trình độ đại học
khác đang làm công tác thư viện được học. Đối tượng này nhìn chung còn
lớn và nhu cầu học còn nhiều.
4. Ý kiến về đào tạo theo chuyên khoa.
STT         Các chuyên khoa đào tạo                Số lượng ý kiến       Tỉ lệ %
  1    Cán bộ Thư viện khoa học tổng hợp           71                   72,4
  2    Cán bộ Thư viện chuyên ngành                52                   53
  3    Cán bộ Thư viện đại chúng                   37                   37,7
  4    Quản trị thông tin                          33                   33,6
  5    Cán bộ Thư viện thiếu nhi và thư            39                   39,8
       viện trường học.


                                        58
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


     Có một số ý kiến góp ý cụ thể về đào tạo theo chuyên khoa, chúng tôi
tổng hợp lại như sau.
     * Ông Vũ Văn Sơn - Hội thông tin tư liệu Khoa học và Vông nghệ
Việt Nam: Nên tổ chức thành các bộ môn Thư viện Đại chúng, Thư viện
thiếu nhi, Thư viện Trường học chứ không nên đào tạo thành các chuyên
khoa lẻ như vậy.
     * Ông Kiều Văn Hốt, Phó giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam:
Nếu mở thêm các môn học hoặc chuyên đề tự chọn, phục vụ các nhu cầu
muốn học thêm các chuyên ngành hẹp của học sinh, kinh nghiệm ở các
nước ngoài, trong chương trình đào tạo bao giờ cũng bao gồm phần cứng
(bắt buộc mọi học sinh đều phải học) và phần mềm (do học sinh tự chọn).
Có những phần học chỉ có 5, 6 học sinh có nhu cầu học nhưng việc giảng
dạy vẫn được tiến hành. Có như vậy mới đáp ứng sát lại yêu cầu thực tế.
Không chia các chuyên khoa và với giải pháp như vậy công tác đào tạo sẽ
đạt hiệu quả hơn. Một mặt vừa đáp ứng yêu cầu đào tạo chuyên biệt vừa
tạo ra một sản phẩm đào tạo năng động.
     * Bà Nguyễn Thị Hoà Vinh, Giám đốc thư viện tỉnh Thừa Thiên Huế:
Nên đào tạo cán bộ TVTT theo mô hình chung để có thể làm ở bát cứ thư
viện và cơ quan thông tin nào cũng được.
     * Ông Bùi Minh Tiến, Giám đốc thư viện tỉnh Vĩnh Phúc: Không nên
đào tạo chuyên khoa ở bậc đại học, có thể bổ sung thêm một số chuyên đề
tự chọn cho đối tượng cần quan tâm và muốn tìm hiểu sâu. Riêng đối với
chuyên đề về thư viện thiếu nhi và Thư viện trường học cần trang bị thêm
kiến thức về phương pháp giáo dục thiếu nhi.
     Nhìn chung những ý kiến đóng góp thêm đều không tán thành phương
án đào tạo theo chuyên khoa. Giải pháp chung được đề xuất: để đáp ứng
nhu cầu đào tạo chuyên khoa của thực tế là mở thêm các chuyên đề gắn với
các chuyên khoa đó để học viên có thể lựa chọn.



                                       59
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


5. Ý kiến về năng lực phẩm chất cơ bản mà người cán bộ TVTT hiện đại
phải có.
     Mặc dù đây là câu hỏi mở nhưng những ý kiến đề xuất khác tập trung
vào những điểm sau:
     - Người cán bộ TVTT phải có năng lực phân tích và tổ chức thông tin.
     - Có năng lực truyền bá và phổ biến thông tin.
     - Có khả năng sử dụng các phương tiện hiện đại và các công nghệ mới
vào công tác thư viện.
     - Có khả năng nghiên cứu khoa học.
     - Yêu nghe.
     - Giỏi ngoại ngữ.
     - Có hiểu biết xã hội phong phú.
     - Năng động.
     - Có sức khoẻ
     Cá biệt có một số người nêu ý kiến yêu cầu thêm:
     * Bà Nguyễn Thị Bắc, giám đốc thư viện thành phố Hồ Chí Minh và
ông Trần Văn Bé, phó giám đốc thư viện tỉnh Bình Thuận yêu cầu: người
cán bộ TVTT có khả năng thích ứng với sự biến đổi.
     * Bà Trương Thị Hoa, phó giám đốc thư viện tỉnh Lạng Sơn: người
cán bộ TVTT phải có tác phong công nghiệp.
     * Bà Nguyễn Thị Hai, giám đốc thư viện tỉnh Bình Dương: Cán bộ
TVTT cần phải kiên nhẫn và năng động, nhiệt tình trong công việc,
     * Ông Đặng Vinh Huề, giám đốc thư viện tỉnh Khánh Hoà: Cán bộ
TVTT cần chịu khó học hỏi nghiên cứu; biết cách làm công tác vận động
quần chúng
     * Ông Nguyễn Thanh Luân, Giám đốc thư viện tỉnh Trà Vinh: Cán bộ
TVTT phải luôn cập nhật cái mới, năng nổ nhạy bén trong công việc.
     *Bà Mai Thị Loan, Giám đốc thư viện tỉnh Gia Lai: Cán bộ TVTT cần
có khả năng soạn thảo các văn bản thông thường trong cơ quan.

                                       60
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


     * Ông Bùi Minh Tiến, Giám đốc thư viện tỉnh Vĩnh Phúc: Cán bộ
TVTT cần có năng lực hoạt động xã hội, có khả năng tuyên truyền mở rộng
mạng lưới để phục vụ cho quảng đại quần chúng nhân dân.
     * Ông Vương Toàn, Viện trưởng Viện thông tin khoa học xã hội: Cán
bộ TVTT phải có ngoại hình khá trở lên.
     * Bà Nguyễn Thị Lý, phó giám đốc thư viện Đại học Y dược thành
phố Hồ Chí Minh. Cán bộ TVTT trường đại học Y dược cần có kiến thức
chuyên ngành y dược.
     * Ông Nguyễn Đình Giáp, Giám đốc thư viện tỉnh Thái Nguyên: Cán
bò TVTT cần phải trung thực, ứng xử linh hoạt, hoà nhã, tác phong nhanh
nhẹn, đấu tranh thẳng thắn, có tư duy đổi mới.
3.3 Nhận xét chung về công tác đào tạo cán bộ thư viện ở Việt Nam.
     Qua nghiên cứu, tìm hiểu, khảo sát và điều tra về công tác đào tạo cán
bộ thư viện, thông tin chúng tôi có một số nhân xét sau: Nhìn chung công
tác đào tạo cán bộ thư viện thông tin trong những năm qua đã có những
bước chuyển mình quan trọng theo kịp những biến động và đáp ứng được
yêu cầu đặt ra của thực tế. Do chưa có sự kiểm soát và điều tiết của một cơ
quan hoặc hiệp hội ngành nghề việc đào tạo cán bộ thư viện thông tin chủ
yếu phụ thuộc vào cơ sở đào tạo và bộ chủ quản. Vì thế những người làm
công tác đào tạo chưa tìm được một tiếng nói chung. Mặc dù vậy nhìn
chung công tác đào tạo cán bộ thông tin thư viện ở Việt Nam có những đặc
điểm sau:
     Về mục tiêu đào tạo: các cơ sở đào tạo lớn kể trên đều mở rộng mục
tiêu đào tạo từ cán bộ thư viện chuyển thành thông tin thư viện hoặc thư
viện thông tin nhưng về cơ bản vẫn nặng về chuyên ngành thư viện. Tuy
nội dung giảng dạy tại các cơ sở này có khác nhau một chút nhưng các cử
nhân tốt nghiệp chuyên ngành thông tin thư viện ở Việt Nam đều có một
đặc điểm chung là không có phân ban. Tất cả các trường đều có xu hướng
đào tạo thống nhất theo một ca ứng trình của trường mình mà không có sự

                                       61
         Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


chia nhỏ theo các chuyên ngành hẹp. Do vậy nhìn chung mục tiêu và mô
hình đào tạo cán bộ thông tin thư viện ở Việt Nam còn rất đơn điệu và đồng
nhất.
        Về chương trình đào tạo: Nhìn chung tất cả các cơ sở đào tạo thư
viện thông tin đều có chỉnh lý và bổ sung các môn học mới. Hầu hết các
trường đào tạo cán bộ thư viện thông tin của Việt Nam đều tuân theo
chương trình chuẩn của IFLA. Bộ môn thông tin thư viện Trường đại học
quốc gia Hà Nội và Khoa Thư viện Thông tin học Trường đại học khoa học
xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh đều đã đưa môn học lưu trữ vào
chương trình đào tạo của mình. Trong các cơ sở đào tạo kể trên chương
trình đào tạo của bộ môn thông tin thư viện trường đại học khoa học xã hội
và nhân văn thuộc Trường đại học quốc gia Hà Nội có phần đổi mới hơn cả
nhưng trên thực tế nhìn chung chương trình đào tạo của các trường cũng
còn có nhiều điểm bất cập chưa thực sự đúng với mục tiêu đã đặt ra. Trong
cấu trúc chương trình của các trường đều có phân ra thành các phần: Môn
bắt buộc và môn tự chọn nhưng việc tự chọn này chủ yếu là do thày chọn
chứ không phải do sinh viên chọn. Vì thế nhìn chung các chương trình đào
tạo của các trường đều là chương trình “cứng" chưa có trường nào xây
dựng được các chương trình đào tạo "mở ' theo đúng nghĩa của nó.
        Về phương thức đào tạo của các cơ sở đào tạo mặc dù đã có những
đổi mới nhất định nhưng nhìn chung còn đơn điệu, phương tiện giảng dạy
còn lạc hậu thô sơ, ít hấp dẫn do chưa áp dụng công nghệ mới vào công tác
giảng dạy. Tại Việt Nam hiện nay chỉ có một hình thức học duy nhất là học
tại trường lớp với phương thức chủ yếu là thày giảng trò nghe.
        Về cơ sở vật chất các trường đã bước đầu được trang bị những
phương tiện hiện đại để làm công cụ và phương tiện cho giảng dạy nhưng
nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu và tính chất đào tạo ngành
nghề. Trong 5 cơ sở đào tạo cán bộ TVTT trình độ đại học chỉ có Khoa
thông tin thư viện Trường Đại học Văn hoá Hà Nộ: và có được

                                          62
        Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


một thư viện thực hành tương đối quy củ với hơn 6000 tài liệu. Nhưng thực
chất thư viện này mới chỉ là mót nơi chứa tài liệu thực hành đơn thuần chứ
chưa phải là một thư viện thực hành theo đúng nghĩa của nó. Những tài liệu
có trong thư viện chủ yếu là sách báo truyền thống, những dạng vật mang
tin khác hầu như không có, bò máy tra cứu của thư viện còn hết sức nghèo
nàn.
       Về hình thức đào tạo nhìn chung các trường trong những năm gần
đây đều có sự đổi mới đáng khích lệ. Thực hiện chủ trương đa dạng hoá các
loại hình đào tạo, ngoài việc đào tạo chính quy tại chức, các trường đều có
mở thêm các lớp ngắn hạn và một số trường còn tiến hành liên kết với một
số cơ sở đào tạo khác mở các lớp hệ cao đẳng hoặc dưới hình thức dạy
nghề. Riêng Khoa thư viện thông tin Trường Đại học Văn hoá Hà Nội còn
thường xuyên mở các lớp cơ sở thư viện học và các lớp bồi dưỡng kiến
thức mới cho các cán bộ đã tết nghiệp đại học từ nhiều năm trước.
       Về chất lượng đào tạo nhìn chung cán bộ thông tin thư viện được đào
tạo tại các trường đã phần nào đáp ứng được yêu cầu của thực tế. Điều đó
đã được khẳng định trong kết quả điều tra và phỏng vấn nhưng qua đó theo
nhận xét của các nhà quản lý trong ngành các cán bộ thư viện thông tin của
Việt Nam còn chưa có khả năng sử dụng thành thạo máy tính và các
phương tiện hiện đại, yếu về mặt ngoại ngữ và chưa thật năng động trong
công tác.
  Về đội ngũ cán bộ giảng dạy nhìn chung còn mỏng và trình độ chuyên
 môn chưa cao, chưa đạt được sự phát triển tương ứng với nhu cầu đặt ra
 của thực tế. Số lượng cán bộ giáo viên trong các cơ sở đào tạo đều bị cắt
 giảm và ít so với trước đây (điển hình là khoa thông tin thư viện Trường
 Đại học Văn hoá Hà Nội chỉ còn hai phần ba so với trước). Đông nhất là
       Bộ môn Thông tin Thư viện Trường Đại học khoa học xã hội và




                                         63
        Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


  CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH VÀ GIẢI PHÁP VỀ ĐÀO TẠO CÁN BỘ
  THƯ VIỆN THÔNG TIN Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN XÃ
                        HỘI THÔNG TIN HIỆN ĐẠI


1. Mô hình đào tạo cán bộ thư viện thông tin
       Xây dựng được mô hình đào tạo cán bộ TVTT là một vấn đề then chốt
trong chiến lược đào tạo ngành TVTT. Mục tiêu chung của ngành thư viện
của Việt Nam là tiến hành hiện đại hoá với phương châm tận dụng cơ hội
tối đa để “đi tắt đón đầu” nhằm mục đích sớm bắt kịp sự phát triển của
cộng đồng thư viện thế giới. Để làm được điều đó cần phải nâng cao được
chất lượng đào tạo cán bộ TVTT và quan trọng hơn là phải xác định được
mô hình đào tạo phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam trong từng
giai đoạn phát triển. Từ thực tế nghiên cứu tìm hiểu về bối cảnh hiện tại và
những yêu cầu đặt ra trong xã hội thông tin hiện đại chúng tôi xin đề xuất
hai mô hình đào tạo: Mô hình đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tế
Việt Nam hiện nay và mô hình đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội
thông tin hiện đại trong tương lai.
l.1. Mô hình đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tế Việt Nam hiện
nay.
       Công tác thư viện trên thế giới đã có những bước phát triển vượt bậc
so với Việt Nam. Ngay từ năm 2001, Hội nghị IFLA lần thứ 67 đã đưa ra
định hướng "Ngành thông tin thông tin cần ứng dụng triệt để thành tựu của
công nghệ thông tin đê tiên dần đến quản lý tri thức". Trên thực tế hiện nay
ở một số nước phát triển trên thế giới người ta đã nói tới sự chuyển dịch từ
kỷ nguyên thông tin sang kỷ nguyên tri thức thì Việt Nam mới đang trong
quá trình chuẩn bị để bước vào kỷ nguyên thông tin. Nếu như ở trên thế
giới vấn đề tự động hoá công tác thư viện được triển khai vào thập kỷ 70,
các thư viện được nối mạng vào thập kỷ 80 thì ở Việt Nam công tác tự
động hoá được các thư viện quan tâm áp dụng vào thập kỷ 90 và vấn đề nối

                                         64
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


mạng thì hiện vẫn đang triển khai, số lượng các thư viện được nối mạng
chưa nhiều nếu tính trong tổng số các thư viện ở Việt Nam. Ngay từ những
năm 90 của thế kỷ XX vấn đề xây dựng thư viện điện tử, thư viện số đã trở
thành mối quan tâm hàng đầu của các nước phát triển. Hàng trăm cuộc hội
thảo trên thế giới đã đề cập đến vấn đề này. Nhiều dự án số hoá đã được
tiến hành. Thư viện Quốc hội Mỹ đã tiến hành một dự án với quy mô lớn
nhằm số hoá vốn tài liệu của họ, Nhật bản đã thực hiện dự án Thư viện điện
tử với kinh phí 6,5 tỷ yên Nhật (tương đương 60.000.000 USD), Cộng hoà
Liên bang Đức đã đầu tư 35.000.000 USD cho dự án số Global Infor, Quỹ
khoa học quốc gia Mỹ đưa ra sáng kiến số vốn tư liệu truyền thống đối với
6 thư viện trường đại học với kinh phí 24.000.000 USD...Trước thực tế đó,
khái niệm về thư viện điện tử, thư viện số, thư viện ảo đã trở nên hết sức
quen thuộc với cộng đồng thư viện thế giới. Và trong những năm đầu thế
kỷ XXI thư viện thế giới đã tồn tại dưới dạng thư viện hỗn hợp và thư viện
ảo.
      Ở Việt Nam các thư viện và trung tâm thông tin mới chỉ đang hướng
tới việc hiện đại hoá công tác thư viện. Một số dự án thư viện số, thư viện
điện tử cũng đã được triển khai nhưng thực chất các thư viện và cơ quan
thông tin ở Việt Nam mới đang từng bước triển khai áp dụng công nghệ
thông tin vào hoạt động. Số tài liệu giấy, kho đóng và hoạt động theo
phương thức thủ công vẫn còn tồn tại trong phần lớn các thư viện. Vì thế
theo nhận định của các nhà lãnh đạo và các chuyên gia trong ngành thư
viện thông tin kể từ nay cho tới năm 2010 các thư viện của Việt Nam vẫn
tiếp tục ở trong thời kỳ hiện đại hoá. Trong vòng năm, sáu năm tới tài liệu
dưới dạng giấy vẫn sẽ là loại tài liệu chiếm ưu thế mặc dù số lượng các tài
liệu điện tử được nhập vào các thư viện và cơ quan thông tin có thể sẽ tăng
lên nhiều. Ở Việt Nam công tác biên mục tại nguồn chưa đưa tiến hành.
Mặc dù Thư viện Quốc gia Việt Nam có đảm trách việc biên mục tập trung
nhưng vì nhiều lý do khác nhau rất ít thư viện sử dụng sản phẩm biên mục

                                        65
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


này. Do đó những nghiệp vụ phân loại, biên mục, đánh chỉ số vẫn giữ một
vị trí hết sức quan trọng trong các chương trình đào tạo của mọi trình độ.
     Tuy nhiên do tác động của công nghệ thông tin nguồn tin điện tử xuất
hiện ngày càng nhiều với các dịch vụ cung cấp linh hoạt, kinh tế Sự chuyển
dịch hoạt động từ thư viện được tổ chức, quản lý và cung cấp thông tin
truyền thống với các vật mang tin bằng giấy, các thư viện và cơ quan thông
tin đã dần dần chuyển sang sử dụng mạng và các công nghệ mới để tổ
chức, quản lý và đáp ứng các nhu cầu tin khác nhau. Điều này đòi hỏi
người cán bộ thư viện phải nắm bắt được công nghệ, có khả năng tổ chức,
đánh giá, khai thác các nguồn tin số hoá, hiểu biết về quản lý và các khía
cạnh pháp lý, kinh tế và chính trị của thông tin.
     Để đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn đặt ra khi xác định mô
hình đào tạo cần phải chú trọng đến đặc điểm: đào tạo cán bộ thư viện dựa
vào công nghệ thông tin. Trong các chương trình đào tạo cần mạnh dạn loại
bỏ những phần học nặng về lý thuyết không thực sự cần thiết. Trong các
chương trình đào tạo chuyên ngành TVTT cần tương thời lượng cho các
môn học về công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin chiếm
40% tổng số các đơn vị học trình. Trong các môn học thời gian giành cho
thực hành cũng phái nâng lên chiếm 50%. Khi xây dựng mục tiêu đào tạo
các chương trình đào tạo không nên chỉ dừng lại xác định là: đào tạo sinh
viên có trình độ lý luận và nghiệp vụ về tổ chức các thư viện hoặc cơ quan
thông tin tư liệu ở trung ương và địa phương. Sau khi tốt nghiệp sinh viên
có thể làm việc trong một thư viện hoặc trung tâm thông tin. Cần xác định
được những mục tiêu cụ thể đồng thời có tầm chiến lược hơn. Để mở rộng
đối tượng tiếp nhận đầu ra chúng ta có thể cần tính đến các doanh nghiệp,
các loại cơ quan tổ chức khác có thể sử dụng cán bộ TVTT phụ trách một
khâu công tác thông tin tài liệu, không nên chỉ khuôn định trong các thư
viện và cơ quan thông tin.



                                        66
        Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


       Mô hình tối ưu cho đào tao cán bộ TVTT trong thời gian hiện tại và
đến năm 2010 vẫn phải dựa trên nền tảng sẵn có hiện nay.
       Đối với đào tạo chuyên nghiệp: tiếp tục duy trì các cấp, các trình độ
đào tạo khác nhau hiện có như trung cấp, cao đẳng, đại học, cao học.
Nhưng cần chú trọng đến khả năng liên thông của các chương trình. Mặt
khác các trường đại học có đào lạo cán bộ TVTT cần sớm tiến hành đào tạo
trình độ tiến sĩ. Đó là nhu cầu cấp bách đang được đặt ra và không thể trì
hoãn.
       Trong các chương trình đào tạo chuyên nghiệp gắn với từng trình độ
cần chú trọng song hành các môn nghiệp vụ truyền thống với các môn về
công nghệ thông tin và ngoại ngữ. Cần có sự kế thừa, và tránh không lặp lại
hoàn toàn những kiến thức cũ khi đào tạo ở trình độ cao hơn. Các chương
trình đào tạo cần dược thiết kế để trang bị cho sinh viên và người học kiến
thức, kỹ năng và công cụ. Dù đào tạo ở trình độ nào các cơ sở đào tạo cũng
cần chú ý và xem xét và tuân thủ "Các nguyên tắc chỉ đạo chương trình
giáo dục TVTT chuyên nghiệp của IFLA".
       Đối với đào tạo bồi dưỡng cần tăng cường các lớp cập nhật kiến thức
và tập trung vào những vấn đề mới. Công tác đào tạo bồi dưỡng cần phải
được tiến hành thường xuyên và các cán bộ giảng dạy cũng cần phải tham
dự trực tiếp vào các khoá học này.
1.2 Mô hình đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội thông tin hiện
đại.
       Dù muốn hay không Việt Nam cũng tất yếu phải bước vào xã hội
thông tin với sự hình thành của nền kinh tế tri thức. Trong nền kinh tế dựa
trên tri thức, quản trị tri thức có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Và trên
thực tế lúc ấy người cán bộ thư viện sẽ không chỉ là người quản lý tư liêu,
quản lý thông tin mà còn là người quản lý tri thức. Nếu như trước đây
nhiều người cho rằng thư viện là cơ quan thông tin hay các bộ phận thông
tin tư liệu chi giữ vai trò trợ giúp, phụ trợ cho các cá nhân và cơ quan, tổ

                                         67
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


chức không trực tiếp tham gia vào các hoạt động có tính chất thiết yếu của
cơ quan tổ chức đó thì khi nền kinh tế tri thức đã hình thành người cán bộ
TVTT sẽ đóng vai trò mới. quan trọng hơn.
     Để đảm đương được các trọng trách của mình các cán bộ TVTT cần
được trang bị các kiến thức cơ bản bên cạnh các kiến thức hiện đại cần thiết
như: quản trị tri thức, thư viện điện tử, Internet, tạp chí điện tử, các khổ
mẫu siêu dữ liệu (metadata), xuất bản điện tử, các kỹ năng biên tập, đàm
phán…
     Theo các nhà nghiên cứu để thực hiện tốt chuyên môn nghề nghiệp
này, người cán bộ thư viện thông tin cần thực hiện bốn nhóm công việc
chức năng tụ trong hàm ý bốn chữ cái "C" của tiếng Anh là:
     Cl Kiến tạo các sản phẩm thông tin (creators): Kiến tạo ra được các
dạng sản phẩm thông tin như các cơ sở dữ liệu (CSDL), các loại xuất bản
phẩm thông tin, các báng tra, các danh mục (dtrectory) và các dịch vụ
thông tin . . .Họ sẽ là những người cần phải có khả năng hiểu biết công
nghệ để khai thác được hết tiềm năng của chúng một cách hiệu quả. Học
cần phải có năng lực để xây dựng hệ thống thông tin thân thiện, dễ sử dụng
với những dịch vụ đa dạng hữu ích.
     C2 - Thu thập thông tin (collectors): thông qua quá trình bổ sung và tổ
chức có thể kiểm soát và/ hoặc với tới một khối lượng nguồn tin cần và đủ
cho một lĩnh vực hoạt động. Họ là những người có sứ mệnh thu thập, tổ
chức và tạo ra những sưu tập thông tin sẵn sàng cho việc phục vụ. Mặc dù
là công việc tưởng như truyền thống song với những phát triển mạnh mẽ
của nguồn tin điện tử như Internet, tạp chí điện tử,... đòi hỏi ở họ những
cách tiếp cận hoàn toàn mới, công cụ mới và những hiểu biết mới .
     C3 - Tinh chế và biến đổi thông tin (consolidators): sử dụng các phép
biến đổi, xử lý nội dung ngữ nghĩa để tăng phần giá trị về nội dung thông
tin. Họ là những người xử lý, phân tích thông tin, hỗ trợ các nhà quản lý,
những người giữ vai trò ra quyết định. Họ đảm bảo những hoạt động lọc

                                       68
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


tin, nghiên cứu phân tích và bao gói thông tin. Nhờ có chức năng này,
người dùng tin trong xã hội sẽ có thêm nhiều sản phẩm và dịch vụ thông tin
có giá trị tăng cao (Value - added services).
     C4 - Lưu thông thông tin (communicators). Họ sẽ là những người đảm
bảo mối liên hệ chặt chẽ, là cầu nối giữa nguồn tin, người cung cấp tin và
người sử dụng thông tin. Mặc dù xu thế đưa thông tin trực tiếp đến người
sử dụng đầu cuối ngày càng tăng, song việc sử dụng thông tin ngày càng
phức tạp đòi hỏi những cán bộ thông tin thư viện phải là những chuyên gia
đủ năng lực giúp đỡ người dùng tin hoặc tạo ra những sản phẩm được thiết
kế riêng theo nhu cầu.
     Định đề của C. Mooers - người sáng lập ra lý thuyết tìm tin, cho rằng
"thông tin chỉ có giá trị khi bản thân nó (thông tin) có giá trị và được sử
dụng", do đó đòi hỏi người cán bộ TVTT phải tích cực đưa thông tin, dữ
liệu, tư liệu đến người sử dụng, chứ không phải chỉ đặt chúng trong kho
bảo quản cực an toàn. Giao tiếp một cách chủ động và tích cực với người
sử dụng thị trường, đẩy mạnh các mối tương tác giữa các cơ quan thông tin
làm cho văn thông tin được quay vòng nhanh trong thực tiễn trở thành điều
có ý nghĩa “cốt t” của hoạt động thông tin trong thời kỳ kinh tế vận hành
theo định hướng thị trường.
     Để hình thành đội ngũ cán bộ thư viện có những năng lực kể trên đòi
hỏi các cơ sở đào tạo phải xây dựng được mô hình đào tạo thích ứng với
các chương trình đào tạo hiện đại vừa đảm bảo tính chuyên môn hoá và
thích ứng với các đặc thù của loại hình thư viện và cơ quan thông tin các
học viên có nguyện vọng muốn tìm hiểu sâu. Điều quan trọng là khi xây
đựng chương trình một mặt các trường phải tuân thủ các môn học cốt lõi
của IFLA, một mặt vừa tạo ra nhiều môn tự chọn để sinh viên có thể lựa
chọn các chuyên môn sâu. Khi xây dựng mô hình này có thể tham khảo
thêm phương thức đào tạo cán bộ TVTT của các nước tiên tiến trên thế



                                        69
        Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


giới. Điều đó có nghĩa là nên đào tạo cử nhân và thạc sĩ thư viện học với
nhiều hình thức và chương trình khác nhau:
       Đối với trình độ đại học có thể đào tạo cho các học sinh có nguyện
vọng học với tư cách là ngành thứ nhất. Đối với các học viên đã tốt nghiệp
một bằng đại học khác, đào tạo thêm về mặt nghiệp vụ và thời gian nên tập
trung từ 1 đến 2 năm.
       Đối với trình độ cao học, đào tạo thạc sĩ cho cả hai đối tượng: những
người đã tốt nghiệp đại học thư viện hoặc quản trị thông tin và những
người tết nghiệp các đại học khác có nhu cầu công tác trong lĩnh vực thư
viện. Đào tạo thạc sĩ thư viện học có thể chia thành 2 loại: thạc sĩ và thạc sĩ
nghiên cứu. Để khẳng định vị thế của một ngành nghề và các trường đào
tạo cán bộ TVTT chuyên nghiệp thiết yếu phải đào tạo trình độ tiến sĩ. Có
thể tham khảo thêm mô hình của một số nước tiên tiến trên thế giới chỉ đào
tạo sau đào tạo và khoá học sau đại học được tổ chức tập trung từ 1 đến 2
năm.
2. Các giải pháp về đào tạo cán bộ thư viện thông tin
2.1 Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo
       Để nâng cao chất lượng đào tạo đòi hỏi các cơ sở đào tạo cần phải tiến
hành đồng bộ biện pháp khác nhau như:
       - Đổi mới chương trình đào tạo
       - Đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập; phương pháp kiểm tra
đánh giá.
       - Xây dựng được một hệ thống giáo trình và tài liệu tham khảo
       - Đảm bảo các điều kiện vật chất và kỹ thuật.
       - Nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ giảng dạy.
       - Nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ giảng dạy là một biện pháp
nhưng đồng thời cũng là một giáp pháp hết sức quan trọng vì thế chúng tôi
đạt biện pháp này thành một giải pháp và sẽ trình bày cụ thể trong phần



                                         70
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


sau. Trong phạm vi giải pháp này chúng tôi chỉ tập trung vào bốn nội dung
kể trên.
     Thứ nhất cần phải thiết kế được chương trình đào tạo định hướng vào
công nghệ thông tin, đổi mới nội dung đào tạo. Chương trình phải theo kịp
được yêu cầu phát triển. Với nhu cầu thực tiễn của xã hội thông lin đòi hỏi
các huyên gia trong lĩnh vực thư viện học và thông tin học cần được đào
tạo một cánh toàn diện với những định hướng chuyên ngành đa dạng hơn.
Sinh viên cần phải được trang bị một cơ cấu kiến thức thích hợp để sau khi
ra trường có năng lực, kỹ năng đa dạng có thể thu thập, xử lý, phân tích,
lưu trữ , phổ biến và cung cấp thông tin dưới các dạng thức khác nhau theo
yêu cầu của người đọc và người dùng tin. Yêu cầu đặt ra của thực tế là như
vậy nhưng nhìn chung các chương trình đào tạo hiện nay còn bộc lộ một
điểm yếu cơ bản là: hàm lượng tin học và công nghệ thông tin còn hạn chế.
Nếu như trước đây các chương trình có thể áp dụng trong vòng 10 năm thì
ngày nay cứ 5 năm các chương trình này cần phải được xem xét và cập
nhật để bắt kịp với yêu cầu của thực tế phát triển với tốc độ cao như hiện
nay. Các chương trình đào tạo cần chú ý cung cấp cho sinh viên, những
người cán bộ TVTT trong tương lai kiến thức, kỹ năng và công cụ. Cần hết
sức lưu ý bồi dưỡng kỹ năng thực hành, định hướng vào công tác xử lý,
khai thác và phát triển các dịch vụ, giúp cho học viên có khả năng đáp ứng
ngay đòi hỏi của công việc. Để đạt được những hướng đích kể trên, trong
các chương trình đào tạo cần đưa vào các nội dung sau:
     - Quản trị công nghệ thông tin bao gồm cả chính sách thông tin, luật
pháp thông tin, các hệ thống và cấu trúc.
     - Công nghệ thông tin mới và ứng dụng.
     - Thông tin và tiếp cận: ngoài những nguyên tắc và phương pháp
truyền thống phải nắm được các kỹ thuật tiếp cận và vật mang tin mới.




                                        71
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


     Trong công tác phát triển nguồn tài liệu cần phải truyền đạt nguyên
tắc kết hợp giữa sở hữu tại chỗ và khả năng với tới các nguồn tin ở nơi
khác thông qua chia sẻ nguồn lực.
     - Lý thuyết tìm tin hiện đại: cần thiết phải nắm được các đặc điểm của
phương pháp tìm tin đối với các nguồn tin khác nhau, đặc biệt là các nguồn
tin điện tử.
     - Nghiên cứu xác định được nhu cầu của người dùng tin và người đọc.
Thực hiện marketing thông tin.
     Trong các nội dung trên bồi dưỡng kỹ năng về công nghệ thông tin và
viễn thông là hết sức quan trọng bởi xu thế phát triển mạng Internet, nguồn
tin điện tử và thư viện điện tử đang ngày trở nên phổ biến. UNESCO đã
cho rằng các môn học về công nghệ thông tin và viễn thông cần được thiết
kế để giúp cho người học có được một số kiến thức và kỹ năng về lịch sử
phát triển công nghệ, quan hệ của công nghệ thông tin với nghề TVTT; có
khả năng thiết kế các sản phẩm thông tin, có kỹ năng thiết kế và phân tích
hệ thống, biết đánh giá và lựa chọn phần mềm, kỹ năng tạo ra và bao gói
các dịch vụ thông tin tin học hoá, kỹ năng xác định nguồn tin điện tử...
     Cùng với định hướng công nghệ thông tin, các chương trình còn phải
lưu ý đến việc trang bị cho sinh viên các kỹ năng khác như kỹ năng tiếp thị.
đàm phán, bao gót thông tin nhằm chuẩn bị cho việc thực hiện các dịch vụ
thông tin có thu phí Cần bổ sung thêm các chuyên để về tổ chức hoạt động
thông tin, quản trị thông tin, quản trị tri thức ở các cơ quan doanh nghiệp
không phải là các đơn vị thư viện và cơ quan thông tin chuyên nghiệp. Điều
này sẽ mở rộng kỹ năng tiếp nhận và tạo nhiều cơ hội có thêm việc làm cho
các sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành TVTT.
     Thứ hai cần phải đổi mới phương pháp dạy và học cùng với phương
pháp kiểm tra đánh giá. Qua thực tế tìm hiểu tại các trường đào tạo chuyên
ngành TVTT ở Việt Nam hiện nay, tình trạng phổ biến vẫn tồn tại là: số giờ
lên lớp lý thuyết còn nhiều, số môn học nhiều; học sinh vẫn phải học theo

                                        72
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


phương thức thụ động nhồi nhét; phương pháp giảng dạy của các giảng
viên còn rất truyền thống với “bảng đen và phân trắng ", thày đọc trò ghi,
thụ động lắng nghe; công tác đánh giá và kiểm tra còn hết sực nặng nề và
có nhiều bất cập cho khuyến khích tính tích cực của người học.
     Để có điều đó có hiệu quả, cần sắp xếp nội dung giảng dạy sao cho
phù hợp với tỷ lệ giữa giờ giảng trên lớp và giờ thực hành (giờ sêmina, giờ
tự học). Đặc biệt một số môn học nặng về nghiệp vụ và luyện kỹ năng như.
"Khai thác mạng ", "Biên mục mô tả ", "Phân loại "Xử lý thông tin ", “Định
chủ đề ", "Định Từ khoá ", "Tin học tư liệu”,… cần tăng thời gian thực
hành nhiều hơn là lý thuyết.
     Việc đổi mới phương pháp giảng dạy chuyên ngành TT-TV còn cần
phải đặc biệt hướng tới việc sắp xếp cấu trúc nội dung giảng dạy sao cho có
sự trợ giúp của các phương tiện giảng dạy hiện đại để bài giảng sinh động
hơn, hấp dẫn hơn, thu hút sự chú ý của sinh viên.
     Đổi mới phương pháp học tập của học sinh viên chính là phát huy tính
tích cực, độc lập, sáng tạo trong học tập, rèn luyện kỹ năng thực hành, tham
gia nghiên cứu khoa học. hình thành thói quen tự học, tự tìm hiểu và thói
quen đọc sách của sinh viên.
     Để có thể phát huy hiệu quả tính tích cực học tập chủ động của sinh
viên chuyên ngành TVTT vẫn cần phải có sự giúp đỡ tích cực của thầy và
tự học của trò. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, sinh viên có điều kiện
nhanh chóng tiếp cận với những tri thức khoa học mới và phương pháp
nghiên cứu khoa học đó. Giáo viên cần giúp đỡ các em gợi mở những vấn
đề mới nảy sinh trong thực tiễn nghề nghiệp hiện nay chưa nghiên cứu
nhiều, đặc biệt các chuyên đề có tính chất lý luận như: “thông tin học",
"Thư viện học ", "Các quá trình và hệ thông thông tin", "Nguồn lực thông
tin", "Tự động hoá Thư viện và cơ quan thông tin"...




                                       73
        Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


     Trên cơ sở ra các bài tập thực hành, tổ chức các buổi seminar, ra các
đề tài nghiên cứu hoặc đề tài khoá luận giáo viên từng bước giúp các em
hình thành một phương pháp học tập và nghiên cứu phù hợp.
     Để nâng cao chất lượng đào tạo vấn đề đổi mới phương pháp dạy và
học có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Nhưng song hành với những điều
đó cần phải đổi mới phương thức kiểm tra và đánh giá. Cần tránh khuynh
hướng đánh giá qua việc học thuộc lòng và tái hiện lại kiến thức của sinh
viên. Vấn đề quan trọng là phải đánh giá được khả năng lĩnh hội và vận
dụng kiến thức của các em. Người giảng viên cần phải căn cứ vào đặc điểm
nội dung của từng môn học để chọn hình thức kiểm tra vấn đáp, viết hay
trắc nghiệm cho phù hợp. Đối với những môn cần phải rèn luyện kỹ năng
cần phải cho sinh viên làm nhiều bài tập thực hành. Điểm của môn học phải
được phải được đánh giá thông qua cả quá trình: học tập, tham gia thảo
luận và các bài tập thực hành...Có như vậy mới tránh được sự tình cờ may
rủi và khuyến khích sinh viên học tập tốt.
     Thứ ba cần xây dựng được một hệ thống giáo trình và tài liệu tham
khảo.
     Trong công tác đào tạo, giáo trình và tài liệu tham khảo là một phương
tiện quan trọng và cần thiết để đảm bảo chất lượng đào tạo. Đó là một công
cụ không thể thiếu được đối với các thày và trò.
     Đối với công tác giảng dạy, giáo trình là một trong những phương tiện
chuyển tải và phổ biến kiến thức trong các điều kiện khác nhau. Đó là cơ sở
để giảng viên trình bày vấn đề một cách tập trung, là điều kiện tiên quyết
để đổi mới phương pháp giảng dạy khắc phục tình trạng học chạy.
     Đối với việc học tập, giáo trình tài liệu tham khảo là phương tiện để
học sinh có được những thông tin cơ bản, cần thiết liên quan đến nội dung
môn học, mở rộng và nâng cao kiến thức. Đó là phương tiện giúp người
học có thể thực hiện việc tự học, tự nâng cao trình độ.



                                         74
         Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


     Đáng tiếc là chưa có cơ sở đào tạo xây dựng được hệ thống giáo trình
và tài liệu tham khảo đầy đủ. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là: Các
cơ sở đào tạo chưa quan tâm đúng mức đến công tác biên soạn giáo trình,
chưa đề ra chế độ thoả đáng với việc biên soạn giáo trình và tài liệu tham
khảo, lực lượng các giảng viên có đủ trình độ biên soạn giáo trình còn thiếu
và yếu. Để xây dựng được một hệ thống các giáo trình đảm bảo các yêu cầu
về tính đầy đủ, hiện đại, lôgic, khái quát, thực tiễn và thiết lập một hệ thống
các tài liệu tham khảo phong phú, đa dạng đòi hỏi các cơ sở đào tạo phải
tiến hành một số biện pháp cụ thể sau:
     - Các cơ sơ đào tạo cần có kế hoạch trong việc biên soạn và xuất bản
giáo trình. Thường xuyên đánh giá lại các giáo trình hiện có, sửa đổi bổ
sung những điểm còn bất cập và biên soạn mới đối với những môn học
chưa có giáo trình.
     - Xây dựng chế độ thù lao thích hợp cho việc biên soạn giáo trình và
tài liệu tham khảo.
     - Cải tiến phương pháp biên soạn giáo trình.
     - Tổ chức phối hợp và hợp tác trong hoạt động biên soạn giáo trình và
bổ sung các tài liệu tham khảo.
     - Tiến hành dịch các tài liệu tham khảo và giáo trình tiên tiến của nước
ngoài.
     - Biên soạn mục lục liên hợp các tài liệu nghiệp vụ.
     - Khuyến khích và có biện pháp thúc đẩy công tác nghiên cứu khoa
học trong đội ngũ cán bộ giảng viên giúp họ cập nhật kiến thức đồng thời
phát huy năng lực sáng tạo của họ. Kết quả của các công trình nghiên cứu
sẽ bổ trợ tư liệu và thông tin cho công tác giảng dạy nói chung và công tác
biên soạn giáo trình, tài liệu tham khảo nói riêng.
     - Các cơ sở đào tạo cần chú trọng đến vấn đề bản quyền của các tác
giả có giáo trình, tránh tình trạng tác giả chỉ được trả nhuận bút một lần còn
giáo trình được sử dụng tái bản nhiều lần.

                                          75
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


     - Cần đa dạng hoá các giáo trình thích ứng với các trình độ đào tạo của
từng bậc đào tạo: cơ sở, trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học.
     Thứ tư cần đảm bảo các điều kiện vật chất và kỹ thuật.
     Ngày nay vai trò của các trang thiết bị và điều kiện vật chất kỹ thuật
trong giảng dạy ngày càng trở nên hết sức quan trọng. Vấn đề tăng cường
các phương tiện hiện đại nhằm nâng cao chất lượng đào tạo là một vấn đề
thường xuyên được nhắc đến nhưng lại chưa được thực sự quan tâm vì
nhiều lý do khác nhau. Cùng với việc đổi mới chương trình, nội dung đào
tạo việc sử dụng các thiết bị giáng dạy hiện đại sẽ góp phần không nhỏ
trong việc thay đổi môi trường học tập, tăng cường tính tích cực, chủ động,
kích thích sự hứng khởi say mê và rèn luyện khả năng tự học của sinh viên.
     Hiện nay tình trạng phổ biến tồn tại trong các trường dạy nghề TVTT
là thiếu các phương tiên giảng dạy hiện đại, cơ sở vật chất kỹ thuật dành
cho đào tạo còn hạn chế. Các máy projector, overhead, scanner và đặc biệt
là các thiết bị bảo quản tài liệu còn chưa được sử dụng rộng rãi và phổ cập.
Những đảm bảo về máy tính, mạng, phần mềm và các phương tiện thực
hành khác chưa được chú ý trong các chủ đề đào tạo ở mọi trình độ. Do
chưa có đủ điều kiện vật chất, chất lượng thực hành và tự học của sinh viên
không thể được đảm bảo. Để giải quyết được vấn đề này đòi hỏi ban lãnh
đạo của các trường có đào tạo cán bộ TVTT phải có sự đầu tư và quan tâm
thoả đáng. Trong thời đại "môi trường điện tử" hiện nay ở nhiều nước tại
các giảng đường người ta trang bị các thiết bị như: thiết bị nghe nhìn, thiết
bị tin học phục vụ trình bày, phần mềm trình bày, mạng internet. . .
     Cần nhanh chóng trang bị các thiết bị giảng dạy hiện đại trong các
giảng đường. Những thiết bị đào tạo này sẽ giúp tăng lượng thông tin
truyền đạt trong cùng một thời gian giảng bài, sự chính xác trong giảng dạy
sẽ được đảm bảo hơn và sinh viên sẽ không phải lo nghe nhầm, ghi nhầm.
Thời gian giành cho bài giảng sẽ được tăng lên vì không bị mất thời gian
cho việc chuẩn bị các sơ đồ, các minh hoạ được chuẩn bị kỹ sẽ có tình

                                        76
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


thuyết phục và đầy đủ hơn. Mặt khác những phương tiện giảng dạy hiện đại
cũng đảm bảo cho người học sự hứng thú và thuận tiện cho việc tiếp thu.
lĩnh hội kiến thức.
2.2. Giải pháp nâng cao trình độ và khả năng cua đội ngũ những người
làm công tác giảng dạy.
     Trong bất cứ một nhà trường nào người giáo viên cũng giữ một vai trò
hết sức quan trọng. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Không thầy đố mày làn
nên”. Mặc dù thực tế đã có nhiều thay đổi, phương châm giáo dục mới là
lấy người học là trung tâm nhưng không vì thế mà vị thế của người thày
giảm sút. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào người thày luôn giữ vị trí quan
trọng quyết định chất lượng đào tạo của một ngành nghề. Trong bối cảnh
hiện nay người thày thực sự đã trở thành chuyên gia về việc học, là người
tổ chức và hướng dẫn quá trình dạy - tự học, quá trình kết hợp cá nhân
hoá với xã hội hoá việc học của người học". Giảng viên là người chủ động
điều hành mối tương tác giữa thày-trò và tri thức, phát huy tính năng động
tích cực của sinh viên giúp họ nắm được các kiến thức, trau dồi các kỹ
năng một cách hiệu quả nhất. Để đào tạo ra đội ngũ cán bộ TVTT có trình
độ đòi hởi người giảng viên cần phải có kiến thức chuyên môn giỏi, có khả
năng quản lý và kiến thức sư phạm. Đáng tiếc là hiện tại ngành TVTT chưa
có được một đội ngũ cán bộ giảng dạy đạt được đầy đủ các tiêu chuẩn kể
trên. Nằm trong bối cảnh chung của giáo dục đại học của Việt Nam đội ngũ
cán bộ giảng dạy của các trường đào tạo ngành TVTT cũng không tránh
khỏi tình trạng "vừa thiếu lại vừa yếu (như nhận định của Thủ tướng Phan
Văn Khải trong Hội nghị giáo dục đại học tổ chức vào táng 10 năm 2001).
Số lượng các cán bộ giảng dạy tại Các trường đào tạo nghề TVTT còn quá
ít ỏi (Bộ môn thông tin thư viện Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
thuộc Đại học Hà Nội đông nhất cũng chỉ có 19 người, các khoa khác tại
các trường đại học khác chỉ có từ 6 đến 15 người). Do không tiến hành đào
tạo tiến sĩ ở trong nước nên chỉ có rất ít giảng viên có điều kiện đi học tiến

                                        77
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


sĩ ở nước ngoài. Do không có sự bồi dưỡng liên tục nên 2/3 trong số đó là
các giảng viên trẻ. Trong các chương trình đào tạo cán bộ TVTT hiện nay
chưa có một chương trình đào tạo riêng cho giáo viên. Trong chương trình
đào tạo thạc sĩ tất cả các học viên đều được học phương pháp giảng dạy đại
học. Nhưng điều đó không có nghĩa là mọi thạc sĩ đều có khả năng đứng
trên bục giảng làm thày.
     Để nâng cao trình độ và khả năng của những người làm công tác giảng
dạy có thể áp dụng một số biện pháp cụ thể sau:
     - Phải hình thành các trung tâm đào tạo giáo viên ngành TVTT càng
sớm càng tốt. Nhiệm vụ cơ bản của trung tâm này là đào tạo và kiểm tra
chất lượng của giáo viên ngành TVTT. Nội dung đào tạo có thể hướng tới
các vấn đề như: phương pháp giảng dạy, tri thức về chuyên ngành thư viện,
ngoại ngữ và quản lý.
     - Để hình thành đội ngũ cán bộ giảng dạy đảm trách các môn gắn với
công nghệ thông tin và khai thác mạng có thể áp dụng một trong ba biện
pháp sau: cử các giảng viên có trình độ nghiệp vụ trong đơn vị đi đào tạo
và công nghệ thông tin ứng dụng; tiếp nhận kỹ sư công nghệ thông tin đào
tạo tại chỗ hoặc gửi đi đào tạo về nghiệp vụ thư viện hoặc mời các cán bộ,
các chuyên gia giỏi về nghiệp vụ thư viện, hiểu sâu về công nghệ thông tin
của các thư viện và cơ quan thông tin làm cán bộ giảng dạy kiêm nhiệm.
     - Đối với các giảng viên trẻ chưa có kinh nghiệm thực tiễn nghề
nghiệp cần gửi đến các thư viện và cơ quan thông tin trong khoảng thời
gian từ 1 đến 2 năm. Có thể liên hệ với các thư viện và cơ quan thông tin
cho các cán bộ giảng dạy làm viện bán thời gian để tăng cường kinh
nghiệm nhất là đối với các môn đòi hỏi thực hành nhiều. Không thể rèn
luyện kỹ năng cho sinh viên nếu bản thân người thày không có kỹ năng
thực sự.
     - Đối với các giảng viên có tuổi ưu điểm nổi bật của họ là có kinh
nghiệm nhưng hạn chế của họ là khả năng tiếp cận và sử dụng công nghệ

                                       78
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


mới. Để theo học các khoá đào tạo về công nghệ hoặc những vấn đề mới
các cán bộ giảng dạy này thường có tâm lý ngại ngùng. Để khắc phục điểm
hạn chế này đòi hỏi phải đẩy mạnh sinh hoạt chuyên môn và tổ chức các
lớp học tại chỗ cho giảng viên. Vấn đề cập nhật kiến thức cho các giáo viên
là một vấn đề cần phái được quan tâm thoả đáng.
     - Các giáo viên được tuyển chọn về các cơ sở đào tạo không chỉ đơn
thuần tốt nghiệp từ cơ sở đào tạo đó với kết quả học tập cao mà còn từ
nhiều khoa khác trường khác. Nên ưu tiên cho các cán bộ TVTT có kinh
nghiệm công tác và khả năng sư phạm.
     - Cơ cấu về tuổi tác cần hợp lý để cân bằng tỷ lệ của những người có
khả năng, kinh nghiệm và những người trẻ tuổi còn thiếu kinh nghiệm.
     - Các giáo viên cần được khuyến khích tham gia nghiên cứu khoa học
và các buổi hội thảo, sinh hoạt chuyên môn để mở mang kiến thức, trau dồi
học thuật.
     - Để mỗi giáo viên có thể đứng vững trên bục giảng đòi hỏi từng cán
bộ giáo viên phải hết sức nỗ lực phấn đấu song mặt khác Bộ Giáo dục &
Đào tạo, Bộ Văn hoá Thông tin và trực tiếp là lãnh đạo các trường có cơ sở
đào tạo chuyên ngành khoa học thư viện thông tin cần phải có những chính
sách cán bộ hợp lý, đảm bảo đời sống cho những người làm công tác giảng
dạy. Cần phải tăng cường đầu tư' cho công tác nghiên cứu khoa học, nàng
cao trình độ tin học, ngoại ngữ và khả năng sử dụng các phương tiện hiện
đại cho các giảng viên. Cần tạo điều kiện cho các giảng viên có cơ hội đi
dự các cuộc hội thảo, học tập tham quan ở nước ngoài bằng kinh phí của
nhà nước. Ở Việt Nam hiện nay chưa có đào tạo tiến sĩ Ở trong nước do đó
cần tạo điều kiện cho các giảng viên ra nước ngoài để học tập.
     - Các cán bộ làm công tác giảng dạy cần có sự hợp tác chặt chẽ với
các nhà khoa học, các cán bộ giảng dạy của các cơ sở đào tạo khác để đảm
bảo nguồn lực cán bộ giảng dạy.
2.3 Giải pháp đào tạo thường xuyên

                                        79
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


     Học tập thường xuyên suốt đời có một ý nghĩa rất quan trọng đối với
nghề thư viện thông tin vì những cán bộ của ngành này phải trực tiếp tham
gia vào việc phục vụ cho việc học suất đời của xã hội. Họ sẽ phải đóng góp
một phần tích cực vào việc xây dựng một xã hội học tập - một sứ mệnh hết
sức cao cả.
     Chất lượng của dịch vụ TVTT phụ thuộc vào chất lượng của đội ngũ
cán bộ TVTT. Năng lực của người cán bộ TVTT chỉ có thể được duy trì và
hoàn thiện thông qua việc thường xuyên được đào tạo bồi dưỡng. Chính vì
lý do đó đào tạo thường xuyên đã được IFLA xác định là một trong những
chương trình cốt lõi.
     Đào tạo thường xuyên là một quá trình liên tục học tập để cập nhật các
tri thức và kỹ năng trên cơ sở các kỹ năng và tri thức đã có trước của các cá
nhân. Đào tạo nghề nghiệp thường xuyên là một biện pháp quan trọng để
giành được ưu thế cạnh tranh của một nghề nghiệp. Trong bối cảnh công
nghệ không ngừng thay đổi, đào tạo thường xuyên sẽ tạo điều kiện, khả
năng bồi dưỡng cập nhật thêm cho đào tạo cơ bản, giúp cho người cán bộ
TVTT nắm được những khái niệm mới, theo kíp những kiến thức và kỹ
năng mới cần thiết cho việc thực thi các công việc của mình. chuẩn bị cho
sự hình thành tính chất chuyên môn hoá trong nghề thư viện.
     Công tác đào tạo thường xuyên cần được đẩy mạnh và được sự quan
tâm hơn nữa của các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp, các thư viện, trung tâm
thông tin lớn, các tổ chức nghề nghiệp: Hội, Liên hiệp.
     Để công tác đào tạo thường xuyên đạt được hiệu quả cao đòi hỏi các
nhà tổ chức các lớp học phải phân tích và đánh giá được các yêu cầu và
nhu cầu đào tạo thường xuyên của các cán bộ TVTT trong thực tế, bao
gồm:
     - Sắp xếp tổ chức công việc là yếu tố liên tục thay đổi thông qua đầu
vào tri thức mới, công nghệ mới và những mong đợi từ phía công chúng



                                        80
        Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


đối với công tác phục vụ, môi trường chính là động lực thúc đẩy và định
hướng của đào tạo thường xuyên
       - Nhu cầu mối quan tâm của học viên
       - Những kinh nghiệm đào tạo nghề nghiệp có chất lượng cao để quyết
định khả năng thiết kế và phân phát của các nhà cung
       Bên cạnh đó khi tiến hành đào tạo thường xuyên, đòi hỏi các cơ sở
đào tạo và các thư viện cơ quan thông tin phải xác định được các nhóm
mục tiêu.
       - Đối với những người chưa có văn bằng đào tạo chuyên nghiệp hiện
đang làm công tác thư viện hoặc có nhu cầu làm công tác thư viện cần tiến
hành tổ chức các khoá đào tạo các kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp cơ
bản.
       Đối với các cán bộ đã được đào tạo cơ bản, tốt nghiệp một trình độ
nhất định có thể tiến hành đào tạo liên tục dưới dạng cập nhật kiến thức
mới, đào tạo nâng cao, đào tạo chuyên sâu.
       Đào tạo thường xuyên có thể được thực hiện bởi các cơ sở đào tạo các
thư viện trung tâm, các thư viện lớn các trung tâm thông tin đứng đầu hệ
thống các hội các liên hiện. Về hình thức có thể tổ chức đào tạo thường
xuyên dưới các dạng tập huấn, lớp học, hội thảo... Sau khi các học viên
tham dự các lớp tập huấn, lớp học có thể cấp cho họ các chứng chỉ phù hợp
với nội dung và chương trình đào tạo.
2.4. Giải pháp đẩy mạnh xã hội hoá
       Trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta dành sự quan tâm đặc
biệt cho giáo dục và đào tạo. Để đẩy mạnh sự phát triển của giáo dục và
đào tạo một trong những giải pháp hàng đầu đã được Đảng ta xác định là:
Tăng cường các nguồn lực cho giáo dục và đào tạo một trong những giải
pháp hàng đầu đã được Đảng ta xác định là: Tăng cường xã hội hoá công
tác giáo dục và đào tạo.



                                         81
         Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


     Trên thực tế, Xã hội hoá công tác giáo dục đào tạo là một những chủ
trương lớn của Đảng và Nhà nước.
     Xã hội hoá công tác giáo dục là một giải pháp tối ưu để thực hiện chủ
trương về một nền "giáo dục nhân dân" vốn có của dân tộc Việt Nam. Nó
góp phần giải quyết những mâu thuẫn mang tính thời đại trong công tác
đào tạo nói chung và đào tạo cán bộ TVTT nói riêng của Việt Nam và thế
giới. Đó là các mâu thuẫn:
     - Mâu thuẫn giữa tốc độ và qui mô phát triển vê nhu cầu đào tạo của
xã hội với những năng lực đáp ứng của hệ thống giáo dục đào tạo của Nhà
nước.
     - Mâu thuẫn giữa những đòi hỏi về năng lực và chất lượng cán bộ với
nội dung chương trình đào tạo của nhà trường.
     - Mâu thuẫn giữa tính đa dạng về điều kiện, về nhu cầu, về trình độ, về
lứa tuổi của người đọc với tính chặt chẽ, hàn lâm, quan liêu của hệ thống
đào tạo.
     Để thúc đẩy công tác xã hội hoá đào tạo cán bộ TVTT có ba vấn đề
cần quan tâm xem xét:
     - Nhu cầu thực tế về đào tao cán bộ TVTT và khả năng đáp ứng nhu
cầu đó
     - Phương hướng và mục tiêu của xã hội hoá đào tạo cán bộ TVTT.
     - Các giải pháp và phương hướng đẩy mạnh xã hội hoá trong đào tạo
cán bộ TVTT ở Việt Nam hiện nay.
     Chúng ta sẽ xem xét từng vấn đề.
     Thứ nhất: nhu cầu thực tế về đào tạo cán bộ TVTT và khả năng đáp
ứng nhu cầu đó
     Theo con số thống kê của Vụ Thư viện - Bộ Văn hoá thông tin đến
nay cả nước có khoảng 26.000 thư viện, tủ sách, phòng đọc với mạng lưới
thư viện rộng khắp cả nước vì thế nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng để nâng
cao trình độ đội ngũ cán bộ TVTT được đặt ra là rất lớn. Đáng tiếc là các

                                          82
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


cơ sở đào tạo hiện nay chưa có khả năng đáp ứng được các yêu cầu đang
đặt ra của thực tế.
     Như vậy, xét về nhu cầu đào tạo chuyên nghiệp và đào tạo lại cán bộ
TVTT là rất lớn, trong khi chỉ tiêu đào tạo và ngân sách cho đào tạo nói
chung và chuyên ngành TVTT nói riêng là rất hạn chế. Vì vậy, một số cơ
sở đào tạo cán bộ TVTT đã thực hiện Nghị quyết số: 90-CP của chính phủ
về "Phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế,
văn hoá " bằng các hình thức: Thành lập trường đại học dân lập (như khoa
Thông tin và Quản trị thông tin tại Trường đại học dân lập Đông Đô); ở các
cơ sở đào tạo công lập ngoài việc đào tạo chính quy, tại chức, các cơ sở này
mở thêm các lớp ngắn hạn, một số liên kết với các cơ sở khác mở các lớp
hệ cao đẳng hoặc dưới dạng dạy nghề, mở các khoá bồi dưỡng kiến thức
mới cho các cán bộ đã tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng, đại học về thư viện
thông tin từ nhiều năm trước. Tuy nhiên, do bị hạn chế về nhiều mặt như:
lực lượng cán bộ giảng dạy mỏng, trình độ giảng viên còn hạn chế, cơ sở
vật chất chưa đáp ứng được nhu cầu đào tạo, chương trình, giáo trình chưa
phù hợp, phương thức đào tạo đơn giản,... nên chất lượng đào tạo chưa cao
và không mở rộng được quy mô đào tạo Mặt khác, cơ chế chính sách để
thực thi Nghị quyết: 90-CP của chính phủ còn nhiều bất cập như chính sách
thuế, đất đai, tín dụng, huy động vốn, đầu tư, quản lý tài sản,... và chưa cụ
thể hoá - nhất là đối với công tác đào tạo cán bộ ngành Văn hoá Thông tin
nói chung và ngành Thư viện- Thông tin nói riêng.
     Thứ hai: Phương hướng và mục tiêu của xã hội hoá đào tạo cán bộ
Theo quan điểm của Đảng, xã hội hoá giáo dục là huy động mọi lực lượng
xã hội bao gồm các tầng lớp nhân dân, các cộng đồng, tổ chức, cơ quan,
doanh nghiệp cùng tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo, tham
gia quá trình giáo dục dưới sự quản lý của nhà nước đồng thời tạo điều kiện
để mọi người dân được thừa hưởng thành quả do hoạt động giáo dục đem



                                        83
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


lại tạo nên một phong trào học tập trong toàn dân, tiến tới xây dựng và hình
thành một xã hội học tập.
     Trên cơ sở mục tiêu tổng quát trên, xã hội hóa công tác đào tạo cán bộ
TVTT hướng tới các mục tiêu cụ thể sau:
     - Phát triển các nguồn lực đào tạo cán bộ TVTT ngoài công lập
     - Tạo lập đội ngũ giảng viên bán chuyên nghiệp tham gia quá trình
đào tạo cán bộ TVTT
     - Mở rộng cơ hội và điều kiện học tập cho mọi người
     - Tạo sự đa dạng và phong phú về nội dung, chương trình và phương
thức đào tạo, làm cho mục tiêu đào tạo của nhà trường tương hợp với yêu
cầu của xã hội.
     *Phát triển các nguồn lực đào tạo cán bộ TVTT ngoài công lập.
     Từ trước đến nay trách nhiệm đào tạo cán bộ TVTT hoàn toàn do nhà
nước đảm nhiệm. Sở dĩ có tình trạng này là vì nhiều nguyên nhân khác
nhau. Thứ nhất vì nghề TVTT hiện nay chưa phải là một nghề hấp dẫn về
phương diện thu nhập. Thứ hai, phần lớn cán bộ TVTT từ trước đến nay
chỉ làm việc trong các cơ quan của nhà nước. Vì hai lý do trên, các cơ sở
đào tạo dân lập chưa chú ý đến ngành học này. Các cơ sở đào tạo cán bộ
TVTT hiện do Bộ Văn hoá Thông tin quản lý và một vài cơ sở khác do Bộ
Giáo dục Đào tạo và Bộ Quốc phòng quản lý, chưa đáp ứng được nhu cầu
học ngày càng cao của xã hội. Đơn cử như: Trường Đại học Văn hoá Hà
Nội hằng năm có từ 2 đến 3 nghìn thí sinh đăng ký dự thi, nhưng chỉ có thể
tuyển được khoảng 120 sinh viên, Trường Cao đẳng Văn hoá TP. HCM có
từ 1 .500 đến 2.000 thí sinh đăng ký dự thi cũng chỉ có thể tuyển từ 70 đến
80 sinh viên theo chỉ tiêu hằng năm…
     Vì thế giảm áp lực cho các cơ sở đào tạo cán bộ TVTT công lập, việc
thành lập một hệ thống dào tạo không chính quy và ngoài công lập là cần
thiết và hoàn toàn khả thi trong điều kiện hiện nay, bởi vì hoạt động TVTT
đã được mở rộng, thâm nhập vào mọi ngành, mọi nghề, mọi thành phần

                                       84
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


kinh tế khác nhau, và nhu cầu khai thác và sở hữu thông tin tăng nhanh về
số lượng cũng như về chất lượng theo tốc độ phát triển của xã hội.
     *Tạo lập đội ngũ giảng viên bán chuyên nghiệp tham gia quá trình đào
tạo cán bộ TVTT:
     Hiện nay, đội ngũ giảng viên giảng dạy chuyên nghiệp chủ yếu được
biên chế ở các cơ sở đào tạo công lập, mà số lượng giảng viên của các
trường đại học chức chưa vượt quá 70 người. Đông nhất, Bộ môn Thông
tin - Thư viện học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học
Quốc gia Hà Nội có 19 người và 4 cán bộ kiêm nhiệm, tiếp theo là Khoa
TVTT trường Đại học Văn hoá Hà Nội có 1 5 người, 5 cán bộ kiêm nhiệm.
Khoa Thông -tin - Thư viện trường Cao đẳng Văn hoá Từ. Hồ Chí Minh có
6 người, 4 cán bộ kiêm nhiệm… Một lực lượng như vậy quá khiêm tốn so
vớt nhu cầu đào tạo hiện nay. Trong khi đó, ở nước ta hiện nay có một lực
lượng khá đông đảo những chuyên gia thư viện có trình độ cao và có nhiều
kinh nghiệm thực tiễn. Họ là những cán bộ đã nghỉ hưu, những chuyên gia
đang công tác tại các cơ quan TVTT. Đây là một tiềm năng hết sức to lớn
trong việc đào tạo ngành của cán bộ TVTT.
     Phương thức xã hội hoá chắc chắn sẽ đánh thức được tiềm năng vừa lý
thuyết vừa thực tiễn ấy và sẽ tạo ra một sự đa dạng, phong phú và thực tiễn
trong công tác đào tạo cán bộ TVTT.
     *Mở rộng cơ hội và điều kiện học tập cho mọi người
     Một khi nhu cầu thông tin của xã hội tăng lên thì sự nghiệp TVTT
chắc chắn sẽ phát triển và nhu cầu học tập đối với người học cũng sẽ tăng
lên. Xã hội hoá công tác đào tạo cán bộ TVTT sẽ mở rộng các cơ hội cho
người có nhu cầu học, sẽ tạo ra một xuất phát điểm tương đối công bằng
cho người học dù học ở trong những điều kiện và hoàn cảnh nào. Nó cũng
sẽ cho phép người học dù họ ở trong nhưng loại trường lớp, những phương
thức, những trình độ đào tạo phù hợp với năng lực và hoàn cảnh cá nhân.



                                       85
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


Với phương thức xã hội hoá, sẽ không có một cá nhân nào có năng lực và
có ước muốn mà không có cơ hội tham gia hoạt động trong ngành TVTT.
     *Tạo sự đa dạng và phong phú về nội dung, chương trình và phương
thức đào tạo, làm cho mục tiêu đào tạo của nhà trường tương hợp với yêu
cầu của xã hội.
     Từ trước đến nay, nội dung chương trình đào tạo ngành TVTT còn
mang nặng tính kinh viện, hàn lâm. Người học không có được nhiều sự
chọn lựa về kiến thức cần cho bản thân. Các chương trình đào tạo hầu như
không có thay đổi lớn tại các cơ sở đào tạo khác nhau. Tính chất bảo thủ,
giáo điều vẫn còn. Nhà trường cứ đào tạo theo chương trình đã định sẵn,
việc ứng dụng ra sao là do khả năng của người học. Có một khoảng cách
khá lớn giữa đào tạo và ứng dụng, học viên khi tốt nghiệp thường phái mất
một thời gian khá lâu mới hoà nhập được các cơ sở thực tiễn ngành TVTT.
Học viên cũng có cơ hội tiếp xúc được với môi trường công tác ngay trong
quá trình đào tạo và nhờ đó nội dung chương trình đào tạ sẽ luôn được điều
chỉnh tương hợp với yêu cầu thực tiễn, học viên cũng biết mình phải rèn
luyện, chuẩn bị những kỹ năng, kiến thức gì cho công tác sau này. Tính
thực dụng trong mục tiêu đào tạo vừa là sự tiết kiệm kinh phí và thời gian
đào tạo, vừa làm nên sự đa dạng phong phú cho chương trình vừa tạo hưng
phấn, kích thích tính sáng tạo và luyện thói quen phản ứng trước hoàn cảnh
cho học viên.
     Thứ ba: Các giải pháp và phương hướng đẩy mạnh xã hội hoá trong
đào tạo cán bộ TVTT ở Việt Nam hiện nay.
     Để thực hiện được các mục tiêu đã nêu ở trên cần phải xây dựng được
các giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy xã hội hoá trong công tác đào tạo cán
bộ TVTT. Hệ thống các giải pháp đó bao gồm:
     - Đa dạng hoá các cơ sở và hình thức đào tạo cán bộ TVTT.
     - Coi trọng và đối xử bình đẳng đối với các sản phẩm và dịch vụ của
cơ sở đào tạo ngoài công lập.

                                       86
         Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


     - Áp dụng chế độ kiêm chức đối với đội ngũ giảng viên bán chuyên
nghiệp
     - Tạo điều kiện để học viên có thể tiếp cận được với môi trường công
tác ngay trong quá trình đào tạo.
     - Tranh thủ sự hỗ trợ về mọi mặt của xã hội đối với công tác đào tạo
cán bộ TVTT.
     - Đảm bảo vai trò quản lý nhà nước.
     Trong các giải pháp kể trên. đa dạng hoá các cơ sở và hình thức đào
tạo cán bộ TVTT. Một nền giáo dục theo phương thức xã hội hoá là một
nền giáo dục chia sẻ cho dân do dân và vì dân. Tính đa dạng về cơ sở đào
tạo cũng như phương thức đào tạo là thực hiện mục tiêu đó. Sự đa dạng về
cơ sở đào tạo vừa tạo thêm cơ hội cho người học vừa tạo điều kiện để mọi
thành phần xã hội cùng với nhà nước phát triển sự nghiệp giáo dục. Đối với
ngành TVTT, ngoài cơ sở đào tạo công lập như đã có từ trước đến nay, cần
khuyến khích các trường dân lập mở ngành đào tạo TVTT, ngoài ra tạo
điều kiện để các thư viện các trung tâm thông tin lớn cũng tham gia công
tác đào tạo, và trở thành nơi đào tạo tay nghề cho học viên. Về phương
thức đào tạo, cắn áp dụng nhiều phương thức như chính qui tập trung, đào
tạo theo chế độ tín chỉ (để người học tự chọn môn học mình thích và thời
điểm thuận lợi), đào tạo tại chức, đào tạo hàm thụ, bồi dưỡng huấn luyện
ngắn ngày, thực tập tay nghề, chuyển giao công nghệ... các cơ sở đào tạo
ngành TVTT có thể tiến hành nhiều hình thức đào tạo khác nhau như đào
tạo không tập trung, đào tạo mở rộng:
     - Hình thức đào tạo không tập trung: Do nhu cầu học tập để chuẩn hoá
đội ngũ cán bộ các ngành, các địa phương, đặc biệt là nhu cầu chuyển đổi
nghề nghiệp và tìm kiếm việc làm trong điều kiện nền kinh tế thị trường,
ngoài phương thức đào tạo tại chức như trước đây còn có thêm phương
thức đào tạo mở, đào tạo từ xa, tự học có hướng dẫn nên quy mô đào tạo
không tập trung tăng rất nhanh.

                                          87
        Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


       - Hình thức đào tạo theo hợp đồng: ngoài đào tạo tại chức, các trường
đại học, cao đẳng công lập còn thực hiện phương thức đào tạo theo hợp
đồng. Đó là hình thức hợp tác giữa các trường đại học, các trung tâm đào
tạo và các chính quyền địa phương để cung cấp các khoá học cao hơn.
       - Hình thức đào tạo mở rộng: hình thức này là nhằm huy động thêm
nguồn kinh phí của người học đóng góp thêm cho đào tạo, cho phép ngành
Giáo dục - Đào tạo mở rộng quy mô, đáp ứng nhu cầu của người học muốn
có trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học. Hiện nay, hình thức này được gọi
là hệ đào tạo chính quy không cấp phát kinh phí.
       Bên cạnh đó cần coi trọng và đối xử bình đẳng đối với các sản phẩm
và dịch vụ của cơ sở đào tạo ngoài công lập. Trong thời gian vừa qua, các
nhà quản lý, tiếp nhận cán bộ chưa thật sự có sự đối xử công bằng đối với
sán phẩm và dịch vụ đào tạo của các trường dân lập. Điều đó đã phần nào
làm giảm uy tín và không khuyến khích phát triển hệ thống đào tạo ngoài
công lập cả về phía người đầu tư lẫn người học. Có nhiều lý do dẫn tới thái
độ thiếu bình đẳng trên, nhưng lý do quan trọng nhất là nhà nước chưa có
một qui chế thật cụ thể đối với hoạt động của các trường dân lập dẫn đến
chỗ các trường chạy theo xu hướng thương mại hoá, buông lỏng quản lý
trong tuyển sinh và trong đào tạo, coi nhẹ chất lượng đào tạo. Việc coi
trọng và đối xử bình đẳng đối với sản phẩm và dịch vụ đào tạo của hệ
thống đào tạo ngoài công lập là cần thiết nhưng phải đi đôi với việc quản lý
nghiêm minh của nhà nước cả về qui chế lẫn nội dung và chất lượng đào
tạo.
       Ngoài ra cần áp dụng chế độ kiêm chức đối với đội ngũ giảng viên
bán chuyên nghiệp. Hiện nay ở nước ta có đội ngũ khá đông các chuyên gia
thư viện có học vị cao và có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy cũng như
công tác, nay theo qui định của nhà nước họ đã nghỉ hưu. Đây là một vốn
chất xám rất quý đối với ngành TVTT của nước ta hiện nay.



                                         88
      Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


     Ngoài ra, còn một lực lượng lớn lao các cán bộ TVTT đầu ngành đang
công tác tại các thư viện và trung tâm thông tin. Các cơ sở đào tạo kể cả
công lẫn dân lập cần xây dựng một cơ chế kiêm chức hoặc hợp đồng ngoài
biên chế để có thể tranh thủ được vốn kiến thức và kinh nghiệm quý giá
này. Đặc biệt đối với đội ngũ cán bộ nghỉ hưu, đây là đội ngũ có thời gian
và khả năng nghiên cứu, không bị ràng buộc bởi những công việc khác,
chắc chắn sẽ là một đóng góp to lớn cho sự nghiệp đào tạo cán bộ TVTT.
     Đồng thời cần tạo điều kiện để nọc viên có thể tiếp cận được với môi
trường công tác ngay trong quá trình đào tạo. Phải đưa vào nội dung
chương trình đào tạo của nhà trường chế độ kiến tập, thực tập bắt buộc đối
với học viên. Chương trình này phái được áp dụng hầu hết phương án giải
quyết. Với hình thức đào tạo này, học viên sẽ được rèn luyện về khả năng
phản ứng và phát huy được năng lực tư duy độc lập sáng tạo, đồng thời
kiểm nghiệm được tính hiệu quả của nội dung chương trình cũng như
phương pháp giáng dạy của nhà trường và của giảng viên.
     Mặt khác các cơ sở đào tạo cần tìm mọi biện pháp tranh thủ sự hỗ trợ
về mọi mặt của xã hội đối với công tác đào tạo cán bộ TVTT. Đào tạo cán
bộ TVTT trong thời đại hiện nay là một quá trình đào tạo hết sức tốn kém
nếu muốn sán phẩm đào tạo thích nghi ngay được với môi trường công tác.
Một cán bộ TVTT trong thế kỷ XXI cần phải được trang bị rất nhiều kiến
thức và kỹ năng ở trình độ cao, họ phải là người am hiểu nhiều lĩnh vực
kiến thức khoa học, biết khai thác và tổ chức các kiến thức ấy một cách có
hệ thống. Họ phải nắm vững các khâu công tác nghiệp vụ từ việc phát hiện,
đến việc sưu tập, tổ chức, tinh chế bao gói và chuyển giao thông tin dấn các
địa điểm và đối tượng sử dụng khác nhau. Họ lại phải hết sức thành thạo
trong việc sử dụng các thiết bị công nghệ thông tin hiện đại nhất, phải am
hiểu một vài ngoại ngữ thông dụng, phải có khả năng ứng xử khéo léo và
linh hoạt trước các đồng nghiệp, cũng như đối tượng công tác... Kinh phí
và khả năng nhà trường chắc chăn sẽ không đủ đảm đương những yêu cầu

                                       89
        Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


ấy của quá trình đào tạo nếu không có được sự hỗ trợ của các tổ chức, đoàn
thể, các doanh nghiệp ngoài xã hội. Đặc biệt là của các thư viện và các
trung tâm thông tin. Sự giúp đỡ và hợp tác sẽ được hình thành trên nhiều
bình diện: như là cơ sở thực tập, cung cấp hỗ trợ về phương diện giáo cụ,
học cụ, về phương diện chuyển giao công nghệ và chuyển giao kinh
nghiệm, cung cấp các điểm tham quan khảo sát thực tế cho thầy và trò các
cơ sở đào tạo nghề TVTT.
    Điều quan trọng không thể bỏ qua khi tiến hành xã hội hoá công tác
đào tạo cán bộ thư viện là cần đảm bảo vai trò quản lý nhà nước. Quản lý
nhà nước hiểu theo luật giáo dục là: Nhà nước Việt Nam thống nhất quản
lý về giáo dục, chính phủ là cơ quan nhà nước có trách nhiệm quản lý
thống nhất về giáo dục. Bộ Giáo dục Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính
phủ thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục. Quản lý về giáo dục phải đảm
bảo 3 phương diện: Hoạch định chiến lược phát triển giáo dục và kế hoạch
phát triển giáo dục cho từng thời kỳ. Xây dựng hành lang pháp lý cho sự
triển khai; Chỉ đạo việc thực hiên kế hoạch; Thanh tra, giám sát, xử lý vi
phạm.
    Tuy nhiên việc quản lý thống nhất của nhà nước phải đảm bảo chính
sách và cơ chế quản lý thông thoáng và linh hoạt. Đồng thời các cơ sở đào
tạo ngoài công lập cũng có trách nhiệm tuân thủ nghiêm minh các quy định
của pháp luật về lĩnh vực Giáo dục đào tạo và phải chịu sự quản lý nhà
nước.
    Để đẩy mạnh xã hội hoá công tác đào tạo cán bộ TVTT trong cơ chế
thị trường hiện nay cần phải có cách nhìn và cách làm năng động, có thể
coi công tác đào tạo là một dạng sản xuất đặc biệt theo quy luật Cung - Cầu
(trước đây coi sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo thuộc nhóm phúc lợi xã hội).
Về phía Cung cần có các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo và đáp ứng
nhu cầu đa dạng của người học như: Cơ sở vật chất kỹ thuật tốt, chương
trình, giáo trình, tài liệu tham khảo phù hợp, đội ngũ cán bộ giảng dạy có

                                         90
         Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


chuyên môn cao, có chê chính sách về đào tạo hợp lý, làm tốt Maketing
nhu cáu của xã hội,... Về phía cầu được lựa chọn chương trình học phù hợp
học phí hợp lý, thời gian học linh hoạt, không phân biệt đối tượng tuyển
sinh,... Tuy nhiên tất cả quy trình tuyển sinh, đào tạo phải theo quy chế
chung của Bộ Giáo dục - Đào tạo và đảm bảo chất lượng đào tạo. Chính thị
trường sử dụng sản phẩm của đào tạo là nơi kiểm định chất lương đào tạo
kém hay tốt và là động cơ kìm hãm hay thúc đẩy công tác đào tạo phát
triển.
      Xã hội hoá công tác đào tạo cán bộ TVTT là một phương thức cần
thiết và chắc chắn sẽ đem lại hiệu quả cao trong điều kiện hiện nay của xã
hội Việt Nam. Nó cũng là con đường để sự nghiệp TVTT nước ta có cơ hội
tiếp cận hội nhập và tranh thủ được sự trợ giúp của sự nghiệp TVTT quốc
tế.
3. Một số ý kiến đề xuất:
3.1 Kiến nghị với Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Văn hoá Thông tin.
      - Bộ Văn hoá Thông tin và Bộ Giáo dục và các cơ sở đào tạo đào tạo
nên quan tâm hơn nữa đến việc bồi dưỡng kiến thức cho những người làm
công tác giảng dạy ngành thư viện thông tin. Cần phải quan tâm hơn nữa
đến việc sắp xếp lại theo chức danh học vị để khuyến khích động viên các
cán bộ giảng viên không ngừng học hỏi nâng cao trình độ.
      Bộ Văn hoá Thông tin và Bộ Giáo dục và Đào tạo các cơ sở đào tạo
đào tạo cần có sự khuyến khích và đầu tư thoả đáng cho việc biên soạn,
xuất bản các giáo trình và tài liệu tham khảo cho học sinh.
      - Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Văn hoá Thông tin cần sớm cho phép
một số cơ sở đào tạo có đủ điều kiện tổ chức việc đào tạo nghiên cứu sinh
cấp bằng tiến sĩ. Đây chính là những cơ hội và điều kiện cho người làm
công tác thư viện thông tin và các cán bộ giảng dạy có thể nâng cao trình
độ.



                                          91
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


     - Bộ Giáo dục và đào tạo và Bộ văn hoá thông tin cần quan tâm cho
phép các cơ sở đào tạo chuyên ngành thông tin thư viện đẩy mạnh việc hợp
tác với nhau trong phạm vi quốc gia và quốc tế. Cần sớm đặt ra một kế
hoạch thích hợp và tích cực trong việc cử các cán bộ giảng dạy chuyên
ngành thông tin thư viện ra học tập tu nghiệp ở nước ngoài, cấp kinh phí
cho cán bộ giảng viên có thể tham dự các cuộc hội thảo nhằm trao đổi kinh
nghiệm và bổ sung kiến thức mới ở trong và ngoài nước.
3.2 Kiến nghị với các cơ sở đào tạo nghề thư viện thông tin.
     - Để tạo ra các sản phẩm năng động thích ứng điều kiện thực tế hiện
nay và chuẩn bị cho xã hội thông tin hiện đại các cơ sở đào tạo cần mở
rộng mục tiêu đào tạo. Không thể chỉ đặt hướng đích địa chỉ cửa sản phẩm
đầu ra là các thư viện và cơ quan thông tin chuyên nghiệp mà cần chú ý đến
thị trường rộng lớn là mọi cơ quan tổ chức có tổ chức hoạt động thư viện
thông tin. Cần chú ý tới việc đào tạo ra các cán bộ có khả năng chuyên sâu
về các lĩnh vực chuyên ngành và bên cạnh đó có thể tham khảo thêm gợi ý
của UNESCO về hướng đào tạo các cán bộ có khả năng làm việc liên thông
cả ba lĩnh vực: thư viện, thông tin và lưu trữ.
     - Về chương trình đào tạo: Các cơ sở đào tạo cần thường xuyên rà soát
và xem xét lại để xây dựng được các chương trình đào tạo chuyên ngành
thư viện thông tin phù hợp với các mục tiêu đặt ra, phù hợp với sự phát
triển của đời sống kinh tế, khoa học, xã hội có khả năng hoà nhập với khu
vực và quốc tế. Cần xây dựng chương trình theo định hướng công nghệ và
dự trên công nghệ. Bên cạnh đó cần phải chú trọng hơn nữa đến việc đào
tạo ngoại ngữ cho các cử nhân thư viện thông tin.
     - Về phương thức đào tạo cần bổ sung thêm các hình thức giảng dạy
mới có sử dụng các phương tiện hiện đại để góp phần nâng cao chất lượng
giảng dạy. Chú trọng thêm về việc rèn luyện các kĩ năng thực hành cho học
sinh. Tăng cường thêm các buổi tham quan ngoại khoá giúp học sinh có
hiệu biết đầy đủ và toàn diện hơn về thực tế nghề nghiệp.

                                        92
         Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


       - Để hỗ trợ cho việc giáng dạy và học tập của giáo viên và học sinh
các cơ sở đào tạo cần có những định hướng và sự đầu tư nhất định cho việc
xây dựng các thư viện thực hành theo đúng tính chất và yêu cầu của
       - Để tạo điều kiện cho việc sử dụng các tài liệu chuyên ngành thông
tin thư viện vào nhiều mục đích khác nhau, các cơ sở đào tạo cần sớm liên
kết với các thư viện và trung tâm thông tin lớn để sao chụp, trao đổi và xây
dựng một mục lục liên hợp các tài liệu nghiệp vụ.
       - Các cơ sở đào tạo cần có kế hoạch nghiên cứu và tìm hiểu nhu cầu
thực tế của các cơ quan thông tin, thư viện để xây dựng được những định
hướng đúng và bổ sung thêm trong công tác đào tạo cán bộ thư viện thông
tin.
       - Đối với các cán bộ thư viện thông tin đã tốt nghiệp từ nhiều năm
trước, các cơ sở đào tạo nên thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng, bổ
túc kiến thức mới. Việc đào tạo liên tục nghề thư viện thông tin cần được
các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp xem xét lại một các nghiêm túc và đầy đủ
hơn.
       - Các cơ sở đào tạo đặc biệt là Trường đại học Văn hoá Hà Nội nên
sớm tổ chức đào tạo văn bằng hai về thư viện thông tin cho những người đã
có một bằng đại học ngành khác có nhu cầu làm việc tại cơ quan thư viện
thông tin. Đây là một nhu cầu đặt ra trong thực tiễn cần được quan tâm.
       - Các cơ sở đào tạo có đủ điều kiện cần sớm mở ra các chương trình
đào tạo tiến sĩ ngành thư viện thông tin học. Để tạo điều kiện cho việc trao
đổi và hợp tác về nhiều bình diện các cơ sở đào tạo nghề thư viện thông tin
ở Việt Nam có thể quan tâm hơn đến việc tổ chức một hội nghề nghiệp của
những người làm công tác giáo dục đào tạo và cho xuất bản một tờ tạp chí
hoặc tập san chuyên ngành về giáo dục đào tạo cán bộ thư viện thông tin
riêng.




                                          93
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


3.3 Kiến nghị với các thư viện, cơ quan thông tin.
     Để đào tạo ra đội ngũ những người làm công tác TVTT có chất lượng
cao đòi hỏi các thư viện và cơ quan thông tin phải có những đóng góp nhất
định về nhiều mặt:
     - Hỗ trợ các cơ sở đào tạo trong quá trình đào tạo cán bộ TVTT thông
qua việc nhận sinh viên về thực tập, tạo điều kiện cho các giảng viên và
sinh viên đến tham quan, học tập, nghiên cứu.
     - Đặt ra các chính sách khuyến khích tiếp nhận các sinh viên đạt các
thành tích cao trong học tập.
     - Thường xuyên quan tâm đến việc nâng cao trình độ cho cán bộ công
tác tại đơn vị mình bằng nhiều biện pháp khác nhau: cử cán bộ đi học tập,
tổ chức các lớp bồi dưỡng đào tạo tại chỗ, tổ chức các cuộc tham quan, tạo
điều kiện cho cán bộ của mình tham gia nghiên cứu khoa học và tham dự
các cuộc hội thảo.
     - Riêng đối với các thư viện đầu ngành, đứng đầu hệ thống và cơ quan
thông tin lớn cần quan tâm đến việc tổ chức các lớp bồi dưỡng nâng cao
trình độ chuyên môn cho các thư viện thành viên thuộc hệ thống đó.
     - Cần tăng cường hơn nữa sự hợp tác giữa các cơ sở đào tạo, các thư
viện, cơ quan thông tin trên mọi bình diện.




                                        94
       Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


                                     KẾT LUẬN


     Công tác đào tạo cán bộ TVTT đang đứng trước những vận hội và thử
thách của xã hội thòng tin. Nền kinh tế tri thức của Internet và thư viện
điện tử. Trong xã hội thông tin, thông tin và tri thức đã trở thành chiếc chìa
khoá để phát triển kinh tế xã hội.
     Bước vào thế kỷ XXI, cùng với nhân loại, Việt Nam đang sống trong
một thời kỳ có nhiều biến động, công nghệ thông tin phát triển và thay đổi
hàng ngày. Sự hình thành và phát triển của xu thế toàn cầu hoá, xu thế
chuyển dịch sang nền kinh tế dựa trên tri thức, xu thế giao lưu văn hoá toàn
cầu và xu thế đổi mới công nghệ thông tin với tốc độ cao đã và đang đặt ra
cho các thư viện và cơ quan thông tin những thách thức mới, yêu cầu mới.
Nội dung hoạt động mới của thư viện và các cơ quan thông tin đã gắn liền
với sự xuất hiện các vật mang tin mới và việc sử dụng ngày càng sâu rộng
công nghệ thông tin hiện đại. Nếu như vào đầu những năm 1990 Thư viện
điện tử được coi là một hình ảnh của tương lai thì từ năm năm trở lại đây
điều đó đã trở thành hiện thực. Nhiều thư viện điện tử và thư viện số đã
được xây dựng ở các nước phát triển. Thư viện Quốc hội Mỹ đã tiến hành
một chương trình thư viện số khổng lồ nhằm chuyển đổi vốn tư liệu in
truyền thống sang nguồn tin điện tử linh hoạt và nếu công việc thực hiện
đúng tiến độ kế hoạch thì trong thế kỷ XXI độc giả những người dùng tin
khắp nơi trên thế giới sẽ có thể bật máy tính, tìm đến cơ sở dữ liệu và truy
nhập tới kho tư liệu số hoá của Thư viện Quốc hội Mỹ. Ngoài ra, nhiều thư
viện đại học ở Mỹ và các nước phát triển khác cũng đang tìm cách đưa các
sưu tập thư viện vào máy tính và đưa lên mạng để bạn đọc truy nhập sử
dụng rộng rãi. Các chuyên gia thông tin thư viện đã và đang có tham vọng
tập hợp tư liệu số từ nhiều nơi, thậm trí, trên phạm vi toàn cầu thông qua
internet, để mọi người ở bất kỳ nơi nào cũng có thể truy nhập được. Xu thế
liên kết mạng, sự phát triển của các nguồn tin điện tử, sự hình thành các thư

                                        95
         Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368


viện điện tử. phát triển các công điện tứ đã trở thành xu thế chung của thế
giới.
        Tại nhiều nước trên thế giới việc thực hiện chính sách thông tin quốc
gia đã đòi hỏi phải cung cấp các dịch vụ điện tử, sử dụng công nghệ thông
tin, tiếp cận Internet trong dịch vụ thư viện thông tin và trong công tác giáo
dục đào tạo khoa học thư viện thông tin.
        Tính chất và yêu cáu của nghề nghiệp đã, đang và sẽ tiếp tục có nhiều
thay đổi nhưng người cán bộ thư viện thông tin mãi sẽ vẫn là linh hồn và
nhân tố giữ vai trò quyết định trong hoạt động thư viện thông tin. Vì thế
các cơ sở đào tạo và những người làm công tác giáo dục phải có trách
nhiệm chuẩn bị đào tạo ra một thế hệ những cán bộ thư viện thông tin mới
có khả năng bắt kịp với sự phát triển và yêu cầu của thực tiễn. Công tác đào
tạo cán bộ thư viện thông tin sẽ bị tụt hậu, sản phẩm đào tạo sẽ không được
thực tế chấp nhận nếu như các cơ sở đào tạo và những người tham gia vào
hoạt động này không thực sự đổi mới về mọi bình diện, cách tân hệ thống
và nội dung đào tạo và bồi dưỡng ngành nghề này.
        Với các mô hình và một hệ thống các giải pháp được đề xuất trong đề
tài chúng tôi hy vọng các cơ sở đào tạo ngành TVTT, những người xây
dựng chiến lược, các nhà quản lý công tác đào tạo sẽ lựa chọn được
phương thức và biện pháp thích hợp để đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ
TVTT thích ứng với yêu cầu của thực tế Việt Nam và đòi hỏi của xã hội
thông tin hiện đại.




                                          96

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Tags:
Stats:
views:0
posted:6/21/2012
language:
pages:96
Bui Van Luong Bui Van Luong
About vanluong.blogspot.com