C�C GI?I PH�P TR?NG C�Y B?O V? �� BI?N ? C�C by HC120617215740

VIEWS: 1 PAGES: 8

									                        MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRỒNG CÂY BẢO VỆ ĐÊ BIỂN

                                 TS. Trịnh Văn Hạnh và CS* - Viện Phòng trừ Mối và Bảo vệ công trình

                                            TÓM TẮT
        Đai cây ven biển có một vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ đê biển và bờ biển.
Vùng đất cát ven biển cần phải có các giải pháp công nghệ phù hợp để trồng dải cây chắn gió, hạn
chế sự di động của các cồn cát ven biển, như: chọn loại cây trồng phù hợp, có biện pháp thu trữ nước
và tưới tiết kiệm, bổ sung chất mùn và chất giữ ẩm cho đất, nếu nơi có cồn cát cao thì cần làm hàng
rào chắn cát. Để có được dải cây ngập mặn chắn sóng bảo vệ đê biển với chiều rộng cần thiết từ 200-
300m, đặc biệt là đối với những nơi sóng to, gió lớn, chưa có bãi hoặc bãi chưa ổn định, cần phải có
các biện pháp xây dựng công trình tạm giảm sóng trước khi trồng cây, sử dụng nguyên vật liệu sẵn
có ở địa phương, nhằm đảm bảo trồng cây hiệu quả nhất.

1. Đặt vấn đề
      Đai cây ven biển có một vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ đê biển và bờ biển. Sự tồn
tại của đai rừng phòng hộ ven biển có ý nghĩa không chỉ về vấn đề môi trường mà còn cả về vấn đề
kinh tế xã hội và phòng chống thiên tai như hạn chế cát bay, cát nhảy, xói lở, tăng bồi tụ đất ven
biển, hạn chế xâm nhập mặn, ngăn cản các chất thải rắn trôi ra biển, bảo vệ đê điều, đồng ruộng, nơi
sống của người dân ven biển trước sự tàn phá của gió bão, sóng thần và nước biển dâng,…[1],[4].
Tuy nhiên, do việc mở rộng nuôi trồng thủy sản và một số nguyên nhân khác nên nguy cơ mất dải
rừng phòng hộ ven biển là rất lớn (khoảng gần 20% mỗi năm)[3],[7],[9]. Vì thế việc trồng cây, phục
hồi, phát triển đai cây chắn sóng, chắn cát bảo vệ đê biển là góp phần hoàn thiện hệ thống đê biển
các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang nhằm phòng tránh thiên tai từ biển gây ra, làm giảm thiểu tác
hại của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, tạo điều kiện thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển
kinh tế biển, giữ vững an ninh quốc phòng càng trở thành vấn đề bức thiết.[2],[5],[10].
      Vấn đề đặt ra là làm thế nào để trồng được cây ở những nơi có điều kiện không thuận lợi
(nghèo dinh dưỡng, gió to, sóng lớn, xói lở…), trồng loài cây gì và kỹ thuật trồng như thế nào để đạt
hiệu quả cao. Chúng tôi xin giới thiệu một số giải pháp trồng cây bảo vệ đê biển ở các vùng cát và
bãi ngập mặn ven biển nước ta, rút ra từ kết quả nghiên cứu của đề tài: “Nghiên cứu các giải pháp
trồng cây bảo vệ đê biển, góp phần cải thiện môi trường ven biển ở các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Kiên
Giang” thuộc chương trình đê biển giai đoạn II.
2. Hiện trạng về cây bảo vệ đê biển ở các tỉnh ven biển nước ta
2.1. Hiện trạng về cây bảo vệ đê biển ở các vùng cát ven biển
2.1.1 Điều kiện tự nhiên liên quan đến cây trồng trên cát.
        Các bãi cát vùng Nam rung ộ bao gồm c c cồn c t, đụn c t phân bố thành một dải h p,
chạy dài ven biển. Nhìn chung các dải đất cát, cồn cát ven biển phần lớn là những vùng đất khô hạn,
thiếu nước tưới, khí hậu khắc nghiệt.[6],[8]
        Vùng Nam Trung bộ, một năm chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa khô thường kéo dài 8 tháng, từ
th ng 1 đến th ng 8, lượng mưa chỉ chiếm khoảng 20-25% lượng mưa năm; mùa mưa kéo dài 4
tháng, từ th ng 9 đến th ng 12, lượng mưa chiếm khoảng 75-80% lượng mưa năm. Lượng mưa trung
bình năm từ 1.000 - 2.200mm (Ninh Thuận <1.000mm). Có hai loại gió chính là gió Đông ắc và
gió Tây Nam với tốc độ gió trung bình từ 2 - 3 m/s. Nhiệt độ bình quân năm: > 26,50C. [14]
        Các giải pháp cần nghiên cứu để hạn chế một số yếu tố tự nhiên không thuận lợi cho việc
trồng cây trên các vùng cát ven biển nước ta là: đất khô hạn, không đủ nước tưới cây, nhất là về mùa
khô; nhiệt độ quá cao trên bề mặt cát vào mùa hè; đất c t nghèo dinh dưỡng; gió mạnh (bình quân từ
2-3 m s, khi có bão mạnh tốc độ gió đạt tới 40 m/s), nhiều cồn c t có độ dốc lớn, cát chảy thường
xuyên.


*Phạm Minh Cương, Nguyễn Hoàng Hanh, Trịnh Ngọc Trung, Nguyễn Đăng Dũng, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Hữu Công, Trần Thị Lợi
2.1.2 Hiện trạng đai cây bảo vệ đê biển ở các vùng cát ven biển.
        Tình trạng phá rừng và huỷ hoại lớp phủ thực vật do con người gây ra làm cho diện tích rừng
phòng hộ ven biển bị thu h p, độ che phủ thảm thực vật thấp, sự xói mòn và tho i ho đất xảy ra
nghiêm trọng. Mặt khác, do nuôi trồng thuỷ sản đã gây nên mặn hoá những vùng đất ven biển. Hiện
tượng hoang mạc ho đã xuất hiện ở các huyện Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc (Bình
Thuận), Ninh Phước, Ninh Hải (Ninh Thuận). [6]
        Thành phần loài trong c c đai rừng còn lại đơn giản, nhiều đai rừng chỉ có một hoặc vài vài
loài cây chính. Một số dai rừng trồng thuần loài, khả năng t i sinh tự nhiên rất hạn chế. rong đó phi
lao là loài cây tiên phong, phát triển mạnh nhất, được xem là cây chủ lực trong việc trồng rừng chắn
cát bay, cát chảy. Tuy nhiên cần phải trồng bổ sung c c loài cây kh c để nâng cao khả năng cải tạo
đất của đai rừng phòng hộ trên các vùng cát.
2.2. Hiện trạng dải cây ngập mặn bảo vệ đê biển
2.2.1. Một số điều kiện tự nhiên liên quan đến cây ngập mặn
        Nhìn chung, địa hình khu vực ven biển vùng đồng bằng Nam Bộ nước ta tương đối bằng
phẳng, nhưng quá trình bồi tụ và xói lở vẫn diễn ra thường xuyên, tạo ra nhiều bãi bồi rộng lớn cũng
như gây ra nhiều điểm xói lở nghiêm trọng. Một số khu vực đang được bồi tụ như: cửa sông Ba Lai
(huyện Ba Tri - Bến Tre), phía bắc cửa biển Định An tỉnh Trà Vinh... Một số nơi lại đang diễn ra xói
lở như: ân hành và ân Điền (Gò Công Đông, iền Giang), Hiệp Thạnh ( rà Vinh), Vĩnh Châu
(Sóc răng)...[3],[5], [17].
        Vùng miền Trung chịu ảnh hưởng của gió mùa, trong mùa hè là gió Đông, Đông Nam và
Tây Nam, mùa đông là gió Bắc, Đông ắc và Tây Bắc. Nhiệt độ trung bình: vùng Trung bộ: 230C-
270C; lượng mưa từ 1.944 -2.867 mm năm. Khu vực ven biển Nam bộ nằm trong vùng nhiệt đới gió
mùa cận xích đạo. Khí hậu theo hai mùa rõ rệt. Mùa mưa từ th ng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng
12 đến th ng 4 năm sau. Nhiệt độ cao, ít biến đổi trong năm, nhiệt độ trung bình hằng năm từ 260C-
270C. Tổng lượng mưa bình quân hàng năm dao động từ 1500 - 2200 mm, càng đi xuống phía nam
lượng mưa càng tăng.[12],[13],[15].
        Vùng biển phía đông của Nam bộ chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều còn ở vùng biển
tây chịu ảnh hưởng của chế độ nhật triều. [11].
        Độ mặn dao động từ 0,7 - 3,5% tùy theo mùa, theo vị trị. Về mùa khô độ mặn tăng và xâm
nhập sâu vào cửa sông đặc biệt là các vùng cửa sông có lưu lượng nước thấp.
        Các giải pháp cần nghiên cứu để hạn chế một số yếu tố tự nhiên không thuận lợi cho việc
trồng cây ngập mặn bảo vệ đê biển là: mức triều cao, sóng to, gió lớn, xói lở mạnh; việc khai thác,
đ nh bắt hải sản, nạn chặt phát rừng để nuôi trồng thủy sản làm ảnh hưởng lớn đến đai rừng ngập
mặn; một số bãi bồi hàm lượng mùn quá thấp hoặc nhiễm phèn nặng.[16],[17]
 2.2.2 Hiện trạng về cây ngập mặn bảo vệ đê biển
        Vùng bãi bồi ven biển nước ta là nơi cây ngập mặn phát triển mạnh. Tuy nhiên, trong những
năm qua dưới t c động của tự nhiên và con người, rừng ngập mặn đã bị biến động mạnh về diện tích,
số lượng, cấu trúc, thành phần loài.
        Diện tích RNM hiện nay ở khu vực biển Nam bộ khoảng 82.000 ha, trong đó Cà Mau là nơi
có diện tích RNM lớn nhất chiếm 70% diện tích rừng ngập mặn toàn vùng. Thành phần loài cây ngập
mặn chủ yếu: Mắm, Đước, Bần, Dừa nước, Ô rô, Giá, Tra, V t dù, Cóc vv…[12]
        Diện tích các bãi bồi ở các tỉnh ven biển có thể trồng cây ngập mặn bảo vệ đê biển ở các tỉnh
Nam bộ là khoảng gần 28.000ha.[2].
        C c đai rừng ngập mặn bảo vệ đê biển ngoài một số nơi đang được chủ động trồng mới hoặc
khôi phục còn lại hầu hết đang bị thu h p dần, thành phần loài và cấu trúc đai rừng ngày càng đơn
giản. Một số đai rừng thuần loài, đã qua thời kỳ sinh trưởng sang giai đoạn thoái hóa nên hiệu quả
chắn sóng giảm.[18]
3. Các giải pháp trồng cây bảo vệ đê biển, bờ biển
3.1 Các giải pháp trồng cây bảo vệ đê biển ở các vùng cát ven biển
3.1.1 Lựa chọn các loài cây trồng phù hợp
      Bảng 1: Một số loài cây trồng bảo vệ đê biển thích hợp trên các lập địa cát ven biển
                                                 2
STT                           Loại đất cát                                  Loại cây trồng
 1     Đất cồn cát trắng vàng: Tầng đất dày (>100 cm), thành         Phi lao, keo lá tràm, bạch
       phần cơ giới cát thô, kết cấu rời rạc, nghèo chất hữu cơ,     đàn, muống biển, xương rồng
       mức độ khoáng khá cao, khả năng giữ nước kém. Hàm
       lượng chất dinh dưỡng từ nghèo đến rất nghèo.
  2    Đất cát biển nh , địa hình tương đối bằng phẳng. Thành        Phi lao, keo, bạch đàn,
       phần cơ giới nh , cát mịn chiếm (71 - 94%), limon và sét      muống biển, tù bi, xương
       chiếm dưới 30%, phân lớp rõ ràng.                             rồng, dứa dại.
  3    Đất cồn c t đỏ: Độ dày tầng mặt <10 cm, có thành phần         Phi lao, xoan chịu han, cóc
       cơ giới nh , trong đó c t chiếm ưu thế, đặc biệt là cát mịn   hành, muống biển, xương
       và trung bình (thường chiếm 84-92%), kết cấu cục tản nhỏ      rồng.
       nhưng kém bền trong nước.

3.1.2 Các giải pháp kỹ thuật
Xây dựng tường rào chắn cát để trồng cây
      rong điều kiện cồn cát cao và dốc, phải sử dụng c c cọc tre hoặc gỗ dài cắm sâu xuống đất
(>0,5m) tạo thành hàng cọc, buộc c c phên tre nằm ngang vào hàng cọc, tạo tường rào chắn c t. ùy
thuộc vào địa hình để xây dựng c c cấp tường rào cho phù hợp. Bố trí các tường rào song song tạo
thành các cấp cơ đồng mức trên cồn cát, chống cát chảy để trồng cây. Đối với các cồn cát lồi lõm bố
trí tường rào tạo thành c c ô 10x10m xen k tạo thành c c ô tương đối phẳng để trồng cây. Giữa c c
ô hàng rào để lại 1 lối đi lại. Sử dụng rơm rạ bện quanh từng gốc cây để giữ ẩm cục bộ cho cây đồng
thời hạn chế hiện tượng trơ gốc, rễ do nền c t không ổn định (hình 1).
Phương thức trồng cây trên cát
          Phương thức trồng là chọn cây tiên phong về phía trước biển, phía sau là trồng hỗn giao giữa
các giống cây khác nhau. Phối hợp cây mọc nhanh với cây mọc chậm, giữa cây tầng cao với cây tầng
thấp, giữa cây có t n thưa, mỏng với cây có t n dày để chắn gió, chống cát bay. Tiếp theo là cây bụi,
cây thân thảo để chống cát chảy. Trồng cây đủ tiêu chuẩn, được gieo ươm trong túi bầu PE.
         Phi lao là cây sinh trưởng nhanh về chiều cao, chịu hạn và điều kiện khắc nghiệt tốt thường
được sử dụng làm cây tiên phong trồng phía trước biển. Keo lá tràm, xoan chịu hạn có khả năng chịu
hạn tốt, tán rộng, đặc biệt rễ cây có nốt sần cố định đạm, góp phần cải thiện tính chất của đất trồng
tiếp theo dải tiên phong. Muống biển, tù bi, cây bụi, mọc lan trên mặt đất, có tác dụng che phủ bề
mặt, giữ ẩm, giảm nhiệt độ đất, cố định cát.
Kỹ thuật trồng cây
         Trồng so le hình nanh sấu với nhau với tiêu chuẩn cây giống và mật độ như sau:
                                   Bảng 2: Tiêu chuẩn cây đem trồng
 TT       Loại cây    Tuổi cây      Chiều cao Đường kính                      Yêu cầu
                      (tháng)          (m)       cổ rể (cm)
                                                               Cây sinh trưởng tốt, thân đứng, không
  1     Phi lao           6-8        0,6 – 1       0,4-0,6     cụt ngọn, không sâu bệnh, cứng c p.
  2     Keo lá                                                 Cây sinh trưởng tốt, thân đứng, không
        tràm            2,5 - 3    0,25 - 0,35     0,3-0,5     cụt ngọn, không sâu bệnh, cứng cáp
  3     Xoan chịu                                              Cây sinh trưởng tốt, thân đứng, không
        han              6 - 12     0,4 – 0,7      0,4-0,7     cụt ngọn, không sâu bệnh.
                                       Bảng 3: Mật độ cây trồng
 TT         Loại cây                             Mật độ                          Kích thước hố(cm)
  1     Phi lao             a-Vùng rất xung yếu: 10.000 cây/ha (1mx1m)
                            b-Vùng xung yếu: 5.000 cây/ha (1x2m)
                            c-Vùng ít xung yếu: 3.300 cây/ha (1,5 x 2m)              60 x 60 x 60
                            d-Vùng đất xấu: 3.300 cây/ha (1,5x2m)
                                                  3
                         e-Vùng đất tốt: 2.500 cây/ha (2x2m)
 2    Keo lá             a.Vùng đất xấu: 2.222 cây /ha hoặc 2.500 cây/ha.
                                                                                   30 x 30 x 30
      tràm               b.Vùng đất tốt: 1.333 cây /ha, 1.666 cây/ha
 3    Xoan chịu han      1.100 cây/ha                                              40 x 40 x 40




                    Hình 1: Mô hình trồng cây trên cát (Nguồn: Trịnh Văn Hạnh)
        Căn cứ vào điều kiện đất đai và mức độ thâm canh, tình hình xói mòn để lựa chọn biện pháp
cải tạo đất thích hợp như: Cày toàn diện, cày lật đất độ sâu 20 - 25cm; Cày theo băng độ sâu 20 -
25cm; Cải tạo hố trồng cục bộ: đào hố rộng rồi bổ sung đất màu, tuỳ điều kiện cho phép có thể bón
lót 1kg phân chuồng hoai + 50g phân NPK hay phân lân vi sinh cho 1 cây. ón vào lúc đào hố lấp
đất bằng cách trộn đều với đất ở độ sâu giữa hố và sau đó lấy đất đắp lên trên. Thực hiện trồng sâu để
đảm bảo đủ ẩm cho cây. Khi đào hố phải để riêng phần đất mặt, phần đất đ y hố để một bên. Cho lớp
đất mặt xuống đ y hố. Thực hiện trồng sâu, cây trồng đặt ngay giữa hố sau đó từ từ xé bỏ vỏ bầu PE,
lấp đất và dẫm chặt xung quanh gốc. Lấp đất cách miệng hố từ 3 - 5cm để cây trồng tận dụng lượng
nước mưa và mùn.
        Sau khi trồng cây, che phủ quanh gốc cây bằng các vật liệu như rơm, cỏ khô… để hạn chế sự
bốc hơi nước giữ ẩm cho cây đồng thời giảm nhiệt độ bề mặt đất.
         Sau khi trồng 2- 3 tuần, kiểm tra tỷ lệ sống, trồng dặm kịp thời những cây bị chết.
Nguồn nước và kỹ thuật tưới
        Dải đất cát ven biển phần lớn là những vùng đất khô hạn, lượng nước ngầm cũng như nước
mưa khan hiếm. Nguồn nước tưới dùng cho cây được thu trữ trong bể chứa vào mùa mưa hoặc tiến
hành khoan giếng đưa nước vào bể. Đất cát có kết cấu rời rạc nên khả năng giữ nước kém, nhiệt độ
không khí lại khá cao dẫn đến lượng bốc hơi nước rất lớn. Vì vậy để hạn chế sự thất tho t nước trong
qu trình tưới cho cây trồng trên cát thì nên tưới nước theo hình thức phun mưa hoặc nhỏ giọt.
Chăm sóc - bảo vệ
        Tiến hành dãy cỏ xới vun gốc, đồng thời trồng dặm và sửa cây đổ ngã. Cày giữa hai hàng
cây, cày ranh bao ngăn, ranh lô (nếu có). Tùy theo mức độ thực bì có thể áp dụng biện pháp kỹ thuật
phát dọn thực bì trước khi cày. Khi phát hiện sâu bệnh hại, cần có biện pháp xử lý kịp thời. Sử dụng
cọc tre, gỗ kết hợp cây xương rồng, dứa dại làm hàng rào xung quanh khu vực trồng cây để ngăn
trâu, bò, cừu và gia súc khác vào phá hoại.
3.2 Các giải pháp trồng cây ngập mặn chắn sóng bảo vệ đê biển
3.2.1 Lựa chọn loài cây trồng phù hợp với các dạng lập địa
        Căn cứ vào yêu cầu về cây chắn sóng, phân bố địa lý, đặc điểm sinh thái loài cây, chúng tôi
đã lựa chọn một số loài cây chủ yếu để trồng trên các bãi triều như sau:
                                                  4
         Bảng 4: Một số loài cây trồng bảo vệ đê biển thích hợp trên các bãi ngập mặn
     STT                      Dạng lập địa                              Loài cây trồng
       1      - Bãi bồi chưa ổn định                         Mắm biển (Avicennia marina)
              - Ngập triều cao 22-25 ngày trong tháng        Bần trắng (Sonneratia alba)
              - Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, sóng to
              gió lớn, độ mặn thường xuyên cao (≥ 30‰)
       2      - Các bãi bồi mới hình thành, độ mặn cao Mắm trắng (Avicennia alba)
              (≥ 25‰)
              - Những bãi bùn có thủy triều ngập sâu và
              thường xuyên chịu t c động của sóng gió
       3      Bãi ngập triều cao, thể nền đã ổn định, thời Đước (Rhizophora apiculata)
              gian ngập triều từ 20 - 22 ngày trong tháng. Mắm đen (Avicennia officinalis)
       4       Vùng nước lợ cửa sông, có độ mặn nước Bần chua (Sonneratia caseolaris)
              biển thường xuyên thấp ( ≤ 15‰)                Trang (Kandelia candel)
                                                             Dừa nước (Nypa fruticans)
                                                             Ô rô (Acanthus ilicifolius)
       5      Bãi ngập triều trung bình, thời gian ngập Giá biển (Excoecaria agallocha)
              triều từ 15-20 ngày trong tháng                Cóc Vàng (Lummitzera racemosa)
                                                             Ô rô (Acanthus ilicifolius)
       6      Các bờ đầm ít khi ngập triều, thời gian Tra biển (Thespesia populnea)
              ngập triều 5 -7 ngày trong tháng
3.2.2 Các giải pháp kỹ thuật
Phương thức trồng cây
         Việc trồng cây ngập mặn bảo vệ đê biển cần phải căn cứ vào diễn thế tự nhiên của rừng ngập
mặn, đảm bảo trồng đủ c c đai cây: đai cây tiên phong, đai cây trên c c bãi bồi ngập triều thể nền đã
ổn định, đai cây trên bãi cạn (không chịu ảnh hưởng của chế độ triều). rong đó, chiều rộng dải cây
ngập mặn cần thiết là 300m. Đối với những nơi sóng lớn cần xây dựng công trình tạm giảm sóng khi
trồng cây. rước hết phải lựa chọn cây tiên phong chịu sóng biển tốt và độ ngập triều sâu. Sau khi đã
hình thành đai tiên phong, cần trồng đai cây hỗn loài có chức năng cản sóng tốt hơn rừng trồng thuần
loài. Khi bãi bồi đã nhô cao hơn mực nước triều dâng bình thường phải tiến hành trồng bổ sung các
loài cây trên cạn thích hợp.[18]
         Mật độ trồng một số loài cây cơ bản là: Bần chua, Bần trắng 1.600 cây/ha; Mắm trắng, Mắm
đen, Mắm biển 10.000 cây/ha; Đước 10.000 cây/ha.
         Trồng cây đủ tiêu chuẩn, được gieo ươm trong túi bầu PE. Cây con trong giai đoạn mới trồng
sức chống chịu kém, nên việc trồng phải tiến hành trước mùa mưa bão, mùa có gió nh và sóng nhỏ.
Việc x c định thời vụ trồng cần căn cứ vào điều kiện tự nhiên của từng khu vực.
Tiêu chuẩn xuất vườn của một số loài cây ngập mặn như sau:
         Mắm: Chiều cao từ 0.7-1m, tuổi từ 10-12 tháng tuổi, đường kính gốc từ 1,0-1,2cm
         Bần: Chiều cao từ 1,2 - 1,5m, tuổi từ 22 - 24 th ng, đường kính gốc từ 1-2cm
         Trang: Chiều cao từ 0,7 - 1,05m, tuổi từ 22 - 24 th ng, đường kính gốc từ 0,8-1,5cm
         Đước: Chiều cao từ 0.7-1m, tuổi từ 10-12 tháng tuổi, đường kính gốc từ 1-1,2cm
Giải pháp trồng CNM tại các bãi bồi:
         Đối với bãi bồi có hàm lượng c t ≥ 90%: trước khi trồng CNM cần tiến hành cải tạo thể nền.
Thay thế lớp đất cát bằng lớp phù sa hoặc đất màu giàu dinh dưỡng. Đối với bãi bối có hàm lượng
cát <90% có thể tiến hành trồng cây ngập mặn ngay không cần cải tạo thể nền.
Giải pháp trồng CNM tại các bãi xói lở
         Tại những khu vực này cần đ nh gi c c nguyên nhân gây ra xói lở, x c định chế độ động lực
ven bờ, sau đó triển khai các biện pháp giảm sóng, tạo bãi và ổn định bãi phù hợp với điều kiện cụ
thể của từng khu vực. Khi khảo sát thấy sóng đã giảm theo thiết kế, bãi xuất hiện lớp bùn trầm tích
phủ trên cát thì mới tiến hành trồng cây (hình 2).
                                                 5
Hình 2: Sơ đồ tường rào giảm sóng sử dụng cọc tre hoặc gỗ và bao tải cát

                                 6
 Quản lý bảo vệ CNM sau khi trồng
        Vệ sinh cho cây sau khi trồng, chống r c rưởi bám vào cây; Phòng chống sâu bệnh hại như
Hà, Sâu róm hại cây vv… Hạn chế các hoạt động đ nh bắt thủy sản. Dành lối đi riêng cho thuyền bè
trong khu vực trồng cây.
Giải pháp trồng CNM bổ sung đối với rừng tự nhiên có đai rừng hẹp, không đủ tiêu chuẩn chắn sóng
        Đối với những khu rừng mà quá trình diễn thế tự nhiên đang diễn ra bình thường, đai rừng
rộng, chức năng tự nhiên của rừng đang được duy trì thì chỉ cần tạo lập hành lang bảo vệ cây tái sinh
phía trước biển (thuộc đai tiên phong). Đặc biệt là việc cấm quét chài lưới ở hành lang này vào mùa
cây sinh sản. Đối với những khu rừng tự nhiên già cỗi, không có cây con tái sinh cần tiến hành chặt
tỉa những cây già cỗi để trồng bổ sung cây con và trồng bổ sung cho đai cây tiên phong.
Giải pháp đối với rừng trồng
        Đối với rừng trồng thuần loài, không có cây con tái sinh cần trồng xen những loài cây khác
đồng thời trồng thêm cây con cùng loài, đảm bảo cấu trúc rừng có nhiều độ tuổi khác nhau và hỗn
loài. Đối với rừng trồng hỗn loài nhưng cây trồng đã qua giai đoạn trưởng thành, thiếu cây con tái
sinh thì cần phải trồng lớp cây mới, mỗi lớp cây cách nhau 3-5 năm.
4. Đề xuất giải pháp
4.1 Đối với việc trồng cây bảo vệ đê biển trên vùng cát ven biển
        Các vùng cát ven biển có điều kiện tự nhiên tương đối khắc nghiệt, gió mạnh, khô hạn, nhiệt
độ trên bề mặt cát cao, cồn cát cao, dốc. Một số loài cây trồng thích nghi trên vùng c t như phi lao,
keo lai, xoan chịu hạn, muống biển, xương rồng… có thể trồng hỗn giao để chắn gió, hạn chế cát
bay, cát chảy. Đối với c c đụn cát cao, dốc, lồi lõm cần phải lập các loại tường rào chắn c t trước khi
trồng cây bằng các nguyên vật liệu địa phương rẻ tiền.
        Trồng cây đủ tiêu chuẩn, được gieo ươm trong túi bầu PE.
        Cần áp dụng một số biện pháp kỹ thuật như: cải tạo đất, bổ sung mùn và chất giữ ẩm cho đất,
trồng sâu, che phủ bề mặt đất, thu trữ nước và tưới tiết kiệm khi trồng cây, đảm bảo tỷ lệ cây sống
cao và có hiệu quả chắn gió, hạn chế cát bay và cát chảy tốt.
4.2. Đối với việc trồng cây ngập mặn bảo vệ đê biển trên các bãi ngập mặn
        Trồng cây ngập mặn cần có thành phần loài và tuổi cây đa dạng phù hợp với từng lập địa cụ
thể. Đảm bảo chiều rộng cần thiết của đai rừng bảo vệ đê biển (200-300m). Tạo hành lang cho cây
tái sinh ở bìa rừng phía biển bằng cách bảo vệ bãi, cấm quyét chài lưới vào mùa tái sinh của cây tiên
phong. Với rừng ngập mặn bị khiếm khuyết một số đai đặc trưng, đặc biệt là đai tiên phong cần tiến
hành trồng bổ sung c c đai khiếm khuyết và cây tiên phong. Cây đem trồng phải đạt tiêu chuẩn và
được gieo ươm trong túi bầu PE.
        Đối với rừng trồng ngập mặn thuần loài, lứa tuổi của cây đã qua giai đoạn trưởng thành,
không xuất hiện cây tái sinh tự nhiên, độ rộng dải rừng h p (dưới 100m), cần tiến hành trồng cây
mới thay thế các cây thoái hóa và mở rộng chiều rộng của đai rừng, đủ yêu cầu chắn sóng bảo vệ đê.
        Ở các bãi bồi đang trong qu trình bồi tụ chưa có rừng ngập mặn cần tiến hành trồng ngay các
loài cây thích hợp với điều kiện cụ thể của bãi vào mùa vụ hợp lý. Với c c vùng bãi đang bị xói lở
phải xây dựng các công trình tạm giảm sóng, nuôi bãi bằng vật liệu địa phương. Sau đó mới lựa chọn
giống cây tiên phong thích hợp, đã được ươm trong bầu đạt tiêu chuẩn kỹ thuật cần thiết đem trồng
trên bãi đã tạo lập.


                                             Tài liệu tham khảo

1. Chỉ thị số 85 2007 C - NN ngày 11 10 2007 của ộ trưởng ộ Nông nghiệp và P N về
việc đẩy mạnh trồng rừng và trồng cây chắn sóng ven biển.
2. Cục Quản lý Đê điều và Phòng chống lụt bão-Bộ NN&PTNT, 2009. Rừng ngập mặn tại Việt
Nam, công tác quản lý, đề xuất kế hoạch hành động, bảo tồn và phát triển. Hà Nội - 5/2009.

                                                  7
3. “Dự báo hiện tượng xói lở, bồi tụ bờ biển, cửa sông và các giải pháp phòng tránh” - Báo cáo tổng
kết đề tài KHCN cấp Nhà nước KC-09-05. Viện Địa lý, Hà Nội-2005.
4. Đề án phục hồi và phát triển rừng ngập mặn ven biển nhằm bảo vệ môi trường và phòng chống thiên
tai giai đoạn 2008-2015. Bộ NN&PTNT, Hà Nội-2009.
5. “Nghiên cứu, dự báo, phòng chống sạt lở bở biển miền Trung (Từ hanh Hóa đến Bình Thuận)” -
Báo cáo tổng kết đề án KHCN cấp nhà nước - 5B. Viện Địa lý, Hà Nội - 2001.
6. “Nguyên nhân, giải pháp phòng ngừa và ngăn chặn quá trình hoang mạc hóa vùng Nam Trung
Bộ” - Báo cáo tổng kết đề tài khoa học cấp nhà nước. KHCN - 07 - 01. Viện Địa lý, Hà Nội-2001.
7. “Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn và rừng phòng hộ ven biển” - Cẩm nang ngành Lâm nghiệp.
Bộ NN&PTNT, 2006.
8. Quyết định số: 58 2006 QĐ- g ngày 14 th ng 3 năm 2006 của hủ tướng Chính phủ Phê duyệt
chương trình đầu tư củng cố, bảo vệ và nâng cấp đê biển hiện có tại c c tỉnh có đê từ Quảng Ninh
đến Quảng Nam.
9. Quyết định số 100 2007 QĐ-TTg ngày 06/7 2007 về việc trồng rừng phòng hộ ven biển là
nhiệm vụ ưu tiên phải được thực hiện đối với tất cả c c khu vực ven biển có điều kiện trồng cây.
10. Quyết định số: 667 QĐ- g ngày 27 th ng 5 năm 2009 của hủ tướng Chính phủ Phê duyệt
chương trình củng cố, nâng cấp hệ thống đê biển từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang.
11. Trịnh Văn Hạnh và CS, 2009. Báo cáo tổng kết đề tài: Nghiên cứu giải pháp trồng cây ngập mặn
chắn sóng bảo vệ đê ven biển Thanh Hóa và Ninh Bình.
12. Viện Kỹ thuật Biển. 2009. Báo cáo kết quả điều tra khảo sát, phân loại bãi ngập mặn vùng ngập
mặn có liên quan đến việc chọn giống cây thích hợp.
13. Viện Phòng trừ Mối và Bảo vệ công trình. 2009. Báo cáo khảo sát một số điều kiện tự nhiên liên
quan đến các dạng bãi ngập mặn ven biển Nam Bộ.
14. Viện Phòng trừ Mối và Bảo vệ công trình. 2009. Báo cáo khảo sát một số điều kiện tự nhiên liên
quan đến cây trồng của các dạng đất cát ven biển Nam Trung Bộ.
15. Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 2007. Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ: Nghiên cứu quy
hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ đất cát biển và bãi bồi ven biển vùng Nam Trung bộ.
16. Carew-Reid, J., 2008. Rapid Assessment of the Extent and Impact of Sea Level Rise in Viet
Nam. Climate Change Discussion Paper 1. ICEM - International Centre for Environmental
Management, Brisbane, Australia. 74 pages.
17. Southern Institute of Water Resources Research. 2010. Shore line variation analysis from Ho Chi
Minh city to Kien Giang province.
18. rinh Văn Hanh et al. 2010 Change in erosion and mangrove in the coast of Go Cong Dong
district, Tien Giang province.


                                              SUMMARY
                         Some solutions to planting trees for sea dike protection

       Forest belts have an important role in seadike and coast protection. Sandy soil areas in
Vietnam, we should have the appropriate technology solution to planting tree strips against wind,
reduction the mobility of the dunes, such as selecting suitable plants, take measures for water storage
and water savings, add humus moisturizer to the soil. But to reach the mangrove tree belts with a
width from 200-300m, especially for areas that have high waves, strong winds, no beach or unstable
beach, there should be have wave reduced temporary construction before planting, using available
local materials, to ensure best efficiency planting.




                                                  8

								
To top