Trien vong kinh te Vietnam 2012 2013 8 1 2012 final1 by 5PifeCZ

VIEWS: 0 PAGES: 53

									     ỦY BAN GIÁM SÁT TÀI CHÍNH QUỐC GIA

                     ***




                BÁO CÁO
TRIỂN VỌNG KINH TẾ VIỆT NAM 2012-2013




               Hà Nội, năm 2011
Chỉ đạo thực hiện: TS. Vũ Viết Ngoạn, Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia

Phối hợp chỉ đạo:
 TS. Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia
 TS. Hà Huy Tuấn, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia

Cố vấn:
 TS. Lê Đức Thúy, Nguyên Thống đốc NHNN Việt Nam, Nguyên Chủ tịch
   UBGSTCQG
 Ông Trương Đình Tuyển, Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại
 GS-TSKH. Nguyễn Quang Thái, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Khoa học Kinh
   tế Việt Nam
 Chuyên gia độc lập Bùi Trinh
 TS. Vũ Quang Đông

Bình luận:
 TS. Vũ Thành Tự Anh
 TS. Nguyễn Đức Thành

Chuyên gia thực hiện:
 Chuyên gia độc lập Bùi Trinh
 TS. Vũ Quang Đông
 ThS. Bùi Huy Thọ
 Đặng Vương Anh
 ThS. Bùi Quốc Dũng
 ThS. Nguyễn Mạnh Hà
 ThS. Nguyễn Bá Khang
 ThS. Dương Thị Mỹ Linh
 Hoàng Thị Mơ
 Vũ Thị Minh Thu
 ThS. Đặng Thùy Trang
 Lê Thị Ngọc Tú
 ThS. Phùng Thị Thu Hiền Vân
                                   LỜI CẢM ƠN


      Ban lãnh đạo UBGSTCQG xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các chuyên gia
kinh tế: TS. Lê Đức Thúy, Nguyên Thống đốc NHNN Việt Nam, Nguyên Chủ tịch
UBGSTCQG; ông Trương Đình Tuyển, Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại; GS-TSKH.
Nguyễn Quang Thái, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam;
Chuyên gia độc lập Bùi Trinh; TS. Vũ Quang Đông - những người đã ủng hộ sáng kiến
lập Báo cáo “Triển vọng kinh tế Việt Nam 2012-2013”; đồng thời đã có những ý tưởng
quan trọng trong việc hình thành tư tưởng chủ đạo của báo cáo. Các chuyên gia Bùi Trinh
và Vũ Quang Đông còn đồng thời trực tiếp tham gia phần quan trọng của báo cáo, đó là
tính toán định lượng ước tính sản lượng tiềm năng của Việt Nam cũng như phân tích định
lượng tác động của việc điều chỉnh giá một số mặt hàng cơ bản đến CPI; hiệu ứng lan tỏa
của một số ngành, lĩnh vực… Nhóm nghiên cứu cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến
TS. Vũ Thành Tự Anh, TS. Nguyễn Đức Thành đã dành thời gian đọc và có những nhận
xét quý báu giúp cho Nhóm nghiên cứu có cách nhìn toàn diện hơn và cụ thể hơn về một
số lĩnh vực trọng yếu. Để hoàn thành báo cáo này, Nhóm nghiên cứu đã tham khảo nhiều
tư liệu, báo cáo, bài viết nghiên cứu của các cơ quan, các chuyên gia trong và ngoài nước.
Đó là những đóng góp không nhỏ trong việc làm cho báo cáo được phong phú về tư liệu
cũng như góc nhìn phân tích. Cuối cùng, Ban lãnh đạo UBGSTCQG cùng Nhóm nghiên
cứu cám ơn và đánh giá cao tinh thần nỗ lực, khắc phục khó khăn của các chuyên gia của
UBGSTCQG, những người đã dành nhiều tâm trí, thời gian trực tiếp triển khai thực hiện
lập báo cáo.

                                                              Hà Nội, tháng 12 năm 2011
                                                Thay mặt Ban lãnh đạo UBGSTCQG
                                                       và Nhóm nghiên cứu




                                                          TS. Vũ Viết Ngoạn
                                   LỜI NÓI ĐẦU

      Sau 25 năm đổi mới, kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu đầy ấn tượng,
từ một quốc gia nghèo với mức thu nhập bình quân đầu người 180 USD và siêu lạm phát
lên tới trên 700% đã trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình; đi đầu trong việc
giảm tỷ lệ hộ nghèo và là một trong số ít những quốc gia đang phát triển đạt nhiều Mục
tiêu Thiên niên kỷ trước thời hạn. Tuy nhiên, những năm gần đây, kinh tế Việt Nam đối
mặt với nhiều bất ổn: lạm phát, nhập siêu, nợ công, bội chi ngân sách… tăng cao; tốc độ
tăng trưởng kinh tế có xu hướng chậm lại. Trong bối cảnh như vậy, hai vấn đề lớn đang
được đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà nghiên cứu:
      Thứ nhất, kinh tế Việt Nam đang chứng kiến một thực tế là hiệu suất đầu tư giảm
sút và chi phí trung gian tăng cao, được phản ánh rõ qua chỉ số ICOR tăng từ mức bình
quân 4,89 trong giai đoạn 2000-2005 lên 7,17 trong giai đoạn 2006-2010. Với mục đích
duy trì tốc độ tăng trưởng cao, chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đã được nới lỏng.
Tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng trong giai đoạn 2006-2010 tăng
nhanh hơn giai đoạn 2000-2005; bội chi ngân sách cũng vượt trên 5% GDP. Hệ quả là
nền kinh tế đã trở nên quá “nóng” (tốc độ tăng trưởng sản lượng thực tế vượt quá sản
lượng tiềm năng) và vì thế lạm phát gia tăng, các cân đối vĩ mô bị phá vỡ. Đánh giá, đo
lường sản lượng tiềm năng làm cơ sở để xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế hợp lý
trong những năm tới đây trở thành một yêu cầu không thể thiếu trong việc hoạch định và
điều hành chính sách kinh tế vĩ mô.
      Thứ hai, tiến trình phục hồi kinh tế thế giới sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy
thoái kinh tế toàn cầu 2008-2009 đang bị đe dọa nghiêm trọng. Các quốc gia châu Âu
đang có nguy cơ bị nhấn chìm trong cuộc đại khủng hoảng nợ công và khu vực đồng tiền
chung châu Âu có nguy cơ bị tan vỡ; kinh tế Mỹ đang phải vật lộn với nạn thất nghiệp và
tình trạng suy giảm lòng tin của thị trường vào hiệu lực chính sách. Ngoài ra, tình trạng
mất cân đối trên bình diện toàn cầu cũng như bất ổn về an ninh, chính trị ở khu vực
Trung Đông và Bắc Phi càng làm cho kinh tế thế giới thêm nhiều khó khăn. Kinh tế Việt
Nam chắc chắn sẽ chịu tác động không nhỏ từ những bất ổn của kinh tế thế giới.
      Là cơ quan được giao chức năng giám sát thị trường tài chính (ngân hàng, chứng
khoán, bảo hiểm), giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện giám sát chung thị trường tài
chính, điều phối chính sách kinh tế vĩ mô, UBGSTCQG tiến hành nghiên cứu, xây dựng
Báo cáo “Triển vọng kinh tế Việt Nam 2012-2013”. Bên cạnh việc đem lại một cái nhìn
tổng quan về tình hình kinh tế Việt Nam giai đoạn vừa qua, Báo cáo tập trung phân tích,
ước tính sản lượng tiềm năng cũng như dự báo triển vọng kinh tế thế giới và mức độ ảnh
hưởng đến kinh tế Việt Nam, trên cơ sở đó khuyến nghị những chính sách, giải pháp
nhằm thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, duy trì tăng trưởng
hợp lý và đảm bảo an sinh xã hội. Một số phát hiện quan trọng và những khuyến nghị
chính sách chủ yếu nêu trong báo cáo đã được UBGSTCQG tổng hợp trình Chính phủ.
      Đây là lần đầu tiên UBGSTCQG lập báo cáo đánh giá triển vọng kinh tế Việt Nam
và được thực hiện trong điều kiện không ít khó khăn do hạn chế về nguồn dữ liệu, về
nguồn nhân lực, về giới hạn thời gian, do vậy báo cáo không tránh khỏi khiếm khuyết và
chắc chắn còn nhiều hạn chế. UBGSTCQG và Nhóm nghiên cứu hy vọng báo cáo này là
một tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan hoạch định, điều hành chính sách cũng
như các nhà nghiên cứu, các định chế tài chính, các doanh nghiệp quan tâm đến tình hình
và triển vọng kinh tế của Việt Nam.
      UBGSTCQG và Nhóm nghiên cứu mong nhận được góp ý của các chuyên gia, các
nhà kinh tế cũng như các cơ quan để UBGSTCQG và Nhóm nghiên cứu có những báo
cáo chất lượng hơn trong tương lai.
                                                           Hà Nội, tháng 12 năm 2011
                                              Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính
                                                            Quốc gia




                                                        TS. Vũ Viết Ngoạn
            DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CAR                    Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
CNH, HĐH               Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CPI                    Chỉ số giá tiêu dùng
CSTK                   Chính sách tài khóa
CSTT                   Chính sách tiền tệ
CTCK                   Công ty chứng khoán
EU                     Liên minh châu Âu
FDI                    Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
FII                    Vốn đầu tư gián tiếp
GDP                    Tổng sản phẩm quốc nội
GO                     Tổng sản lượng
GTGD                   Giá trị giao dịch
HP filter              Phương pháp lọc Hodrick-Prescott
ICOR                   Hệ số tăng vốn - sản lượng
IIP                    Chỉ số phát triển công nghiệp
IMF                    Quỹ Tiền tệ Quốc tế
KLGD                   Khối lượng giao dịch
LC                     Thư tín dụng
LDR                    Tỷ lệ cho vay/huy động vốn
LNH                    Liên ngân hàng
M2                     Tổng phương tiện thanh toán
NHTM                   Ngân hàng thương mại
NHTW                   Ngân hàng trung ương
NSNN                   Ngân sách nhà nước
REER                   Tỷ giá thực đa phương
RER                    Tỷ giá thực song phương
SBV        Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
SUT        Bảng Nguồn và Sử dụng
TCTD       Tổ chức tín dụng
TCTK       Tổng cục Thống kê
TFP        Năng suất nhân tố tổng hợp
TTCK       Thị trường chứng khoán
UBGSTCQG   Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia
USD        Đồng đôla Mỹ
VA         Giá trị gia tăng
VND        Việt Nam đồng
WB         Ngân hàng Thế giới
WTO        Tổ chức Thương mại Thế giới
XNK        Xuất nhập khẩu
                     PHẦN I: TỔNG QUAN KINH TẾ VIỆT NAM


      I. Tăng trưởng
      1. Tăng trưởng kinh tế
      Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân thời kỳ 2006-2010 đạt
7,02%/năm. Trong 3 khu vực, khu vực nông nghiệp tăng trung bình 3,5%/năm; khu vực
công nghiệp và khu vực dịch vụ đều tăng trung bình trên 7,5%/năm.
      Kết quả trên đã đưa GDP năm 2010 (giá so sánh) cao gấp 2 lần so với năm 2000;
GDP năm 2010 (giá thực tế) đạt trên 101 tỷ USD; GDP bình quân đầu người ước đạt
1.160 USD, vượt mục tiêu kế hoạch và đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có
mức thu nhập trung bình. ớc tính GDP năm 2011 đạt xấp xỉ 119 tỷ USD và GDP bình
quân đầu người sẽ tăng lên mức xấp xỉ 1.300 USD.
      Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2006 đến nay thấp hơn khá nhiều so
với mức bình quân 7,38%/năm giai đoạn 2000-2005 và có xu hướng giảm dần từ mức bình
quân 8,3 %/năm giai đoạn 2006-2007 xuống mức 6,1 %/năm giai đoạn 2008-2010 và đạt
5,89% năm 2011.
                      Hình 1: Tốc độ tăng trưởng GDP 2000-2011
                                                                                                     Đơn vị: %

     9.00%
                                                          8.44%           8.46%
     8.50%

     8.00%                                                        8.23%
                                                  7.79%
     7.50%
                                          7.34%
     7.00%                        7.08%
                                                                                                  6.78%
                6.79% 6.89%
     6.50%
                                                                                  6.31%
     6.00%
                                                                                                      5.89%
     5.50%
                                                                                          5.32%
     5.00%
             2000   2001   2002     2003    2004    2005    2006    2007    2008    2009    2010    2011

                                                  Tốc độ tăng GDP

                                             Nguồn: TCTK.


                                                      1
             2. Đầu tư và Thương mại
             2.1. Đầu tư
             2.1.1. Tổng vốn đầu tư và cơ cấu đầu tư
       Trong giai đoạn 2006 đến nay, mặc dù nền kinh tế gặp nhiều khó khăn nhưng Việt
Nam tiếp tục huy động được lượng vốn đầu tư lớn, góp phần vào việc duy trì tốc độ tăng
trưởng ở mức khá cao. Theo số liệu của TCTK, vốn đầu tư toàn xã hội có xu hướng tăng
nhanh qua các năm. Năm 2011, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 877,9 nghìn tỷ đồng, tăng
gấp 2,2 lần so với năm 2006 (398,9 nghìn tỷ đồng)1. Với tốc độ tăng cao như vậy, tỷ lệ
vốn đầu tư/GDP tiếp tục duy trì ở mức cao (trên 0%) trong cả giai đoạn 2006-2010; tuy
nhiên, cùng với sự giảm tốc đầu tư theo tinh thần Nghị quyết 11 về giảm tổng cầu nhằm
kiểm soát lạm phát, tỷ lệ này đã giảm mạnh xuống còn 34,6% năm 2011.
                 Hình 2: Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội/GDP giai đoạn 2006-2011
                                                                                        Đơn vị: %

        48

                                   46.5
        46

        44
                                                                  42.7
        42                                                                    41.9
                      41.5
                                                 41.5
        40

        38

        36
                                                                                        34.6
        34
                  2006         2007          2008          2009           2010       2011

                                          Vốn đầu tư toàn xã hội/GDP

                                            Nguồn: TCTK.
        Về tỷ trọng, mặc dù có xu hướng giảm nhưng khu vực kinh tế nhà nước vẫn chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội (từ mức trung bình 5 ,1% trong giai đoạn 2000-
2005 xuống 39,1% trong giai đoạn 2006-2010; năm 2011 tỷ trọng này là 38,9%). Đáng chú
ý, tỷ trọng của khu vực kinh tế ngoài nhà nước cũng có xu hướng giảm qua các năm (từ mức

1
    Nếu loại trừ yếu tố giá, vốn đầu tư xã hội năm 2010 tăng 9% so với năm 2006.

                                                    2
38,1% năm 2006 xuống còn 36,1% năm 2010 và 35,2% năm 2011); trong khi đó, tỷ trọng
của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài lại có xu hướng tăng (từ mức 16,2% năm 2006 lên
mức 25,9% năm 2011).
      Hình 3: Tỷ trọng đầu tư của các khu vực kinh tế trong tổng đầu tư toàn xã hội
                                       giai đoạn 2006-2011
                                                                                     Đơn vị: %

    100%
     90%        16.2
                              24.3           30.9            25.6         25.8       25.9
     80%
     70%
                38.1
     60%                                                     33.9
                              38.5                                        36.1       35.2
     50%                                     35.2
     40%
     30%
     20%        45.7                                         40.5                    38.9
                              37.2           33.9                         38.1
     10%
      0%
                2006          2007          2008             2009         2010       2011

       Khu vực nhà nước                                 Khu vực ngoài nhà nước

       Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài


                              Nguồn: Tính toán từ số liệu của TCTK.
           2.1.2. Mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư S-I
        Trong những năm gần đây, mất cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư ngày càng trầm
trọng. Trong giai đoạn 2007-2009, mức chênh lệch đã lên đến trên 10% GDP, cao hơn rất
nhiều so với giai đoạn từ 2002-20062. Lý do là trong khi tỷ lệ tiết kiệm khá ổn định, đầu
tư lại có xu hướng tăng nhanh. Bên cạnh đó, nếu trước năm 2007, phần lớn thâm hụt tiết
kiệm của khu vực công (Sg-Ig) được tài trợ bởi thặng dư tiết kiệm của khu vực tư nhân
(Sp-Ip) thì từ năm 2007 trở đi, cả khu vực tư nhân cũng chịu thâm hụt tiết kiệm, kéo theo
đó chênh lệch S-I của cả nền kinh tế tăng nhanh3.
      Phần thiếu hụt này phải dựa vào nguồn bên ngoài để bù đắp, nhưng nguồn này là
không vững chắc. Do liên tục cần tài trợ từ bên ngoài nên nợ quốc gia (mọi nguồn) cũng

2
    Nguyễn Quang Thái (2010) – Chuyên đề số 2/2011. Hội Khoa học kinh tế Việt Nam.
3
    Nguyễn Đức Thành (2011) – Báo cáo “Nền kinh tế trước ngã ba đường”.

                                                    3
như nợ công (cả trong và ngoài nước) tăng lên nhanh chóng; đồng thời, thâm hụt tài
khoản vãng lai cũng tăng mạnh4.
    Hình 4: Tiết kiệm - đầu tư và nhập iêu của nền kinh tế giai đoạn 2005-20105
                                                                                      Đơn vị: % GDP

    50.00


    40.00


    30.00


    20.00


    10.00


     0.00


    -10.00


    -20.00
                  2006              2007               2008            2009             2010

        Tích lũy nội bộ S     Tỷ lệ đầu tư I     Chênh lệch S-I      Chênh lệch xuất nhập khẩu


             Nguồn: Tính toán từ số liệu của Niên giám thống kê 2010 (trang 140).
        2.1.3. Hiệu quả đầu tư
       Trong giai đoạn 2006 đến nay, nhìn chung hiệu quả đầu tư của nền kinh tế có xu
hướng giảm, thể hiện qua: (i) hệ số ICOR liên tục tăng (ngoại trừ năm 2011); (ii) chi phí
trung gian tăng nhanh; (iii) đóng góp của nhân tố lao động và TFP vào tăng trưởng kinh
tế đạt mức thấp. Cụ thể:
       - T ong giai o n 2006-2010, tỷ lệ tổng vốn ầu tư toàn xã hội/GDP luôn ở mức
cao, trong khi tốc ộ tăng t ưởng kinh tế thực chỉ t trung bình khoảng 7%/năm ã
khiến cho hệ số ICOR t ung bình giai o n tăng cao, lên mức 7,17 cao hơn há nhi u so


4
  Bản chất của thâm hụt vãng lai (và thâm hụt thương mại) bắt nguồn từ cấu trúc kinh tế, trong đó cốt lõi
là sự mất cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư CAB = S-I = (Sp-Ip) + (Sg-Ig).
5
  S= GDP + thu nhập tài sản ròng từ nước ngoài + thu nhập chuyển giao ròng + thuế trực thu – (C + G).
Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn số liệu, Nhóm nghiên cứu tính toán sơ bộ như sau: S ~ GDP – C.

                                                   4
với ICOR của giai o n 2000-20056 và ICOR của các nước ang phát t iển khác7).
        Đặc biệt vào năm 2009, chỉ số này đã lên tới mức 13,51, báo động về hiệu quả đầu
tư bị sụt giảm một cách nghiêm trọng, dẫn đến nhiều hệ lụy tiêu cực đối với nền kinh tế.
             Hình 5: Tốc độ tăng GDP thực tế và hệ số ICOR giai đoạn 2006-2010
                                                                                   Đơn vị: %, lần.

        15
        13
        11
         9
         7
         5
               2000   2001   2002    2003   2004   2005   2006   2007   2008   2009    2010

                                    Tốc độ tăng GDP thực tế        ICOR

                                     Nguồn: GSO, UBGSTCQG.
      - Trong giai đoạn 2006-2010, trong khi tổng giá trị sản xuất tăng trung bình khoảng
11%/năm thì tốc độ tăng giá trị gia tăng chỉ vào khoảng 6%. Đi u này cho thấy chi phí trung
gian ang tăng lên nhanh chóng và hiệu quả sản xuất, inh doanh ang giảm sút.
    Hình 6: Tốc độ tăng Tổng sản lượng (GO) và Giá trị gia tăng (VA) của nền kinh tế
                                        giai đoạn 2001-2010
                                                                                         Đơn vị: %




6
   ICOR được tính theo công thức: ICOR = Δ /ΔGDP, trong đó k là tích lũy vốn (capital stock). Tuy
nhiên, do hạn chế về số liệu khấu hao nên Nhóm nghiên cứu tính toán theo công thức ICOR =
(I/GDP)/ΔGDP. Theo cách tính này, hệ số ICOR bình quân của giai đoạn 2000-2005 là 4,89 (tính theo giá
so sánh năm 199 ).
7
 Cụ thể, hệ số ICOR của các nước (cùng giai đoạn phát triển với Việt Nam) như sau Malaixia trung bình
dưới 5 trong giai đoạn 2001-2008; Inđônêxia trung bình là , trong giai đoạn 2001-2008; Thái Lan trung
bình là ,8 trong giai đoạn 2001-2008. (Nguồn; Fukumari Kimura, Soji Samikawa, 4/2009).

                                                   5
       - Trong giai đoạn 2006-2011, theo nhiều nghiên cứu, n n kinh tế Việt Nam chủ yếu
vẫn tăng t ưởng dựa vào vốn ầu tư (đóng góp của nhân tố vốn chiếm trên 50%, thậm chí
gần 60%); trong khi đóng góp của nhân tố lao động và TFP8 còn thấp (tương ứng dưới
20% và 30%)9. Đáng chú ý, phần đóng góp của nhân tố lao động và TFP lại có xu hướng
giảm dần. Theo đó, mô hình tăng t ưởng hiện nay là tăng t ưởng theo chi u rộng (dựa
trên sự mở rộng nguồn vốn đầu tư), chưa chú trọng đến tăng trưởng theo chiều sâu (tăng
trưởng dựa trên việc cải thiện năng suất, chất lượng, năng lực cạnh tranh…).
                  Hình 7: Đóng góp của các nhân tố vốn, lao động và TFP
         vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000-2005 và 2006-2010
                                                                                         Đơn vị: %

             80
             70
             60
             50
             40
             30
             20
             10
              0
                       Giai đoạn 2000-2005                Giai đoạn 2006-2010
                   Vốn (K)      lao động (L)    Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP)

                                       Nguồn: Bùi Trinh (2011).
       2.2. Thương mại
       2.2.1. Tổng quan hoạt động xuất nhập khẩu
       a) Xuất khẩu
      Thời kỳ 2006 đến nay, hoạt động xuất nhập khẩu đạt được những bước tiến mạnh,
một phần nhờ vào việc Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào thị trường quốc tế10.

8
  Năng suất nhân tố tổng hợp thể hiện sự phát triển của khoa học, công nghệ, tăng năng suất lao động…
9
   Theo tính toán của tác giả Bùi Trinh, trong giai đoạn 2000-2005, mức đóng góp của lao động và TFP
vào tăng trưởng GDP tương ứng là 21,28% và 26,6 %; trong giai đoạn 2006-2010, mức đóng góp của lao
động và TFP vào tăng trưởng GDP giảm khá mạnh, tương ứng là 15,62% và 7,53%.
10
   Tháng 1/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO.

                                                 6
Trong giai đoạn 2006-2010, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trung bình đạt 56 tỷ
USD/năm, bằng 2,5 lần con số của thời kỳ 2001-2005; tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu
bình quân đạt 17,2%/năm. Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu tăng 33,3%, lên mức 96,26 tỷ
USD.
      Nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu lớn từ mặt
hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 3 tỷ USD năm 2006 đã tăng lên 8 mặt hàng năm 2010.
Độ mở của nền kinh tế trong giai đoạn này có xu hướng tăng, tỷ lệ tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu/GDP năm 2010 ở mức 155, % và ước đạt 169,8% vào năm 2011.
       b) Nhập khẩu
       Thời kỳ 2006 đến nay, kim ngạch nhập khẩu có tốc độ tăng cao, đặc biệt trong hai
năm đầu sau khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO bình quân đạt 68,5 tỷ
USD/năm, bằng 2,6 lần con số của thời kỳ 5 năm trước và tăng bình quân 18%/năm. Năm
2011, kim ngạch nhập khẩu đạt 105,77 tỷ USD, tăng 25% so với năm 2010.
       Nhập siêu giai đoạn 2006-2010 tăng mạnh, bình quân đạt 12,5 tỷ USD/năm, bằng 3,3
lần con số 3,8 tỷ USD của thời kỳ 5 năm trước. Tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu tăng nhanh, từ
mức 17,3% của thời kỳ 2001-2005 lên mức 22,3% giai đoạn 2006-2010; tuy nhiên, tỷ lệ này
giảm mạnh trong năm 2011, đạt 9,9%.
      Hình 8: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và nhập iêu giai đoạn 2006-2011
                                                                        Đơn vị: t iệu USD

    120000.0

    100000.0

     80000.0

     60000.0

     40000.0

     20000.0

         0.0
                2006        2007       2008        2009          2010       2011
    -20000.0

                          Xuất khẩu    Nhập khẩu     Nhập siêu

                        Nguồn: Tính toán từ số liệu của TCTK.


                                          7
      2.2.2. Nghiên cứu chỉ số lan tỏa và một số gợi ý chính sách
       Như trên đã nêu, nhập siêu có xu hướng tăng nhanh cả về khối lượng và tốc độ.
Theo nhiều nghiên cứu, có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng này tiêu dùng trong nước
tăng nhanh, khả năng sản xuất và xuất khẩu còn hạn chế, năng lực cạnh tranh của hàng
xuất khẩu còn yếu, Việt Nam cần nhập khẩu nhiều máy móc thiết bị, xăng dầu… Tuy
nhiên, để đi sâu chi tiết và lượng hóa xem ngành, lĩnh vực nào chủ yếu gây ra nhập siêu,
cần tính toán chỉ số lan toả v inh tế và chỉ số ích thích nhập hẩu trên cơ sở phân tích
cấu trúc của nền kinh tế thông qua bảng Cân đối liên ngành (bảng I/O) (xem Phụ lục 3).
       Kết quả tính toán cho thấy, trong số 16 nhóm ngành chính, chỉ có 2 nhóm ngành
có chỉ số lan toả về kinh tế cao hơn 1 và chỉ số kích thích nhập khẩu nhỏ hơn 1 (nhóm
ngành nông nghiệp và nhóm ngành công nghiệp chế biến sản phẩm từ nông nghiệp). Hầu
hết các ngành chế biến chế tạo đều có chỉ số kích thích nhập khẩu rất cao, cho thấy các
ngành này càng phát triển thì càng kích thích mạnh nhập khẩu.
        Nguyên nhân của tình trạng nhập siêu không phải do nhu cầu tiêu dùng cuối cùng
vì nhu cầu tiêu dùng cuối cùng hàng nhập khẩu chỉ chiếm chưa tới 10% trong tổng số
nhập khẩu; chính nhu cầu hàng hóa cho sản xuất mới là nguyên nhân chính gây nhập
siêu. Nền công nghiệp chế biến chế tạo của Việt Nam còn nhiều hạn chế, công nghiệp
phụ trợ kém phát triển, sản xuất chủ yếu mang tính gia công nên đã tạo ra sự phát triển
nhanh về số lượng trong khi chất lượng ít có sự cải thiện. Hầu hết máy móc, nguyên vật
liệu chính đều phải nhập khẩu. Hiệu quả sản xuất ngày càng giảm sút, thể hiện ở việc tỷ
lệ chi phí trung gian trên giá trị sản xuất liên tục tăng lên.
       Từ những phân tích trên, có thể thấy, rất cần có sự thay ổi v chính sách thương
m i, ví dụ: cần hướng ầu tư vào những ngành có hệ số lan toả kinh tế cao và chỉ số kích
thích nhập khẩu thấp ể phát huy lợi thế (ví dụ nhóm ngành nông nghiệp và công nghiệp
chế biến sản phẩm từ nông nghiệp); ồng thời, c ng với biện pháp tăng xuất khẩu ể
giảm nhập siêu, cần nghiên cứu những biện pháp mang tính dài h n như: tăng hiệu quả
 ầu tư, tăng năng lực c nh t anh, c biệt là tăng cường phát triển công nghiệp phụ trợ
 ể tăng giá t ị gia tăng sản xuất t ong nước…
      II. Lạm phát
      Trong giai đoạn 2006 đến nay, lạm phát của Việt Nam nhìn chung đều ở mức 2
con số (ngoại trừ năm 2009) với mức tăng trung bình là 11,5%/năm, cao gấp hơn 2 lần
mức tăng 5,2%/năm của giai đoạn 2001-2005. Nhìn vào đồ thị có thể thấy, lạm phát trong
vòng hơn 10 năm trở lại đây phân chia thành hai giai đoạn khá rõ nét.



                                           8
       Trong suốt thời gian qua, lạm phát là vấn đề dai dẳng và gây tổn thương nhiều
nhất tới kinh tế Việt Nam khi thường xuyên cao hơn, kéo dài lâu hơn và dao động mạnh
hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới.
 Hình 9: Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng CPI của Việt Nam giai đoạn 2001 đến nay
                                                                                                       Đơn vị: %

 25


 20                                                                              19.87
                                                                                                           18.13

 15
                                                                         12.75
                                                                                                   11.75
 10                                       9.67
                                                    8.71

                                                               6.57                      6.52
     5                4.04
                                3.01
            0.79
     0
         2001      2002      2003      2004      2005      2006       2007   2008    2009       2010     2011

                                              Chỉ số giá tiêu dùng CPI

                                                 Nguồn: TCTK.
      Qua nghiên cứu của UBGSTCQG, có thể thấy, lạm phát cao trong thời gian là kết
quả của nhiều nguyên nhân, bao gồm:
        + L m phát nhập khẩu: Do là nền kinh tế có độ mở lớn11 nên những cú sốc giá
quốc tế, đặc biệt là giá nhiên liệu và lương thực-thực phẩm, đã góp phần làm tăng CPI
của Việt Nam. Tuy nhiên, ảnh hưởng của giá thế giới ến giá cả t ong nước là có mức
  ộ và chưa phải là nhân tố quyết ịnh làm CPI tăng cao. Bằng chứng là nhiều quốc gia
trong khu vực cũng chịu chung tác động của giá cả quốc tế nhưng mức độ lạm phát thấp
hơn nhiều so với Việt Nam12.
         +L m phát chi phí ẩy: lạm phát trong nước chịu sự tác động của chi phí đẩy bao
gồm cả việc điều chỉnh tỷ giá (theo tính toán của UBGSTCQG, việc điều chỉnh tăng tỷ

11
  Tỷ lệ kim ngạch XNK/GDP lên đến mức 170%; tỷ lệ kim ngạch nhập khẩu/GDP ở mức 89%.
12
  Trong giai đoạn 2007-2010, tỷ lệ lạm phát bình quân của Trung Quốc vào khoảng 3,32%/năm; Thái
Lan 3,2%/năm; Malaixia 2, %/năm; Inđônêxia 6,5%/năm; Philipin ,8%/năm (nguồn: WB).

                                                           9
giá 9,3% vào tháng 2/2011 có thể khiến CPI năm 2011 tăng thêm 1,2%.), điều chỉnh
lương và điều chỉnh giá một số mặt hàng cơ bản (theo tính toán của UBGSTCQG, việc
điều chỉnh giá điện đầu năm 2011 (18%) có thể khiến CPI năm 2011 tăng thêm 0,75%;
giá xăng tăng thêm 20% khiến CPI năm 2011 tăng thêm khoảng 0,5%.). Nhưng ảnh
hưởng của chi phí đẩy ở vòng 1 đến lạm phát chỉ ở mức độ nhất định, chưa phải là yếu tố
quyết định làm lạm phát tăng cao.
      + L m phát cầu kéo: lạm phát cầu kéo ở Việt Nam biểu hiện ở việc tổng cầu tăng
quá nhanh, thể hiện qua hai khía cạnh: (i) Tổng phương tiện thanh toán13 (M2) luôn duy
trì tốc độ tăng cao (M2 tăng 22,8%/năm giai đoạn 2000-2005 và 29,5%/năm giai đoạn
2006-2010), khiến “độ sâu tài chính” (tính bằng tỷ số M2/GDP) tăng vọt từ mức 97,6%
năm 2006 lên tới mức 133,8% năm 2010. Trong giai đoạn 2007-2010, M2 đã tăng 2 lần,
trong khi đó GDP danh nghĩa tăng 1,73 lần và GDP thực tế chỉ tăng 1,2 lần; (ii) sản
lượng thực tế trong những năm gần ây ã tăng quá cao so với ti m năng14, từ ó gây ra
l m phát.
       + Một số yếu tố c th hác: (i) Tình trạng phát triển quá nóng của thị trường bất
động sản, thị trường chứng khoán, tình trạng đôla hóa, vàng hóa nghiêm trọng khiến một
lượng vốn lớn của xã hội không được đầu tư trực tiếp cho sản xuất; (ii) “Kỳ vọng lạm
phát” cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực, tạo thành “lạm phát tâm lý”.
       Tóm l i, hiệu quả đầu tư giảm sút, hệ số ICOR tăng cao, do đó để duy trì tốc độ
tăng trưởng kinh tế buộc phải gia tăng đầu tư dẫn tới tăng tổng cầu, được biểu hiện qua
việc mở rộng M2 và tín dụng quá mức, vượt quá khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế,
nhất là sau khi thực hiện gói kích cầu. Đây chính là nguyên nhân sâu xa và chủ yếu gây
ra lạm phát ở Việt Nam. ếu tố tâm lý của người dân do nhiều nguyên nhân đã trở thành
chất xúc tác rất mạnh làm gia tăng mức độ lạm phát mỗi khi có một tác nhân dù nhỏ hay
lớn (ví dụ điều chỉnh giá, điều chỉnh lương…).
       III. Chính sách tài khóa và nợ công
       Quy mô thu - chi ngân sách nhà nước (NSNN) tăng nhanh qua các năm. Tính
trung bình, thu NSNN giai đoạn 2006-2010 tương đương 27,2% GDP, cao hơn con số
2 ,6% GDP giai đoạn 2001-2005; chi NSNN tương đương 36,3% GDP, cao hơn con số



13
   Tổng phương tiện thanh toán (M2) là biến số có sự quan hệ chặt chẽ với tổng cầu trong nền kinh tế,
thường được sử dụng để đánh giá biến động tổng cầu của nền kinh tế.
14
   Theo một số nghiên cứu gần đây, sản lượng thực tế của Việt Nam từ năm 2007 đã vượt quá sản lượng
tiềm năng từ 0,5-1,5 điểm%.

                                                 10
32,6% GDP giai đoạn 2001-2005. Riêng năm 2011, thu NSNN tương đương 26,6% GDP,
chi NSNN tương đương 31, % GDP, bội chi tương đương ,9% GDP.
        Hình 10: Quy mô Thu - Chi NSNN giai đoạn 2001-2005 và 2006-2010
                                                                                      Đơn vị: % GDP

             40                                                             36.3
                                       32.6
             35
             30                                                  27.2
                             24.6
             25
             20
             15
             10
              5
              0
                               2001-2005                            2006-2010

                                       Quy mô thu       Quy mô chi

                                        Nguồn: Bộ Tài chính.
       Trong thời gian qua, chính sách tài khóa (CSTK) được mở rộng đáng kể, thể hiện
ở việc tổng vốn đầu tư từ NSNN giai đoạn 2006-2010 cao gấp 2,3 lần so với giai đoạn
2001-2005. Năm 2011, tổng vốn đầu tư từ NSNN tăng 6,7% so với năm 2010. u điểm
của CSTK trong giai đoạn qua là linh hoạt chuyển hướng chính sách nhằm đối phó với
tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Việc thực thi CSTK
nới lỏng, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu15, đã tác động
tích cực tới duy trì tốc độ tăng trưởng và giúp Việt Nam sớm thoát khỏi suy thoái16.
        Tuy nhiên, việc mở rộng CSTK nhanh cũng góp phần khiến lạm phát tăng cao trở
lại và làm bội chi ngân sách, nợ công tăng nhanh17. Dư nợ nước ngoài chiếm 30% trong cơ
cấu nợ công và dư nợ nội địa phần lớn là trái phiếu chính phủ do các NHTM nắm giữ, vì vậy
biến động tỷ giá của những đồng tiền có tỷ trọng lớn trong cơ cấu nợ nước ngoài cũng như
sự ổn định và hiệu quả của hệ thống ngân hàng có tác động lớn đến tính an toàn của nợ công.
15
   Gói kích thích kinh tế, bao gồm gói đầu tư công, gói chính sách thuế và gói an sinh xã hội với tồng giá
trị lên tới trên 100 nghìn tỷ đồng.
16
    Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2006-2010 đạt 7,02%/năm. Năm 2009, tốc độ tăng trưởng GDP
giảm xuống còn 5,32%, tuy nhiên Việt Nam là 1 trong 12 nước có tốc độ tăng trưởng dương trong bối
cảnh khủng hoảng được đánh giá là tồi tệ nhất trong lịch sử.
17
   Bội chi ngân sách tăng lên mức 5,6% GDP giai đoạn 2006-201017 so với 4,9% GDP giai đoạn 2001-
2005, trong khi nợ công tăng từ mức 33,8% GDP năm 2007 lên 57,3% năm 2010, tăng 23,5 điểm%. Trong
năm 2011, nợ công giảm xuống mức 54,6% GDP do khoản chi trả nợ tăng 15.000 tỷ đồng so với dự toán.

                                                   11
Bên cạnh đó, việc thực thi chính sách thời gian qua có một số hạn chế: (i) mức huy động
cho NSNN cao (mức huy động NSNN thực hiện 27,2% GDP, cao hơn đến điểm% so
với mức kế hoạch 23% GDP) trong điều kiện nền kinh tế khó khăn đã làm tăng thêm
gánh nặng của các doanh nghiệp; (ii) NSNN thâm hụt cao và liên tục trong nhiều năm
được bù đắp một phần bằng việc phát hành trái phiếu đã làm tăng M2. Trong những năm
gần đây, đặc biệt trong giai đoạn 2009-2010, nhằm ngăn chặn đà suy giảm kinh tế do ảnh
hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu, Việt Nam đã thực hiện chương trình kích cầu,
nâng tổng đầu tư lên rất cao18. Để bù đắp thâm hụt ngân sách và có nguồn đầu tư phát
triển, Chính phủ đã phát hành trái phiếu đồng thời bảo lãnh cho 2 ngân hàng chính sách
và Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc phát hành trái phiếu với số lượng khá
lớn19. Việc phát hành trái phiếu này nếu bán cho công chúng (hộ gia đình và doanh
nghiệp) thì không tác động làm thay đổi M2. Nhưng thực tế số trái phiếu này hầu hết bán
cho các tổ chức tín dụng và các tổ chức tín dụng sử dụng để chiết khấu hoặc bán cho
NHNN qua nghiệp vụ thị trường mở, theo đó đã trở thành một nhân tố làm tăng M2. Nói
cách khác, việc phát hành trái phiếu chính phủ đã được tiền tệ hóa.
           Hình 11: Nợ công, nợ nước ngoài, nợ công nước ngoài 2006 – 2010
                                                                                     Đơn vị: % GDP

            60


            50


            40


            30


            20
                       2007               2008              2009              2010

                       Nợ công          Nợ nước ngoài              Nợ công nước ngoài

                                       Nguồn: Bộ Tài chính.




18
   Vốn đầu tư của nhà nước (bao gồm cả đầu tư phát triển từ NSNN và phát hành trái phiếu chính phủ) giai
đoạn 2006-2010 đạt 832 nghìn tỷ đồng, gấp 2,72 lần so với giai đoạn 2000-2005 (304,8 nghìn tỷ đồng).
19
   Năm 2006 72.232 tỷ đồng; năm 2007 107.733 tỷ đồng; năm 2008 77.82 tỷ đồng; năm 2009 77.608
tỷ đồng; năm 2010 1 5.617 tỷ đồng.

                                                  12
       IV. Thị trường tài chính
       1. Thị trường chứng khoán
       Trong những năm 2006-2007, thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển khá
mạnh. Cả hai chỉ số VnIndex và HnxIndex đều đã đạt đỉnh vào đầu năm 2007 với các
mức lần lượt là 1.158,3 điểm và 59, điểm. Giai đoạn tiếp theo, do chịu ảnh hưởng từ
khủng hoảng kinh tế thế giới cũng như những bất ổn từ kinh tế vĩ mô trong nước, thị
trường đi xuống mạnh trong năm 2008 và nửa đầu năm 2009. Những dấu hiệu phục hồi
được xác lập vào nửa cuối của năm 2009 với mức tăng khá cả về chỉ số cũng như khối
lượng giao dịch, nhưng sau đó thị trường trở lại với sự giằng co với xu thế giảm trong
suốt năm 2010 và giảm mạnh trong 2011. Những điểm đáng chú ý của thị trường chứng
khoán năm 2011 bao gồm:
        - Thị t ường chứng khoán sụt giảm m nh, thậm chí thiết lập mức đáy lịch sử mới.
Tính chung cả năm 2011, chỉ số VnIndex và HnxIndex giảm lần lượt 27,6% (từ mức
  85,97 điểm xuống còn 351,6 điểm) và 49,9% (từ mức 113, điểm xuống còn 56,8 điểm)
so với đầu năm. Nếu loại trừ tác động của các cổ phiếu lớn bị thao túng giá (BVH, MSN,
VIC, VNM, VPL) thì chỉ số VnIndex đang xấp xỉ mức đáy 235,5 của tháng 2/2009. Giá
trị vốn hóa của thị trường chứng khoán chỉ còn tương đương hơn 20% GDP.
       - Thanh khoản thị t ường thấp hơn nhi u so với năm t ước (KLGD và GTGD sụt
giảm), cụ thể: tính đến 12/2011, KLGD bình quân phiên năm 2011 của cả hai sàn HSX
và HNX chỉ là 59,7 triệu cổ phiếu, giảm 27,5% so với năm 2010; GTGD bình quân phiên
tính đến 12/2011 là 798,3 tỷ đồng, giảm 64,7% so với năm 2010.
        - Nhi u công ty chứng khoán (CTCK) thua lỗ và thậm chí ã có một số công ty
lâm vào tình tr ng mất thanh khoản20. Tính đến 9/2011, 65 CTCK thua lỗ và 71 CTCK
có lỗ lũy kế.
       - Nhà ầu tư nước ngoài trong thời gian gần ây ã hầu như hông quan tâm ến
TTCK Việt Nam khi duy trì trạng thái bán ròng liên tiếp kể từ tháng 8/2011 đến nay (trừ
tháng 11) với tổng giá trị bán ròng lên đến hơn 2.000 tỷ đồng; cá biệt có phiên giao dịch
khối ngoại bán ròng ở mức kỷ lục 710 tỷ đồng.
       Có thể thấy, nếu kinh tế vĩ mô không tạo được lực đẩy và nếu không có chính sách
hỗ trợ thị trường chứng khoán cũng như các biện pháp củng cố lòng tin của nhà đầu tư thì



20
  Chỉ trong vòng hơn 1 tháng kể từ 1/11 đến 5/12/2011, CTCK SME đã hai lần lâm vào tình trạng thiếu
hụt thanh khoản; CTCK Tràng An cũng bị mất khả năng thanh toán với giá trị giao dịch 7 tỷ đồng.

                                                13
năm 2012 thị trường có thể tiếp tục sụt giảm và như vậy sẽ làm tăng rủi ro chéo lên hệ
thống ngân hàng, thị trường ngoại hối và gia tăng áp lực mất giá VNĐ.


              Hình 12: Chỉ số VnIndex, HnxIndex và khối lượng giao dịch
                           giai đoạn giai đoạn 2006 đến nay
                                                     Đơn vị: iểm; triệu cổ phiếu/phiên
 1400                                                                        160000000
 1200                                                                        140000000

 1000                                                                        120000000
                                                                             100000000
  800
                                                                             80000000
  600
                                                                             60000000
  400                                                                        40000000
  200                                                                        20000000
    0                                                                        0
   04-01-06     04-01-07   04-01-08      04-01-09      04-01-10   04-01-11

                                Khối lượng giao dịch        VNIndex




 500                                                                         120000000
 450
 400                                                                         100000000
 350                                                                         80000000
 300
 250                                                                         60000000
 200
 150                                                                         40000000
 100                                                                         20000000
  50
   0                                                                         0
  04-01-06     04-01-07    04-01-08     04-01-09       04-01-10   04-01-11

                              Khối lượng giao dịch         HNX Index




                                              14
        2. Thị trường tiền tệ: khu vực ngân hàng yếu đi sau nhiều năm tăng trưởng nóng
        CSTT trong giai đoạn 2006-2010 có sự mở rộng khá nhanh, cụ thể: tổng phương
tiện thanh toán (M2) tăng bình quân 30,2%/năm, cao hơn mức tăng bình quân 23,2%/năm
giai đoạn 2001-2005; tín dụng cho nền kinh tế tăng bình quân 33,2%/năm, cao hơn mức
tăng bình quân 26,1%/năm của giai đoạn 2001-2005. Theo đó, tỷ lệ M2/GDP đã tăng từ
mức 0,97 lần năm 2006 lên đến 1,34 lần năm 2010 - mức cao so với các nước trong khu
vực; tỷ lệ tín dụng/GDP đã tăng từ 0,71 lần năm 2006 lên mức 1,16 lần năm 2010. Việc
mở rộng quá nhanh CSTT trong hi tăng t ưởng kinh tế hông tương xứng ược xem là
một trong những nguyên nhân dẫn ến l m phát ở Việt Nam.
        Tuy nhiên, trong năm 2011, CSTT thắt chặt đột ngột: mức tăng M2 và tín dụng
của cả năm 2011 ước đạt tương ứng dưới 10% và 12-13%, chỉ bằng 1/3 so với mức tăng
trung bình của các năm trước. Có thể thấy, đây là mức thắt chặt chưa từng có từ trước tới
nay, thấp hơn đáng kể so với mức tăng định hướng đã nêu trong Nghị quyết 11 nhằm
hướng tới giảm tổng cầu21. Điều này đã góp phần đáng kể vào việc kéo lạm phát (theo
tháng) giảm tương đối nhanh trong nửa cuối năm 2011, từ đó góp phần tăng giá trị VNĐ
và giảm sức ép lên tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên, “cú phanh gấp” này cũng tạo ra nhiều rủi
ro cho hệ thống tài chính – ngân hàng và nền kinh tế, cụ thể: các doanh nghiệp gặp nhiều
khó khăn; thanh khoản của các NHTM và các tổ chức kinh tế bị thách thức nghiêm trọng;
thị trường bất động sản và chứng khoán bị đình trệ.
            Bảng 1: Tốc độ tăng cung tiền và tín dụng giai đoạn 2006-2011
                                                                                     Đơn vị: %
                   Năm              2006 2007 2008               2009    2010       ớc 2011
     Tốc độ tăng M2                 32,0 41,2 20,3               27,5    29,8       ~ 10%
     Tốc độ tăng tín dụng           24,8 48,9 23,4               37,5    31,2      12-13%
     M2/GDP danh nghĩa (lần)        0,97 1,16 1,08               1,23    1,34        1,15
     Tín dụng/GDP danh nghĩa (lần) 0,71 0,90 0,86                1,06    1,16        1,02
                                 Nguồn: UBGSTCQG.
       Thanh khoản của hệ thống ngân hàng ngày càng ti m ẩn nhi u rủi o hơn, biểu hiện
qua việc thị trường LNH thời gian qua có những biến động lớn. Gần đây, thị trường LNH
chứng kiến sự rối loạn chưa từng có khi niềm tin sụt giảm nghiêm trọng. Lần đầu tiên
trong lịch sử hệ thống ngân hàng Việt Nam, vay trên thị trường II phải có thế chấp và

21
  Theo Nghị quyết 11, cần bảo đảm tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2011 dưới 20%, tổng phương tiện
thanh toán khoảng 15-16%.

                                               15
điều đáng quan ngại là tỷ lệ nợ xấu trên thị trường này vẫn tiếp tục tăng nhanh. Hệ quả là
hiện tượng chiếm dụng vốn lẫn nhau giữa các ngân hàng diễn ra khá phổ biến, kéo theo
hiện tượng căng thẳng thanh khoản (ban đầu chỉ diễn ra ở một số ngân hảng nhỏ nay đã
lan ra toàn hệ thống ngân hàng); đồng thời căng thẳng thanh khoản từ chỗ chỉ diễn ra với
kỳ hạn dài nay đã diễn ra đối với tất cả các kỳ hạn, kể cả kỳ hạn ngắn. Thanh khoản căng
thẳng, nợ xấu (cả thị trường 1 và thị trường 2) tăng cao làm lãi suất huy động và cho vay
không thể hạ được mặc dù lạm phát đang có xu hướng giảm khá nhanh.
       Áp lực thanh khoản cũng có thể được nhìn nhận dựa vào việc chỉ tiêu cho vay/huy
động (LDR) đang có xu hướng tăng cao. p lực thanh khoản một mặt đẩy mặt bằng lãi
suất tăng cao do các NHTM cạnh tranh huy động tiền gửi, mặt khác gây nhiều rủi ro cho hệ
thống ngân hàng khi CSTT được thắt chặt để kiềm chế lạm phát. Về nguyên nhân, có thể
thấy, việc tín dụng luôn tăng nhanh hơn M2 cũng góp phần làm tăng áp lực lên thanh
khoản của hệ thống.
             Bảng 2: Tỷ lệ cho vay/huy động (LDR) giai đoạn 2008-2011
                                                                               Đơn vị: %
                       Năm            2008        2009   2010     ớc 2011
                LDR                   0,95        1,01   1,01   1,02-1,03
                                  Nguồn: UBGSTCQG.
        Chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng ngày một xấu hơn do hệ quả tăng
trưởng tín dụng quá cao trong những năm qua trong khi năng lực quản lý rủi ro thấp và
những bất cập trong điều hành CSTT, lãi suất của cơ quan quản lý nhà nước. Cụ thể là nợ
xấu của toàn hệ thống ngân hàng tính đến hết quý II/2011tăng nhanh lên mức 71,6 nghìn
tỷ đồng (tăng hơn 20 nghìn tỷ đồng so với cuối năm 2010 và tăng 5,1% so với cùng kỳ
năm trước) và gần đây đã tăng lên mức 85 nghìn tỷ đồng. Tốc độ tăng trung bình của nợ
xấu trong 6 tháng đầu năm 2011 là 7,3%/tháng, cao gấp đôi mức bình quân tháng của
năm 2010. Nợ xấu tăng nhanh trong khi tín dụng tăng thấp cho thấy chất lượng tín dụng
đang suy giảm và phản ánh những khó khăn của doanh nghiệp trong năm 2011, làm tăng
rủi ro tín dụng cho hệ thống ngân hàng.
       Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ cũng tăng mạnh, lên mức 2,88% vào tháng 6/2011 và gần
đây tăng mạnh lên mức 3,39% (cao hơn 1,2 điểm% so với cuối năm 2010). Các nhóm nợ
xấu đều có xu hướng tăng mạnh, đặc biệt tỷ trọng của nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất
vốn) trong tổng nợ xấu đã tăng lên trên 50%, cho thấy nợ xấu có xu hướng ngày càng xấu
hơn. Nợ xấu tăng lên trong khi số dư dự phòng rủi ro tín dụng không tăng tương xứng



                                             16
đang tiềm ẩn nhiều rủi ro: tỷ lệ số dư dự phòng rủi ro tín dụng/nợ xấu có xu hướng giảm,
từ mức 81,1% cuối năm 2010 xuống chỉ còn 67,1% tính đến hết tháng 6/2011.
        Có thể thấy, đây là hệ quả của những rủi ro chéo giữa thị trường tiền tệ và các thị
trường chứng khoán và bất động sản: (1) Trong một thời gian dài, các CTCK đã tiến hành
huy động vốn dưới nhiều hình thức, không loại trừ vay vốn ngân hàng22, sau đó cho nhà
đầu tư chứng khoán vay lại thông qua các nghiệp vụ như repo, margin… Do thị trường
suy giảm nhanh, trong khi các công ty chứng khoán còn thiếu kinh nghiệm trong quản trị
rủi ro nên nhiều khoản vay của các nhà đầu tư trở thành những khoản nợ không thể chi
trả; (2) Lĩnh vực bất động sản có một giai đoạn bùng nổ, thu hút một nguồn lực tín dụng,
đầu tư rất lớn; tuy nhiên, do giá cả giảm mạnh, các doanh nghiệp không thể bán hàng để
thu hồi vốn và trả nợ ngân hàng cũng như tiến hành các dự án đầu tư dang dở. Những bất
cập kể trên góp phần không nhỏ vào việc làm tăng nợ đọng, nợ xấu của hệ thống ngân
hàng. Cùng với triển vọng khá ảm đạm của hai thị trường này, dự báo nợ xấu của hệ
thống ngân hàng sẽ tiếp tục tăng lên trong thời gian tới.
       Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu có xu hướng giảm m nh. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
(CAR) toàn hệ thống đạt 11,97% trong tháng 6/2011 (thấp hơn 0,16 điểm% so với
tháng 12/2010) do chất lượng tài sản có suy giảm. Số lượng các ngân hàng không đáp
ứng được CAR theo quy định đã tăng đáng kể. Theo số liệu tính toán của UBGSTCQG,
tính đến ngày 31/6/2011 chỉ có 2/ 7 ngân hàng không đạt tỷ lệ này nhưng đến hết quý
III/2011, con số này đã là 17/ 2 ngân hàng.
          3. Thị trường ngoại hối và vàng
       Tỷ giá danh nghĩa VND/USD có xu hướng ngày càng tăng cao, đặc biệt trong
những năm cuối của giai đoạn 2006 đến nay. Trong năm 2010, thị trường ngoại hối diễn
biến khá phức tạp. Tỷ giá bán ra tại các NHTM liên tục kịch trần ngay từ đầu năm và sức
ép tỷ giá chỉ nới lỏng (dưới mức trần) đôi chút trong giai đoạn từ giữa tháng đến đầu
tháng 7. Trong năm 2010, NHNN cũng đã 2 lần điều chỉnh tỷ giá với mức tăng 5,5%. Mặc
dù vậy, những lần điều chỉnh này vẫn không giải tỏa được tâm lý thị trường, do đó vào đầu
tháng 2/2011, NHNN phải tiếp tục điều chỉnh với biên độ lớn (tới 9,3%). Kể từ đó đến nay,
thị trường ngoại hối khá ổn định, tỷ giá thị trường tự do đã kéo về sát, thậm chí có thời
điểm còn thấp hơn so với tỷ giá niêm yết của các NHTM.
      Bên cạnh đó, năm 2011, nhờ kiểm soát nhập siêu khá tốt (nhập siêu cả năm đạt 9,51
tỷ USD, tương đương 9,9% kim ngạch xuất khẩu) nên cán cân thanh toán ước thặng dư 2,5
tỷ USD sau một số năm thâm hụt, vì vậy phần nào giảm bớt căng thẳng tỷ giá. Tuy nhiên,
22
     Nhiều công ty chứng khoán là các công ty con của các ngân hàng.

                                                    17
tính ổn định của tỷ giá chưa bền vững, một phần do Việt Nam tiếp tục nhập siêu ở mức khá
cao, cán cân vốn và tài chính thặng dư chủ yếu nhờ nguồn vốn ngắn hạn (FII, vay LC của
doanh nghiệp) – là nguồn vốn có tính bất ổn cao; mặt khác, tỷ giá chịu ảnh hưởng đáng kể
của hoạt động kinh doanh, xuất nhập khẩu vàng23, trong khi đó giá vàng quốc tế biến động
khá nhiều.

         Hộp 1. Tỷ giá thực ong phương với USD và tỷ giá thực đa phương
       Do mức chênh lệch lớn về lạm phát giữa Mỹ và Việt Nam tiếp tục gia tăng trong
 năm 2011 khiến tỷ giá danh nghĩa song phương (NER) tiếp tục xu hướng tăng cao (1 9)
 và khoảng cách giữa NER và tỷ giá thực song phương (RER) ngày càng doãng rộng (từ
 mức xấp xỉ      trong năm 2009 lên đến 60 trong năm 2011). Theo tính toán của
 UBGSTCQG, tính đến tháng 9/2011, chỉ số tỷ giá thực song phương (RER) giữa VNĐ
 và USD đạt 78,8, tức là VNĐ đang được định giá cao hơn 21,2% so với USD.
         Tuy nhiên, do trên thị trường quốc tế đồng USD trong những năm gần đây lại bị
 mất giá so với hầu hết các đồng tiền lớn trên thế giới (trong đó có các đối tác thương
 mại lớn của Việt Nam)24, nên nếu tính tỷ giá thực đa phương (REER), khoảng cách định
 giá cao của VND đã được thu hẹp. Xu hướng đi lên ngày càng mạnh của NEER (tỷ giá
 danh nghĩa đa phương) (tăng từ mức 13 trong năm 2009 lên mức 180 trong năm 2011)
 cho thấy sự mất giá ngày càng lớn của VNĐ, sức cạnh tranh của hàng Việt Nam so với
 các đối tác thương mại lớn đang giảm sút nhiều. Tuy nhiên, nếu tính NEER có hiệu
 chỉnh theo chênh lệch lạm phát (REER), tính đến hết tháng 9/2011, REER đạt xấp xỉ
 95, tức là được định giá cao hơn giá trị thực chỉ là 5%. Như vậy, nếu so sánh với một rổ
 tiền tệ các nước đối tác thương mại lớn thì giá trị VND đang về khá sát giá trị thực.

       Thị trường vàng thời gian qua cũng có nhiều biến động, một mặt do chịu ảnh hưởng
của biến động giá vàng thế giới, một mặt do hoạt động đầu cơ, làm giá cũng như tình hình
vàng hóa còn khá nặng nề trong nền kinh tế. Việc giá vàng trong nước liên tục biến động,
thậm chí có thời điểm chênh lệch với giá vàng thế giới lên đến 3- triệu đồng/lượng, đang
gây rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý, điều hành CSTT của Nhà nước. Nghiên cứu
của UBGSTCQG cho thấy, biến động giá vàng có thể dẫn đến nhiều nguy cơ, bao gồm

23
   Lật lại dữ liệu lịch sử những cơn sốc vàng từ năm 2009 đến nay có thế thấy bất cứ một đợt sốt giá vàng
nào cũng kéo theo sự lên giá mạnh mẽ của đồng USD trên thị trường tự do. Để kiểm tra mối quan hệ giữa
vàng và tỷ giá, UBGSTCQG đã thực hiện mô hình hồi quy tỷ giá tự do theo giá vàng trong giai đoạn từ
tháng 1/2009 -7/2011 và thấy rằng: trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, nếu giá vàng tăng 100
nghìn đồng/lượng có thể kéo theo tỷ giá tự do tăng thêm khoảng 9,5 đồng.
24
   Trong năm 2010, đồng JP đã tăng 12,9% so với USD, SGD tăng 10,3%, THB tăng 7,7%. Trong năm
2011, đồng JP tăng 5,2% so với USD, đồng NDT tăng ,7%...

                                                   18
tăng áp lực tỷ giá; làm tăng nhập siêu và tác động tiêu cực lên cán cân thanh toán tổng
thể25; tăng sức ép lạm phát, đặc biệt là lạm phát tâm lý; ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường
chứng khoán và bất động sản.
       Tóm l i:
      - Về mô hình tăng trưởng, tăng trưởng của kinh tế Việt Nam chủ yếu phụ thuộc
vào vốn đầu tư và nguồn nhân lực ít đào tạo, chưa phát huy được những nhân tố tăng
trưởng theo chiều sâu; trong khi đó, hiệu quả đầu tư còn thấp.
       - Nhiều mất cân đối vĩ mô còn tồn tại, gây sức ép và cản trở việc đạt được tốc độ
tăng trưởng cao và bền vững (mất cân đối tiết kiệm và đầu tư, nhập siêu lớn, lạm phát
cao, bội chi ngân sách lớn…). Trong khi đó, dư địa CSTK và CSTT hiện còn rất hạn
hẹp do phải đối mặt với chính những bất ổn kinh tế vĩ mô này, đặc biệt là vấn đề lạm
phát cao và liên tục.
      - Thị trường tài chính đang đối mặt với nguy cơ rủi ro lớn TTCK sụt giảm
nghiêm trọng; hệ thống ngân hàng đối mặt với rủi ro thanh khoản và nợ xấu tăng cao;
những rủi ro chéo trong hệ thống tài chính.




25
  Theo số liệu thống kê, 95% lượng vàng tiêu thụ tại Việt Nam được nhập khẩu trong đó vàng nhập lậu
ước tính lên đến 20-40 tấn/năm, tương đương 1,2 tỷ USD – 2,4 tỷ USD. (Nguồn: Reuters, SBV)

                                                19
             PHẦN II: PHÂN TÍCH TRIỂN VỌNG KINH TẾ VIỆT NAM


        I. Phân tích định tính
        1. Triển vọng kinh tế thế giới
      Kinh tế thế giới năm 2011 đối mặt với nhiều khó khăn và tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Tăng trưởng tại một số quốc gia sụt giảm mạnh, tỷ lệ thất nghiệp luôn cao26. Khủng
hoảng nợ công ngày càng nghiêm trọng đã tác động đến tất cả các nước trong khu vực
EU, lan sang cả khu vực ngân hàng, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động thương mại và đầu
tư quốc tế. So sánh với thời điểm trước khủng hoảng năm 2008, những yếu tố cơ bản của
kinh tế thế giới (thất nghiệp, nợ công, sản xuất, cầu tiêu dùng, hệ thống ngân hàng…) thể
hiện sự yếu kém và khó khăn hơn, nguy cơ suy thoái bị đẩy lên cao27. Mặc dù khả năng
kinh tế thế giới năm 2012 sẽ giảm sâu như trong quý I/2009 là không lớn song những khó
khăn kinh tế toàn cầu được dự báo sẽ còn kéo dài qua năm 2012, các tổ chức quốc tế
đều hạ mức dự báo tăng trưởng kinh tế của các khu vực và thế giới so với năm 201128.
Triển vọng kinh tế thế giới năm 2013 dự báo sẽ tốt hơn chút ít so với năm 2012.
        Châu Á       c biệt là các nước mới nổi) luôn ược xem là ộng lực phát triển kinh
tế thế giới trong thời gian qua cũng ang phải hứng chịu những tác ộng tiêu cực của
kinh tế toàn cầu: sức ép lạm phát trong năm 2012 được dự báo sẽ giảm mạnh nhưng tốc
độ tăng trưởng của khu vực kể cả Ấn Độ, Trung Quốc29 sẽ suy giảm đáng kể; thương mại
và đầu tư từ các nền kinh tế phát triển vào khu vực này sẽ giảm. Trong bối cảnh ó, nhi u
nước ã có sự chuyển hướng chính sách, giảm bớt mức ộ thắt ch t và chuẩn bị phương
án nới lỏng chính sách nếu cần thiết30.
      Lĩnh vực thương mại và đầu tư quốc tế cũng chịu ảnh hưởng tiêu cực từ khủng
hoảng tài chính 2008-2009 và khủng hoảng nợ công. Thương mại quốc tế dự báo chỉ tăng

26
   Tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ trên 9% và của Châu Âu lên mức kỷ lục 10,2% trong tháng 9.
27
   Nguy cơ suy thoái kinh tế Mỹ được Bloomberg dự báo lên đến 50% vào trung tuần tháng 11.
28
   IMF hạ dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới và các nước đang phát triển năm 2012 xuống lần lượt là 4,01%
và 6,44% so với mức ,3% và 6,7% đưa ra trước đó. Ngân hàng Thế giới (WB) hạ dự báo tăng trưởng của
kinh tế thế giới và các nước đang phát triển trong năm 2012 xuống mức lần lượt là 3,6% và 6,3%.
29
   WB dự báo tăng trưởng GDP 2012 của Trung Quốc sẽ giảm xuống 8,4% so với 9,1% của năm 2011.
30
   Ngày 25/11, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc 0,5 điểm%, xuống còn 16%
đối với hơn 20 ngân hàng nông thôn. NHTW Indonesia cũng giảm lãi suất từ 6,5% xuống mức kỷ lục 6%
khi CPI tháng 10 giảm xuống còn , 2%.Philippines thúc đẩy gói kích thích tài chính mới để hỗ trợ tăng
trưởng kinh tế.

                                                   20
7,5% (về khối lượng) trong năm 2011, thấp hơn nhiều so với mức tăng 12,8% của năm
2010; năm 2012-2013 dự báo chỉ tăng khoảng 6%/năm31. Vốn FDI 2011 ước đạt trên
1.500 tỷ USD; năm 2012-2013 sẽ tiếp tục tăng lên; tuy nhiên tốc độ tăng giảm mạnh32;
đồng thời, vốn FDI có xu hướng đổ vào các nước phát triển nhiều hơn33. Vốn đầu tư gián
tiếp chảy vào các nền kinh tế đang nổi, đặc biệt là ở châu Á, dự báo sẽ giảm do chịu ảnh
hưởng của khủng hoảng nợ công ở châu Âu (do khủng hoảng, các nước châu Âu đang
tiến hành tái cơ cấu: giảm tỷ lệ đòn bẩy tài chính (deleverage), yêu cầu tăng vốn để đảm
bảo an toàn, giảm tín dụng…). Điều này có thể dẫn đến hệ quả lãi suất vay vốn cao hơn.
       Theo dự báo của UBGSTCQG, giá hàng hóa (không tính dầu mỏ) thế giới năm
2012 có xu hướng giảm (mức giảm có thể lên đến 10%; trong khi năm 2011, mức tăng giá
lên đến hơn 20%) (xem Bảng 3). Tuy nhiên, với cơ cấu đặc thù hàng xuất khẩu của Việt
Nam, UBGSTCQG ước tính giá hàng xuất khẩu của Việt Nam chỉ giảm nhẹ ở mức 4% so
với mức giá 2011. Riêng mặt hàng dầu thô, dự báo giá sẽ ít biến động so với năm 2011 (dự
báo khoảng 95-105 USD/thùng) do chịu tác động của các yếu tố sau: (i) mặc dù kinh tế thế
giới 2012 nhiều khả năng tăng chậm hơn 2011 làm giảm nhu cầu tiêu thụ dầu lửa nhưng
lượng tồn kho thế giới đang ở mức thấp nên nhu cầu tăng lượng tồn kho sẽ gia tăng. Thêm
vào đó, nhu cầu tiêu thụ tại một số nền kinh tế thuộc BRICS và một số khu vực khác dự
báo sẽ tiếp tục tăng, bù đắp sự sụt giảm nhu cầu tiêu thụ tại các nước phát triển do kinh tế
gặp khó khăn; (ii) các hãng sản xuất dầu lửa gặp khó khăn khi khai thác thêm những mỏ
dầu mới, theo đó ảnh hưởng tới nguồn cung; (iii) bất ổn chính trị tại Trung Đông và Bắc
Phi tiếp tục diễn ra. Nhìn chung, giá hàng hóa thế giới giảm sẽ góp phần giảm mạnh sức ép
lạm phát CPI tại các nước phát triển dự báo chỉ tăng khoảng 1,5% trong năm 2012, thấp
hơn nhiều so với mức tăng 2,6% năm 2011; CPI tại các nước đang phát triển năm 2012 dự
báo tăng chưa tới 6%, thấp hơn mức tăng 7,5% của năm 2011.
                     Bảng 3: Dự báo giá hàng hóa thế giới 2012
                              (% giảm so với năm 2011)
              Loại hàng hóa                    EIU                             WB
      Năng lượng                              -8,6%                          -8,09%
      Hàng hóa phi năng lượng                -11,4%                          -9,93%

31
   Nguồn: Báo cáo World Economic Outlook tháng 9/2011, IMF.
32
   Tốc độ tăng vốn FDI toàn cầu năm 2012 và 2013 dự báo đạt lần lượt 10,6% và 11,2%, thấp hơn nhiều
so với mức tăng 22,5% của năm 2011. (Nguồn: UNCTAD).
33
   Tỷ trọng vốn FDI đổ vào các nước phát triển dự báo tăng từ 8, % năm 2010 lên đến gần 55% năm
2013. (Nguồn: UNCTAD).

                                                21
                Nông sản                      -11,6%                 -11,41%
                Nguyên liệu thô               -11,1%                  -5,64%
                Kim loại và khoáng sản         -2,6%                  -7,07%
     Ghi chú: số dự báo của WB được công bố vào tháng 11/2011; số liệu của EIU được tính
                                                                      vào tháng 12/2011.
                                     Nguồn: WB, EIU.
       Dựa trên các dự báo của các chuyên gia và các tổ chức quốc tế, cùng với những
phân tích ở trên, UBGSTCQG đưa ra một số dự báo về kinh tế thế giới năm 2012 theo 3
kịch bản34 (xem Bảng 9).
         Do là n n inh tế nhỏ có ộ mở lớn, tăng t ưởng kinh tế Việt Nam năm 2012 ược
dự báo sẽ chịu những tác ộng bất lợi không nhỏ của inh tế hu vực và thế giới thông
qua kênh xuất nhập hẩu cũng như ênh ầu tư (đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp).
         2. Những nhân tố tác động đến kinh tế Việt Nam năm 2012-2013
         2.1. Những nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng
       Kinh tế Việt Nam năm 2012 được dự báo tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó
khăn, thách thức lớn, cụ thể:
          Đầu tư và sản xuất
       V ầu tư, trong năm 2012, tỷ lệ tổng vốn đầu tư toàn xã hội/GDP theo kế hoạch sẽ
giảm đáng kể từ mức 34,6% năm 2011 xuống còn 33,5 – 33,9% năm 2012. CSTT và
CSTK thắt chặt35 trong năm 2011 để khống chế lạm phát sẽ gây tác động phụ, ảnh hưởng
đến tăng trưởng trong năm 2012. Thị trường chứng khoán và bất động sản suy giảm mạnh
cũng có những tác động lan tỏa bất lợi tới đầu tư. Vốn FDI vào Việt Nam dự báo có thể chỉ
bằng hoặc thấp hơn năm 201136 do kinh tế thế giới gặp khó khăn, vốn FDI toàn cầu và FDI
chảy vào các nước đang phát triển có xu hướng giảm. Như vậy, tỷ lệ vốn đầu tư/GDP năm
2012 sẽ thấp hơn rất nhiều so với mức bình quân trên 0% của giai đoạn 5 năm 2006-2010.
Năm 2013, tỷ lệ vốn đầu tư/GDP dự báo sẽ cao hơn so với năm 2012, đạt khoảng 34-35%.
      V sản xuất, sản xuất của các doanh nghiệp đang gặp rất nhiều khó khăn và sẽ ảnh
hưởng nhiều đến việc tăng sản lượng trong 6 tháng đầu năm 2012. Chỉ số phát triển công
34
    Kịch bản kinh tế thế giới được xây dựng trên cơ sở so sánh khả năng tăng trưởng trong 2012 so với
năm 2011.
35
   Năm 2011 mức tăng cung tiền và tín dụng ước đạt tương ứng 10% và từ 12-13%, thấp hơn rất nhiều so
với mục tiêu đề ra là 15-16% cho M2 và dưới 20% cho tín dụng.
36
   Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) năm 2011 đạt 14,7 tỷ USD, bằng 74% so với năm 2010.

                                                 22
nghiệp (IIP) bình quân tháng liên tục giảm từ tháng 2/2011 đến nay và hiện chỉ còn xấp xỉ
7% so với mức 10% đầu năm. Tính chung cả năm, giá trị sản xuất công nghiệp ước chỉ
tăng 6,8%, thấp hơn 2,5 điểm% so với mức tăng của năm 2010 và đặc biệt thấp hơn 0,3
điểm% so với mức tăng của năm 2009 - năm kinh tế Việt Nam chịu tác động mạnh của
suy thoái kinh tế thế giới. Chỉ số tồn kho tăng mạnh lên mức cao kỷ lục 23% trong tháng
12, đưa tồn kho trung bình từ tháng 2-12/2011 tăng 16% so với cùng kỳ năm trước, hệ
quả là lần đầu tiên trên thị trường chứng khoán đã chứng kiến hàng loạt doanh nghiệp
niêm yết phải chấp nhận bán tháo cổ phiếu quỹ với giá rẻ hơn từ 35%-65% giá mua nhằm
bù đắp tình trạng thiếu hụt vốn duy trì hoạt động.
        Tiêu dùng: Cầu tiêu dùng nội địa năm 2011 bị ảnh hưởng nặng nề bởi lạm phát
với mức tăng thấp hơn nhiều so với mức tăng của năm trước. Tổng mức hàng hóa bán lẻ
và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2011 ước tính đạt 2.004,4 nghìn tỷ đồng, tăng 2 ,2%
so với năm trước, nhưng nếu loại trừ yếu tố giá thì chỉ tăng ,7%, thấp hơn rất nhiều so
với các mức tăng tương ứng 24,5% và 14% của năm 2010. Trong năm 2012 và 2013 mức
độ ảnh hưởng này sẽ giảm bớt nhờ kết quả của việc kiểm soát lạm phát và một phần nhờ
việc tăng lương. Song mức tăng tiêu dùng dự báo cũng chỉ ở mức vừa phải.
           Xuất khẩu: trong năm 2012, theo kế hoạch xuất khẩu chỉ tăng 13%, thấp hơn
nhiều so với năm 2011. Xuất khẩu trong năm 2012 sẽ bị ảnh hưởng bởi sự sụt giảm nhu cầu
nhập khẩu của các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam (Mỹ, EU); tăng trưởng thương
mại toàn cầu dự báo giảm từ mức 7,8% năm 2011 xuống mức 5,8% năm 2012 (theo IMF).
Thêm vào đó, giá hàng hóa quốc tế - yếu tố hỗ trợ mạnh tăng trưởng xuất khẩu của năm
2011 - dự báo sẽ giảm đáng kể so với năm 2011. Tuy nhiên, theo tính toán của UBGSTCQG,
do cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là hàng nông sản, tiêu dùng thiết yếu và
khai khoáng nên tác động của việc giá thế giới giảm đến kim ngạch xuất khẩu cũng sẽ ít hơn
so với các nền kinh tế khác.
       Thị trường tài chính nhiều bất ổn sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ cho hoạt
động sản xuất, kinh doanh và đầu tư.
      Thị t ường ti n tệ, ngân hàng ối m t với nhi u rủi ro và bất ổn37, rủi ro thanh
khoản và rủi ro nợ xấu tăng cao. Lãi suất cho vay mặc dù có xu hướng giảm nhưng vẫn còn
ở mức cao38 và chưa có dấu hiệu giảm trong thời gian tới.


37
     Tổ chức xếp hạng tín nhiệm S&P xếp hạng đồng nội tệ dài hạn và ngắn hạn Việt Nam ở mức BB- và B

                                                  23
       Thị t ường chứng khoán, thị t ường bất ộng sản sụt giảm. Lòng tin của các nhà
đầu tư sụt giảm gây nhiều trở ngại cho các doanh nghiệp trong việc huy động vốn trên thị
trường chứng khoán. Nhiều dự án bất động sản đình trệ vì thiếu vốn, không tiêu thụ được
và giá thị trường giảm mạnh, khả năng thanh toán của doanh nghiệp bất động sản suy
giảm làm gia tăng nợ xấu trong hệ thống ngân hàng.
      Thị t ường vàng và ngo i hối biến động mạnh gây hiệu ứng “lạm phát kỳ vọng”,
gây khó khăn không nhỏ cho việc thực thi chính sách tiền tệ với mục tiêu kiềm chế lạm
phát, ổn định tỷ giá, tăng dự trữ ngoại hối.
       Tình hình trên đây sẽ ảnh hưởng đáng kể tới tăng trưởng trong 6 tháng đầu năm
2012. Tăng trưởng 6 tháng cuối năm 2012 sẽ phụ thuộc vào việc điều chỉnh chính sách
của Chính phủ cuối năm 2011 và đầu năm 2012.
       2.2. Lạm phát
       Do kết quả thực hiện Nghị quyết 11 trong năm 2011 và định hướng tiếp tục thắt chặt
chính sách (tăng trưởng tín dụng cả năm 2012 khoảng 15-17%), tác động của yếu tố cầu kéo
đến lạm phát có xu hướng giảm dần và ổn định trong năm 2012; nhờ đó, triển vọng lạm phát
năm 2012 được dự báo khả quan. Bên cạnh đó, những nhân tố bên ngoài như giá hàng hóa
thế giới giảm (do nhu cầu hàng hóa nguyên vật liệu thô suy giảm trước nguy cơ suy thoái
kinh tế cao) cũng tác động tích cực đến việc kiểm soát lạm phát của Việt Nam. Tuy nhiên,
tăng lương và tăng giá một số mặt hàng cơ bản như điện39, than… là nhân tố tác động tiêu
cực đến lạm phát năm 2012. Nếu công tác quản lý thị trường và điều hành chính sách được
thực hiện hợp lý sẽ không gây hiệu ứng “lạm phát kỳ vọng”. Theo tính toán của
UBGSTCQG, CPI 2 quý đầu năm 2012 - không tính tới yếu tố thời vụ (thời điểm Tết
Nguyên đán) và với giả định không có điều chỉnh về giá cả mặt hàng cơ bản và tỷ giá - sẽ
dao động trong khoảng 3-4%. Nếu điều chỉnh giá điện 20% trong năm 2012 có thể khiến CPI
năm 2012 tăng thêm 1, 3%40. Từ những phân tích trên, UBGSTCQG cho rằng áp lực lạm
phát năm 2012 sẽ giảm đáng kể so với năm 2011 do cả hai yếu tố cầu kéo lẫn chi phí đẩy đều
cho thấy những tín hiệu tích cực hơn. Dự báo tốc độ tăng CPI năm 2012 dao động quanh


(tháng 8/2011); ngày 9/11, tổ chức này đã điều chỉnh đánh giá mức độ rủi ro trong hệ thống ngân hàng
(BICRA) của Việt Nam từ nhóm 9 lên nhóm 10, là mức rủi ro cao nhất như Hy Lạp; tháng 10/2011, Fitch
xếp hạng nợ dài hạn và ngắn hạn ở mức B+ và B.
38
   Hiện lãi suất cho vay ngoài nhóm ưu đãi vẫn ở mức trên 20%/năm.
39
   Bộ trưởng Bộ Tài chính dự kiến mức tăng có thể trên 10%.
40
   Tác động tăng giá trực tiếp là 0,5 % và tác động gián tiếp là 0,89%.

                                                24
mức 9-10%. Nếu giá cả quốc tế giảm sâu hơn, CPI của Việt Nam có thể kiểm soát ở mức 8-
9%. Năm 2013, áp lực lạm phát dự báo tiếp tục giảm, dao động quanh mức 6-7%.
       2.3. Cán cân thanh toán và tỷ giá
       Diễn biến tỷ giá trong thời gian tới sẽ chịu tác động của các nhân tố sau:
      - Những nhân tố thuận lợi: (i) Nhập siêu trong thời gian tới dự kiến sẽ tiếp tục được
kiểm soát tốt do: tiếp tục thực hiện CSTT và CSTK chặt chẽ để giảm tổng cầu, kéo theo đó
làm giảm nhập khẩu; giá thế giới có xu hướng giảm (đặc biệt là các mặt hàng máy móc
thiết bị và kim loại, trong khi giá của nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam giảm không
nhiều do trong cơ cấu xuất khẩu của nước ta, nhiều mặt hàng xuất khẩu là những mặt hàng
tiêu dùng thiết yếu) sẽ là nhân tố tích cực trong việc kiểm soát nhập siêu. Dự báo cán cân
thanh toán tổng thể của Việt Nam tiếp tục được cải thiện, theo đó sẽ giảm sức ép lên tỷ giá;
(ii) Do phải tiếp tục thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát, dự báo
tỷ giá trong thời gian tới sẽ không có bước điều chỉnh quá mạnh vì theo đánh giá của
UBGSTCQG, ảnh hưởng của tỷ giá đến lạm phát ở Việt Nam là rất lớn (xem thêm mục II.
Lạm phát trong Phần I. Tổng quan kinh tế Việt Nam); (iii) Với đặc thù cơ cấu xuất khẩu
của Việt Nam, có không ít mặt hàng không nhạy cảm với tỷ giá (ví dụ dầu thô) hoặc mức
độ nhạy cảm không lớn do xuất khẩu các mặt hàng phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu (ví dụ
hàng gia công may mặc, da giày…) hoặc khó mở rộng quy mô, tăng công suất sản xuất,
việc phá giá đồng Việt Nam chỉ có tác động ở mức độ hạn chế tới việc khuyến khích xuất
khẩu và kiểm soát nhập khẩu; (iv) Tỷ giá thực đa phương của VND so với 19 đồng tiền của
các quốc gia đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam hiện đang khá cân bằng so với
thời điểm năm 2000.
      - Những nhân tố không thuận: (i) Tuy mục tiêu của Chính phủ trong năm 2012 là
kéo lạm phát xuống 1 con số, nhưng nếu so sánh tương quan với các nước khác trong khu
vực và trên thế giới, lạm phát của Việt Nam vẫn ở mức rất cao. Điều này gây áp lực làm
mất giá đồng nội tệ; (ii) Vấn đề khủng hoảng nợ công của châu Âu cùng những hậu quả
của nó khiến đồng USD có khả năng tăng giá tương đối so với các đồng tiền mạnh khác.
Điều này đồng nghĩa với việc VND bị lên giá so với các đồng tiền khác do VND gắn chặt
với USD; (iii) Sự cải thiện của cán cân thanh toán quốc tế được đánh giá là chưa bền
vững khi còn phụ thuộc không ít vào nguồn vốn ngắn hạn từ bên ngoài. Một điểm đáng
lưu ý là vốn đầu tư gián tiếp (FII) sẽ đảo chiều rất nhanh một khi chênh lệch lãi suất
(USD và VND) giảm xuống.


                                             25
       Với những nhận định như trên, UBGSTCQG dự báo tỷ giá trong năm 2012 tiếp tục
thực hiện theo hướng linh hoạt có kiểm soát. Tuy nhiên, trong trung hạn, tỷ giá hối đoái
nhiều khả năng sẽ chịu nhiều sức ép, theo đó cần có những chính sách hợp lý, kịp thời
nhằm giảm bớt tác động của sức ép lên tỷ giá.
          II. Đánh giá dựa trên phương pháp định lượng (Sản lượng tiềm năng)
          Sản lượng tiềm năng là sản lượng giả thuyết mà nền kinh tế sẽ tạo ra nếu tất cả
nguồn lực của nền kinh tế được sử dụng, do đó khi tổng sản phẩm trong nước lớn hơn so
với mức sản lượng tiềm năng thì sẽ xuất hiện áp lực gia tăng lạm phát bởi khi đó các
doanh nghiệp đã hoạt động vượt quá giới hạn năng lực sản xuất hay nói cách khác nền
kinh tế tăng trưởng quá nóng. Trong báo cáo phân tích về lạm phát41, UBGSTCQG đã chỉ
ra một trong những nguyên nhân cơ bản gây ra l m phát cao cho Việt Nam là do tăng
t ưởng kinh tế trong thời gian qua ã bị ẩy lên quá cao so với năng lực vốn có, kéo theo
các nguồn lực bao gồm đầu tư công, tín dụng, cung tiền … bị huy động quá mức để tạo
ra phần tăng trưởng vượt trên khả năng đó. Hệ quả là trong thời gian qua, lạm phát Việt
Nam thường xuyên ở mức cao và rất dễ tổn thương trước biến động của nền kinh tế thế
giới.

          Vì vậy, với mục tiêu ưa mức l m phát 2012 giảm m nh xuống dưới 10% so với
mức 18,13% t ong năm 2011, các chỉ tiêu tăng t ưởng trong kịch bản kinh tế Việt Nam
năm 2012 sẽ ược UBGSTCQG xây dựng xoay quanh mức sản lượng ti m năng của n n
kinh tế. Hiện tại có rất nhiều phương pháp tiếp cận để ước lượng sản lượng tiềm năng
như phương pháp dựa vào mô hình tự hồi quy véc tơ có cấu trúc (VAR cấu trúc), phương
pháp dựa vào hàm sản xuất, ... Dựa vào đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam và số liệu
kinh tế hiện có, UBGSTCQG đã sử dụng 0 phương pháp ước lượng sản lượng tiềm năng
là phương pháp lọc dữ liệu (HP filter), phương pháp hàm sản xuất (Cobb-Dousglas),
phương pháp SUT và phương pháp sử dụng hệ số ICOR.




41
     Báo cáo trình Chính phủ tháng 9/2011 “Lạm phát Việt Nam: Nguyên nhân và Giải pháp”.

                                                  26
2.1. Phương pháp lọc dữ liệu (HP filter):
       Theo phương pháp này, GDP gồm 2 thành phần 1 thành phần mang tính xu hướng
(trend component), 1 thành phần mang tính chu kỳ (cyclical component) và phương pháp
lọc Hodrick-Prescott (H-P) được sử dụng loại bỏ thành phần chu kỳ để lấy thành phần xu
hướng làm sản lượng tiềm năng.
       Phương pháp lọc dữ liệu được thực hiện dựa trên phương trình sau
                          Ln(GDPt) = Filter_Ln(GDPt) + Error_Ln(GDPt)
       Trong đó
               -   GDP là tổng sản phẩm quốc nội tính theo giá thực tế;
               -   Ln(GDP) là logarithm tự nhiên của GDP.
       Kết quả ước lượng GDP tiềm năng theo phương pháp lọc H-P như sau

                                             2011               2012               2013

         Tăng trưởng GDP tiềm
                                           5.5718%            5,4485%           5,3186%
        năng, HP filtered, AR(1)



2.2. Phương pháp hàm sản xuất (Cobb-Dousglas):
      Phương pháp này ước lượng sản lượng tiềm năng dựa trên hàm sản xuất Cobb-
Dousglas dưới dạng hàm logarit:
                         Ln(Yt) = alpha*Ln(Kt) + beta*Ln(Lt) + C*t + error
       Trong đó
               -   Y(t) là sản lượng tiềm năng;
               -   K(t) là vốn42 ;
               -   L(t) là lao động43;
       Để ước lượng tăng trưởng tiềm năng của GDP, nhóm nghiên cứu của
UBGSTCQG đưa ra mức tăng trưởng dự kiến của K và L dựa theo ba kịch bản kinh tế:
tốt nhất, trung bình và xấu nhất với ba giả định như sau (i) Kinh tế tốt nhất, tăng trưởng

42
  Dữ liệu về vốn thực K được tính theo công thức ngoại suy do nhà nghiên cứu Bùi Trinh cung cấp.
43
  Dữ liệu về lao động L được tổng cục thống kê phối hợp với Bộ lao động thương binh và xã hội cung
cấp.

                                                 27
tốt từ năm 2011 L tăng ổn định qua các năm, kinh tế thế giới ổn định và Việt Nam chặn
đứng được sự suy giảm hiệu quả đầu tư; (ii) Kinh tế Việt Nam ổn định từ năm 2011 L
tăng ổn định nhưng đầu tư tiếp tục không hiệu quả: kinh tế thế giới ổn định, nhưng Việt
Nam tiếp tục chứng kiến hiệu quả đầu tư tiếp tục giảm; (iii): Kinh tế Việt Nam không ổn
định và kinh tế thế giới không ổn định: L tiếp tục suy giảm và K tiếp tục suy giảm. Với
ba kịch bản này, tăng trưởng K và L trong hàm sản xuất thể hiện trong bảng sau:
              Bảng 4: Tăng trưởng của K và L qua ba kịch bản kinh tế

                              Tăng trưởng GDP tiềm năng. Hàm sản xuất

       Năm         Kịch bản tốt nhất     Kịch bản vừa phải      Kịch bản tệ nhất

                     K           L         K             L        K           L

       2011        11%          2.3%      11%         2.3%       10%         2.2%

       2012        11%          2.4%      10%         2.3%       10%         2.1%

       2013        11%          2.5%       9%         2.3%       9%          2.0%

     Như vậy, với ba kịch bản kinh tế các kết quả dự tính sản lượng tiềm năng theo
phương pháp hàm sản xuất được ước tính như sau
                  Bảng 5: Dự tính tăng trưởng sản lượng tiềm năng

                              Tăng trưởng GDP tiềm năng. Hàm sản xuất
           Năm
                         Kịch bản tốt     Kịch bản vừa        Kịch bản xấu

           2011           5.8979%           5.8979%             5.5508%

           2012           6.0595%           5.7126%             5.3889%

           2013           6.2209%           5.5255%             5.0399%

2.3. Phương pháp S T (Supply and Use Tables):
       Theo phương pháp này, GDP tiềm năng được tính toán với quan hệ Leontief mở
rộng, dựa vào phương pháp biến đổi của Gauss-Fourier- Jordan, tổng giá trị tăng thêm
(GVA) tiềm năng từ phía cung được xác định như sau




                                          28
                                                       x           =          (1)

      Trong đó,
             -    B là ma trận chi phí trung gian trực tiếp (intermediate cost)
             -    C ma trận sản xuất (nguồn)
             -    Y là ma trân sử dụng cuối cùng, bao gồm tiêu dùng cuối cùng, đầu
                  tư/tích luỹ và xuất khẩu.
             -    X là véc tơ giá trị sản xuất theo các loại giá tương ứng.
      Đặt:

                 (I-A)-1 =

                 A=

                 F=

                 X=

                 v véc tơ hệ số của giá trị gia tăng
       Khi đó, GDP tiềm năng sẽ được ước lượng tuỳ theo mức độ thay đổi của các nhân
tố trong sử dụng cuối cùng dựa theo phương trình sau
                      ∆(GVA) = v. (I-A)-1.∆F
      Với giả thuyết rằng toàn bộ số tiền đầu tư đến được với sản xuất và tạo ra GDP
tương ứng với tiềm năng của vốn, GDP tiềm năng được ước lượng theo phương pháp
SUT cho một số kết quả sau:
         Bảng 6: Tăng trưởng sản lượng tiềm năng theo phương pháp SUT

                                     2011                   2012        2013

             Kịch bản tốt                                  6%-6,2%

             Kịch bản vừa           5,89%                  4%-4,5%     6,5-7%

             Kịch bản xấu                                  3%-3,5%



                                             29
2. . Phương pháp s dụng hệ số          :
      ICOR (Incremental Capital-Output Ratio) được dùng để đánh giá hiệu quả đầu tư.
Hệ số ICOR thấp sẽ cho thấy đầu tư có hiệu quả cao và ngược lại. Ngoài ý nghĩa được sử
dụng để đánh giá về hiệu quả đầu tư, ICOR còn được dùng để đánh giá về kết quả đầu tư
cũng như xây dựng kế hoạch đầu tư.
       Phương pháp tính ICOR rất đa dạng và cho nhiều kết quả không giống nhau với
cách tính và dữ liệu khác nhau. Tuy nhiên, do hạn chế về mặt số liệu, ICOR trong phần
này sẽ được thực hiện theo cách tính đơn giản và phù hợp với khả năng tiếp cận dữ liệu:

                                     ICOR =

      Trong đó
                 là tỷ lệ phần trăm vốn đầu tư so với tổng sản phẩm trong nước;
                 là tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước;
       Tính toán dựa trên giả định ICOR của năm 2012 tương đương với ICOR bình quân
giai đoạn 2009-2010, (khoảng 12.1)*
  Bảng 7: ICOR theo từng khu vực kinh tế giai đoạn 2000 – 2010 (theo giá so sánh
                                    1994)

                              2005   2006     2007     2008    2009   2010     2012*

   Toàn xã hội                6.48    6.98    7.88     10.96 13.51 10.70       12.1

   Khu vực kinh tế NN         9.74   12.03 12.44 16.32 22.24 19.07             20.65

   Khu vực kinh tế ngoài                                                       5.26
   NN                         4.13   4.31     4.47     5.24    5.64     4.88

   Khu vực kinh tế FDI        5.73    5.65    10.62 21.52 31.62 18.53          25.07

                                                     Nguồn : Tính toán của UBGSTCQG.
                         Bảng 8: ICOR toàn xã hội theo các giai đoạn

                                                  ICOR toàn xã hội
                     Giai đoạn
                                              (theo giá so sánh 1994)

                    2000-2005                           4.89



                                             30
                   2005 - 2010                      6.70

                   2006 - 2010                      7.17

                   2007 - 2011                      7.06

                                                 Nguồn : Tính toán của Bùi Trinh
   Kết quả ước lượng GDP tiềm năng theo phương pháp ử dụng ICOR như au:
                                        2011               2012             2013
  Phương pháp sử dụng ICOR              5,7%               5,6%             6,2%
       Như vậy với kết quả từ 4 phương pháp ước lượng sản lượng tiềm năng trên có thể
đưa ra nhận xét sau: sản lượng tiềm năng của Việt Nam trong năm 2012 dao động trong
khoảng 5-6% tùy thuộc vào các tham số giả định cho 2012.
       Trên cơ sở đó, UBGSTCQG ước tính sản lượng tiềm năng cho năm 2012 và 2013
theo 3 kịch bản như sau:

       Phương pháp tính                 2011               2012             2013

             Lọc H-P                  5,5718%          5,4485%             5,3186%

                   Kịch bản tốt       5,8979%          6,0595%             6,2209%
 Hàm sản xuất
   (Cobb-         Kịch bản vừa        5,8979%          5,7126%             5,5255%
  Dousglas)
                  Kịch bản xấu        5,5508%          5,3889%             5,0399%

                   Kịch bản tốt                        6%-6,2%

     SUT          Kịch bản vừa        5,89%*           4%-4,5%             6,5%-7%

                  Kịch bản xấu                         3%-3,5%

         Sử dụng ICOR                   5,7%               5,6%             6,2%

                   Kịch bản tốt                        6%-6,5%
  Đề xuất của
                  Kịch bản vừa        5,89%*           5,5%-6%             6%-6,5%
    Uỷ ban
                  Kịch bản xấu                         5%-5,5%

             *: số liệu tăng t ưởng GDP chính thức của Tổng cục Thống kê


                                         31
      PHẦN III. KỊCH BẢN TĂNG TR ỞNG KINH TẾ VIỆT NAM 2012-2013


      I. Dự báo kinh tế Việt Nam năm 2012
       UBGSTCQG dự báo kinh tế Việt Nam năm 2012-2013 dựa trên những phân tích
về tình hình kinh tế vĩ mô thời gian qua, đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến tăng
trưởng và lạm phát trong thời gian tới.
       Kinh tế thế giới đang và tiếp tục có nhiều biến động bất trắc khó lường, do vậy,
UBGSTCQG dự báo triển vọng kinh tế Việt Nam trong năm 2012 với 3 kịch bản trên cơ
sở dự báo những tình huống có thể phát sinh của kinh tế thế giới. Tuy nhiên, trong những
tình huống khác nhau, chính sách vĩ mô sẽ có những thay đổi nhất định để đối phó với
những biến động từ bên ngoài, qua đó sẽ giảm bớt tác động ảnh hưởng, duy trì sự ổn định
kinh tế. Trong kịch bản tốt, tăng trưởng GDP thế giới năm 2012 có thể đạt mức tương
đương 2011 hoặc thấp hơn không đáng kể, dự báo ở mức từ 3,2- %; tăng trưởng thương
mại toàn cầu (về lượng) đạt từ 5,7-7,5% (bằng hoặc thấp hơn mức tăng 7,5% của năm
2011). Trong kịch bản trung bình, kinh tế thế giới năm 2012 dự báo đạt mức tăng 2,4-
3,2%, thấp hơn đáng kể so với năm 2011; tốc độ tăng trưởng thương mại dự báo đạt từ
3,5-5,7%, giảm từ 2- điểm% so với mức tăng của năm 2011. Trong kịch bản xấu, tăng
trưởng kinh tế thế giới năm 2012 sẽ ở mức dưới 2,4%, giảm trên 1,5 điểm% so với mức
tăng của năm 2011; tăng trưởng thương mại dự báo đạt dưới 3,5%, giảm trên điểm% so
với mức tăng của năm 2011.
      Triển vọng kinh tế Việt Nam 2012 được dự báo sẽ có một số nét chủ đạo như sau
 Những bất ổn vĩ mô từ cuối năm 2010 và những tác động phụ của việc thắt chặt
  chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa tiếp tục có những ảnh hưởng xấu đến nền kinh
  tế trong quý I và II, nhưng với mức độ giảm dần nhờ hiệu ứng của việc điều chỉnh
  chính sách vĩ mô đươc triển khai từ cuối quý I/2011. Các doanh nghiệp dự báo sẽ còn
  không ít khó khăn trong những tháng đầu năm 2012, và các thị trường bất động sản,
  chứng khoán tiếp tục trầm lắng trong những quý đầu năm. Dự báo nền kinh tế sẽ có
  dấu hiệu khả hơn vào nửa sau của 2012 nhờ hiệu ứng của việc cải thiện ổn định kinh
  tế vĩ mô.
 Lạm phát dự báo sẽ được kiểm soát khá tốt (dưới 10%) cùng với tỷ lệ nhập siêu được
  kiềm chế (dưới 10% kim ngạch xuất khẩu) tạo điều kiện để giảm sức ép tỷ giá, cân
  bằng cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. UBGSTCQG dự báo tỷ giá VND sẽ
  được điều chỉnh trong khoảng 5-6%. Đây sẽ là những kết quả tích cực chính yếu của
  kinh tế 2012. Qua đó, thị trường tài chính sẽ có thêm lực đẩy vào cuối năm 2012.

                                          32
 Thị trường tiền tệ - ngân hàng sẽ tiếp tục đối mặt với những khó khăn về thanh khoản
  và nợ xấu trong suốt những tháng đầu năm 2012. Thanh khoản là thách thức lớn nhất
  của hệ thống ngân hàng. Nếu vấn đề thanh khoản sớm được giải quyết, lãi suất ngân
  hàng sẽ giảm được khoảng 4% (Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 1 năm khoảng 11% và lãi
  suất cho vay dao động khoảng 14%).
 Do thương mại toàn cầu được dự báo giảm về khối lượng và giá cả, nên kế hoạch
  tăng kim ngạch xuất khẩu 12-13% của Việt Nam sẽ là thách thức không nhỏ. Tuy
  nhiên, ảnh hưởng của thương mại thế giới sẽ tác động đến cả xuất khẩu và nhập
  khẩu; đồng thời chính sách kiểm soát nhập khẩu của Việt Nam tiếp tục được duy trì
  trong năm 2012 nên xuất khẩu ròng của Việt Nam dự báo sẽ tiếp tục được cải thiện.
  Nhờ vậy, nhập siêu dự báo sẽ ở mức dưới 10% kim ngạch xuất khẩu.
      a – Kịch bản tốt
       Với tình hình kinh tế thế giới khả quan, nền kinh tế của các thị trường xuất khẩu
truyền thống của Việt Nam như Mỹ, Nhật Bản… dự báo duy trì được mức tăng trưởng như
2011 và có dấu hiệu phục hồi, kinh tế khu vực EU sẽ không quá mức bi quan. Nhờ đó, kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam dự báo tăng từ 12-13%; trong khi kim ngạch nhập khẩu dự
báo tăng 13-14%; tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu dự báo đạt 11-12% vào năm 2012, tăng so với tỷ
lệ 9,9% năm 2011.
      Khi nền kinh tế toàn cầu duy trì được mức tăng trưởng, nguồn vốn đầu tư FDI vào
Việt Nam được dự báo duy trì ở mức tương đương năm 2011. Vốn FDI dự kiến chiếm
khoảng 23% tổng mức đầu tư toàn xã hội, tương đương khoảng 230 nghìn tỷ đồng.
       Tổng hợp các yếu tố cấu phần GDP như tiêu dùng nội địa, xuất nhập khẩu và đầu
tư, với giả định các nhân tố khác không đổi, tính toán cho thấy với tổng mức đầu tư toàn
xã hội tương đương 33,5-33,9% GDP (mức kế hoạch đã được phê chuẩn), tăng trưởng
GDP của Việt Nam năm 2012 có thể đạt từ 6-6,3% nếu hiệu suất đầu tư của nền kinh tế
có sự cải thiện đáng kể. Nếu không có sự thay đổi về công nghệ để tăng năng suất, hiệu
quả thì cần tăng tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực kinh tế dân doanh từ 35,2% năm 2011
lên khoảng 43% tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2012 và giảm tỷ lệ đầu tư khu vực kinh
tế nhà nước từ mức 38,9% năm 2011 xuống còn 34% tổng vốn đầu tư toàn xã hội vào
năm 2012.
      Với tốc độ tăng trưởng GDP từ 6-6,3%, lạm phát duy trì ở mức 8-10% và mức bội
chi ngân sách được thông qua cho năm 2012 ở mức 4,8% GDP, theo tính toán của
UBGSTCQG, nợ công Việt Nam năm 2012 dự kiến đạt mức 58,2-58,8% GDP.



                                           33
        Tuy nhiên, theo đánh giá của UBGSTCQG, ể i u chỉnh cơ cấu ầu tư như nêu
trên là một thách thức rất lớn vì lý do sau:
        Để tăng tỷ trọng đầu tư của khu vực dân doanh từ 35,2% của năm 2011 lên tới
43% tổng đầu tư toàn xã hội vào năm 2012, theo tính toán của UBGSTCQG, tăng trưởng
tín dụng cần đạt trên 25%, cao hơn nhiều so với định mức tăng tín dụng từ 15-17% để
kiểm soát lạm phát từ 8-10%; trong khi đó, để đảm bảo an sinh xã hội và tạo nền tảng cho
phát triển kinh tế giai đoạn sau, Việt Nam cần tiếp tục quan tâm đầu tư hạ tầng cơ sở, đặc
biệt là khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Vì vậy, khó có thể giảm tỷ trọng đầu tư của
khu vực kinh tế nhà nước từ mức 38,9% tổng đầu tư toàn xã hội năm 2011 xuống chỉ còn
3 % ngay trong năm 2012.
       Như vậy, t ong i u kiện chưa t o ược bước ột phá công nghệ ể tăng năng
suất, hiệu quả ầu tư inh tế, nếu năm 2012 không có những ột biến v nguồn huy ộng
vốn sản xuất (thông qua nguồn huy ộng vốn khác ngoài kênh tín dụng, vốn tự có của
doanh nghiệp) thì khả năng tăng t ưởng GDP ở mức 6-6,3% là hó t ược.


      b – Kịch bản trung bình
       Do tác động của nền kinh tế thế giới (sản lượng giảm khoảng 1% và thương mại giảm
khoảng 3-4% so với 2011), tốc độ tăng trưởng xuất, nhập khẩu của Việt Nam năm 2012 dự
báo đạt tương ứng 8-9% và 7-8%, tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu theo đó dự báo đạt từ 7-8%.
Lượng FDI vào Việt Nam dự báo sẽ thấp hơn một chút so với kịch bản trước, chiếm từ
22-22,5% tổng mức đầu tư toàn xã hội.
      Mô hình tính toán của UBGSTCQG cho thấy, với tổng vốn đầu tư, tốc độ tăng
thương mại như trên, với cơ cấu đầu tư khu vực kinh tế nhà nước chiếm 36,5-37% và khu
vực kinh tế dân doanh chiếm 40,5-41% tổng đầu tư toàn xã hội, tăng trưởng GDP của
Việt Nam năm 2012 có thể đạt từ 5,6-5,9%.
       Theo UBGSTCQG, đây là kịch bản có nhiều khả năng nhất và các chỉ số, các cân
đối cũng mang tính khả thi nhất; mức tăng trưởng này cũng tương đối sát với mức sản
lượng tiềm năng hiện tại của Việt Nam.
       Mô hình tính toán về quan hệ giữa tăng trưởng GDP, bội chi ngân sách và nợ công
cho kết quả: với tỷ lệ bội chi ngân sách ở mức 4,8% GDP, nợ công Việt Nam năm 2012
sẽ đạt mức 58,8-59,2% GDP.




                                           34
      c– Kịch bản xấu
       Trong trường hợp xấu nhất, kinh tế thế giới có khả năng rơi vào suy thoái và đạt
mức tăng trưởng dưới 2, %, thương mại thế giới tăng ở mức dưới 3% về khối lượng và
giá cả có thể giảm sâu hơn mức dự báo 10%. Điều này sẽ tác động mạnh đến tăng trưởng
kinh tế cũng như tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam. Dự báo trong trường hợp
này, kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng từ 5-6% so với năm 2011. Về nhập khẩu, nhiều khả
năng Chính phủ sẽ phải điều chỉnh chính sách vĩ mô, tăng đầu tư nhằm hỗ trợ doanh
nghiệp, ngăn chặn suy giảm kinh tế nên chính sách có phần nới lỏng hơn và vì thế nhập
khẩu dự báo tăng 5-6%, theo đó tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu vào khoảng 9-10%. Nguồn vốn
FDI vào Việt Nam ước đạt khoảng 10 tỷ USD (tương đương khoảng 21% tổng vốn đầu tư
toàn xã hội). Lạm phát dự báo sẽ giảm còn 8-9%.
       Suy thoái kinh tế thế giới có thể khuếch đại những điểm yếu nội tại của nền kinh tế
Việt Nam (như đã từng xảy ra trong cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn
cầu năm 2008-2009). Bởi vậy, khi khả năng này xảy ra, cần duy trì đầu tư của khu vực
kinh tế nhà nước nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng cho nền kinh tế, giảm tối đa những
tác động tiêu cực từ bên ngoài. Tỷ trọng đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước cần duy trì
ở mức tương đương năm 2011 (38,9%), tỷ trọng đầu tư của khu vực kinh tế dân doanh
khoảng 40%. Với những giả định như trên, tính toán của UBGSTCQG cho thấy, tăng
trưởng GDP của Việt Nam chỉ đạt từ 5,2-5,5%.
       Kết hợp với tỷ lệ bội chi ngân sách của năm 2012 được thông qua là 4,8% GDP,
tính toán của UBGSTCQG cho thấy, nợ công của Việt Nam năm 2012 sẽ ở mức 59,8-
60,4% GDP.
       Theo U GSTC G, t ường hợp inh tế thế giới di n biến bất lợi và thật sự ơi vào
suy thoái tăng t ưởng thấp hơn nhi u so với mức 2, %) sẽ ảnh hưởng ất lớn ến tăng
t ưởng inh tế iệt Nam hông chỉ năm 2012 mà cả t ong những năm tiếp theo. Theo ó,
cũng như nhi u nước t ên thế giới, iệt Nam cần có biện pháp ể chủ ộng ối phó với
nguy cơ này, cụ thể: thay ổi ịnh hướng chính sách theo hướng linh ho t hơn nhằm
ngăn ch n suy giảm kinh tế, tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp, tăng an sinh xã hội; nghiên
cứu hả năng t iển hai gói ích thích inh tế với những tính toán        lư ng v quy mô,
li u lượng, ối tượng thụ hưởng… t ên cơ sở t inh nghiệm việc thực hiện gói ích cầu
nhằm ối phó với suy thoái năm 2008-2009).




                                           35
      II. Dự báo kinh tế Việt Nam 2013
        Năm 2013, kinh tế thế giới dự báo sẽ bớt khó khăn hơn so với năm 2012, xuất
khẩu của Việt Nam có khả năng đạt mức tăng cao hơn so với năm 2012 (từ 15-17%);
trong khi đó, nhập khẩu tiếp tục chịu tác động của việc kiểm soát tổng cầu và kiểm soát
nhập siêu nên sẽ có mức tăng khiêm tốn hơn. Bên cạnh đó, lượng vốn FDI vào Việt Nam
dự báo sẽ tăng cùng với xu hướng tăng của luồng vốn FDI chảy vào các nền kinh tế đang
phát triển và sự khôi phục niềm tin của các nhà đầu tư vào triển vọng kinh tế vĩ mô của
Việt Nam.
       Trong nước, chương trình ổn định hóa nền kinh tế theo tinh thần Nghị quyết 11 với
mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát được thực hiện trong suốt 2011 và 2012
sẽ tạo nền tảng kinh tế vững chắc hơn cho năm 2013. Ngoài ra, các hoạt động tái cơ cấu
nền kinh tế sẽ đạt được một số kết quả ban đầu: Lạm phát được kiểm soát tốt hơn và dự
báo sẽ ở mức 6-7%; các doanh nghiệp bớt khó khăn và tìm lại được động lực phát triển; thị
trường bất động sản, thị trường tài chính sẽ có dấu hiệu khởi sắc, nhờ đó sẽ tạo nền tảng
vững chắc hơn cho tăng trưởng. Theo tính toán của UBGSTCQG, tăng trưởng kinh tế năm
2013 dự báo cao hơn năm 2012, có thể đạt từ 6-6,5%.




                                           36
                               Bảng 9: Dự báo triển vọng kinh tế thế giới
                     và một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Việt Nam giai đoạn 2012-2013

                                                             Triển vọng kinh tế năm 2012               Triển vọng
                                               44
             Chỉ tiêu                   2011          Kịch bản         Kịch bản         Kịch bản       kinh tế năm
                                                         tốt          trung bình          xấu             201345
                                                     Thế giới
Tốc độ tăng trưởng kinh tế
toàn cầu
   IMF                                   4%            3,2-4%          2,4-3,2%        Dưới 2,4%             -
   WB                                   3,6%                                                               3,6%
    ác nước phát triển                  1,6%          2,0-2,5%            1-2%          Dưới 1%            2,6%
    ác nước đang phát triển             6,4%           5 -6%              4-5%          Dưới %             6,3%
Tốc độ tăng trưởng thương
                                        7,5%         5,7%-7,5%         3,5-5,7%        Dưới 3,5%           7,7%
mạitoàn cầu lượng)
    ác nước phát triển                     -            4-5%              3-4%          Dưới 3%                 -
    ác nước đang phát triển                -            7-8%              6-7%          Dưới 6%                 -
                                                    Việt Nam
Tốc độ tăng trưởng GDP %)                5,89          6-6,346           5,6-5,9         5,2-5,5           6-6,5
Tốc độ tăng lạm phát (%)                18,13            9-10             9-10             8-9                 6-7
                                        96,26          12-13%             8-9%            5-6%           15-17%
Kim ngạch xuất khẩu (tỷ USD, %)
                                       (33,3%)
                                        105,77         13-14%             7-8%            5-6%           12-14%
Kim ngạch nhập khẩu (tỷ USD, %)
                                        (25%)
Tỷ lệ Nhập siêu/xuất khẩu                9,9%          11-12%             7-8%           9-10%             6-8%

                          Nguồn: Dự báo của các tổ chức quốc tế và UBGSTCQG.



        44
           Dự báo của IMF (tháng 9/2011). Theo dự báo của EIU, kinh tế thế giới năm 2011 ước tăng trưởng
        3,6% (dự báo tháng 9/2011); theo Goldman Sachs, kinh tế thế giới ước tăng 3,8% (dự báo tháng
        10/2011). Tuy nhiên, để thuận tiện cho việc tính toán và theo dõi, UBGSTCQG sử dụng số ước tính 2011
        của IMF.
        45
           Dự báo kinh tế thế giới năm 2013 của Ngân hàng Thế giới tại báo cáo World Economic Prospect
        6/2011.
        46
           Kịch bản tốt là kịch bản đạt được hầu hết các chỉ tiêu đã được Quốc hội phê duyệt.

                                                        37
                     PHẦN IV. KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH


       Trong bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước năm 2012 có nhiều khó khăn hơn năm
2011, rất cần có những thay đổi về mặt chính sách nhằm thay đổi kết cấu kinh tế, tăng
hiệu quả đầu tư và tạo nền tảng tăng trưởng bền vững hơn. UBGSTCQG kiến nghị áp
dụng các giải pháp sau:
        1. Tiếp tục mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đảm bảo an sinh
xã hội. Tiếp tục thực hiện CSTT, CSTK chặt chẽ nhưng với mức độ linh họat phù hợp
với tín hiệu của thị trường
        Việc thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 11 đã đem lại những thành tựu bước đầu
quan trọng; tuy nhiên, những dấu hiệu ổn định kinh tế vĩ mô vẫn chưa rõ nét (lạm phát
tháng 12/2011 tiếp tục tăng tốc sau khi được kiềm chế tăng dưới 0,5% trong 2 tháng liên
tiếp). Bên cạnh đó, dịp Tết Nguyên đán sẽ làm tăng yếu tố mùa vụ, kết hợp với việc giá
điện tăng 5% trong thời gian vừa qua sẽ có tác động bất lợi đến lạm phát, cụ thể là lạm
phát tháng 1/2011, vì vậy, rất cần nghiêm chỉnh thực hiện những định hướng nhằm kiểm
soát tổng cầu, từ đó kiểm soát lạm phát ngay từ những tháng đầu của năm 2012, góp phần
vào việc thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát ở mức 1 con số như Chính phủ đã đặt ra.
Đây cũng là điều kiện để giảm lãi suất, từ đó giảm khó khăn cho doanh nghiệp và thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế.
       Việc kiềm chế tổng cầu cần tiếp tục được thực hiện thông qua việc kiểm soát tốc
độ tăng cung tiền và tín dụng, đồng thời thực thi CSTK một cách chặt chẽ. Theo tính toán
của UBGSTCQG, để đảm bảo mục tiêu lạm phát từ 8-10%, cần kiểm soát cung tiền và
tín dụng ở mức tăng 15-17% trong năm 2012.
       2. Điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo ngành, thành phần kinh tế để tạo hiệu ứng
tăng trưởng kinh tế cao hơn
       Trong bối cảnh sức ép lạm phát ở Việt Nam giảm, kinh tế thế giới dự báo giảm sút
trong năm 2012, chính sách của Việt Nam xét về trung hạn cần tiếp tục chặt chẽ để thực
hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, tuy nhiên trong một thời gian ngắn, do chưa thể có
những thay đổi lớn về năng suất lao động, về hiệu quả đầu tư của nền kinh tế nên nếu
tổng mức đầu tư giảm mạnh thì khó có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế đã đề
ra. Vì vậy, trong năm 2012, chính sách về đầu tư cần linh hoạt hơn và cần giảm bớt mức
chặt chẽ so với năm 2011. Đồng thời, tổng mức đầu tư xã hội/GDP không nên thấp hơn
năm 2011.



                                          38
       Tuy nhiên, do tổng đầu tư toàn xã hội/GDP được duy trì ở mức thấp nhằm kiểm
soát lạm phát, cần có biện pháp để tăng hiệu quả đầu tư, trước hết thông qua việc đẩy
nhanh quá trình điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo ngành và thành phần kinh tế.
        - Đi u chỉnh cơ cấu ầu tư theo ngành: dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu tác động
lan tỏa của các ngành kinh tế, cần dành ưu tiên cho phát triển những ngành có chỉ số lan
tỏa kinh tế cao47 trong khi chỉ số kích thích nhập khẩu thấp48 (như ngành nông nghiệp, khai
khoáng và công nghiệp chế biến thực phẩm), những ngành có hiệu suất đầu tư cao. Theo
đó, cần có chính sách ưu đãi cho những nhóm ngành này. Ngoài ra, cần nghiên cứu để phát
triển những ngành công nghiệp phụ trợ để giảm thiểu nhập khẩu và tăng giá trị gia tăng
trong nước. Tuy nhiên, về dài hạn vẫn cần tập trung đầu tư phát triển những ngành công
nghiệp mũi nhọn, công nghệ cao để hướng tới mục tiêu CNH, HĐH.
        - Đi u chỉnh cơ cấu ầu tư theo thành phần kinh tế: cần định hướng khu vực kinh
tế nào có hiệu quả cao hơn sẽ được tập trung nguồn lực đầu tư nhiều hơn, theo đó cần
tăng dần tỷ trọng đầu tư cho khu vực tư nhân, trong khi phấn đấu giảm dần tỷ trọng đầu
tư của khu vực kinh tế nhà nước49. Điều này là phù hợp với định hướng phát triển kinh tế
thị trường, giúp nhanh chóng cải thiện chỉ số ICOR trong ngắn hạn và góp phần tăng
trưởng kinh tế trong dài hạn. Tuy nhiên, theo như những phân tích ở trên, việc dịch
chuyển mạnh tỷ trọng đầu tư giữa các khu vực là không thể thực hiện được trong thời
gian ngắn, cần có những bước chuyển hợp lý, tránh gây ra các cú sốc bất lợi. Ví dụ, việc
cắt giảm đầu tư công trong giai đoạn này chỉ nên tập trung vào cắt giảm đầu tư cho doanh
nghiệp nhà nước, đẩy mạnh giám sát chặt chẽ tình trạng đầu tư ngoài ngành thiếu hiệu
quả, hay cắt giảm đầu tư vào những công trình không mang tính trọng điểm và chưa cần
thiết. Tuy nhiên, vẫn cần cung cấp đủ vốn đầu tư cho những công trình thiết yếu, công
trình sắp hoàn thành và sẽ sớm đưa vào sử dụng…
        3. Về chính sách tiền tệ
     - Nhân tố quan trọng hàng ầu giúp cho kinh tế Việt Nam thoát khỏi hó hăn t ong
năm 2012 là giảm lãi suất phù hợp với i u kiện thực ti n. Mặt bằng lãi suất năm 2012
cần giảm từ -5 điểm% so với hiện nay50. Để đạt được mục đích này, trước mắt cần tập
trung giải quyết bài toán thanh khoản. Trong tình hình hiện nay, việc tăng thanh khoản

47
   Sự phát triển của ngành này sẽ tác động tích cực đến sự phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế khác (hệ
số lan tỏa kinh tế lớn hơn 1).
48
   Sự phát triển của ngành này sẽ không kích thích nhiều đến nhập khẩu (hệ số lan tỏa nhỏ hơn 1).
49
   Do khu vực kinh tế tư nhân có hệ số ICOR thấp hơn nhiều so với khu vực nhà nước, cho thấy hiệu quả
đầu tư cao hơn.
50
   Mức giảm lãi suất như trên có thể giúp nền kinh tế giảm chi phí sản xuất đầu vào và giá thành khoảng
100.000 tỷ đồng.

                                                   39
cho hệ thống một cách hợp lý, chủ yếu tập trung cho việc điều hòa, giải quyết những khó
khăn về vốn khả dụng đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng cho đầu tư và tiêu dùng
(những nhân tố gây ra lạm phát) trong phạm vi mục tiêu sẽ không gây hiệu ứng lạm phát.
      Nhằm góp phần cải thiện thanh khoản, rất cần có những chính sách thích hợp để
điều tiết thị trường liên ngân hàng, đưa thị trường này hoạt động trở lại theo chiều hướng
tốt lên, khôi phục lại lòng tin của các TCTD và khai thông nguồn vốn trên thị trường này,
từ đó đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển vốn trong hệ thống ngân hàng.
     Thực hiện CSTT ch t chẽ nhưng có sự i u tiết hợp lý (mức tăng tín dụng năm 2012
từ 15-17%): có định hướng tập trung tín dụng đối với các ngành cần ưu tiên (nông
nghiệp, chế biến nông sản, sản xuất xuất khẩu); đồng thời cần xem xét nới lỏng các giới
hạn về tín dụng tiêu dùng và một số phân khúc của thị trường bất động sản; đặc biệt quan
tâm đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa.
      - Dự báo trong năm 2012, tỷ giá chỉ biến động trong khoảng 5-6%. Tuy nhiên, cần
lưu ý một số vấn đề sau: (i) tỷ giá của Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng đáng kể của việc sản
xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu vàng; theo đó, ể kiểm soát tốt tỷ giá phải có giải pháp
  ể quản lý có hiệu quả thị t ường vàng; (ii) do lạm phát liên tục duy trì ở mức cao trong
thời gian dài nên nếu chỉ điều chỉnh giảm giá VNĐ ở mức thấp sẽ tiếp tục duy trì tình
trạng “VNĐ được định giá cao” (overvalued), từ đó tạo sức ép lên tỷ giá trong dài hạn.
       4. Về chính sách tài khóa
        iệc tiếp tục thực hiện CSTK thắt ch t là cần thiết t ong năm 2012 nhằm giảm bội
chi ngân sách nhà nước xuống mức 4,8% GDP51. Tuy nhiên, CSTK cần linh hoạt, phối
hợp đồng bộ với CSTT và chính sách thu hút vốn FDI. Dư địa của CSTT52rất hẹp xét trên
cả hai phương diện là lãi suất và hạn mức tín dụng nên không thể tăng mạnh đầu tư của
khu vực tư nhân; trong khi vốn FDI dự báo không tăng so với năm 201153, do vậy nếu
đầu tư công giảm quá nhiều sẽ khó đảm bảo duy trì tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội
như mục tiêu đã đề ra.
      Do đó, cắt giảm đầu tư công không nên tiến hành đại trà mà cần tiếp tục triển khai
những dự án cần thiết, dự kiến hoàn thành và đưa vào sử dụng trong năm 2012. Từ góc
độ doanh nghiệp, việc phấn đấu tăng thu để giảm bội chi cho ngân sách54 cũng sẽ gây khó

51
   Tổng thu cân đối NSNN năm 2012 dự toán 762.900 tỷ đồng, tổng chi cân đối NSNN dự toán 903.100
tỷ đồng, bội chi NSNN khoảng 140.200 tỷ đồng, tương đương ,8% GDP.
52
   Tăng trưởng tín dụng năm 2012 từ 15 – 17%.
53
   Nguồn vốn FDI giải ngân năm 2012 dự kiến vào khoảng 10-11 tỷ USD, bằng hoặc thấp hơn con số FDI
năm 2011.
54
   Dự toán Ngân sách nhà nước năm 2012.

                                               40
khăn cho doanh nghiệp. Vì vậy, trong thời gian tới, cần điều chỉnh giảm dần mức thuế
thu nhập doanh nghiệp để tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư và phát triển sản xuất
kinh doanh.
      5. Phát triển thị trường vốn
       Nguồn vốn đầu tư của khu vực dân doanh hiện nay chủ yếu là vay ngân hàng (chiếm
trên 80%), do vậy nếu tăng trưởng tín dụng bị giới hạn ở mức 15-17% thì không thể tăng tỷ
trọng đầu tư của khu vực ngoài nhà nước lên mức như mong muốn. Bởi vậy phát triển thị
trường vốn để tạo điều kiện cho doanh nghiệp huy động nguồn lực xã hội cho sản xuất,
kinh doanh là giải pháp vừa mang tính cấp thiết vừa mang tính lâu dài. UBGSTCQG
khuyến nghị xây dựng một hệ thống các biện pháp khuyến khích và tạo điều kiện cho
doanh nghiệp phát hành trái phiếu, cổ phiếu huy động vốn trên thị trường vốn ngay trong
năm 2012, cụ thể:
      - Đối với thị t ường chứng khoán, mở rộng room mua cổ phần của nhà đầu tư
nước ngoài đối với khu vực doanh nghiệp; đẩy mạnh việc bán cổ phần của Nhà nước tại
các doanh nghiệp không thiết yếu; thực hiện nhanh việc cổ phần hóa các doanh nghiệp
nhà nước kể cả các doanh nghiệp lớn nhằm tăng tính thanh khoản trên thị trường.
       - Đối với thị t ường trái phiếu, cần hình thành thị trường trái phiếu chính phủ hoàn
chỉnh về cấu trúc, vận hành theo các thông lệ quốc tế tốt nhất; thị trường thứ cấp đa dạng
và có tính thanh khoản cao; thị trường phái sinh năng động. Đối với thị trường trái phiếu
doanh nghiệp, cần có sự đánh giá, hỗ trợ của các tổ chức xếp hạng tín dụng có uy tín và có
quy định công bố thông tin minh bạch theo chuẩn mực quốc tế để nhà đầu tư yên tâm tài
trợ vốn, cho vay và tin cậy về khả năng thanh toán nợ của bên đi vay.
      6. Khôi phục các thị trường tài sản
        Nghiên cứu các biện pháp để khôi phục sự phát triển của thị trường chứng khoán và
thị trường bất động sản, cụ thể:
      - Đối với thị t ường chứng khoán, thực hiện các biện pháp như đã đề cập ở phần trên.
       - Đối với thị t ường bất ộng sản, cần có giải pháp để khai thông việc tiêu thụ hàng
hóa: khuyến khích việc mua nhà để ở tại nhiều phân khúc thị trường bằng cách tăng cường
cho vay hoặc cho vay ưu đãi (nhà ở thu nhập thấp, nhà ở cho công nhân, nhân viên…);
không hạn chế tín dụng đối với những công trình, dự án cấp thiết, có ý nghĩa xã hội; tuy
nhiên, đi kèm là tăng cường kiểm tra, giám sát nhằm đảm bảo tính cấp thiết, khả năng
thanh toán, sự tuân thủ quy hoạch xây dựng… để tránh hiện tượng đầu cơ, làm giá vốn
chứa đựng nhiều rủi ro như thời gian vừa qua.


                                            41
       7. Nghi n cứu phương án kích thích kinh tế trong trường hợp kinh tế thế giới
rơi vào khủng hoảng
       Trong trường hợp kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng (tương tự như năm 2008),
có thể xem xét thực hiện CSTT và CSTK nới lỏng hơn so với kế hoạch (có thể chấp nhận
mức bội chi khoảng 5% GDP). Trên cơ sở tính toán chi tiết quy mô hợp lý của gói kích
thích kinh tế, có thể áp dụng một số phương thức kích cầu như: có biện pháp để giảm mặt
bằng lãi suất từ 6-8 điểm% so với hiện nay; miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp để
doanh nghiệp tích lũy vốn, kích thích đầu tư; cho vay ưu đãi (nông nghiệp, nông thôn,
xuất khẩu…); tăng chi an sinh xã hội (y tế, giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng lao
động, trợ cấp thất nghiệp)…




                                          42
                           Phụ lục 1: Nghiên cứu về chỉ số lan tỏa55


        Sử dụng bảng cân đối liên ngành (I/O) năm 2007 do Tổng cục Thống kê công bố,
tác giả tính toán chỉ số lan tỏa về kinh tế và chỉ số kích thích nhập khẩu cho các nhóm
ngành (Bảng 1 chỉ ra chỉ số lan toả và chỉ số kích thích nhập khẩu cho 16 ngành gộp).
Kết quả chỉ ra chỉ có 2 nhóm ngành có chỉ số lan toả về kinh tế cao hơn 1 và chỉ số kích
thích nhập khẩu lớn hơn 1 là nhóm ngành nông nghiệp và nhóm ngành công nghiệp chế
biến sản phẩm từ nông nghiệp đáp ứng yêu cầu này. Hầu hết các ngành chế biến chế tạo
có chỉ số kích thích nhập khẩu rất cao. Điều này cho thấy các ngành này càng phát triển
càng kích thích nhập khẩu mạnh mẽ. Nhóm ngành dịch vụ có chỉ số kích thích nhập khẩu
thấp và chỉ số lan toả về kinh tế cũng thấp. Một nghiên cứu của trường Đại học Kinh tế
thuộc Đại học quốc gia Hà nội chứng minh rằng nếu tăng cường hiệu quả sản xuất và
chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu 20% từ khu vực công nghiệp sang khu vực dịch vụ, thì chỉ
số lan toả về kinh tế sẽ cao hơn mức bình quân chung (>1) và cơ cấu dịch vụ lúc đó sẽ đạt
khoảng 50% GDP. Điều này đặt ra câu hỏi phải chăng cơ cấu kinh tế với ưu tiên thứ tự
công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp là một cơ cấu kinh tế sai lầm?
                  Bảng 1. Chỉ số lan toả về kinh tế và chỉ số kích thích nhập khẩu

                                                     Chỉ ố lan toả về   Chỉ ố kích thích
                                                         kinh tế          nhập khẩu
       Nông nghiệp                                       1.0293             0.9643
       Thuỷ sản                                          1.3505             1.0276
       Lâm nghiệp                                        0.8934             0.9959
       Khai khoáng khai thác                             0.7774             1.0039
       Công nghiệp chế biến thực phẩm                    1.4492             0.9564
       Công nghiệp chế biến hàng tiêu dùng               1.2093             1.3754
       Công nghiệp chế biến nguyên vật liệu              1.2644             1.3595
       Máy móc thiết bị                                  1.2475             1.3279
       Điện                                              0.7220             0.9011
       Xây dựng                                          1.1949             1.2884
       Thuương nghiệp                                    0.7303             0.9406
       Vận tải                                           1.0476             1.1619
       Bưu điện và thông tin liên lạc                    0.7748             0.9090
       Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm                    0.7577             0.8853
55
     Tác giả GS.TSKH. Nguyễn Quang Thái và Bùi Trinh.
                                                43
    Dịch vụ cá nhân khác                             0.8133              0.9959
    Quản lý Nhà nước                                 0.7384              0.9169
      Ghi chú: gạch chân: Tốt; in nghiêng: Không tốt.
                              Nguồn: Tính toán của tác giả.
       Hình 2 cho thấy trong giai đoạn từ 1989 đến nay “chỉ số lan toả nhập khẩu” tăng
từ 1,26 – 1,3 . Điều này có nghĩa trong giai đoạn trước khi tăng 1 đơn vị nhu cầu trong
nước sẽ lan toả đến nhập khẩu 1,26 đồng, đến nay ảnh hưởng này tăng lên 1,3 đồng chi
một đơn vị tăng lên của nhu cầu trong nước.
   Hình 2. Chỉ số lan toả nhập khẩu bình quân cho một đơn vị nhu cầu cuối cùng
                           trong nước giai đoạn 1989 - 2007

                1.36

                1.34

                1.32

                 1.3

                1.28

                1.26

                1.24
                    1985     1990      1995        2000       2005    2010


       Kết quả trong Hình 3 cho thấy cơ cấu về nhu cầu nhập khẩu giữa các yếu tố của
cầu sản phẩm sản xuất trong nước thay đổi rõ rệt. Nếu trong giai đoạn trước tiêu dùng sản
phẩm sản xuất trong nước kích thích nhập khẩu nhiều nhất thì trong giai đoạn hiện nay
tích luỹ tài sản từ sản phẩm sản xuất trong nước kích thích nhập khẩu nhiều nhất; nếu tích
luỹ tăng thêm 1 đơn vị sản phẩm sẽ kích thích đến nhập khẩu 1,69 đơn vị sản phẩm. Điều
này có thể thấy càng đầu tư không hiệu quả thì càng kích thích nhập khẩu mạnh. Nhiều
nghiên cứu về hiệu quả đầu tư thông qua hệ số ICOR cho thấy hiệu quả đầu tư trong giai
đoạn hiện nay là khá thấp. Như vậy có thể thấy trong giai đoạn hiện nay hiệu quả đầu tư
thấp là một trong những nguyên nhân gây nên nhập siêu cao.
        Ngoài ra khi tăng 1 đơn vị sản phẩm xuất khẩu sẽ lan toả đến nhập khẩu 1,5 đơn vị
nhập khẩu, chỉ số này tăng lên rất lớn so với giai đoạn trước (17%). Trong khi đó tiêu dùng
cuối cùng sản phẩm sản xuất trong nước lan toả đến nhập khẩu giảm so với giai đoạn
trước: nếu trong 10 năm trước tiêu dùng sản phẩm trong nước lan toả đến nhập khẩu là 1,4
thì trong giai đoạn hiện nay giảm xuống còn 1,26. Qua đây có thể thấy một số các chi phí

                                              44
đầu vào khi sản xuất sản phẩm trong nước đã được thay thế nhập khẩu bằng các sản
phẩm sản xuất trong nước. Điều này còn cho thấy tốc độ tăng về các chỉ số kích thích
nhập khẩu của xuất khẩu và tích luỹ sản phẩm sản xuất trong nước tăng lên rất ấn tượng.
Tất cả những lập luận trên cho thấy chúng ta cần cân nhắc hơn khi nói “Phá giá đồng Việt
Nam để kích thích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu”. Trong một số trường hợp điều này chỉ
có lợi cho nước khác vì trong một số ngành thực chất là xuất khẩu hộ nước khác56.
            Hình 3. Nhập khẩu lan toả bởi các nhân tố của nhu cầu nội địa


                                            2

                                           1.5

                                            1

                                           0.5

                                             0
                                                 1989 1996
                                                           2000 2007

                                Tiêu dùng nội địa        Tích luỹ nội địa      Export (Ed)


       Hình 4 cho thấy hầu hết xuất khẩu của nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo
kích thích nhập khẩu mạnh mẽ; chỉ số kích thích nhập khẩu lớn nhất là xuất khẩu sản
phẩm của công nghiệp chế biến nguyên vật liệu, tiếp đến là xuất khẩu sản phẩm của công
nghiệp chế biến vật phẩm tiêu dùng và công nghiệp chế biến máy móc thiết bị. Xuất khẩu
dịch vụ vận tải cũng kích thích nhập khẩu dịch vụ vận tải mạnh mẽ.
                Hình 4. Chỉ số lan toả nhập khẩu gây nên bởi xuất khẩu
                  2.5
                    2
                  1.5
                    1
                  0.5                                                       Power of dispersion
                    0                                                       on import induced by
                        1. Agricultural…




                                                     5. Other…


                                                8. Wholesale…




                                                    12. Other…
                                                 6. Industrial…




                                                 10. Post and…
                                                      4. Food,…




                                                 9. Transport…

                                                 11. Finance,…
                                             7. Capital goods
                             2. Fishery




                                                                            export




56
  Từ số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy cơ cấu nhập siêu t ong 10 năm qua mức nhập siêu từ Trung
Quốc tăng ất m nh. Nếu năm 2000 nhập siêu từ Trung Quốc chiếm khoảng 10% trong tổng nhập siêu,
thì ến năm 2009 ước tính con số này lên ến gần 90%.
                                                           45
                               Phụ lục 2:      ớc lượng cầu tiền (M2)


      Sử dụng số liệu năm từ 1998-2011, tiến hành hồi quy tuyến tính M2 theo GDP
danh nghĩa (GDPn) trong giai đoạn 1998-2011, ta có kết quả sau:
  M2 = β1 + β2GDPn + β3(GDPn-974266)*D2006 + D2007 + D2008 + D2009 + Ut57
            Dependent Variable: M2
            Method: Least Squares
            Date: 11/22/11 Time: 08:38
            Sample (adjusted): 1999 2011
            Included observations: 13 after adjustments
            Convergence achieved after 8 iterations

                       Variable           Coefficient     Std. Error    t-Statistic     Prob.

                       C          -348048.6               41749.80 -8.336534            0.0002
                    GDPN           1.315921               0.023251 56.59671             0.0000
              (GDPN-974266)*D2006 0.388119                0.022018 17.62752             0.0000
                    D2007          112529.8               21833.83 5.153919             0.0021
                    D2008         -200774.3               24423.70 -8.220469            0.0002
                    D2009         -57171.82               21510.83 -2.657816            0.0376
                     AR(1)         0.670614               0.318005 2.108816             0.0795

            R-squared                        0.999732     Mean dependent var          1107501.
            Adjusted R-squared               0.999465     S.D. dependent var          929477.8
            S.E. of regression               21504.98     Akaike info criterion       23.09369
            Sum squared resid               2.77E+09      Schwarz criterion           23.39789
            Log likelihood                  -143.1090     Hannan-Quinn criter.        23.03116
            F-statistic                      3735.199     Durbin-Watson stat          1.533378
            Prob(F-statistic)                0.000000

            Inverted AR Roots                 .67


      Các kiểm định cho thấy, mặc dù vẫn còn khiếm khuyết nhưng mô hình có độ tin
cậy khá cao. Trong quá khứ, các giá trị dự báo khá sát với giá trị thực tế, theo đó có thể
áp dụng mô hình trên để dự báo trong ngắn hạn. Năm 2012-2013, với tốc độ tăng trưởng
dự kiến từ 6-6,5% và lạm phát mục tiêu từ 8-10% thì tốc độ tăng trưởng M2 dự báo từ
15-17%/năm.




 D2006 là biến giả, nhận giá trị 1 trong giai đoạn 2007-2010 và giá trị 0 trong các giai đoạn còn lại.
57

D2007, D2008, D2009 là các biến giả phản ánh cú sốc trong giai đoạn 2007-2009.
                                                    46

								
To top