tom tat luan van by OsUueH6

VIEWS: 27 PAGES: 24

									                                    MỞ ĐẦU
     1. Lý do chọn đề tài
     Cuộc sống tiến lên thông qua những mâu thuẫn, “mâu thuẫn là nguồn gốc
của tất cả mọi sự vận động và sự sống”, nhà triết học Hêghen đã khẳng định
như vậy khi bàn đến vai trò của mâu thuẫn trong quá trình vận động và phát
triển.
     Trên cơ sở kế thừa những thành quả tư tưởng biện chứng của các nhà triết
học tiền bối, đồng thời, thông qua việc tổng kết thực tiễn lịch sử loài người.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: giải quyết mâu
thuẫn là động lực cho sự vận động phát triển của sự vật hiện tượng. Và chính
việc giải quyết những mâu thuẫn cơ bản như mâu thuẫn giữa QHSX với trình
độ của LLSX; mâu thuẫn Giữa CSHT với KTTT mà xã hội phát triển qua các
hình thái kinh tế xã hội khác nhau, từ thấp lên cao.
     Vận dụng quan điểm về mâu thuẫn của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực
tiễn cách mạng Việt Nam. Đảng CSVN và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát hiện
và giải quyết tốt những mâu thuẫn đặt ra với cách mạng Việt Nam trong giai
đoạn đấu tranh giành độc lập dân tộc, đó là, xác định và đặt mâu thuẫn giữa
dân tộc với chủ nghĩa đế quốc lên hàng đầu; thực thiện khẩu hiệu “dân cày có
ruộng” khi giải quyết mâu thuẫn giữa lợi ích nhân dân lao động với chế độ
phong kiến. Do đó, Đảng CSVN đã quy tụ được sức mạnh toàn dân, thực hiện
thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc - dân chủ tiến tới dành độc lập và thống nhất
đất nước.
     Bước vào thời kỳ xây dựng CNXH với tư thế là những người vừa bước ra
khỏi cuộc chiến tranh, chưa có nhiều kinh nghiệm trong xây dựng xã hội mới
cộng thêm vào đó là tư tưởng chủ quan nóng vội đã dẫn đến những sai lầm của
Đảng CSVN trong nhận thức và giải quyết những mâu thuẫn giữa QHSX với
trình độ của LLSX; mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể.v.v. Hậu
quả là, sức sản xuất bị kìm hãm, xã hội lâm vào khủng hoảng trong một thời
gian dài, quần chúng nhân dân mất niềm tin vào Đảng và xã hội mới...
     Từ những đòi hỏi mới của thực tiễn xây dựng đất nước, Đảng CSVN trên
tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đã mạnh dạn thừa nhận sai lầm và tiến thành
đổi mới toàn diện đất nước mà trước hết là đổi mới trong tư duy chính trị và
đặc biệt là tư duy phát triển kinh tế nhằm giải quyết mâu thuẫn trong quá trình
xây dựng CNXH, giải phóng sức sản xuất đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng
kinh tế - xã hội.
     Hơn 20 năm qua, sự nghiệp đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi
xướng và lãnh đạo đã và đang thu được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa


                                      1
lịch sử - đó là công cuộc đổi mới toàn diện đất nước từ kinh tế, xã hội đến
chính trị và đặc biệt là trong lĩnh vực đối ngoại và hội nhập quốc tế.
     Về kinh tế, ở Việt Nam GDP các năm (2001 – 2005) tăng bình quân 7,5%
năm, bình quân đầu người 640 USD tăng 12,1% năm, tạo việc làm mới cho 7,5
triệu người; giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 85% năm 1993 xuống còn 19,5% năm
2004, về đích trước 10 năm so với mục tiêu xoá đói, giảm nghèo trong thực
hiện mục tiêu thiên niên kỷ. Chính trị - Xã hội của Việt Nam ổn định, an ninh
quốc phòng được củng cố, tăng cường, quan hệ đối ngoại được mở rộng. Vai
trò, vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế được nâng lên.
Các nhà bình luận phương tây coi Việt Nam là “con rồng trẻ của khu vực, đang
vươn lên chiếm lĩnh đỉnh cao mới trong phát triển kinh tế”.
     Sự kiện Việt Nam ra nhập tổ chức thương mại thế giới WTO ngày
7/11/2006, hội nhập sâu và rộng vào đời sống kinh tế quốc tế đã và đang tạo ra
những cơ hội to lớn để phát triển kinh tế, đất nước... Song, cùng với việc phát
triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, thực đó cũng là nguyên nhân dẫn
đến nảy sinh những mâu thuẫn trong quá trình phát triển của nước ta, tạo ra
những quy cơ làm chệch định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đã lựa chọn
như: Mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với ổn định chính trị: Mâu thuẫn phát
sinh giữa tăng trưởng kinh tế với đảm bảo công bằng xã hội; Mâu thuẫn giữa
tăng trưởng kinh tế với yêu cầu giữ gìn bản sắc văn hoá truyền thống dân tộc...
     Những vấn đề trên cần phải được nghiên cứu và làm rõ để từ đó có những
giải pháp thực tiễn góp phần vào việc phát triển đất nước một cách bền vững
và hiệu quả hơn.
     Xuất phát từ lí do đó, tôi chọn đề tài nghiên cứu “một số mâu thuẫn nảy
sinh trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận
văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên nghành triết học của mình.
     2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
     Xung quanh vấn đề mâu thuẫn trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam đã có
những công trình nghiên cứu có liên quan với những hình thức mức độ khác
nhau và đã được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng, các tạp chí
chuyên nghành và các sách chuyên khảo có thể kể tên một số tác giả sau:
Nguyễn Đức Bình, Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Phạm Minh Hạc,
Hữu Thọ, Hoàng Xuân Long, Vũ Minh Giang, Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thế
Phấn, Phạm Văn Nghiên... Trong đó về mâu thuẫn trong thời kỳ quá độ lên
CNXH, đáng chú ý nhất là công trình nghiên cứu của Phạm Ngọc Quang, thử
vận dụng lý luận về mâu thuẫn vào thời kỳ quá độ ở nước ta, (1991), đề tài
KHXH 01- 06 cũng do Phạm Ngọc Quang làm chủ nhiệm đề tài mang tên: “Về
những mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và cách giải quyết mâu thuẫn trên
con đường phát triển đất nước”; Nguyễn Tấn Hùng: “Mâu thuẫn một số vấn đề
                                         2
lý luận và thực tiễn” (2005); luận án tiến sĩ triết học của Trần Nguyên ký: “Sự
kết hợp các mặt đối lập trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam hiện nay
(từ kinh nghiệm NEP)” bảo vệ tại Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
(2002).v.v., Nhìn chung các công trình trên đây đã giải quyết nhiều mặt khác
nhau đối với yêu cầu của việc nhận diện và giải quyết mâu thuẫn trong sự
nghiệp đổi mới đất nước. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào
nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống về “Một số mâu thuẫn nảy sinh trong
quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay” dưới góc độ giải quyết mâu
thuẫn bằng con đường kết hợp các mặt đối lập từ các mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế với chính trị, tăng trưởng kinh tế với giữ gìn bản sắc văn hóa
dân tộc, tăng trưởng kinh tế với đảm bảo công bằng xã hội. Do đó, theo chúng
tôi vấn đề này vẫn cần được nghiên cứu, phân tích nhằm góp phần giải quyết
những thách thức đang đặt ra đối với quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam
hiện nay.
     3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
     * Mục đích của đề tài:
     Luận văn góp phần làm rõ thực trạng một số mâu thuẫn nảy sinh trong
quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay. Từ đó, trên cơ sở làm rõ thực
trạng những vấn đề này, đề xuất những giải pháp cơ bản góp phần giải quyết
những mâu thuẫn đó nhằm thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.
     * Nhiệm vụ của đề tài:
     Để đạt mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ chủ
yếu sau đây:
     - Làm rõ các khái niệm mâu thuẫn và mặt đối lập, sự chuyển hóa giữa các
mặt đối lập; cách thức và vai trò của giải quyết mâu thuẫn với tư cách là điểm
xuất phát cho quá trình nghiên cứu đề tài.
     - Chỉ ra thực trạng của một số mâu thuẫn (nổi bật) nảy sinh trong quá trình
phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay.
     - Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần giải quyết một số mâu thuẫn
nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay.
     4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
     * Đối tượng nghiên cứu:
     Luận văn khảo sát một số mâu thuẫn nổi bật nảy sinh trong quá trình phát
triển kinh tế thị trường vận hành theo định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam hiện nay.
    * Phạm vi nghiên cứu:
   - Trong giới hạn của một luận văn, luận văn tập trung nghiên cứu những
mâu thuẫn có ảnh hưởng lớn tới định hướng xã hội chủ nghĩa như: Mâu thuẫn
                                       3
giữa tăng trưởng kinh tế với ổn định chính trị; mâu thuẫn nảy sinh giữa tăng
trưởng kinh tế với công bằng xã hội; mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với
giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
     - Về thời gian, luận văn chủ yếu khảo sát từ giai đoạn nước ta bước vào
thời kỳ đổi mới cho đến nay.
    5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
    - Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận, phương pháp luận duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, các quan điểm và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam
về vấn đề nghiên cứu.
     - Luận văn tham khảo và kế thừa có chọn lọc những thành quả của các tác
giả và các nhà khoa học đi trước về những vấn đề có liên quan.
     - Để thực hiện luận văn, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích –
tổng hợp những tài liệu có được gắn với thống kê, so sánh, đối chiếu làm rõ
thực trạng một số mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt
Nam hiện nay. Ngoài ra, tác giả luận văn còn sử dụng phương pháp lịch sử -
lôgíc để làm rõ vấn đề nghiên cứu.
    6. Đóng góp của luận văn
    * Đóng góp về mặt khoa học:
     - Góp phần làm rõ thực trạng một số mâu thuẫn một số mâu thuẫn nảy
sinh trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay.
    - Đề xuất một số giải pháp góp phần giải quyết các mâu thuẫn nói trên
trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay.
    * Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:
     - Ở mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của luận văn đem lại một tài
liệu tham khảo cho giảng dạy và học tập của bộ môn triết học Mác – Lênin về
các chuyên đề: Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong xây dựng đất
nước và hội nhập kinh tế quốc tế; sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối
lập.
     - Bên cạnh đó, luận văn còn có thể sử dụng làm một tài liệu tham khảo cho
việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế một cách bền vững ở Việt Nam.
    7. kết cấu của luận văn
    Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
bao gồm 3 chương với 8 tiết.


                                      4
                                   Chương 1
   MÂU THUẪN, CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN
VÀ MỘT SỐ VẤN VỀ NHẬN THỨC PHƯƠNG PHÁP LUẬN KẾT HỢP
     CÁC MẶT ĐỐI LẬP TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
                    KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY


    1.1 . Vài nét khái quát về mâu thuẫn
    1.1.1. Khái niệm mâu thuẫn
    Từ điển bách khoa triết học định nghĩa: “Mâu thuẫn biện chứng là sự tác
động lẫn nhau của các mặt, các khuynh hướng đối lập và bài trừ lẫn nhau, vừa
nằm trong sự thống nhất nội tại và xâm nhập lẫn nhau, là nguồn gốc của sự vận
động và phát triển của thế giới khách quan và nhận thức”.
     Như vậy, mâu thuẫn ở đây được hiểu là mối quan hệ tác động lẫn nhau
giữa hai mặt đối lập chứ không phải là tổng hợp các mặt đối lập. Sự thống nhất
và đấu tranh giữa hai mặt đối lập là mối quan hệ cơ bản của chúng. Điều này
thật dễ hiểu khi một số người định nghĩa mâu thuẫn biện chứng là sự thống
nhất và đấu tranh giữa hai mặt đối lập.
    1.1.2. Mặt đối lập
    Khi nhắc đến mặt đối lập chúng tôi nhấn mạnh ba điểm cần lưu ý như sau:
     Thứ nhất, khi nhìn mặt đối lập ở góc độ trong một hệ thống, không phải
toàn bộ, mà chỉ có một số thuộc tính trong các bộ phận, sự vật trong hệ hệ
thống đó đối lập với nhau. Ví như, khi nhắc tới mâu thuẫn giữa hai giai cấp
hay hai nhà nước thì không có nghĩa là tất cả những gì giữa hai giai cấp hay
hai nhà nước đó đều đối lập với nhau.
     Thứ hai, sự đối lập giữa hai bộ phận, hai sự vật, hai hệ thống có thể là sự
đối lập giữa các thuộc tính cơ bản, cũng có thể là sự đối lập giữa các thuộc tính
không cơ bản. Ví như việc người ta xác định mâu thuẫn đối kháng hay không
đối kháng trên cơ sở căn cứ vào sự đối lập giữa lợi ích cơ bản hay không cơ
bản của các giai cấp, các lực lượng xã hội.
     Thứ ba, tất cả các mặt đối lập dù là đối lập giữa những sự vật, giữa những
sự vật hay hệ thống,v.v. đều xuất phát từ những thuộc tính nhất định. Bản chất
của một mâu thuẫn được quy định bởi sự đối lập của những thuộc tính tất
nhiên, ở các mặt hợp thành mâu thuẫn ấy. Ví dụ, từ những sự đối lập giữa các
thuộc tính: chiếm hữu tư liệu sản xuất và không có tư liệu sản xuất, làm chủ và
làm thuê, bóc lột và bị bóc lột, áp bức và bị áp bức, thống trị và bị thống trị đã
tạo thành sự đối lập giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản.
                                        5
    1.1.3. Mối quan hệ giữa các mặt đối lập
    */ Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
     Ở đây, chúng tôi nhấn mạnh lại rằng, khi nói tới sự đồng nhất, xâm nhập
lẫn nhau, phù hợp với nhau làm tiền đề cho nhau... là khía cạnh thuộc về mối
quan hệ thống nhất của các mặt đối lập. Ngược lại sự đối lập, sự mất cân đối,
địa vị không ngang nhau, sự tác động ngược chiều, kìm hãm bài trừ, phủ định,
chống đối lẫn nhau, thuộc về khái niệm đấu tranh giữa các mặt đối lập, trong
đó sự đấu tranh giữa các mặt đối lập thực chất là sự bài trừ, chống đối, phủ
định lẫn nhau giữa chúng.
    */ Sự chuyển hóa của các mặt đối lập
    Ngoài quan hệ thống nhất và đấu tranh, sự chuyển hóa của các mặt đối lập
cũng là một trong những nét đặc trưng của mâu thuẫn. Sự chuyển hóa của các
mặt đối lập bao gồm sự chuyển hóa từ mặt này sang mặt khác và chuyển hóa
về địa vị của các mặt đối lập.
    Sự chuyển hóa từ mặt này sang mặt khác của các mặt đối lập trong mỗi
trường hợp cụ thể cần được hiểu một cách khác nhau, không được đồng nhất
khái niệm trừu tượng này với sự trực tiếp biến đổi từ mặt này sang mặt kia.
     Chẳng hạn sự chuyển hóa giữa nguyên nhân và kết quả là, nguyên nhân
sinh ra kết quả, kết quả được sinh ra lại tác động với sự vật, hiện tượng khác
trở thành nguyên nhân của một kết quả khác
     Sự chuyển hóa về địa của các mặt đối lập cũng tùy từng trường hợp mà có
cách hiểu khác nhau và được áp dụng trong những mâu thuẫn cụ thể. Quan hệ
địa vị các mặt đối lập cũng có sự thay đổi trong những giai đoạn khác nhau của
mâu thuẫn đó; nếu ở giai đoạn này, mặt này giữ vai trò chủ đạo, quyết định xu
thế, chiều hướng vận động, phát triển của sự vật, thì trong giai đoạn khác, vai
trò đó lại chuyển sang mặt đối lập khác.
    Ở những góc độ tiếp cận khác nhau, tùy vào vai trò, vị trí của mâu thuẫn
trong hệ thống mâu thuẫn của sự vật, người ta phân ra các loại mâu thuẫn cơ
bản và mâu thuẫn không cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn không chủ
yếu, mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.
    1.1.4. Mâu thuẫn trong xã hội.
     Mâu thuẫn xã hội “là sự thống nhất và đấu tranh giữa những con người
(tồn tại dưới nhiều cấp độ khác nhau, giữa các khuynh hướng các lực lượng và
các thực thể - thiết chế xã hội tưng ứng) có lợi ích đối lập nhau tạo thành
nguồn gốc phát triển của xã hội”.


                                      6
     Xã hội ra đời từ tự nhiên, là giai đoạn phát triển cao của tự nhiên. Chính vì
thế quy luật mâu thuẫn - quy luật phổ biến của thế giới vật chất - cũng là quy
luật phổ biến trong lĩnh vực xã hội. Sự tồn tại, phát triển và giải quyết mâu
thuẫn trong xã hội cũng có tính khách quan như mâu thuẫn trong tự nhiên.
Song bên cạnh đó, mâu thuẫn xã hội có một số đặc điểm khác với mâu thuẫn
trong tự nhiên cụ thể:
     Trước hết là quan hệ chủ thể - khách thể: Khác với mâu thuẫn trong tự
nhiên không có quan hệ chủ thể - khách thể, mâu thuẫn xã hội là biểu hiện của
những mối quan hệ xã hội nhất định và do đó luôn liên hệ bằng cách này hay
cách khác với những chủ thể nhất định. Chủ thể của mâu thuẫn xã hội có thể là
trực tiếp hoặc gián tiếp. Trong trường hợp một trong những mặt đối lập là cá
nhân, nhóm xã hội, giai cấp, dân tộc, quốc gia, v.v., còn mặt kia là tự nhiên, là
khách thể thì người ta coi chủ thể là trực tiếp hoặc trong trường hợp cả hai mặt
đối lập là con người - mỗi mặt đối lập vừa là khách thể vừa là chủ thể so với
mặt kia. Ví dụ, trong cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản,
nếu đứng về phía giai cấp vô sản thì giai cấp vô sản là chủ thể so với giai cấp
tư sản là khách thể; còn ngược lại nếu đứng về phía giai cấp tư sản thì giai cấp
tư sản là chủ thể so với giai cấp vô sản - lúc này đóng vai trò là khách thể.
Người ta gọi chủ thể của mâu thuẫn xã hội là gián tiếp khi những mặt đối lập
của nó không phải là con người mà thay vào đó là những vật, những thuộc tính
của những sự vật với tính cách là kết quả lao động của con người. Ví như mâu
thuẫn giữa lực lượng sản xuất mới và quan hệ sản xuất cũ lỗi thời. Tuy nhiên,
đằng sau mâu thuẫn của những sự vật, những thuộc tính của sự vật ấy là biểu
hiện mâu thuẫn giữa con người với con người.
     Ở đặc điểm này của mâu thuẫn xã hội, điều cần lưu tâm là mâu thuẫn xã
hội không thể tồn tại bên ngoài những con người cụ thể. Không thể hình dung
được một mâu thuẫn xã hội nào mà lại có thể thiếu đi bóng dáng của con
người. Và khi phân tích mâu thuẫn xã hội ngoài việc chỉ ra những tính chất,
khuynh hướng trái ngược nhau chủ thể cần gắn những tính chất, khuynh hướng
đó với những con người nhất định hay nói rõ hơn là chỉ ra mối liên quan như
thế nào của chúng tới những con người nhất định.
    Thứ hai, mâu thuẫn xã hội là mâu thuẫn về lợi ích: Thực chất của mâu
thuẫn xã hội là mâu thuẫn về những lợi ích ngược chiều nhau của những con
người nhất định (ở đây có thể là lợi ích của cá nhân, nhóm xã hội, v.v..). Ở
những nhóm xã hội có lợi ích ngược chiều nhau tức là nhóm xã hội này xâm
phạm lợi ích của nhóm xã hội khác, thì giữa họ sẽ xuất hiện sự đấu tranh nhằm
đảm bảo lợi ích của mình.


                                        7
    Cũng cần nói thêm là, nhu cầu và lợi ích của con người rất đa dạng và
phong phú, nhu cầu đó xét ở những lĩnh vực khác nhau của xã hội thì bao gồm:
kinh tế, chính trị, văn hóa, tinh thần, trong đó lợi ích kinh tế là lợi ích căn bản
nhất. Một khi những nhóm xã hội có sự đối lập về lợi ích căn bản có tính chất
sống còn thì giữa họ có mâu thuẫn đối kháng với nhau.
     Thứ ba, mâu thuẫn xã hội có tính khách quan - chủ quan: Xét về bản chất
mâu thuẫn xã hội là sự thống nhất và đấu tranh của những tính chất, những
khuynh hướng khách quan. Tính khách quan của nó biểu hiện ở chỗ: sự ra đời
và tồn tại của nó không phụ thuộc vào ý thức của bất kỳ cá nhân nào, giai cấp
nào; trong những điều kiện nhất định mâu thuẫn đó là không tránh khỏi, không
thể xóa bỏ được. Thí dụ, trong mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa - mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất và tính chất tư
bản chủ nghĩa của sự chiếm hữu, ta thấy hai mặt đó đều có tính khách quan
không phụ thuộc vào ý thức của giai cấp vô sản hay giai cấp tư sản. Mâu thuẫn
này biểu hiện thành sự đối kháng về lợi ích giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư
sản; sự đối kháng này cũng có tính tất yếu, khách quan. Tuy nhiên, sự đối lập
giữa vô sản và tư sản, biểu hiện thành sự đấu tranh giữa giữa hai giai cấp, phải
thông qua sự nhận thức của những cá nhân nhất định của những cá nhân trong
hai giai cấp đó, và ở góc độ này, mâu thuẫn xã hội đã bao hàm tính chủ quan
của nó.
    Thứ tư, mâu thuẫn xã hội có tính lịch sử: Tính lịch sử của mâu thuẫn xã
hội biểu hiện ở chỗ, các hiện tượng xã hội thường biến đổi nhanh hơn so với
các hiện tượng tự nhiên. Càng dần về sau, xã hội biến đổi với tốc độ ngày càng
nhanh hơn. Khi một hình thái kinh tế - xã hội này được thay bằng hình thái
kinh tế - xã hội khác thì mâu thuẫn cơ bản của nó và những mâu thuẫn nảy
sinh từ mâu thuẫn cơ bản đó cũng mất theo. Bên cạnh đó, cũng cần thấy rằng
mỗi một hình thái - kinh tế xã hội nhất định cũng có những biểu hiện đặc thù
của chúng chẳng hạn sự biểu hiện khác nhau của mâu thuẫn giai cấp trong xã
hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản chủ nghĩa và sự biểu
hiện khác nhau trong xã hội tư bản chủ nghĩa và trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội là một ví dụ về tính lịch sử của mâu thuẫn xã hội.
     Một đặc điểm khác của mâu thuẫn xã hội là sự đấu tranh của các mặt đối
lập trong xã hội là hoạt động có tổ chức: Sự nhận thức và giải quyết mâu
thuẫn xã hội dù là mâu thuẫn giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã
hội, giữa những nhóm xã hội hay mâu thuẫn giữa những tổ chức xã hội ít nhiều
đều phải thông qua những tổ chức xã hội nhất định (Trong xã hội có giai cấp,
các tổ chức xã hội ít nhiều mang tính giai cấp, là đại diện cho lợi ích và quyền
lực của một giai cấp nhất định). Vì lẽ đó, sự can thiệp cải các tổ chức xã hội
                                        8
vào mâu thuẫn xã hội là điều không tránh khỏi mà thậm chí là cần thiết được
xem như là yếu tố tất yếu của quá trình vận động và giải quyết mâu thuẫn xã
hội.
    1.2. Các phương thức giải quyết mâu thuẫn
    1.2.1. Vai trò động lực của việc giải quyết mâu thuẫn
     Trên cơ sở khẳng định mâu thuẫn là nguồn gốc và động lực của sự phát
triển, rằng trong sự tác động qua lại của các mặt đối lập thì đấu tranh của các
mặt đối lập quy định một cách tất yếu sự thay đổi của các mặt đang tác động
làm cho mâu thuẫn phát triển. Tuy nhiên, sự đấu tranh giữa các mặt đối lập nếu
không gắn liền với việc giải quyết đúng quy luật, nghĩa là mâu thuẫn không
được giải quyết thường xuyên và kịp thời, hoặc chỉ được giải quyết một cách
chủ quan tùy tiện, thì mâu thuẫn sẽ tích tụ lại, sự phát triển bị chặn lại và sự
vật bị biến dạng. tác giả đi đến quan điểm: việc giải quyết mâu thuẫn là khâu
quan trọng nhất trong vai trò động lực của mâu thuẫn đối với quá trình phát
triển.
    1.2.2.Các cách thức, hình thức giải quyết mâu thuẫn
    Mâu thuẫn được giải quyết bằng nhiều cách và hình thức đa dạng, phong
phú. Tuy nhiên, về đại thể việc giải quyết mâu thuẫn có thế chia làm hai cách
cơ bản là loại trừ các mặt đối lập và kết hợp các mặt đối lập.
    */ Giải quyết mâu thuẫn bằng cong đường loại trừ các mặt đối lập.
    Một trong những hình thức giải quyết mâu thuẫn bằng con đường loại trừ
các mặt đối lập là sự chuyển hoá cuối cùng của các mặt đối lập từ mặt này
sang mặt kia. Ph.Ăngghen viết: “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối
trong toàn bộ thế giới tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan tức là tư duy
biện chứng, thì chỉ phản ánh sự chi phối, trong toàn bộ thế giới tự nhiên của
toàn bộ sự vận động thông qua những mặt đối lập, tức là những mặt, thông qua
sự đấu tranh thường xuyên của chúng và sự chuyển hóa cuối cùng của chúng
từ mặt đối lập này thành mặt đối lập kia, sesp (tương tự) với những hình thức
cao hơn, đã quy định sự sống của giới tự nhiên”
    Việc giải quyết mâu thuẫn bằng con đường đấu tranh giữa các mặt đối lập
còn được thực hiện bằng việc cả hai mặt của mâu thuẫn đều mất đi, sự vật
chuyển lên một chất mới, với mâu thuẫn mới. Ở đây, có thể xem việc mất đi
của cả hai giai cấp vô sản và tư sản khi mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư
sản được giải quyết một cách triệt để là một ví dụ như thế.
     Nói tóm lại, việc giải quyết mâu thuẫn thông qua con đường đấu tranh
(loại trừ) giữa các mặt đối lập xét đến cùng nhằm tạo ra sự chiến thắng của mặt

                                       9
đối lập này đối với mặt đối lập còn lại trong một mâu thuẫn, thông qua đó giải
quyết hoàn toàn mâu thuẫn xác định. Nói như vậy, không có nghĩa là đồng
nhất việc giải quyết mâu thuẫn bằng cách tiêu diệt, loại bỏ một trong hai mặt
đối lập hợp thành mâu thuẫn một cách chủ quan, bất chấp những điều kiện cụ
thể. Việc đó không những không giải quyết được mâu thuẫn mà ngược lại sẽ
làm biến dạng mâu thuẫn.
    *./ Giải quyết mâu thuẫn bằng con đường kết hợp các mặt đối lập
     Trong đời sống hiện thực, việc giải quyết mâu thuẫn không phải lúc nào
cũng bằng cách mặt này chiến thắng mặt kia, mà nhiều khi mâu thuẫn được
giải quyết bằng cách dung hợp, kết hợp cả hai mặt đối lập lại với nhau tạo
thành một sự vật mới.
     ở đây, sau khi đưa ra tư tưởng của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác –
Lênin về kết hợp các mặt đối lập, chúng tôi đề cập đến nguyên tắc để thực hiện
việc kết hợp các mặt đối lập. Cụ thể, trong một số trường hợp sau:
     Thứ nhất, Giữa các nhân tố, các lực lượng xã hội, tồn tại với tư cách là
những mặt đối lập của nhau phải có những điểm tương đồng, những điểm
chung có thể đi tới sự điều hòa, thỏa hiệp trong một giới hạn nhất định. Dĩ
nhiên, việc kết hợp các mặt đối lập, với những thỏa hiệp nhất định ở đây không
phải là hành động xóa bỏ nguyên tắc đấu tranh giữa các mặt đối lập. Đây chỉ là
hành động đưa cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập vào trong một hình thức cụ
thể có lợi cho chủ thể mà thôi. Trong trường hợp giữa các mặt đối lập hoàn
toàn không có điểm chung, tương đồng, mâu thuẫn xã hội này hoàn toàn mang
tính đối kháng thì việc kết hợp không thể thực hiện một cách đúng đắn và đem
lại hiệu quả mong muốn cho chủ thể.
     Bên cạnh đó, việc kết hợp các mặt đối lập chỉ được tiến hành trên cơ sở
xuất hiện những điều kiện hoàn cảnh thuận lợi cho phép chủ thể thực hiện việc
kết hợp theo mong muốn. Đôi khi những điều kiện hoàn cảnh đó lại xuất hiện
như một đòi hỏi tất yếu khách quan, buộc chủ thể phải tiến hành bằng phương
pháp kết hợp các mặt đối lập.
     Thứ hai, việc kết hợp các mặt đối lập chỉ thực hiện được và đạt kết quả
như mong muốn khi chủ thể có đủ năng lực và bản lĩnh chính trị cần thiết đáp
ứng được yêu cầu khách quan cũng như thời cơ thuận lợi của việc kết hợp, từ
đó tiến hành tổ chức một cách khéo léo, khoa học nhằm hướng cuộc đấu tranh
giữa hai mặt đối lập trong mâu thuẫn theo hướng có lợi cho chủ thể. Ở đây,
trong một chừng mực nhất định, vai trò của chủ thể trong việc kết hợp các mặt
đối lập có ý nghĩa quyết định.


                                     10
     Một điểm đáng lưu ý nữa là, do việc kết hợp các mặt đối lập là hành động
của chủ thể trong quá trình giải quyết mâu thuẫn xã hội khách quan, nên đương
nhiên, quá trình này ngay từ đầu đã thể hiện và cần phải thể hiện tính định
hướng của nó. Nghĩa là, việc kết hợp các mặt đối lập sẽ được tiến hành nhằm
đáp ứng nhu cầu, lợi ích của chủ thể hoạt động. Song, việc kết hợp với tư cách
là hoạt động chủ quan vẫn phải đảm bảo nguyên tắc đấu tranh giữa các mặt đối
lập chứ không phải là kết hợp đi tới thủ tiêu cuộc đấu tranh của chúng.
     1.3. Một số vấn đề về nhận thức phương pháp luận kết hợp các mặt
đối lập trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay
     */ Xây dựng nhận thức đúng đắn về kết hợp các mặt đối lập trong phát
triển kinh tế.
     Do không được trang bị một cách có hệ thống về phép biện chứng, cho
nên trong xã hội vẫn còn tồn tại những quan niệm không đúng về mặt đối lập
và kết hợp các mặt đối lập. Vẫn tồn tại quan niệm coi mặt đối lập là những mặt
trái ngược nhau bất kỳ. Chính hạn chế đó đã dẫn đến tình trạng, trong thực tế
hoặc không biết kết hợp hoặc kết hợp bất kỳ mặt đối lập nào, trong bất kỳ điều
kiện hoàn cảnh nào.
    Sự nhận thức đúng đắn về các mặt đối lập phải là quan niệm coi những
mặt đối lập nằm trong quan hệ vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau trong
một chỉnh thể. Do đó, việc kết hợp các mặt đối lập phải là hoạt động khai thác
mặt thống nhất đó trên tinh thần tôn trọng cuộc đấu tranh của chúng.
    */ Quán triệt phương pháp luận kết hợp các mặt đối lập
     Do tính chất khách quan trong quan hệ giữa các mặt đối lập, cho nên
phương pháp luận của việc kết hợp các mặt đối lập phải là trên cơ sở nhận thức
những điểm chung giữa những nhân tố xã hội với tư cách là các mặt đối lập
của nhau, thực hiện việc kết hợp sao cho hướng cuộc đấu tranh giữa các mặt
đối lập đem lại lợi ích cho chủ thể cách mạng.
     Thực tế cho thấy, chúng ta chưa thật nắm vững và vận dụng tốt phương
pháp luận trên, biểu hiện trong việc kết hợp giữa XHCN và TBCN, giữa công
tác kế hoạch của Nhà nước và sự điều tiết của thị trường. Những hạn chế đó đã
ảnh hưởng đáng kể tới hiệu quả của việc kết hợp này, thậm chí dẫn tới những
vấn đề thực tiễn nóng bỏng khác.




                                     11
                                     Chương 2
             THỰC TRẠNG MỘT SỐ MÂU THUẪN NẢY SINH
 TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY


       2.1. Mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với ổn định chính trị
       2.1.1. Quan hệ giữa kinh tế và chính trị
       Luận văn cho rằng ngày nay, khái niệm kinh tế được hiểu với hai nghĩa cơ
bản:
    - Tổng thể các quan hệ sản xuất nhất định trong lịch sử phù hợp với mỗi trình
độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất.
     - Toàn bộ các ngành kinh tế quốc dân hay một bộ phận của nền kinh tế quốc
dân. Nó bao gồm các hình thức sản xuất theo ngành kinh tế, thành phần kinh tế và
vùng kinh tế (tức cơ cấu kinh tế) và cơ chế quản lý kinh tế.
     Trong "kinh tế ", nhân tố có vai trò to lớn nhất là quan hệ sở hữu về tư liệu sản
xuất; ngoài ra, còn phải kể đến quan hệ giữa người với người trong quá trình tổ
chức, quản lý trình sản xuất và tái sản xuất, trong phân phối và tiêu dùng sản phẩm
được làm ra trên cơ sở tính chất của chế độ sở hữu đó.
     Do sự phát triển của sản xuất, của kinh tế, chế độ chiếm hữu chung đối với tư
liệu sản xuất tan rã, tình trạng xã hội phân chia ra thành các giai cấp xuất hiện. Khi
đó, chính trị với tư cách là một hiện tượng xã hội đặc thù cũng ra đời.
     Dựa trên những thành quả nghiên cứu di sản lý luận của C.Mác, Ph.Ăngghen,
V.I.Lênin về khái niệm "chính trị", luận văn cho rằng chính trị là mối quan hệ giữa
các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia trong vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền
lực Nhà nước; là những phương hướng, những mục tiêu được quy định bởi lợi ích
cơ bản của giai cấp, của đảng phái; là hoạt động thực tiễn chính trị của các giai
cấp, các đảng phái, các Nhà nước để thực hiện đường lối đã lựa chọn nhằm đi tới
mục tiêu đã đặt ra.
     Giữa kinh tế và chính trị có quan hệ qua lại với nhau: Các quan hệ kinh tế và
cơ cấu kinh tế là nền móng trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý,
chính trị tương ứng; ngược lại, thượng tầng chính trị, pháp lý đó cũng có tác động
mạnh tới sự vận động và phát triển của kinh tế. Sự tác động lại đó có hai khả năng
cơ bản: Thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, khi đó là thứ chính trị đúng đắn, khoa
học; kìm hãm sự phát triển của kinh tế, khi đó là thứ chính trị sai lầm (bao gồm cả
thứ chính trị "tả" khuynh lẫn hữu khuynh).
    Từ việc nghiên cứu sâu sắc quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị đã
từng diễn ra trong lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin nêu lên hai luận điểm nền tảng:
                                       12
Một là, chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế; hai là, chính trị không thể
không chiếm vị trí ưu tiên so với kinh tế.
     Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế - điều đó có nghĩa là, so với kinh tế,
chính trị là sự phản ánh, là " tính thứ hai"; không có những quan hệ chính trị và qui
luật chính trị độc lập tuyệt đối với các quan hệ và qui luật kinh tế. Tuy nhiên, từ
luận điểm trên cũng cần lưu ý rằng chính trị không phải là cái gương soi đối với
đời sống kinh tế, mà là sự biểu hiện tập trung của kinh tế. Nó phản ánh mang tầm
khái quát, làm bộc lộ cái bản chất nhất của đời sống kinh tế, cái cơ bản nhất, cái
mang tính chi phối trong đời sống kinh tế. Cho nên, không phải kinh tế có kết cấu
đa dạng như thế nào thì chính trị cũng có sự đa dạng tương ứng như thế. Chẳng
hạn, nền kinh tế trong xã hội đang ở bước chuyển từ xã hội phong kiến sang xã hội
TBCN mang trong mình cả những yếu tố kinh tế phong kiến - gia trưởng, thậm chí
cả một số yếu tố của nền kinh tế tiền phong kiến, bên cạnh đó là những yếu tố của
nền kinh tế mới- kinh tế TBCN. Chính trị của giai cấp cầm quyền đương thời (giai
cấp tư sản) trước hết là sự phản ánh những yêu cầu bức xúc của các nhân tố kinh tế
TBCN, làm cho kinh tế này từng bước vươn lên nắm vai trò chủ đạo, chi phối mọi
yếu tố kinh tế khác.
      "Chính trị không thể không chiếm vị trí ưu tiên so với kinh tế" là luận điểm
nói lên vai trò năng động, tính độc lập tương đối, sự tác động trở lại của chính trị
đối với kinh tế. Quan điểm đó có tiền đề phương pháp luận xuất phát của mình từ
tính năng động của ý thức đối với vật chất, của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội
(khi xét chính trị từ phương diện "ý thức chính trị", bao gồm cả quan điểm chính
trị, đường lối chính trị, tâm lý và tình cảm chính trị, chủ trương, chính sách...), của
kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng (khi xét chính trị là một bộ phận của
kiến trúc thượng tầng). Thực tiễn chứng minh rằng, một quan điểm hay một thiết
chế chính trị sai lầm có tác động rất tiêu cực đối với sự phát triển của kinh tế, của
sản xuất; nó có tác động kìm hãm vô cùng to lớn đối với sự phát triển của kinh tế.
Nhận thức chính trị sai lầm về cơ cấu thành phần kinh tế ngay khi bước vào thời kỳ
quá độ lên CNXH từ một nước nghèo nàn, lạc hậu lại bỏ qua chế độ TBCN đã có
hậu quả tiêu cực như thế nào trong thời kỳ trước đổi mới ở nước ta, mọi người đã
rõ. Ngược lại, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, của việc giải phóng lực lượng sản
xuất và, do đó, sự tăng trưởng và phát triển nhanh chóng của đời sống kinh tế dưới
tác động của những quan điểm kinh tế, của đường lối kinh tế (chính trị trên lĩnh
vực kinh tế) trong quá trình đổi mới là bằng chứng nói lên tác động tích cực của
chính trị đúng đắn đối với kinh tế.
    Vai trò ưu tiên của chính trị so với kinh tế không chỉ biểu hiện ở năng lực tác
động trở lại của chính trị so với kinh tế (thúc đẩy hoặc kìm hãm); cũng không chỉ ở
chỗ một quan điểm chính trị đúng đắn, khoa học có khả năng can thiệp một cách tự
                                          13
giác vào tiến trình kinh tế khách quan, điều chỉnh sự vận động, phát triển của kinh
tế theo quy luật khách quan của nó; mà còn ở chỗ: để giải phóng giai cấp công
nhân, nhân dân lao động về mặt kinh tế, trước hết phải giải phóng họ về chính trị,
làm cho họ trở thành chủ thể của quyền lực nhà nước. Diễn đạt tính tất yếu lôgíc
đó, trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã
xem việc giai cấp công nhân giành chính quyền, trở thành chủ thể của quyền lực
nhà nước là "bước thứ nhất" của cuộc cách mạng công nhân. Không đạt được tiền
đề chính trị đó mà nói tới giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động về
kinh tế thì chỉ là ảo tưởng mà thôi.
     Quan điểm duy vật khoa học về quan hệ giữa kinh tế và chính trị phải là quan
điểm duy vật biện chứng. Trong quan điểm đó, một mặt, khẳng định tính thứ nhất
của kinh tế so với chính trị, mặt khác, xem chính trị không phải là cái hoàn toàn
thụ động đối với kinh tế, trái lại, nảy sinh trên nền tảng kinh tế, chính trị có tác
động lại đối với kinh tế. Tác động trở lại của chính trị đối với kinh tế sẽ như thế
nào (thúc đẩy hay kìm hãm, mạnh hay yếu, hiệu quả cao hay thấp...) - điều đó phụ
thuộc vào tính đúng, sai của chính trị và mức độ của tính đúng, sai đó; tùy thuộc
vào khả năng thâm nhập của chính trị vào quần chúng, vào năng lực tổ chức thực
tiễn của đội ngũ lãnh đạo và quản lý các quá trình chính trị và kinh tế tương ứng.
    2.1.2. Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và ổn định chính trị và mâu
thuẫn nảy sinh
    Trên cơ sở làm rõ các vấn đề có liên quan như: Khái niệm tăng trưởng
kinh tế, phát triển kinh tế, ổn định chính trị; khẳng định lại tính tất yếu của đổi
mới, phát triển kinh tế ở Việt Nam; mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và ổn
định chính trị. Đồng thời, dựa trên sự phân tích tình hình thực tế kinh tế và
chính trị ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, luận văn chỉ ra mâu thuẫn cơ bản
trong mối quan hệ này là mâu thuẫn giữa khuynh hướng xã hội chủ nghĩa và
khuynh hướng tư bản chủ nghĩa của quá trình phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa.
    2.2. Mâu thuẫn trong quan hệ giữa tăng trưởng tế với công bằng xã hội
    2.2.1. Quan hệ giữa phát triển kinh tế và công bằng xã hội
     Công bằng và bình đẳng là hai khái niệm có nội hàm giao nhau, chứ
không hoàn toàn trùng nhau. Trong bình đẳng có khía cạnh công bằng như
bình đẳng về quyền và nghĩa vụ công dân, bình đẳng trong hưởng thụ ở những
người có đóng góp ngang nhau; nhưng cũng có khía cạnh không công bằng
như sự phân phối bình quân bất chấp chất lượng và hiệu quả công việc dẫn đến
sự trì trệ xã hội. Ngược lại trong công bằng vừa có bình đẳng vừa có bất bình
đẳng Bởi lẽ, cái mà xã hội cho là công bằng thì không nhất thiết phải là sự bình

                                        14
đẳng và sự bất bình đẳng không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với sự bất công.
Do đó, nhiều khi nói đến công bằng nhưng thực chất là sự bình đẳng hoặc
không ít sự bất công được đề cập đến lại mang nghĩa là sự bất bình đẳng.
    Về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và công bằng xã hội
    Nếu xét ở góc độ tác động qua lại giữa vai trò của phát triển kinh tế với
đảm bảo công bằng xã hội và sự tác động trở lại của công bằng xã hội đối với
phát triển kinh tế, có thể chỉ ra một số nét cơ bản về mối quan hệ này như sau:
    Phát triển kinh tế là cơ sở, điều kiện đảm bảo thực hiện và phát triển công
bằng và bình đẳng xã hội.
    Thực tế chỉ ra rằng, trong điều kiện kinh tế thấp kém vẫn có thể thực hiện
công bằng xã hội, nhưng công bằng xã hội trong điều kiện như vậy là công
bằng ở trình độ thấp và có những hạn chế nhất định như, sự phân phối còn
mang nặng tính bình quân (do của cải làm ra ít), sự chênh lệch về hưởng thụ
thấp hơn sự chênh lệch về tài năng và sự cống hiến sẽ không kích thích được
năng xuất lao động; do của cải làm ra ít, quỹ phúc lợi từ đó mà không thể có
nhiều để thực hiện đầy đủ chính sách xã hội đối với những người, những gia
đình có công với đất nước. Vì lý do đó, để đảm bảo công bằng xã hội ở trình
độ cao hơn thì việc phấn đấu phát triển kinh tế xã hội là điều cần thiết.
    Công bằng xã hội là một động lực phát triển kinh tế - xã hội.
     Công bằng xã hội là một trong những lợi ích quan trọng của cá nhân, cũng
như của xã hội do đảm bảo cho mức hưởng thụ của người lao động không
những tương xứng với lao động, cống hiến của họ, mà ngày càng được nâng
cao cùng với sự nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc của họ. Ở góc độ
này, Công bằng xã hội thúc đấy người lao động đem hết sức lực, nhiệt tình,
sức lực và trí tuệ để tạo ra ngày càng nhiều của cải vật chất và tinh thần có chất
lượng cao cho xã hội, nhờ đó mà xã hội và bản thân người lao động đều có lợi.
Công bằng xã hội kích thích cá nhân những nhà kinh doanh chấp nhận rủi ro,
bỏ vốn đầu tư cho sản xuất, kích thích các nhà quản lý phát huy hết năng lực
và sáng kiến để hoàn thiện tổ chức, hợp lý hóa hoạt động sản xuất kinh doanh.
     Như vậy, công bằng xã hội là cái đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa các lợi
ích trong xã hội nên nó là một điều kiện quan trọng để đảm bảo sự phát triển
kinh tế - xã hội.
   2.2.2. Mâu thuẫn nảy sinh trong quan hệ giữa phát triển kinh tế và công
bằng xã hội
    Nếu đứng trên lập trường của quan niệm biện chứng (trong những điều
kiện không thể thiếu được để hai mặt hợp thành mâu thuẫn là chúng vừa liên

                                       15
hệ với nhau, gắn bó với nhau, có mối tương quan về bản chất với nhau; vừa có
tác động ngược chiều nhau, loại trừ chống đối lẫn nhau) mà xem xét mối quan
hệ giữa phát triển kinh tế và công bằng xã hội, thì có thể thấy rằng về bản chất,
phát triển kinh tế không loại trừ công bằng xã hội và công bằng xã hội không
tác động ngược chiều với tăng trưởng kinh tế, không kìm hãm tăng trưởng kinh
tế. Công bằng xã hội nếu được thực hiện một cách đúng đắn luôn thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế. Từ đó suy ra, phát triển kinh tế và công bằng xã hội không phải
là hai mặt đối lập. Song, nếu tiếp cận vấn đề trên ở một góc độ khác chúng ta
sẽ thấy có một số mâu thuẫn tác động có ảnh hưởng làm cho phát triển kinh tế
không đi liền với công bằng xã hội.
     Về vấn đề này chúng tôi nhất trí với ý kiến của PGS.TS Nguyễn Tấn Hùng
khi ông viết: “mặc dù giữa phát triển kinh tế và công bằng xã hội không có
mâu thuẫn trực tiếp với nhau nhưng trong điều kiện cơ chế thị trường hiện nay,
quan hệ giữa chúng bị khúc xạ thông qua một số mâu thuẫn khách quan nhất
định, do đó, nếu không nhận thức và giải quyết tất những mâu thuẫn này thì
kết quả của phát triển kinh tế sẽ không dẫn đến sự hoàn thiện, mà dẫn đến sự
xấu đi của lĩnh vực công bằng xã hội. Những bất công xã hội - hậu quả của
việc giải quyết không tốt những mâu thuẫn này sẽ tác động trở lại và kìm hãm
sự tăng trưởng kinh tế”
    Xuất phát từ quan điểm trên, luận văn chỉ ra một số mâu thuẫn có ảnh
hưởng tới mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là mâu
thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, mâu thuẫn giữa bình đẳng và bất
bình đẳng, mâu thuẫn giữa việc thực hiện chính sách kinh tế và việc thực hiện
chính sách xã hội. Ngoài ra, còn có mâu thuẫn giữa bóc lột và bị bóc lột.
    2.3. Mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với giữ gìn bản sắc văn hóa
dân tộc
    2.3.1. Bản sắc văn hóa và vai trò vị trí của nó trong bối cảnh hiện nay
     Bản sắc văn hóa là cái riêng của một nền văn hóa, gắn liền với những đặc
tính của chủ thế, là cái tiêu biểu cho họ, là đặc điểm nhận biết và phân biệt họ
với dân tộc khác. Không phải ngẫu nhiên mà khi nói đến một dân tộc nào đó,
trong mỗi chúng ta lập tức có sự hình dung, liên tưởng họ với một số đặc trưng
văn hóa nhất định. Một nền văn hóa có vững mạnh hay không, có khả năng tỏa
sáng ảnh hưởng ra bên ngoài biên giới quốc gia hay không, chính phải do bản
sắc của văn hóa đó có rõ nét hay không, có độc đáo hay không.
     Bản sắc văn hóa luôn là điều cốt tử, có ý nghĩa sống còn đối với một dân
tộc. Một nền văn hóa có bản sắc càng đậm nét, càng độc đáo sẽ càng có bản
lĩnh, càng bền vững càng phát triển. Chính bản sắc văn hóa là cái chống đỡ lại

                                       16
những cuộc tấn công từ bên ngoài để bảo vệ một dân tộc. Cả lịch sử lâu dài của
chống ngoại xâm của chúng ta là minh chứng hùng hồn cho nhận định này.
     Ngày nay, thế giới hiện đại đang đi theo xu hướng giải quyết các xung đột
bằng con đường hòa bình, hòa giải. Sự hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng,
khiến cho không có quốc gia nào, dân tộc nào đứng ngoài được. Trong quá
trình này rất có thể có nhiều người lầm tưởng rằng bản sắc văn hóa không còn
ý nghĩa quan trọng như trước đây. Song thực tế cho thấy, trái với quan niệm
đó, bản sắc vẫn là vấn đề quan tâm hàng đầu đối với chúng ta. Bởi lẽ thời nay
không thiếu những ý đồ mở rộng phạm vi ảnh hưởng của các cường quốc sang
các quốc gia chậm phát triển. Chỉ có điều ngày nay, người ta không chỉ thôn
tính nhau bằng sức mạnh quân sự mà bằng cả những thành tựu kinh tế và văn
hóa. Cùng với các dòng hàng hóa tràn từ các nước phát triển sang các nước
đang phát triển có cả những yếu tố kém văn hóa đi kèm. Cung cấp hàng hóa
cho những nước kém phát triển là các cường quốc kinh tế dần dần tạo ra những
nhu cầu mới, tâm lý tiêu dùng mới, thị hiếu thẩm mỹ mới, phong cách sinh
hoạt mới ... cho họ. Bằng cách này, trong cộng đồng các dân tộc nhận được sự
hợp tác giúp đỡ kinh tế sẽ hình thành những đặc trưng văn hóa mới theo đúng
khuôn mẫu của các nước “đỡ đầu”. Kết quả là, nền văn hóa truyền thống sẽ
mất dần đi những nét truyền thống, thu nhận những đặc tính mới được “cấy”
vào từ bên ngoài. Quá trình này nếu cứ tiếp tục được tái diễn trong khi văn hóa
bản địa không có sự tự vệ cần thiết thì sẽ bị hòa tan trong một thứ văn hóa
chung chung, không có bản sắc. Nghĩa là văn hóa bản địa sẽ tự đánh mất mình.
    Thực tế đó đã chứng tỏ ý nghĩa cực kỳ quan trọng của bản sắc văn hóa
trong giai đoạn hiện nay. Chúng ta chỉ có thể phát triển đúng hướng, đạt được
phồn vinh và hạnh phúc thực sự cho nhân dân khi giữ gìn được bản sắc văn
hóa của mình.
    2.3.2. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bản sắc văn hóa dân tộc
và mâu thuẫn phát sinh.
     Trên cơ sở làm rõ tính chất tác động đan xen giữa vừa có vai trò tích cực
vừa có tính kìm hãm, cản trở đến sự tồn tai, phát triển của nhau giữa tăng
trưởng kinh tế và bản sắc văn hóa dân tộc. Luận văn đi cho rằng, trong xu thế
khách quan của toàn cầu hóa kinh tế văn hóa dân tộc sẽ có nhiều điều kiện tiếp
thu tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác. Tuy nhiên, do đặc điểm của toàn
cầu hóa hiện nay là toàn cầu hóa TBCN, cho nên nguy cơ đánh mất bản sắc
văn hóa dân tộc thực sự là thách thức không nhỏ đối với mỗi dân tộc, trong đó
có dân tộc ta. Nguy cơ về một cuộc "xâm lăng" văn hóa, về việc đánh mất bản
sắc riêng của dân tộc càng trở nên nghiêm trọng trong điều kiện thực hiện kinh
tế thị trường và chấp nhận cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay.
                                        17
    Với nhận thức coi văn hóa không chỉ là mục tiêu, là tiêu chuẩn mà còn là
một động lực thực sự quan trọng của sự phát triển xã hội, chúng ta không thể
không tiến hành những giải pháp nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Đã
đến lúc phải coi việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là một trong những nội
dung quan trọng của việc thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, là cuội nguồn và là sức sống của dân tộc ta trên con đường phát triển
của mình.
     Theo chúng tôi, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong điều kiện phát triển
kinh tế hiện nay, không đơn thuần là bảo tồn nguyên vẹn truyền thống mà còn
phải phát triển truyền thống cho phù hợp với điều kiện của cuộc sống sinh
động hiện nay. Có thể nói, truyền thống là sự chắt lọc tinh hoa của văn hóa
trong suốt chiều dài lịch sử. Nó là cái đã ổn định, bền vững, hầu như không
thay đổi. Trong khi đó, cái hiện đại là cái mới xuất hiện, rất linh hoạt, thường
xuyên biến đổi và tự động điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện khách quan.
Tính ổn định của truyền thống hoàn toàn trái ngược với sự năng động và tính
linh hoạt của của cái hiện đại. Bởi vậy, truyền thống và hiện đại luôn có sự
mâu thuẫn. Chúng ta giải quyết mâu thuẫn đó như thế nào để truyền thống
không trở thành lạc hậu, không trở thành lực cản đối quá trình phát triển? Câu
trả lời ở đây chỉ có thể là nâng nó lên tầm cao hơn để tương xứng với quá trình
phát triển, để mang lại cho nó những đặc trưng mới phù hợp với quá trình phát
triển. Để làm được điều đó, bên cạnh việc giải quyết từ góc độ văn hóa, cần
chú trọng đến khía cạnh kinh tế.
                                  Chương 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GÓP PHẦN GIẢI QUYẾT MỘT SỐ MÂU
      THUẪN NẢY SINH TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
              KINH TẾỞ VIỆT NAM HIỆN NAY


    3.1. Một số giải pháp chung nhằm giải quyết một số mâu thuẫn nảy
sinh trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay
    3.1.1. Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển
kinh tế
    Đây là yêu cầu cơ bản đảm bảo công cuộc đổi mới ở nước ta đi tới đích
CNXH. Cơ sở khách quan của yêu cầu này biểu hiện ở tính tất yếu khách quan
của quá trình vận động, phát triển lên CNXH ở nước ta trong giai đoạn hiện
nay. Chính sự đan xen giữa các yêu tố XHCN và phi XHCN trong giai đoạn
quá độ buộc phải thực hiện định hướng XHCN trên mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... Đặc biệt, yêu cầu này càng trở
                                      18
nên bức thiết trong điều kiện đất nước đổi mới tiến hành kinh tế thị trường và
hội nhập kinh tế quốc tế. Nếu không bảo đảm yêu cầu này trong quá trình đổi
mới, mở cửa thực hiện kết hợp với CNTB thì sẽ tạo điều kiện cho các thế lực
thù địch với CNXH dễ dàng thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình, đưa đất
nước ta đến chỗ phát triển chệch hướng và mất chế độ. Có xây dựng thành
công CNXH thì mới đảm bảo tính vững chắc ổn định chính trị, chỉ khi CNXH
trở thành hiện thực ở nước ta thì mới có thể xóa bỏ được hoàn toàn sự bóc lột
giai cấp, giải phóng con người thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo một đất
nước dân chủ, văn minh.
    3.1.2. Đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện phẩm
chất đạo đức cho chủ thể cách mạng
    Giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cho chủ thể cách
mạng để hình thành nên đội ngũ những con người thực sự đủ tài, đủ đức, đáp
ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.
    Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, giáo dục tư tưởng phải hướng
chủ thể cách mạng tới nhận thức đúng đắn về âm mưu "diễn biến hòa bình",
muốn xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta bằng con đường hợp tác quốc tế.
    3.1.2. Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn phục vụ cho việc kết hợp
các mặt đối lập
     Đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn nhằm đề ra được những hình thức
kết hợp đúng đắn, có hiệu quả giữa CNXH và CNTB.
    Công tác tổng kết thực tiễn ở đây phải hướng vào việc phát hiện ra những
mặt đối lập cụ thể có thể kết hợp nhằm đem lại lợi ích cho đất nước. Phải xác
định được trong những mặt đối lập cụ thể có những điểm tương đồng nào,
những điểm dị biệt nào để đề ra giải pháp đúng đắn.
     Công tác tổng kết thực tiễn ở đây cũng cần hướng vào việc vạch ra những
điều kiện cụ thể cho phép thực hiện kết hợp các mặt đối lập. Mặt khác, do quá
trình kết hợp giữa CNXH với CNTB luôn bao hàm sự thỏa hiệp nhân nhượng
nhất định, cho nên trong công tác tổng kết thực tiễn cũng cần chú ý xác định
được giới hạn, mức độ, thỏa hiệp cho phép trong mỗi trường hợp cụ thể. Có
như vậy mới giúp cho việc kết hợp giữa CNXH với CNTB trong quá trình phát
triển kinh tế hiện nay đạt kết quả như mong muốn.
     3.2. Một số giải pháp cụ thể
    3.2.1. Giải pháp nhằm đảm bảo kết hợp tăng trưởng kinh tế gắn với giữ vững ổn
định chính trị
    3.2.1.1. Giữ vững ổn định chính trị, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng,

                                       19
hiệu lực quản lý của Nhà nước trong quá trình xây dựng kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa
     Thực tế xương máu của Liên Xô cũ và các nước vốn là XHCN ở Đông Âu
cuối những năm 80, đầu những năm 90 đã cho thấy rằng không giữ được ổn định
chính trị thì đừng nói gì tới giữ vững định hướng XHCN trong đổi mới kinh tế và
đổi mới các mặt khác của xã hội, do đó cũng không thể nói gì tới đổi mới vì
CNXH nói chung. Song, việc nhấn mạnh sự cần thiết khách quan của ổn định
chính trị không có nghĩa không thực hiện đổi mới trên lĩnh vực này. Sự phát triển
chưa thật vững chắc về kinh tế - xã hội trong những năm gần đây có một trong
những nguyên nhân của nó là việc đổi mới chính trị có phần nào chậm trễ. Do vậy,
"giữ vững ổn định chín trị" không đồng nhất với việc duy trì tình trạng trì trệ của
nó; trái lại, để giữ vững ổn định chính trị, cần đổi mới lĩnh vực này; nhưng đó phải
là quá trình được tính toán thấu đáo với những bước đi thận trọng.
     Để giữ vững ổn định chính trị, cần đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình đổi mới kinh tế sẽ bảo
đảm tính tự giác, tính định hướng chính trị trong quá trình phát triển nền kinh tế
đó: Chúng ta cần có một nền kinh tế thị trường phát triển cao để lên CNXH chứ
không phải lên CNTB. Để đạt được tính định hướng chính trị đó, Đảng phải nắm
vững vai trò là người lãnh đạo quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường ở
nước ta. Hơn nữa, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với việc giữ vững tính định hướng
XHCN trong quá trình phát triển nền kinh kinh tế thị trường còn được quyết định
bởi chỗ, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định để khơi dậy và phát triển nội
lực, nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế trong phát triển kinh tế thị trường định
hướng XHCN và mở cửa.
    Để thực hiện có hiệu quả vai trò lãnh đạo của mình nhằm giữ vững tính định
hướng XHCN trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, Đảng cũng cần được
đổi mới theo hướng dân chủ hoá hơn nữa sinh hoạt nội bộ Đảng, làm cho Đảng
thực sự trở thành tấm gương về dân chủ trong xã hội. Trong luận án đã trình bầy
những nội dung cơ bản nhất có liên quan tới vấn đề này.
     Cùng với bảo đảm và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, còn phải nâng
cao hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường. Muốn vậy, cùng
với việc nâng cao bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của
Nhà nước, vấn đề cấp bách hiện nay là nâng cao hiệu quả của nền hành chính công
quyền. Đó phải là nền hành chính của dân, do dân, vì dân; nó có trách nhiệm thực
hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, chuyên chính với mọi hành động xâm
phạm lợi ích của nhân dân.



                                        20
     Đồng thời với việc đẩy mạnh cải cách nền hành chính quốc gia, luận văn cho
rằng, để Nhà nước thực hiện có hiệu quả vai trò định hướng XHCN đối với quá
trình phát triển nền kinh tế thị trường, cần hết sức quan tâm đổi mới và nâng cao
hiệu quả quá trình lập pháp của Quốc hội, bảo đảm có hệ thống luật đáp ứng kịp
thời nhu cầu phát triển của đất nước nói chung, của nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN nói riêng. Hơn nữa, cũng cần nâng cao vai trò kiểm tra, giám sát của
các cơ quan chức năng thuộc Nhà nước và các đoàn thể nhân dân cũng như của
mỗi công dân đối với mọi hoạt động của Nhà nước
     3.2.1.2. Tiếp tục đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, làm cho nó thực sự giữ
vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
     Liên quan tới vấn đề này, trước hết cần củng cố lại bộ phận doanh nghiệp có
vốn Nhà nước 100% hoặc nắm phần chi phối; tiếp tục phát triển các loại doanh
nghiệp này trong những ngành, những lĩnh vực then chốt và một số địa bàn xung
yếu. Các doanh nghiệp Nhà nước phải đi đầu trong ứng dụng khoa học - công nghệ
tiên tiến; nêu gương về năng suất, chất lượng hiệu quả kinh tế - xã hội và thực hiện
pháp luật; mặt khác, phải đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước để xã hội
hóa tư liệu sản xuất, thu hồi một phần vốn cho ngân sách Nhà nước và tập trung
nâng cao vị trí chủ đạo của khu vực kinh tế Nhà nước.
    3.2.2. Giải pháp nhằm kết hợp phát triển kinh tế gắn với công bằng xã hội
    Để thực hiện tốt việc kết hợp giữa phát triển kinh tế gắn với công bằng xã
hội (như đã nói ở phần 2.2) cần có giải pháp giải quyết các mâu thuẫn phát
sinh giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội; giữa bình đẳng và bất bình đẳng,
mâu thuẫn giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội. Cụ thể theo các hướng
như sau:
    Thứ nhất, kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội. Tôn trọng và
phát huy lợi ích chính đáng của cá nhân, đảm bảo lợi ích cá nhân không đi
ngược lại với lợi ích xã hội. Kiên quyết chống những biểu hiện tiêu cực của
chủ nghĩa cá nhân, nhất là chủ nghĩa cá nhân cực đoan thì mới có thể đảm bảo
công bằng xã hội.
    Thứ hai, thực hiện công bằng và bình đẳng xã hội gắn liền với sự tăng
trưởng kinh tế và bằng những bước đi thích hợp. Công bằng xã hội là điều kiện
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đảm bảo cho sự tăng trưởng bền vững, nên
phải được thực hiện ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển
kinh tế. trái lại, bình đẳng xã hội chỉ có thể dần dần từng mặt, từ thấp đến cao
cùng với sự tăng trưởng kinh tế và phù hợp với khả năng của nền kinh tế.
    Thứ ba, kết hợp hài hòa chính sách kinh tế và chính sách xã hội. Sự kết
hợp tăng trưởng chính sách kinh tế và chính sách xã hội vì mục đích vừa thúc
                                        21
đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa đảm bảo được các mục tiêu xã hội, sao cho việc
thực hiện chính sách kinh tế không dẫn đến hậu quả xã hội tiêu cực và việc
thực hiện chính sách xã hội đến lượt nó chẳng những không cản trở mà trở
thành động lực của sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.
    3.2.3. Giải pháp nhằm kết hợp giữa phát triển kinh tế với giữ gìn bản
sắc văn hóa dân tộc
     Thực hiện kinh tế thị trường với sự tác động tiêu cực của nó đã xuất hiện
nguy cơ chệch hướng XHCN. Sự suy giảm những giá trị truyền thống dân tộc,
dẫn tới nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc. Điều đó lại ảnh hưởng trở lại đối với
việc kết hợp các mặt đối lập vì lợi ích của CNXH. Do đó, để đảm bảo phát
triển kinh tế gắn với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc thì việc đẩy mạnh công
tác giáo dục truyền thống lúc này là điều cần thiết.
    Trong giáo dục truyền thống cần chú trọng tới đội ngũ tham gia công tác
quản lý và hoạt động kinh tế. Năng lực và phẩm chất của đội ngũ này có tính
quyết định trong việc đảm bảo yêu cầu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
     Trong giáo dục truyền thống cần hướng tới mục tiêu xây dựng ý thức dân
tộc và lòng tự hào dân tộc, xây dựng thái độ đúng mực: không tự ti, không mặc
cảm cũng không định kiến, kiêu ngạo trong làm ăn kinh tế.
     Trong giáo dục truyền thống cần chú ý tới những giá trị quý báu của dân
tộc, đồng thời cũng phải biết chọn lọc, loại bỏ những giá trị truyền thống
không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay.




                                      22
                                  KẾT LUẬN


     Chặng đường hơn 20 năm đổi mới vừa qua dưới sự lãnh đạo của Đảng và
Nhà nước ta, dân tộc ta, nhân dân ta đã thu được những thắng lợi to lớn có ý
nghĩa lịch sử trong các mục tiêu phát triển kinh tế - chính trị , văn hoá - xã hội,
đời sống của nhân dân được cải thiện, bộ mặt và vị thế của nước ta được nâng
cao trên trường quốc tế. Đó là những động lực mạnh mẽ để nước ta chủ động,
vững bước trên con đường phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, sẵn
sằng đương đầu với những thách thức để đón nhận lấy những cơ hội phát triển,
xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì sự nghiệp dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
     Song, cũng cần phải nhận thấy rằng bên cạnh những thành tựu to lớn
chúng ta đã đạt được. Trong những năm qua, từ thực tế quá trình xây dựng,
phát triển đất nước - phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng
XHCN - cũng đã nảy sinh những mâu thuẫn làm chậm, cản trở con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Những thách thức giữa tăng trưởng kinh tế với
yêu cầu giữ vững ổn định chính trị; giữa nhu cầu tăng trưởng kinh tế với đảm
bảo công bằng xã hội; giữa nhiệm vụ tăng trưởng kinh tế với yêu cầu giữ gìn
bản sắc văn hóa dân tộc đang là những mâu thuẫn nổi bật nảy sinh trong quá
trình phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay. Vậy, làm thế nào để tăng trưởng
kinh tế không gây nên những bất ổn về chính trị để rồi mất định hướng XHCN;
làm thế nào để tăng trưởng kinh tế đi liền với công bằng xã hội; và làm thế nào
để vừa đảm bảo yêu cầu của nhiệm vụ tăng trưởng kinh tế phát triển đất nước
mà không đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc? là những câu hỏi đang được đặt
ra cần phải có những câu trả lời thoả đáng để đưa đất tiếp tục phát triển.
    Tiếp cận vấn đề trên từ góc độ kết hợp các mặt đối lập. Từ đó, đề xuất một
số giải pháp góp phần giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình
phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay nhằm thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.
Theo chúng tôi là một hướng đi không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý
nghĩa thực tiễn quan trọng trong giai đoạn lịch sử hiện nay.
    Trên cơ sở xác định mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài chúng tôi
đã góp phần làm sáng tỏ các vấn đề sau đây: Khái niệm mặt đối lập, quan hệ
giữa các mặt đối lập; Đặc điểm của mâu thuẫn xã hội; các phương thức giải
quyết mâu thuẫn (đặc biệt nhấn mạnh vai trò và điều kiện để thực hiện kết hợp

                                        23
các mặt đối lập); vai trò động lực của việc quyết mâu thuẫn; vấn đề nhận thức
phương pháp luận kết hợp các mặt đối lập trong quá trình phát triển kinh tế ở
Việt Nam hiện nay; Chỉ ra thực trạng, nguyên nhân của những mâu thuẫn nảy
sinh trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay; Đề xuất một số
giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện kết hợp các mặt đối lập, thông qua đó
góp phần giải quyết các mâu thuẫn đã nêu nhằm thúc đẩy kinh tế xã hội phát
triển vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn
minh.




                                     24

								
To top