PH�NG GI�O D?C ��O T?O B�NH �?I by Yr6IZ22

VIEWS: 25 PAGES: 9

									PHÒNG GD-ĐT BÌNH ĐẠI  CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG TH VANG QUỚI ĐÔNG     Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc


                TÊN ĐỀ TÀI: SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
           NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU
                               MÔN TOÁN LỚP BỐN
                                  *************


                                 PHẦN MỞ ĐẦU
I. Bối cảnh của đề tài.
      - Chương trình toán lớp bốn là một bộ phận của chương trình môn toán ở
tiểu học, là sự kế thừa và phát triển những thành tựu về dạy toán lớp bốn ở nước ta.
Thực hiên đổi mới về cấu trúc nội dung và phương pháp dạy học theo mục tiêu
chương trình toán 4, yêu cầu giáo viên trang bị cho học sinh một số chuẩn kiến
thức và kỹ năng cơ bản để các em áp dụng kiến thức và kỷ năng vào trong học tập
và cuộc sống.
      - Đầu năm nhận lớp, qua khảo sát chất lượng, tôi đã phát hiện một số em còn
yếu môn toán, một số học sinh tiếp thu bài quá chậm, không nắm được kiến thức
cơ bản, các em còn lơ là trong việc học toán ảnh hưởng đến giờ học của các em
trong thời gian học kế tiếp.
II. Lý do chọn đề tài.
      - Để nâng dần chất lượng học tập và hứng thú khi học toán, thực hiện tốt chỉ
tiêu được giao. Để các em nắm dược kiến thức cơ bản và kỹ năng thực hành toán
4. Giáo viên tạo điều kiện cho các em học tốt môn toán nắm vững những kiến thức
cơ bản cần thiết và tiếp tục học toán ở lớp trên. Vì vậy bản thân đã quyết dịnh chọn
đề tài: Nâng cao hiệu quả phụ đạo học sinh yếu môn toán lớp 4.
III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.
      1. Phạm vi nghiên cứu:


                                                                            Trang: 1
      - Nghiên cứu nội dung, cấu trúc chương trình theo chuẩn kiến thức cơ bản
môn toán lớp 4.
      2. Đối tượng nghiên cứu:
      - Học sinh lớp 41 Trường Tiểu học Vang Quới Đông.
IV. Mục đích nghiên cứu.
      - Quá trình nghiên cứu và khảo sát chương trình toán học ở lớp 4, chúng tôi
thấy rằng kiến thức toán lớp 4 có sự điều chỉnh bổ sung một số bài từ lớp 5
chuyển xuống như cộng, trừ, nhân, chia phân số, các đơn vị đo đại lượng, vv…
Nếu ta so sánh nội dung kiến thức của toán 3, toán 4, toán 5 cho thấy chương trình
toán 4 khá nặng nề đối với lứa tuổi tâm lý của các em, chẳng hạn như các em học
xong chương trình lớp 3 hầu như em nào cũng đạt được mục tiêu, chuẩn kiến thức
để bước vào lớp 4. Tuy nhiên, qua ba tháng nghỉ hè văn không ôn, võ không luyện
nên các em đánh mất kỹ năng tính toán, nhất là nhân, chia trong bảng, nói đúng
hơn là các em không thuộc bảng cửu chương và mối quan hệ giữa phép nhân và
phép chia. Trong trường hợp này tôi có thể đưa ra một số ví dụ thực tế để làm
minh chứng. khi ôn tập về phép nhân, phép chia, giáo viên có thể ra đề như sau:
       a) 8 x 7 = ? ; b) 72 : 8 = ? ; c) 37 : 6 = ? .
       Để có kết quả bài toán a) tôi gọi một số học sinh trung bình nêu kết quả, các
em trả lời còn chậm chạp, miệng đọc thầm bảng cửu chương, thậm chí đưa ra kết
quả sai số. Bài toán b) các em lại trả lời chậm hơn vì phải vất vả đọc lại bảng chia
8. 8 : 8 = 1; 16 : 8 = 2 ; 24 : 8 = 3 vv…
      Như vậy các em đã quên đi mối quan hệ mật thiết giữa phép nhân và phép
chia. Muốn thực hiện được phép tính nhân, chia thì các em chỉ cần thuộc lòng nhân
chia trong bảng và kỹ năng thực hành là được. Bên cạnh đó, chúng tôi còn phát
hiện kỹ năng thực hành tính chia của các em ở bài c) như sau: Khi gọi các em trả
lời em lại phát biểu như thế này: Thưa thầy bài toán
37 : 6 không có trong bảng chia nên em không biết kết quả bằng bao nhiêu.


                                                                            Trang: 2
Nghe học sinh mình phát biểu như thế, trong lòng tôi vừa buồn nhưng lại vừa vui.
Buồn vì học sinh quá vui say trong hè, thiếu ôn luyện đã đánh mất đi tri thức và kỹ
năng tính toán. Vui ở chỗ là các em dám nói lên sự thật.
       - Với những tình hưống nêu trên tôi đã đề ra kế hoạch phụ đạo, cập nhật
những kiến thức đã bị hỏng cho những em yếu toán vào cuối buổi học, thời lượng
khoảng 20 phút mỗi ngày.
V. Đi m mới của kết quả nghiên cứu
       - Để đạt hiệu quả trong công tác giảng dạy theo chuẩn kiến thức k năng
toán 4, bản thân tôi nghiên cứu chọn lựa theo nhóm bài tập từ mức độ đơn giản, d
hiểu cho các em thực hành, từng bước được vững chắc,sau đó mới cho các em làm
quen dạng bài tập có mức độ nâng cao dần nhưng không quá khó đối với các em
học yếu. Bên cạnh đó, trong mỗi tiết học toán trên lớp giáo viên luôn dành nhiều
thời gian hơn để đàm thoại, gợi mở, ván đáp và kiểm tra xem mức độ tiếp thu kiến
thức mới như thế nào.Từ đó có biện pháp phụ đạo sau buổi học giúp các em khắc
sâu kiến thức toán một cách d dàng hơn, đạt hiệu quả khả quan hơn.


                                PHẦN NỘI DUNG
I. C       ý uận
       -   ục tiêu dạy toán 4 là nhằm cung cấp cho các em vốn kiến thức cơ bản
theo chuẩn kiến thức và k năng của Bộ Giáo ục quy định.Giáo viên không
ngừng ngại khó mà hãy thường xuyên kiểm tra việc luyện tập, thực hành và k
năng làm các dạng bài tập tương tự của từng nội dung, từng mạch kiến thức cơ bản
nhất, có như vậy kiến thức toán học của các em s được khắc sâu hơn.
       1. Về kiến thức.
       - Cung cấp cho học sinh:
       a) Số và ph p tính:
       - Học sinh nhận biết một số đặc điểm chủ yếu của dãy số tự nhiên.
       - Biết đọc, viết, so sánh, xếp thứ tự các số tự nhiên.

                                                                           Trang: 3
        - Biết cộng, trừ, nhân, chia các số tự nhiên, chia số tự nhiên có 6 chữ số cho
số có 3 chữ số.
        - Biết tìm thành phần chưa biết của từng phép tính.
        - Biết tính giá trị của biểu thức có chứa 1, 2, 3 chữ dạng đơn giản.
        - Biết vận dụng tính chất giao hoán và kết hợp của phép cộng, phép nhân,
nhân một tổng với một số, tính bằng cách thuận tiện nhất.
        - Biết tính nhẩm nhân, chia một số với 10, 100, 1000….Nhân số có 2, 3, chữ
số với 11.
        - Nhận biết dấu hiệu chia hết cho 2, 3, 5, 9.
        - Bước đầu nhận biết về phân số.
        - Biết đọc, viết phân số, tính chất cơ bản của phân số, rút gọn, quy đồng m u
các phân số, so sánh hai phân số.
        - Biết cộng trừ, nhân, chia các phân số đơn giản.
        b) Đo ư ng.
        - Biết mối quan hệ giữa yến, tạ, tấn, với ki-lô-gam, giữa ngày và giờ, năm
và thế kỉ, giữa dm2 và cm2, giữa dm2 và m2, giữa km2 và m2
        - Biết chuyển đổi các đơn vị đo đại lượng thông dụng.
        c) C c ếu tố h nh học:
        - Nhận biết các góc nhọn, góc t , góc b t, hai đường thẳng vuông góc, hai
đường thẳng song song, một số đặc điểm về cạnh, góc của hình chữ nhật, hình
vuông, hình bình hành, hình thoi.
        - Biết v đường cao, hai dường thẳng vuông góc, hai đường thẳng song
song.
        - Biết tính chu vi diện tích hình bình hành, hình thoi.
        d) C c ếu tố thống kê và t         ản đ .
        - Biết đọc và nhận định các số liệu trên bản đồ, biểu đồ cột.
        - Biết một số ứng dụng của tỉ lệ bản đồ trong thực tế.
        đ) Giải to n c     i v n.

                                                                               Trang: 4
        - Biết tóm tắt bài toán bằng cách ghi ngắn gọn hoặc bằng sơ đồ đoạn thẳng.
        - Biết giải và trình bày bài giải các bài toán có đến 2, 3, bước tính như toán
trung bình cộng, bài toán về tìm hai số khi biết tổng và hiệu, tổng tỉ, hiệu tỉ….
        e) Về ph t t i n ng n ng và tư du g p ph n h nh thành nh n c ch của
học inh.
        - hát triển năng lực phân tích tổng hợp, khái quát hóa.
        - Biết di n đạt một số nhận xét, quy tắt, tính chất bằng ngôn ngữ ở dạng khái
quát.
        - Tiếp tục rèn đức tính chăm học, cẩn thận, tự tin trung thực, tinh thần trách
nhiệm.
        2) K n ng.
        - Học sinh biết thao tác trên đồ vật, mô hình, hình v , kí hiệu….Biết di n đạt
bằng ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ viết, để di n đạt các k năng sau:
        - Biết thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia số có 6 chữ số với số tự
nhiên có 3 chữ số, nhân nhẩm với 10, 100, 1000…, nhân số có hai chữ số với 11.
        - Nhẩm thành thạo các phép tính nhẩm và tính nhanh.
        - Giải được các bài toán tìm thành phần chưa biết, của phép tính.
        - Tính giá trị của biếu thúc có đến 2, 3, phép tính.
        - Biết đổi các đơn vị đo khối lượng, thời gian, độ dài, diện tích.
        - Nhận biết và v được hình vuông, hình chữ nhật hình bình hành, hình thoi.
        - Biết cách phân tích đề bài toán có đến 2, 3, bước tính.
        - Biết tóm tắt và giải bài toán dạng tìm hai số khi biết tổng và hiệu, tổng tỉ,
hiệu tỉ.
II. Thực t ạng của v n đề.
        1) Kh kh n:
        - Đa số gia đình học sinh có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, cho nên phụ
huynh ít quan tâm đến việc học của con em mình mà số đông phụ huynh trông cậy
vào giáo viên đứng lớp, bên cạnh đó cũng không ít cha m các em phải đi làm ăn

                                                                               Trang: 5
xa gửi con lại cho ông, bà, nuôi dư ng cháu và trình độ nhận thức của các em
cũng không đồng đều.
      2) Thuận ợi :
      - Được sự quan tâm giúp đ của Ban Giám Hiệu.
      - Giáo viên nhiệt tình trong công tác giảng dạy, chịu khó tìm tòi phương
pháp giảng dạy ph hợp với từng đối tượng học sinh, áp dụng phương pháp cá biệt
hóa cho từng em.
      - Nhà gần trường nên việc kèm cập, phụ đạo trở nên cũng d dàng hơn, thời
gian dành cho các em học yếu cũng nhiều hơn.
III. C c i n ph p đ tiến hành đ giải qu ết v n đề.
      - Vào những ngày đầu năm học, giáo viên theo dõi từng học sinh, trong quá
trình học tập phát hiện ra các em học yếu toán, cộng, trừ, nhân, chia sai, tính toán
chậm và không nắm cách tính. Tìm hiểu lý do học yếu của từng em, sau đó liên lạc
với gia đình học sinh và đề ra kế hoạch phụ đạo ph hợp.
      - Với kết quả khảo sát đầu năm lớp 41 có 08 em dưới trung bình toán, một
kết quả quá bất ngờ, sau 2 tuần giàng dạy và tìm hiểu từng đối tượng cho thấy kiến
thức các em đã bị hỏng quá nhiều, nắm được tình hình này, tôi đã đề ra kế hoạch
phụ đạocho học sinh yếu 2 buổi trong tuần và 20 phút cuối của mỗi buổi học.
      - Nhờ vậy mà kiến thức của các em dần dần khôi phục, nắm được kiến thức
cơ bản, tiếp tục học tốt thời gian còn lại.
      -   o là học sinh yếu, nên việc hiểu và nhớ của các em còn chậm và mau
quên. Các kiến thức cũ, phải được giáo viên củng cố lại nhiều lần khi có liên quan
đến nội dung bài học mới, đồng thời giúp các em biết được mối quan hệ và sự
chuyển tiếp giữa các nội dung với nhau. Chẳng hạn, để cho học sinh thấy rõ sự
khác biệt của các dạng toán có mối quan hệ với nhau như: Tìm hai số khi biết tổng
và hiệu, tìm hai số khi biết tổng và tỉ, tìm hai số khi biết hiệu và tỉ của hai số
đó….ở dạng toán này các em còn làm một cách máy móc, chưa vững chắc. Đối với
các dạng bài toán trên, giáo viên cần lập bảng so sánh để các em phân biệt được

                                                                            Trang: 6
điểm giống nhau và khác nhau của đề bài toán rồi đi đến từng bước giải s giúp
học sinh củng cố được kiến thức nhanh hơn.
      - Trong từng mạch kiến thức giáo viên cần chốt lại cách thực hiện bằng lời
nói đơn giản, d hiểu, “nom na nhằm khắc sâu kiến thức.
      - Ví dụ: Tìm số trừ ta thực hiện tính trừ. Chẳng hạn 12 – x = 5. Học sinh
không phải do dự mà tự tin thực hiện phép tính trừ, đối với phép chia cho số chia .
12 : x = 4 . Học sinh thực hiện ngay 12 : 4 = 3.
      - Trong quá trình dạy, giáo viên luôn tìm ra phương pháp dạy thích hợp, có
trọng tâm, bằng phương pháp trực quan sinh động, giảng giải vấn đáp, chơi trò
chơi toán học, thi đua tập ra đề toán, trò chơi tiếp sức… hối hợp đan xen nhau, tạo
hứng thú cho các em tiếp thu bài tốt hơn.
      - Khi giảng dạy giáo viên chú ý theo dõi học sinh yếu kém, khuyến khích
các em tích cực phát biểu, cái quan trọng là giáo viên thường xuyên gọi các em yếu
thực hành nhiều hơn, có thể s nhỏ bài tập hoặc cho thêm bài trắc nghiệm với mức
độ yêu cầu vừa sức các em, giúp các em khắc phục tính ngại khó, giúp các em hiểu
các thuật ngữ suy luận, chỉ rõ những kiến thức cần khắc sâu, cần nhớ kỹ.
      - Kích thích động viên đúng lúc khi các em có tiến bộ hay đạt được một số
kết quả, Đồng thời phân tích chỗ sai cho các em nếu có, phê phán đúng mức thái
độ lơ là khi học, tránh nói chạm lòng tự ái học sinh.
      - Điều quan trọng cần nói đến nữa là giáo viên tạo không khí cởi mở, tạo
tình cảm thân thiện, gần gũi, tránh sự nặng nề áp lực để các em cảm thấy thích học
và dần dần thay đổi về chất.
      - Thường xuyên theo dõi kiểm tra sau mỗi tiết học, mỗi tuần học, phát hiện
kịp thời những kiến thức các em chưa nắm được để có sự điều chỉnh ph hợp với
kế hoạch phụ đạo.
      - Tổ chức cho học sinh khá giỏi thường xuyên giúp đ học sinh yếu kém về
học tập, về phương pháp vận dụng kiến thức.


                                                                           Trang: 7
      - Giáo viên tổ chức cho học sinh giỏi kèm học sinh yếu, phụ đạo học sinh
yếu trong giờ tự học, tự ôn tập ở trong lớp những kiến thức để các em nắm vững
hơn, sau buổi học phụ đạo giáo viên có kế hoạch kiểm tra trên giấy để nắm được
mức độ tiến bộ của các em, tuyên dương sự tiến bộ của các em trước lớp, nhằm
động viên khuyến khích các em ham học và học tốt hơn d đó là tiến bộ nhỏ.
      - Giáo viên thường xuyên liên lạc với gia đình các em học yếu để báo cáo
tình hình học tập của các em học yếu, kết hợp phụ huynh đôn đốc, động viên các
em học tập đạt hiệu quả cao hơn.
IV. Hi u quả của    ng kiến kinh nghi m
      - Qua các biện pháp nêu trên đã giúp các em học sinh yếu của lớp có sự tiến
bộ một cách rõ rệt, đưa chất lương học tập nâng cao dần, Cụ thể: Đầu năm học
khảo sát chất lượng có 8 em dưới trung bình môn toán tỉ lệ 29,62%
      - Qua quá trình phụ đạo mức chất lượng có từng bước nâng dần lên, cụ thể
trong kiểm tra học kì I không có học snh dưới trung bình. Hy vọng rằng đến cuối
năm lớp 41 s không còn học sinh yếu môn toán.


                               PHẦN KẾT LUẬN


I. Nh ng ài học kinh nghi m
      - Với tinh thần trách nhiệm, giáo viên kiên trì bền bỉ, chịu khó trong công
tác phụ đạo học sinh yếu,theo dõi sát từng đối tượng học sinh trong lớp để kịp thời
phát hiện những kiến thức các em chưa nắm hoặc còn mập mờ, nhằm đề ra kế
hoạch phụ đạo ph hợp, đúng lúc kịp thời s mang lại hiệu quả cao. Đó là những
kiến thức chuẩn, cơ bản làm hành trang vào lớp năm.
II.   ngh a của    ng kiến kinh nghi m
      - Khi dạy học trên lớp, chúng ta luôn thấy rằng trình độ nhận thức của các
em không đồng dều, thái độ học tập của các em cũng rất khác nhau. Vì vậy sự
quan tâm theo dõi sát từng học sinh để giúp đ phụ đạo học sinh yếu là điều cần

                                                                           Trang: 8
thiết và không thể thiếu được trong quá trình dạy học. Việc phụ đạo không thể xem
nh .   o đó giáo viên chủ nhiệm cần phải quan tâm đúng mức và có kế hoạch cụ
thể, nội dung và phương pháp phải ph hớp, vừa sức, thực hiện việc này phải xem
là việc làm thường xuyên, đều đặn mới mang lại hiệu quả.
III. Khả n ng ứng dụng t i n khai.
       - Đối với loại đề tài này không phải là vấn đề khó khăn hay phức tạp, mà
cũng không phải là vấn đề mới m đối với ai đã vào nghề dạy học. Tôi hy vọng
rằng giáo viên chủ nhiệm hãy nói và làm đúng theo ngh a của câu: “ Tát cả vì học
sinh thân yêu.
IV. Nh ng kiến ngh đề u t.
       - Đề nghị hòng Giáo    ục và Ban giám hiệu nhà trường lên kế hoạch hoạt
động hè bằng hình thức vui chơi kết hợp với ôn luyện những kiến thức cơ bản nhất
trong chương trình mà các em đã học.


                                                                    0   ăm 20
                                                  Ngư i viết.




                                                                         Trang: 9

								
To top