Docstoc

lan van

Document Sample
lan van Powered By Docstoc
					Trên đường đến với tư duy lý luận văn học của Trương Đăng Dung
Ngô Hương Giang - 17-10-2011 09:39:43 AM
VanVN.Net - Tư duy lý luận văn học của Trương Đăng Dung là quá trình cụ thể hóa
nhận thức triết học của ông. Nhận thức triết học ở Trương Đăng Dung đã chỉ ra đặc trưng
hệ thống hóa trong tri thức của ông, một quá trình “nương nhờ” qua lại của những dòng
tư tưởng.
Đặc trưng ấy đã đưa nhận thức luận văn học của Trương Đăng Dung tới quá trình tư duy
lại văn học hợp lý. Trong hệ thống tri thức thuộc khoa học văn học của mình, ông đã xác
định đặc trưng lí tính của các bộ phận cấu thành nó, mà trong tính chỉnh thể, các bộ phận
ấy có sự nương nhờ lẫn nhau về tư tưởng. Phê bình văn học nương nhờ lý thuyết văn
học(1) để xây dựng đặc trưng quan niệm logic về tác phẩm hoặc một trào lưu, nền văn
học cụ thể. Lý thuyết văn học nương nhờ nhận thức lịch sử văn học để biết thế giới sống
trên văn bản là một tiến trình nối kết giữa các nền văn học và giữa các thế hệ người đọc.
Lý thuyết văn học quan tâm đến cấp độ tư duy phạm trù, đặt nền tảng nhận thức luận vào
khám phá và giải quyết các quy luật văn học.
Do đó, lý thuyết văn học cần được nhận thức như là quá trình tìm kiếm trong thế giới tinh
thần những điểm nối kết và kế thừa, mà di sản hiện tại của văn học là kết quả thông điệp
của hệ thống tri thức quá khứ. Nó cần được diễn giải khai mở và sáng tạo.
Nói như vậy, lịch sử văn học cũng phải nương nhờ tư duy lý thuyết văn học để thấy được
hệ hình logic(2) mà các nhà lý thuyết đề xuất phù hợp với đặc trưng nhận thức thời đại.
Do đó, tính xuyên suốt của lịch sử văn học cần được ghi nhận ở tính liền mạch của quá
trình nhận thức và tự nhận thức từ phía chủ thể diễn giải văn học. Điều ấy lại cần nhờ tới
đặc tính trung giới của ngôn ngữ diễn giải. Nhưng ngôn ngữ văn học cũng là sản phẩm
của một nhóm diễn giải cụ thể, trong đó, tác giả là diễn giải ban đầu cho văn bản mà họ
tiếp cận. Vậy lịch sử của khoa nghiên cứu văn học là lịch sử của quá trình tác động giữa
các bộ phận của nó với diễn giải tiếp nhận nó. Sự ràng buộc ấy có căn nguyên từ thế giới
tư tưởng nằm trong triết học. Vậy, khoa học nghiên cứu văn chương dù phân chia theo
hướng nào thì nó cũng không tách rời với ý thức hệ triết học. Vì ý thức hệ triết học phản
ánh lịch sử tư tưởng và đấu tranh tư tưởng của một thời đại nhất định, nó biểu hiện đặc
trưng nhận thức về thế giới hiện tượng một cách có hệ thống của chủ thể ý hướng tính.
Việc Trương Đăng Dung chỉ ra các giới hạn của khoa nghiên cứu văn học đã chứng minh
đặc trưng của nghiên cứu văn học nằm ở tính cố kết bền vững tri thức liên ngành.
Lý luận văn học truyền thống đặt nền tảng nhận thức vào câu hỏi: Văn học là gì? Phê
bình truyền thống truy tìm cách giải quyết: Tác phẩm văn học được biểu hiện như thế
nào? Lịch sử văn học truyền thống nhất nhất truy nguyên : Bối cảnh nào làm nảy sinh tác
phẩm văn học? Nhận thức trên đã được Trương Đăng Dung tư duy lại.
Lí luận truyền thống hướng vào đối tượng cá biệt được nghiên cứu. Các nhà lí thuyết vì
một lí do ý thức hệ đã cố tách các bộ phận nghiên cứu thuộc khoa nghiên cứu văn học
vào các logic độc lập. Trong khi đó, ngoài chức năng nhận thức đối tượng, mỗi phân môn
trong khoa học văn học còn hướng đến chức năng siêu khoa; không chỉ ở đối tượng đặc
thù, văn học còn lấy bản thân nó làm đối tượng nghiên cứu(3). Quá trình tri thức văn học
nương nhờ tri thức khoa học là đặc trưng “vắt dòng tri thức” liên ngành. Tuy nhiên dù cố
phân biệt rạch ròi giữa lí thuyết văn học, lịch sử văn học, phê bình văn học thì các nhà lí
luận truyền thống vẫn vấp phải khả năng tự phá vỡ từ quá trình hiện thực hóa đối tượng
có tính đặc thù từng ngành. Lịch sử văn học(4) nếu đứng biệt lập giải quyết các vấn đề
văn bản thì nó lại thiếu khả năng mô tả và bao quát bối cảnh bên trong văn bản. Phê bình
văn học(5) thì bất cập trong logic nhận thức: hoặc logic xúc cảm, hoặc logic lí tính. Lý
thuyết văn học(6) bị phá vỡ bởi đặc trưng diễn giải và phương pháp luận nhận thức các
quy luật văn chương, dẫn tới hệ quả phụ thuộc hoặc chịu đồng quy vào một trào lưu, một
khuynh hướng triết học.
Trương Đăng Dung đã đi qua những giới hạn khủng hoảng đó, đặt lịch sử tinh thần như
tấm gương, mà ở đó, các bộ phận khác nhau của khoa nghiên cứu văn học soi mình và tự
hoàn thiện mình. Lịch sử tinh thần như là vận động biện chứng của những dòng tư tưởng
văn học, mà mỗi thời điểm diễn giải văn học chỉ là một nút neo đậu tư tưởng trong chuỗi
dài nhận thức chung của văn hóa . Lịch sử văn bản muốn tái hiện lại không khí, thời đại
tác giả khởi phát sáng tạo phải căn cứ vào thế giới tinh thần có trước nhà văn đồng thời
với hiện thực nơi nhà văn đã sống. Lý thuyết văn học đi từ logic triết học đến logic văn
học, nghiên cứu, phát hiện các phương pháp mới, phá vỡ những phong bế từ diễn trình
văn học. Phê bình văn học không chỉ nương nhờ lịch sử văn học và lý thuyết văn học, mà
còn nương nhờ thế giới văn hóa tích tụ theo các dãy văn bản để thẩm định tác phẩm văn
học một cách hợp lý nhất.
Trương Đăng Dung đặt nhận thức luận văn học của mình trên nền tảng luận về logic tinh
thần của W. Dilthey. Do đó, ngoài việc tránh sa vào cực đoan lý thuyết ngành, ông còn
hướng đến đặc trưng dự phóng liên ngành nằm ở ngôn ngữ văn bản. Đó là điểm phát hiện
sâu sắc trong tư duy lí luận Trương Đăng Dung.
Dilthey cho rằng, hoạt động diễn giải có điểm phát xuất là đối tượng, dù muốn hay không
vẫn phải bám vào đối tượng, vì vậy phạm vi lý giải cần được mở rộng từ cách tiếp cận
các bộ phận của đối tượng, sau đó xem xét và tìm đến khái quát của vấn đề cần tìm hiểu.
Quá trình đó theo ông là quá trình liên tục của những phán đoán, suy lý.
Tính biện chứng cho diễn giải của Dilthey ở chỗ, ông xem quá trình đi từ cái riêng đến
cái chung không phải là diễn tiến một chiều, mà đòi hỏi tìm hiểu ngược trở lại cá biệt từ
tầm khái quát của diễn giải, tức quá trình hiểu và diễn giải về đối tượng là quá trình “kép”
giữa cái chung và cái riêng.
Dilthey cho rằng, vì ngôn ngữ là sở hữu của cả cộng đồng người sáng tạo và lưu giữ theo
thời gian, mang chứa những cách thức suy tư của con người; muốn hiểu những cách thức
suy tư ấy cần phải đi vào văn bản, lý giải các biểu tượng, kí hiệu. Lĩnh vực có thể giúp
diễn giải làm được điều ấy là các ngành thuộc khoa học nhân văn, trong đó, trung tâm là
văn học.
Tính liên đới của các vấn đề tư tưởng thúc ép nhà sáng tạo không thể phát kiến trên văn
bản, nếu không dựa vào tinh thần của một giai đoạn văn hóa cụ thể(7). Lĩnh vực tinh thần
là lĩnh vực của sự tổng hợp các tính cách tâm lý, do vậy, nghiên cứu về khoa học tinh
thần là nắm được thế giới tâm lý sống của những con người (hoặc cộng đồng) người “xa
lạ”, đứt quãng về không gian và thời gian, nối kết họ lại trong sự thông hiểu lẫn nhau. Sự
nối kết ấy có được là nhờ diễn giả tiếp cận và giải mã “những biểu hiện được ghi lại một
cách lâu bền”, “những bằng chứng thuộc về con người được ghi lại qua sự viết” và
“những tượng đài kỉ niệm bằng văn bản”. Nhận thức văn học của Trương Đăng Dung đã
giao thoa với nhận thức triết học của Dilthey, đưa logic lý thuyết văn học của ông đến
chỗ giao nhau với logic phức hợp về tri thức, trong đó khả năng tổng hợp: tác giả - tác
phẩm – người đọc với lý thuyết - lịch sử - phê bình văn học gặp nhau trong đặc trưng
chung diễn giải về ngôn ngữ.
Trên đường đến với tư duy lí luận hiện đại, Trương Đăng Dung đã nhìn thấy ở ngôn
ngữ(8) khả năng hòa giải cần thiết đối với các quan niệm văn học, đặt tính đồng quy của
ngôn ngữ vào khả tính nhận thức. Ngôn ngữ văn học dù được cấu thành ra sao, biểu
tượng hay là những dự- tín ký hiệu, thì cũng đảm bảo đặc trưng truyền thông điệp qua các
thế hệ đọc. Trong đó, chủ thể sáng tạo hay chủ thể đọc được đồng quy vào khái niệm chủ
thể diễn giải. Tri thức văn học là quá trình dung nạp và dụng điển lẫn nhau qua trung giới
là ngôn ngữ văn bản. Giải quyết những vấn đề trên văn bản không phải là hướng đi về
nghĩa, mà lý thuyết văn học hiện đại hướng tới diễn giải ý nghĩa của nó. Nghĩa là căn
bản để văn bản tồn tại, thì ý nghĩa là ý niệm được hướng tới lại nằm về cả hai phía nhà
văn và người đọc. Các nhà lý thuyết Marxits do quá đặt nặng tới vấn đề nghĩa của văn
bản cho nên đã cực- đoan hóa khả năng tự- làm đầy về ý nghĩa của tác giả, trong khi đó,
để xây dựng nghĩa của văn bản, chủ thể sáng tạo phải viện dẫn vô số những ý niệm quá
khứ về tri thức .
Vậy là, khi nhà văn cố gắng hướng đến nghĩa độc sáng của mình trên văn bản, thì ý niệm
về tri thức trên văn bản đã xuất hiện trước khi xuất hiện nghĩa. Nói đúng ra, nghĩa của
văn bản là hình thức che đậy ý niệm tri thức (ý nghĩa) từ lịch sử nhận thức, vì vậy, điểm
quyết định đến sự tồn tại của văn bản văn học phải là sự nối kết ý nghĩa. Diễn giải về văn
bản không phải là cắt nghĩa văn bản mà là nối kết các ý niệm văn học giữa nhà văn và
người đọc, là đặc trưng nối kết kinh nghiệm mỹ cảm giữa các thế hệ diễn giả. Đó là quá
trình tương thông văn hóa, tri thức và tương thông ngôn ngữ văn bản...
Tư duy lý luận của Trương Đăng Dung theo hướng tương tác hệ thống: bản thể luận - thế
giới tinh thần và thế giới ngôn ngữ- biểu tượng và khả năng cụ thể hóa thành các vấn đề
trên văn bản: tác giả - tác phẩm – bạn đọc, quy định đặc tính vướng líu giữa các mô hình
lý thuyết trong khoa nghiên cứu văn học, vận đông theo quy luật chung của tri thức văn
học thế giới.

_________
(1) Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, tr. 13.
(2) Trương Đăng Dung (1998), Sđd, tr. 15.
(3) Trương Đăng Dung (1998), Sđd, tr.17.
(4) “Những giới hạn của lịch sử văn học”: Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học
như là quá trình, tr. 202-218.
(5) Trương Đăng Dung, “Những giới hạn của phê bình văn học”, TC Văn học, số 6 -
1993.
(6) Trương Đăng Dung, “Những giới hạn của cộng đồng diễn giải”, TC nghiên cứu văn
học, số 9 -2008.
(7) Phan Quang Định (2008), Toàn cảnh triết học Âu Mỹ thế kỷ XX, NXB Văn học, Hà
Nội, tr. 204.
“Trong khoa học về tinh thần, toàn bộ đời sống tâm lý đâu đâu cũng cấu tạo một dữ kiện
nguyên thủy và căn bản. Về thiên nhiên, thì chúng ta giải thích; về đời sống tâm hồn thì
chúng ta hiểu biết. Vì những tác động thu hoạch, vì những cách biệt theo đó những cơ
năng tâm lý, tức là những yếu tố riêng biệt của đời sống tâm hồn, tổ hợp thành một toàn
bộ, đều là những dữ kiện mà chúng ta biết được nhờ kinh nghiệm nội tâm. ở đây, toàn bộ
được sống cảm là cái nguyên thủy, chỉ sau này, người ta mới phân biệt những phần cấu
thành toàn bộ ấy”.
(8) Trương Đăng Dung, “Trên đường đến với tư duy lý luận văn học hiện đại”.

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Tags:
Stats:
views:20
posted:4/25/2012
language:
pages:3