9h19 chuong trinh GDMN Nha tre1 by Ked51li

VIEWS: 43 PAGES: 49

									PHẦN MỘT

                              MỤC TIÊU GIÁO DỤC

I. TRẺ 12 THÁNG TUỔI

1. Phát triển thể chất
    - Cân nặng và chiều cao nằm trong kênh A, cụ thể:
     Trẻ trai: Cân nặng từ 8.1 đến 12.4 ( kg)
                  Chiều cao từ 70.7 đến 81.5 (cm)
     Trẻ gái: Cân nặng từ 7.4 đến 11.6 ( kg)
                   Chiều cao đạt 68.6 đến 80.6(cm)
    - Có thể đứng lên, ngồi xuống, đi một vài bước chập chững.
    - Có thể cầm một vật chuyển từ tay này sang tay kia.
    - Có thể nhặt được vật bằng các ngón tay.
2. Phát triển nhận thức
    - Thích thú khi nhìn tranh ảnh, đồ chơi có màu sắc sặc sỡ
    - Chỉ được một số đồ vật, đồ chơi quen thuộc khi nghe tên gọi
    - Chỉ được một số bộ phận cơ thể khi nghe tên gọi
    - Nhận ra người lạ, người quen.
3. Phát triển ngôn ngữ:
    - Nhắc lại được một số âm của người lớn
    - Hiểu được câu hỏi Đâu? ở đâu?
    - Nói được một vài từ.
4. Phát triển tình cảm- xã hội
    - Bộc lộ cảm xúc khi nghe các âm thanh khác nhau
    - Bộc lộ cảm xúc với người lạ, người quen
    - Bắt chước một số điệu bộ, cử chỉ, động tác của người lớn như chào, vẫy tay...
II. TRẺ 12 THÁNG TUỔI
1. Phát triển thể chất
    - Cân nặng và chiều cao nằm trong kênh A, cụ thể:
           Trẻ trai: Cân nặng từ 9.9 đến 15.2 ( kg)
               Chiều cao từ 80.9 đến 94.9 ( cm)
           Trẻ gái: Cân nặng 9.4 đến 14.5 ( kg)
               Chiều cao từ 79.9 đến 93.3 ( cm)
    - Bước lên 5 bậc cầu thang có vịn
    - Xếp chồng 4 khối
    - Cầm được thìa xúc ăn, cầm cốc uống nước, tự đi dép...
    - Đi vệ sinh đúng nơi quy định theo sự hướng dẫn của cô.
    - Biết thể hiện một số nhu cầu về ăn uống và vệ sinh bằng cử chỉ
    - Biết một số vật dụng gây nguy hiểm.
2. Phát triển nhận thức:
    - Thích chơi với các đồ chơi
    - Chỉ và nói được tên đồ dùng, đồ chơi, con vật, hoa quả quen thuộc
    - Biết sử dụng một số đồ dùng, đồ chơi
    - Biết tên của bản thân và một số người thân trong gia đình
    - Chỉ và nói được tên một số bộ phận cơ thể của bản thân: mắt, mũi, tay,
       chân...
3. Phát triển ngôn ngữ
    - Nhắc được câu 3-4 từ
    - Hiểu, làm theo chỉ dẫn đơn giản của người lớn
    - Trả lời được câu hỏi đơn giản như: Ai?, Cái gì? Thế nào?
    - Nói được câu 3 từ


                     Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
4. Phát triển tình cảm- xã hội
    - Thích bắt chước một số hành động: ôm ấp, vỗ về, cho búp bê ăn...
    - Thích nghe hát, nghe nhạc
    - Thích xem sách, tranh ảnh có màu sắc...
    - Cảm nhận và biểu lộ cảm xúc: hớn hở, sợ hãi...

III. TRẺ 36 THÁNG TUỔI
1. Phát triển thể chất
    - Cân nặng và chiều cao nằm trong kênh A cụ thể:
            Trẻ trai: cân nặng từ 11.6 đến 17.7 ( kg)
                        Chiều cao từ 89.4 đến 103.6 ( cm)
            Trẻ gái: Cân nặng từ 11.1 đến 17.2( kg)
                       Chiều cao từ 88.4 đến 102.7 ( cm)
    - Đi thẳng người
    - Chạy theo hướng thẳng và đổi hướng không mất thăng bằng
    - Bật xa bằng 2 chân khoảng 20cm
    - Chắp ghép được các mảnh hình
    - Xâu hạt
    - Đi vệ sinh đúng nơi quy định
    - Tự xúc cơm, cầm cốc uống nước
    - Cởi tất, quần khi bị bẩn
    - Nhận biết một số vận dụng và nơi nguy hiểm
2. Phát triển nhận thức
    - Thích khám phá đồ vật
    - Gọi tên và nói được chức năng của một số bộ phận cơ thể ( mắt, mũi, tay, tai,
       miệng, chân, đầu)
    - Biết tên cô giáo và một số bạn trong lớp
    - Biết dùng một số đồ vật thay thế trong trò chơi
    - Nhận biết được một vài đặc điểm nổi bật của một số đồ vật, hoa quả, cây cối,
       con vật gần gũi ( màu sắc, hình dạng) và công dụng
    - Nhận ra 3 màu cơ bản ( đỏ, vàng, xanh)
3. Phát triển ngôn ngữ
    - Phát âm rõ
    - Đọc được thơ, kể lại truyện ngắn quen thuộc theo tranh
    - Diễn đạt được bằng lời nói các yêu cầu đơn giản
    - Trả lời được câu hỏi: Để làm gì? Tại sao?
4. Phát triển tình cảm- xã hội
    - Thích chơi với bạn
    - Nhận biết cảm xúc: vui, buồn, sợ hãi...
    - Thực hiện yêu cầu đơn giản của người lớn
    - Thích tự làm một số việc đơn giản
    - Biết chào hỏi, cám ơn
    - Biết được một số việc được phép làm, không được phép làm
    - Thích hát một số bài hát quen thuộc và vận động đơn giản theo nhạc
    - Vẽ nguệch ngoạc bằng bút sáp, phấn...
PHẦN 2
HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ SINH HOẠT
A. NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN
Chế độ sinh hoạt là sự phân bổ hợp lí về thời gian và các hoạt động trong ngày ở
nhà trẻ nhằm đáp ứng nhu cầu về tâm lí, sinh lí của trẻ, qua đó giúp trẻ hình thành
thái độ sống, nề nếp, thói quen và những kĩ năng sống tích cực.
Tùy theo điều kiện thực tế địa phương, tùy theo mùa có thể điều chỉnh thời gian biểu
cho phù hợp, nhưng khi thực hiện cần theo các nguyên tắc sau:


                     Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
   1. Đảm bảo tính khoa học, hợp lí, vừa sức, phù hợp với nhịp điệu sinh học của
      trẻ theo lứa tuổi và cá nhân trẻ.
   2. Nội dung hoạt động một ngày cần phong phú, đa dạng, gần gũi với cuộc sống
      thực của trẻ, đáp ứng mục tiêu phát triển của trẻ.
   3. Phân phối thời gian thích hợp và có sự cân bằng giữa các hoạt động tĩnh và
      động, giữa họat động trong lớp và ngoài trời, giữa hoạt động chung của cả lớp
      và hoạt động theo nhóm, cá nhân.
   4. Đảm bảo trình tự được lặp đi lặp lại, nhằm tạo nề nếp và hình thành thói quen
      tốt ở trẻ.
   5. Đảm bảo cho mọi trẻ được hoạt động tích cực và phù hợp với đặc điểm riêng
      của từng trẻ, tránh sự đồng loạt, gò bó, cứng nhắc.
   6. Đảm bảo sự linh hoạt, mềm dẻo nhằm đáp ứng các nhu cầu của trẻ đang
      trong thời kì lớn lên và phát triển, phù hợp với điều kiện từng vùng miền địa
      phương.

B. GỢI Ý THỜI KHÓA BIỂU
Trẻ từ 3-6 tháng tuổi
Thời gian                    Hoạt động
7h00-7h30                    Đón trẻ
7h30- 9h00                    Ngủ ( lần 1)
9h00- 9h30                   Bú mẹ ( lần 1)
9h30- 10h30                  Chơi- Tập
10h30 -12h30                 Ngủ ( lần 2)
12h30- 13h00                 Bú mẹ ( lần 2)
13h – 14h00                  Chơi – Tập
14h00 – 15h30                Ngủ ( lần 3)
15h30 – 16h00                Bú mẹ ( lần 3)
16h00 – 17h00                Chơi/ Trả trẻ

Trẻ từ 6-12 tháng tuổi
Thời gian                    Hoạt động
7h00- 8h00                   Đón trẻ, tắm nắng
8h00 – 9h30                  Ngủ ( lần 1)
9h30-10h30                   Ăn
10h30 – 11h30                Chơi- Tập
11h30 - 12h00                Bú mẹ
12h00 – 14h00                Ngủ ( lần 2)
14h00 – 15h00                Ăn
15h00 – 16h00                Chơi- Tập
16h00 – 17h00                Trẻ bé ngủ ( lần 3)
                             Trẻ lớn chơi/ Trả trẻ.

Trẻ từ 12-18 tháng tuổi
Thời gian                    Hoạt động
 7h00- 8h00                  Đón trẻ, tắm nắng
8h00- 8h30                   Chơi- Tập
8h30- 10h00                  Ngủ ( lần 1)
10h00 – 11h00                Ăn chính
11h00 – 12h00                Chơi- Tập
12h00 – 12h30                Ăn phụ
12h30 – 14h00                Ngủ ( lần 2)



                     Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
14h00 – 15h00                 Ăn chính
15h00 – 17h00                 Chơi/ Trả trẻ

Trẻ 18 – 24 tháng tuổi
Thời gian                     Họat động
7h00 – 8h00                   Đón trẻ, tắm nắng, tập thể
                              dục sáng
8h00- 10h00                   Chơi – Tập
10h00 – 11h00                 Ăn chính
11h00 – 14h00                 Ngủ
14h00- 14h20                  Ăn phụ
14h20- 15h00                  Chơi – Tập
15h00- 16h00                  Ăn chính
16h00 – 17h00                 Chơi – Trả trẻ

Trẻ 24- 36 tháng tuổi
Thời gian                     Hoạt động
7h00- 8h00                    Đón trẻ, tắm nắng, thể dục
                              sáng
8h00- 10h00                   Chơi- Tập
10h00- 11h00                  Ăn chính
11h00- 14h00                  Ngủ
14h00- 14h20                  Ăn phụ
14h20- 15h00                  Chơi- Tập
15h00 – 16h00                 Ăn chính
16h00 – 17h00                 Chơi/ Trả trẻ

C. HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ SINH HOẠT
I. ĐÓN TRẺ
1. Trước khi đón trẻ
    - Một cô đến trước chuẩn bị một số việc sau:
    - Làm vệ sinh, thông thoáng phòng, sắp xếp giường chiếu ( nhiều nhóm trẻ 3-
      12 tháng đến là ngủ ngay)
    - Chuẩn bị đồ dùng, quần áo hoặc tã lót, nước uống, nước sinh hoạt hằng ngày
    - Chuẩn bị đồ chơi và góc chơi cho trẻ
    - Chuẩn bị tư thế sẵn sàng đón trẻ
2. Trong giờ đón trẻ
    - Cần bố trí 2 cô đón trẻ thái độ vui vẻ, niềm nở. Đối với trẻ từ 7-8 tháng trở
      lên, cô tập cho trẻ “ ạ”, trẻ lớn hơn tập cho trẻ chào cô, chào ba mẹ.
    - Cô giáo trao đổi nhanh về tình hình sức khỏe của bé, về thói quen của những
      trẻ mới đến nhà trẻ hoặc thông báo những điều cần thiết và nhắc nhở những
      quy định chung của nhà trẻ. Nếu trẻ sốt hoặc đang mắc những căn bệnh lây (
      hoặc nghi ngờ trẻ đang mắc bệnh lây như sởi, thủy đậu....), cần trả trẻ lại gia
      đình để chăm sóc và cách li đủ thời gian theo quy định mới nhận trẻ trở lại
      nhóm.
    - Cô quản trẻ cần bao quát được tất cả trẻ đã nhận vào nhóm
    - Thời gian đầu trẻ mới đi nhà trẻ, thường hay khóc vì chưa quen cô, quen bạn.
      Vì vậy, một vài ngày đầu cô nên gần gũi, tiếp xúc làm quen với trẻ khi có cả
      cha mẹ trẻ, sau đó đón dần trẻ vào nhóm. Khi trẻ vào nhóm, cô phải nhẹ
      nhàng, tươi cười, dỗ dành và cho trẻ chơi đồ chơi trẻ thích. Trường hợp cá biệt
      trẻ khó xa rời bố mẹ, hãy cho trẻ mang một vật gì đó mà trẻ thích nhất ở nhà




                      Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
       đến nhóm. Đến khi trẻ đã quen với sinh hoạt nhóm, cô cho trẻ tự lấy đồ chơi
       theo ý thích, bố trí các góc chơi hợp lí.
   -   Cô nắm sĩ số trẻ để theo dõi trong ngày và báo ăn
   -   Đối với trẻ 18- 36 tháng, cô thu dọn phòng nhóm gọn gàng để cho trẻ tập thể
       dục sáng, tạo điều kiện cho trẻ tắm nắng, tắm không khí trong lành. Có thể
       cho trẻ tập ở trong nhà, hành lang, hiên nhà hoặc cho trẻ tập ngoài sân tùy
       thuộc vào điều kiện cụ thể của phòng nhóm và thời tiết. Nên cho trẻ tập theo
       nhạc là tốt nhất.

II. THỜI ĐIỂM CHƠI – TẬP TRONG CHẾ ĐỘ SINH HOẠT HẰNG NGÀY
1. Thời điểm chơi- tập cho trẻ từ 6-12 tháng tuổi
Tổ chức cho trẻ chơi tập được thực hiện 2 lần trong ngày ( buổi sáng và buổi chiều)x
lúc trẻ đang thức trong tâm trạng thoải mái. Thời lượng chơi- tập cho trẻ tùy thuộc
vào từng độ tuổi và nội dung cụ thể của từng hoạt động giáo dục. Trong thời điểm
này gồm có:
a. Chơi- Tập có chủ định
     - Với trẻ lứa tuổi này, cô tiến hành lần lượt với từng trẻ trong khoảng thời gian
         quy định chơi- tập buổi sáng của thời gian biểu.
     - Chơi- Tập có chủ định gồm các nội dung sau: Phát triển vận động, nhận biết
         và luyện các giác quan, trò chuyện, tập nghe, tập nói, tập nghe hát, nghe
         nhạc.
     - Kết hợp chơi- Tập có chủ định trong thời gian biểu hằng ngày, sao cho mỗi
         ngày các trẻ được tham gia vào hoạt động chơi- tập có chủ định với nội dung
         của một trong những hoạt động trên là nội dung trọng tâm tích hợp với nội
         dung của hoạt động khác, mang tính chất bổ trợ phù hợp với nội dung trọng
         tâm đó
b. Chơi với đồ chơi, chơi trò chơi dân gian và chơi các thiết bị đồchơi
Với mỗi trẻ sau thời gian chơi- tập có chủ định cho trẻ chơi các trò chơi nhẹ nhàng,
hoặc chơi với các đồ chơi tự do nhằm phát triển các giác quan, vận động..hoặc chơi
với các đồ chơi, thiết bị như ( xe tập đi, bập bênh, con giống nhún.....). sau đó
chuyển sang trò chơi vui vẻ như Chi chi chành chành, Nu na nu nống...hay trò
chuyện âu yếm với trẻ.
c. Chơi- Tập buổi chiều
Trong thời điểm này, cô giáo cho trẻ chơi với các đồ chơi hoặc chơi các trò chơi giải
trí, cô có thể trò chuyện với trẻ qua các cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, lời nói âu yếm. Với
trẻ chưa biết ngồi, giáo viên chơi với từng trẻ một. Với các trẻ đã biết ngồi, cô giáo
có thể tổ chức cho 2-3 trẻ ngồi cạnh chơi tự do với đồ chơi, hoặc cùng chơi với đồ
chơi, thiết bị ở các góc chơi, chơi trò chơi Ú òa, Chi chi chành chành,....
2. Thời điểm chơi- tập cho trẻ từ 12-24 tháng tuổi trong chế độ sinh hoạt
hằng ngày
Có sự khác biệt về thời gian tổ chức chơi- tập của trẻ từ 12-18 tháng và từ 18-24
tháng:
     - Với trẻ 12-18 tháng tuổi: Chơi – tập được tổ chức vào sau giờ đón( khoảng 30
         phút) và sau khi trẻ ăn chính lần 1.
     - Với trẻ từ 18-24 tháng tuổi: Chơi – tập được tổ chức vào sau giờ đón buổi
         sáng( 120 phút) và sau ăn phụ buổi chiều ( 40 phút). Trong thời gian chơi tập
         buổi sáng gồm có:
a. Chơi- tập có chủ định
      Với trẻ 12-18 tháng tuổi
- Chơi- tập có chủ định tiến hành trong khoảng thờ gian chơi- tập được quy định
trong thoiừ gian biểu ở buổi sáng, tập sau khi ăn 30 phút. Cô giáo lựa chọn nội dung
thích hợp để lên kế hoạch tuần sao cho hằng ngày các trẻ được tham gia vào hoạt
động được quy định trong thời gian biểu ở buổi sáng, tập sau khi ăn 30 phút. Cô giáo


                      Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
lựa chọn nội dung thích hợp để lên kế hoạch tuần sao cho hằng ngày các trẻ được
tham gia vào hoạt động chơi- tập có chủ định với một hoạt động trọng tâm tích hợp
với một nội dung mang tính chất bổ trợ phù hợp. Các hoạt động đó bao gồm: hoạt
động phát triển vận động, hoạt động nhận biết, tập luyện các giác quan, xem tranh/
nghe đọc thơ, kể chuyện/ tập nói, tập nghe bìa hát/ nghe nhạc/ tập hát...
- Với trẻ từ 12-18 tháng tuổi, chơi- tập có chủ định được tổ chức với nhóm nhỏ 3-4
trẻ, mỗi lần tập của mỗi nhóm khoảng 6-7 phút. Trong quá trình thực hiện chơi- tập
có chủ định, cô giáo nên phối hợp xen kẽhợp lí giữa nội dung có tính chất động với
nội dung có tính chất tĩnh.
Sau thời gian cho trẻ chơi- tập có chủ định, cô có thể cho trẻ chơi với đồ chơi, hoạt
động theo ý thích dưới sự giám sát của cô.
Cô giáo lập kế hoạch chơi- tập có chủ định cho từng nhóm trẻ có cùng độ tuổi có
mức độ phát triển tương đồng, đảm bảo hằng ngày trẻ đều được tham gia vào các
hoạt động này.
     Với trẻ 18-24 tháng tuổi:
- Tập một lần vào buổi sáng, tập với nhóm nhỏ 6-7 trẻ, mỗi lần tập khoảng 8-10
phút, có sự xen kẽ giữa nội dung có tính chất động và tĩnh.
- Nếu trẻ không còn hứng thú thì ngừng tập luyện và chuyển cho trẻ chơi tự do với
các đồ chơi hoặc các trò chơi dân gian.
b. Chơi với đồ chơi, trò chơi dân gian, trò chơi vận động và các thiết bị đồ
chơi ở các góc.
- Cô giáo cho trẻ chơi tự do với các đồ chơi khác nhau nhằm phát triển các giác quan,
phát triển cử động các ngón tay, bàn tay...cô có thể cùng chơi với trẻ trò chơi dân
gian mang tính chất giải trí nhẹ nhàng theo nhóm, hoặc chơi với các đồ chơi thiết bị
mà trẻ thích ở các góc. - - Tốt nhất cô nên chọn những đồ chơi phát triển ngôn ngữ,
cho trẻ chơi với các đồ chơi khác nhau như ôtô, búp bê, xếp, chồng, chơi bập bênh,
cầu trượt...có thể cùng chơi với trẻ trò chơi vận động nhẹ nhàng, kết hợp với lời ca
tạo sự vui vẻ, thoải mái.
c. Chơi- tập buổi chiều:
- Trong thời điểm này, cô giáo có thê tổ chức cho trẻ tham gia các hoạt động nhẹ
nhàng theo ý thích: chơi với đồ chơi, các thiết bị đồ chơi ở các khu vực hoạt động
hoặc chơi trò chơi giải trí, hoặc xem tranh, trò chuyện với trẻ, nghe đọc thơ, hát
những bài hát mà trẻ yêu thích.
3. Thời điểm chơi- tập trẻ 24-36 tháng tuổi trong chế độ sinh hoạt hằng
ngày.
3.1 Chơi- tập buổi sáng
a. Chơi- tập có chủ định
- Chơi- tập có chủ định được tiến hành vào thời điểm chơi- tập buổi sáng. Cô nên sắp
xếp trong một tuần để trẻ có thể tham gia chơi- tập có chủ định với các nội dung
hoạt động khác nhau, các hoạt động bao gồm: phát triển vận động, hoạt động nhận
biết/ luyện các giác quan, xem tranh truyện/ tập nói/ nghe kể chuyện/đọc thơ, tập
hát và nghe hát nhạc, tập vẽ
- Trong thời gian này, cô giáo lên kế hoạch tuần sao cho mỗi ngày trẻ được tham gia
một lần vào hoạt động chơi- tập có chủ định.
- Hoạt động chơi- tập có chủ định có thể tiến hành theo nhóm nhỏ 10-12 trẻ, mỗi
nhóm trong khoảng 10-15 phút, tùy thuộc vào nội dung hoạt động , sự hứng thú của
trẻ trong nhóm. Cô nên lưu ý xen kẽ nội dung có tính chất tĩnh vào nội dung có tính
chất động phù hợp. Nếu trẻ không còn hứng thú thì kết thúc và cho trẻ chơi với các
trò chơi phù hợp hoặc chơi tự do ở các góc.
b. Chơi tự do với các đồ chơi ở các góc
- Được thực hiện trong thời gian buổi sáng. Sau thời gian chơi- tập có chủ định, cô có
thể cho trẻ chơi với các trò chơi: thao tác vai phản ánh sinh hoạt, chơi các loại đồ
chơi khác nhau theo ý thích hoặc chơi các trò chơi phát triển ngôn ngữ, chơi trò có


                      Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
yếu tố vận động, trò chơi dân gian hoặc tham gia vào các hoạt động theo ý thích của
trẻ như hát, múa, vẽ.
3.2 Chơi- tập buổi chiều
Chơi tập buổi chiều được thực hiện trong khoảng 40 phút, sau bữa ăn phụ. Trong
thời điểm này, giáo viên có thể tổ chức cho trẻ chơi tự do với các đồ chơi mà trẻ
thích ở các góc, có thể chơi các trò chơi có yếu tố vận động nhẹ nhàng, tham gia vào
hoạt động ở các góc như: trò chơi luyện khéo tay ( tô màu, vẽ, xếp hình, xâu hạt...),
hoặc trò chơi nhận biết, các trò chơi phát triển ngôn ngữ, trò chơi giải trí ( hát, vận
động theo bài hát mà trẻ thích)...nhằm ôn luyện những nội dung đã học. Trong thời
điểm này, cô nên gợi ý để trẻ đựợc luôn phiên chơi ở các khu vực chơi khác nhau.
III. ĂN, NGỦ, VỆ SINH( xem ở phần ba: Hướng dẫn nuôi dưỡng và chăm sóc sức
khỏe)
IV. TRẢ TRẺ
- Trước khi ra về, cô cho trẻ vệ sinh cá nhân, quần áo, đầu tóc trẻ gọn gàng, sạch
sẽ. Trong thời gian chờ đợi bố mẹ đến đón, cho trẻ chơi với một số đồ chơi nhẹ
nhàng, đọc thơ, kể chuyện, xem tranh hoặc chơi các trò chơi dân gian. Nên tạo cho
trẻ những ấn tượng tốt với lớp, với cô để ngày hôm sau trẻ lại thích đến nhà trẻ và
không nên để trẻ ngồi một chỗ chờ bố mẹ đến đón.
- Khi gặp bố mẹ, cô hướng dẫn trẻ chào bố mẹ, chào cô giáo, chào các bạn khi ra về.
Cô nên trao đổi một số thông tin cần thiết trong ngày về cá nhân trẻ cũng như một
số hoạt động của lớp với cha mẹ trẻ để có sự phối hợp với gia đình trong việc chăm
sóc trẻ.
Lưu ý:
- Căn cứ theo điều kiện khí hậu và đặc điểm của từng vùng miền mà xây dựng thời
gian biểu cho phù hợp với điều kiện thực tế, có thể xê dịch thời gian đón và trả trẻ,
không nhất thiết phải đúng như thời gian biểu gợi ý trong chương trình và sách
hướng dẫn. Nhưng khi đón trẻ tại thời điểm nào thì thực hiện theo thời gian biểu tại
thời điểm đó để tránh xáo trộn nhịp điệu sinh học của trẻ.
- Trong quá trình thực hiện thời gian biểu, tùy theo điều kiện, tình hình cụ thể của
ngày hôm đó mà giáo viên có thể sắp xếp lại các hoạt động chơi và chơi- tập có chủ
định cho thích hợp nhưng vẫn đủ thời gian cho mỗi hoạt động và đảm bảo cho trẻ ăn,
ngủ đúng giờ.
- Chế độ sinh hoạt phải được áp dụng thường xuyên, đều đặn. Nếu không thực hiện
đúng yêu cầu của chế độ sinh hoạt sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏe và việc giáo dục
trẻ.
PHẦN BA

             HƯỚNG DẪN NUÔI DƯỠNG VÀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE
   A. TỔ CHỨC ĂN, NGỦ
   I. TỔ CHỨC ĂN
   1. Số lượng và chất lượng bữa ăn
   Trong thời gian ở nhà trẻ, trẻ được ăn tối thiểu hai bữa chính một bữa phụ
   a. Nhu cầu về năng lượng chiếm 60-70% nhu cầu năng lượng cả ngày của trẻ,
   được chia theo lứa tuổi như sau:
     Lứa tuổi             Chế độ ăn          Nhu cầu cả ngày       Nhu cầu tại nhà
                                                                    trẻ( chiếm 60-
                                                                   70% nhu cầu cả
                                                                         ngày)
3-6 tháng            Bú mẹ hoàn toàn        600- 800Kcal          360-560Kcal
6-12 tháng           Bú mẹ + ăn bột         800-900Kcal           480-630 Kcal
12-18 tháng          Ăn cháo + bú mẹ        900-1100Kcal          540-770Kcal
18-24 tháng          Ăn cơm nát + bú        1100-1300Kcal         660-910Kcal
                     mẹ


                      Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
24-36 tháng             Ăn cơm thường         1100-1300 Kcal       660-910Kcal
    Hằng ngày trẻ cần ăn nhiều loại thức ăn khác nhau với đủ các chất dinh dưỡng:
    đạm, béo, đường, vitamin và muối khoáng
    b. Tỉ lệ giữa các chất sinh năng lượng theo cơ cấu như sau
         - Chất đạm (protit): cung cấp khoảng 12-15% năng lượng khẩu phần
         - Chất béo( lipit): cung cấp khoảng 15-25% năng lượng khẩu phần
         - Chất bột( gluxit): cung cấp 63% năng lượng khẩu phần
    Tỉ lệ các chất sinh năng lượng nên đảm bảo đạt 100% và trong phạm vi của từng
    chất.
    Đối với trẻ béo phì, năng lượng cho chất béo và chất bột đường cung cấp nên duy
    trì ở mức tối thiểu ( tức là chất béo cung cấp 15% và chất bột đường cung cấp
    60% năng lượng khẩu phần), đồng thời tăng cường cho trẻ ăn nhiều các lọai rau,
    củ, quả và tích cực vận động.
    c. Lương thực phẩm cần cho trẻ trong một bữa ăn
    Đối với trẻ 3-12 tháng
    - Có điều kiện cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu ( 180 ngày) là tốt nhất
    Nếu vì yếu tố nào đó không thể cho trẻ bú mẹ hoàn toàn được thì thức ăn thay
    thế sữa mẹ tốt nhất cho trẻ ở lứa tuổi này là các loại sữa.
    - Từ 6-12 tháng: Trẻ bú mẹ là chính + mỗi ngày ăn 2 bữa bột và một bữa phụ
    - Cho trẻ làm quen với mùi vị và đặc điểm của thức ăn ngoài sữa mẹ, khuyến
    khích cho trẻ tập ăn 2-3 thìa thức ăn mỗi ngày và ăn 2 lần 1 ngày.
    - Tăng dần về lượng và sự đa dạng thức ăn.
    - Mỗi bữa cho trẻ ăn một bát bột khoảng 200-250g. Khi cho trẻ ăn bổ sung nên
    cho trẻ ăn chế độ phù hợp với lứa tuổi, cho trẻ ăn từ ít đến nhiều để trẻ quen dần
    với thức ăn mới.
    Lương thực phẩm cần cho trẻ từ 6-12 tháng
Thực phẩm             1 suất bột                    Thực phẩm bữa       Một suất
bữa chính             Nấu ngọt        Nấu mặn       phụ                 Gam (g)
                      Gam (g)         Gam (g)
Bột tẻ, bột dinh      35-40           35-40         Sữa hoặc nước       100-120
dưỡng                                               quả pha hoặc quả
Bột sữa, đậu xanh 10-15                             chín nghiền         100-120
Đường kính            5-10                                              50-100
Dầu ăn, mỡ nước                       5
Thịt ( cá, trứng...)                  10-15
Rau, củ, quả          10-15           10-15
Nước mắm                              5

    Đối với trẻ 12-18 tháng
    Trẻ 12-18 tháng ăn tại trường 2 bữa chính, 1 bữa phụ và bú mẹ. Mỗi bữa chính
    một bát cháo khoảng 300g, bữa phụ có thể là sữa, chè, một số loại quả, bánh...
    Lương thực thực phẩm cần cho một trẻ 12-18 tháng
Thực phẩm bữa          Một suất cháo       Thực phẩm bữa        Một suất
chính                  Gam(g)              phụ                  Gam(g)
Gạo tẻ, nếp            50                  Qủa chín hoặc nước 100-120
Thịt, cá, trứng        15-30               quả pha hoặc sữa,
Đậu, lạc               5-10                chè
Dầu, mỡ nước           5-10                                     120-150
Rau, củ, quả           15-20
Nước mắm               5-10

    Đối với trẻ 18-36 tháng



                      Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
    Trẻ 18-24 tháng thường ăn tại trường 2 bữa chính và một bữa phụ. Mỗi bữa chính
    khoảng 300-350g cơm nát với thức ăn ( khoảng 1.5 đến 2 bát). Tiếp tục cho trẻ
    bú mẹ đến 24 tháng hoặc lâu hơn
    Lương thực phẩm cần cho một trẻ từ 18-24 tháng
Thực phẩm             Một suất cơm nát     Thực phẩm bữa        Một suất
bữa chính                                  phụ                  Gam (g)
Gạo tẻ, nếp           65-75                Qủa chín hoặc nước 100-120
Thịt, cá, trứng       15-30                quả nghiền hoặc
Dầu, mỡ nước          5-10                 sữa, chè.            120-150
Rau, củ, quả          30-50
Nước mắm              5-10
    Trẻ 24-36 tháng ăn tại trường 2 bữa chính và 1 bữa phụ. Mỗi bữa chính trẻ ăn
    350-400g kể cả cơm và thức ăn ( khoảng 2 bát)



    Lương thực phẩm cần cho một trẻ từ 24- 36 tháng
Thực phẩm bữa     Một suất cơm        Thực phẩm bữa            Một suất
chính             Gam(g)              phụ                      Gam(g)
Gạo tẻ, nếp       65-75               Qủa chín hoặc nước       100-150
Thịt, cá, trứng   15-30               quả pha, sữa hoặc
Đậu, lạc          5-10                chè                      150-200
Dầu, mỡ nước      5-10
Rau, củ, quả      30-50

   Bữa phụ có thể là sữa, chè, bún, miến, một số loại quả, bánh...
   Bữa ăn của trẻ cần đảm bảo đủ năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết như:
   đạm, béo, đường, muối khoáng và sinh tố...nên thay đổi thực phẩm hằng ngày
   để trẻ ăn ngon miệng. Trong mỗi bữa ăn cần phối hợp nhiều loại thực phẩm để có
   thể bổ sung cho nhau và khẩu phần đạt yêu cầu dinh dưỡng.
   2. Nước uống
   Hằng ngày, trẻ cần được uống nước đầy đủ, nhất là về mùa hè, lượng nước đưa
   vào cơ thể trẻ( dưới dạng nước uống, thức ăn) tăng dần theo lứa tuổi:
   Từ 3-6 tháng: 0.8-1.1 lit/ngày/trẻ
   Từ 6-12 tháng: 1.1 – 1.3 lít/ngày/trẻ
   Từ 12-18 tháng: 1.3- 1.5lít/ngày/trẻ
   Nước uống cần đun sôi kĩ và đựng trong bình hay ấm có nắp đậy kín. Mỗi trẻ có
   một cốc riêng. Mùa đông cần ủ nước cho ấm. Mùa hè nóng nực cần cho trẻ uống
   nhiều nước hơn, nếu có điều kiện nên cho trẻ uống nước nấu bằng các loại lá như
   sài đất, rau ngô., bông mã đề, kim ngân hoa...hoặc nước quả ( dâu, chanh,
   cam).
   Chú ý: Có nhiều trẻ bị khát nhưng không biết đòi uống nước, cô giáo cần quan
   sát, phát hiện và cho trẻ uống kịp thời. Nên cho trẻ uống theo nhu cầu và chia
   làm nhiều lần trong ngày, có thể cho trẻ uống sau khi chơi, khi ăn xong, sau khi
   ngủ dậy......không để trẻ quá khát mới cho uống một lần quá nhiều. Không nên
   cho trẻ uống nhiều nước trước bữa ăn.
   3. Chăm sóc bữa ăn
   3.1. Trước khi ăn
   - Trước khi cho trẻ bú mẹ: Cô giáo cho trẻ thức và thay tã lót sạch , hướng dẫn
   bà mẹ rửa tay, quần áo sạch và khô, lau sạch đầu vú, vắt đi vài giọt sữa đầu.
   Nếu vì điều kiện nào đó trẻ không được bú mẹ thì cho trẻ ăn sữa bằng bát, thìa,
   không nên dùng bình bú cao su.



                     Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Chúẩn bị cho trẻ ăn:
- Kê bàn và ghế có tay vịn cho trẻ. Lau bàn bằng khăn ẩm
- Chuẩn bị đủ ( nên dư vài cái): Bát thìa, cốc sạch cho trẻ. Khăn mặt sạch, ẩm
đặt vào đĩa để trên bàn. Cốc đựng nước đã đun sôi để nguội ( ấm), đặt trong
khay, để trên bàn.
- Chia dư thêm một suất ăn ( phòng khi ăn hết suất, có trẻ còn muốn ăn thêm
hoặc có bát bị đánh đổ).
- Trẻ phải thức giấc và tỉnh táo trước khi ăn. Cho trẻ đi vệ sinh trước khi ăn, lau
mặt, lau tay và đeo yếm ăn...Nếu trẻ còn ngủ thì trẻ nào dậy trước cho ăn trước.
Không đánh thức đồng loạt.
3.2 Trong khi ăn
a. Cho trẻ ăn sữa
- Thử sữa: Khuấy đều sữa, nhỏ vài giọt sữa lên mu bàn tay, sữa vừa ấm là trẻ ăn
đựơc
- Bế trẻ tay trái, đầu hơi cao, trẻ nằm thoải mái trong lòng cô. Tay phải cô múc
sữa bằng thìa cho trẻ ăn, nếu quen tay trái có thể đổi chiều. Không để trẻ chờ lâu
quá 10 phút.
- Cô giáo chọn vị trí ngồi để có thể quan sát được các trẻ khác chưa ăn hoặc đã
ăn xong.
b. Cho trẻ ăn bột, cháo
- Cách thử bột, cháo: Dùng một thìa riêng xúc một thìa để nếm thử độ mặn, nhạt
và độ nóng, khi thử thấy hơi ấm cho trẻ ăn là vừa. Đặc biệt về mùa đông, không
cho trẻ ăn nguội, dễ bị lạnh sau khi ăn. Các bát chưa ăn đến cần đậy cẩn thận
tránh ruồi, bụi.
Cách ngồi cho trẻ ăn:
- Trẻ ngồi chưa vững: Cô giáo bế trẻ như cho ăn sữa. Cô ngồi theo hướng để
chân trẻ không đạp vào bát. Xúc cho từng trẻ ăn. Tuyệt đối không để trẻ nằm ăn
hoặc uống.
- Trẻ đã ngồi vững: Cho trẻ ngồi vào ghế có tay vịn. Cô ngồi đối diện để cho 2 trẻ
nhóm bột ăn một lần ( nhóm cháo thì cho 4-5 trẻ ăn một lần).
- Cho trẻ quay lưng lại phía các bạn đang chơi để trẻ tập trung vào bữa ăn và cô
có thể quan sát trẻ khác khi đang chơi. Nếu không có ghế có thể cho trẻ ngồi ăn
trên chiếu, không để trẻ vừa bò, vừa ăn. Chú ý để bát xa tầm với để trẻ không
chạm tay hoặc làm đổ bát.
Cách xúc cho trẻ ăn
- Xúc từng thìa vơi và gọn miếng. Nếu còn nóng, xúc trên mặt bát và xung quanh
trước. Bón xong thìa này thì xúc ngay thìa khác, để trong bát cho nguội nhanh.
Xúc gọn từng phần tránh quấy nhiều làm bột, cháo bị vữa.
- Đưa thìa vừa tầm, không đưa sâu vào miệng trẻ. Trong khi ăn, nếu miệng trẻ bị
dính bột hoặc cháo thì chỉ lau bằng khăn ẩm đã chuẩn bị sẵn cho từng trẻ.
c. Cho trẻ ăn cơm nát, cơm thường
- Xếp trẻ chưa xúc ăn thạo ngồi riêng bàn để tiện chăm sóc, nên sắp xếp những
cháu tự xúc ăn được ngồi một bàn, mỗi bàn 4-6 trẻ, xếp trẻ biếng ăn ngồi cạnh
trẻ ăn ngoan để trẻ động viên lẫn nhau khi ăn. Bàn nào chuẩn bị xong thì cho ăn
trước, không để trẻ ngồi đợi lâu quá 10 phút hoặc bắt trẻ đợi nhau ăn đồng loạt.
- Giáo viên nên chia món mặn vào bát của trẻ rồi mới xới cơm vào bát và trộn
đều. Cho ăn khô trước, chan canh sau.
3.3 Sau khi ăn
a. Đối với trẻ ăn sữa
- Lau miệng bằng khăn riêng của mỗi trẻ. Cho uống nước chín bằng thìa
- Bế đứng trẻ ( hoặc bế dựng trẻ trên đùi) trong 3 đến 5 phút ( tránh để nôn trớ)
rồi mới đặt trẻ nằm nhẹ nhàng, nằm nghiêng về bên phải nhằm đề phòng trớ
sữa.


                   Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
b. Đối với trẻ ăn bột, cháo
- Lau miệng và lau tay cho trẻ. Cho uống nước chín bằng chén và thìa riêng cho
mỗi trẻ. Không dùng thìa xúc bột cháo để cho trẻ uống nước.
- Trẻ 8-9 tháng trở lên tập cho trẻ uống nước bằng cốc, chén, dần dần trẻ tự
bưng cốc uống
- Cho trẻ đi vệ sinh nếu trẻ có nhu cầu
c. Đối với trẻ ăn cơm nát, cơm thường
- Cô giáo hướng dẫn hoặc nhắc trẻ lau miệng và lau tay. Tập cho trẻ tự bưng cốc
uống nước sau khi ăn, hướng dẫn trẻ uống từ từ, từng ngụm để không sặc và đổ
ướt áo.
- Ăn xong, không cho trẻ đùa nhiều hoặc chạy nhảy mạnh. Cho trẻ đi vệ sinh (
nếu cần)
3.4 Một số điểm cần lưu ý khi cho trẻ ăn
- Cho trẻ ăn chuyển dần từ thức ăn nghiền- mềm – ăn thức ăn miếng. Sau đó
cho trẻ ăn chung với gia đình.
- Thời điểm chuyển chế độ ăn từ bột sang chế độ cháo hoặc từ cháo sang cơm
nát, cơm thường tùy thuộc vào từng trẻ. Những trẻ quá yếu hoặc phát triển chậm
so với độ tuổi, có thể chuyển chế độ ăn chậm hơn một vài tháng. Ngược lại, có
những trẻ có thể cho chuyển chế độ ăn sớm hơn so với độ tuổi. Những ngày trẻ bị
mệt hay đầy bụng, nên cho trẻ ăn nhẹ như cháo, mì....và không nhất thiết phải
ép trẻ ăn cơm.
- Cô kiên trì tập cho trẻ quen dần với các loại thực phẩm chế biến ở nhà trẻ, nhất
là trẻ mới đi nhà trẻ hoặc mới tập ăn cháo, cơm.
- Trong khi cho trẻ ăn, giáo viên cần quan tâm đến đặc điểm cá nhân của từng
trẻ như trẻ mới tập ăn, trẻ ăn chậm, trẻ mới đi nhà trẻ, những trẻ yếu hoặc mới
ốm dậy. Giáo viên cần nói năng dịu dàng, nhẹ nhàng, vui vẻ và động viên trẻ ăn
hết suất, tránh dọa nạt, ép trẻ khi trẻ không muốn ăn hoặc bị nôn trớ. Nếu bữa
nào trẻ kém ăn, cô cần tìm hiểu nguyên nhân để báo cho nhà bếp hay y tế hoặc
ba mẹ biết để chăm sóc trẻ tốt hơn
- Khi đang ăn, uống mà trẻ ho, khóc hoặc ngủ gật, cô phải dừng cho trẻ ăn,
uống. Khi trẻ hết ho, nín khóc và tỉnh ngủ mới cho ăn, uống tiếp để tránh hóc và
sặc.
- Khi trẻ ăn uống, không được bịt mũi hoặc ngáng mồm, bắt trẻ nuốt
- Khi đang ăn, nếu trẻ đi vệ sinh thì cần thay và rửa sạch ngay cho trẻ
- Lúc trẻ vừa ngủ dậy hoặc chơi xong, cô giáo cần cho trẻ uống nước, nhất là
mùa hè.

II. CHĂM SÓC GIẤC NGỦ
1. Chuẩn bị cho trẻ ngủ
Trong nhóm cần có một nơi dành riêng cho trẻ ngủ, tốt nhất nên có phòng ngủ
riêng. Nơi ngủ phải có không khí trong sạch, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về
mùa đông, ánh sáng dịu dàng. Phòng ngủ nên giảm ánh sáng bằng cách đóng bớt
một số cửa hoặc tắt bớt đèn.
- Không để trẻ nằm ngủ trực tiếp dưới sàn nhà. Tốt nhất mỗi trẻ có giường riêng,
giường phải có khung để trẻ không bị ngã. Mùa đông phải có đủ chiếu, màn, gối,
chăn ấm và thường xuyên được phơi, giặt, đảm bảo luôn sạch sẽ, khô ráo.
- Trước khi ngủ, cô cần cho trẻ đi vệ sinh, trẻ phải được ở trong trạng thái thoải
mái. Mùa đông có thể cởi bớt quần áo, mũ, khăn quàng cổ. Không để trẻ khóc
nhiều, hoặc vận động quá nhiều trước khi ngủ. Tuyệt đối không dọa nạt trẻ.
- Cần chú ý đến đặc điểm riêng của từng trẻ để chăm sóc chu đáo. Những trẻ yếu
hoặc có nhu cầu ngủ nhiều nên cho ngủ trước. Nhnữg trẻ hay quấy khóc, chưa
quen với nề nếp ở nhà trẻ cô nên dỗ trẻ, cho trẻ ngủ riêng và đặt ngủ cuối cùng
để có điều kiện chăm sóc và không ảnh hưởng đến trẻ khác.


                  Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
- Đối với bé 3-12 tháng
 + Trẻ 3-6 tháng nên đặt trẻ nằm nghiêng về một phía hoặc nằm ngửa. Tránh để
trẻ nắm sấp và ngoẹo đầu dẫn đến ngạt thở và ứ đờm dãi trong khi trẻ ngủ. Cô
nên bế từng trẻ rồi nhẹn nhàng đặt vào giường cho trẻ ngủ
 + Trẻ 6-12 tháng nên để trẻ ngủ trong tư thế thoải mái
- Đối với trẻ 12-24 tháng, cô nên động viên khuyến khích, tập cho trẻ làm quen
với nơi ngủ và tập cho trẻ tự đi vào chỗ ngủ
- Trẻ 24 – 36 tháng đã có những thói quen về nề nếp sinh hoạt, thói quen tự
phục vụ nên đến giờ ngủ, cô hướng dẫn trẻ cùng cô chuẩn bị ngủ ( trẻ tự bê gối
của mình vào chỗ ngủ...), nhắc trẻ đi vệ sinh đến đúng chỗ của mình để ngủ.
Ngoài cử chỉ nhẹ nhàng, lời nói êm dịu dỗ trẻ ngủ, cô nên hát những bài hát ru,
dân ca hoặc mở băng nhạc nhẹ để ru trẻ ngủ.
2. Theo dõi trẻ ngủ
- Trong thời gian trẻ ngủ, cô phải thường xuyên có mặt theo dõi, phát hiện những
bất thường có thể xảy ra đối với trẻ ( sửa lại tư thế để trẻ ngủ thoải mái, không
để trẻ úp mặt vào gối hoặc chùm chăn kín mặt)
- Khi trẻ ngủ, về mùa hè, nếu dùng quạt điện, cô chú ý vặn tốc độ vừa phải và để
xa, từ phía chân trẻ. Nếu dùng điều hòa nhiệt độ, không nên để nhiệt độ quá
lạnh. Mùa đông cô nên đắp chăn ấm cho trẻ, không nên để trẻ mặc quá nhiều
quần áo.
- Cần giữ yên tĩnh khi trẻ ngủ, tránh cười, nói to và tránh những tiếng động mạnh
làm trẻ giật mình.
- Nếu có trẻ thức dậy sớm và quấy khóc, cô cần dỗ trẻ ngủ tiếp, nếu không ngủ
nữa thì đưa sang chỗ khác dỗ trẻ chơi, không để trẻ khóc làm mất giấc ngủ của
trẻ khác.
- Đối với trẻ bé, kịp thời thay tã lót khi trẻ đái dầm và dỗ cho trẻ ngủ tiếp.
3. Chăm sóc khi trẻ thức dậy
- Trẻ nào thức giấc trước, cô cho dậy trước, tránh tình trạng dậy đồng loạt một
lúc ảnh hưởng đến giấc ngủ của trẻ khác và sinh hoạt của lớp. Trẻ yếu và có nhu
cầu ngủ nhiều nên cho thức dậy sau cùng.
- Sau khi trẻ thức dậy, cô lau mặt cho trẻ tỉnh ngủ và dỗ trẻ chơi. Cô cho trẻ đi
vệ sinh, nhắc nhở trẻ lớn tự đi vệ sinh và hướng dẫn trẻ cùng cô thu dọn chỗ ngủ.
Nếu có trẻ đái dầm, sau khi trẻ đã dậy hết, cô cần làm vệ sinh nơi ngủ. Mở cửa
sổ để thông thoáng phòng.

B. VỆ SINH
I. VỆ SINH CÁ NHÂN
1, Vệ sinh cá nhân trẻ
a. Chuẩn bị đầy đủ các đồ dùng vệ sinh
- Chuẩn bị đầy đủ khăn mặt đảm bảo vệ sinh( một khăn mặt/ trẻ). Chuẩn bị đủ
bô, sô, chậu.
- Chuẩn bị đủ dụng cụ cho trẻ rửa tay: Thùng có vòi hoặc vói nước vừa tầm tay
trẻ ( nếu đựng nước vào sô hay chậu thì phải có gáo dội) . xà phòng rửa tay.
Khăn khô sạch để lau tay. Xô hay chậu để hứng nước bẩn ( nếu cần )
- Chuẩn bị đủ quần áo, tã lót dự trữ để thay cho trẻ khi cần thiết nhất là về mùa
đông. Đối với trẻ bé, hằng ngày yêu cầu cha mẹ đem theo một số khăn mùi xoa
hoặc miếng vải mềm, sạch để lsau mũi cho trẻ. Nếu có điều kiện, chuẩn bị khăn
giấy mềm, hợp vệ sinh để lau mũi cho trẻ.
b. Vệ sinh cho trẻ
 Vệ sinh da
 - Lau mặt:
 + Cô lau mặt cho trẻ trước và sau khi ăn, khi mặt bị bẩn. Khi lau chú ý dịch
chuyển khăn sao cho da mặt của trẻ luôn luôn được tiếp xúc với phần khăn sạch.


                  Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Trong quá trình lau mặt cho trẻ, các thao tác cần phải nhẹ nhàng, tránh làm trẻ
đau và sợ hãi. Vừa lau mặt cho trẻ vừa trò chuyện âu yếm và nói các động tác cô
đang làm để trẻ có cảm giác nhẹ nhàng.
+ Những trẻ bị chàm, mụn nhọt cần lau cho trẻ sau cùng và giặt khăn riêng để
bệnh không lây lan qua trẻ khác. Trường hợp trẻ bị chảy mũi nước ( trẻ bé) cần
lau ngay cho trẻ tránh để trẻ liếm mũi hoặc quệt ngang. Nhắc nhở trẻ lớn tự lấy
khăn lau mũi và không bỏ vật lạ vào mũi.
 + Đối với trẻ trên 24 tháng, cho trẻ nhận biết khăn lau mặt thao đúng kí hiệu
khăn của trẻ.
- Lau tay, rửa tay:
 + Đối với trẻ dưới 18 tháng tuổi: Cô dùng khăn ẩm, sạch lau tay cho trẻ trước và
sau khi ăn. Khi tay trẻ bẩn thì phải rửa tay. Mùa đông nên dùng khăn ấm để lau.
 + Trẻ trên 18 tháng : Cô rửa tay cho trẻ dưới lòng nước chảy ( vòi nước hoặc
dùng gáo dội). Cô rửa từng tay cho trẻ theo các bước sau: rửa từ cổ tay, mu bàn
tay, kẽ tay, đầu ngón tay rồi rửa lòng bàn tay và ngón tay, rửa xong dùng khăn
sạch lau tay cho trẻ.
 + trong khi chăm sóc vệ sinh cho trẻ, cô vừa làm vừa giải thích để trẻ hiểu tại
sao phải rửa tay sạch. Trẻ trên 24 tháng, bước đầu hướng dẫn cho trẻ làm quen
với cách rửa tay và tự lau tay khô.
Vệ sinh răng miệng
- Để giữ vệ sinh răng miệng cho trẻ, hàng ngày cô cần cho trẻ uống vài thìa nước
chín để tráng miệng sau mỗi lần bú hoặc uống sữa ( đối với trẻ chưa mọc răng)
- Khi trẻ đã mọc răng, hằng ngày sau khi ăn, hướng dẫn cha mẹ lau răng, miệng
cho trẻ bằng khăn sạch, mềm, có thấm nước muối loãng. Với trẻ lớn hơn có thể
tập cho trẻ xúc miệng. Phối hợp với gia đình cho trẻ 3 tuổi tập đánh răng. Không
nên cho trẻ ăn quà vặt nhất là kẹo, bánh ngọt. nên cho trẻ đánh răng định kì để
phát hiện sớm răng sâu và chữa trị kịp thời. Dạy cho trẻ có thói quen ngậm
miệng khi ngủ, thở bằng mũi để miệng và răng không bị khô.
Vệ sinh quần áo, giày dép
- Không để trẻ mặc quần áo ẩm ướt, khi trẻ bị nôn trớ, đại tiểu tiện ra quần áo
hoặc mồ hôi ra nhiều, cô cần thay ngay cho trẻ. Cởi bớt quần áo cho trẻ khi trời
nóng, mặc thêm khi trời lạnh.
- Để chống nhiễm lạnh đôi chân của trẻ, ngoài đôi dép hay giày trẻ đi đến lớp,
cần có thêm một đôi dép sạch cho trẻ đi trong lớp.
- Cô nhắc cha mẹ của trẻ đưa đủ tất, quần áo, tã lót dự trữ để thay cho trẻ khi
cần thiết. nên cho trẻ mặc quần áo bằng những loại vải mềm, thấm mồ hôi. Nên
dùng loại giày dép hơi rộng hơn so với chân trẻ một chút, dép mềm, mỏng, nhẹ,
dễ cởi, có quai sau cho trẻ dễ đi.
Vệ sinh khi đi bộ
- Khi trẻ ngồi vững mới bắt đầu tập cho trẻ ngồi bô. Trường hợp trẻ bé mới ngồi
bô, cô phải ở cạnh trẻ và dỗ dành trẻ để trẻ làm quen với việc ngồi bô. Cô cần có
động tác nhẹ nhàng, thái độ dịu dàng, không quát mắng trẻ.
- Khi sắp xếp ghế bô cho trẻ ngồi cần dặt ghế bô cách nhau một khoảng cách
thích hợp, không để trẻ ngồi sát nhau quá gây mất trật tự trong giờ đi bô.
- Chỉ cho ngồi bô khi trẻ cần đại tiện hoặc tiểu tiện, không cho trẻ ngồi bô hàng
loạt, trẻ nào có nhu cầu thì cho ngồi bô trước. Không để trẻ ngồi bô không quá
10 phút. Trường hợp trẻ ngồi bô quá 10phút mà không đại tiện hoặc tiểu tiện
phải cho trẻ đứng dậy.
- Trong khi trẻ ngồi bô, cô phải quan sát để đảm bảo trẻ không bị ngã, không để
trẻ ngồi bô rồi đi làm việc khác. Không nên cho trẻ ngồi sát hẳn vào tường khi
tường ẩm. Mùa đông hoặc những ngày trời lạnh phải cho trẻ đi dép hoặc kê
miếng ván, trải vải hoặc thảm nilong xuống chỗ trẻ đặt chân. Cho trẻ ngồi nơi kín
gió tránh gió lùa.


                  Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
- Sau khi đi đại tiện cần rửa ngay cho trẻ. Cô bế trẻ, dùng tay rửa cho trẻ dưới
vòi nước chảy hoặc dùng gáo để dội, rửa từ trước ra sau. Rửa xong dùng khăn
khô lau cho trẻ
- Đổ bô ngay sau khi trẻ đi vệ sinh vào nơi quy định, rửa bô sạch sẽ, úp khô, phơi
nắng. Sau đó cô phải rửa tay sạch bằng xà phòng trước khi làm việc khác.
2. Vệ sinh cá nhân cô
- Cô phải giữ vệ sinh, phòng bệnh tốt để bảo vệ sức khỏe cho bản thân và những
người xung quanh, không làm lây lan bệnh trong nhóm và trong nhà trẻ.
a. Vệ sinh thân thể
- Giữ gìn da sạch sẽ, nhất là hai bàn tay. Khi chăm sóc trẻ, hai bàn tay cô phải
uôn sạch sẽ. Cô cần rửa tay bằng xà phòng và nước sạch trước khi cho trẻ ăn,
sau khi đi vệ sinh, sau khi làm vệ sinh cho trẻ, sau khi quét rác hoặc lau nhà.
- Đầu tóc luôn gọn gàng, sạch sẽ. Không để móng tay dài khi chăm sóc trẻ.
- Giữ vệ sinh răng miệng sạch sẽ. Đeo khẩu trang khi chia cơm cho trẻ, khi ho, sổ
mũi,viêm họng.
b. Vệ sinh quần áo, đồ dùng cá nhân
- Quần áo phải luôn gọn gàng, sạch sẽ. Nếu có quần áo công tác phải thường
xuyên mặc trong quá trình chăm sóc trẻ. Không mặc trang phục công tác về gia
đình hoặc ra ngoài.
- Đồ dùng cá nhân của trẻ và cô phải riêng biệt, không sử dụng đồ dùng cá nhân
của trẻ.
c. Khám sức khỏe định kì
Nhà trường cần khám sức khỏe định kì và tiêm phòng dịch đầy đủ cho các giáo
viên, cán bộ nhân viên. Nếu cô mắc bệnh truyền nhiễm hoặc nhiễm trùng cấp
tính thì không được trực tiếp chăm sóc trẻ.

II. VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
1. Vệ sinh đồ dùng cá nhân
a. Vệ sinh đồ dùng
- Bát, thìa, ca, côc phục vụ ăn uống cho trẻ cần có đủ theo quy định của ngành:
mỗi trẻ có ca, cốc, bát, thìa, khăn mặt riêng và có dấu hiệu riêng gắn với tên của
trẻ để trẻ dễ nhận ra. Bình, thùng đựng nước uống cho trẻ phải có nắp đậy, cần
được vệ sinh hàng ngày, để nơi sạch sẽ tránh bụi, côn trùng. Tuyệt đối không cho
trẻ thò tay hoặc uống trực tiếp vào bình đựng nước. Nước không uống hết trong
một ngày phải đổ đi.
- Bát, thìa, ca uống nước của trẻ phải được rửa sạch hằng ngày, phơi nắng, tráng
nước sôi trước khi ăn.
- Không nên dùng các loại bát, thìa, cốc bằng nhựa tái sinh hoặc sứt mẻ cho trẻ
ăn, uống.
- Hằng ngày giặt khăn rửa mặt của trẻ bằng xà phòng và nước sạch, sau đó phơi
nắng hoặc sấy khô. Hằng tuần hấp khăn hoặc luộc khăn một lần.
- Bần ghế, đồ trang trí thường xuyên lau bằng khăn ẩm để tránh bụi
- Đồ dùng vệ sinh ( xô, chậu..) dùng xong đánh rửa sạch sẽ, úp nơi khô ráo, gọn
gàng
b. Vệ sinh đồ chơi
- Đồ chơi nhóm bé phải được rửa sau mỗi ngày. Hằng tuần nên rửa bằng nước xà
phòng và phơi khô.
- Đồ chơi các nhóm trẻ khác cần được giữ sạch sẽ
2. Vệ sinh phòng nhóm
a. Thông gió
Trước khi trẻ đến lớp, cô cần làm:
- Mở tất cả cửa sổ và cửa ra vào để phòng được thông thoáng




                  Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
- Nếu có phòng ngủ riêng thì khi trẻ ở phòng chơi, cô mở cửa để thông thoáng
phòng ngủ
b. Vệ sinh nền nhà
- Mỗi ngày nên quét nhà và lau nhà ít nhất 3 lần ( trước giờ đón trẻ, sau 2 bữa ăn
chính sáng, chiều)
- Ở nhóm trẻ bé sau khi ngủ dậy nên là vệ sinh nơi ngủ( phải thấm ngay nước
tiểu bằng khăn khô rồi mới lau lại bằng khăn ẩm)
- Cô không được đi guốc, dép bẩn vào phòng trẻ, không được để gia súc vào
phòng trẻ.
- Hàng tuần cần tổ chức tổng vệ sinh toàn phòng trẻ: lau các cửa sổ, quét mạng
nhện, lau bóng đèn.... cọ rửa nền nhà, cọ giát giường ( nhóm bé), phơi chăn
chiếu. Cùng với các bộ phận khác làm vệ sinh xung quanh nhóm trẻ.
c. Vệ sinh nơi đại tiện, tiểu tiện( nhà vệ sinh)
- Chỗ cho trẻ đi vệ sinh phải sạch sẽ, tránh gió lùa. Sau khi trẻ đi vệ sinh xong,
cô đổ nước tiểu, phân ngay. Trường hợp dùng hố xí thấm phải dội nước đầy đủ và
dọn vệ sinh sạch sẽ sau mỗi lần trẻ đi vệ sinh
- Hằng ngày tổng vệ sinh toàn bộ khu vệ sinh trước khi ra về
- Hằng tuần tổng vệ sinh toàn bộ khu vệ sinh và khu vực xung quanh
3. Xử lí rác thải, nước thải
a. Xử lí rác
- Rác phải đựoc thu gom vào thùng có nặp đậy, đổ rác hằng ngày đúng nơi quy
định
- Trường hợp có hố rác chung của trường, sau mỗi lần đổ rác lại lấp phủ một lớp
đất mỏng, khi đầy hố lấp đất dày 15-20cm.
b. Xử lí nước thải: Thường xuyên khơi thông cống rãnh, tránh ứ đọng, nếu không
sẽ tạo điều kiện cho ruồi, muỗi sinh sản và phát triển. Hàng tuần tổng vệ sinh
toàn bộ hệ thống cống rãnh.
4. Giữ sạch nguồn nước
- Cung cấp đủ nước sạch; đảm bảo đủ nước sạch cho trẻ dùng, bao gồm ăn và
sinh hoạt. trẻ học một buổi là 10lit/trẻ/buổi, còn trẻ bán trú là 50-60lit/trẻ/ngày
- Nguồn nước sạch: tốt nhất là nước máy. Trường hợp lấy từ nguồn nước( giếng
khoan, giếng đào....) nước mưa, nước suối..thì phải xử lí hoặc lắng lọc bằng các
phương pháp lắng, lọc đmr bảo tiêu chuẩn vệ sinh cho phép.
- Đánh giá nguồn nước: Nước phải không màu, không mùi, không vị lạ. Nếu
nguồn nước có nghi ngờ nên đề nghị cơ quan y tế kiểm tra.
- Đảm bảo vệ sinh dụng cụ chứa nước:
       + Dụng cụ chứa nước, tránh để nước lưu quá lâu ngày( tùy theo loại nước
sử dụng mà có thể định kì 1tháng/1lần hoặc tối thiểu là 3 tháng/ 1lần)
       + Có kế hoạch thau rửa dụng cụ chứa nước, tránh để nước lưu quá lâu
ngày( tùy theo lọai nước sử dụng mà có thể định kì 1 tháng/1 lần hoặc tối thiểu
là 3 tháng/ 1 lần)

B. THEO DÕI SỨC KHỎE VÀ PHÒNG BỆNH
I. KHÁM SỨC KHỎE ĐỊNH KÌ
- Hằng năm, nhà trường cần liên hệ chặt chẽ với y tế địa phương( trạm y tế
phường, xã) để có kế hoạch khám sức khỏe định kì cho mỗi trẻ mỗi năm 2 lần.
- Giáo viên có nhiệm vụ phối hợp với y tế tổ chức khám định kì cho trẻ. Lưu kết
quả khám và thông báo cho gia đình kết quả kiểm tra sức khỏe của trẻ.

II. THEO DÕI THỂ LỰC VÀ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG
1. Chỉ số thể lực dùng để theo dõi trẻ
- Cân nặng ( kg) theo tháng tuổi
- Chiều cao đứng (cm) theo tháng tuổi


                   Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
    - Cân nặng theo chiều cao đứng
    2. Yêu cầu
    - Trẻ dưới 12 tháng tuổi: cần cân đo trẻ mỗi tháng 1 lần
    - Trẻ trên 12 tháng tuổi: cần cân đo mỗi quý một lần
    - Đối với trẻ bị suy dinh dưỡng, trẻ thừa cân, béo phì nên cân và theo dõi hằng
    tháng. Nếu trẻ mối trải qua một đợt ốm, sức khỏe giảm sút cần phải kiểm tra:
    cần cân đo mỗi quý một lần
    - Đối với trẻ bị suy dinh dưỡng, trẻ thừa cân, béo phì nên cân và theo dõi hằng
    tháng. Nếu trẻ mối trải qua một đợt ốm, sức khỏe giảm sút cần phải kiểm tra cân
    nặng để đánh giá sự phục hồi sức khỏe của trẻ.
    - Quy định một số ngày thống nhất cho các lần cân, đo
    - Sau mỗi lần cân đo cần chấm ngay lên biểu đồ để tránh quên và nhầm lẫn, sau
    đó đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho từng trẻ và thông báo cho gia đình.
    - Mùa đông tiến hành cân, đo trong phòng, tránh gió lùa, bỏ bớt quần áo để cân,
    đo chính xác.
    - Có thể cân trẻ bằng bất kì loại cân nào nhà trường có nhưng phải thống nhất
    dùng một loại cân cho các lần cân.
    - Cách đo chiều cao:
         + Trẻ dưới 24 tháng đo chiều cao nằm: đo chiều dài của trẻ từ đỉnh đầu tới
    chân khi nằm duỗi thẳng. Khi đo dặt trẻ trên thước đo, đầu chạm bảng gỗ, chân
    cố định, giữ đầu ngay ngắn, giữ đùi và gối thẳng, đẩy bảng gỗ di chuyển dưới
    chân sát gót chân, bàn chân vuông góc với cẳng chân và đọc số đo.
          + Trẻ trên 24 tháng đo chiều cao đứng: đo chiều cao của trẻ bằng thước đo
    chiều cao ( hoặc có thể dùng thước dây đóng vào tường). Khi đo chú ý để trẻ
    đứng thẳng và 3 điểm đầu, mông, gót chân trên một đường thẳng. Chiều cao của
    trẻ được tính từ bàn chân đến đỉnh đầu( điểm cao nhất của đầu trẻ)
    3. Cách đánh giá thể lực và tình trạng dinh dưỡng
    a. Cân nặng theo tháng tuổi( được theo dõi bằng biểu đồ tăng trưởng)
    Sau mỗi lần cân chấm lên biểu đồ một điểm tương ứng với số cân và số tháng
    tuổi của trẻ, nối các điểm chấm đó với nhau, ta sẽ được đường biểu diễn về sự
    phát triển của trẻ.
    Khi đường biểu diễn
        -    Nằm ở kênh A
            + Có hướng đi lên                        là phát triển bình thường
              + Nằm ngang                 là đe dọa        Cần tìm nguyên nhân và
phối hợp
              + Đi xuống                  là nguy hiểm    với gia đình để có biện pháp
can
                                                             thiệp sớm, kịp thời nhằm
chăm sóc,
                                                             phòng chống suy dinh
dưỡng.
        - Nằm ở kênh B: Suy dinh dưỡng vừa ( SDD) độ 1
        - Nằm ở kênh C: Suy dinh dưỡng nặng ( SDD) độ 2
        - Nếu nằm ở kênh D: Suy dinh dưỡng rất nặng( SDD độ III)
        Cần phối hợp với gia đình chặt chẽ và có biện pháp chăm sóc đặc biệt để nâng
        cao thể lực, sức khỏe của trẻ.
        Khi cân nặng của trẻ nằm ở kênh A và tốc độ tăng cân hàng tháng tăng
        nhanh, cần theo dõi và có chế độ ăn uống hợp lí kết hợp với vận động phù
        hợp để tránh thừa cân- béo phì.
  b. Chiều cao theo tháng tuổi( được theo dõi bằng biểu đồ chiều cao hoặc
  đánh giá theo bảng chiều cao)
  - Chiều cao nằm trong khoảng trung bình trở lên là phát triển bình thường


                      Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
 - Chiều cao nằm trong khoảng trung bình trở xuống là do trẻ bị suy dinh dưỡng kéo
 dài. Chiều cao thể hiện trung thành tình trạng dinh dưỡng của trẻ, tuy biến đổi
 chậm nhưng chắc chắn và không bao giờ giảm đi như cân nặng.

                      Bảng chỉ số chiều cao theo tháng tuổi

       Tháng tuổi                         Chiều cao trung bình ( cm)
                                      Trẻ trai                   Trẻ gái
            3                      55.8 đến 66.4              54.6 đến 64.5
            4                       58.2 – 69.1                56.9 - 67.1
            5                        60.5-71.3                 58.9 - 69.3
            6                        62.4- 73.2                60.6 - 71.2
            7                        64.1- 74.8                 62.2 -72.9
            8                        65.7- 76.3                 63.7 -74.5
            9                        67.0- 77.6                 65.0 -75.9
            10                       68.3- 78.9                 66.2 -77.3
            11                       69.6- 80.2                 67.5 -87.7
            12                       70.7-81.5                  68.6 -80.0
            13                       71.8-82.7                  69.8 -81.2
            14                       72.8- 83.9                 70.8 -82.5
            15                       73.7-85.1                  71.9 -83.7
            16                       74.6-86.3                  72.9 -84.8
            17                       75.5-87.4                  73.8 -86.0
            18                      76.3 – 88.5                 74.8 -87.1
            19                      77.1 – 89.5                 75.7 -88.1
            20                       77.9- 90.6                 76.6 -89.2
            21                      87.7 – 91.6                 77.4 -90.2
            22                      79.4 - 92.5                 78.3 -91.1
            23                      80.2 – 93.5                 79.1 -92.1
            24                      80.9 – 94.4                 79.9 -93.0
            25                       81.7 -95.2                 80.7 -93.9
            26                      82.4 – 96.1                 81.5 -94.8
            27                      83.2 – 96.9                 82.3 -96.5
            28                      83.9 – 97.6                 83.0 -96.7
            29                      84.7 – 98.4                 83.8 -97.3
            30                      85.4 – 99.2                 84.5 -98.1
            31                      86.2 – 99.9                 85.2 -98.9
            32                     86.5 – 100.6                 85.9 -99.7
            33                     87.6 – 101.4                86.6 -100.5
            34                     88.2 – 102.1                87.2 -101.2
            35                     88.8 – 102.3                87.8 -102.0
            36                     89.4 – 103.6                88.4 -102.7


  Lưu ý: Nên cử một cô chuyên trách theo dõi sức khỏe trẻ, cân đo và ghi biểu đồ (
  nếu không có cán bộ y tế)
  c. Cân nặng theo chiều cao
 Ứng với một chiều cao nhất định có một cân nặng tương ứng. Nếu cân nặng tương
ứng với chiều cao thấp hơn( hoặc cao hơn) cân nặng nên có là trẻ phát triển chưa
cân đối, có khả năng suy dinh dưỡng ( hoặc thừa cân)




                     Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
III. TIÊM CHỦNG VÀ PHÒNG BỆNH
1. Tiêm chủng
- Khi trẻ mới vào nhà trẻ, cô cần kiểm tra phiếu tiêm chủng của trẻ. Nếu trẻ chưa
được tiêm chủng đầy đủ, cô cần phối hợp với y tế nhắc nhở gia đình đưa trẻ đi tiêm
chủng.
- Cần theo dõi chặt chẽ tình trạng sức khỏe của trẻ sau tiêm chủng:
    - Giữ vết tiêm chủng sạch sẽ, không để trẻ sờ mó hoặc gãi vào đó
    - Ngày tiêm chủng cần cho trẻ hoạt động ít
    - Cặp nhiệt độ cho trẻ hằng ngày, nếu trẻ sốt nên cho trẻ ăn nhẹ, nghỉ ngơi
    - Nếu trẻ đau vết tiêm chủng, có thể chườm nóng chỗ tiêm
- Báo cho y tế địa phương những trường hợp bất thường để có biện pháp xử lí kịp
thời
                                   Lịch tiêm chủng

   Tuổi                 Loại văcxin                     Số lần           Địa bàn
                                                                        triển khai
Sơ sinh      BCG ( phòng bệnh lao)               Tiêm 1mũi
             Viên gan B                          Tiêm mũi 1
2 tháng      Bại liệt                            Uống lần1
             Bạch hầu- Ho gà- Uốn ván             Tiêm mũi 1
                                                 Tiêm mũi 2
                                                                        Toàn quốc
3 tháng      Bại liệt                            Uống lần 2
             Bạch hầu- Ho gà- Uốn ván            Tiêm mũi 2
4 tháng      Bại liệt                            Uống lần 3
             Bạch hầu- Ho gà- Uốn ván            Tiêm mũi 3
             Viêm gan B                          Tiêm mũi 3
9 tháng      Sởi                                 Tiêm mũi 1
1-5 tuổi     Viêm não nhật bản                   Tiêm mũi 2 cách mũi    Vùng có
                                                 1 sau 2 tuần           nguy cơ
                                                 Tiêm mũi 3 cách
                                                 mũi 2 sau 1 năm
2-5 tuổi     Tả ( uống trướcmùa dịch hàng        Uống 2 lần, lần 2      Vùng có
             năm)                                uống cách lần 1 sau    nguy cơ
                                                 2 tuần
3-10 tuổi    Thương hàn                          Tiêm 1 mũi             Vùng có
                                                                        nguy cơ
( Nguồn: Chương trình tiêm chủng mở rộng Quốc gia)

Hàng năm ngoài việc tổ chức tiêm chủng cho trẻ theo lịch như trên còn có những
ngày tiêm chủng chiến dịch và có những đợt tiêm chủng đột xuất tùy theo tình hình
dịch bệnh ở các địa phương. Vì vậy, giáo viên và nhà trường cần nắm được các thông
tin này từ y tế địa phương để tuyên truyền cho phụ huynh đưa con đi tiêm chủng đầy
đủ.
2. Phòng dịch
- Nếu trong nhà trẻ có nhiều trẻ mắc cùng một bệnh, cô cần báo với nhà trường mời
y tế đến khám, tìm nguyên nhân đề phòng dịch bệnh xảy ra.
- Trường hợp trong vùng đã xảy ra một dịch nào đấy, nhà trường cần phối hợp với y
tế để nhanh chóng dập tắt dịch bệnh.

3. Thơi gian cách li một số bệnh truyền nhiễm




                     Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Tên bệnh         Thời gian cách li trẻ bị bệnh ( ở        Theo dõi trẻ khỏe trong
                 nhà)                                     lớp
Thủy đậu         Suốt thời gian trẻ mắc bệnh( 7 ngày      11-21 ngày
                 kể từ khi mọc nốt mọng nước)
Bạch hầu         Suốt thời gian trẻ mắc bệnh              7 ngày
Ho gà            30 ngày kể từ khi mắc bệnh               14 ngày
Quai bị          21 ngày                                  21 ngày
Viêm gan         30 ngày                                  Trong vòng 40 ngày

4. Tủ thuốc và cách sử dụng
Tủ thuốc và các thuốc thiết yếu giúp cho cô giáo có thể sử trí ban đầu khi trẻ bị ốm,
khi gặp một số tai nạn bất ngờ, hoặc trong việc phòng dịch bệnh cho trẻ ngay tại
trường. Vì vậy, trường mầm non ( các lớp ở điểm lẻ) cần được trang bị tủ thuốc, có
đầy đủ các loại thuốc và dụng cụ y tế thiết yếu.
a. Nội dung tủ thuốc gồm
Thuốc sát trùng ngoài da ( cồn 70%, cồn ii ốt loãng 2,5%)
Thuốc hạ nhiệt Paracetamol.
Thuốc nhỏ mắt ( Chloramphenicol 0,4%). Thuốc nhỏ mũi trẻ em
Oresol
Dầu cao, bông thấm nước, băng dính, băng cầm máu, băng vô trùng
Nhiệt kế, kéo, kẹp bông, các loại nẹp, băng vải để cố định gãy xương
b. Bảo quản tủ thuốc
- Tủ thuốc phải đóng chắc chắn, có nhiều ngăn để lọ ( lọ thuốc, bông băng..) cửa
bằng kính và có khóa. Tủ thuốc phải treo cao trên tầm với của trẻ.
- Mỗi lọ thuốc đều phải dán nhãn ở ngoài và ghi rõ: tên thuốc, cách dùng, liều lượng,
hạn dùng. Các loại thuốc riêng đều phải để trong lọ riêng, có nắp đậy kín chặt.
thường xuyên kiểm tra để vứt bỏ những thuốc đã hạn dùng và bổ sung thuốc mới.
- Tủ thuốc phải được giữ sạch sẽ, không được để lẫn bất kì thứ gì khác vào tủ thuốc.
c. Cách sử dụng một số thuốc thông thường
Cồn i ốt 2,5%: Dùng nguyên chất hoặc pha loãng với một ít cồn 90 độ để bôi ngoài
da. Thường dùng để sát trùng vết thương nhỏ, rộng. Không dùng cồn biến chất, vì da
có thể bị ăn mòn. Bảo quản trong lọ đậy kín.
Chloramphenicol 0,4%: Chữa đau mắt đỏ, loét giác mạc, mỗi ngày tra thuốc 3-6 lần
Paracetamol ( viên nén 0,1g: 0,2g: 0,3g: 0,5g) : thuốc có tác dụng giảm đau, hạ
nhiệt, chữa đau khớp mãn tính, nhức đầu, đau mình mẩy, đau lưng, đau do chấn
thương( bong gân, gãy xương), trị sốt( không kể nguyên nhân), nhiễm khuẩn ở tai,
mũi họng, phế quản, sốt do tiêm chủng, say nắng.
Trẻ em: Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần tùy theo tuổi như sau:
Từ 6-12 tháng: 0.025- 0.05g (1/4 đến ½ viên loại 0.1g)
13tháng- 5 tuổi: 0.1 – 0.5g ( 1 đến 1,5 viên loại 0.1g)
Lưu ý:
Chống chỉ định ( không đựợc dùng) trong bệnh gan và thận nặng
Dùng liều cao kéo dài gâyhại cho gan
Tránh uống kéo dài 2 tuần liền
Oresol: xem phần thực hành pha Oresol ( Phẩn một số kĩ năng chăm sóc trẻ)

IV- PHÒNG VÀ SỬ LÍ MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP
1. Bệnh hăm kẽ
Nhận biết: thường xảy ra ở những nếp gấp của da như: bẹn, ngấn đùi, hố nách, cổ,
quanh hậu môn. Lớp da có thể hơi đỏ hoặc nứt nẻ và tấy đỏ với những đốm ở giữa có
mủ.
Nguyên nhân
    - Do tã lót ẩm ướt hoặc do trẻ quá nóng do bị ỉa chảy


                      Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
   -    Do dị ứng với các hóa chất trong bột giặt đã sử dụng để giặt quần áo, tã lót
        cho trẻ
phòng bệnh:
    - Chăm sóc da cẩn thận, không để da bị ướt, không để trẻ bị nóng quá
    - Quần áo, tã lót phải khô ráo, sạch sẽ. Khi thay tã lót, quần áo có thể để da
        trẻ được thoáng trong vài phút.
    Xử trí ban đầu:
    - Nên rửa cho trẻ bằng nước sạch, ấm và thấm khô kĩ
    - Khi rắc phấn rôm chú ý không rắc quanh bộ phận sinh dục của trẻ vì khi ướt
        phấn sẽ đóng tảng và làm tấy đỏ da.
    - Nhắc nhở cha mẹ chăm sóc da trẻ tốt hơn và đưa trẻ đến khám ở cơ sở y tế
2. Các bệnh ở miệng
a. Tưa miệng
Nhận biết: Đó là bệnh của xoang miệng, thường gặp nhiều ở trẻ còn bú khi bị suy
nhược và những dạng khác làm giảm sức đề kháng của cơ thể.
Khi mắc bệnh, ở niêm mạc vòm miệng, ở lưỡi, bên trong má thường có những màng
trắng giống như cặn sữa nhỏ. Trường hợp nặng, những màng trắng này dày và lan
rộng làm trẻ đau khó mút vú mẹ.
Nguyên nhân: là một bệnh nhiễ trùng do các loại nấm gây ra
Phòng bệnh
- Trước khi mẹ cho trẻ bú, cô cần nhắc mẹ lau rửa đầu vú cho sạch và bỏ đi vài giọt
sữa đầu. Cho trẻ uống nước sau khi bú sữa, sau khi ăn.
- Vệ sinh dụng cụ dùng cho trẻ ăn uống
Xử trí ban đầu: Rửa tay trẻ sạch sẽ để mầm bệnh không lây từ tay trẻ vào miệng
b. Viêm miệng loét
Nhận biết
- Thường thấy ở những trẻ bắt đầu mọc răng, trẻ ốm yếu, rối loạn dinh dưỡng do
thiếu vitamin.
- Miệng trẻ hay chảy nước bọt, ở lợi thường có những vạch màu xám, hơi thở nặng
mùi.
Nguyên nhân: Do liên cầu khuẩn hoặc các vi khuẩn khác.
Phòng bệnh
- Thường xuyên luộc đĩa bát, thìa cốc, rửa sạch đồ dùng, đồ chơi.
- Chăm sóc trẻ chu đáo, không nên lau mạnh vào trong miệng trẻ chưa bị bệnh để
tránh lám xây sát niêm mạc miệng và gây nhiễm trùng.
Xử trí ban đầu
- Sau mỗi lần cho trẻ ăn, cô cần cho trẻ lớn xúc miệng bằng nước đun sôi để nguội
hoặc lau miệng cho trẻ bé.
- Cách li kịp thời trẻ mắc bệnh với trẻ lành
- Báo cho cha mẹ trẻ biết để cho trẻ đi khám và điều trị kịp thời.
3. Bệnh về tai
a. Viêm tai ngoài
Nguyên nhân: Do nhọt mưng mủ trong lỗ tai hoặc là hậu quả của vết thương da do
kì cọ gãi quá mạnh làm xây sát và nhiễm trùng, cũng có thể là do có một vật lạ
trong tai.
Phòng bệnh
- Cần lau rửa tai trẻ sạch sẽ, nhẹ nhàng
- Thường xuyên nhìn tai và ống tai xem có dấu hiệu nhiễm trùng hoặc có vật lạ
không.
- Nhắc nhở trẻ không được cho vật lạ vào tai, không được gãi tai khi thấy tai đau.
Xử trí ban đầu
- Lau sạch dịch từ trong tai chảy ra bằng bông sạch
- Báo cho cha mẹ trẻ biết để đưa trẻ đễn cơ sở y tế


                      Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
b. Viêm tai giữa
Nhận biết: Trẻ hay bứt tai, vò tai kèm với khóc nhiều. Trẻ bỏ bú vì khi bú làm tai đau
tăng lên.
Nguyên nhân: Bệnh xảy ra như là biến chứng của những bệnh khác. Thường là do
biến chững của viêm đường hô hấp trên kéo dài, bệnh ỉa chảy, bệnh cúm...
Phòng bệnh
Nhắc cha mẹ trẻ điều trị triệt để các bệnh tai, mũi, họng
Cô cần dạy trẻ lớn xúc miệng và xì mũi sạch cho đúng cách
Xử trí ban đầu
Cô cần kiểm tra xem trẻ có sốt không, có vật lạ ở trong tai không. Nếu có mủ ở ống
tai ngoài, cấn đặt băng để thấm mủ, thay vài lần trong một ngày
Trao đổi với cha mẹ trẻ để có biện pháp điều trị viêm tai giữa.
4. Nhiễm khuẩn hô hấp cấp
Nhận biết;
Thể nhẹ: Thường là nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp trên bao gồm các trường hợp
viêm mũi, viêm amidan, viêm họng, trẻ thường có biểu hiện:
   + Sốt nhẹ dưới 38.5 độ , kéo dài vài ngày đến 1 tuần
   + Viêm họng, chảy nước mắt, nước mũi, ho nhẹ
   + không có biểu hiện khó thở, trẻ vẫn ăn, chơi bình thường.
Thể vừa và nặng: Hay gặp khi trẻ nhiễm khuẩn cấp đường hô hấp dưới như viêm
thanh, khí quản, viêm phế quản, viêm phổi và màng phổi. Trẻ thường có biểu hiện:
   + Sốt cao từ 38,5 độ trở lên ( ở trẻ suy dinh dưỡng có thể không sốt hoặc sốt
nhẹ)
   + Ho có đờm, nhịp thở nhanh, cánh mũi phập phồng, co kéo lồng ngực, tím tái,
tình trạng mệt mỏi, quấy khóc, kém ăn.
Nguyên nhân: Nhiễm khuẩn do hô cấp là một nhóm bệnh rất đa dạng do vi khuẩn
hoặc vi rút gây bệnh trên toàn bộ hệ thống đường thở.
Phòng bệnh
Đảm bảo tiêm chủng đầy đủ cho trẻ trong những năm đầu. Chăm sóc nuôi dưỡng trẻ
tốt.
Tránh cảm lạnh đột ngột. không để trẻ nằm ngủ trực tiếp dưới nền nhà.
Giữ vệ sinh nhà ở, nhà trẻ, không đun nấu trong nhà hoặc không để trẻ hít thở khói
thuốc lá, khói bếp, bụi bặm.
Xử trí ban đầu
Thể nhẹ:
   + Báo cho gia đình và trao đổi cách chăm sóc trẻ cho phụ huynh
   + không cần dùng kháng sinh, chăm sóc tại nhà và điều trị triệu trứng( để trẻ nằm
nơi thoáng mát, giữ không bị lạnh và gió lùa, mặc quần áo rộng rãi để trẻ dễ thở)
   + Ăn đủ chất, uống đủ nước( nước sôi để nguội hoặc nước quả). Thông thoáng mũi
họng cho trẻ dễ thở ( lau chùi mũi, nhỏ Argirol vào mũi ngày 2-3 lần). Giảm ho bằng
mật ong, thuốc ho bổ phế hoặc thuốc nam.
Thể vừa và nặng: Cô cần báo ngay cho cha mẹ biết và kịp thời đưa trẻ đến cơ sở y tế
gần nhất.
5. Bệnh về tiêu hóa.
a. Bệnh ỉa chảy
Nhận biết:
- Ở trẻ nhỏ, trẻ đột nhiên ỉa phân lỏng nhiều lần, có những hạt nhỏ màu trắng hoặc
xanh lá cây( hoa cà, hoa cải), có khi lẫn cả niêm dịch, trẻ uể oải, biếng ăn, nôn trớ.
- Ở trẻ lớn, trẻ ỉa phân lỏng nhiều lần ( trên 3 lần 1 ngày) kéo dài vài giờ đến vài
ngày
Nguyên nhân
- Chủ yếu là do chăm sóc trẻ kém vệ sinh và nguồn nước không sạch. Do ăn phải
thức ăn ôi thiu hoặc bị nhiễm bẩn.


                      Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
- Ỉa chảy do các bệnh nhiễm khuẩn khác như sởi, viêm phổi, viêm tai, do dùng
kháng sinh bừa bãi gây loạn khuẩn đường ruột.
Phòng bệnh
- Cho trẻ uống nước sạch đã đun sôi kĩ, không cho trẻ ăn tức ăn ôi thiu
- Rửa tay cho trẻ trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn
- Người chăm sóc trẻ và chuẩn bị thức ăn cho trẻ phải rửa tay sạch sẽ trước khi cho
trẻ ăn
- Giữ vệ sinh môi trường, sử dụng nguồn nước sạch
- Tiêm chủng đầy đủ nhất là tiêm phòng sởi
Xử trí ban đầu
- Có thể cho trẻ uống các loại nước sau: Oresol, nước cháo muối, nước hoa quả tươi,
chè loãng, nước búp ổi, búp sim, dừa non....
- Báo ngay cho cha mẹ trẻ biết và đưa trẻ đế cơ sở y tế khi trẻ có bất kì biểu hiện
nào dưới đây:
     Trẻ bị mất nươcs, biểu hiện là môi se mắt trũng, khát nước.
     Sốt, kém ăn và nôn nhiều
     Đi ngoài, phân lỏng nhiều lần trong 1-2 giờ
Chăm sóc trẻ sau khi bị ỉa chảy
- Trẻ bị ỉa chảy cần được ăn uống, không nên kiêng ăn. Trẻ cần ăn thức ăn mềm và
cho trẻ ăn 5-6 lần trong một ngày
- Hằng ngày cho trẻ ăn thêm bữa và kéo dài ít nhất một tuần lễ. Bồi dưỡng thêm cho
trẻ sau khi bị ỉa chảy là rất cần thiết để cho trẻ có thể phục hồi hoàn toàn. Trẻ đựoc
coi là phục hồi hoàn toàn sau tiêu chảy khi trẻ có cân nặng bằng trước khi trẻ bị ỉa
chảy.
Lưu ý: Khi trẻ bị ỉa chảy không nên tùy tiện dùng thuốc. Chỉ dùng thuốc khi có hưỡng
dẫn của cán bộ y tế.
b. Bệnh táo bón
Nhận biết: Dấu hiệu nhận biết là trẻ không ỉa trong vài ngày liền. Trong trường hợp
táo bón dai dẳng, trẻ có thể bị chướng bụng, biếng ăn, đôi khi nôn vào buổi sáng.
Trẻ thường mệt mỏi, quấy khóc nhiều.
Nguyên nhân:
- Táo bón có thể xuất hiện khi trẻ ăn không đủ no hoặc chỉ ăn sữa, thiếu chất xơ
thực vật và vitamin
- Táo bón có thể xảy ra trong một vài bệnh có kèm theo giảm lực cơ như trẻ bị còi
xương...
- Có thể do trẻ mải chơi mà nhịn khi mót đi ngoài
Phòng bệnh
- Cho trẻ ăn bổ sung đúng cách. Ở những trẻ ăn sữa đơn thuần, nhất là sữa bò nên
bổ sung thêm nước rau quả vào sữa. Thay đổi món ăn hằng ngày.
- Rèn luyện cho trẻ biết đi đại tiện vào những giờ nhất định trong ngày.
Xử trí ban đầu. Có thể cho trẻ uống một thìa dầu va dơ lin đã tiệt trùng, như vậy
niêm nạc phần dưới của trực tràng sẽ được dầu bao bọc, phân đi qua sẽ ít đau hơn
hoặc thụt dầu nhờn 10-15ml trước khi cho tre ngồi bô 30 phút.

    6 Bệnh còi xương
  Nhận biết: Bệnh còi xương có thể xuất hiện ngay từ khi trẻ 3 tháng tuổi
- Trẻ hay giật mình trong khi ngủ, đổ mồ hôi dầu ( thường gọi là ra mồ hôi trộm).
Trẻ rụng tóc phía sau đầu ( thường gọi là chiếu liếm)
- Có thể xuất hiện mềm xương chẩm, đồng thời chỗ nối tiếp giữa phần xương và sụn
của xương sườn dày lên.
- Nhìn vào đầu trẻ ta thấy phát sinh các bướu đỉnh, bướu trán, các đường khớp và
thóp chậm liền, mọc răng chậm và bất thường.




                      Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
- Do xương sườn, xương ức và các đốt sống bị mềm và dễ uốn nên lồng ngực trẻ còi
xươg thường bị biến dạng ( giống ngực gà). Các xương cảu khung chậu và chi dưới
cũng biến dạng, chân trẻ có hình chữu X hoặc chữ O. Cơ và dây chằng yếu, các khớp
dễ uốn, trẻ chậm biết ngồi, chậm biết đi, trường hợp còi xương nặng cột sống có thể
bị biến đổi gây gù, vẹo.
Nguyên nhân
- Do ăn uống kém dinh dưỡng, thiếu vitamin D trong cơ thể nên gây ra rối loạn lắng
đọng các muối canxi và photpho ở xương.
- Không được tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.
Phòng bệnh
- Đối với trẻ nhỏ: Cho bú sữa mẹ, ăn bổ sung đúng lúc, đúng cách; cho trẻ tắm
nắng, tắm không khí thường xuyên.
- Đối với trẻ lớn: Cho trẻ ăn các loại thức ăn có nhiều vitamin D, tập thể dục, dạo
chơi ngoài trời.
Xử trí ban đầu
- Tăng cường tắm nắng cho trẻ, chăm sóc dinh dưỡng hợp lí
- Cho trẻ uống vitaminD theo sự hướng dẫn của nhân viên y tế
7. Phòng chống suy dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể thiếu protein- năng lượng và các vi chất dinh
dưỡng. Bệnh này hay gặp ở trẻ dưới 3 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau,
nhưng ít nhiều đều có ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần và vận động
của trẻ. Trẻ suy dinh dưỡng dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, diễn biến bệnh thường
nặng và có thể dẫn đến tử vong.
Nguyên nhân
Sai lầm về phương pháp nuôi dưỡng: mẹ không có sữa hoặc thiếu sữa phải nuôi
nhân tạo bằng sữa bò pha loãng hoặc nước cháp có đường. Ăn bổ sung quá sớm
hoặc quá muộn, cai sữa sớm.
Nhiễm khuẩn
Suy dinh dưỡng còn gặp ở những trẻ sau khi bị các bệnh nhiễm khuẩn như viêm
phổi, ỉa chảy, lao, giun sán hoặc do trẻ biếng ăn, nôn trớ.
Ngoài ra trẻ sinh ra thiếu tháng hoặc bị dị tật bẩm sinh: sứt môi, hở hàm ếch, tim
bẩm sinh cũng là nguyên nhân gây kém hấp thu dinh dưỡng làm cho trẻ dễ bị suy
dinh dưỡng.
Nhận biết: Để có thể nhận biết được trẻ suy dinh dưỡng cần theo dõi cân nặng của
trẻ trên biểu đồ phát triển.
Phòng bệnh:
Suy dinh dưỡng là một bệnh có thể phòng tránh được bằng các biện pháp sau đây:
     Vận động nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung hợp lí
     Tuyên truyền cho phụ huynh đi tiêm chủng đầy đủ
     Theo dõi cân nặng
     Vận động phụ huynh sinh đẻ có kế hoạch.
     Lưu ý các giai đoạn trẻ dễ bị suy dinh dưỡng:
             Thời gian trẻ cai sữa mẹ: không nên cai sữa cho trẻ khi thời tiết đang
                nóng hoặc quá lạnh, khi trẻ đang ốm và biếng ăn. Sau khi trẻ cai sữa
                cần chú ý chế biến thức ăn kĩ và thay đổi món ăn cho trẻ đỡ chán.
             Giai đoạn chuyển chế độ ăn: Do trẻ đã tự ăn được cơm cùng với gia
                đình nên việc chăm sóc trẻ không đựơc quan tâm như trước.
             Sự thay đổi môi trường sống của trẻ khi bắt đầu đến nhà trẻ ảnh
                hưởng đến sinhhoạt hằng ngày của trẻ làm cho trẻ ăn kém, ngủ kém,
                dễ sút cân. Vì vậy, khi thay đổi vầ sinh hoạt của trẻ cần chuẩn bị chu
                đáo cho trẻ và quan tâm đúng mức đến chế độ chăm sóc và nuôi
                dưỡng trẻ.
Xử trí.


                      Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
- Suy dinh dưỡng vừa
     Nếu trẻ đang bú mẹ thì vẫn phải tiếp tục cho bú và thời gian cho bú kéo dài
        đến 24 tháng hoặc lâu hơn. Khi trẻ cai sữa vẫn nên cho trẻ ăn thêm sữa bò,
        sữa đậu nành hoặc các loại bột dinh dưỡng. Xử trí kịp thời các bệnh nhiễm
        khuẩn.
     Tăng cường dinh dưỡng cho trẻ bằng cách cho trẻ ăn thêm bữa phụ và tăng
        cường thức ăn bổ dưỡng cho trẻ để trẻ mau hồi phục lại sức khỏe:
            o Bù đắp thiếu năng lượng bằng cách bổ sung 500ml sữa bò toàn phần
                và một thìa con bơ thực vật hay dầu thực vật vào bữa ăn.
            o Tất cả các loại thực phẩm đều cung cấp năng lượng. Thức ăn bù đắp
                sự thiếu hụt năng lượng chủ yếu là tinh bột.
     Tăng đậm độ năng lượng trong thức ăn cho trẻ bằng:
            o Bột và các loại lương thực khác. Súp hoặc các thức ăn ninh nhừ.
            o Thêm các thực phẩm giàu năng lượng và chất dinh dưỡng vào cháo và
                thức ăn ninh nhừ. Sử dụng bột mộng ( mạch nha)
- Suy dinh dưỡng nặng và rất nặng: suy dinh dưỡng nặng phải xem như một bệnh
cấp cứu, tỉ lệ tử vong của suy dinh dưỡng nặng cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào sự
chăm sóc trẻ, nhất là trong những ngày đầu nhập viện. Vì vậy cần đưa trẻ đến cơ sở
y tế để được tư vấn và điều trị cho trẻ.
8. Một số bệnh truyền nhiễm
a. Bệnh sởi
- Bệnh sởi là bệnh truyền nhiễm do virut gây ra, là bệnh rất dễ lây có xu hướng xảy
ra dịch và là nguyên nhân của nhiều trường hợp tử vong, đặc biệt ở trẻ suy dinh
dưỡng.
- Bệnh sởi lây truyền qua đường hô hấp trực tiếp từ trẻ bệnh sang trẻ lành, qua
những giọt nước bọt nhỏ li ti do trẻ bệnh thải ra khi ho hoặc hắt hơi. Bệnh có thể lây
cho trẻ khác trước khi có triệu chứng bệnh xuất hiện.
Nhận biết
- Trẻ sốt cao 38-39 độC, xuất hiện sau ki tiếp xúc trẻ bệnh 10-12 ngày. Trong giai
đoạn này có thể chảy nước mũi, ho, mắt đỏ, chảy nước mắt và xuất hiện những nốt
trắng nhỏ bên trong miệng.
- Sau vài ngày xuất hiện ban nhỏ, bắt đầu ở mặt, phía trên cổ. Trong thời gian
khoảng 3 ngày, ban lan xuống thân thể, sau đó đến tay và chân. Trong thời kì sởi
mọc, trẻ ho nhiều hơn kèm theo sốt, kém ăn, mệt mỏi. Sau khi sởi mọc xong, nhiệt
độ giảm xuống, ban sởi mất theo thứ tự như khi mọc. Ban kéo dài 5-6 ngày rồi mất
để lại những vết thâm. Sau khi bệnh sởi qua khỏi, trẻ có miễn dịch bền vững suốt
đời.
- Biến chứng: Tiêu chảy mất nước nặng, viêm tai giữa và nhiễm trùng đường hô hấp
nặng và có thể tử vong. Ngoài ra còn có thể gây mù lòa.
Phòng bệnh
- Tiêm phòng sởi cho trẻ
- Khi phát hiện trẻ bị sởi, nên cách li ngay với trẻ lành
Xử trí ban đầu
- Trẻ có triệu chứng nghi sởi, cha mẹ nên để trẻ ở nhà theo dõi
- Cách li trẻ bị sởi với trẻ lành
- Tăng cường dinh dưỡng và cho trẻ uống thên nước, giữ vệ sinh cho trẻ
b. Bệnh ho gà
Ho gà là bệnh nguy hiểm nhất, đặc biệt là đối với trẻ 12 tháng tuổi.
Nhận biết: Tuổi mắc bệnh cao nhất là trẻ từ 1-5 tuổi. Thời kì ủ bệnh dài từ 3-5
tuần. Thoạt đầu trẻ ho khan và tăng dần trong vòng 7-10 ngày ( nhất là về đêm).
Khi ho trẻ đỏ mặt, nước mắt, nước mũi giàn giụa, về sau ho có tính chất co giật từng
cơn. Các đợt ho kế tiếp nhau, do trẻ hít vào mạnh, có tiếng rít như có tiếng gà gáy.
Cơn ho thường kết thúc bằng việc trẻ nôn ra nhiều đờm dãi. Giai đoạn ho của bệnh


                      Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
ho gà có thể kéo dài tới 5-6 tuần. Trẻ có thể biến chứng viêm phổi hay viêm phế
quản.
Nguyên nhân: Bệnh do trực khuẩn gây ra, lây qua đường không khí
Phòng bệnh: Tiêm phòng cho trẻ là biện pháp hữu hiệu nhất làm giảm tỉ lệ trẻ mắc
bệnh và nếu trẻ có mắc bệnh thì tiến triển nhẹ hơn.
Xử trí ban đầu: Khi phát hiện trẻ bị ho gà, cô giáo phải cách li trẻ từ khi bệnh khởi
phát. Nếu trong lớp có vài trẻ ho gà phải tách các trẻ này thnàh nhóm riêng, báo cho
cha mẹ biết và đề nghị đưa trẻ đi điều trị.
c. Bệnh thủy đậu
Nhận biết: Trên da trẻ có các nốt ban lan rộng hầu như khắp người. Mới đầu xuất
hiện các vết nhỏ màu đỏ, sau đó thành các vết phỏng ở giữa các vết đỏ, các vết
phỏng nhanh chóng chuyển thành màu đục, ở chỗ các nốt phỏng đã khô hình thành
các vẩy thẫm màu. Hiện tượng nổi ban trong bệnh thủy đậu diễn biến trong vòng 3-5
ngày, nốt ban có nhiều hình thái khác nhau, cùng trên một vị trí da có các nốt ban
mọc trước đã thành vẩy, có các nốt ban mới mọc. Trẻ sốt kéo dài suốt thời gian nổi
ban, có khi sốt 39-40độC. ở trẻ kém dinh dưỡng và chăm sóc thiếu vệ sinh có thể
biến chứng nhiễm trùng da.
Nguyên nhân: Do virut có tính chất lây lan lớn, có thể lây nhiễm trong suốt thời kì
nổi ban. Những trẻ chưa mắc bệnh rất nhạy cảm với bệnh này.
Phòng bệnh: Không nhận những trẻ đã tiếp xúc với trẻ mắc bệnh vào nhóm trẻ. Trẻ
đã mắc bệnh có thể nhận lại sau 7 ngày từ khi ban nổi hết, cần cách li nghiêm ngặt
giữa nhóm trẻ này với nhóm trẻ khác.
Xử trí ban đầu
    - Vệ sinh mũi họng, dinh dưỡng đầy đủ, cho uống vitaminC, uống nước hoa quả
    - Bôi xanhmetylen khi nốt phỏng bị vỡ ra
    - Nếu dùng kháng sinh phải có sự chỉ dẫn của bác sĩ.
d. Viêm kết mạc mắt ( đau mắt đỏ)
Viêm kết mạc mắt ( đau mắt đỏ) là bệnh có tỉ lệ mắc cao nhất trong các bệnh về
mắt.
Nhận biết: Khi đau mắt đỏ trẻ có các dấu hiệu sau:
     Cảm giác cộm, rát, ngứa, nóng trong mắt
     Sợ ánh sáng, có phản ứng co mí mắt, chảy nước mắt nhiều
     Không ảnh hưởng đến thị lực ( nếu thị lực giảm có thể do tổn thương nhiều ở
        giác mạc phần sâu hơn của mắt)
     Ở trẻ em hay thường gặp viêm màng tiếp hợp cấp do trực khuẩn Kock-
        Weeks, bệnh lây phát nhanh thành dịch, thời gian ủ bệnh khoảng 2-3 ngày,
        phát bệnh đột ngột. mắt cộm nhiều, rất sợ ánh sáng, mắt khó mở vào buổi
        sáng vì nhử mắt nhiều làm dính lông mi. Mủ tụ thành cục ở góc mắt trong
        hoặc có thể chảy xuống má. Màng tiếp hợp đỏ như tiết.
Phòng bệnh: Đau mắt đỏ là bệnh dễ lây lan, cần chú ý biện pháp phòng bệnh, thực
hiện tốt chế độ vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân ( dùng nước sạch, không tắm
nước ao tù, không dùng khăn mặt và chậu rửa mặt chung với người đau mắt và cần
cách li khi đang bị đau mắt đỏ trong vòng 15 ngày...)
Xử trí ban đầu: Khi bị viêm màng tiếp hợp cần đến cơ sở y tế khám và hướng dẫn
điều trị. Có thể nhỏ mắt bằng dung dịch Chloramphenicol 0,4% hoặc dùng thêm
kháng sinh theo chỉ định của cán bộ y tế.

V. MỘT SỐ KĨ NĂNG TRONG CHĂM SÓC TRẺ
1. Cách cho trẻ tắm nắng và tắm không khí
     Trẻ từ 3-6 tháng nên cho trẻ tắm nắng và tắm không khí 2 lần trong ngày,
      mỗi lần 10 phút, lúc đầu mỗi lần 3 phút, sau tăng mỗi ngày 1 phút.




                      Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
       Trẻ từ 12-13 tháng nên cho tắm 2 lần trong ngày, mỗi lần 15 phút, mỗi ngày
        tăng thêm 2 phút. Nên cho trẻ ra hiên nhà vào buổi sáng và buổi chiều khi có
        nắng nhẹ. Chú ý không để trẻ bị nóng và bị lạnh quá.
     Trẻ từ 13-36 tháng mùa hè khi trẻ tắm nắng và tắm không khí, nên mặc quần
        đùi, áo cộc tay, đi dép. Mùa đông những ngày có nắng ấm, có thể bỏ mũ, cởi
        tất để tăng cường cho da trẻ được tiếp xúc với ánh nắng mặt trời. Tốt nhất
        cho trẻ tắm không khí 2 lần trong một ngày, lần 1 vào lúc tập thể dục buổi
        sáng, lần 2 vào lúc chơi trò chơi vận động hoặc dạo chơi ngoài trời, thời gian
        khoảng từ 20-30 phút.
Thời gian tắm tốt nhất: Mùa hè vào khoảng 7h30 đến 8h30 và mùa đông vào khoảng
8h30-900h buổi sáng.
Lưu ý: Cô cần qua tâm đến trang phục của trẻ, không để trẻ mặc quá nóng vào mùa
hè hoặc quá lạnh vào mùa đông. Kh tắm nắng và tắm không khí, nếu thấy trẻ có dấu
hiệu mặt đỏ, ra mồ hôi phải cho trẻ vào bóng râm ngay và cho trẻ uống nước. Trong
lúc trẻ đang ốm ( sốt, viêm phổi, viêm họng...) không nên cho trẻ tắm nắng và tắm
không khí.
2. Cách chăm sóc trẻ mệt
- Khi đón trẻ và chăm sóc trẻ trong cả ngày, nếu thấy trẻ có gì khác thường, cô phả
theo dõi sức khỏe của trẻ cẩn thận. Có thể sốt nhẹ do mọc răng, đi tướt nhẹ hợc do
trẻ kém ăn, kém chơi sau khi ốm dậy. Nếu nghi ngờ trẻ mắc bệnh truyền nhiễm như
sởi, ho gà, cúm, thủy đậu, viêm phổi hoặc sốt cao..phải đưa đến phòng y tế của nhà
trẻ hoặc đưa trẻ đi khám ở cơ sở y tế gần nhất, đồng thời báo cho bố mẹ biết đến
đưa trẻ về nhà để tránh lây truyền cho trẻ khác.
- Đối với trẻ sau khi ốm dậy; trẻ còn yếu mệt hay quấy khóc, ăn ita, ngủ ít, thích
đượ bế bồng cô cần quan tâm, chăm sóc trẻ hơn. Cô chơi với trẻ, nói chuyện với trẻ
nhiều hơn bình thường. Cô nên tập đi, nói lại với trẻ (nếu cần).
- Cho trẻ ăn, uống từng ít một nhưng nhiều lần hơn trong ngày, tăng cường giữ vệ
sinh sạch sẽ và điều độ trong ăn uống. Có thể cho trẻ ngủ nhiều hơn bình thường.
- Có thể cho trẻ uống thuốc theo yêu cầu của gia đình nhưng cần phải theo sự hướng
dẫn cảu y tế và kí nhận của cha mẹ trẻ.
3. Cách chăm sóc khi trẻ sốt
- Nhiệt độ cơ thể của trẻ bình thường là 36,5-37O C. Khi nhiệt độ cơ thể tăng trên
37độC là sốt nhẹ, 39- 40oC là trẻ sốt cao. Trẻ có thể sốt do mắc các bệnh nhiễm
trùng, do mất nước, do mặc quá nhiều quần áo, do trời nóng và khát nước.
- Chăm sóc: Đặt trẻ nằm nơi yên tĩnh, cho trẻ uống nước quả, nước chè đường. Cởi
bớt quần áo, lau mình cho trẻ bằng nước ấm. Nếu trẻ toát mồ hôi cần thay quần áo
và lau khô da, không nên chườm lạnh cho trẻ. Cho trẻ uống Paracetamon theo chỉ
dẫn và cần báo ngay cho cha mẹ hoặc đưa trẻ đến cơ sở y tế.
4. Cách chăm sóc khi trẻ nôn trớ
- Khi chăm sóc trẻ nôn trớ cô cần có thái độ ân cần, dịu dàng không làm trẻ sợ hãi,
tránh để trẻ bị lạnh.
- Đặt trẻ nằm nghiêng hoặc ngồi dậy đề phòng trẻ hít phải chất nôn gây ngạt
- Lau sạch chất nôn trên người trẻ, thay quần áo nếu cần.
- Thu dọn chất nôn và quan sát chất nôn để báo với y tế và cha mẹ trẻ
- Sau khi trẻ nôn nên cho trẻ uống một chút nước ấm, có thể cho ăn nhẹ. Trẻ nôn
nhiều cần báo y tế và cha me trẻ.
5. Cách đo nhiệt độ cho trẻ
Có nhiều phương pháp đo nhiệt độ cho trẻ nhưng thông dụng nhất là phương pháp
cặp nách: Cô cầm đầu trên ống nhiệt kế và vẩy mạnh xuống cho tới khi cột thủy
ngân tụt xuống vạch 35oC. Cô ngồi bế trẻ vào lòng, cầm ống nhiệt kế bên tay phải,
nhấc cánh tay trái trẻ lên để giơ nách ra rồi đặt ống nhiệt kế vào nách cà hạ tay trẻ
xuống, ép lấy nhiệt kế. Giữ cánh tay trẻ như vậy trong 2-3 phút rồi lấy ra đọc nhiệt
độ( nhiệt độ cặp ở nách thấp hơn thân nhiệt thực tế 0,5-0,6oC).


                      Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
6. Cách đếm nhịp thở
Phát hiện trẻ thở nhanh trong bệnh đường hô hấp
- Nhịp thở biểu hiện tình trạng hô hấp của trẻ. Khi trẻ thở nhanh là biểu hiện tình
trạng bệnh của đường hô hấp. Vì vậy, phải đếm nhịp thở của trẻ, khi thấy trẻ đang
mắc bệnh đường hô hấp có biểu hiện không bình thường hoặc khó thở.
- Cách đếm nhịp thở: Đặt trẻ nằm ngửa trên giường, vén áo để có thể quan sát toàn
bộ lồng ngực của trẻ. Dùng đồng hồ có kim giây quan sát lồng ngực và đếm nhịp
thở, mỗi lần lồng ngực phồng lên là một nhịp thở, đếm trong một phút.
- Trẻ 12tháng- 5 tuổi, nếu nhịp thở trên 40 lần/phút là thở nhanh.
7. Cách pha Oresol
- Pha một gói vào một lượng nước thêo chỉ dẫn ghi trên gói.
- Pha gói Oresol với nước sôi để nguội, không được pha với sữa, canh, nước hoa quả
hay với nước giải khát.
- Khuấy kĩ và cho trẻ uống bằng chén. Sau 24 giờ nếu trẻ chưa uống hết nên bỏ đi
và pha gói mới.
8. Nấu cháo muối
Cháo bột gạo có thể thay thế dung dịch Oresol.
    - Công thức: 30g bột gạo tẻ + 1 gạt thìa cà phê muối ăn + 1 lit nước( 5 bát ăn
        cơm tương đương 1 lít nước) đun sôi trong 5 phút.
    - Công thức 2: 50g ( 1 nắm) gạo tẻ + 3,5g( một nhúm) muối ăn + 6 bát nước,
        đun nhỏ cho nhừ gạo và chắt đủ 5 bát nước.
    Một lit nước cháo cho 175 Kcal và một ít chất dinh dưỡng cho trẻ.
    Cho trẻ uống bằng chén. Sau 6h nếu trẻ chưa dùng hết nên đun lại trước khi
    uống và sau 12h nên bỏ đi, nấu cháo mới.
    9 Cách cho trẻ uống thuốc
    a. Đối với trẻ còn nhỏ
    - Cô bế trẻ ngồi đầu trên hõm khủy tay sao cho đầu trẻ cao hơn một chút. Đặt thìa
    lên môi dưới của trẻ, nghiêng cán thìa để cho thuốc chảy từ từ vào một bên miệng
    trẻ. Đừng bao giờ đổ thuốc thẳng vào miệng trẻ vì dễ làm trẻ bị ho, sặc. Nếu trẻ
    không chịu há miệng, cô có thể nhờ cô khác dùng ngón tay đè nhẹ vào cằm trẻ cho
    trẻ há miệng ra.
    - Khi cho trẻ nhỏ uống thuốc là viên nén, cô cần nghiền thuốc cho mịn rồi hòa với
    nước cho thêm một chút đường, quấy đều cho tan rồi cho trẻ uống bằng thìa.
    b. Đối với trẻ lớn
    cô chuẩn bị sẵn cốc đựng nước, thuốc cần cho trẻ uống, cô ngồi đối diện với trẻ,
    đưa thuốc và động viên trẻ tự cho thuốc vào miệng và đưa nước cho trẻ uống,
    sau đó cô nên bảo trẻ há miệng để xem trẻ đã nuốt hết thuốc chưa.
    Lưu ý:
    - Khi trẻ khóc, hoảng sợ không được ép trẻ uống thuốc để đề phòng trẻ bị sặc.
    - Khi cha mẹ gửi thuốc để cô giáo tiếp tục cho trẻ uống thuốc ở lớp, cô giáo yêu
        cầu gia đình ghi tên trẻ vào lọ thuốc của trẻ, ghi rõ cách dùng, số lần liều
        lượng mà bác sĩ đã quy định khi điều trị cho trẻ, đồng thờ ghi tên thuốc, cách
        dùng, số lần, liều lượng vào một quyển sổ theo dõi và nhận bàn giao thuốc
        một cách cẩn thận

   D BẢO VỆ AN TOÀN VÀ PHÒNG TRÁNH MỘT SỐ TAI NẠN THƯỜNG GẶP
   I. TẠO MÔI TRƯỜNG AN TOÀN CHO TRẺ.
   Nhà trẻ là ngôi nhà thứ 2 của trẻ, khi trẻ ở nhà trẻ phải được bảo đảm an toàn về
   các mặt sau:
   1. An toàn về thể lực, sức khỏe,
   - Giáo viên phối hợp với gia đình và nhà trường chăm sóc, nuôi dưỡng đầy đủ, vệ
   sinh cá nhân và phòng tránh bệnh tật cho trẻ.




                      Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
- Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Nước uống và nước sinh hoạt dùng cho trẻ
đảm bỏa vệ sinh.
- Nhóm trẻ phải có túi cứu thương ( trong túi có đồ dùng sơ cứu và các loại thuốc
thông thường sử dụng cho trẻ- xem thêm mục Tủ thuốc và cách sử dụng)
2. An toàn về tâm lí
Cô thương yêu và đáp ứng mọi nhu cầu của trẻ. Dành thời gian tiếp xúc vui vẻ
với trẻ, tạo không khí thân mật như ở gia đình để tạo cảm giác yên ổn cho trẻ khi
ở nhà trẻ, trẻ tin tưởng rằng cô yêu trẻ. Tránh gò ép, dọa nạt, phê phán trẻ. Đặc
biệt quan tâm chăm sóc các trẻ mới đi nhà trẻ và các trẻ có nhu cầu đặc biệt.
3. An toàn về tính mạng
- Không để xảy ra tai nạn và thất lạc trẻ. Có hàng rào bảo vệ xung quanh khu
vực trường ( hoặc nhóm trẻ). Sân chơi và đồ chơi ngoài trời phù hợp với lứa tuổi,
tránh trơn trượt. Trường và nhóm học không gần đường giao thông lớn.
- Bảo đảm đủ ánh sáng cho nhóm trẻ ( bằng hệ thống cửa sổ hhoặc đèn chiếu
sáng)
- Tạo không gian cho trẻ hoạt động trong nhóm, tránh kê, bày quá nhiều trong
nhóm và sắp xếp đồ dùng, đồ chơi trong nhóm hợp lí.
- Đảm bảo đồ dùng, đồ chơi sạch sẽ và an toàn với trẻ.
- Nhà vệ sinh phù hợp lứa tuổi, tránh để sàn bị trơn trượt. các bể chứa nước,
miệng cống phải có nắp đậy kín.
- Không để trẻ tiếp xúc hoặc nhận quà từ người lạ.
- Nếu thấy cơ sở vật chất chưa đảm bảo an toàn cho trẻ tại nhóm, lớp mình phụ
trách, giáo viên cần có ý kiến kịp thời với ban giám hiệu nhà trường, phụ huynh
học sinh và cùng bàn bạc để có thể đưa ra các biện pháp phù hợp tạo môi trường
an toàn cho trẻ.( Ví dụ: chưa có tường rào bảo vệ hoặc tường rào bảo vệ bị hỏng,
chó của các nhà xung quanh thả rông chạy vào nhóm trẻ; đồ dùng đồ chơi không
đảm bảo vệ sinh,an toàn, tường, trần nhà ở của nhóm trẻ bị hư hỏng...). Giáo
viên cũng cần tham gia ý kiến khi xây dựng một nhóm trẻ mới trong khu dân cư
nên đặt ở vị trí nào để trẻ đến nhà trẻ không bị quá xa, không bị ảnh hưởng của
điều kiện môi trường không tốt như gần đường giao thông lớn, gần các cơ sở sản
xuất có thải ra các chất độc hại, gây ồn....
II. MỘT SỐ TÌNH HUỐNG CÓ THỂ XẢY RA TAI NẠN CHO TRẺ
Các tai nạn thương tích có thể xảy ra đối với trẻ lứa tuổi nhà trẻ là: bỏng, ngã,
ngộ độc, động vật cắn, liên quan đến giao thông, các vật sắc nhọn, các vật tự
nhiên, đuối nước, điện giật, máy móc, ngạt thở, sét đánh, các nguyên nhân
khác....
1. Từ nhà đến trường và từ trường trở về nhà
Tai nạn trẻ thường gặp là liên quan đến giao thông, ngã, đuối nước, động vật
cắn, thất lạc...
2. Trong nhà trẻ
a. Giờ chơi
- Chơi ở ngoài trời: Trong giờ chơi tự do ở ngoài trời, trẻ có thể gặp các tai nạn
như: Chấn thương phần mềm, rách da, gãy xương...nguyên nhân thường do trẻ
đùa nghịch, xô đẩy nhau, dùng que làm kiếm nghịch, đấu kiếm, chọc vào nhau
và trẻ có thể vô tình chọc vào mắt gây chấn thương. Ngoài ra, trẻ còn chơi đùa
cầm gạch, sỏi, đá ném nhau hoặc chạy nhảy va vào các bậc thềm gây chấn
thương.
- Chơi trong nhóm trẻ:
Khi chơi trong nhóm trẻ, trẻ có thể gặp các tai nạn như dị vật mũi, tai do trẻ tự
nhét đồ chơi ( hạt cườm, con xúc sắc, các loại hạt quả, đất nặn...) vào mũi, tai
mình hoặc nhét vào tai bạn, mũi bạn. Trẻ hay ngậm hoặc chọc đồ chơi vào mồm
gây rách niêm mạc miệng, hít vào gây dị vật đường thở, nuốt vào gây dị vật
đường ăn.


                  Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Trẻ chơi tự do trong nhóm chạy đùa xô đẩy nhau va vào thành bàn, cạnh ghế,
mép tủ...có thể gây chấn thương.
b. Chơi- tập có chủ định
Thường ít gây ra tai nạn nhưng ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ. Trẻ có thể
đùa nghịch chọc bút vào mặt nhau ( chọc vào mắt nhau)
c. Giờ ăn
- Bỏng: thức ăn mang từ nhà bếp lên còn đang nóng hoặc các phíc nước sôi để
gần nơi trẻ chơi đùa nếu không chú ý trẻ có thể va, vướng phải gây bỏng cho trẻ.
- Sặc thức ăn: trẻ vừa ăn, vừa cười đùa hoặc khi trẻ đang khóc mà cô cố ép trẻ
ăn, uống đều rất dễ gây sặc cho trẻ.
- Dị vật đường ăn: thường gặp là hóc xương do chế biến không kĩ.
d. Giờ ngủ
- Ngạt thở: Nếu để trẻ ngủ lâu trong tư thế nắm sấp xuống đệm, úp mặt xuống
gối sẽ thiếu dưỡng khí gây ngạt thở( đặc biệt lưu ý trẻ dưới một tuổi).
- Hóc dị vật: Do khi đi ngủ trẻ ngậm các loại hạt, kẹo cứng, ngậm đồ chơi và rơi
vào đường thở gây ngạt.
- Ngộ độc: Trong khi trẻ ngủ nếu trẻ hít phải khí độc từ các nguồn gây ô nhiễm
không khí ( thường do than tổ ong đốt tại nơi trẻ ngủ, do khói than củi hoặc nhà
trẻ ở gần và cuối chiều gió bị ảnh hưởng bởi các lò gạch đang hoạt động, xưởng
sản xuất có thải ra các chất khí độc hại....) rất dễ bị ngộ độc.

III. CÁCH PHÒNG TRÁNH VÀ SỬ TRÍ BAN ĐẦU MỘT SỐ TAI NẠN

1. Nguyên tắc chung
 - Giáo viên phối hợp với nhà trường và phụ huynh tạo cho trẻ một môi trường an
toàn về sức khỏe, tâm lí và thân thể.
- Giáo viên cần nhắc nhở và tuyên truyền cho phụ huynh thực hiện các biện pháp
an toàn cho trẻ, đề phòng những tai nạn cho trẻ có thể xảy ra tại gia đình, khi
cho trẻ đến trường hoặc đón trẻ từ trường về nhà.
- Trẻ lứa tuổi nhà trẻ phải luôn luôn được chăm sóc, trông coi của người có trách
nhiệm. Cô giáo phải thường xuyên theo dõi, bao quát cháu mọi lúc mọi nơi.
- Giáo viên phải được tập huấn kiến thức và kĩ năng về phòng và xử trí ban đầu
một số tai nạn thường gặp. Hằng năm, nhà trường cần phối hợp với y tế địa
phương tập huấn, nhắc lại cho giáo viên về nội dung này.
- Khi trẻ bị tai nạn phải bình tĩnh xử trí sơ cứu ban đầu tại chỗ, đồng thời báo cho
cha mẹ và y tế nơi gần nhất để cấp cứu kịp thời cho trẻ.
- Giáo dục về an toàn cho trẻ: Những đồ vật gây nguy hiểm và những nơi nguy
hiểm trẻ không được đến gần.
2. Phòng tránh trẻ thất lạc và tai nạn
2.1 Đề phòng trẻ bị lạc
- Cô nhận trẻ trực tiếp từ tay cha mẹ trẻ
- Đếm và kiểm tra trẻ nhiều lần trong ngày, chú ý những lúc đưa trẻ ra ngoài
nhóm trẻ trong các hoạt động ngoài trời hoặc thăm quan. Bàn giao số trẻ khi giao
ca.
- Cửa phòng trẻ phải có khung chắn
- Cô phải ở lại nhà trẻ cho tời khi trả hết trẻ.
- Chỉ trả trẻ cho cha mẹ trẻ hoặc người lớn được ủy quyền, không trả trẻ cho
người lạ mặt.
2.2 Đề phòng dị vật đường thở
- Không cho trẻ cầm các đồ chơi quá nhỏ, tránh trường hợp trẻ cho vào miệng
mũi.
- Khi cho trẻ ăn các quả có hạt cần chú ý bóc bỏ hạt.




                   Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
- Trẻ ăn bột, cháo, sữa cần cho trẻ ở tư thế ngồi, nếu bú mẹ cần bế cao đầu,
không cho trẻ ăn khi nằm.
- Gióa dục trẻ lớn khiăn không được vừa ăn, vừa đùa nghịch, nói chuyện.
- Không ép tẻ ăn, uống khi trẻ đang khóc. Thận trọng khi cho trẻ uống thuốc, đặc
biệt là các thuốc dạng viên.
- Khi xảy ra trường hợp trẻ bị dị vật đường thở, giáo viên cần bình tĩnh sơ cứu
cho trẻ, đồng thời báo cho gia đình và đưa tới y tế nơi gần nhất để cấp cứu cho
trẻ.

2.3 Phòng tránh đuối nước
- Nếu có điều kiện nên dạy trẻ tập bơi sớm
- Rào ao, các hố nước, kênh mương cạnh trường ( hoặc nhóm trẻ).
- Không bao giờ được để trẻ một mình ở dưới nước hoặc gần nơi nguy hiểm.
- Ở các nhà trẻ, không nên để trẻ một mình vào nơi chứa nước kể cả xô chậu
nước. Giám sát khi trẻ đi vệ sinh, khi trẻ chơi gần khu vực có chứa nguồn nước.
- Giếng nước, bể nước phải xây cao thành và các dụng cụ chứa nước như chum,
vại...cần có nắp đậy chắc chắn.
2.4 Phòng tránh cháy, bỏng
- Kiểm tra thức ăn trước khi cho trẻ ăn, uống. Tránh cho trẻ ăn thức ăn, nước
uống còn quá nóng.
- Không cho trẻ đến gần nơi đun bếp ga, bếp củi, nồi canh hoặc phích nước còn
nóng.
- Không để trẻ nghịch diêm,, bật lửa và các chất khác gây cháy, bỏng. Để diêm,
bật lửa, nến, đèn dầu, bàn là, vật nóng xa tầm với của trẻ hoặc nơi an toàn đối
với trẻ. Giáo dục cho trẻ nhận biết đồ vật và nơi nguy hiểm để trẻ tránh xa.
- Lưu ý không để trẻ đến gần ống xả của xe máy khi vừa dừng vì rất dễ gây
bỏng. Khi bị bỏng thường bỏng sâu, dễ nhiễm trùng và để lại sẹo.
2.5 Phòng chống tai nạn do ngộ độc
- Không để bếp than tổ ong, bếp củi đang đun hoặc đang ủ gần nơi sinh hoạt của
trẻ.
- Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Khi nghi ngờ thức ăn bị ôi thiu hoặc thức
ăn có nhiều chất bảo quản, phụ gia ( lạp sườn, thịt nguội...) cô giáo báo cho nhà
trường hoặc phụ huynh ( nếu là thức ăn do gia đình mang tới) và không nên cho
trẻ ăn.
- Thuốc chữa bệnh để trên cao, ngoài tầm với của trẻ.
- Không cho trẻ chơi đồ chơi có hóa chất như chai, lọ đựng thuốc, đựng màu gây
độc hại cho trẻ.
- Không được đựng thuốc trừ sâu, thuốc chuột, dầu hỏa,a xít vào chai nước ngọt,
nước khoáng, bia lon, chai dầu ăn, cốc...
2.6 Phòng tránh tai nạn do điện giật
- Đặt ổ điện, bảng điện ngoài tầm với của trẻ. Nếu trẻ lớn có thể hướng dẫn trẻ
sử dụng một cách an toàn.
- Loại bỏ các vật sắc nhọn bằng kim loại, mảnh thủy tinh, gốm, sắt...khỏi nơi vui
chơi của trẻ.
- Giải thích cho trẻ về sự nguy hiểm của các vật sắc nhọn khi chơi, đùa nghịch
hay sinh hoạt.
2.8 Phòng tránh tai nạn giao thông
- Khi cho trẻ đi bộ, cô dắt trẻ đi trên vỉa hè, đi bộ bên tay phải để tạo thói quen
cho trẻ.
- Tuyên truyền cho phụ huynh đưa trẻ từ nhà đến lớp cần chú ý: Khi đưa đón
bằng xe đạp, xe máy cần để trẻ ngồi an toàn, tốt nhất khi đéo trẻ cần cho trẻ
ngồi trong ghế. Tránh cho trẻ em dưới 15 tuổi đèo em đi học.
2.9 Phòng tránh động vật cắn: Chó, méo, rắn, ong đốt..


                   Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Không cho trẻ đến gần và trêu chó, mèo lạ. Xích hoặc đeo rọ móm cho chó.
Không để trẻ chơi gần các bụi rậm, nơi có tổ ong để đề phòng rắn cắn, ong đốt.
3. Xử trí ban đầu một số tai nạn
3.1 Dị vật đường thở
Nhận biết: Dị vật đường thở thường xảy ra đột ngột, thường thấy các biểu hiện
chủ yếu sau đây:
- Trẻ đang ăn, uống hoặc chơi đột ngột ho sặc sũa, thở rít, mặt đỏ, chảy nước
mắt.
- Ngoài ra trẻ khó thở dữ dội, mặt môi tím tái và có thể ngừng thở, nặng hơn là
trẻ bị bất tỉnh, đái dầm.
Khi trẻ bị dị vật đường thở cần cấp cứu tại chỗ ngay lập tức, nếu không sẽ bị ngạt
thở dẫn đến tử vong.
Cách xử trí
- Đối với trẻ nhỏ:
Cách 1: Người cấp cứu cầm chặt 2 chân trẻ dốc ngược, dùng lòng bàn tay vỗ
nhanh, liên tục vào giữa 2 xương bả vai từ 1-5 lần.
Cách 2: Đặt trẻ ở tư thế sấp, đầu dốc, bụng ngực nằm trên cẳng tay trái người
cấp cứu, tay phải vỗ 1-5 lần vào giữa 2 xương bả vai.
- Đối với trẻ lớn:
Cách 1: Người cấp cứu ngồi trên ghế hoặc quỳ một chân vuông góc đặt đầu trẻ
trên đầu gối dốc xuống, 1 tay đỡ ngực trẻ, tay kia vỗ nhẹ 1-5 lần giữa 2 xương
bả vai.
Cách 2: Đặt trẻ nắm sấp vắt ngang phần bụng sát cơ hoành lên 1 cẳng tay hoặc
lên đùi người cấp cứu và tay kia vỗ giữa 2 xương bả vai 1-5 lần.
Lưu ý:
- Nếu do sặc bột: Khi sơ cứu như trên, bột bật ra, cô tiếp tục dùng ngón tay phải
móc hết bột còn lại trong miệng và họng trẻ. Lật ngửa trẻ và hà hơi thổi ngạt.
Nếu trẻ nhợt nhạt, sờ không thấy mạch cổ phải đặt trẻ nằm trên nền cứng ( ván
cứng, sàn nhà...) và xoa bóp tim ngoài lồng ngực. Nếu xử trí sớm sau 5-15 phút,
tim sẽ đập trở lại và khi trẻ tỉnh, khẩn trương đưa trẻ đến cơ sở y tế.
- Nếu do các dị vật khác: Nếu sở cứu dị vật đã bật ra và trẻ hết khó thở, giáo
viên vẫn phải theo dõi cho đến khi trẻ trở lại bình thường.
- Nếu dị vật không thoát ra được thì phải lấy ngón tay móc dị vật ra, hãy rất cẩn
thận đừng để dị vật rơi sâu thêm vào cổ họng trẻ.
- Nếu trẻ vẫn tiếp tục bị sặc:
Với trẻ bé đặt trẻ nằm nghiêng và hơi ngửa đầu ra sau, một tay đỡ lấy lưng, tay
kia đè mũi ức, ấn vào trong, lên phía trên, bằng một động tác nhanh và thúc
mạnh, sau đó lau sạch miệng.

Với trẻ lớn hãy đặt trẻ ngồi vào lòng, một tay đỡ lấy lưng trẻ, tay kia nắm lại
thành quả đấm, ngón cái nằm trong, ấn mạnh vào trong và lên trên ở điểm giữa
rốn và mũi ức 4 lần.
       + nếu vẫn không lấy được dị vật, cô áp miệng mình vào miệng trẻ và thổi
nhẹ để không khí lọt qua chỗ bị tắc. Đồng thời hết sức nhanh chóng đưa trẻ đến
cơ sở y tế gần nhất để cấp cứu.
3.2 Điện giật
Xử trí tại chõ
- Cứu trẻ thoát khỏi dòng điện bằng cách nhanh chóng ngắt cầu giao( hoặc rút
cầu trì), dùng gậy gỗ( tre) khô gỡ dây điện khỏi cơ thể trẻ, hoặc kéo trẻ khỏi
nguồn điện. Tránh điện truyền sang người cứu, tuyệt đối không được dùng tay
không, phải đeo găng cao su hoặc cuốn nilong, vải khô, chân đi guốc, dép khô
hoặc đứng trên tấm ván khô.




                  Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
- Nếu trẻ ngạt thở, tim ngừng đập, trong khi chờ y tế đến hoặc trước khi đưa trẻ
đi bệnh viện, phải khẩn trương kiên trì thổi ngạt và xoa bóp tim ngoài lồng ngực
cho tới khi trẻ thở lại ( có khi phải làm 3-4 người mới hồi phục được).
- Nếu có vết thương bỏng, nhanh chóng phủ kín vết thương bằng cách băng khô
vết bỏng trước khi chuyển đi.
3.3 Đuối nước
Ngay sạu khi vớt trẻ lên phải làm nhanh các việc sau:
- Cởi nhanh quần áo ướt.
- Làm thông thường thở bằng cách dốc ngược đầu xuống thấp rồi lấy nhanh, ép
vào lồng ngực để tháo nước ở đường hô hấp ra ngoài. Sau đó, lau sạch miệng và
tiến hành hô hấp nhân tạo ( hà hơi thổi ngạt), xoa bóp tim ngoài lồng ngực ( xem
phần thực hành “ Cách hà hơi thổi ngạt và xoa bóp tim ngoài lồng ngực”) cho đến
khi thở trở lại, tim đập lại.
- Khi trẻ bắt đầu thở lại, tim đạp lại, phải lau khô người, xoa dầu cho nóng toàn
thân, quấn chăn ấm và chuyển ngay tới cơ sở y tế gần nhất.
Lưu ý: Trong khi chuyển trẻ đến y tế, vẫn phải theo dõi sát, nếu cấn vẫn phải
tiếp tục thổi ngạt và bóp tim ngoài lồng ngực.
3.4 Vết thương chảy máu
- Rửa vết thương bằng nước sôi để nguội.
- Bôi cồn sát trùng, băng lại, trường hợp vết thương rộng hay ở mặt nên đưa đến
bệnh viện.
- Không rắc các loại thuốc bột, thuốc mỡ lên vết thương.
Xử trí khi vết thương ở các mạch máu lớn
Động mạch ở chân, tay
- Cầm máu tạm thời bằng băng ép taịi chỗ. Garo phía trên chỗ tổn thương
- Cách đặt garo:
     Dùng băng cao su mềm mỏng, đàn hồi to bản ( chiều rộng 3-5cm, dài 1,2
        -2m đối với tay hoặc 5-8cm, dài 2-3m với chân) chặn trên đường đi của
        động mạch cách vết thương 2-3cm, phải lót vải mềm ở da trước khi quấn
        garo. Quấn garo vừa phải khi không còn máu chảy ra ở phía dưới là được.
     Nếu không có garo ( băng garo theo quy định), có thể dùng tạm khăn vải,
        dây buộc hoặc dùng tay ấn vào đường đi của động mạch.
- Sau cùng là phải băng vết thương lại tránh nhiễm khuẩn.
- Khi đặt garo xong phải chuyển trẻ đến cơ sở y tế hoặc bệnh viện ngay.
Tổn thương mạch nội tạng
- Băng ép vết thương phía ngoài
- Chuyển trẻ đến cơ sở y tế, bệnh viện một cách nhanh nhất.
3.5 Rắn cắn
Nhận biết
- Chỉ sau vài phút rắn độc cắn, xung quanh các vết cắn bị phù nề, tấy đỏ. Trẻ
thấy nhức buốt chỗ cắn.
- Sau 30phút hay 1 giờ, trẻ và mồ hôi, mặt tái nhợt, nôn ọe, ỉa chảy, mạch
nhanh.
Xử trí
- Ngay sau khi bị rắn cắn nên buộc ngay một đoạn garo lên phía trên vết cắn độ
vài cm không cần buộc chặt lắm.
- Rửa sạch và rạch rộng vết cắn, nếu có thể làm ngay giác hút để hút máu lẫn
nọc độc ra bớt, có thể rửa bằng dung dịch thuốc tím loãng.
- Chuyển gấp tẻ lên cơ sở y tế để tiêm huyết thanh chống nọc rắn.
3.6 Chó cắn
- Rửa ngay vết cắn bằng nước xà phòng rồi băng lại và chuyển trẻ đến cơ sở y
tế( nơi có huyết thanh và văcxin phòng dại) để điệu trị càng sớm càng tốt.




                  Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
- Theo dõi trong vòng 10 ngày. Nếu cho có những biểu hiện lạ như run rẩy, xù
lông, hung dữ, thè lưỡi và dãi lòng thòng, tấn công đột ngột đồng loại hay người
đến gần là biểu hiện chó dại.
3.7 Xử trí một số tai nạn khác.
     Trẻ hóc xương
Nên mang đến bệnh viện
Không nên chữa mẹo và moi tay vào cổ họng trẻ
     Bỏng: Loại trừ tác nhân gây bỏng. Rửa hoặc ngâm ngay vết thương bằng
        nước lạnh ( sạch ) để giảm độ nóng, tránh làm bẩn vết bỏng, giữ không
        để vỡ nốt phồng.
- Nếu bỏng nhẹ, diện tích da bị bỏng nhỏ có thể bôi dầu cá lên vết bỏng( nếu có),
vết bỏng sẽ xẹp dần rồi khỏi.
- Nếu bỏng nặng phải đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế.
     Gãy xương: Giữ chỗ xương gãy ở tư thế bất động bằng cách: Dùng 2 nẹp
        bằng gỗ hoặc thanh tre to bản, có chiều dài lớn hơn khoảng cách hai khớp
        lân cận, đặt sát vào 2 bên xương gãy rồi dùng cuộn băng hay miếng vải
        dài cuộn chặt hai miếng nẹp lại (suốt từ đầu này đến đầu kia của nẹp) và
        nhẹ nhàng đưa trẻ đến bệnh viện.
3.8 Xử trí lồng ruột ở trẻ còn bú
Lồng ruột xảy ra là do 2 đoạn ruột chui vào nhau, thường gặp ở trẻ 4-12 tháng
tuổi.
Nhận biết
- Trẻ đang chơi bỗng nhiên khóc thét, ưỡn người, bỏ bú, bỏ ăn. Hiện tượng này
xảy ra từng cơn. Sau mỗi cơn trẻ nằm yên hoặc ngủ thiếp, rồi lại đến cơn tiếp
theo.
- Trẻ bị nôn, có thể nôn ra sữa, thức ăn hoặc dịch trong. ỉa ra máu.
- Khi trẻ nằm yên có thể thấy sờ thấy búi lồng ở dưới sườn phải, quanh rốn hoặc
hố chậu trái.
- Khi trẻ bị lồng ruột lâu bụng có thể bị chướng. Có thể có sốt nhẹ.
Xử lí
- Ngay sau khi phát hiện lồng ruột cần: Không dùng bất kì loại thuốc giảm đau
nào. Đưa ngay trẻ đến bệnh viện, đồng thời báo cho cha mẹ trẻ biết.
- Nếu trẻ bị lồng ruột mà đưa đến cơ sở y tế muộn, không được xử trí kịp thời sẽ
gây hoại tử ruột, rất nguy hiểm đến tính mạng.
3.9 Hướng dẫn hô hấp nhân tạo, xoa bóp tim ngòai lồng ngực
Nhiều tai nạn có thể dẫn đến ngạt thở, ngừng thở và tim ngừng đập. Khi trẻ bị
tình trạng trên ( có thể do hóc dị vật, chết đuối), cô cần bình tĩnh để xử trí cấp
cứu ngay bằng cách: Kiểm tra nhịp thở, nhịp đập của tim thật nhanh, làm thông
đường thở, hà hơi thổi ngạt, bóp tim ngoài lồng ngực.
Kiểm tra nhịp thở thật nhanh
- Đặt trẻ nằm ngửa trên mặt phẳng vững chắc
- Ghé tai gần miệng, mũi nghe hơi thở
- Nhìn lồng ngực xem có chuyển động không
- Nếu không có dấu hiệu còn thở, phải hô hấp nhân tạo ngay, đồng thời người
khác phải gọi xe cấp cứu hoặc cán bộ y tế.
Kiểm tra nhịp đập của tim
Làm thật nhanh trong vòng 5 giây, bằng cách: nghe nhịp đập của tim hoặc bắt
mạch ở các mạch máu lớn. Nếu không thấy tim đập hoặc không bắt được mạch
phải xoa bóp tim ngoài lồng ngực ngay.
a. Hô hấp nhân tạo
- Nhanh chóng làm thông đường thở:
Nới rộng quần áo, mở rộng miệng trẻ và lấy các vật lạ, đờm dãi ra khỏi miệng.
Nếu trẻ nôn, lật trẻ nằm nghiêng và lau sạch chất nôn.


                  Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
   Đặt một bàn tay xuống dưới gáy, còn bên tay kia đặt ở trán làm cho đầu trẻ ngửa
   ra sau tối đa. Theo dõi xem trẻ có thể thở được không, nếu không phải hà hơi
   thổi ngạt ngay cho trẻ.




   - Hà hơi thổi ngạt: Sau khi đã làm thông đường thở, cô quỳ bên trái ngang đầu
   trẻ. Cô hít vào một hơi dài, bịt 2 lỗ mũi trẻ và mở rộng miệng trẻ, sau đó áp
   miệng mình vào miệng trẻ, thổi nhẹ nhàng, rồi bỏ miệng mình ra để cho hơi thở
   ở lồng ngực trẻ thoát ra, lấy hơi thổi tiếp một lần nữa. Mỗi phút khoảng 20-25
   lần, tiếp tục hà hơi cho đến khi trẻ thở được.
   Lưu ý:
        Quan sát khi thổi vào lồng ngực trẻ thấy phồng lên là được, nếu lồng ngực
           không nhô lên là có dị vật làm tắc khí quản, do đó cần lấy dị vật ra( xem
           phần xử trí hóc dị vật) và móc miệng trẻ để cho hết đờm dãi.
        Thổi vừa phải, không thổi quá mạnh sẽ làm rách phế nang gây chảy máu.
        Đầu trẻ trong suốt thời gian này phải ngửa hết ra sau.
   b. Xoa bóp tim ngoài lồng ngực
   Trường hợp tim ngừng đập phải xoa bóp tim:
   Đặt trẻ nằm ngửa trên nền cứng ( giường hoặc ván)
   Xác định vị trí để bóp tim: Điểm giữa của mũi ức với phần đáy của cổ.
   Bóp tim ngoài lồng ngực
   - Với trẻ nhỏ: Luồn một bàn tay dưới vai và nắm lấy phần trên cánh tay trẻ. Tay
   kia dùng 2 ngón tay ấn vào vị trí bóp tim xuống sâu 1,5-2,5cm, rồi thả ra, nhịp 2
   lần/ giây.
   - Với trẻ lớn: Dùng gót bàn tay ấn sâu 2,5-3cm rồi thả ra, nhịp 3lần/2giây ( 1 lần
   ép, cô đếm từ 1-5) chỉ ép lồng ngực sau một động tác thổi ngạt và xoa bóp tim,
   thấy trẻ hồi tỉnh dần lại là tốt. tiếp tục làm như vậy cho đến khi tim đập đều và
   trẻ thở được.
   Lưu ý:
   - Khi ấn xương ức xuống nên làm vừa phải, nếu mạnh quá dễ gẫy xương, nếu
       nhẹ quá thì không có kết quả.
   - Nếu có 2 người, thì một người thổi ngạt, người kia bóp tim
   - Nếu có một người thì tay phải bóp tim, tay trái giữ đầu ngửa ra sau để hà hơi.

E. MỘT SỐ LƯU Ý TRONG CHĂM SÓC TRẺ KHUYẾT TẬT

Đối với trẻ nhà trẻ, vấn đề phát hiện sớm và can thiệp cho trẻ khuyết tật là hết sức
quân trọng. Phát triển sớm và can thiệp sớm làm hạn chế tác hại của khuyết tật, tạo
cơ hội cho trr phát triển tối đa những mặt tốt của trẻ, bù đắp phần nào những thiếu
hụt do khuyết tật gây ra. Trẻ khuyết tật được hòa nhập tại các nhóm trẻ cần được ăn
uống, chăm sóc sức khỏe như những trẻ khỏe mạnh, bình thường cùng lứa tuổi. Tuy
nhiên, tùy theo từng trẻ, loại tật mà cần quan tâm hơn trong việc xây dựng và thực
hiện kế hoạch chăm sóc dinh dưỡng và sức khỏe phù hợp với đặc điểm cá nhân của
trẻ.

1. Trẻ khuyết tật có nguy cơ suy dinh dưỡng hoặc béo phì cao hơn trẻ bình
thường.
- Tùy theo từng loại tật mà mà chú ý cho trẻ ăn nhiều hơn một số loại thức ăn
Ví dụ:
     Trẻ khiếm thị cần được ăn nhiều dầu mỡ, rau có máu xanh non, xanh thẫm,
       quả có màu vàng, đỏ, cam...


                      Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
      Trẻ giảm khả năng vận động cần chú ý cho trẻ ăn nhiều hơn những thức ăn
       giàu đạm, vitaminD và caxi giúp cho sự phát triển vận động ở trẻ như trứng,
       sữa, thịt bò, cá, tôm, cua, ốc, các loại đỗ....
     Trẻ có khó khăn trong học tập cần được ăn nhiều loại thức ăn giàu dinh dưỡng
       như đã nêu ở trên, đặc biệt là thức ăn giàu đạm, chất béo, muối khoáng như
       muối i ốt, cá biển, tôm, cua, trứng, sữa, dầu mỡ, lạc vừng...
- Những thức ăn giàu dinh dưỡng có thể lấy ngay từ địa phương, trong vườn của mỗi
gia đình hoặc vườn trường, chế biến thành các món ăn khác nhau cho trẻ ăn hằng
ngày.
2. Khi tổ chức bữa ăn cho trẻ khuyết tật tại lớp
- Cách xếp chỗ ngồi cho trẻ khuyết tật:
     Nên bố trí một chỗ nhất định cho trẻ khiếm thị ngồi ăn đảm bảo thuận tiện
       cho trẻ, người trông trẻ và những trẻ khác để có thể bao quát, giúp đỡ trẻ. Đồ
       dùng, các món ăn cngx cần được sắp xếp một cách thống nhất. ví dụ: các
       món ăn nước để ở phía tay phải của trẻ, rau và thức ăn mặn đặt ở phía tay
       trái.
     Đối với trẻ khuyết tật về vận động, cô giáo nên sắp xếp trẻ ngồi ở vị trí thuận
       tiện để cô giáo hoặc các bạn có thể hỗ trợ được trẻ.
     Một số trẻ khuyết tật có khó khăn về ăn uống ( lưỡi đẩy ra ngoài, dễ bị trớ khi
       ăn), giáo viên nên phối hợp với gia đình để tìm ra cách cho trẻ ăn phù hợp
       như: dùng thìa đầu bằng, khi cho trẻ ăn không đưa thìa vào miệng sâu quá,
       cho ăn chậm hơn trẻ bình thường.
3. Trẻ khuyết tật dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn và siêu vi khuẩn hơn so với
trẻ bình thường. Do vậy giáo viên cần phối hợp chặt chẽ với cha mẹ để phát hiện
sớm và chữa bệnh kịp thời cho trẻ, đặc biệt là khi thời tiết thay đổi, chuyển mùa,
thay đổi chế độ sinh hoạt.
4. Trong chăm sóc trẻ khuyết tật, giáo viên cần chú ý nhiều hơn đến các yếu
tố nhằm đảm bảo an toàn cho trẻ như nền nhà cần bằng phẳng, không trơn, lối đi
thông thoáng, cửa ra vào, cầu thang phải có cửa lửng chắn hoặc tay vịn an toàn,
giáo viên luôn ở bên cạnh trẻ. Tùy theo mức độ khuyết tật mà hướng dẫn trẻ tự phục
vụ một số hoạt động đơn giản như tự xúc ăn, tự lấy nước uống, rửa tay, lau miệng..
5. Hãy để trẻ khuyết tật chủ động khám phá, tìm tòi, không nên “ trông coi”,
“ nuông chiều”, “ bao bọc” trẻ quá mức ( do cha mẹ, cô giáo thương trẻ hoặc
cho rằng trẻ không thể vận động dược). Nếu cho trẻ ăn tùy thích ( cho trẻ ăn quá
nhiều), trong khi trẻ ít vận động, tập luyện sẽ làm cho trẻ trở nên thụ động, béo phì.
Do đó, cô giáo và cha mẹ cần kết hợp cho trẻ ăn uống đủ chất, hợp lí với việc tập
luyện giúp trẻ phát triển tốt.
6.Một số trẻ khuyết tật hòa nhập tự ti, mặc cảm, chậm chạm, khả năng tự
phục vụ yếu, giáo viên cần chú ý hướng dẫn các kĩ năng ăn uống, vệ sinh, tự phục
vụ cho trẻ. Các kĩ năng này cần được lặp đi lặp lại nhiều lần như khuyến khích trẻ
khuyết tật ăn cùng với trẻ khác, hoặc trẻ bình thường giúp trẻ khuyết tật trong việc
ăn uống, tự phục vụ( lau mũi, lau tay, thu dọn bàn sau khi ăn..), tạo cơ hội cho trẻ
tham gia càng nhiều, tự làm càng sớm càng tốt. kiên nhẫn để trẻ chủ động trải
nghiệm, hoạc hỏi tránh trông coi một cách quá mức ( song vẫn phải đảm bảo an
toàn cho trẻ). Như vậy tạo cho trẻ cảm giác mình giống như những trẻ bình thường
khác, đièu đó giúp trẻ phát triển sự tự tin và tính độc lập.
                                      PHẦN BỐN
  HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN NỘI DUNG GIÁO DỤC LẬP KẾ HOẠCH VÀ TỔ CHỨC
                                      THỰC HIỆN

TRẺ 3-12 THÁNG




                      Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
                   HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN NỘI DUNG GIÁO DỤC

1. GIÁO DỤC PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT
1.1 GIÁO DỤC DINH DƯỠNG VÀ SỨC KHỎE
Nội dung giáo dục dinh dưỡng sức khỏe:
- Cho trẻ làm quen với chế độ ăn uống tại nhà trẻ, rèn luyện một số thói quen tốt
trong ăn uóng.
- Tập cho trẻ một số thói quen tốt về vệ sinh cá nhân

I. HƯỚNG DẪN CHUNG
1. Tập cho trẻ làm quen với chế độ ăn bột tại nhà trẻ, tập một số thói quen
tốt trong ăn uống.
a. Tập cho trẻ thích nghi với chế độ ăn tại nhà trẻ và đảm bảo nhu cầu bú mẹ của
trẻ.
Đối với trẻ 3-6 tháng tuổi: Trong giai đoạn này, chế độ ăn của trẻ là sữa, những
ngày đầu trẻ mới đến nhà trẻ, giáo viên cần hướng dẫn các bà mẹ sao cho để trẻ
được búmẹ nhiều nhất. Trong trường hợp trẻ không có điều kiện bú mẹ như mong
muốn thì cho trẻ ăn các loại sữa khác như sữa bò, sữa đậu nành...Cách cho trẻ làm
quen với các loại sữa này giống nguyên tắc cho trẻ ăn bổ sung sẽ được trình bày dưới
đây.
Đối với trẻ 6-12 tháng tuổi: Trẻ bắt đầu ăn bổ sung, cần đảm bảo nguyên tắc khi cho
trẻ ăn bổ sung:
- Cho trẻ làm quen với mùi vị và đặc điểm của thức ăn ngoài sữa mẹ, khuyến khích
cho trẻ tập ăn 2-3 thìa thức ăn mỗi ngày và ăn 2lần/ngày.
- Tăng dần về lượng và sự đa dạng thức ăn.
- Cách cho trẻ ăn:
 Lúc đầu cho trẻ ăn những món đơn giản( bột gạo, sữa). Cho trẻ ăn ít một, tăng dần
về lượng và chất lượng. Mỗi lần chỉ cho trẻ làm quen với một loại thức ăn mới.
Cho trẻ ăn làm nhiều bữa nhỏ trong ngày.
Với nguyên tắc trên, đầu tiên nên cho trẻ ăn bột gạo nấu với sữa, lúc đầu chỉ một
thìa bột gạo nấu với 4-5 thìa sữa, sau tăng dần gạo lên 3-4 thìa, khi trẻ đã ăn quen
bột gạo, có thể cho trẻ ăn thêm một thức ăn mới( ví dụ: nấu bột với lòng đỏ trứng
gà)c. Khi cho trẻ ăn một loại thức ăn mới, không nên để người lạ bón cho trẻ ăn hoặc
dùng một dụng cụ khác lạ ( như thìa mới) cho trẻ ăn. Với cách thực hiện như trên,
đến cuối độ tuổi trẻ sẽ được làm quen với nhiều loại thức ăn khác nhau của chế độ
ăn bột. Cô giáo cần căn cứ vào thực tế khả năng từng trẻ mà tập và khuyến khích sự
phát triển của trẻ một cách phù hợp.
- Với những trẻ biếng ăn, giáo viên có thể chia ít hơn mức bình thường một chút,
nhưng phải có biện pháp khuyến khích chứ không bắt buộc. Nói chuyện với trẻ và
nhìn âu yếm trẻ trong suốt thời gian ăn giúp trẻ ăn tăng dần cho tới khi đủ khẩu
phần, hoặc phối hợp với cha mẹ để trẻ ăn đủ lượng dinh dưỡng cần thiết.
- Không dọa nạt khi trẻ từ chối không muốn ăn hoặc khi bữa ăn kéo dài quá mức.
Không cho trẻ ăn thức ăn mới khi trẻ đang ốm, mệt.
- Trong chơi- tập hay những hòan cảnh phù hợp, giáo viên cần tận dụng các tình
huống để giáo dục dinh dưỡng cho trẻ: Khi cho trẻ ăn, uống, cô giáo có thể cho trẻ
sờ vào bát, thìa, cốc, âu yếm, động viên khuyến khích những gì trẻ thực hiện được,
trò chuyện với trẻ về việc cô đang làm, đồ dùng, ăn uống, thức ăn trẻ đang ăn....( ví



                      Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
dụ: Cô Hà xúc bột cho Bin ăn nhé! Bột trứng ngon quá, miệng Bin rất xinh, cái thìa
thật khéo, Bin đã ăn hết thìa bột rồi....). Thái độ ân cần, âu yếm và vui vẻ của cô
giáo cũng giúp trẻ ăn ngon miệng, nhanh thích nghi với chế độ ăn bột ở nhà trẻ.
- Khi giáo dục dinh dưỡng cho trẻ, giáo viên cần kiên trì, phối hợp với cha mẹ tập cho
trẻ ăn ít một để trẻ quen dần với thức ăn mới, sau đó tăng dần số lượng, loại thức
ăn. Cứ như vậy tập cho trẻ quen dần với nhiều lọai thức ăn và cách chế biến khác
nhau.
b. Tập cho trẻ biết uống nước bằng chén, bước đầu hình thành một số thói quen tốt
trong ăn, uống.
Trẻ từ 3-9 tháng tuổi trở lên tập cho uống nước bằng cốc, chén, dần dần trẻ có thể
tự bưng cốc uống. Trong một số hoàn cảnh phù hợp, cô cần tạo các cơ hội để trẻ
được quan sát, nghe cô nói và trẻ được thực hành, bước đầu hình thành thói quen tốt
trong ăn, uống.
Lưu ý: Đảm bảo an toàn cho trẻ trong khi ăn, uống.



2. Tập cho trẻ một số thói quen tốt về vệ sinh cá nhân
Tùy theo từng thời điểm, hoàn cảnh thích hợp mà giáo viên chuẩn bị những dụng cụ,
đồ dùng vệ sinh có sẵn trong lớp, chuẩn bị một số bài thơ, bài hát, tranh ảnh...Thông
qua đó tập cho trẻ bước đầu có một số nề nếp tốt trong vệ sinh cá nhân ( ngồi bô,
làm quen với sự sạch sẽ tay, chân, mặt, mũi ).
a. Tạo cho trẻ có thói quen ngồi bô.
- Tập cho trẻ đi bô vào những thời điểm phù hợp theo nhu cầu của trẻ để tạo thành
nề nếp, có thể vào các thời điểm như: Trước và sau bữa ăn trước và sau giấc ngủ và
ở một địa điểm nhất định.
- Trong giờ đi bô, cô cần hướng dẫn tỉ mỉ nhẹ nhàng cho từng cháu, tránh quát mắng
trẻ.
b. Cho trẻ làm quen với sự sạch sẽ
- Trong khi lau mặt, lau tay cho trẻ, cô vừa làm vừa trò chuyện để trẻ cảm nhận
được sự sạch sẽ và tạo tình cảm âu yếm giữa cô và trẻ để trẻ có cảm giác yên tâm
như mẹ ở nhà.
- Nếu trẻ hay mút tay, cô có thể hạn chế thói quen trẻ mút tay bằng cách gây sự chú
ý vào việc khác như đưa đồ chơi cho trẻ chơi hoặc cho trẻ xem tranh ảnh.

PHẦN NĂM

HƯỚNG DẪN ĐÁNH GIÁ
Đánh giá là hoạt động thu thập thông tin, phân tích và so sánh với mục tiêu chương
trình nhằm định hướng, điều chỉnh chương trình Chăm sóc – Giáo dục trẻ. Hoạt động
đánh giá có thể do giáo viên tiến hành để tổ chức và điều chỉnh hoạt động chăm sóc
– giáo dục cho phù hợp với trẻ. Hoạt động đánh giá có thể do các cấp quản lý giáo
dục (Bộ, Sở, Các phòng giáo dục – đào tạo và Ban giám hiệu nhà trường) tiến hành
để giám sát, thanh tra việc thực hiện chương trình Chăm sóc – giáo dục trẻ ở các nhà
trẻ. Vì vậy, căn cứ vào đối tượng tham gia đánh giá (giáo viên hay cán bộ quản lý
giáo dục), việc đánh giá ở nhà trẻ có thể chia ra làm hai giai đoạn:
- Đánh giá trẻ trong quá trình chăm sóc - giáo dục.
- Đánh giá việc thực hiện chương trình Chăm sóc – Giáo dục trẻ.
A – ĐÁNH GIÁ TRẺ TRONG QUÁ TRÌNH CHĂM SÓC – GIÁO DỤC
I – MỤC ĐÍCH


                      Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Hoạt động đánh giá ở nhà trẻ di giáo viên tiến hành nhằm mục đích:
- Xác định nhu cầu, hứng thú và khả năng của từng trẻ để giáo viên có thể lựa
    chọn những tác động chăm sóc – giáo dục thích hợp.
- Tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu trong quá trình chăm sóc – giáo dục của
    mình để từ đó điểu chỉnh việc tổ chức, việc chăm sóc – giáo dục sao cho phù hợp
    với trẻ. Đồng thời xem xét để cải thiện tốt hơn những yếu tố có tác động đến sự
    phát triển của trẻ (Ví dụ: môi trường giáo dục…)
II – NỘI DUNG
Giáo viên đánh giá trẻ trong quá trình chăm sóc – giáo dục có thể chia thành hai
loại:
1. Đánh giá trong các hoạt động hàng ngày
Giáo viên tiến hành đánh giá trẻ hang ngày trong quá trình chăm sóc – giáo dục.
Những hoạt động trong ngày của trẻ nhà trẻ bao gồm: hoạt động giao lưu cảm xúc,
hoạt động với đồ vật, hoạt động chơi, hoạt động chơi – tập, hoạt động chăm sóc vệ
sinh.
Khi đánh giá trẻ, giáo viên đối chiếu kết quả trẻ đạt được với mục đích, yêu cầu đặt
ra, lưu ý những vấn đề trẻ chưa đạt được để điều chỉnh khi lập kế hoạch cho những
hoạt động tiếp theo.
a) Các nội dung cần đánh giá
- Những biểu hiện về tình trạng sức khỏe của trẻ (khi mới đến lớp và trong ngày).
- Cảm xúc, hành vi và thái độ của trẻ trong các hoạt động.
- Những kiến thức và kỹ năng của trẻ
Dựa trên kết quả đánh giá, giáo viên xác định:
- Mức độ đạt được của trẻ so với mục đích, yêu cầu đặt ra.
- Những vấn đề cần lưu ý trong việc tổ chức hoạt động giáo dục tiếp theo.
- Mỗi nhóm, lớp nên có một quyển nhật ký nhóm, lớp ghi lại những điều đặc biệt
    hay cần quan tâm (hoặc có thể ghi vào ngay sau phần soạn/ kế hoạch hang
    ngày) và hồ sơ cá nhân của trẻ (nếu trẻ đã làm được những sản phẩm riêng).
b) Nhật ký nhóm/ lớp
Nhật ký nhóm/ lớp là một ký liệu quan trọng giúp:
- Giáo viên ghi nhớ những vấn đề cần đặc biệt quan tâm trong việc chăm sóc –
    giáo dục trẻ, từ đó xây dựng kế hoạch hoạt động cho các hoạt động tiếp theo phù
    hợp với trẻ. Đồng thời, đây cũng là một tài liệu theo dõi thường xuyên về sự phát
    triển của các trẻ trong nhóm/ lớp.
- Các cán bộ quản lý trường có thể theo dõi, đánh giá việc chăm sóc – giáo dục trẻ
    trong các nhóm/ lớp, để có những tư vấn hoặc hỗ trợ cần thiết cho giáo viên.
- Phụ huynh nếu được xem xét nhật ký sẽ hiểu thêm về sự phát triển của con em
    mình và tin tưởng vào sự chăm sóc, theo dõi thường xuyên của giáo viên vớicon
    em họ.
    Trong nhật ký nhóm/ lớp hàng ngày, giáo viên nên ghi lại những vấn đề sau:
    + Sĩ số lớp, lý do các cháu nghỉ.
    + Tình hình tổ chức chăm sóc – giáo dục trẻ, những lưu ý và thay đổi tiếp theo.
    Ví dụ: những vấn đề cô đã dạy cho nhóm, lớp trong ngày, những trẻ nào tỏ ra
    nắm tốt hay chưa nắm được vấn đề đó. Cần thay đổi gì về nội dung, phương
    pháp để giúp trẻ nắm tốt vấn đề hơn.
    + Tình hình trẻ trong ngày (những sự kiện đặc biệt, phân tích, kế hoạch, biện
    pháp giáo dục tiếp theo).
    Tuy nhiên hiện nay, do điều kiện nhóm/ lớp còn rất đông trẻ và điều kiện nhiều
    nơi còn khó khăn, nên tùy theo yêu cầu của mỗi địa phương mà các nhóm/ lớp có
    thể có hình thức ghi chép phù hợp sao cho vẫn đảm bảo yêu cầu về đánh giá trẻ.
    c) Hồ sơ cá nhân trẻ
    - Hồ sơ cá nhân trẻ là một dạng tư liệu để đánh giá về sự tiến bộ của trẻ một
    cách có căn cứ.


                      Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
   - Hồ sơ cá nhân trẻ bao gồm các sản phẩm viết, vẽ, xé, dán… cũng như các tài
   liệu tương tự khác do trẻ tự làm (có thể cả những nhận xét, đánh giá của giáo
   viên về sản phẩm đó) thể hiện sự tiến bộ của trẻ trong suốt một năm học. Hồ sơ
   cá nhân của từng trẻ được giáo viên thu thập từ đầu cho đến cuối năm học.
   - Mỗi hồ sơ cá nhân có thể được đựng trong một túi riêng (làm bằng bìa hay
   nilon…) hoặc có thể được kẹp thành từng kẹp riêng để trong một hộp hay cặp tài
   liệu nhiều ngăn. Hồ sơ cá nhân nên được xếp thành từng loại (loại bài viết, loại
   bài vẽ, loại bài xé, dán, nếu có điều kiện có thể lưu cả ảnh chụp những hoạt động
   hoặc sản phẩm của trẻ…) và mỗi loại cũng nên được sắp xếp theo trình tự thời
   gian để dễ thấy sự tiến bộ của trẻ. Tất cả hồ sơ cá nhân của trẻ trong nhóm, lớp
   nên để cùng một chỗ và được sắp xếp sao cho dễ quản lý và sử dụng.
   - Thỉnh thoảng, giáo viên có thể xem lại những hồ sơ đó để thảo luận với đồng
   nghiệp hoặc phụ huynh về những khó khăn mà trẻ gặp phải, những ý tưởng,
   những kế hoạch sẽ làm tiếp theo. Giáo viên có thể đưa cho phụ huynh xem hồ sơ
   của trẻ để gia đình cùng phối hợp với giáo viên trong việc giáo dục trẻ.
2. Đánh giá theo giai đoạn
   - Giáo viên sử dụng các chỉ số đánh giá về sự phát triển của trẻ sau mỗi giai đoạn
   (6, 12, 24, 36 tháng tuổi) để đánh giá từng trẻ.
   - Đối với trẻ nhà trẻ, việc đánh giá trẻ không diễn ra cùng một lúc vào cuối học
   kỳ hay cuối năm học, mà giáo viên tiến hành đánh giá thường xuyên hàng tháng
   bằng cách: mỗi tháng giáo viên lập danh sách các trẻ tròn 6, 12, 24, 36 tháng
   tuổi, rồi dùng các chỉ số đánh giá tương ứng với tháng tuổi của trẻ (xem ở phần
   IV) để đánh giá xem trẻ nào đã đạt hay chưa đạt được các chỉ số đó. Sau đó giáo
   viên ghi vào “Bảng kết quả đánh giá trẻ hàng tháng” để theo dõi hay thông báo
   cho phụ huynh biết. Trong “Bảng kết quả đánh giá trẻ” (đối với trẻ kết thúc một
   giai đoạn phát triển) với những trẻ chưa đạt ở một số chỉ số thuộc lĩnh vực nào
   đó (nhận thức, ngôn ngữ…), giáo viên cần đưa ra những biện pháp chăm sóc –
   giáo dục cụ thể, thích hợp để kích thích sự phát triển của trẻ về lĩnh vực này,
   đồng thời giáo viên cũng nên trao đổi với phụ huynh các biên pháp cần thiết đẻ
   phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc – giáo dục trẻ.
   Bảng kết quả đánh giá trẻ
   Thời gian: Thánh……..
                                Những chỉ số đã Những chỉ số chưa Biện            pháp
TT    Họ tên trẻ      Độ tuổi
                                đạt được            đạt được              kich thích


Lưu ý: Để dễ theo dõi, các trẻ nên được ghi lần lượt theo độ tuổi (ghi danh sách trẻ
thành từng nhóm theo độ tuổi).
Đối với những trẻ nhút nhát mà thời điểm đánh giá (ví dụ: tròn 6, 12… tháng tuổi)
rơi vào những tháng đầu mới đi nhà trẻ, nếu giáo viên không thể đánh giá được sự
phát triển của trẻ thì có thể hỏi cha mẹ trẻ xem trẻ có đạt được các chỉ số đánh giá
của độ tuổi đó không. Nếu có những chỉ số mà cha mẹ trẻ không biết là trẻ có đạt
được hay không thì giáo viên cũng ghi lại điều đó và vẫn đề ra các biện pháp kích
thích sự phát triển của trẻ như với những trẻ chưa đạt được chỉ số này.
Đối với những trẻ ở nhóm 2 -3 tuổi, nếu đến cuối năm mà trẻ vẫn chưa đánh giá lần
nào thì vào tháng cuối năm học, thi giáo viên có thể đánh giá trẻ bằng các chỉ số
phát triển của độ tuổi 36 tháng (tuy có thể độ tuổi còn thiếu 1 – 2 tháng) và coi đó
là sự đánh giá cuối độ tuổi nhà trẻ trước khi chuyển lên mẫu giáo, đồng thời có chú
thích thêm về tháng tuổi của trẻ khi thực hiện đánh giá.
Như vậy, trong mỗi nhóm/ lớp nhà trẻ, giáo viên cần có 2 loại hồ sơ dùng cho hoạt
động đánh giá trẻ là:
- Hồ sơ cá nhân trẻ.
- Các bảng kết quả đánh giá trẻ hàng tháng.


                      Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Còn tùy theo điều kiện của từng trường mà cán bộ quản lý quyết định các nhóm/ lớp
ghi nhật ký hàng ngày theo hình thức thích hợp.
III – PHƯƠNG PHÁP
Các nội dung đánh giá trên có thể được thực hiện theo các phương pháp sau:
1. Quan sát
Quan sát là phương pháp theo dõi trẻ có hệ thống và phân tích những thông tin thu
thập được.
Để có số liệu quan sát khách quan và có ý nghĩa, người giáo viên phải hiểu về các
quy luật phát triển tâm – sinh lý của trẻ và biết cách quan sát, ghi chép, phân tích
những thông tin đã quan sát được.
Giáo viên quan sát những sự kiện xảy ra với trẻ hàng ngày. Sau đó, giáo viên có thể
ghi lại những sự kiện đặc biệt vào quyển nhật ký của nhóm, lớp. Ví dụ: cô giáo ghi
vào nhật ký những trẻ trong ngày tỏ ra mệt mỏi, sốt, không muốn ăn, thực hiện tốt
hay không tốt một kỹ năng nào đó, những trẻ đánh bạn… Giáo viên tìm hiểu lý do
những biểu hiện bất thường của trẻ để đề ra những biện pháp chăm sóc – giáo dục
thích hợp.
Cuối ngày, giáo viên nên trao đổi với cha mẹ trẻ về những vấn đề đặc biệt đó và các
biện pháp phối hợp chăm sóc – giáo dục phù hợp giữa cha mẹ và giáo viên.
* Ví dụ về cách quan sát và ghi chép sự kiện vào sổ nhật ký nhóm/ lớp
- Quan sát
+ Sự kiện: Ngày 20/1/2005, cô quan sát thấy cháu Lê Mai Hương chơi xếp khối
vuông như sau: Hương lấy một khối vuông đặt chồng lên một khối khác. Khối trên
lệch so với khối dưới khoảng 1/4. Bé lấy tiếp một khối nữa đặt lên, vẫn lệch so với
khối trước một chút. Bé lấy tiếp khối thứ 4 đặt lên thì đổ cả ba khối đã xếp. Bé lại
xếp lại. Lần này đổ hai khối ở trên. Bé xếp lại lần thứ 3, lần này không đổ, nhưng các
khối vẫn chưa trùng khít lên nhau. Bé xếp thêm một khối tam giác lên trên. Bé lấy
tiếp khối thứ 5 đặt lên thì đổ tất cả. Bé lại xếp lại 4 khối như lần đầu tiên.
- Cách ghi chép vàp sổ nhật ký lớp
+ Ngày 20/1/2005: Lê Mai Hương chưa xếp chồng được 4 khối vuông nhưng tỏ ra
kiên trì.
+ Kế hoạch tiếp theo: Hướng dẫn Hương cách xếp các khối trùng khít lên nhau.
2. Trò chuyện
- Trò chuyện là sử dụng các câu hỏi có mục đích để thu thập các thông tin và tìm
hiểu lý do, nguyên nhân của các sự kiện xảy ra.
- Phương pháp này thường được sử dụng để đánh giá sự phát triển ngôn ngữ, tình
cảm – xã hội và cảm xúc thẩm mỹ ở trẻ.
Ví dụ: muốn biết khả năng ngôn ngữ của trẻ, cô có thể vừa kể vừa hỏi trẻ về nội
dung của một câu chuyện ngắn hay một bức tranh, hoặc gợi ý để trẻ nói về bố mẹ,
về những người mà trẻ yêu quý…
- Khi trò chuyện với trẻ, giáo viên cần xác định mục đích cụ thể, đặt câu hỏi phù hợp
với mục đích, chuẩn bị các phương tiện đồ dùng cần dùng. Giáo viên nên trò chuyện
với trẻ khi cảm thấy trẻ thoải mái, vui vẻ, tự nguyện. Nếu có những thông tin đặc
biệt, giáo viên cần ghi vào sổ nhật ký (cách ghi tương tự như với quan sát).
- Khi hỏi trẻ, cô cần tỏ ra ân cần, động viên, khuyến khích trẻ và cho trẻ thời gian
suy nghĩ để trả lời, đặt câu hỏi gợi ý để trẻ nói hoặc thực hiện theo yêu cầu của cô.
Nếu trẻ không nói bằng lời và không thể thể hiện được bằng lời, trẻ có thể dùng động
tác, cử chỉ để biểu đạt ý nghĩ của mình.
Để có thể thêm thông tin về trẻ, giáo viên có thể trao đổi với phụ huynh:
- Khi trẻ mới đến lớp, cô hỏi cha mẹ trẻ về những thói quen của trẻ ở gia đình (ăn,
ngủ, trò chơi, đồ chơi trẻ yêu thích…) giúp trẻ chóng làm quen với lớp và không có
xáo trộn nhiều trong sinh hoạt.




                      Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
- Khi trẻ gặp khó khăn trong sinh hoạt ở lớp, giáo viên có thể trao đổi với cha mẹ để
họ cung cấp những thông tin cần thiết và đưa ra những yêu cầu phối hợp chăm sóc –
giáo dục giữa gia đình và nhà trường.
3. Phân tích sản phẩm của trẻ
- Dựa trên các sản phẩm hoạt động về vật chất và tinh thần của trẻ (vẽ, nặn, hoạt
động với đồ vật…), giáo viên phân tích về mức độ hình thành kiến thức, năng khiếu
hay một triệu chứng bệnh tật trong lĩnh vực nào đó của trẻ.
- Điều quan trọng đối với trẻ không chỉ là đánh giá kết quả mà là đánh giá quá trình
tạo ra sản phẩm đó như thế nào (cùng có một kết quả như nhau, những cách thức
cũng như tốc độ của các trẻ có thể khác nhau…).
- Giáo viên cần xác định mục đích đánh giá và lựa chọn sản phẩm phù hợp với mục
đích đó. Những nhận xét đánh giá về sản phẩm (như tranh vẽ, tô màu…) của trẻ giáo
viên có thể ghi vào phía sau tranh hoặc vào sổ nhật ký.
- Để theo dõi sự tiến bộ của trẻ, giáo viên nên thu thập các sản phẩm theo thời gian.
- Trẻ cuối tuổi nhà trẻ bắt đầu có thể tự đánh giá đơn giản sản phẩm của mình (đẹp,
chưa đẹp…). Cô có thể đặt những câu hỏi gợi ý để trẻ nói về sản phẩm của mình:
“cháu vẽ cái gì? Tô màu gì, có đẹp không?...”.
- Đánh giá của giáo viên đối với trẻ nhà trẻ chủ yếu mang tính động viên khuyến
khích, gây cảm xúc tự hào về việc làm của mình. Giáo viên không nên đưa ra những
nhận xét xấu gây ảnh hưởng tiêu cực đến trẻ.
Trên đây là các phương pháp chủ yếu để đánh giá trẻ trong quá trình chăm sóc –
giáo dục. Mỗi phương pháp có những ưu, nhược riêng. Do đó, giáo viên nên dựa vào
mục đích đánh giá và những điều kiện cụ thể mà lựa chọn sử dụng riêng một phương
pháp hay phối hợp nhiều phương pháp khác nhau cho phù hợp.

        IV. CÁC CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ.
Dưới đây là các chỉ số đánh giá sự phát triển của trẻ nhà trẻ ở các mốc 6, 12,18, 24
và 36 tháng tuổi. Hằng tháng, giáo viên sử dụng các chỉ số này để đánh giá sự phát
triển của trẻ có độ tuổi phù hợp. Khi đánh giá, giáo viếnử dụng các phương pháp đã
trình bày ở phần trên. Việc đánh giá trẻ có thể được tiến hành thông qua các hoạt
động diễn ra trong ngày chứ không nhất thiết phải có những buổi đánh giá riêng.
Với những chỉ số trẻ đạt hay chưa đạt được, giáo viên ghi những chỉ số đó vào những
cột tương ứng trong Bảng kết quả đánh giá trẻ hằng tháng ( xemphần 2, mục II).
Các chỉ số đánh giá sự phất triển của trẻ 6 tháng tuổi:.
Chỉ số 1: Cân nặng của trẻ nằm trong kênh A
- Trẻ trai: 5.5-9.8 kg
- Trẻ gái: 5.5-9.0kg
Chỉ số 2: Chiều cao của trẻ nằm trong kênh A
- Trẻ trai: 62.4-73.2cm
- Trẻ gái: 60.6-71.2cm
Chỉ số 3: Trườn được 1m
Chỉ số 4: Cào lấy được một vật nhở ( hạt lạc, hạt nho khô..)
Chỉ số 5: Biết quay đầu về phía có tiếng nói.
Chỉ số 6: Biết phát âm bập bẹ
Chỉ số 7: Biết cười đáp lại
Chỉ số 8: Biết nhận biết người lạ, người quen.
Các chỉ số đánh giá sự phát triển của trẻ 12 tháng tuổi:
Chỉ số 1: Cân nặng của trẻ nằm trong kênh A
- Trẻ trai: 8.9-10.9 kg
- Trẻ gái: 8.15-10.25kg
Chỉ số 2: Chiều cao của trẻ nằm trong kênh A
- Trẻ trai: 70.7-81.5cm
- Trẻ gái: 68.6-80.0cm


                      Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Chỉ số 3: Biết đi men
Chỉ số 4: Nhặt được vật nhỏ bằng các ngón tay
Chỉ số 5: Tìm được đồ chơi vừa bị giấu
Chỉ số 6: Chỉ được vào một bộ phận cơ thể khi nghe gọi tên ( mắt, mũi, mồm...).
Chỉ số 7: Nói được một vài từ đơn.
Chỉ số 8: Bắt chước được một số động tác( vẫy tay, chào...)
Các chỉ số đánh giá sự phát triển của trẻ 18 tháng tuổi
Chỉ số 1: Cân nặng của trẻ nằm trong kênh A
- Trẻ trai: 10.1-12.5kg
- Trẻ gái: 9.4-1108kg
Chỉ số 2: Chiều cao của trẻ nằm trong kênh A
- Trẻ trai: 76.3-88.5cm
- Trẻ gái: 74.8-87.1cm
Chỉ số 3: Đi vững
Chỉ số 4: Lồng được 3 hộp
Chỉ số 5: Chỉ được một số đồ dùng, đồ chơi và một số con vật quen thuộc khi nghe
tên gọi.
Chỉ số 6: Nói được câu 1-2 từ
Chỉ số 7: Nhận biết được đồ dùng, đồ chơi yêu thích, tên của những người thân trong
gia đình.
Chỉ số 8: Thể hiện được cảm xúc khi nghe hát, kể chuyện, đọc thơ ( thích thú, vỗ
tay, lắc lư..)
Các chỉ số đánh giá sự phát triển của trẻ 24 tháng tuổi:
Chỉ số 1: Cân nặng của trẻ nằm trong kênh A
- Trẻ trai: 11.1-13.7kg
- Trẻ gái: 10.4-13kg
Chỉ số 2: Chiều cao của trẻ nằm trong kênh A
- Trẻ trai: 80.9-94.4cm
- Trẻ gái: 79.9-93.0cm
Chỉ số 3: Biết cầm thìa xúc ăn, cầm cốc uống nước với sự giúp đỡ của người lớn.
Chỉ số 4: Bước lên 5 bậc thang có vịn ( cao 12cm).
Chỉ số 5: Xếp được tháp 4 tầng
Chỉ số 6: Chỉ và gọi tên được một số đồ dùng, đồ chơi, con vật, quả quen thuộc với
trẻ
Chỉ số 7: Sử dụng được một số đồ dùng, đồ chơi theo chức năng của nó
Chỉ số 8: Làm được theo chỉ dẫn đơn giản ( lấy cốc uống nước,lau miệng...)
Chỉ số 9: Biết hỏi và hỏi các câu hỏi: Ở đâu? Ai? Cái gì? Thế nào?
Chỉ số 10: Bước đầu thể hiện tính tự lực trong một số việc tự phục vụ ( ăn uống, vệ
sinh)
Các chỉ số đáh giá sự phát triển của trẻ 36 tháng tuổi
Chỉ số 1: Cân nặng của trẻ nằm trong kênh A
- Trẻ trai: 13-16kg
- Trẻ gái: 12.2-15.4kg
Chỉ số 2: Chiều cao của trẻ nằm trong kênh A
- Trẻ trai: 89.4-103.6cm
- Trẻ gái: 88.4-102.7cm
Chỉ số 3: Biết tự xúc ăn bằng thìa và tự uống nước bằng cốc.
Chỉ số 4: Đi thẳng người, nhấc chân cao
Chỉ số 5: Ném xa được 1.2m
Chỉ số 6: Xếp được tháp 8 tầng
Chỉ số 7: Nhận biết được 1 nhiều và ba màu đỏ, xanh, vàng
Chỉ số 8: Phát âm rõ ràng.
Chỉ số 9: Biết kể lại một số sự việc xảy ra đối với trẻ.


                     Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Chỉ số 10: Thích đọc thơ, biết kể lại những câu chuyện đơn giản
Chỉ số 11: Biết tên, tuổi, giới tính, một số đồ chơi, đồ dùng yêu thích
Chỉ số 12: Biết chơi cùng bạn, không tranh giành đồ chơi của bạn.

B – ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH CHĂM SÓC – GIÁO DỤC
I – MỤC ĐÍCH
Các cán bộ quản lý (gan giám hiệu, cán bộ Phòng, Sở hoặc Bộ Giáo dục và Đào tạo)
đánh giá việc thực hiện chương trình chăm sóc – giáo dục của trẻ nhà trẻ và của giáo
viên, từ đó đưa ra các biện pháp phù hợp để nâng cao chất lượng chăn sóc – giáo
dục trẻ.
II – NỘI DUNG
Đánh giá việc thực hiện chương trình chăm sóc – giáo dục trẻ ở nhà trẻ bao gồm 4
vấn đề:
- Đánh giá sự phát triển của trẻ.
- Đánh giá hoạt động giáo dục của giáo viên.
- Đánh giá hoạt động quản lý trường.
- Đánh giá cơ sở vật chất của trường.
Để đánh giá được từng vấn đề trên, người đánh giá cần có những phiếu đánh giá
được thiết kế cụ thể. Việc thiết kế các phiếu đánh giá này phải dựa trên những vấn
đề cơ bản dưới đây.
1. Đánh giá sự phát triển của trẻ
Việc đánh giá sự phát triển của trẻ nhà trẻ có thể sử dụng các chỉ số đánh giá như đã
trình bày ở phần IV của mục A.
2. Đánh giá hoạt động chăm sóc – giáo dục của giáo viên
Việc đánh giá hoạt động chăm sóc – giáo dục của giáo viên trong nhóm, lớp bao gồm
những vấn đề sau:
- Lập kế hoạch chăm sóc – giáo dục trẻ của lớp (theo thời gian và theo các chủ
    đề).
- Tổ chức môi trường hoạt động của trẻ.
- Tổ chức các hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ trong nhóm lớp.
- Hoạt động quản lý trẻ và quản lý lớp, thực hiện nội quy, quy chế của giáo viên.
- Khả năng phối hợp giữa các giáo viên, khả năng tư vấn của giáo viên với ban
    giám hiệu, phụ huynh trong công tác chăm sóc – giáo dục trẻ.
3. Đánh giá hoạt động quản lý trường
Việc đánh giá hoạt động quản lý trường của ban giám hiệu bao gồm những vấn đề
sau:
- Xây dựng kế hoạch hoạt động của trường.
- Tổ chức thực hiện kế hoạch của trường, bao gồm cả các biện pháp và quy định cụ
    thể.
- Việc theo dõi, giám sát, điều chỉnh kế hoạch của trường.
- Việc đánh giá thường xuyên và định kỳ của trường.
- Sự phối kết hợp của nhà trường với phụ huynh và các ban ngành ở xã, phường
    (trong cộng đồng).
4. Đánh giá cơ sở vật chất của nhà trẻ
Tiêu chí về đánh giá cơ sở vật chất của nhà trẻ cần được thực hiện theo các tiêu
chuẩn quy định của Bộ (hay các địa phương) trong điều lệ trường mần non.
Việc thiết kế các phiếu đánh giá cụ thể dựa theo các tiêu chí nêu trên có thể do các
cấp quản lý thiết kế cho phù hợp với từng địa phương hoặc tham khảo bộ phiếu đánh
giá việc thực hiện chương trình chăm sóc – giáo dục trẻ nhà trẻ mà chúng tôi sẽ biên
soạn cụ thể sau.
Trong bốn vấn đề trên, việc đánh giá sự phát triển của trẻ là vấn đề cơ bản nhất để
xác định việc thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục của một trường, của một lớp
là tốt hay chưa tốt. Ba vấn đề còn lại nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất


                       Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
lượng chăm sóc – giáo dục trẻ, từ đó, giúp nhà trường và giáo viên tìm ra các biện
pháp thích hợp để nâng cao chất lượng của hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ.
III – PHƯƠNG PHÁP
Đánh giá việc thực hiện chương trình chăm sóc – giáo dục trẻ ở nhà trẻ có thể bao
gồm các phương pháp sau:
- Quan sát: để đánh giá giáo viên, trẻ trong các hoạt động chăm sóc – giáo dục.
- Phiếu điều tra: để đánh giá hoạt động quản lý trường, cơ sở vật chất trường, lớp.
- Trắc nghiệm, hay sử dụng bảng kiểm kê: để đánh giá trẻ, giáo viên.
- Nghiên cứu sản phẩm hoạt động: để đánh giá việc thực hiện chương trình và kết
    quả hoạt động của trẻ và giáo viên.
- Thảo luận nhóm: để tham khảo ý kiến của phụ huynh, cộng đồng.
- Phỏng vấn: để tham khảo ý kiến của phụ huynh, cộng đồng, giáo viên.
- Kiểm tra sổ sách, kế hoạch: để đánh giá hoạt động quản lý của trường, giáo viên.
Các phương pháp đánh giá này có thể tham khảo trong sách: “Phương pháp đánh giá
trẻ trong đổi mới giáo dục mần non”, Tạ Ngọc Thanh và Nguyễn Thị Thư, Nhà xuất
bản Giáo dục, 2004.
Đánh giá việc thực hiện chương trình chăm sóc – giáo dục trẻ ở nhà trẻ có thể tiến
hành định kỳ hoặc đột xuất vào khoảng 3 tháng của cuối năm học.
Sau khi đánh giá riêng từng vấn đề trên, những người tham gia đánh giá cần đưa ra
nhận định chung về tình hình thực hiện chương trình chăm sóc – giáo dục trẻ ở nhà
trẻ và các vấn đề cần khắc phục để nâng cao chất lượng chương trình chăm sóc –
giáo dục trẻ.
PHẦN SÁU

SỰ THAM GIA, PHỐI HỢP CỦA GIA ĐÌNH
VÀ CỘNG ĐỒNG VỚI TRƯỜNG MẦM NON
TRONG CHĂM SÓC – GIÁO DỤC TRẺ
Việc chăm sóc và giáo dục trẻ em được chia sẻ trách nhiệm giữa gia đình, các nhà
giáo dục và cộng đồng. Trường mần non chia sẻ trách nhiệm với gia đình, cộng đồng
để thúc đẩu và tạo điều kiện tối ưu cho việc chăm sóc – giáo dục trẻ em.
I – SỰ PHỐI HỢP GIỮA TRƯỜNG MẦN NON VỚI GIA ĐÌNH
1. Nội dung phối hợp giữa trường mần non và gia đình
Để góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ em ở trường mần non,
nhà trường và nhóm trẻ cần tạo điều kiện để gia đình có thể tham gia vào nhiều hoạt
động khác nhau. Có thể nên lên một số nội dung phối hợp sau đây:
1.1. Phối hợp thực hiện chương trình chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho trẻ
- Tham gia tổ chức khám sức khỏe, theo dõi sức khỏe của trẻ theo định kỳ. Đối với
trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ, các cô giáo cần hướng dẫn cha mẹ và các thành viên trong gia
đình phải đặc biệt chú trọng khâu chăm sóc trẻ: chăm sóc trẻ ăn, ngủ đúng chế độ
dinh dưỡng và khẩu phần ăn của từng độ tuổi, tạo cho trẻ luôn có trạng thái vui vẻ.
Đối với trẻ càng nhỏ, càng cần tạo sự tiếp xúc da thịt thường xuyên để trẻ cảm nhận
được tình cảm gắn bó và an toàn, đồng thời phát hiện sớm những thay đổi tâm –
sinh lý bất bình thường ở trẻ để có thể chẩn trị va can thiệp sớm.
- Phòng chống suy dinh dưỡng và béo phì cho trẻ.
- Đóng góp tiền ăn, các hiện vật theo yêu cầu của nhà trường.
1.2.    Phối hợp thực hiện chương trình giáo dục trẻ
- Tham gia xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trường, nhóm.
- Tham gia vào các hoạt động thực hiện các nội dung giáo dục trẻ phù hợp với
chương trình. Để làm tốt điều này, nhà trường cần tuyên truyền để cha mẹ hiểu rằng
tác động giáo dục bắt đầu ngay từ khi đứa trẻ còn nằm trong bụng mẹ, trẻ sơ sinh
đã có khả năng nghe, nhìn, cảm nhận. Người chăm sóc trẻ cần thường xuyên ôm ấp,
âu yếm, trò chuyện, tiếp xúc qua da với trẻ để tạo cho trẻ cảm giác yên ổn, vui vẻ là
tiền đề cho trẻ trở nên tự tin. 3 năm đầu tiên là cơ hội cho cả cuộc đời của trẻ, vì vậy


                      Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
tác động giáo dục 3 năm đầu của cuộc đời có tính chất quyết định cho các giai đoạn
phát triển sau. Cha mẹ và những người chăm sóc – giáo dục trẻ cần tranh thủ cơ hội
này để giao tiếp, chơi với trẻ, cho trẻ được hoạt động tích cực nhằm thúc đẩy sự phát
triển nhanh chóng của trẻ ở giai đoạn này.
- Tạo điều kiện cho trẻ được tự do tìm tòi khám phá trong môi trường an toàn theo
khả năng và sở thích của mình để trở thành đứa trẻ tò mò, sáng tạo, tự tin và luôn
được hạnh phúc vì mọi người xung quanh yêu thương, gần gũi trẻ.
- Chú ý luôn cuốn các thành viên trong gia đình, đặc biệt các thành viên là nam giới
(ông, bố, anh, chú, bác) tham gia vào việc chăm sóc và dạy trẻ.
- Coi trọng việc phát hiện và can thiệp sớm: Đối với trẻ lứa tuổi nhà trẻ, vấn đề phát
hiện sớm những sự phát triển không bình thường là cực kỳ quan trọng. Chính vì được
phát hiện sớm mà nhiều khuyết tật của trẻ có thể được bù đắp và thích nghi, có khi
tiến tới bình thường nếu được giúp đỡ kịp thời và đúng đắn. Nhà trường cần cung cấp
và giới thiệu cho các bậc cha mẹ trẻ biết các mốc phát triển bình thường của trẻ,
những vấn đề cần lưu ý trong sự phát triển của trẻ để có thể phát hiện và can thiệp
sớm.
Ví dụ: khi thấy trẻ có những biểu hiện như: “Trẻ không mỉm cười lúc 2 tháng tuổi,
không chú ý và không có phản xạ với các âm thanh, không nhìn theo vật chuyển
động lúc 3 tháng tuổi, người trẻ mềm oặt như búp bê vải, mắt luôn bị chảy nước
hoặc bị lác trong hoặc lác ngoài, không cười thành tiếng lúc 7, 8 tháng tuổi, lúc 2
tuổi không biết làm theo những chỉ dẫn đơn giản, không nói được câu 2 từ…” thì bố
mẹ và cô giáo cần tìm đến sự tư vấn của các nhà chuyên môn để có những chẩn trị
và can thiệp sớm, kịp thời đối với trẻ.
- Tạo môi trường an toàn về tình cảm cho trẻ: Đối với trẻ nhỏ, nếu lần đầu tiên trẻ
đến nhà trẻ thì đó là một sự khó khăn lớn đối với trẻ cũng như đối với ba mẹ. Bởi vì ở
nhà mẹ con gắn bó với nhau gần như suốt ngày, còn đến trường đứa trẻ phải vào
một môi trường hoàn toàn mới. Vì vậy, giáo viên cần tư vấn cho bố mẹ, các thành
viên của gia đình biết cách chuẩn bị cho trẻ tiếp nhận sự thay đổi đó để tránh cho trẻ
bị stress. Ở lớp, cô giáo cần tạo môi trường làm sao cho trẻ cảm thấy ở nhóm, lớp
cũng như ở nhà. Khuyên các bà mẹ không nên để lộ sự lo âu, quá lưu luyến khi tạm
biệt trẻ ở trường. Lúc về nhà, bố mẹ nên lắng nghe những câu chuyện của trẻ về
trường lớp, các bạn (nếu bé kể), hoặc hỏi han về trẻ nhừng gì đã xảy ra ở lớp, cố
gắng động viên và khuyến khích trẻ để tạo cho trẻ cảm giác tự tin khi đến lớp. Gia
đình cũng cần thiết trao đổi với giáo viên những đặc điểm riêng của con mình, ví dụ
như thói quen ăn uống, sức khỏe, cá tính… để giáo viên có biện pháp chăm sóc –
giáo dục phù hợp.
1.3. Phối hợp kiểm tra đánh giá công tác chăm sóc – giáo dục trẻ của trường,
     nhóm trẻ
- Tham gia cùng với ban giám hiệu nhà trường kiểm tra đánh giá chất lượng chăm
sóc – giáo dục:
+ Theo dõi để phát hiện những tiến bộ, thay đổi, những biểu hiện của trẻ diễn ra
hang ngày, trao đổi kịp thời để giáo viên có sự điều chỉnh trong nội dung và phương
pháp chăm sóc – giáo dục trẻ.
+ Tham gia đóng góp ý kiến với nhà trường về chương trình và phương pháp chăm
sóc – giáo dục trẻ. Đề xuất nhà trường hướng dẫn các bậc cha mẹ thực hiện việc
chăm sóc – giáo dục trẻ ở gia đình có hiệu quả hơn.
- Đóng góp ý kiến về các mặt khác như: môi trường trường học, cơ sở vật chất, trang
thiết bị, đồ dùng, đồ chơi của nhóm, lớp, thái độ, tác phong, hành vi ứng xử của giáo
viên và nhân viên trong trường với trẻ và phụ huynh.
1.4. Tham gia xây dựng cơ sở vật chất
- Tham gia lao động vệ sinh trường lớp, trồng cây xanh, làm đồ dùng, đồ chơi cho
    trẻ.




                      Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
-   Đóng góp xây dựng, cải tạo trường, nhóm, công trình vệ sinh theo quy định và
    theo thỏa thuận.
- Đóng góp những hiện vật cho nhóm, lớp hoặc trường mần non như bàn, ghế,
    thang leo, cầu trượt, các vật liệu cho trẻ thực hành.
2. Hình thức phối hợp của nhà trường với gia đình
- Qua bảng thông báo hoặc qua góc “Tuyên truyền cho cha mẹ” của nhà trường hoặc
của mỗi nhóm, lớp: thông tin tuyên truyền tới phụ huynh các kiến thức chăm sóc –
giáo dục trẻ hoặc thông báo về nội dung hoạt động, các yêu cầu của nhà trường đối
với gia đình, hoặc những nội dung mà gia đình cần phối hợp với cô giáo trong việc
thực hiện chương trình chăm sóc – giáo dục trẻ.
- Trao đổi thường xuyên, hang ngày trong các giờ đón, trả trẻ.
- Tổ chức họp phụ huynh định kỳ (3 lần/ 1 năm) để thông báo cho gia đình những
công việc, thảo luận về các hình thức phối hợp giữa gia đình và nhà trường (họp đầu
năm) hoặc kết hợp phổ biến kiến thức chăm sóc – giáo dục trẻ cho cha mẹ.
- Tổ chức những buổi sinh hoạt, phổ biến kiến thức chăm sóc – giáo dục theo chuyên
đề đặc biệt hoặc khi có bệnh dịch.
- Thông qua các đợt kiểm tra sức khỏe cho trẻ.
- Thông qua các hội thi, hoạt động văn hóa văn nghệ.
- Cán bộ, giáo viên đến thăm trẻ tại nhà.
- Hòm thư cha mẹ.
- Phụ huynh tham quan hoạt động của trường mần non.
- Thông qua các phương tiện truyền tin đại chúng (đài truyền hình, truyền thanh…).
3. Một số công việc giáo viên cần làm để thu hút sự tham gia, phối hợp của
cha mẹ
Để tạo sự tin tưởng và thu hút sự tham gia của phụ huynh vào các hoạt động
chăm sóc – giáo dục trẻ của lớp và của nhà trường, giáo viên cần phải:
- Lắng nghe ý kiến của cha mẹ trẻ, chủ động xây dựng mối quan hệ tốt với phụ
huynh. Sẵn sàng tư vấn và giúp đỡ các kiến thức chăm sóc – giáo dục trẻ khi gia
đình có yêu cầu.
- Thông tin đầy đủ cho cha mẹ trẻ về chương trình chăm sóc – giáo dục trẻ em ở
trường, nhóm bằng nhiều hình thức khác nhau như họp phụ huynh, bảng thông báo,
góc trao đổi với phụ huynh… Ví dụ: trước ngày tiếp nhận trẻ vào trường, cần có
những hướng dẫn cho bố mẹ, giới thiệu những hoạt động trong ngày ở trường của
giáo viên và của trẻ.
- Nếu trẻ lần đầu tiên đến lớp, cô giáo cần trao đổi cụ thể chế độ sinh hoạt của trẻ
ở trường, nắm bắt những thông tin, đặc điểm của trẻ, cho bố mẹ làm quen trẻ với
nhóm, với các bạn và cô giáo. Thời gian đầu có thể cho bố mẹ vào lớp chơi với trẻ,
đón trẻ về sớm, có thể cho trẻ mang theo đến nhóm những đồ chơi ưa thích mà trẻ
thường chơi ở nhà để tránh sự hụt hẫng ban đầu.
- Liên lạc thường xuyên với gia đình để tìm hiểu việc sinh hoạt của trẻ ở gia đình,
thông tin cho cha mẹ trẻ biết tình hình của trẻ ở nhóm, những thay đổi của trẻ nếu
có để kịp thời có những biện pháp tác động chăm sóc – giáo dục phù hợp.
- Cần thống nhất với các bậc cha mẹ về nội quy, các hình thức và biện pháp phối
hợp giữa phụ huynh và nhà trường, nhóm trong từng giai đoạn và cả năm học.
- Trong quá trình phối hợp với các bậc cha mẹ, giáo viên cần căn cứ vào điều kiện
và hoàn cảnh cụ thể của từng gia đình để có hình thức phối hợp phù hợp và mang lại
hiệu quả cao nhất.
- Trong khi lập kế hoạch tuần, tháng giáo viên cần đưa nội dung phối hợp với gia
đình vào kế hoạch, cần nêu những yêu cầu cụ thể về vấn đề cần phối hợp với gia
đình. Ví dụ: từ ngày…đến ngày… yêu cầu phụ huynh đọc cho trẻ nghe thơ, truyện về
các con vật mà nhóm đang làm quen (con mèo, con gà…), phụ huynh đóng góp
nguyên vật liệu cho nhóm (hộp, chai, lọ cũ…), nhắc nhở phụ huynh ở nhà tạo điều
kiện cho trẻ củng cố kỹ năng rửa tay, rửa mặt. Những yêu cầu này giáo viên nên


                     Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
thông báo cho phụ huynh trong giừo đón, trả trẻ và ở góc “tuyên truyền cho cha
mẹ”. Sau một thời gian đưa ra yêu cầu phối hợp với phụ huynh, giáo viên có thể đưa
ra một số thông tin: thông báo những phụ huynh đã thực hiện yêu cầu, hoặc nhắc lại
yêu cầu với một số phụ huynh.
- Khi đánh giá sau chủ đề, giáo viên phải có phần nhận xét về công tác phối hợp
với gia đình phục vụ cho hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ (những gì đã thực hiện
được, còn tồn tại gì, có gì cần rút kinh nghiệm, hướng giải quyết như thế nào?).
4. Phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong vấn đề chăm sóc – giáo dục
trẻ khuyết tật
Đối với những gia đình có trẻ khuyết tật, cần nói rõ để các bậc cha mẹ hiểu rằng cha
mẹ không nên che dấu khuyết tật của con mình mà nên mạng dạn và thẳng thắn
trao đổi với giáo viên về những hạn chế của trẻ. Gia đình nên cho trẻ đến học lớp
mẫu giáo hòa nhập để tạo cơ hội cho trẻ được giao tiếp với những người xung quanh.
Bố mẹ nên cùng giáo viên giúp đỡ trẻ khắc phục những thói quen không tốt, trong
trường hợp cần thiết có thể cùng giáo viên tìm đến tư vấn của các nhà chuyên môn
để được giúp đỡ. Cần giải thích để phụ huynh biết rằng nguy cơ lớn nhất của khuyết
tật xảy ra ở tuổi tiền học đường có thể dẫn tới ngưng trệ quá trình phát triển bình
thường, gây trở ngại đối với khả năng thích nghi của trẻ và hạn chế quá trình hình
thành sự thành thục và tính độc lập ở trẻ. Đa số trẻ khuyết tật có khả năng thích
nghi hoặc có thể được phục hồi hoặc bù trừ nếu được phát hiện sớm và có các biện
pháp xử lý thích hợp.
Chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ trong trường mần non phụ thuộc nhiều vào sự
tham gia đóng góp của gia đình trẻ. Vì vậy, trong quá trình giáo dục, nhà trường và
giáo viên cần phải có sự phối hợp chặt chẽ với gia đình bằng nhiều nội dung, hình
thức phong phú để tạo điều kiện cho công tác chăm sóc – giáo dục trẻ có hiệu quả.
II – SỰ PHỐI HỢP CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG CHĂM SÓC – GIÁO DỤC TRẺ
Quá trình chăm sóc – giáo dục trẻ ở lứa tuổi mần non mang đặc tính xã hội hoá cao,
để thực hiện có hiệu quả quyền được chăm sóc – giáo dục trẻ em ở lứa tuổi này cần
thiết có sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường – gia đình và đặc biệt là cộng đồng xã
hội.

1. Nội dung phối hợp với ban ngành, đoàn thể
1.1. Tham mưu với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương.
Các nhà quản lý giáo dục mần non phải chủ động tham mưu kịp thời với các cấp ủy
Đảng, chính quyền địa phương về kế hoạch hoạt động của nhà trường để các cấp
lãnh đạo đưa ra chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
hàng năm. Cụ thể các nội dung cần tham mưu:
- Tăng cường cơ sở vật chất cho trường mần non (trường sở, thiết bị, đồ dùng, đồ
    chơi…).
- Chỉ tiêu huy động trẻ trong độ tuổi đến lớp.
- Hỗ trợ đời sống giáo viên, đặc biệt giáo viên ngoài biên chế.
- Quy hoạch, cấp đất cho trường mần non đáp ứng nhu cầu chăm sóc giáo dục trẻ.
1.2. Phối hợp với Hội phụ nữ
- Nâng cao nhận thức và năng lực của phụ nữ, của nhân dân để họ tham gia tích cực
vào việc tổ chức, quản lý thực hiện các hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ, huy động
các gia đình đưa trẻ trong độ tuổi đến lớp.
- Huy động sự tham gia của các tầng lớp phụ nữ vào các hoạt động lập kế hoạch xây
dựng, đóng góp bảo vệ các công trình phúc lợi, các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ.
- Các cơ sở mần non phối hợp với đôi ngũ tuyên truyền viên của hội liên hiệp phụ nữ
trang bị cho hội viên phụ nữ những kiến thức nuôi dậy con theo khoa học theo các
nội dung: cho trẻ bú sữa mẹ ngay sau khi sinh càng sớm càng tốt, cho trẻ ăn đủ chất
dinh dưỡng, cách chế biến các bữa ăn đủ dinh dưỡng cho trẻ từ thực phẩm có sẵn
của gia đình, địa phương, tiêm chủng các bệng truyền nhiễm nguy hiểm, theo dõi


                     Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
biểu đồ tăng trưởng đế phát hiện trẻ còi xương, suy dinh dưỡng hoặc béo phì, đảm
bảo an toàn về thể chất và tâm lý cho trẻ…
- Các cơ sở mần non cùng với Hội phụ nữ thực hiện các dự án như giáo dục dinh
dưỡng, VAC cho các đối tượng được hưởng là bà mẹ có thai, có con suy dinh dưỡng.
- Phối hợp tổ chức các hội thi “Kiển thức mẹ, sức khỏe con”, “Mẹ duyên dáng, con
khỏe ngoan” để động viên đông đảo các tầng lớp phụ nữ học tập trau dồi kiến thức
và nuôi dạy con nên người.
- Vận động cha mẹ đóng góp xây dựng trường lớp, chi trả lương cho cô, vận động
các ban ngành, các tổ chức kinh tế… đầu tư cơ sở vật chất thiết bị cho giáo dục mần
non.
1.3. Phối hợp với trung tâm y tế cùng chăm lo sức khỏe cho trẻ
- Tạo môi trường sạch sẽ, đảm bảo vệ sinh an toàn.
- Khám sức khỏe định kỳ cho trẻ.
- Hướng dẫn các bậc cha mẹ chăm sóc con ngay từ khi còn mang thai như chế độ ăn
uống, nghỉ ngơi, khám thai định kỳ.
- Hướng dẫn các bậc cha mẹ phòng chống một số bệnh thường gặp ở trẻ em: các
bệnh về hô hấp, còi xương, suy dinh dưỡng, tiêm chủng đúng lịch, đủ mũi…
1.4. Phối hợp với Ban dân số - gia đình và trẻ em
Có chương trình hành động về trẻ em, phát động tháng hành động vì trẻ em để bảo
vệ và thực hiện quyền trẻ em.
1.5. Phối hợp với đoàn thanh niên
Phát động phong trào làm đồ chơi, đồ dùng học tập cho trẻ, đóng góp công sức lao
động xây dựng cơ sở vật chất cho các cơ sở giáo dục mần non, phổ biến kiến thức
chăm sóc – giáo dục trẻ.
1.6. Phối hợp với Hội nông dân và các tổ chức khác
- Cùng với hội nông dân tham mưu với chính quyền địa phương tạo điều kiện cấp đất
có mặt bằng phù hợp với nhu cầu của trường mần non, có đất để làm VAC để bổ
sung chất dinh dưỡng trong bữa ăn hàng ngày cho trẻ, tạo môi trường xanh, sạch,
đẹp.
- Ngoài ra, các cơ sở mần non có thể kết hợp với hôi cựu chiến binh, hội người cao
tuổi, hôi chữ thập đỏ… để tạo thành một lực lượng hung hậu, rộng khắp ủng hộ tích
cực cho sự nghiệp phát triển giáo dục mần non của địa phương.

2. Hình thức phối hợp hoạt động
- Thông qua các đại hội, hội nghị, các cuộc họp thường kỳ của địa phương mà cán
bộ, giáo viên của trường được tham gia.
- Nhà trường có góc tuyên truyền cho cha mẹ.
- Qua các buổi họp phụ huynh của nhà trường.
- Thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng: đài phát thanh, truyền hình,
sách báo, tranh…
- Qua các buổi họp phổ biến kiến thức của hội phụ nữ.
- Qua các buổi họp của hôi nông dân, thôn, xóm…
- Tổ chức các hội thi.
- Thành lập các câu lạc bộ tư vấn về chăm sóc – giáo dục trẻ thơ.




                     Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai

								
To top