B?O V? T�I NGUY�N NU?C TRONG �I?U KI?N BI?N �?I

Document Sample
B?O V? T�I NGUY�N NU?C TRONG �I?U KI?N BI?N �?I Powered By Docstoc
					      BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỔI
             KHÍ HẬU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG
                                                   Mai Thị Vân Anh
                               Sở Tài Nguyên & Môi trường An Giang

        Theo dự báo của các nhà khoa học, nếu nhiệt độ khí quyển tăng thêm 2oC
thì mực nước biển sẽ dâng cao hơn 1m; Việt Nam sẽ bị mất hơn 12% diện tích đất,
23% số dân mất nơi cư trú, khoảng 22 triệu người dân sẽ bị mất nhà. Một phần lớn
diện tích của đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và vùng duyên hải
miền Trung có thể bị ngập lụt.
       Trong thực tế, đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất thấp ven biển của Việt
Nam và được xem là nơi chịu ảnh hưởng sớm và lớn nhất từ sự biến đổi khí hậu
toàn cầu. Từ thập niên qua, thời tiết vùng đồng bằng sông Cửu Long biến đổi bất
thường. Mùa khô nắng nóng gay gắt, nước biển sớm xâm nhập sâu vào đất liền. Ở
An Giang, các năm qua mặn đã vào đến Vĩnh Gia (kinh Vĩnh Tế) và Ba Thê
(Thoại Sơn), trong lúc mùa mưa lũ kéo dài hơn, đôi khi còn xuất hiện một vài cơn
bão ngoài khơi hướng vào đất liền, điều mà trước đây rất hiếm xảy ra.
     Theo tính toán trong 60 năm nữa, biến đổi khí hậu toàn cầu sẽ làm môi
trường tự nhiên, kinh tế- xã hội ĐBSCL thay đổi, nước biển dâng cao làm ngập lụt
phần lớn ĐBSCL vốn đã bị ngập lụt hàng năm, dẫn đến mất nhiều đất nông
nghiệp. Sẽ có từ 15.000- 20.000 km2 vùng đất thấp ven biển bị ngập hoàn toàn,
lưu lượng nước sông Mêkông giảm từ 2-24% trong mùa khô, tăng từ 7-15% vào
mùa lũ, hạn hán xuất hiện nhiều hơn, nước lũ cao hơn và thời gian ngập lũ kéo dài
hơn, việc tiêu thoát nước cũng khó khăn hơn. Suy giảm tài nguyên nước sẽ ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, giao thông,
cấp nước sinh hoạt, sức khoẻ con người, tăng nguy cơ cháy rừng... Diện tích rừng
ngập mặn và một số vùng đất ngập nước sẽ bị giảm. Cơ sở hạ tầng, nhất là các tỉnh
ở ven biển bị uy hiếp nghiêm trọng.
        Nước biển dâng cao sẽ làm thay đổi môi trường sống nhiều loài sinh vật
biển, trước hết là tôm cá tự nhiên. Các mô hình nuôi thuỷ sản truyền thống có
nguy cơ bị phá sản. Quá trình xâm nhập mặn vào nội đồng sẽ sâu hơn, tập trung tại
các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, Long An
và nước ngọt sẽ khan hiếm nhiều hơn. Bờ biển, bờ sông sẽ bị xâm thực mạnh hơn,
sản xuất nông nghiệp có nguy cơ suy thoái, nhất là cây lúa, hoạt động sản xuất
kinh doanh, dịch vụ khác cũng bị ảnh hưởng lớn. Đời sống của hàng triệu dân sẽ
bị xáo trộn.
        An Giang là một trong bốn tỉnh (An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ và Cà
Mau) thuộc vùng kinh tế trọng điểm của đồng bằng sông Cửu Long, đang chịu
nhiều ảnh hưởng do biến đổi khí hậu toàn cầu. Đất đai bị bạc màu, đa dạng sinh
học bị giảm mạnh, diện tích đất bị xâm nhập mặn, khô hạn, nhiễm phèn ngày càng
tăng, nhiệt độ tăng cao và hạn hán bất thường, lũ lụt không theo quy luật, nhiều
dịch bệnh mới hình thành...đã tác động không nhỏ tới sản xuất nông nghiệp, nuôi
trồng thuỷ sản, đe doạ đến đời sống và hoạt động của người dân trong tỉnh.
       Vấn đề biến đổi khí hậu vừa có tính trước mắt, vừa có tính lâu dài, phức tạp
và liên quan đến tất cả các ngành, quốc gia và toàn cầu. Cho nên, để thực hiện
được mục tiêu ứng phó và giảm nhẹ tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đối với
tỉnh và khu vực, thì các cấp, các ngành và mọi người phải có trách nhiệm thực
hiện bảo vệ tài nguyên nước, đất, hệ sinh thái và môi trường tốt hơn. Với chủ đề
này, chỉ đề cập đến bảo vệ môi trường nước trong điều kiện biến đổi khí hậu trên
địa bàn tỉnh An Giang.
     Đối với nguồn nước mặt:
     Như đã biết, lưu lượng nước mặt ở An Giang hiện khá dồi dào, do An Giang
nằm ở trung tâm lưu vực sông Mê Kông, có hệ thống sông ngòi chằng chịt, với hệ
thống hai sông chính chảy qua địa phận An Giang: sông Tiền dài 80 km, sông Hậu
dài 100 km, sông Vàm Nao dài 7 km. Hàng năm mùa lũ bắt đầu từ tháng 7-8 khi
nhiễu động nhiệt đới hoạt động gây ra mưa to và những cơn bão dài ngày, lũ
thượng nguồn lại về, nước sông Tiền, sông Hậu lên nhanh với cường suất 10-20
cm/ngày.
       Nguồn nước mặt ở An Giang hiện nay phục vụ chủ yếu cho sinh hoạt, sản
xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản.
      Theo số liệu quan trắc môi trường hằng năm cho thấy, chất lượng nước mặt
sông Tiền, sông Hậu, kinh rạch nội đồng đang có dấu hiệu ô nhiễm chất hữu cơ,
chất rắn lo lửng và vi sinh vật, đặc biệt tại các khu vực nuôi trồng thuỷ sản, các
khu công nghiệp, đầu nguồn và cuối nguồn của các sông. Nguyên nhân thì có
nhiều, nhưng có thể khẳng định các yếu tố: chất ô nhiễm do các hoạt động của các
khu vực sống dọc theo sông trên thượng nguồn đổ về, hệ thống lồng bè, đăng
quầng nuôi trồng thuỷ sản, hệ thống nhà trên kinh rạch. Bên cạnh đó, các cơ sở,
nhà máy công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đang hoạt động thải nước thải chưa xử
lý hay xử lý không hiệu quả vào nguồn nước mặt cũng là một nguyên nhân gây ô
nhiễm nguồn nước mặt tỉnh An Giang.
      Về nguồn nước dưới đất:
      Theo đánh giá của các tài liệu địa chất - thuỷ văn, nước dưới đất ở An Giang
có trữ lượng khá dồi dào, nhưng việc quản lý khai thác trong các năm qua chưa
được chặt chẽ do chưa có quy hoạch khai thác và bảo vệ tài nguyên nước dưới đất.
Theo thống kê, toàn tỉnh có trên 5.000 giếng khoan, phục vụ sinh hoạt và sản xuất,
trong số có tỷ lệ không nhỏ giếng bị ô nhiễm hoặc có nguy cơ nhiễm bẩn các loại
cần phải xử lý để bảo vệ nguồn nước.
      Từ thực tế nêu trên thấy rằng, cần đặt ra các yêu cầu cấp bách để bảo vệ
nguồn nước của tỉnh trong điều kiện biến đổi khí hậu. Đó là:
       - Hoàn tất quy hoạch khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên nước dưới đất
trên địa bàn tỉnh An Giang làm căn cứ sử dụng hợp lý và bền vững nguồn tài
nguyên thiên nhiên này.
       - Định hướng phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường nhằm
giảm thiểu các tác động có hại của hoạt động kinh tế đến môi trường, gây nên biến
đổi khí hậu. Kiên quyết với hành vi gây hại môi trường.
        - Nghiên cứu các giống cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện khí hậu,
thời tiết và khả năng cung ứng cũng như chất lượng nước ở từng thời kỳ.
        - Nghiên cứu mở rộng các hồ chứa nước, đặt biệt là ở các huyện vùng cao,
nâng cấp các công trình kinh mương cấp 1 và cấp 2 và hệ thống cấp thoát nước đô
thị. Củng cố và nâng cấp hệ thống cống, trạm bơm điện bảo đảm vững chắc bơm
tưới, tiêu phục vụ kịp thời và có hiệu quả cho sản xuất, khôi phục hệ thống giao
thông thuỷ lợi nội đồng.
        - Sử dụng nguồn nước khoa học và hợp lý trong sản xuất và đời sống; nâng
cấp hệ thống đê biển và đê vùng cửa sông; quản lý hiệu quả và bảo vệ nguồn nước
ngầm, nước mặt.
       - Điều chỉnh quy hoạch đất đai hợp lý để trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi
núi trọc, vùng đất cát ven sông ven biển để tích nước mưa, giữ ẩm và giảm cường
độ bốc hơi nước.
       - Giữ tỷ lệ tăng dân số hợp lý và nâng cao nhận thức của cộng đồng trong
việc bảo vệ môi trường sống, không làm ảnh hưởng đến nguồn nước và thực hiện
các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu.
        - Tăng cường năng lực cho cơ quan dự báo khí tượng thuỷ văn, bảo vệ môi
trường, đồng thời với việc tăng cường quản lý hiệu quả nguồn tài nguyên nước
thông qua việc cấp phép khai thác, sử dụng nước mặt, nước dưới đất, xả thải vào
nguồn nước và khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu.
        Có như vậy thì mới hạn chế sự tác hại và thích ứng dần với tình hình biến
đổi khí hậu đang được cảnh báo.

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Tags:
Stats:
views:4
posted:3/3/2012
language:
pages:3