Docstoc

KIM CƯƠNG BATNHA-DHNgoc

Document Sample
KIM CƯƠNG BATNHA-DHNgoc Powered By Docstoc
					                                                                                       1


Lên đường
Khi tiếp cận với Kim Cang, tôi bỡ ngỡ và chƣng hửng không ít. Lâu nay cứ nghe ngƣời ta
đọc câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” nhƣ một câu thần chú để quên đi bao nội muộn
phiền, rồi đọc Lục tổ Huệ Năng cũng thấy ngài kể chuyện một hôm đi bán củi, chỉ nghe
lóm ngƣời ta đọc có câu kinh đó thôi mà đại ngộ, thế mà mình càng nghe càng mơ hồ, mù
tịt. Sau khi viết “Nghĩ Từ Trái Tim,” ghi lại những cảm nghĩ của mình về Tâm Kinh Bát
Nhã, tôi thấy hình nhƣ mình cũng có đƣợc đôi chút hiểu biết nhƣng vẫn còn lờ mờ nên
muốn tiếp tục tìm hiểu thêm các kinh sách khác của Phật may ra sáng tỏ thêm chút gì
chăng và nhờ đó mà có niềm tin để thực hành thấu đáo. Bởi biết là một chuyện, hiểu là
một chuyện, còn từ biết đến tin đến làm và duy trì hành vi, nhận thức không phải dễ
dàng. Cho nên trong Tâm Kinh, khi Bồ Tát Quán Tự Tại “hành thâm Bát Nhã” thấy đƣợc
“ngũ uẩn giai không,” thoát mọi khổ đau ách nạn mừng rỡ reo lên “Bồ đề, Tát-bà-ha!” thì
Phật đã cảnh giác: Phải tiếp tục hành thâm. Hành thâm nữa. Chƣa ăn thua gì đâu. Không
đƣợc tự mãn. Không đƣợc lơ là.

Tôi học Kim Cang không ngờ cũng thấy ghiền nhƣ khi học Tâm Kinh ngày trƣớc. Đôi
khi giật mình, đôi khi sửng sốt, đôi khi bỡ ngỡ, đôi khi chƣng hửng. Các kinh sách dù có
nhiều truyền bản, nhƣng rõ ràng là có một sự nhất quán, xuyên suốt, chỉ khác cách tiếp
cận tùy “đối tƣợng đích” mà cách truyền đạt khác nhau chớ nguyên lý vẫn là một. Nắm
đƣợc cái cốt lõi có thể bớt hoang mang, thấy đƣợc “chỗ vào” chăng?

Cái điều bỡ ngỡ và chƣng hửng đầu tiên khi học Kim Cang là hy vọng đƣợc đọc, đƣợc
nghe những lời hay ý đẹp, những khuôn vàng thƣớc ngọc, những bài giảng uyên áo. Thế
mà, trời ạ, Kim Cang lại đi kể ngay một chuyện rất đỗi bình thƣờng, nếu không muốn nói
là tầm thƣờng nữa, chẳng ăn nhập vào đâu, đó là chuyện Phật tới giờ ăn, đói bụng, bèn
mặc áo, ôm bình bát đi… khất thực, chẳng thèm nói lấy một tiếng, chẳng thèm ra oai tằng
hắng lấy một tiếng! Nghĩ mà coi, giữa lúc có hằng ngàn ngƣời, cả các vị Đại Bồ Tát, A
La Hán, các vị “chức sắc” và các đại đệ tử thân tín ngồi hồi hộp chờ nghe những lời giáo
huấn sâu xa thì Phật chẳng nói chẳng rằng, mặc áo, cầm bình bát, vào thành khất thực.
Đến khi khất thực thấy vừa đủ rồi mới ung dung trở lại “hội trƣờng,” bày ra ăn, ăn xong,
thu dọn y bát đâu đó đàng hoàng rồi rửa chân sạch sẽ, ngồi xếp bằng… thở, nghĩ là …
nhập định! Chẳng thèm nói lấy một tiếng. Chẳng thèm ban cho một chút huấn từ! Tôi
tƣởng tƣợng lúc đó nếu mình cũng đang ngồi xớ rớ đâu đó, bên ngoài hành lang, dự
thính, chờ nghe những lời thuyết giảng mà phát tức anh ách, cảm thấy hẫng, thất vọng.
Bỗng dƣng, Tu Bồ Đề xuất hiện. Ngồi giữa đám đông nhƣ mọi ngƣời bỗng ông đứng
phắt dậy, cung kính cúi chào đúng nghi lễ với bậc Thế Tôn rồi cất lời ca ngợi: Thật tuyệt
vời! Thật là tuyệt diệu! Thật xƣa nay chƣa từng có! Thế Tôn đã khéo léo dạy dỗ, khéo léo
trao truyền, khéo léo gởi gấm cho các vị đang có mặt tại đây hôm nay! Lúc đó thì quả
thực mới bùng nổ bài học vừa đƣợc truyền trao mà chẳng ai ngờ! Lúc đó thì sự chƣng
hửng đã trở thành nỗi áy náy. Chết rồi, nãy giờ không để ý, không theo dõi kỹ bài giảng
không lời kia của Đức Phật! May mà có Tu Bồ Đề phát hiện! Những ngƣời không để ý
quan sát kỹ sẽ mất đi một cơ hội đáng tiếc!

Phật có cách dạy riêng của Ngài: không nói một lời mà chỉ làm cho coi. Đó là một
phƣơng pháp giáo dục rất mới mà bây giờ ngƣời ta gọi là “demonstration,” tức là biểu
                                                                                         2


diễn, làm gƣơng, làm cho bắt chƣớc, một lối dạy kỹ năng sống (life skills) rất hiện đại.
Một lần nữa cho thấy học Phật, tu Phật là làm chớ không phải nói. Làm trƣớc, nói sau.
Hoặc cũng chẳng cần nói. Ta hiểu vì sao các vị thiền sƣ thƣờng bắt học trò chẻ củi, nấu
cơm, gánh nƣớc, trồng rau, giã gạo… mà chẳng thèm dạy lấy một lời. Cho đến lúc nào
học trò tự phát hiện ra một điều gì đó bức xúc trong tâm thì mới dạy, cũng bằng một cách
kỳ cục nào đó: có khi lật thuyền, có khi gõ đầu, có khi trả lời trớt quớt, có khi hỏi ấm ớ
kiểu ông đƣa tâm đây tôi an cho, làm cho học trò ngớ ra rồi… sực tỉnh cơn mê! Cuối
khoá học, trò cũng không nhận đƣợc một bằng cấp nào của thầy để khoe, thầy cũng chả
có gì để trao cho trò. Bới “Cái đó” sẵn có trong trò, thầy chỉ giúp trò tự phát hiện, tự
chứng nghiệm, tự “giải quyết” lấy vấn đề của mình. Đó gọi là tham vấn (counselling),
một phƣơng cách trị liệu tâm lý học và y học ngày nay. Ngƣời làm tham vấn ví nhƣ cô
mụ đỡ đẻ, giúp bà mẹ có đƣợc cuộc đẻ mẹ tròn con vuông chớ không thể đẻ thay bà mẹ.
Đứa con có sẵn trong bụng mẹ rồi.

Trờ lại bài học, mọi ngƣời giật mình, sửng sốt nhớ lại thì mới hay Phật muốn dạy mình
bài học đầu tiên: đói thì ăn, khát thì uống. Tới giờ ăn thì phải lo ăn. Ai nói không cần ăn
là ngƣời không biết sống, hoặc giả dối. Gần hai ngàn năm sau, Trần Nhân Tông, ông vua
nhà Trần ở nƣớc ta, vị thiền sƣ sáng lập phái Trúc Lâm Yên Tử cũng nói trong bài Cƣ
Trần Lạc Đạo: Cơ tắc xan hề khốn tắc miên (Đói thì ăn, mệt thì ngủ.) Phật tới giờ ăn mà
còn phải lo mặc áo, xách bình bát đi khất thực, huống là ta! Điều đáng để ý ở đây, một
bậc Thế Tôn nhƣ Đức Phật, chỉ cần nói một tiếng, không thiếu món ngon vật lạ cúng
dƣờng! Thị giả hẳn đã lo bữa cơm tƣơm tất cho Phật đâu đó rồi, chờ Phật thuyết giảng
xong thì vào ăn. Nhƣng không. Phật đã tự đi kiếm ăn lấy một mình. Không nhờ vả đến ai.
Không ăn thức ăn dọn sẵn ngon lành, mà tự mình làm đúng những điều mình đã dạy. Cho
nên không giật mình, sửng sốt sao đƣợc! Nhiều vị “chức sắc” có mặt hẳn … hết hồn nhìn
lại mình, nào đệ tử cung phụng, nào bày biện các món ăn tuy là chay mà cũng “sơn hào
hải vị” không kém! Ngày nay ta còn thấy có nhiều thức ăn chay giả giống hình con tôm,
con cá, đùi gà… thật là đáng ngại! Giật mình, sửng sốt còn bởi vì Phật, địa vị cao nhất,
bậc Thế Tôn kia, có hằng chục “chức danh” lừng lẫy mà vẫn giản dị làm sao, vẫn đi chân
trần từng bƣớc thanh thoát, vẫn bƣng bình bát đi khất thực giữa nắng trƣa để có cái ăn, có
gì ăn nấy. Phật đi khoan thai, tự nhiên, mỗi bƣớc đều chánh niệm, không “dính mắc” gì
với chung quanh mọi ngƣời đang xì xầm hay bàn tán về mình, kẻ khen ngƣời chê mình.
Ngài chỉ thở vào thở ra trên từng bƣớc đi, ung dung, nhẹ nhàng, sảng khoái. Phật cũng
không chọn các nhà giàu để đến khất thực hoặc chọn nhà nghèo dễ chịu hơn, hoặc những
nhà quen biết cho chắc ăn, Phật cứ ung dung lần lƣợt đi từng nhà, từng nhà, bởi vì đâu có
cần phải phân biệt, đâu có cnầ giúp riêng ngƣời giàu hay ngƣời nghèo. Ai cũng có vấn đề,
ai cũng “khổ” nhƣ nhau thôi. Ngƣời nghèo khổ nghèo, ngƣời giàu khổ giàu! Có điều sau
một vài tiếng đồng hồ đi bộ để khất thực nhƣ vậy thì món ăn nào cũng trở thành “cao
lƣơng mỹ vị,” nếu đƣợc ăn trong chánh niệm, đƣợc nhai kỹ từng chút một thì thức ăn nào
cũng ngon, cũng dễ tiêu hoá. Hình nhƣ cái bình bát cũng vừa lớn đủ đựng thức ăn cho
một ngƣời thôi, để không quá dƣ, không thƣà mứa. Ngày nay ít thấy cảnh khất thực, nhất
là ở các đô thị, thành phố, thế nhƣng khi ta có dịp thấy một ngƣời mặc áo ca sa, mang
bình bát, từng bƣớc ung dung, chánh niệm, đi khất thực từng nhà, từng nhà, ta không
khỏi khâm phục vị Thầy từ ngàn xƣa, và tự dƣng trong lòng thấy cảm động. Ngày nay dù
không còn phải đi khất thực từng bữa nữa, nhƣng việc đi bộ hằng ngày vài tiếng đồng hồ
cũng luôn rất cần thiết cho sức khoẻ; thức ăn đơn giản, nhiều rau, nhiều đậu, ít béo, ít
                                                                                         3


đƣờng, ít mặn, không quá dƣ cũng đã rất tốt cho sức khoẻ. Đặc biệt là ăn trong trạng thái
ung dung, thƣ giản, một không khí an lành, với niềm vui có đƣợc bữa ăn vừa đủ, không
cầu kỳ, không thừa mứa, thì bữa ăn nào cũng trở nên ngon, lành mạnh, khoẻ khoắn. Ăn
xong, Phật thu dọn y bát đâu đó gọn gàng, rửa chân sạch sẽ rồi mới vào ngồi tĩnh toạ.
Điều đáng để ý ở đây là không phải ăn xong thì đi… ngủ hoặc bắt đầu tranh luận căng
thẳng mà là ngồi tĩnh toạ, vào thiền. Có lẽ đó là lúc tốt nhất để nghe cơ thể mình hoạt
động, để thấy các thức ăn đƣợc bộ máy tiêu hoá, hấp thu, chuyển hoá thành năng lƣợng ra
sao trong từng tế bào. Bài học đã truyền trao. Nếu chịu khó quan sát kỹ tí nữa, lúc Phật
bƣng bình bát đi khất thực từng nhà, có lẽ ta còn phát hiện ra nhiều điều hay, thú vị khác.
Chẳng hạn cái ngƣời đi khất thực kia không phải là ngƣời đi xin mà là ngƣời đi cho. Ta
không thể phân biệt ai là ngƣời xin ngƣời cho ở đây. Khi ngƣời đi khất thực đứng trƣớc
cửa nhà nào thì gia chủ mừng húm, cảm thấy nhƣ mình có một hạnh phúc lớn, không
phải chỉ vì ngƣời đi xin kia là đức Phật mà chỉ vì cái hành vi đi xin kia thực ra mang một
ý nghĩa khác, ý nghĩa cảnh tỉnh, nhƣ một lời nhắn nhủ, nhắc nhở. Gia chủ sẽ có dịp nhìn
lại chính mình, nghe ngóng một tiếng nói nào đó ở trong sâu thẳm tâm hồn mình. Có thể
rồi sẽ chóng quên, nhƣng hôm nào đó lời nhắc nhở sẽ lại vọng lại. Với ngƣời quyền quý
cao sang, có thể giật mình một chút thấy cái ngƣời đi chân đất, để đầu trần, bƣng bình bát
đứng xin kia là ngƣời vì sao đã từ bỏ ngôi vị thái tử, đã từ bỏ gấm vóc lụa là, cung phi mỹ
nữ. Cũng có thể sẽ có những ngƣời xua đuổi, sỉ vả, để rồi cũng nhận đƣợc một ánh mắt
biết ơn, một nụ cƣời trìu mến và những bƣớc đi nhẹ nhàng của ngƣời khất thực kia. Để
rồi đêm về, ngƣời đã xua đuổi sỉ vả nọ nhớ lại, ngạc nhiên nghe một thứ tiếng nói khác
trong lòng mình. Có những ngƣời nghèo không có cái ăn, không có cái gì để cho thì lúc
đó cái ánh mắt, cái nụ cƣời sẽ chia sẻ cùng nhau. Sự tôn trọng, không phân biệt, đã nói
lên nhiều điều quá đỗi. Thực ra nếu quan sát kỹ chút nữa, có lẽ từ lúc Phật đứng lên mặc
áo, cầm lấy bình bát… mỗi cử chỉ đều đã toát lên một cái gì đó khác với ta. Nếu có ai cắc
cớ hỏi chuyện mặc áo, cầm bình bát của Phật đâu thấy khác gì mọi ngƣời, thì chắc Ngài
sẽ cƣời nhẹ nhàng nói: có chứ, có chứ. Bởi Phật khoác áo, cầm bình trong chánh niệm
còn ta thì hấp tấp, hổn hển chụp lấy áo, chụp lấy bình bát, tất tả vội vàng…

Diễn tiến của một buổi giảng huấn bằng phƣơng pháp demonstration đó thì mỗi cử chỉ,
hành động đều phải đƣợc theo dõi, quan sát rất kỹ để có thể thực hành theo. Suốt bài
giảng đó, ta đã học đƣợc nhiều điều hơn ta tƣởng: bố thí mà không phải bố thí, trì giới,
nhẫn nhục mà không phải trì giới, nhẫn nhục, rồi tiết độ, tri túc, tinh cần, chánh niệm…
và lúc nào cũng ở trong một trạng thái ung dung, an lạc, thảnh thơi, đầy trí tuệ. Cho nên
ta sẽ không còn ngạc nhiên khi nghe Tu Bồ Đề cất tiếng ca ngợi: “Hy hữu Thế Tôn! Nhƣ
Lai thiện hộ niệm chƣ Bồ Tát, thiện phó chúc chƣ Bồ Tát.”

(Trích từ tập sách Gươm Báu Trao Tay của BS Đỗ Hồng Ngọc)
                                                                                          4




Con mắt thứ ba
• Thứ Tƣ, Tháng Bảy 15th, 2009




                                  Khi thấy Tu Bồ Đề và mọi ngƣời trong thính chúng có
vẻ nhƣ hả hê vì đã đựơc chỉ dạy xong cách hàng phục tâm, thì Phật đã vội gọi: Lại nữa!
Này Tu bồ Đề! khiến cho mọi ngƣời sực tỉnh. Lại nữa ƣ? Chƣa xong, chƣa hết ƣ? Còn
nhiều chuyện quan trọng nữa ƣ? Đúng vậy, Phục thứ, Tu Bồ Đề. Bồ tát ƣ pháp, ƣng vô sở
trụ hành ƣ bố thí! Bồ tát ở trong pháp, đừng trụ vào đâu cả để làm việc bố thí!

Tôi lại một phen chƣng hửng! Bổ tát ở trong pháp? Pháp gì? Ƣng vô sở trụ bố thí là bố
thí làm sao? Tự dƣng đang bàn chuyện diệt độ chúng sanh, chuyện thiền định vô ngã cao
xa vời vợi bỗng nhảy đùng vào chuyện xin cho, chuyện cơm áo gạo tiền, chuyện bố thí
này nọ?

Đọc kinh sách, chúng ta dễ bối rối khi thấy từ “pháp” có lúc là cách thế, là phƣơng pháp,
có lúc lại là một trong lục trần: sắc, thanh, hƣơng, vị, xúc, pháp! Bồ tát ở trong pháp, thì
pháp đây là phƣơng pháp, là cách thế. Có sáu cách thế giúp rèn luyện để trở thành một vị
Bồ tát gọi là Lục độ: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ. Bố thí là
yếu tố thứ nhất, đựơc nói đến đầu tiên ở đây! Bố thí là cửa ngõ dễ nhất – ai cũng có thể
làm đƣợc- mà cũng là khó nhất, không phải ai cũng làm đƣợc!

Với hai câu hỏi của Tu Bồ Đề “Làm cách nào để an trụ tâm? Làm cách nào để hàng phục
tâm?” thì Phật đã chỉ dạy cách hàng phục trƣớc. Hàng phục thì… dễ, dạy trƣớc, an trụ
khó, dạy sau. Rõ ràng cái tâm viên ý mã, cái tâm quậy phá, nhƣ ngựa chứng, nhƣ trâu
điên sức mấy mà an trụ đƣợc nếu chƣa hàng phục! Hàng phục là trị nó, là làm cho nó quy
hàng, làm cho nó chịu phép, bấy giờ mới tính chuyện “an trú” nó, cho nó ra đảo hoang
hay vào rừng sâu. Cũng nhƣ ngƣời ta phải bắn thuốc mê để hàng phục mấy con voi điên
ở rừng Tánh Linh dạo nọ trƣớc khi chở nó lên Darlak để tiếp tục thuần hóa nó, làm cho
nó ngoan ngoãn và trở nên hữu ích ?

Hàng phục… không khó, nhƣng là bƣớc căn bản, không có không xong! Chỉ cần giới và
định là đủ. Giới và định thì hình nhƣ những ngƣời có mặt trong buổi truyền trao “gƣơm
báu” này ai cũng đã quen thuộc, nhiều ngƣời thậm chí còn có “chức danh” này khác!
Nhƣng sao tâm vẫn chƣa an? Vẫn thấy còn nhộn nhạo? Ấy là bởi thuốc chƣa đủ mạnh,
                                                                                           5


trị chƣa tận gốc, cần phối hợp với một thứ thuốc đặc trị mạnh hơn, đó là Tuệ! Có giới,
định mà thiếu tuệ vẫn chƣa xong, bệnh vẫn còn tái phát. Hàng phục mà chƣa an trụ cũng
vậy!

“Bồ tát ƣ pháp, ƣng vô sở trụ hành ƣ bố thí”! Muốn an trụ tâm ƣ? Dễ lắm! Thì đừng có
trụ vào đâu cả! “Ƣng vô sở trụ” là xong hết! Đừng trụ vào đâu cả thì sẽ đƣợc an trụ? Câu
nói nghe lạ, nhƣng tuyệt diệu! Muốn an tâm ƣ? Thì hãy vô tâm! Đối cảnh vô tâm mạc
vấn thiền (Trần NhânTông). Vô tâm ở đây không phải là bỏ mặc, là mặc kệ! Không phải
thế. Trần Nhân Tông đã rời bỏ vƣơng triều, đi tu trên núi Yên tử, vậy mà khi quân
Nguyên sang xâm lấn nƣớc ta, nhà sƣ đâu có mặc kệ, ông tức khắc xuống núi, bày mƣu
tính kế, góp sức đánh đuổi ngoại xâm. Cái “vô tâm‟ của ông là ở chỗ đánh đuổi xong giặc
thì xoa tay, về núi tu tiếp. Muốn an trụ thì vô trụ, muốn an tâm thì vô tâm. Đơn giản vậy.
Lục tổ Huệ Năng chỉ nghe lóm một câu “Ƣng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà ngộ, còn ta
sao cứ mãi mịt mờ! Ấy là bởi ta còn ham “dính mắc”, ham tích cóp hơn là từ bỏ, buông
xả, bố thí !

Phật nói rõ hơn: vô sở trụ nghĩa là… đừng có trụ vào sắc bố thí, đừng có trụ vào thanh,
hƣơng, vị, xúc, pháp… Tóm lại đừng có trụ vào tƣớng! Bất trụ tƣớng bố thí. Trụ là dựa,
là dính, là mắc. Bố thí mà dính mà mắc, mà dựa vào “tƣớng”, vào hình thức thì chƣa phải
là bố thí đúng nghĩa! Bố thí mà còn thấy có kẻ cho ngƣời nhận, có quay TV để lăng xê
tên tuổi, để hù thiên hạ, để “đầu tƣ” kiếm danh, kiếm lợi, kiếm phƣớc thì chƣa phải bố thí
đúng nghĩa. Đúng nghĩa là bố thí…bất vụ lợi, bố thì không thấy có ta có ngƣời có vật bố
thì, bố thí đựơc nhƣ vậy mới… thực là hạnh phúc. Đó là cách bố thí vô ngã, bố thí không
dính mắc, không toan tính. Một đời lận đận đo rồi đếm/ Mỏi gối ngƣời đi đứng lại ngồi!
(Bùi Giáng). Cáí bố thí mà Phật dạy để có Tuệ chính là cái bố thí vƣợt qua, vƣợt ra, vƣợt
lên, bố thí ở bờ bên kia, bờ của tuệ giác, bố thí balamật đó vậy.

Tiếng Hán khá thú vị. Ghép chữ mộc là cây (trần) với mục là mắt (căn) thành “tƣớng”.
Lục trần khi tiếp xúc với lục căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý),nhất là khi có tâm dính vào
thì thành “tƣởng”, tạo ra đủ thứ chuyện! Nhƣ các chàng Đào cốc lục tiên trong tiểu
thuyết Kim Dung, ngớ ngớ ngẩn ngẩn, chịu sự sai khiến của ngƣời khác, lúc vầy lúc
khác, lúc thông thái lúc điên rồ, tranh cãi nhau chí chóe lọan xạ suốt ngày. Ngƣời mới tu
thuờng tìm đến núi cao rừng rậm cho khuất mắt, khỏi bận lòng. Họ lánh trần, ly trần (chớ
không phải lìa trần) là để không sanh sự nữa. Ngƣời đắc đạo rồi thì thỏng tay vào chợ!
Khi Lệnh hồ huynh đệ học đƣợc Dịch cân kinh chính truyền rồi thì không còn sợ Đào cốc
lục tiên nữa, họ trở thành bạn chí cốt của nhau!

Dò sông dó biển dễ dò. Đừng coi mặt mà bắt hình dong!Thấy vậy mà không phải vậy!
Dựa vào “tƣớng” thì dễ vỡ mộng! Lầm chết! Phật cho một thí dụ cụ thể: Thiên hạ nói
Phật có 32 tƣớng tốt, vậy ai có đủ 32 tƣớng tốt đều có thể coi là Phật chăng? Biết bao lần
Đƣờng Tăng lầm chết ngƣời nhƣ thế! Cả Trƣ Bát Giới, Sa Tăng cũng hì hục lạy yêu quái.
Trừ lão Tôn, nhờ con mắt thứ ba, lão Tôn trợn lên một cái thì… vƣợt qua tƣớng, thấy cái
thực chất, cái tánh bên trong! Hình thức không gạt đựơc lão Tôn! Phật dặn đi dặn lại:
Đừng có lấy hình sắc mà tƣởng Ta, đừng có lấy âm thanh mà cầu Ta… ! Thời buổi bây
giờ ngƣời ta… gạt nhau hơi nhiều! Ngƣời khôn ăn bòn kẻ dại. Quảng cáo nghe bùi tai,
tiếp thị thấy sƣớng mắt… Thỉnh thoảng cũng nên trợn con mắt thứ ba lên một cái!
                                                                                         6


Điều cần nhớ là Phật dạy “bất trụ tƣớng bố thí”, “vô sở trụ hành ƣ bố thí” chớ không
phải không bố thí. Vẫn có bố thí, vẫn còn bố thí, vẫn cần bố thí. Miếng khi đói bằng gói
khi no. “Bố thí” cách thế sống hạnh phúc, không lo âu, sợ hãi, là cái mà Phật gởi gấm, tin
tƣởng vào các vị Bồ tát sẽ “ vị tha nhơn thuyết”, dù một chữ một câu, dù tứ cú kệ đẳng…

Bố thí đã vậy thì các “độ” khác cũng phải vậy! “Ƣng vô sở trụ hành ƣ bố thí” thì cũng
phải ƣng vô sở trụ hành ƣ trì giới, ƣng vô sở trụ hành ƣ nhẫn nhục v.v… Không chỉ Bố
thí đừng trụ, đừng dính mắc mà trì giới cũng đừng trụ, đừng dính mắc! Quả là không dễ!
Không dễ         nên    mới    phải     tu,   phải   rèn,   phải    luyện   dài   lâu!
( trích Gƣơm Báu Trao Tay ).


@Nguyen Anh Tung
19/05/2010 lúc 9:44 chiều

Trong “Luc Do” Ngai Dalai Lama da giang tai Phap cach day 20 muoi nam, Ngai da
giang rang 3 thanh to quan trong (Bo Thi, Tri Gioi, Nhan Nhuc) la de khong giam
BO DE TAM, 3 thanh to quan trong (Tinh Tan, Thien Dinh, Tri Tue) la de tang cuong
BO DE TAM.

Trong DAI TRI DO LUAN, thi Bo Thi Ba La Mat bao gom 5 thanh to quan trong kia thi
moi dung la Bo Thi Ba La Mat.

BS ĐH Ngọc:
-Thế mới biết vì sao trong “Lục độ” có hai thành tố quan trọng: Nhẫn nhục và Tinh tấn.


Gươm Báu Trao Tay
Hiền huynh thương mến

Congratulations.

Bài Gƣơm Báu Trao Tay diễn tả đƣợc cái ngộ của hiền huynh trên con đƣờng khám phá ý
nghĩa sâu diệu trong kinh Kim Cang. Từ cái ngạc nhiên này đến cái ngạc nhiên khác. Đó
há chẳng phải là thái độ của trẻ sơ sanh, của “tờ giấy trắng” hay “cốc trà cạn đáy” hay
sao? Mắt mở lớn, tâm mở rộng, tai vểnh lên. Để nghe, để hít thở, để cảm nhận cái “nhƣ
lai”. Tiếp nhận nhƣng vẫn để tâm rỗng, vẫn để tờ giấy trắng trơn, vẫn để cốc trà cạn đáy.

Vì vô tự mà, giữ làm gì. Như lai mà, đến rồi đi.

Ngƣời đọc chắc sẽ còn thích thú đọc tiếp những cảm nhận của anh, những cái ngộ trong
trắng, tinh khôi của anh trong những ngày sắp tới, khi anh cảm nhận đƣợc, khám phá
đƣợc qua “hành”, bổ xung cho những khám phá qua “tri”.
                                                                                           7


Có lẽ không phải là sự ngẫu nhiên, mà ngƣời ta khắc “pháp luân” dƣới lòng bàn chân của
các tƣợng Phật. Và có lẽ cũng không phải là không có ý nghĩa khi Phật không để lại một
“văn tự” nào, để cho ngƣời sau này khám phá đƣợc chân kinh chính “vô tự”.




Và có lẽ cũng không ngạc nhiên, khi Phật trả lời các câu hỏi, Phật vẫn thƣờng gọi tên
ngƣời hỏi để giải thích, trình bày câu giải đáp. Ngày nay, trong thuật ăn nói trƣớc công
chúng, và thƣờng thấy trong các buổi họp báo của các nhà chính trị nổi tiếng, ta vẫn để ý
nghe thấy họ gọi tên ngƣời hỏi để trả lời, khiến ngƣời tiếp nhận câu trả lời biết là câu hỏi
mình đƣợc lắng nghe.

Trong trƣờng hợp đối đáp của Phật với ngƣời hỏi, ta không khỏi cảm nhận đƣợc tâm vi
diệu của Phật muốn đƣa ra lời giải đáp hợp với căn cơ ngƣời hỏi câu hỏi đó. Cáchgiải
thích khác nhau tuỳ theo ngƣời đó là nông dân chỉ quan tâm đến mùa màng, hạnh phúc cá
nhân; hay là ngƣời có học muốn tranh luận triết lý, hay là ngƣời tu muốn tìm cách giải
thoát.

Và trong quá trình Phật chuyển pháp luân (hành), nhiều ngƣời đã “chấp” cho là lòi giải
thích của Phật ở thời điểm đó, đối với ngƣời đó, nhân cơ hội đó, là “chân kinh” qua nhiều
tên khác nhau nhƣ Kim Cang, Pháp Hoa, Liên Hoa, Đại Bát Niết Bàn v.v….

Nhƣng rốt ráo, chân kinh là vô tự. Kim Cang không phải là chân kinh, nếu ta “chấp” đó
là chân kinh. Pháp Hoa không phải là chân kinh, nếu ta chấp đó là chân kinh. Đó chỉ là
những góp nhặt theo trí nhớ, theo căn cơ của những ngƣời nghe những lời giải thích của
Phật lúc đó, cho một ngƣời, một nhóm nào đó, trong một trƣờng hợp nào đó. Khi Huệ
Năng đi ngang qua chùa, nghe thoáng qua câu kinh, đã ngộ ngay. Huệ Năng ngộ không
                                                                                      8


phải vì nhận ra đó là kinh Kim Cang. Huệ Năng ngộ vì đó là lời “vô tự”, là cái hoa Phật
đƣa lên, và Huệ Năng đã mĩm cƣời đƣợc ngay. Kinh chỉ là phƣơng tiện, nhƣ chuyến đò
qua sông. Qua rồi, ta không vác theo con đò đó. Mong các bạn trẻ trên đƣờng khám phá
sẽ không chấp kinh nào hơn kinh nào, nhƣng sẽ tìm đƣợc pháp thích hợp giúp mình khám
phá đƣợc những gì đang có đó nhƣng mình chƣa cảm nhận đƣợc. Trong nhà thuốc có
nhiều thuốc trị nhức đầu, nhƣng mỗi ngƣời hợp loại thuốc khác nhau.

“Chín tầng gươm báu trao tay, Nửa đêm truyền hịch đợi ngày xuất chinh” cho ta liên
tƣởng đến ba cái gõ trên bàn của sƣ phụ, khiến Huệ Năng tìm đến sƣ phụ vào canh ba, để
nghe lời dặn dò, nhận áo và bình bát, để ra đi và chờ đến 16 năm sau, nhân “phƣớn
động”, mới “xuất chinh”, đăng đàn giảng pháp.

Bài Gươm Báu Trao Tay lần này có tính cách văn chƣơng bác học với nhiều dẫn dụ
tiếng Hán làm cho súc tích và “evidence‐ based” essay, có tính cách thuyết phục qua các
nhận xét dí dõm. Mong sao cho giới trẻ vẫn theo đƣợc, dù có lẽ thích câu văn bình dân
hơn, dí dõm, sẽ nắm bắt đƣợc cái ngộ của bác sĩ/ nhà văn, nhà nghiên cứu Đỗ Hồng
Ngọc, vui theo cái vui, sảng khoái theo cái sảng khoái của hiền huynh khi khám phá điều
mới, vỗ đùi một cái “thì ra vậy”.

Vài hàng nhận xét với lòng cám ơn hiền huynh cho đệ cái duyên chia sẻ sự khám phá tinh
khôi của hiền huynh.

Ngu đệ dũng
Canberra tháng bảy 2008


   1.       keodua

        10/10/2009 lúc 5:14 sáng

        Cam on bac NGU DE DUNG nhieu lam! qua bai gop y nay chau sang ra mot
        chut, nhung khong ro lam la minh sang phan nao. Co dieu la thich doc va doc toi
        cuoi lan, chu khong phai nhu lan doc dau tien quyen GBTT chau rot sach luc nao
        khong hay, lan hai, lan ba… dan dan doc het quyen, nhung sao van con lo mo duc
        duc. Cam on Bac da dua chau sang sang hon.
        Chau nghi Bac DHN co duoc NGHIEP tot moi co mot NGU DE nhu bac


   2.       Bac Si Do Hong Ngoc

        10/10/2009 lúc 6:50 chiều

        “Ngu đệ Dũng” thiệt ra cũng là bậc thầy của “ngu huynh” ĐHN này đó keodua ạ.
        Khi “ngu de dung” bao “congretulations” là mừng lắm rồi đó. Cảm ơn kẹo dừa đã
        chịu khó đọc GBTT nhiều lần, và lần này đọc tới cuối cuốn sách. Vậy là gần…
        “đắc” rồi đó. Thân mến.
                                                                                        9


 (Viết về Kim Cang Bát nhã, tiếp theo Lên
đường)
Tu Bồ Đề đang ngồi giữa “hội trƣờng” bỗng đứng phắt dậy cung kính chắp tay cúi chào
đức Phật và lớn tiếng ca ngợi: “Thật là tuyệt vời! Thật là tuyệt diệu!. Thật xƣa nay chƣa
từng có. Nhƣ Lai đã khéo dạy dỗ, khéo giúp đỡ, khéo truyền trao, khéo phó chúc cho các
vị Bồ tát”. Đọc tới đây tôi lại một phen chƣng hửng! Bởi Tu Bồ Đề nào phải là ai xa lạ.
Ông là một trong mƣời vị đại đệ tử của Phật, một bậc Alahán, ngƣời nổi tiếng ƣa hạnh
lan nhã, độc cƣ, ngƣời giải Không đệ nhất. Thế mà trong hội chúng này, ông lên tiếng
nghe có vẻ gì đó nhƣ… ganh tị với các vị Bồ tát! Nào các vị Bồ tát… “vui” nhé,

đựơc đức Phật “cƣng” nhé, đựơc Nhƣ Lai quan tâm giúp đỡ, tin cậy gởi gấm và hôm nay
còn đƣợc trực tiếp trao truyền một cách khéo léo nhƣ thế nhé! Làm nhƣ xƣa giờ đức Phật
chẳng hề dạy cho quý vị, chẳng hề tin cậy, giúp đỡ qúy vị, vốn là những đại đệ tử gần gũi
nhất của Phật vậy! Lúc đầu tôi chƣng hửng, sau thấy hình nhƣ không phải vậy! Alahán đã
là những bậc vô sanh, lẽ nào lại “sanh sự”, lẽ nào lại đi ganh tị chứ! Có thể đây là một
buổi thuyết giảng quan trọng dành riêng cho các vị Bồ tát- những vị tuy đã giác ngộ
nhƣng vẫn hãy còn là chúng sinh- đang chuẩn bị lao vào thế giới khổ đau để giúp đỡ mọi
ngƣời. Trong thính chúng, có những vị đã là Bồ tát nhƣng cũng có những vị mới “phát
tâm”, tu sĩ cũng nhƣ cƣ sĩ, cả nam lẫn nữ, thậm chí chƣa phải đã “tự giác” hoàn toàn
nhƣng vẫn sẵn sàng “giác tha” để qua đó tu rèn học tập thêm. Bồ tát với chí nguyện sẵn
sàng dấn thân vào đời, cứu nhân độ thế, là một thế hệ học trò mới của đức Phật- vào thời
thuyết giảng Kim Cang. “Chín tầng gươm báu trao tay / Nửa đêm truyền hịch định ngày
xuất chinh” (CPN) chăng? Gƣơm báu? Đúng vậy. Thanh gƣơm trao truyền ở đây là thanh
gƣơm sắc bén nhất, gƣơm đƣợc làm bằng kim cƣơng, có thể dùng để chặt đứt tất cả
những khổ đau ách nạn của kiếp ngƣời. Việc làm này đƣợc giao phó cho các vị Bồ tát
“tƣơng lai”, những trai thiện gái lành tự nguyện, chí nguyện, dấn thân vào đời với lòng
nhiệt tình, hăng say để truyền bá đạo giải thóat. Còn với những vị đã là những bậc “chân
nhân” đã dứt hết phiền trựơc, đã “đặt gánh nặng xuống” thì tùy, có thể dấn thân vào đời
hay tiếp tục tu hành để giữ ngọn đuốc sáng của suối nguồn cũng hay.. Tôi nhớ đọc đâu đó
câu này: when the source is deep, the stream is long. Nguồn có sâu thì dòng chảy mới
dài! Còn “xuất chinh”? Phải, xuất chinh ở đây không phải là đi đánh Nam dẹp Bắc, chiếm
đất giành dân gì cả mà là chiến đấu với chính mình, với giặc tham sân si trong mỗi con
ngƣời. Lão Tử chẳng đã nói” Thắng nhân giả hữu lực, tự thắng giả cƣờng” đó sao? Thắng
mình mới khó. Cho nên phải có gƣơm báu trao tay! Cái cách Tu Bồ Đề ngợi ca Phật đã
khéo truyền trao, khéo quan tâm, khéo gởi gắm… hình nhƣ đã nói lên điều đó. Đó là cách
mà ngày nay ngƣời ta gọi là tạo động cơ, “motivation”, trong giáo dục chủ động. Học trò
có động cơ học tập thì học mới tốt, còn không rất dễ…ngủ gục! Hẳn là mọi ngƣời có mặt
trong hội trƣờng đều giật mình, và nhờ đó tâm hồn rộng mở, háo hức đón nhận những lời
giáo huấn. Ai cũng tự hứa với lòng sẽ ráng để thành một “Bồ tát”, xứng đáng với sự tin
cậy phó thác của đức Phật.

Tu Bồ Đề liền đặt câu hỏi “ Thưa Thế tôn, người trai thiện, người gái lành, muốn trở
thành một bậc Giác Ngộ thì phải làm thế nào để an trụ tâm, làm thế nào để hàng phục
tâm?”
                                                                                         10




Một câu hỏi cho đến hơn hai ngàn năm trăm năm sau vẫn còn nhƣ vang vọng! Nhất là
trong thời buổi hiện nay, thời buổi toàn cầu hóa, “thế giới phẳng” gì gì đó đã đầy con
ngƣời vào những cuộc tranh chấp khốc liệt, tranh giành quyền lực, quyền lợi, dẫn đến
chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai… nhƣ ta đã thấy. Chƣa bao giờ tâm con ngƣời ta lại
“hừng hực” lên nhƣ thế, chƣa bao giờ tâm con ngƣời ta lại “bấn xúc xích” lên nhƣ thế!

Vâng, để Giác Ngộ, chỉ cần xoáy vào một chữ tâm đó thôi. Chỉ cần an trụ, chỉ cần hàng
phục đƣợc cái tâm đó là xong! Nghĩa là trở thành một bậc Giác ngộ, ngang hàng với
Phật, bởi Phật nói, phàm phu là Phật chƣa giác ngộ, còn Phật là …phàm phu đã giác ngộ.
Thế thôi. Chỉ có thế. Chỉ cần thế. Mọi thứ quấy rối cuộc đời, mọi thứ khổ đau ách nạn
đều do cái tâm mà ra nên chỉ cần “xỏ mũi” nó, kéo nó lại, dạy dỗ nó, trừng trị nó –nói
khác đi là hàng phục nó nhƣ hàng phục một con ngựa chứng, một con trâu điên- rồi…an
trú nó vào một chỗ nào đó, đừng cho nó quậy phá nữa là xong! Tƣởng dễ mà không dễ!
Cái tâm đó coi vậy mà khó dạy, khó trị, khó hàng phục, khó an trú vô cùng! Giỏi nhƣ
Thái thƣợng Lão quân mà thỉnh thoảng con trâu của ngài cỡi cũng sút chuồng lén xuống
trần làm bậy, quậy phá tƣng bừng. Con trâu này vốn còn đựơc ngửi mùi linh đan diệu
dƣợc của Ngài nên càng ghê gớm hơn nữa! Tôn Ngộ Không có bảy mƣơi hai phép thần
thông biến hóa mà cũng đành bó tay, cũng hết thuốc chữa, phải nhờ đến Quan Âm Bồ tát
mới xong!

Một điều thú vị ở đây là Tu Bồ Đề nói đến ngƣời trai thiện, ngƣời gái lành ( thiện nam tử,
thiện nữ nhơn) chứ không nói đến bất cứ trai nào, gái nào. Thì ra đó là điều kiện tiên
quyết. Phải tốt phải lành cái đã rồi mới tính chuyện trở thành Bồ tát đƣợc! Bởi con đƣờng
giác ngộ của Phật kỳ cục quá, lạ lùng quá, tuy là tuyệt diệu mà nói ra sẽ chẳng mấy ai tin,
cũng chẳng dễ làm theo. Cho nên lúc đầu Phật đắn đo ngần ngại khá lâu mới chịu chuyển
bánh xe pháp! Rõ ràng, một lần nữa, ta thấy Tu Bồ Đề dùng kỹ thuật tạo “motivation”,
tạo môi trƣờng thuận lợi cho việc truyền trao gƣơm báu của buổi hôm nay. Một điểm nữa
cũng rất thú vị: không có chuyện kỳ thị giới tính, không có chuyện bất bình đẵng giới ở
đây! Cả nam lẫn nữ, ai cũng có thể trở thành Bồ tát. Hơn hai ngàn năm trăm năm rồi đó!

Phật liền trả lời Tu Bồ Đề “Tốt lắm, tốt lắm! .Đúng nhƣ ông nói đó, Ta đã hết lòng giúp
đỡ, hết lòng tin cậy, gởi gấm cho các vị Bồ tát!”. Đƣợc lời nhƣ cỡi tấc lòng! Không phải
chỉ Tu Bồ Đề nói mà Phật cũng xác nhận nhé! Vậy thì lẽ nào chƣ vị còn dám lơ là!
Không khí hội trƣờng lúc đó có lẽ đã hoàn toàn khác, đã đủ chín muồi.

“Này Tu Bồ Đề, ông hãy lắng tai nghe cho kỹ (đế thính) đây”. Lắng nghe (listening) là kỹ
năng hàng đầu trong tham vấn (counselling) tâm lý ngày nay. Lắng nghe, không phải là
nghe hời hợt ngoài tai.mà là nghe với tất cả tâm hồn, tất cả thân xác. Ngƣời biết lắng
nghe là ngƣời nghiêng mình về phía ngƣời nói, nhìn vào mắt ngƣời nói, gật gù những chỗ
tâm đắc, hỏi lại nếu cần và biết phản ánh, lặp lại với những câu chữ khác xem có đúng
nội dung diễn đạt không. Một ngƣời biết lắng nghe là ngƣời có tâm hồn đồng cảm, chìm
ngập, tràn dâng cảm xúc! Ta hiểu vì sao trong Kim Cang, Tu Bồ Đề, vị Alahan vô sanh là
vậy mà cũng nƣớc mắt rơi lã chã! Chữ “đế” ở đây còn có nghĩa là “thẩm xét”, suy xét cho
thấu đáo, không thể chỉ nghe, tin một cách hời hợt đƣợc. Khi học Phật, thú vị nhất là Phật
                                                                                       11


không “áp đặt” bao giờ, lúc nào cũng bảo ta chớ vội tin, hãy suy xét cho kỹ, tìm tòi cho
thấu đáo, và thực hành cho miên mật để rồi tự mình phát hiện, tự mình “kiểm nghiệm”, tự
mình chứng nghiệm lấy.

Để ý thêm chút nữa, ta thấy dƣờng nhƣ ở đây Phật chỉ nói riêng cho Tu Bồ Đề, với Tu Bồ
Đề thôi. “ Ta sẽ vì ông mà nói”. Đương vị nhữ thuyết. Có nghĩa là không phải với bất cứ
ai ta cũng nói đƣợc điều này. Vì ông đã biết đặt ra một câu hỏi cốt lõi, rốt ráo… nhƣ vậy
nên ta mới nói riêng cho ông biết: “Ngƣời trai thiện, ngƣời gái lành, muốn trở thành bậc
Giác ngộ thì cứ làm …nhƣ vầy, nhƣ vầy…”! Hãy nghĩ xem, trong tình huống đó mọi
ngƣời sẽ chăm chú, sẽ dóng tai lên mà nghe nhƣ thế nào! Tất cả mọi ngƣời trong hội
trƣờng trở thành ngƣời học…lóm. Học… lóm là một cách học…hay! Lục tổ Huệ Năng
đã từng học lóm nhƣ vậy ngay khi đã vào chùa, ngày ngày giã gạo , bửa củi, nấu cơm.
Nhờ vậy mà ông thấy ngay “Bản lai vô nhất vật” trong khi những ngƣời khác còn loay
hoay tìm kiếm! Cách nói “Hãy làm nhƣ vầy…nhƣ vầy…” thƣờng gặp trong truyện xƣa,
mỗi khi có điều gì cần riêng tƣ, bí mật, càng gây thêm một sự tò mò muốn biết, muốn
nghe. Phải chăng đó chính là kỹ thuật truyền trao đặc biệt của Kim Cang? Phật và Tu Bồ
Đề có lẽ đang sắm vai, “role playing”, một cách tuyệt vời của phƣơng pháp giáo dục chủ
động rất hiện đại đó chăng?

Tu Bồ Đề hớn hở: Xin vâng, xin vâng, con đang rất muốn nghe đây!

(còn tiềp)


   1.        TTM

        06/12/2009 lúc 6:12 chiều

        Đã đọc đoạn “Pháp Hội Nhân do” và đoạn “Thực hiện Khải thỉnh” trong bài
        giảng của Hòa Thƣợng Thích Thanh Từ, bây giờ đƣợc đoc thêm phần diễn giải
        hai đoạn Kinh trên qua “Lên đƣờng” và “Gƣơm báo trao tay” của BS, tôi cảm
        thấy nhƣ mình đang ngồi đọc bài giảng kinh của bậc cao tăng nào đó, chứ không
        phải của một vị bác sĩ, cách thuyết giảng các câu kinh của BS khiến cho ngƣời
        đọc cảm thấy “ngộ” sâu hơn, hiểu rõ Pháp rất đơn giản nhƣng sao mà vi diệu
        thậm thâm. Trong mỗi ngƣời, hay các nhà giáo dục VN, hay các nhà diễn thuyết
        khi đọc đoạn giảng về thƣa hỏi này sẽ tự tìm thấy cái mình thừa hay thiếu ở trong
        đó.

        “Pháp chẳng tự sanh,
        Do cảnh mà có,
        Ðạo chẳng ngẫu nhiên,
        Vì duyên mà ứng”

        Sẽ tìm đọc hết quyển “Gƣơm báu trao tay” của BS.

        TTM
                                                                                         12


“Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm…”
Một lần nọ, tôi hỏi một vị Sƣ “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” có phải là câu hay nhất
trong kinh Kim Cang không thì Sƣ nhẹ nhàng bảo không, trong kinh Kim Cang câu nào
cũng hay cả! Quả thật dần dần tôi cũng thấy ra kinh Kim Cang chỗ nào cũng hay cả, mà
hình nhƣ ngày càng hay hơn, nhất là khi… áp dụng vào đời sống hằng ngày, đúng nhƣ
Edward Conze nói. Cách viết, cách trình bày từng chữ từng câu trong kinh Kim Cang
chặt chẽ, thuyết phục và nói chung là… hấp dẫn! Tôi bị cuốn hút vào Kim Cang cũng
nhƣ trƣớc kia với Tâm Kinh. Tâm Kinh- dạy cho Xá Lợi Phất, một đại đệ tử thông tuệ, trí
thức nhất của Phật- hình nhƣ là để trả lời rốt ráo cho câu hỏi Tại sao, mang tính lý thuyết;
còn Kim Cang thì nói cho Tu Bồ Đề, vị đại đệ tử giải không đệ nhất, vô tranh, ƣa tĩnh
mịch, vốn xƣa là ngƣời dễ nổi nóng, dễ giận hờn… là để trả lời cho câu hỏi Cách nào?,
nhằm hƣớng dẫn thực hành. Dĩ nhiên những bài giảng này dành cho các đại đệ tử, hoặc
các vị tu sĩ, không phải dành cho ta nên ta có lớ ngớ, bỡ ngỡ , chƣng hửng cũng là chuyện
bình thƣờng thôi! Có điều, lớ ngớ, bỡ ngỡ, chƣng hửng lại có cái hay của nó. Nó giúp ta
tự thâm nhập, tự phát hiện, tham gia trong quá trình nghiền ngẫm, thử nghiệm, khi thấy
tin đƣợc thì đem áp dụng vào đời sống hằng ngày để giải quyết những vƣớng mắc, phiền
não chẳng cũng khóai ru? Chẳng hạn câu “Ƣng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà ai cũng
biết, ai cũng đọc nhƣ thần chú để an ủi cõi lòng mỗi khi phiền muộn , cũng là câu mà Lục
tổ Huệ Năng hơn ngàn năm trƣớc, chỉ nghe lóm mà đại ngộ cũng đáng cho ta nghiền
ngẫm miệt mài lắm chứ! Đừng trụ vào đâu cả để mà sanh cái tâm thì sẽ…sƣớng, sẽ
vui, sẽ hạnh phúc, sẽ thoát mọi “khổ đau ách nạn”. Thật ƣ?

Đừng trụ vào đâu cả? Đừng trụ vào đâu cả… ư? Ờ, mà có lý! Khi xem hai đội banh xa
lạ đụng độ nhau, tôi súyt xoa thƣởng thức những đƣờng banh hay đẹp, nhƣng khi một
trong hai đội là… đội của tôi- tôi là “fan” của họ- thì ôi thôi tôi lo lắng, khổ sở, bực dọc
đủ thứ với từng đƣờng banh, từng cầu thủ, trọng tài. Tôi… nguyền rủa, la hét, xỉ vả, rồi
mừng rỡ khi đội mình thắng hay ngậm ngùi cay đắng khi đội mình thua! Ăn mất ngon,
ngủ mất yên vì cái đội banh… quái quỷ mà tôi thƣơng mến!

Hai thiền sinh gặp một cô gái ở khúc sông sâu đang lúng túng không dám lội qua. Một vị
tình nguyện cõng cô qua. Trên đƣờng về chùa, vị kia bỗng hỏi:- Làm sao mà một ông sƣ
lại dám cõng trên lƣng một cô gái đẹp nhƣ vậy chớ? – Ơ hay, tôi đã “buông” cô ta xuống
lâu rồi, còn anh sao vẫn cứ “cõng” cô ta đến bây giờ vậy!

Có nhiều cách cõng. Cõng cô gái là một cách, cõng cái ý tƣởng về cõng cô gái là một
cách khác. Cô gái thì đã đặt xuống rồi nhƣng cái ý tƣởng kia thì vẫn còn quấn quít mãi
không thôi, có lẽ còn đi vào cả giấc mơ! Ngƣời kia thấy cô gái là cô gái, cần giúp thì
giúp. Ngƣời nọ, thấy cô gái là cô gái…đẹp, băn khoăn tự hỏi có nên giúp hay không, giúp
có phạm quy không, thậm chí còn bần thần “trăm năm biết có duyên gì hay không” nữa
không chừng! Ngƣời cõng càng lâu thì càng mệt, càng sớm còng lƣng! Nhƣng đâu có dễ
mà bỏ xuống chứ! Nghi Lâm tiểu sƣ muội cõng Lệnh Hồ huynh đệ bị thƣơng ( truyện
Kim Dung) có một phen mà tâm thần bấn lọan dài dài! Cho nên, Ưng vô sở trụ nhi sanh
kỳ tâm thật không dễ!
                                                                                      13


Phật dạy muốn không trụ vào đâu cả (vô sở trụ) thì phải ly tướng, rời bỏ các hình thức,
hiện tƣợng bày vẻ bên ngòai, vƣợt qua hiện tựơng để thấy đƣợc cái thực chất bên trong.
Ly đƣợc tất cả các tuớng đã xứng danh là Phật; thấy đựơc các tuớng chẳng phải tƣớng là
đã thấy Nhƣ lai! Nhƣng làm sao mà ly đây? Thế nên có ngƣời lên núi, làm một cái cốc…
trong hang động để xa lánh sự đời! Nhƣng vẫn chƣa ổn chút nào vì cái tâm vẫn cứ còn
quậy phá. Rõ ràng ở đây không phải vấn đề trốn chạy, vì chạy đi đâu cho thóat cái tâm
chính mình, một khi tâm vẫn chƣa an? Khi tâm đã an rồi thì đâu chẳng là… cốc, đâu
chẳng là hang động? Cho nên có thể nói chuyển từ “ly tƣớng” bên ngoài đến… “ly
tƣớng” bên trong là cả một sự chuyển hóa từ lƣợng sang chất.

“Thị cố, Tu Bồ Đề ! Chư Bồ tát Ma ha tát ưng như thị sanh thanh tịnh tâm…Bất ưng
trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ… Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm!”.

Vậy đó, Tu Bồ Đề! các vị Đại bồ tát làm nhƣ vậy đó mà có đƣợc tâm thanh tịnh! Làm
nhƣ vậy đó là làm làm sao? Câu trả lời là rời khỏi các tƣớng, không còn phân biệt ngã
nhân, chúng sanh, thọ giả, là tách rời mọi thứ hiện tƣợng, không để bị mà mắt, bị hút vào
những chuyện lăng xăng, ý niệm ngôn từ nọ kia, làm cho ngƣời ta vƣớng mắc, vùng vẫy
không ra nhƣ mắc vào lƣới cá! Những vị Đại bồ tát đó đã thực hành bố thí kiểu mới, bố
thí không dính mắc; trì giới, nhẫn nhục kiểu mới… và dĩ nhiên cũng đã có tuệ giác kiểu
mới, vƣợt lên, vƣợt qua, vƣợt ra… Gaté, gaté, paragaté!

Kinh Duy Ma Cật kể có một lần kia, trong một buổi họp mặt giữa các vị Bồ tát, các vị
đựơc ngƣời ta tung hoa đầy ngƣời – giống nhƣ các fan hâm mộ tung confetti vào thần
tƣợng của mình bây giờ- thì đa số các vị ngƣời nào cũng bị dính, trừ các Đại bồ tát! Nên
nhớ, các vị Đại…Bồ tát! Chớ còn Tiểu… bồ tát hoặc Bồ tát… sơ sơ thì có dính confetti
chút đỉnh cũng không sao. Từ từ mà gỡ. Đừng nóng vội! Đại Bồ tát thì… trơn tuột, không
còn cái gì có thể dính đƣợc nữa! Kim Cang viết thật súc tích, chặt chẽ: Vì Đại Bồ tát là
những vị đã thật vô sở đắc, thật vô sở hành… Những chữ “thật” đó khiến ta không khỏi
giật mình. Họ hiều lời Phật dạy là chiếc bè giúp qua sông; hiểu ngón tay Phật chỉ là để
nhìn thấy trăng chớ không phải trăng… Tóm lại, tâm họ đã hoàn toàn “vô sở trụ”, không
trụ vào đâu cả, không dính mắc vào đâu cả ! Không trụ vào đâu cả thì chỉ còn có một chỗ
để trụ ấy là… tự tại! Quán Tự tại Bồ tát…hành thâm Bát nhã…!

“Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”, Trần Nhân Tông, sƣ tổ Trúc Lâm đã nói đến cái vô
tâm nhƣ vậy từ bảy trăm năm trƣớc, còn Lục tổ Huệ Năng, thì hơn một ngàn ba trăm năm
trƣớc cũng đã nói đến vô niệm. Dĩ nhiên vô tâm không phải là không có tâm, không còn
tâm, cũng nhƣ vô niệm không phải là không có niệm, không còn niệm. Vô niệm, vô tâm
thực ra chỉ có nghĩa là cái tâm trong sáng, cái niệm thanh tịnh, đã hoàn toàn không còn
phân biệt, không còn dính mắc (chấp trƣớc). Trần Nhân Tông vẫn xuống núi, đánh đuổi
quân Nguyên, nhƣng khi xong giặc thì trở về núi tu tiếp, không “dính mắc” chi nữa! Còn
Huệ Năng, “ngộ” rồi mà vẫn lẩn trong đám thợ săn hằng chục năm để tu rèn và giúp đỡ
ngƣời. Cho nên tâm cứ sanh miễn là tâm thiện, tâm có ích cho mình, cho đời. “Ƣng vô
sở trụ nhi sanh kỳ tâm” cũng chính là “Ƣng sanh kỳ tâm nhi… vô sở trụ” vậy! Đâu có
bảo phải dập tắt tâm đi, thui chột tâm đi, tiêu diệt tâm đi để trở thành sỏi đá hay ngƣời
ngơ ngáo tâm thần sao? Mà “ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”(TCS) kia mà!
                                                                                        14


Tu Bồ Đề hào hứng hỏi: Thƣa Thế tôn, vậy xin hỏi kinh này có tên gọi là gì và phụng trì
ra sao? Phật nói: Kinh này gọi là Kim Cang Bát nhã Balamật. Nói xong hình nhƣ Phật
giật mình, coi chừng, không khéo họ lại… “trụ” vào nữa thì hỏng bét! Phật bèn nói tiếp:
Bát Nhã Balamật không phải là Bát Nhã Balamật nên mới gọi là Bát Nhã Balamật vậy!

                                                                         Đỗ Hồng Ngọc
                                                             (trích Gươm Báu Trao Tay)


 1.       TTM

       09/01/2010 lúc 11:25 chiều


       “是故須菩提!
       諸菩薩摩訶薩應如是生清淨心,不應住色生心,
       不應住聲香味觸法生心,應無所住而生其心。
       Thị cố Tu Bồ Đề! Chƣ Bồ-tát Ma-ha-tát ƣng nhƣ thị sanh thanh tịnh tâm, bất ƣng
       trụ sắc sanh tâm, bất ƣng trụ thanh, hƣơng, vị, xúc pháp sanh tâm, ƣng vô sở trụ
       nhi sanh kỳ tâm.”
       “Thế nên Tu-bồ-đề, các vị Bồ-tát lớn nên nhƣ thế mà sanh tâm thanh tịnh, không
       nên trụ nơi sắc sanh tâm, không nên trụ thanh, hƣơng, vị, xúc pháp sanh tâm, nên
       không chỗ trụ mà sanh tâm kia.”

       Đọc Kinh Phật để hiểu “thậm thâm vi diệu pháp” và để lý giải việc xảy ra ở đời,
       thì rất khó, nhƣ khi thấy „những ngƣời thành đạt‟ thi nhau đấu giá một vài vật có
       giá trị nào đó, để gây quỹ giúp đỡ cho ngƣời nghèo, hết ngƣời này rồi đến ngƣời
       nọ thi nhau tự nâng giá món hàng đó lên đến một con số rất cao, thì thật không
       hiểu họ trụ vào đâu mà sanh tâm kia! “Nếu Bồ-tát còn tƣớng ngã, tƣớng nhân,
       tƣớng chúng sanh, tƣớng thọ giả tức chẳng phải là Bồ-tát”, giúp đỡ mà cứ phô
       trƣơng rầm rồ ra trƣớc bàn dân thiên hạ là mình đang cứu giúp ngƣời nghèo tức
       không là giúp đỡ nữa!

       Mạo muội viết vài giòng, dù rằng hàng ngày đọc đi đọc lại từng đoạn kinh, nhƣng
       thấy cứ tuột trôi đi, chỉ tồn đọng “sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị

       không, không tức thị sắc” “色不異空,            空不異色; 色即是空,
       空即是色;” dù rằng hiểu chẳng hết ý thâm sâu vi diệu của Kinh.
       Kính
       TTM – 2010-01-09
                                                                                       15



2.      Bac Si Do Hong Ngoc

     10/01/2010 lúc 8:22 sáng

     Cảm ơn TTM. “Nhất thiết pháp giai thị Phật pháp” mà!


3.      Lê Uyển Văn

     10/01/2010 lúc 10:30 sáng

     Bác sĩ ơi, cho em xin copy về nhà em để các bạn đƣợc chia sẻ những điều sâu sắc
     này. Em chân thành cảm ơn ạ !


4.      tieumuoi

     10/01/2010 lúc 7:11 chiều

     Kinh gui TTM, phai danh manh vao long tham DANH VONG DIA VI moi co
     tien de giup do chu! boi vi the gian nay ke co long tham thi vo so nhu sao tren
     troi. Con SAC BAT DI ……..hiem lam !


5.      đình thuấn

     23/03/2010 lúc 12:28 sáng

     Bác Ngọc ơi !

     Con thấy Bác giải thích cái ” Vô niệm, vô tâm thực ra chỉ có nghĩa là cái tâm
     trong sáng, cái niệm thanh tịnh, đã hoàn toàn không còn phân biệt, không còn
     dính mắc (chấp trƣớc)” hình nhƣ không dễ hiểu mấy Bác ơi, chắc chỉ có giới học
     Phật nhƣ Bác mới hiểu những cụm từ nhƣ “không còn phân biệt” hay “không còn
     dính mắc” thôi, chứ tụi cháu chả biết tí tẹo gì về Phật học cả thì làm sao lãnh hội
     đƣợc? Cháu may mắn nghe đƣợc bài giảng của thầy Minh Niệm, chỗ này thầy ấy
     nói rõ hơn Bác đó, thầy nói: ” Vô niệm tức là cái ý niệm của mình không có chứa
     tính chất của “tham cầu” (tham) và “chống đối” (sân) để bảo vệ cái tôi tự nhận
     lầm này (si). Một ý niệm vƣợt ra khỏi nhu cầu thỏa mãn cho bản ngã thì sẽ nhìn
     đối tƣợng một cách trong sáng, nhìn nhƣ chính nó đang là, và dù khởi lên một ý
     niệm nào đi nữa thì ý niệm đó cũng là để phân tích hay nhận xét một cách không
     thành kiến ( không mang theo kiến thức có sẵn để áp đặt lên đối tƣợng), để hiểu
     và thƣơng đối tƣợng chứ không phải để khen hay chê. Ngƣời nào cho rằng “vô
     niệm” là không có ý niệm nào phát sinh trong tâm thi ngƣời nó chƣa hiểu gì về vô
     niệm cả, không có ý niệm nào phát sinh trong tâm thì đó chỉ là “định tâm”- là
     phần khởi điểm căn bản của quá trình đi tới tuệ giác chứ không phải là phần chính
                                                                                    16


     yếu. Phần chính yếu là “niệm tâm” – là quá trình quan sát chính mình và mọi đối
     tƣợng bằng cái tâm không còn yêu thích hay ghét bỏ để phục vụ cho chủ nhân là
     cái tôi của nó, và vì vậy mà nó quan sát một cách chính xác về mọi đối tƣợng. Thế
     cho nên trong kinh Kim Cƣơng đức Phật đã cân nhắc thầy Tu Bồ Đề ” Ƣng vô sở
     trụ nhi sanh kỳ tâm”, nghĩa là “Nên đặt tâm vào chỗ nào mà nó không yêu thích
     hay ghét bỏ”. Chứ tu tập mà không sinh tâm gì hết thì có khác gì gỗ đá đâu!” ( hết
     trích). Bác thấy cách giải thích này thế nào ạ?

     Cháu,
     Đình Thuấn


6.      Bac Si Do Hong Ngoc

     23/03/2010 lúc 8:43 sáng

     Cảm ơn Đình Thuấn. Riêng tôi thấy không khác tí nào cả. Cùng một nội dung
     vậy. Nếu đoc kỹ hơn, sẽ thấy một câu khác: “Ƣng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm cũng
     chính là Ƣng sanh kỳ tâm nhi vô sở trụ”. Nghĩa là… hãy cứ sanh tâm đi chứ!
     Nhƣng là “tâm thiện”, tâm không còn “tham sân si”. Nếu không thì thành gỗ đá
     sao?


7.      AN DAO (USA)

     29/05/2010 lúc 2:31 sáng

     Kính Gửi Bs Đỗ Hồng Ngọc.
     Kính mong Bs giúp cho tôi làm cách nào để download Gƣơm Báu trao Tay.
     Trân trọng cám ơn Bs.


8.      Bac Si Do Hong Ngoc

     29/05/2010 lúc 9:21 sáng

     Gƣơm Báu Trao Tay viết về kinh Kim Cang chỉ đƣa lên website này một số đoạn,
     chƣa đƣa hết cả cuốn. Bạn có thể xem trƣớc các chƣơng Lên Đƣờng, Gƣơm báu
     trao tay, Ƣng vô sở trụ, Con mắt thứ ba, Con mắt còn lại, Đối cảnh vô tâm, Chẳng
     một chẳng khác… Có thể nhờ một bạn nào đó ở VN gởi qua cho bạn một cuốn thì
     tốt. Hỏi ở nhà sách Trí Tuệ đƣờng Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3, Tp.HCM hoặc
     thầy Thanh Nguyên, Mobile 0908585560.
     Cảm ơn bạn.


9.      AN DAO (USA)
                                                                                        17


      30/05/2010 lúc 12:06 sáng

      Rất Cám ơn Bs đã trả lời thƣ tôi.
      Kính chúc Bs nhiều sức Khỏe.
      AN DAO


10.      maverick_nguyen

      12/07/2010 lúc 12:53 sáng

      Cháu mới thấy cuốn “nghĩ từ trái tim” của bác ở BigC, đọc mấy dòng ngẫu nhiên,
      thấy là muốn đọc rùi. Về. Đọc. Qủa là vỡ ra nhìu và thấy hoà điệu đƣợc cùng
      trong những dòng viết, dù cháu chƣa hiểu gì nhiều Phật pháp lém. Lại tra thêm
      trên mạng, ra trang nè; trang mạng của bác mang vẻ fiêu du lãng tử mà cũng thâm
      sâu lắm^^. Cháu học ở trƣờng, học tôn giáo, hôm thi cháu kết lại 1 câu (câu duy
      nhất trong kinh Kim Cang mà cháu bit^^cháu đọc krishnamurti nên học mót) là
      câu “ƣng vô sở trụ-nhi sinh kỳ tâm”. Nhƣng phải thú thật rằng cháu ngán ngẩm vô
      cùng vs các vị giảng sƣ dạy cháu. Họ dạy tôn giáo mà cứ nhƣ dạy cách mổ con cá
      ngoài chợ. Chán GD VN, chỉ SV tụi cháu là khổ vì k có thầy giỏi khai tâm cho
      mở mang trí lực


11.      Thuận Khanh

      17/07/2010 lúc 1:41 sáng

      Bác ơi!

      Cháu thấy Bác có ghi cảm nhận trên cuốn sách “Hiểu về trái tim” của tác giả
      Minh Niệm thật hay Bác ạ. Cháu thích nhất hai chữ “đạo tâm”, nhƣng mong Bác
      giảng nghĩa rõ hơn về hai chữ này khi bác tặng cho cuốn sách đƣợc không ạ? Với
      lại, Bác đánh giá “hiểu biết” của tác giả này nhƣ thế nào qua cuốn sách đang “nổi
      tiếng” này ạ ? ( Thuận Khanh)


12.      Bac Si Do Hong Ngoc

      17/07/2010 lúc 8:39 sáng

      Cháu nên đọc cuốn “Nghĩ Từ Trái Tim” của bác để hiểu rõ hơn hai chữ “đạo
      tâm”. Theo bác, điều quan trọng không chỉ là sự “hiểu biết” mà là cách sống, áp
      dụng vào cuộc sống, thể nghiệm và trải nghiệm. Hiểu biết suông nào có ích gì !


13.      Đinh Xuân Nguyên
                                                                                   18


      23/12/2010 lúc 4:35 chiều

      Chào bác ! Con muốn mua cuốn “Nghĩ từ trái tim” của Bác thì phải tìm mua ở
      đâu hả bác? Bác cho giùm con địa chỉ bán sách này. Cảm ơn Bác nhiều.


14.     Bac Si Do Hong Ngoc

      23/12/2010 lúc 6:59 chiều

      NXB Tổng hợp, 62 Nguyen Thi Minh Khai. Quan 1, Tp.HCM


15.     Nguyễn Như Chân

      01/01/2011 lúc 11:37 sáng

      “Lƣơng năng không học mà biết
      Lƣơng tri không hỏi mà hay..”
      (Trích Bồ Tát Đạo )


16.     Bac Si Do Hong Ngoc

      01/01/2011 lúc 3:41 chiều

      Rất cảm ơn anh Nguyễn Nhƣ Chân.
                                                                                    19


“Con mắt còn lại…”




                                        Phật bỗng hỏi Tu Bồ Đề, ông nghĩ sao? Nhƣ Lai
có “mắt thịt” không? Dạ có! Nhƣ Lai có mắt thịt! Tu Bồ Đề vội đáp. Hỏi ta, chắc ta ấp
úng, không dám nói. Ta dễ nghĩ rằng Phật hẳn chỉ có phật nhãn (mắt Phật) còn phàm phu
chúng ta mới có nhục nhãn (mắt thịt) chứ, ai dè kinh Kim Cang nói Phật cũng có nhục
nhãn nhƣ phàm phu, chẳng cũng khoái ru? Và lòng tự tin trong ta bỗng dâng lên. Ta có
khác gì Phật đâu, chẳng qua… Hèn chi mà Bồ tát Thƣờng Bất Khinh gặp ai cũng cung
kính vái chào “Xin chào ngài, một vị Phật tƣơng lai… “. Thế rồi Tu Bồ Đề dạ có, dạ có,
năm lần cả thảy! Thì ra Phật có đủ cả năm thứ con mắt: nhục nhãn, thiên nhãn, huệ nhãn,
pháp nhãn, Phật nhãn… Những 5 thứ mắt ƣ, có nhiều quá lắm không?

Dĩ nhiên “mắt” là để nhìn, để “thấy”! Và, nhiều loại con mắt là để thấy nhiều … kiểu
khác nhau – nói khác đi là để nhìn dƣới nhiều “quan điểm”- chứ không khƣ khƣ bám chặt
lấy quan điểm của mình, khƣ khƣ cho rằng mình đúng ngƣời sai để chí chóe hoặc để
thựơng cẳng tay hạ cẳng chân! “Thấy” nhƣ thế nào là một chuyện hệ trọng. Thấy thế nào
sẽ dẫn tới nghĩ suy, nói năng, hành động thế đó! Thấy sai sẽ suy nghĩ, hành động sai.
Cho nên Quán Thế Âm bồ tát mới có nghìn mắt nghìn tay mà trên mỗi bàn tay đều có
một con mắt!

Thấy và biết liên quan chặt chẽ với nhau nhƣng không phải là một! Thấy vậy mà không
phải vậy, không phải vậy mà vậy! Thấy có thể dẫn đến cái biết, nhƣng biết không ở chỗ
cái thấy. Bởi thấy do mắt còn biết thì do… “não”! Vậy mới có xung đột, mƣời ngƣời
mƣời ý, mới có “điên đảo mộng tƣởng”! Biết rộng dễ thấy rộng – nhìn xa trông rộng-
biết ít dễ thấy hẹp, thiên kiến, thiển cận! Ếch ngồi đáy giếng!
                                                                                      20


Trong Bát chánh đạo thì Chánh kiến ở vị trí số một! “Kiến” mà không chánh thì dễ lệch
lạc! Chánh kiến rồi mới có chánh tƣ duy! Không thì cứ loay hoay không lối thoát hoặc hý
luận chẳng tới đâu!

Thấy và biết có khi xa lơ xa lắc dù cũng căn đó cũng trần đó! Chuyên kể hai vợ chồng
nhà kia đang xem xiếc trong rạp. Cô diễn viên trẻ đẹp mặc một bộ đồ biểu diễn rất hấp
dẫn đang treo toòng teng trên chiếc đu bay! Ngƣời vợ bỗng kêu lên: Bên dƣới không có
gì hết!Anh chồng gật đầu đồng ý. Nhƣng sau một lúc nhìn kỹ lại, anh nói: Không phải!
Bên dƣới có lớp vải màu da ngƣời đó chứ! “Tôi muốn nói không có lƣới bảo đảm dƣới
cái đu bay, còn ông đang nói về cái gì vậy hử?”! Thì ra, yêu nhau là cùng nhìn về một
hƣớng nhƣng thấy… khác nhau! Ngƣời vợ thì… từ bi, ông chồng thì… từ ái!

Chỉ riêng nhục nhãn, mắt thịt, đủ lôi thôi rồi! Nhãn cầu to hơn một chút đã sinh tật cận
thị, trông gà hóa cuốc Giác mạc cong không đều một chút, đã sinh loạn thị, nhìn cái gì
cũng méo mó. Rồi loạn sắc, quáng gà… đủ thứ! Rồi cƣờm nƣớc, cƣờm khô, bong võng
mạc, thoái hóa hoàng điểm, hoa đốm hƣ không, cứ tƣởng tại không gian ai ngờ tại mắt
mình lão hóa! Khi mất dao thì cái mắt thịt đó thấy ngƣời nào cũng giống kẻ ăn cắp dao.
Mắt thịt chỉ là một cấu trúc của “tứ đại” giúp ta thấy - mà không giúp ta biết. Cái biết
nằm ở đằng sau kìa. Nằm ở vỏ não, ở thùy chẩm kìa. Mắt thịt chỉ tiếp thu ánh sáng, hình
thể, màu sắc… rồi dẫn truyền về cho não phân tích, tổng hợp, so sánh… Tâm thức thế
nào thì vạn pháp thế đó. Mặc sức mà vẽ vời. Mặc sức mà diễn dịch, mà phê phán, nhận
xét, rồi chí chóe, rồi sứt càng mẻ gọng vì những “nhỡn quan” khác nhau! Mắt thịt không
có lỗi! Căn trần gặp nhau tạo ra “tướng” thì cái tƣớng cũng không có lỗi! Chính cái tâm
ta nhiễu sự, “dán” vào cái tƣớng đó mới thành cái “tưởng”, mới sinh sự. Mà sinh sự thì sự
sinh! Các vị Alahán đựơc gọi là “vô sinh” bởi họ đã đƣợc giải thoát!

Vấn đề là chuyển hóa cái tâm đó cách nào, huấn luyện cái tâm đó ra sao, để thấy cho
đúng và biết cho đúng. Từ cái tâm “điên đảo mộng tƣởng”, cái tâm luôn sinh sự, xuyên
tạc, lăng xăng, căng thẳng, mệt mỏi đến cái tâm “vô sinh”, vô sự, vô hành… thảnh thơi
vui thú có khó lắm không? Khó, nhƣng có thể. Miễn là phải tinh tấn, phải thiền định… để
đạt đến trí tuệ. Khi rèn tập nhƣ vậy, dần dà ta có những con mắt… mới!

Thiên nhãn- mắt thần – là những loại… siêu âm, nội soi, chụp cắt lớp (MRI) bây giờ! Nó
cũng là… kính hiển vi điện tử, phóng lớn hằng triệu lần, là viễn vọng kính khổng lồ…
nhìn xa hằng triệu năm ánh sáng! Thời Phật chƣa có hiển vi điện tử, chƣa có viễn vọng
kính, chƣa có siêu âm, chụp cắt lớp… vậy mà Phật vẫn thấy đựơc trong ly nƣớc kia có
vô số những vi sinh vật, thấy đựơc tam thiên đại thiên thế giới chớ không phải chỉ mình
ta cô độc trên quả địa cầu! Quả là Phật có … thiên nhãn! Các nhà khoa học thƣờng dừng
lại ở thiên nhãn. Bởi họ chỉ lo tìm kiếm, phát hiện những thứ ở bên ngoài mà quên nhìn
vào bên trong, khám phá, phát hiện những thứ từ bên trong. Trừ những nhà khoa học cỡ
nhƣ Einstein. Gần đây có vẻ các nhà vật lý học, các nhà y sinh học, với những tiến bộ
khoa học kỹ thuật của mình đã có thể “thấy” ra nhiều chuyện lạ, và họ đã giật mình
không ít. Tuệ nhãn là con mắt thứ ba, con mắt bất nhị, con mắt nhìn rõ chân không mà
diệu hữu, vô thƣờng, vô ngã. Tuệ nhãn có khi là đủ. Đủ để dừng chân, đủ để quay đầu lại.
Đủ để vƣợt qua “bờ bên kia”. Tủm tỉm cƣời một mình. Ung dung. Tự tại.
                                                                                       21


Thế nhƣng, hình nhƣ mọi sự không dừng lại ở đó. Nếu chỉ vậy thì đức Phật có lẽ sẽ
quanh quẩn dƣới gốc cây bồ đề việc gì phải lặn lội gió mƣa đi khất thực và truyền trao
giáo pháp suốt cả cụôc đời? Những vị học trò của Phật chắc cũng yên bề tự tại, có đâu
buổi truyền trao “gƣơm báu” nhằm hƣớng dẫn một lớp trai thiện gái lành dấn thân vào
đời làm những vị Bồ tát hôm nay? Cho nên cần có “pháp nhãn”! Con mắt pháp (pháp
nhãn) là một “con mắt” lý tƣởng, hoài bão cao đẹp, có phần “lãng mạn” nữa! Muốn vậy
họ phải xả thân, phải chí nguyện, và trƣớc hết phải… “chủng ngừa” đầy đủ cho chính
mình trƣớc khi xuống núi! Không chủng ngừa đầy đủ, họ dễ bị nhiễm ô, mắc bệnh! Kinh
Kim Cang lụôn nghiêm khắc nhắc nhở chƣa có điều này thì chƣa xứng danh Bồ tát, chƣa
có điều kia thì chƣa xứng danh Bồ tát ! Có con mắt pháp đó họ mới đủ sức thỏng tay vào
chợ. Anh chàng Tất Đạt trong “Câu chuyện của dòng sông” (Hermann Hess, Phùng
Khánh dịch) là một điển hình! Một vị sa môn, lăn lóc vào đời, gặp một ngƣời đàn bà đẹp,
tham gia vào chuyện buôn bán làm ăn, mới đầu mọi thứ trôi chảy nhƣng sau thì… sụp đổ
hoàn toàn. Chàng tuyệt vọng, sắp tự tử bên bờ sông, chợt nghe đƣợc lời mách bảo của
dòng sông mà đại ngộ! Lần này thì “ngộ” thiệt! Lần trƣớc – dƣới màu áo sa môn- tƣởng
ngộ mà chƣa ngộ. Thế rồi chàng trở thành một lão già chèo đò, ngày ngày đƣa khách
sang sông! Có pháp nhãn rồi mới có thể tùy duyên mà bất biến, bất biến mà tùy duyên đó
vậy!

Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Như lai hữu Phật nhãn phủ? Tu Bồ Đề, ông nghĩ sao? Nhƣ lai có
Phật nhãn không? Phật mà không có phật nhãn thì ai có? Nhƣng phật nhãn là gì? Là cái
thấy cái biết của Phật, là “tri kiến Phật”. Ba chục năm trƣớc khi chƣa đi tu thấy núi là
núi, thấy sông là sông, sau nhân theo bậc thiện tri thức chỉ cho chỗ vào, thấy núi chẳng
phải núi, sông chẳng phải sông, rồi nay thể nhập chốn yên vui, tịch tĩnh, lại thấy núi là
núi, sông là sông… Một thiền sƣ bộc bạch.

Phật không cần phải tốn nhiều thời gian đến thế, với cái nhìn Phật nhãn, cái “tri kiến
Phật” thì núi bao giờ cũng là núi và sông bao giờ cũng là sông. Nhƣng đó là một cái núi
khác, cái sông khác, cái núi của „sắc tức thị không” và cái sông của “không tức thị sắc”,
không vƣớng bận, không dính mắc.

Bùi Giáng, một thi sĩ thấm đẫm Kim Cang thƣờng hạ những câu “hà dĩ cố” trong thơ có
lần viết “ Còn hai con mắt khóc ngƣời một con…” mà Trịnh Công Sơn đã nối theo: Còn
hai con mắt một con khóc người! Con mắt còn lại…? Ừ, con mắt còn lại thì sao nhỉ? Con
mắt còn lại… nhìn một thành hai, nhìn em yêu thương nhìn em thú dữ… Con mắt còn lại
là con mắt ai? Con mắt còn lại nhìn tôi… thở dài! “ (TCS). Phải rồi, cái con mắt còn lại
quả thực là con mắt gây phiền hà! Nó bị diplobie, nhìn một thành hai! Nhƣng ngƣời bị
diplobie thì nhìn một thành hai giống hệt nhau còn đầu này nó nhìn em… yêu thƣơng
thành em thú dữ, rồi còn “ nhìn tôi lên cao nhìn tôi xuống thấp…”, nghĩa là cái nhìn đầy
hận thù, hằn học, “phân biệt đối xử”! Nó nhƣ của ai khác- “con mắt còn lại là con mắt
ai?”- nó quan sát ta, nhìn ngắm ta và rồi nó …thở dài thấy mà ghét! Thở dài, bởi nó thấy
ta tội nghiệp! Thấy ta đáng đời! “ Ta đã làm chi đời ta?” (VHC); rồi “… đời tôi ngốc dại,
tự làm khô héo tôi đây…” (TCS). Chi mà khổ rứa? Đó chính là con mắt của “Thức”. Của
biện biệt, so sánh, đếm đo. Khi “thức” biến thành “trí” thì mọi chuyện đã khác! Trí là trí
tuệ, ở đây là Prajnã, Bát Nhã! Lúc đó, Con mắt còn lại / nhìn đời là không / nhìn em hư
vô/ nhìn em bóng nắng! Là không, chứ không phải bằng không! Là không, đó là cái
                                                                                          22


không của có, cái có của không. Không bất dị sắc. Không tức thị sắc. Duyên sinh. Vô
thƣờng, Vô ngã… Tóm lại, còn hai con mắt…” khóc ngƣời một con” kia là con mắt
của Bi! “Con mắt còn lại nhìn đời là không” này chính là con mắt của Tuệ. Bi mà không
có Tuệ (Trí ) thì cứ sẽ khóc hoài, dỗ không nín. Nên cần có con mắt Tuệ để “giải thoát”.
Giải thoát cho mình và giải thoát cho ngƣời, dĩ nhiên.

                                                             (theo Gươm Báu Trao Tay)


   1.       Hải

        10/02/2010 lúc 4:00 chiều

        Kính gởi bác Ngọc,

        Cảm ơn bác về những bài viết rất giàu nhân bản và luôn có nhiều ví dụ sinh động
        giúp số đông ngƣời đọc rất dễ tiếp cận hơn với những điều rất khó hiểu trong kinh
        phật.

        (……)

        Dƣờng nhƣ để làm đƣợc thơ nhƣ thi sĩ Bùi Giáng hay viết đƣợc nhƣ bác thì đều
        phải trải qua những nỗi đau nhân sinh dữ dội tới mức nhƣ chết đi sống lại nhiều
        lần phải không bác?

        Chúc bác luôn khỏe mạnh hạnh phúc để tiếp tục viết nhƣ đã từng viết!


   2.       Bac Si Do Hong Ngoc

        11/02/2010 lúc 7:31 sáng

        Cảm ơn Hải nhiều lắm.


   3.       Phạm Thùy Dương

        15/02/2010 lúc 1:35 chiều

        Con rất thích bài viết ” Thăm nhà văn Trang Thế Hy ” của bác , nhƣng không biết
        comment nhƣ thế nào cho phải lễ. Nhân dịp năm mới, con chúc bác sĩ và gia đình
        khỏe mạnh, nhiều niềm vui, hạnh phúc. Chúc bác cứ khỏe hòai, có nhiều hứng
        khởi để viết hòai, qua năm ra sách mới nha bác, thực sự con vẫn thích đọc sách
        hơn là lên mạng vào website, hihi.À, con thích cái câu ” cọp cái cũng dễ thƣơng ”
        của bác lắm , vì con cũng là …cọp mà. .
                                                                                       23



4.        Bac Si Do Hong Ngoc

     15/02/2010 lúc 6:46 chiều

     Con phải nói “vì con cũng là… cọp cái mà” mới đúng. Vì cọp cái khác với cọp
     đực chứ? Không ai viết một cái comment cho cả 3, 4 bài nhƣ con! Nào thăm nhà
     văn TTH, nào cọp cái dễ thƣơng, nào con mắt còn lại… Cảm ơn những lời chúc
     Tết tốt lành của con. Thân mến.


5.        Đinh Công Tử

     17/02/2010 lúc 5:12 sáng

     chúc bác sỹ Đỗ Hồng Ngọc mạnh khỏe, sống lâu, năm Canh Dần gập nhiều niền
     vui trong cuộc sống, viết nhiều và thành công trong mọi lĩnh vực.


6.        Bac Si Do Hong Ngoc

     17/02/2010 lúc 7:03 sáng

     Cảm ơn Đinh Công Tử. Chúc anh vui, khỏe trọn năm Canh Dần.


7.        Bình Trần

     24/02/2010 lúc 9:45 sáng

     K/g Bác Ngọc,

     Hôm nay em mới vào thăm lại trang nhà của bác Ngọc, lúc nào vào cũng thấy
     thích vì có nhiều bài viết hay , bổ ích. Dù trễ rồi nhƣng cũng chúc bác Ngọc và
     gia đình nhiều sức khoẻ, viết nhiều bài hay hơn nữa


8.        Rocky

     29/03/2010 lúc 4:58 sáng

     Từ năm 1995, con đã đọc bài thơ “Con đã lớn” của Bác in trong tập Biển Động,
     hiểu thêm một bƣớc về tác giả của chuyên mục “Viết cho tuổi mới lớn” nổi tiếng.
     15 năm đã qua (đủ để nàng Kiều trở về nhà), cơ duyên lại đƣa con đến website
     này. Con cũng là Phật tử quy y từ nhỏ, nhƣng quả thật, làm Phật tử khó nhất là
     giữ giới, dù chỉ có con số 5 nhỏ bé. Con cũng trải qua nhiều đau khổ, giằng xé nội
     tâm, nhƣng cũng nhờ sách Phật và … y khoa nên cũng phần nào phôi pha. Con
                                                                                       24


        cũng tìm đọc những Thiền luận của Suzuki, Kim Cƣơng Bát Nhã theo chú giải
        của nhiều vị khác nhau (trong PDA con vẫn còn lƣu và thƣờng đọc lại). Cũng nhờ
        cái “goût” Phật học và khoa học (lại chấp ngã rồi phải không Bác ?) mà con yêu
        thích đặc biệt những tác giả nhƣ Trịnh Xuân Thuận, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn
        Tƣờng Bách v.v. Còn Trịnh Công Sơn thì mấy năm gần đây con không dám nghe
        thƣờng xuyên nữa (dù hàng chục năm trời con chỉ nghe mỗi Trịnh qua giọng cô
        Khánh Ly), vì sự nhập tâm những bài ca thân phận đó đã làm con bị trở ngại trong
        cuộc mƣu sinh đầy tham, sân, si ở cõi này.
        Sau khi đọc entry này của Bác, con nghĩ ngay tới hình tƣợng hoa sen trong một
        bài viết của Nguyễn Tƣờng Bách, nói về mối liên hệ giữa đau khổ và giải thoát.
        Xem lại bên trên thì thấy Bác để sẵn hình hoa sen và không chú thích gì. Con thấy
        vui vui vì giống nhƣ tái hiện cảnh “niêm hoa vi tiếu” bèn viết mấy dòng này để
        cảm ơn Bác.


   9.       Bac Si Do Hong Ngoc

        29/03/2010 lúc 8:00 sáng

        Cam on Rocky. Co nhung ban “tam giao” nhu vay that la hanh phuc.

Thƣ từ Chùa Diệu Không (Canada)
Author: support2
• Thứ Hai, Tháng Hai 22nd, 2010

Kính thưa Bác Sĩ,

Xin chân thành cảm ơn Bác Sĩ đã gởi Gƣơm Báu Trao Tay. Nhận đƣợc tập sách tự dƣng
cảm động. In xuống đọc xong, mới hiểu mình cảm động vì nhận một tấm lòng. Bác sĩ
chữa bệnh cho ngƣời đời rồi, lại nghĩ làm sao giúp họ bớt khổ. Chúng tôi nghĩ Gƣơm Báu
Trao Tay hay Nghĩ Về Trái Tim là những lá Thƣ nối tiếp Cho Bé Sơ Sinh.

Cách viết của bác sĩ thật vui, uyên bác nhƣng lại rất nhẹ nhàng, dí dỏm, giúp ngƣời đọc –
nhất là ngƣời trẻ – đi vào Phật Pháp một cách nhẹ nhàng, hứng khởi. Viết về Phật Pháp
mà viết nhƣ vậy là cả một nghệ thuật. Hiện nay ít ngƣời làm đƣợc. Xin phép bác sĩ cho
chúng tôi đƣợc trích đăng & sử dụng tập sách mới này.

Rất mong bác sĩ tiếp tục viết và có nhiều buổi thuyết trình, nhất là cho ngƣời trẻ. Rất
nhiều Phật tử bên này chia sẻ với chúng tôi về những lo lắng, đau khổ của họ vì có thân
nhân trẻ tuổi bên VN sa vào sự nghiện rƣợu và ma túy. Lắng nghe số ngƣời chia sẻ,
chúng tôi thấy tình trạng chung dƣờng nhƣ khá nặng. Nguyên nhân có lẽ là sự thiếu thốn
& ốm yếu tinh thần. Đọc văn bác sĩ, chúng tôi cảm nhận ngƣời viết là một ngƣời có sự
quân bình và hạnh phúc trong đời sống. Sự an lạc đó chắc chắn bắt nguồn từ một tấm
lòng rộng rãi, có sự xác quyết „chọn đƣờng mình đi‟ (tín) trong đời sống. Mong bác sĩ sẽ
viết thêm để truyền lại những châu báu của mình.
                                                                                     25


Kính chúc bác sĩ an vui & sức khoẻ.

Kính

Giải Nghiêm

Lá Thƣ Đầu Năm
Author: support2
• Thứ Hai, Tháng Hai 22nd, 2010




2010/2/20 tan nguyen <…@>

Kính gởi bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc,

Thỉnh thoảng tôi gặp tên của bác sĩ trên một số bài báo. Gần đây nhất là hình của bác sĩ
và Bạch Tuyết trên báo Saigon tiếp thị. Rồi cách đây mấy ngày bổng nhiên một ngƣời
bạn tặng tôi cuốn “Gƣơm Báu Trao Tay”. Tƣởng của nhà văn nào, hóa ra ….Bạn bảo:
“Hay lắm, đọc đi !”. Tôi mới đọc lƣớt qua và thú thật cũng chƣa hiểu gì lắm. Bổng nhiên
tôi cảm thấy nên viết một bức thƣ cho bác sĩ tuy chƣa một lần gặp mặt.

Năm nay tôi 50 tuổi; gia đình lâu nay thờ Phật nhƣng tôi không hay đi chùa. Kinh sách ở
nhà cũng đƣợc vài cuốn do Ba tôi để lại nhƣng tôi đọc chẳng tới đâu, có lẽ vì quá khó
hiểu và đôi khi có vẻ huyền hoặc nhƣ các tôn giáo khác. Do vậy, hiểu biết của tôi về đạo
Phật thì cũng loanh quanh ở mức “nhân nào quả nấy”, “ở hiền gặp lành” hay “luân hồi
quả báo” mà thôi.

Tôi viết thƣ này đến bác sĩ vì tâm đắc ý “thầy thuốc chỉ làm hết đau chứ không làm hết
khổ”. Tôi hiểu nôm na là có hai loại “bệnh”: thân bệnh và tâm bệnh. Đa phần thầy thuốc
bây giờ chỉ quan tâm tới thân bệnh. Tâm bệnh hầu nhƣ bị bỏ quên có lẽ vì bây giờ thân
bệnh tràn lan … Hơn nữa, nhƣ lời bác sĩ nói, các thầy thuốc đâu có đƣợc đào tạo để trị
                                                                                        26


“khổ”. Đọc qua tập sách, tôi lại nhớ tới hai ngƣời mà tôi biết khá rõ. Tôi xin dài dòng một
chút miêu tả hai nhân vật có thật này để cùng quan sát cách mà họ muốn “hết khổ”.

Tuổi họ đều xấp xỉ 60; gia đình kinh tế thuộc loại khá giả.

Ngƣời đầu là một nữ trí thức đã sớm tự ý thôi việc khi chƣa tới tuổi hƣu và nay dành rất
nhiều thì giờ để đi chùa, tụng kinh, ngồi Thiền và nhất là hay thuyết giảng cho hầu nhƣ
bất cứ ai mà bà gặp. Thậm chí bà còn tặng tôi một lô kinh sách Phật giáo mới có, cũ có
(khoảng 200 cuốn), chất đầy hai kệ ! Tôi chƣa đọc quyển nào vì có lẽ nhƣ bác sĩ nói là
“duyên” chƣa tới. Một lần tôi tới thăm, thấy bà đang đeo tạp dề, lui cui trong bếp; lại có
tiếng đàn ông. Thì ra trên cái bàn gần bên là một cái máy cát-xét đang mở khá lớn: bà
đang vừa nấu ăn vừa nghe kinh ! Nghe ngƣời nhà kể lại thì bà bây giờ gần nhƣ ăn chay
trƣờng. Một con gián hay chuột quanh quẩn trong bếp bà cũng không giết, chỉ tìm cách
xua đi mà thôi. Bà hay né tránh các lời mời tiệc tùng, cƣới hỏi …một phần vì lý do ăn
chay, một phần có lẽ bây giờ bà không muốn “vƣớng” vào chuyện thế gian nữa. Bà hay
đi chùa; có khi giao nhà cho chồng con lên chùa này chùa nọ ở cả nửa tháng mới về; hay
mua kinh sách, dĩa CD, hình ảnh … tặng những ngƣời chung quanh. Bà lại tham gia hoạt
động hộ niệm, hay đi đọc kinh cho những ngƣời đang hấp hối để, theo lời bà kể, họ đƣợc
“thanh thản, nhẹ nhàng ra đi”. Có lần, bà kể cho tôi nghe là bà hùn tiền với mấy ngƣời
bạn mua một xe cá rồi kêu tài xế chở ra một con sông, phóng sinh hết. Khoảng mƣời năm
nay, cách nói chuyện của bà nghe nhƣ thể bà đã tìm ra chân lý của đời mình; chủ yếu lo
tu tập, mà phải tu gấp chứ không tu đủng đỉnh. Để chi ? Sau này đƣợc “vãng sanh”. Đôi
khi tôi có cảm giác bà nhìn những ngƣời chung quanh (chồng con, gia đình, bạn bè …)
nhƣ một lũ u mê – dĩ nhiên trong đó có tôi, mà có lẽ vì lý do lịch sự bà không nói ra. Có
lần thuyết mãi mà thấy tôi có vẻ còn lù mù, chƣa hiểu chuyện tu hành giống nhƣ sóng
thần sắp đổ bộ tới nơi mà tôi còn dại dột đứng ở bờ biển ngắm cảnh, bà ví dụ nhƣ bà
hiện tại là một học sinh trong một trƣờng học loại “thƣờng”. Bà đang phấn đấu để đƣợc
vào trƣờng “chuyên”, có “chất lƣợng” hơn. Hóa ra bà đang muốn xa lánh cái “cõi tạm”
chất lƣợng thấp này để kiếp sau thăng lên một cõi khác tốt đẹp hơn….

Ngƣời thứ hai là đàn ông, tuổi gần 60, khá giả, có con gái gả cho Việt kiều bên Mỹ.
Khoảng hai năm trƣớc, ông cất một căn nhà một trệt hai lầu; nội thất tạm gọi là sang, có
nhiều phòng và mỗi phòng đều có máy lạnh.. Ông dẫn tôi vào phòng ngủ khoe cái ti vi
màn hình phẳng đáng giá vài chục triệu đồng. Tầng trên là bàn thờ Phật và bên dƣới là
nơi ông tập ngồi Thiền. Nhà ông trang bị máy lạnh tận phòng khách, nơi ông hãnh diện
giới thiệu một tƣợng Phật Di Lặc bằng gỗ to hơn ngƣời thật, trị giá vài chục triệu mà ông
đã thỉnh về …Trên tƣờng là bốn bức tranh mai, lan, cúc, trúc biểu tƣợng cho nhân cách
của ngƣời quân tử… Ông sắm xe hơi, thuê tài xế riêng, trả lƣơng tháng ba triệu … Lúc
mới mua xe, ông đi Mộc Bài để mua hàng giá rẻ ở siêu thị …. gần biên giới ở Tây Ninh.
Ông chỉ mớ hàng mua đƣợc để trên kệ: xà bông, dầu gội, thuốc lá …. và đặc biệt là rƣợu
Tây mấy chai để phòng khi có “chiến hữu” tới nhà. Có xe hơi, ông rủ tôi hôm nào cùng đi
Mộc Bài, còn chỉ vẽ thêm là có thể bỏ thêm ít tiền thuê thêm khoảng chục cái chứng
minh nhân dân (của dân địa phƣơng) để mua hàng nhiều hơn … Tôi biết ông khoảng
mƣời năm nay. Nói chuyện với ông là hay nghe nào là “pháp”, “tƣớng”, “tam bảo” và
những chuyện thuộc loại khó tin nhƣng có thật nhƣ khả năng của nhà ngoại cảm X, có thể
nhìn thấu tâm can ngƣời đối diện hay chuyện sƣ phụ của ông ở chùa Y (nơi ông đã quy
                                                                                       27


y) nhận xét, biết cả ruột gan ông nhƣ thế nào … Đôi lần, ông cũng rủ tôi đến chùa này
chùa nọ, nơi mà ông đóng góp rất nhiều công sức để lo “Phật sự”. Tôi chƣa đi lần nào …
Có lần tôi điện thoại đến nhà ông để hẹn qua nhà thăm. Tôi đang chuẩn bị ra khỏi nhà thì
ông gọi điện thoại tới, xin cáo lỗi vì phải “đƣa Thầy …. đi có việc”.

Nhìn chung và xét về mức sống thì rõ ràng hai nhân vật nói trên thuộc loại ấm no, khá
giả. Về tƣ cách thì cũng rất đàng hoàng, gia đình có thể gọi là nề nếp, ai cũng tốt nghiệp
đại học, con cái cũng biết lo học hành. Họ hay giảng cho tôi nghe điều này điều nọ vì hay
đọc kinh sách, đi chùa và đều đã quy y. Tôi nghe thì nhiều nhƣng hiểu chẳng bao nhiêu,
chỉ vâng dạ hay ậm ừ cho qua chuyện. Một phần vì tôi ngại mếch lòng và tính tôi cũng
không hay tranh luận hơn thua. Thƣờng khi tôi không hỏi nhiều vì càng đƣợc hỏi, họ
càng thuyết giảng liên miên, cứ nhƣ là một đại sƣ đang đăng đàn thuyết pháp vậy.

Tuy nhiên, thành thật mà nói, tôi thấy họ có vẻ bệnh hoạn về tâm thần hoặc ít ra cũng bị
một hình thức lệch lạc nào đó về tâm lý. Tôi không đủ trình độ để nói chuyện “duy tâm”
hay “duy vật” mà chỉ bình tâm quan sát. Với họ, công việc tu hành (đọc kinh sách, ấn
tống, đi chùa, bố thí, phóng sanh, tụng niệm, mua máy nghe kinh, ngồi Thiền, ăn chay
…) chẳng qua chỉ là phƣơng tiện. Vậy, thực ra họ muốn gì ? Quen biết lâu ngày, tôi
nghiệm ra : Bề ngoài có vẻ nhẫn nhịn, hơi khắc khổ, đạo mạo nhƣng bên trong họ là cả
một lòng tham vô bờ bến. Trong khi ngƣời nghèo chỉ mong cơm áo gạo tiền, nhà ở, sức
khỏe … thì họ, kiếp này tuy chƣa phải đại gia nhƣng so ra, họ đã và đang có quá đầy đủ
nhƣng vẫn chƣa vừa ý. Họ “tu” để kiếp sau đƣợc “sƣớng” hơn nữa hay đƣợc lên một cõi
khác, cao hơn và và dĩ nhiên đƣợc tận hƣởng nhiều phúc đức hơn so với cái cõi tạm đầy
phiền phức này. Nói cách khác, họ cũng là một dạng doanh nhân, nhƣng họ không kinh
doanh, kiếm lời bằng việc mua bán cổ phiếu, chứng khoán ở sàn giao dịch… Họ đầu tƣ
vào một mặt hàng vô hình nhƣng cao cấp hơn nhiều: phƣớc đức. Họ đầu tƣ phƣớc đức
trong kiếp này để kiếp sau họ hy vọng thu đƣợc cổ tức – đây mới là mục đích tối hậu. Họ
hay nhƣờng nhịn, bố thí, khuyên răn điều lành và giúp đỡ những ngƣời chung quanh….
Những điều nghe đơn giản nhƣng không phải ai cũng làm đƣợc. Có thể ai đó sẽ cho rằng
dù với động cơ gì đi nữa, họ cũng đang làm điều “tốt” trong khi xã hội đang đầy dẫy
những chuyện thuộc loại đạo đức xuống dốc nhƣ hiện nay. Đƣợc vậy là quý lắm rồi !

Nhƣng, không biết là tôi có hiểu đúng nghĩa của chữ “giải thoát” trong Phật giáo hay
không chứ tôi thấy về mặt tƣ tƣởng, hai vị này rõ ràng là chẳng đƣợc giải thoát chút nào
cả. Cuộc đời này, cũng nhƣ cuộc đời sau, với họ cũng chỉ là một bài toán. Mà đã là
“toán” thì phải “tính” : Họ đến chùa với những suy nghĩ thực dụng. Chính họ mới là nạn
nhân của lòng tham không đáy, là con rối của lòng dục. Tôi hiểu rất ít về đạo Phật, có thể
nói là lõm bõm nên không dám nói cao siêu. Nhƣng nếu nhƣ Phật dạy là nên “diệt dục”
thì hai nhận vật nói trên mới nhìn qua thì có vẻ diệt dục, nhƣng thật ra họ nuôi dƣỡng
lòng dục của họ một cách kín đáo và ghê gớm. Hay nói cách khác thì chính “dục” đang
“diệt” họ.

Vậy, làm sao mà họ “giải thoát” cho đƣợc, nếu nhƣ cứu cánh tối hậu của đạo Phật là giải
thoát ? Tƣ tƣởng của họ còn quẩn quanh với những tính toán thiệt hơn, không những
trong kiếp này mà còn kéo dài tận kiếp sau. Cũng giống nhƣ một ngƣời ăn chay, mà lại
dùng những món giả mặn nhƣ “thịt quay chay” để thỏa mãn cái tâm vọng mặn của mình
                                                                                        28


thì rõ ràng họ đang diễn xuất ! Họ đang đóng kịch với chính họ ! Với một cái ta đầy mâu
thuẫn và đặc biệt vô cùng tham lam nhƣ vậy thì cho dù họ có mua hết cá basa ở đồng
bằng sông Cửu Long để phóng sinh thì thiết tƣởng cũng vô ích.

Trên đây là vài cảm nghĩ của tôi về hai nhân vật đang “tu” tại gia mà tôi khá thân thiết
lâu ngày. Tôi không quơ đũa cả nắm nhƣng hiện nay, những mẫu ngƣời nhƣ thế này
không phải là ít. Họ là ngƣời tốt, thậm chí rất tốt. Trở lại chuyện “tâm bệnh” nhƣ đã nói ở
đầu thƣ, tôi thấy hai vị này “bệnh” quá nặng.

Bác sĩ thấy họ nhƣ thế nào ? Hay chính tôi mới là ngƣời bệnh ?
Kính chào bác sĩ, và rất mong đƣợc hồi âm, dù chỉ đôi dòng.
Chiều cuối năm 13/2/2010
Nguyễn Phú Vân.

(Ghi chú của Đỗ Hồng Ngọc: Email đƣợc viết ngày 13.2.2010, chiều 30 Tết, nhƣng đến
20.2.2010, mùng 7 Tết, anh Nguyễn Phú Vân mới gởi đến tôi. Bức thƣ đặt ra một vấn đề
rất thời sự, rất đáng để suy gẫm. Tôi xin phép anh Nguyễn Phú Vân đƣợc đƣa lên mục
“Ghi Chép Lang Thang” trên trang web www.dohongngoc.com để các thân hữu chia sẻ.
Trân trọng. ĐHN).


   1.       Trâm

        24/02/2010 lúc 10:37 sáng

        Chú Vân kính mến,

        So với tuổi của chú thì tuổi đời và kinh nghiệm sống của con ít hơn (con sinh năm
        1979), vì vậy con không dám bình luận về vấn đề chú nêu trong thƣ mà chỉ xin
        chia sẻ những trải nghiệm và quá trình điều chỉnh cái biết của con về đạo Phật gần
        với sự thật hơn.

        Chuyện ăn chay: Năm con16 tuổi, đạo Phật đối với con là dành cho những ngƣời
        chán đời, muốn lánh sự đời. Ông Phật là một vị thần linh ban phƣớc đức cho
        những ngƣời hiền từ và trừng trị những ngƣời gian ác. Mỗi khi cần ƣớc nguyện
        điều gì, ví dụ thi đậu, ba má đừng cãi nhau nữa… con hay ăn chay 1 tháng hoặc ).
        Trong khi ăn chay, con rất lo2 tháng (tùy theo điều ƣớc lớn hay nhỏ sợ dính đồ
        mặn, vì nghĩ rằng mình ăn thức ăn chay mà lỡ dính phải ví dụ nƣớc mắm là lời
        ƣớc nguyện không có thành, Phật sẽ trừng phạt….

        Năm 2006, sau khi đọc sách của thiền sƣ Nhất Hạnh và tham dự khóa học “Tƣ
        duy tích cực” của bác sĩ Kim Hƣng (Trung tâm những giá trị cuộc sống), con ngộ
        ra ăn chay thì tốt cho thân tâm, dễ thiền định, tốt cho sức khỏe (vì cơ thể con
        ngƣời phù hợp với việc tiêu hóa thực vật), nuôi dƣỡng lòng từ bi vì mình không
        sát hại động vật, góp phần bảo vệ môi trƣờng sống(vì công nghệ nuôi động vật,
        mổ thịt làm ô nhiễm môi trƣờng, tiêu tốn nhiều tài nguyên của trái đất so với
                                                                                29


trồng thực vật…). Ăn chay là sự tự nguyện, Phật không có trừng phạt những
ngƣời ăn mặn. Chỉ vì mình hiểu ra những điều tốt đẹp của việc ăn chay mà mình
tự nguyện ăn chay, nên tâm mình rất thanh thản, nhẹ nhàng, vui vẻ. Cho dù không
ăn chay hoàn toàn nhƣng con đã có ý thức ăn nhiều rau, quả hơn là thịt, cá, đặc
biệt là tránh các loại thịt đỏ.

Nhờ đọc sách “Đƣờng xƣa mây trắng” của thiền sƣ Nhất Hạnh, mà con điều chỉnh
cái biết của mình về ông Phật Thích Ca. À, thì ra ông Phật cũng là một ngƣời bình
thƣờng nhƣ mình thôi, do tìm ra cách tu tập đúng mà Phật đã giác ngộ đƣợc sự
thật về cuộc đời, về con ngƣời, về vũ trụ…Một điều con rất khoái là ông Phật
cũng mắc sai lầm nhƣ bao ngƣời bình thƣờng khác trƣớc khi thành đạo. Điều đó
làm cho con thấy Phật sao mà gần gũi với con. Con rất e ngại những ngƣời đƣợc
tuyên truyền là hoàn hảo, hoàn toàn không có khuyết điểm từ lúc sinh ra đến khi
chết vì nghe rất là giả tạo, không thật.

Lúc trƣớc con sợ đủ thứ, sợ ngƣời thân của mình chết (nhƣng có lúc con muốn tự
tử vì nghĩ rằng tự tử giúp mình chấm dứt đau khổ), sợ xấu, khoái đƣợc khen, sợ
chê….Từ khi đọc sách của bác sĩ Ngọc “Nghĩ từ trái tim” và nghe đĩa “Ngƣời
thƣơng tôi chết bây giờ ở đâu” của Sƣ Ông Làng Mai, con từ từ chứng nghiệm
đƣợc sự vô thƣờng. Vô thƣờng là quy luật của vũ trụ, của tự nhiên, vì sao mình
sợ. Hoa nở rồi tàn, rồi thành phân, rồi nuôi cây, cây lại nở hoa… Vì không hiểu
đƣợc quy luật của sinh diệt mà con lo sợ, những nỗi sợ mà bây giờ nhìn lại con
thấy rất là ngờ nghệch.

Năm 22 tuổi, con có một ƣớc mơ cháy bỏng là học MBA ở Oxford, hoặc Harvard.
Bạn con nói “Giấc mơ của mày sao giống hái sao trên trời quá!”. Sau khi nghiền
ngẩm “Ngƣời vô sự” của thiền sƣ Nhất Hạnh, con không thèm nhìn lại giấc mơ ấy
nữa, một phần vì năng lực yếu, một phần vì đã có gia đình, và quan trọng nhất là
con đã ngộ ra mình đâu cần đi đâu “loanh quanh cho đời mỏi mệt…” vì sự thông
thái đã có sẵn bên trong mình, chỉ cần khai phá nó là mình “xài mệt nghỉ”. Nhiều
lần con cần tìm câu trả lời cho những vấn đề của cuộc sống, con thực hành ngồi
yên, theo dõi hơi thở, lắng dịu thân và tâm, nhìn thật sâu vào vấn đề để hiểu cho
tƣờng tận, thậm chí có lúc con chẳng cần làm gì cả, chỉ đặt câu hỏi rồi để đó. Thật
ngạc nhiên, một thời gian sau, “nhà thông thái bên trong” của con cho con câu trả
lời hay và thật phù hợp (vì chỉ có mình mới hiểu bản thân mình nhất).

Tóm lại, con nghĩ nhận thức là một quá trình. Cái thấy, cái biết của một con ngƣời
từ từ đƣợc điều chỉnh gần với sự thật hơn nhờ mình đọc đƣợc những quyển sách
“có tác dụng trị liệu và khai thị” hay gặp đƣợc một ông thầy sáng suốt, từ bi, hoặc
do chính mình tự trải nghiệm mà tìm ra sự thật.. . Chú Vân có thể tặng cho bạn
của chú những quyển sách hoặc đĩa CD, VCD nhƣ “Đƣờng xƣa mây trắng” (nói
về cuộc đời Đức Phật), sách “Kim Cang năng đoạn”(con không nhớ chính xác tên
tựa đề, nói về cách giúp đời của các vị Bồ Tát), “Ngƣời vô sự” của thiền sƣ Nhất
Hạnh, “Nghĩ từ trái tim” của bác sĩ Ngọc. Một ngày nào đó bạn của chú Vân có
thể điều chỉnh cái biết của mình về những điều Đức Phật đã dạy.
                                                                                    30


     Con có một ƣớc nguyện, khi con giàu có, con sẽ về các vùng quê nghèo khó xây
     thƣ viện. Thƣ viện nào cũng có 3 kệ sách, thứ nhất là sách của dịch giả Nguyễn
     Hiến Lê (ngƣời thầy đầu tiên của con), thứ hai là sách của bác sĩ Ngọc(vị ân
     nhân), và thứ ba là sách của Sƣ Ông Làng Mai (ông thầy vĩ đại và vô cùng giản
     dị). Vì con nghĩ những quyển sách hay đã ảnh hƣởng sâu sắc đến cuộc đời của
     mình nhƣ vậy, tại sao mình không giúp ngƣời khác thay đổi cuộc đời họ theo
     hƣớng tốt đẹp hơn, hƣớng thiện hơn. Nói nhƣ Sƣ ông Làng Mai, những quyển
     sách hay có thể thay đổi lịch sử của thế giới.

     Kính chúc chú Vân an lạc.

     Sài gòn, ngày 24.2.2010
     Trâm


2.       Bac Si Do Hong Ngoc

     24/02/2010 lúc 5:23 chiều

     Cảm ơn Trâm. Con nói rất đúng. Chuyển hóa là cả một quá trình. Và vì thế mà có
     đến “tám vạn bốn ngàn pháp môn” để cho phù hợp với từng ngƣời, từng giai
     đoạn.


3.       Tigon

     24/02/2010 lúc 10:30 chiều

     Kính thƣa chú Ngọc! Lâu quá vì bận rộn con không có thời gian ghé qua “nhà”
     chú, hôm nay nhân ghé vào, đọc bài này con xin mạn phép gửi vài ý kiến chia sẻ
     với anh Vân, nếu có gì không phải xin chú và anh hoan hỉ… xả.
     Chào anh Vân! Tigon xin đƣợc phép gọi bằng anh vì so về tuổi tác có lẽ anh cũng
     bằng tuổi anh 4, chị 5 của TG, chắc anh thuộc thế hệ 6x (đời đầu) và TG cũng
     thuộc thế hệ 6x (đời sau). Đọc thƣ anh gởi cho chú Ngọc, TG xin đƣợc phân tích
     một chút về nhân vật thứ 1 và cách cảm nhận của anh nhƣng đứng ở một góc nhìn
     khác:
     bà này “dành rất nhiều thì giờ để đi chùa, tụng kinh, ngồi Thiền, ăn chay, không
     sát sanh, hay mua kinh sách, dĩa CD, hình ảnh … tặng những ngƣời chung
     quanh… đó là những thay đổi tích cực vì ở tuổi này ngƣời ta chú trọng đời sống
     tinh thần nhiều hơn, bà ấy đã biết “đủ”, (đi chùa, tụng kinh thay vì phải lo làm
     kinh tế) tuy tu có nhiều cách và mỗi ngƣời có một sự giác ngộ khác nhau nhƣng
     chung quy cũng để hƣớng thiện. Đối với xã hội, bà làm nhiều việc thiện để đóng
     góp cho nhiều ngƣời (tặng CD, kinh sách, tạo điều kiện cho họ tiếp cận với cái
     thiện, khuyên ngƣời làm lành lánh dữ, nếu trong số họ có ai “ngộ” ra thì xã hội có
     thêm ngƣời tốt, điều này tích cực quá đi chứ? Đối với chồng có lẽ ông ta phải
     hạnh phúc vì không gặp phải ngƣời vợ lúc nào cũng càm ràm chuyện tiền nong
                                                                                     31


     hay các vấn đề khác trong gia đình… Vậy cũng là hiện tƣợng tốt. Có thể đó là
     hiện tƣợng tiêu cực đối với những ngƣời đang nỗ lực sống, làm việc trong Xh
     nhƣng bà ấy đã rất chân thật với bản thân và với cả mọi ngƣời, dám làm những gì
     mình muốn, dám từ bỏ những thú vui hiện thực để “đầu tƣ” cho cái “trừu tƣợng”
     khác. ["Thậm chí bà còn tặng tôi một lô kinh sách Phật giáo mới có, cũ có
     (khoảng 200 cuốn)Tôi nghe thì nhiều nhƣng hiểu chẳng bao nhiêu, chỉ vâng dạ
     hay ậm ừ cho qua chuyện. Một phần vì tôi ngại mếch lòng và tính tôi cũng không
     hay tranh luận hơn thua..."] Chính vì sự không thẳng thắn này của anh đã làm cho
     ngƣời ta ngộ nhận rằng anh cũng yêu thích kinh sách nên mới tặng anh hàng trăm
     cuốn chứ nếu biết anh không thích có lẽ bà đã làm việc này có ý nghĩa hơn, anh
     có thấy thật lãng phí (?!) Phật dạy đói ăn khát uống không khiên cƣỡng( nhƣ câu
     chuyện chú Ngọc kể Phật tự đi khất thực rồi ngồi ăn giữa đông ngƣời trong lúc
     mọi ngƣời chờ đợi nghe thuyết giảng. Sự mâu thuẫn giữa cách nghĩ và làm của
     anh cũng là điều không nên, nhƣ phật dạy vậy.[" Đôi khi tôi có cảm giác bà nhìn
     những ngƣời chung quanh (chồng con, gia đình, bạn bè …) nhƣ một lũ u mê – dĩ
     nhiên trong đó có tôi, mà có lẽ vì lý do lịch sự bà không nói ra."...] đây cũng chỉ
     là một suy đoán của anh vì bà không nói ra, liệu có đúng nhƣ anh nghĩ?… Và còn
     rất nhiều điều X, Y, Z… mà chúng ta không thể nào khẳng định đúng sai từ một
     góc nhìn… TG chỉ thử đứng ở một góc khác để anh có thêm một cách nghĩ khác ở
     cùng một sự việc. ” Ƣng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm…” Chúc anh vui! Con cũng rất
     muốn biết chú Ngọc đã trả lời thƣ thế nào để con đƣợc học hỏi thêm.


4.        Nguyễn Hữu Cường

     27/02/2010 lúc 12:13 chiều

     Kính Gửi Bác Đỗ Hồng Ngọc, Chú Vân cùng Anh/Chị Trâm.

     Nhân đọc lá thƣ đầu năm của Chú Vân gửi Bác Ngọc và ý kiến của Anh/Chị Trâm
     về lá thƣ này, Cháu cũng xin đƣợc chia sẽ một vài cảm nhận của mình.

     Cháu năm nay 30 tuổi và hiện đang sống và làm việc tại Thành phố HCM. Cháu
     không theo một tôn giáo nào cả. Nhƣng cũng do hoàn cảnh và môi trƣờng sống
     mà trong lòng cháu luôn có nhƣng bất an và cháu đã đi tìm con đƣờng để giải
     thoát. Và điều đầu tiên cháu nghĩ đến đó chính là Thiền và Đạo Phật.

     Vì là một ngƣời ngoại đạo và mới tìm hiểu về Thiền và Phật Giáo nên cháu không
     giám bàn luận nhiều. nhƣng cháu cho rằng mình rất may mắn khi lần đầu tiên tìm
     hiểu về Phật giáo, Cháu may mắn nghe đƣợc băng ” Thực Tại Hiện Tiền” của Sƣ
     Viên Minh. và ở đây Sƣ đã nói về những vấn đề tinh yếu của Đạo Phật. Sau khi
     nghe kỹ và ngẫm nghĩ những điều Sƣ nói. Cháu triệt ngộ ra một điều rằng” Giải
     thoát là ở ngay trong hiện tại, con ngƣời ta không thể giải thoát ở tƣơng lại”. Quá
     khứ và tƣơng lại là không có thực, nó chỉ là chất liệu của tâm trí để tạo nên thời
     gian tâm lý. Chỉ có khoảnh khắc hiện tại mới là thực. Và khi ta sống trong hiện tại
     thì sẽ có đƣợc sự thanh thản, an lạc. Đó chính là giải thoát.
                                                                                   32


     Từ khi Cháu thấy đó là chân lý, Cháu nguyện là mình sẽ sống đạo và hành đạo
     một cách trực tiếp (để thực hiện quá trình chuyển hóa- Nhƣ Bác Ngọc nói chuyển
     hóa là một quá trình) hay nói theo ngôn ngữ của Phật Giáo là Tu tại gia.

     Hai ngƣời bạn của Chú Vân, họ đang đi tìm sự giải thoát ở tƣơng lai nên họ đang
     làm tất cả mọi việc để mong rằng trong tƣơng lại mình sẽ dƣợc giải thoát. Theo
     cháu họ đang có nhận thức sai lạc về sự giải thoát mà Đức Phật nói đến. Và cũng
     đúng nhƣ Chú Vân nói, họ đang bị bệnh về tâm lý và muốn đƣợc giải thoát thì họ
     phải chữa đƣợc căn bệnh này trƣớc đã. Nên cháu rất đồng ý với Anh/Chị Trâm là
     Chú nên tặng hai bạn của chú những cuốn sách, băng đĩa CD nhƣ Anh/Chị Trâm
     đề nghị.

     Thƣa Bác Ngọc, hôm nay là ngày 27/2, sáng sớm thức dậy là cháu nghĩ ngay
     mình phải vào website của Bác để xem Bác có bài viết nào mới không? Vì đối với
     cháu, đọc đƣợc những bài viết của Bác từ trƣớc tới giờ đã làm thay đổi cháu rất
     nhiều, mà đặc biệt là về mặt sức khỏe và nhận thức thấu đáo hơn về nghề Y. Cháu
     đã và đang thực hành thiền tập để cho sức khỏe của mình ngày một tốt hơn theo
     phƣơng pháp thiền thở mà Bác đã giới thiệu. Bác là ân nhân của Cháu.

     Thƣa Anh/ chị Trâm, trƣớc hết em rất xin lỗi và không biết “Trâm” là con trai hay
     con gái nên xin phép cho em đƣợc gọi là Anh/Chị. Tuy chỉ mới đọc qua bài nhận
     xét của Anh/Chị ở đây, nhƣng Em tự nhiên có ý muốn đƣợc gặp mặt Anh/Chị để
     nói chuyện và chia sẽ nhiều hơn. Nếu đƣợc thế mong Anh/chỉ gửi lời nhắn tới địa
     chỉ email cá nhân của em (cuongnh80@gmail.com). Em rất hy vọng nhận đƣợc
     hồi âm từ Anh/Chị

     Nguyễn Hữu Cƣờng.


5.       Bac Si Do Hong Ngoc

     27/02/2010 lúc 8:13 chiều

     Cảm ơn Nguyễn Hữu Cƣờng. Mừng Cƣờng đã đọc Thực Tại Hiện Tiền của Sƣ
     Viên Minh.


6.       Vũ Trâm

     02/03/2010 lúc 6:10 chiều

     Kính gửi BS Đỗ Hồng Ngọc , chị Trâm …
     Ngày xƣa , con cũng giống nhƣ chú Vân , nhà thờ Phật , cũng thi thoảng đi chùa
     cùng mẹ, cũng thắp nhang nhƣng chẳng hiểu và cũng không muốn tìm hiểu cái
     đạo mình đang thờ , chỉ biết rằng sống là phải vui với thực tại .
     (…..)
                                                                                       33


      Cũng nhƣ Bác Ngọc và các anh chị đã nói , thay đổi cách nhìn là một quá trình
      dài và khó khăn , nhƣng con tin là một ngày không xa , chú sẽ giúp 2 ngƣời bạn
      của chú nhìn đạo bằng khía cạnh tích cực hơn (một Đạo Phật biết hy sinh , dấn
      thân và phụng sự)
      (đôi điều suy nghĩ của con , xin mọi ngƣời chỉ bảo thêm)


7.         Trâm

      10/03/2010 lúc 8:26 chiều

      Chào bạn Cƣờng,

      Xin lỗi vì hồi âm bạn muộn. Mình là nữ, rất vui vì nhận đƣợc sự đồng cảm từ bạn.
      E-mail của mình là trambui79@gmail.com. Nếu rãnh thì viết e-mail cho mình
      nhé. Mình đang làm việc tại Q1, TPHCM.


8.         giangsinh

      15/03/2010 lúc 5:51 chiều

      Gui Chu VAN,

      *Giac ngo cung phai tu tu, nhat la co duoc su ung ho cua nhung nguoi xung quanh
      co trinh do hieu biet kha hon va tu bi, yeu thuong giup do.

      * Mot nguoi chi trinh do tieu hoc ma lai di giang triet hoc dai hoc lam sao thong
      hieu duoc.

      *PHAT rat muon CHUNG SINH giai thoat de giam bot dau kho, nhung hay nhin
      ky ONG PHAT tren ban tho: nu cuoi hien lanh, an lac, tu bi, diu dang nhin chung
      sinh. Phai chang do la muon chung ta se tu tu GIAC NGO????!!!!


9.         Bac Si Do Hong Ngoc

      15/03/2010 lúc 9:04 chiều

      Đúng vậy. Không nên nóng vội. “Nhứt thiết pháp giai thị Phật pháp”. Có đến tám
      vạn bốn ngàn pháp môn mà, phải không? Tâm chúng sanh vô lƣợng vô biên, nên
      cũng phải có vô lƣợng vô biên “pháp môn” để độ vậy.


10.        Trâm

      09/04/2010 lúc 2:42 chiều
                                                                                     34


      Bác sĩ ơi,

      Mỗi tuần con nguyện viết thƣ cảm ơn, gửi đến những ngƣời mang yêu thƣơng đến
      cho cuộc đời này. Hồi sáng đền giờ, còn viết đƣợc hai thƣ, một gửi đến một chị
      đang giúp một em bé ở Trung tâm Tam Bình tìm đƣợc gia đình cha mẹ nuôi, và
      một thƣ hồi âm đến bạn Nguyễn Hữu Cƣờng.

      Bây giờ con viết thƣ này để cảm ơn bác sĩ đã tạo ra nhân duyên giúp con có thêm
      một ngƣời bạn mới, bạn Nguyễn Hữu Cƣờng. Tuy còn trẻ nhƣng bạn có những
      suy nghĩ khá sâu sắc và thú vị.

      May mà có bác sĩ, đời còn dễ thƣơng:-)


11.        Quỳnh Anh

      27/08/2010 lúc 4:00 chiều

      Kính gửi BS Đỗ Hồng Ngọc, tình cờ vào đƣợc trang web của bác, con rất mừng.
      Cứ nhƣ đƣợc gặp lại ngƣời quen cũ. Con “quen” bác từ khi con bắt đầu mang thai
      cháu đầu lòng. Năm nay, cháu đã 20 tuổi. Hồi đó, đúng là con đã gối đầu giƣờng
      quyến sách “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” từ khi mang thai cho đến khi
      em bé đƣợc 4 tuổi. Sau này, con đã tặng lại cho đứa em dâu. Đến đứa thứ hai, ôi
      chao, có phải do con không gối đầu giƣờng quyển sách của bác hay sao mà thằng
      bé đau suốt. Có lúc tƣởng chừng con đã mất nó. Nhƣng rồi nó vẫn lớn dù sức
      khỏe có phần èo uột. Cũng chính từ đây, con tìm đến đạo Phật. Cũng vì tìm hiểu
      về đạo Phật mà đến hôm nay, con tình cờ vào đƣợc trang web của bác. Con xin
      kính chúc bác sức khỏe. Ngày em La Ngà ra đi, bác có biết là con cũng đau buồn
      chừng nào vì vị bác sĩ kính yêu, ân nhân của mình đã mất con. Nhắc lại chuyện
      buồn đã qua, quả thật con không dám làm bác buồn nhƣng để bác thấy đƣợc tình
      cảm của con dành cho bác, vị bác sĩ luôn theo sát con gái đầu lòng của con từ khi
      còn nằm trong bụng mẹ cho đến ngày đi mẫu giáo.
      Nay đƣợc biết bác lại có những bài viết hay về đạo Phật. Con lại càng mừng là có
      duyên đƣợc gặp bác dù là trên internet. Con sẽ ép trang web của bác vào máy tính
      của con. Thật là mừng khi con đƣợc gặp lại bác sĩ .


12.        Bac Si Do Hong Ngoc

      29/08/2010 lúc 9:51 sáng

      Cảm ơn Quỳnh Anh rất nhiều. Cái cảm xúc nhƣ gặp lại ngƣời quen cũ đó thật là
      dễ thƣơng phải không? À, trong lúc học Phật có gì có thể chia sẻ thì cứ mạnh dạn
      nhé.


13.        Phước An
                                                                                      35


       04/10/2010 lúc 10:52 sáng

       Hồi đó cháu cũng hay chấp, chấp những thầy tu ăn mặc xa hoa, những ngƣời khẩu
       phật tâm xà, những thứ đại loại nhƣ cứ lo tụng kinh mà không hiểu thì có ích gì…
       Cái chấp của cháu buồn cƣời quá phải không các Cô các Bác? Cháu nghĩ mỗi
       ngƣời đều có nhân duyên khác nhau. Đôi khi hai ngƣời bạn của Chú Vân phải có
       những trãi nghiệm đó để cơ duyên sau này có thể “hoát nhiên đại ngộ.”

       “Đoạn trƣờng ai có qua cầu mới hay!” Chúng ta đều nhƣ những cánh hoa lạc giữa
       dòng, làm sao nói đƣợc chuyện của thế gian. Chuyện đời, chuyện ngƣời nó vậy thì
       chỉ đơn giản là nhƣ vậy. Ai ngộ đƣợc gì thì mừng cho ngƣời đó, chƣa ngộ thì… từ
       từ ngộ. Chẳng phải chúng ta đều là những đức Phật sẽ thành đó sao?! Chữ “Giải
       thoát” vốn chẳng phải để hiểu hay để cố vấn tƣ tƣởng, đơn giản chỉ là giải thoát,
       vậy thôi…




Vậy mà chẳng phải vậy!
                                                                         Đỗ Hồng Ngọc

Lại nói Tu Bồ Đề kính cẩn đặt hai câu hỏi với Phật: “…làm thế nào để an trụ tâm, làm
thế nào để hàng phục tâm?” thì Phật bảo rằng không có gì khó cả, các vị Đại Bồ tát đều
hàng phục tâm bằng cách nhƣ vầy… nhƣ vầy… “Ông hãy lắng tai nghe cho kỹ đây. Ta sẽ
vì ông mà nói”. Tu Bồ Đề hớn hở: “Xin vâng, xin vâng. Con đang rất muốn nghe!”.

Hơn hai ngàn năm trăm năm sau, chúng ta cũng đang rất muốn nghe, cũng đang dỏng tai
lên mà nghe, bởi chƣa bao giờ con ngƣời sống trong sợ hãi, lo âu, căng thẳng nhƣ bây
giờ, với chiến tranh dịch bệnh thiên tai đủ thứ! Con ngƣời mắc đủ thứ bệnh tật mà y học
dù rất tiến bộ cũng lúng túng, bó tay… Các loại bệnh cứ xà quần, hết thứ này sanh thứ
khác, bởi cái gốc của nó không ở cái thân xác kia, nên đi đủ thứ bác sĩ cũng không khỏi
cho đến khi vớ phải một… lang băm! Y học đã phải bào chế ra nhiều thứ thuốc, nào an
thần, nào thuốc ngủ, nào giải lo (anxiolytique), thậm chí những thứ thuốc cực mạnh để
cắt đứt cơn suy nghĩ của con ngƣời, làm cho họ rơi vào trạng thái hôn mê ngắn hạn để
đƣợc thảnh thơi đôi chút, xa rời đôi chút với những lo âu phiền muộn sợ hãi bao quanh!

Phật dạy: Muốn hàng phục tâm ƣ, muốn an trụ tâm ƣ? Chỉ cần “diệt độ” tất cả chúng
sanh, loại nào cũng “diệt độ”, cho vào Vô dƣ Niết bàn sạch trơn, nhƣng rồi thật ra…
chẳng có chúng sanh nào đựơc diệt độ cả!

Ối trời! Thiệt là choáng váng! Chƣa kịp trấn tĩnh, Phật đã nói tiếp: “Tại sao vậy? Tại vì
Bồ tát mà còn có tƣớng ta, tƣớng ngƣời, tƣớng chúng sanh, tƣớng thọ giả thì… chẳng
phải là Bồ tát! ”. Lúc đó hẳn một số ngƣời trong thính chúng cũng hoang mang, thôi
không dám làm Bồ tát nữa và xin rút lui có trật tự! Chính Tu Bồ Đề cũng phải kêu lên:
Con có thể hiểu không khó những lời Phật dạy, nhƣng liệu năm trăm năm sau, ngƣời ta
có thể hiều đƣợc không? Phật đã phải quở ngay: “Ông chớ nói thế!”. Bởi Phật tin tƣởng ở
                                                                                        36


tƣơng lai, ngƣời ta có thể hiểu Phật nhanh hơn, phƣơng tiện truyền thông tiến bộ hơn,
và… đời sống con ngƣời càng… khổ đau hơn, dù vật chất có đƣợc cải thiện mà phiền não
thì cứ gia tăng! Tuy vậy, Phật cũng nói thêm: Sau này, ai đƣợc nghe Kim Cang mà
“không kinh, không hãi, không sợ” thì ngƣời đó hẳn phải có nhiều “thiện căn”! Nửa thế
kỷ trƣớc đây, Edward Conzé, tiến sĩ tâm lý, nhà Phật học nổi tiếng, ngƣời đã dịch Kim
Cang sang tiếng Anh, bảo bạn ông, một nhà trí thức thần học, khi đọc bản dịch đó đã kinh
ngạc kêu lên: Điên, điên rồi! Nhƣng Erward Conzé không thấy điên, lại còn khẳng định:
hiệu qủa sẽ đựơc chứng minh qua áp dụng vào đời sống hằng ngày! Nguyễn Du đọc đi
đọc lại Kim Cang cả ngàn lần, đến khi có dịp đi sứ sang Tàu, nhìn thạch đài phân kinh
của thái tử nhà Lƣơng mới than: Chung tri vô tự thị chân kinh! (Cuối cùng mới hiểu ra
kinh không chữ mới thật là chân kinh!).. Ngƣời xƣa thì cũng đã nguyện “Nguyện giải
Như Lai chơn thật nghĩa!”. Chắc hẳn phải có điều gì đó… bí ẩn!

Phật nói muốn hàng phục tâm thì có bao nhiêu loại chúng sinh, dù sinh từ thai, sinh từ
trứng, từ thấp, từ hóa, từ có hình hoặc không có hình, từ có tƣởng, hoặc không có tƣởng,
hoặc chẳng có tƣởng mà cũng chẳng phải chẳng có tƣởng… đều phải “diệt độ” tất cả,
cho vào… “Niết bàn” sạch trơn! Rồi, tuy“diệt độ” vô số sô lựơng vô biên chúng sanh
nhƣ vậy mà thật ra… chẳng có chúng sanh nào đƣợc diệt độ cả!

Lâu nay ta vẫn nghĩ chúng sanh là beings, là êtres, là những sinh vật- gồm có cả con
ngƣời trong đó – nên “diệt độ” hết chúng sanh thì ta ở với ai? Có sách nói phải diệt độ hết
chúng sanh đi mà đừng kể công, ấy mới là lòng quãng đại, là chí nguyện của Bồ tát. Có
sách lại bảo chúng sanh ở đây không phải là ngƣời, không phải là sinh vật mà là những tƣ
tƣởng, những ý nghĩ, những khái niệm! Ngƣời bình thƣờng chúng ta nghe chữ “diệt độ”
chúng sanh, rồi đƣa hết vào “Niết bàn” cũng thấy ớn! Thực ra chữ “diệt độ” ở đây không
có nghĩa là tiêu diệt mà là giúp đƣa hết cả qua bờ giải thoát.

Nghĩ cho cùng, cốt lõi có lẽ nằm ở hai chữ “chúng sanh”! Giải mã đƣợc từ khóa này thì
hy vọng mở đƣợc “Càn khôn đại nã di tâm pháp” nhƣ Vô Kỵ dƣới hầm sâu trong tiểu
thuyết kiếm hiệp Kim Dung! Một hôm, tôi đem thắc mắc “chúng sanh” này hỏi một vị
sƣ. Sƣ trả lời ngắn gọn: Tùy chúng duyên nhi sanh! Rồi thôi, chẳng nói gì thêm. Với tôi,
thế là đã đủ, đã rõ! Vậy mà phải mất bao nhiêu thời gian trăn trở, kiếm tìm, suy gẫm. Tôi
hiểu tại sao các vị thiền sƣ thƣờng bắt học trò giã gạo, gánh nƣớc, bửa củi nhiều năm mà
chả chịu dạy gì, cho đến khi đủ chín muồi tự trong bản thân mình! Cũng nhƣ ngƣời xƣa
đến thầy xin học thuốc, thầy coi giò coi cẳng xong mới cho vào học, lúc đầu bắt chẻ
thuốc, bào thuốc, tán thuốc, sắc thuốc… chừng năm bảy năm trời rồi mới cho bắt mạch,
kê toa, bởi lầm một chữ là chết ngƣời. Đến khi thành tài… thầy còn gã con gái cho không
chừng! Nhƣ vậy có thể nói chúng sanh ở đây không phải là chúng sanh nhƣ ta vẫn hiểu
mà là do các “chúng “ duyên với nhau mà “sanh” ra nên gọi là “chúng sanh” thôi! Duyên
hết thì chúng sanh cũng hết! Học Phật không đƣợc chỉ dựa vào câu chữ mà cũng không
đƣợc rời câu chữ! Ở đoạn sau của Kim Cang nói rõ: “chúng sanh tức phi chúng sanh”! Ta
làm quen cách nói “tức phi… thị danh” này trong Kim Cang! Đây là thứ ngôn ngữ “phá
chấp”, cũng gọi là “ngôn ngữ ly niệm”, nhằm giúp phá vỡ “khái niệm” đã đóng khuôn
trong vỏ não ta từ lâu. Bởi muốn giúp giải thoát con ngƣời thì trƣớc hết phải vựơt qua
những khái niệm, những định nghĩa cứng ngắc, chằng chịt, nhƣ lƣới nhền nhện làm cho
con ngƣời bị gò bó, dính mắc, khó mà thoát ra đƣợc. Mỗi ngành học đều có những
                                                                                       37


terminology, thuật ngữ riêng của mình. Danh từ y học chẳng hạn, chỉ ngƣời trong ngành
hiểu với nhau, ngƣời ngoài không sao hiểu chính xác đựơc, thậm chí một số từ y học
không thể dịch mà phải phiên âm, phải giữ nguyên gốc để diễn đạt đầy đủ ý nghĩa sâu xa
hơn. Chính vì thế mà các thầy thuốc thƣờng châm… tiếng Latinh với nhau khi nói
chuyện, làm cho bệnh nhân nghe chới với không hiểu mô tê, rồi có khi diễn dịch sai, hiểu
lầm, đâm ra hoang mang.

Tùy “chúng duyên nhi sanh” là tùy theo các duyên mà sanh ra thứ “chúng sanh” này hay
“chúng sanh” khác! Cho nên mới có “vô số vô lƣợng vô biên” chúng sanh! Bản thân ta
cũng là một chúng sanh vì do các “uẩn” (chúng) sắc, thọ, tƣởng, hành, thức hợp lại mà
thành…. Nói cách khác, do ba mẹ mình “duyên”… với nhau mà có mình, chớ nếu hai
ngƣời “vô duyên đối diện bất tƣơng phùng” thì còn lâu! Đó là chƣa kể ông nội “gặp gỡ”
bà nội, ông ngoại “gặp gỡ” bà ngọai. ( Người đâu gặp gỡ làm chi/ Trăm năm biết có
duyên gì hay không? ND). Cho nên mình mới có cơ hội mang gène của cả giòng họ kể cả
gène tính khí hoặc gène suyễn, tiểu đƣờng! Hai nguyên tử H và O “duyên” với nhau thì
sanh ra thứ này hay thứ khác, nếu thêm C vào nữa thì có khi thành dấm, có khi thành
rƣợu! Ta mà “duyên” với rƣợu thì cũng lắm chúng sanh sẽ đƣợc tạo ra! Cơn giận chẳng
hạn. Vì một lời nói xúc xiểm nào đó của ai đó có khi làm ta bừng bừng nổi giận! Lời qua
tiếng lại một lúc thì “chúng” đã “sanh” ra lắm chuyện! Từ chúng sanh “lời nói” có thể
chuyển sang chúng sanh “đấm đá”… nhƣ chơi! Cơn giận, lòng tham, nỗi buồn, sự sợ hãi,
lo âu, căng thẳng… đều là những “chúng sanh”, nó quậy phá trong tâm ta làm cho ta bị
bấn loạn, phiền não, khổ đau không ngớt! Ngay cả những con ngƣời rất dễ thƣơng quanh
ta, có khi mới sáng sớm là tiên, là Bồ tat, chiều đến đã biến thành Atula, dạ xoa… các thứ
nhƣ chơi! Mà ta cũng vậy dƣới mắt ngƣời khác!

Có thực “ba cái lăng nhăng nó quấy ta” chăng? Không hẳn! Gió không động, phƣớn
không động. Tâm ta mới động. Tâm ta mà thanh tịnh rồi thì “chấp” hết! Cơn giận nỗi
buồn gì cũng “diệt độ” xong ngay! “Chúng” nào “sanh” ra thì ta… “diệt độ” hết, nghĩa là
dẹp bỏ sạch trơn. Đến lúc mặt hồ không xao động thì ánh trăng mới vằng vặc soi! Nhƣng,
còn lâu! Còn phải khổ công rèn luyện dài dài! Không thể nóng vội đƣợc. Chữ “diệt” ở
đây không có nghĩa là tiêu diệt, mà là “dẹp bỏ” qua một bên, hay còn có nghĩa là “không
để phát sanh ra” nữa, tức là một trạng thái “vô sanh”! Tiếng Việt ta thật hay: sanh sự thì
sự sanh! Vô sanh thì vô sự, mà vô sự thì bình an: “Bình an vô sự”! Vậy nếu ta … rèn
luyện giỏi, ta có thể “diệt độ chúng sanh” đựơc lắm chớ! Diệt độ hết chúng sanh mà thực
ra không có chúng sanh nào đƣợc diệt độ cả, bởi có còn sanh ra nữa đâu mà diệt với độ!

Nhƣng hình nhƣ thế vẫn còn chẳng phải!


Chẳng phải vậy mà vậy!

Khi hiểu đƣợc “chúng sanh tức phi chúng sanh thị danh chúng sanh”, ta tƣởng đã nắm
đƣợc từ khóa để mở vào kho tàng “Kim Cang”, nhƣng thực ra còn lâu, bởi vì, vậy mà
chẳng phải vậy!
                                                                                           38


Trở lại không khí buổi truyền trao “gƣơm báu” lúc đó, thấy không ít ngƣời bối rối vì câu
nói với ngôn ngữ ly niệm của mình, Phật liền hỏi: Tại sao vậy (hà dĩ cố)? Rồi khẳng
định: “Bởi vì Bồ tát mà còn có tƣớng ta, tƣớng ngƣời, tƣớng chúng sanh, tƣớng thọ giả
thì chẳng phải Bồ tát!”.

Tôi lại một phen chƣng hửng! Tƣởng Phật sẽ giải thích, ai ngờ Ngài lại nói một câu có vẻ
chẳng ăn nhập gì với phần trên! Chắc lại có một bí ẩn gì ở đây! Lúc đầu tôi nghĩ đến ngôi
thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, số ít số nhiều với các thời quá khứ, hiện tại, vị lai, nhƣ một cách
chia “verbe” để nói lên mối quan hệ giữa ta, ngƣời, không gian, thời gian, nhƣng hình
nhƣ không phải vậy! Tôi lại nghĩ hay đó là một biểu đồ có ba trục không gian và một
đƣờng cong thời gian, trên đó, mỗi cá nhân xác định vị trí của mình trong xã hội, mối
tƣơng quan của mình với những “chúng sanh” khác ở một thời điểm nào đó! Cũng không
phải! Vậy thì… là cái gì? Mãi sau tôi mới vỡ ra: đó chính là trạng thái vô ngã của hành
giả trên bƣớc đƣờng giải thoát! Hành giả phải “chiếu kiến ngũ uẩn giai không”- thực sự
vô ngã- thì mới có thể “độ nhứt thiết khổ ách”; mà có “độ nhứt thiết khổ ách” cho mình
rồi thì mới có thể giúp cho ngƣời khác đƣợc, mới xứng danh là Bồ tát. Cho nên đây là
một đòi hỏi có tính quyết định, là điều kiện “ắt có”.

Vô ngã không dễ “thấy”! Dù có thể dùng lý luận , triết lý về duyên sinh, duyên khởi, về
cái “Không” để thấy vô ngã, nhƣng đó chỉ là cái vô ngã của lý thuyết, của khái niệm!
Còn vô ngã ở đây lại là một trạng thái, một cảnh giới – đƣợc cảm nhận bởi hành giả qua
một quá trình tu tập dài lâu và miên mật: Thiền! Vâng, chính thiền đã là con đƣờng “độc
đạo” mà Phật đã từng nhấn mạnh trong Tứ niệm xứ (Satipatthana), trong An ban thủ ý
(Anapanasati): “Đây là con đường độc nhất dẫn tói thanh tịnh cho chúng sanh, diệt trừ
khổ ưu, thành tựu chánh trí…”. Thiền đã có từ xa xƣa. Ngay hồi còn nhỏ xíu, một hôm,
thái tử Tất Đạt Đa trong lúc ngồi dƣới bóng cây coi ngƣời ta làm ruộng đã tình cờ rơi vào
trạng thái sơ thiền. Sau này trên đƣờng học đạo, Ngài đã gặp hai vị thầy dạy thiền cao
nhất thời bấy giờ, và chỉ trong một thời gian ngắn, ngài đã vƣợt qua tám cảnh giới thiền
cho đến phi tƣởng phi phi tƣởng mà vẫn chƣa yên, phải từ biệt ra đi tìm một con đƣờng
riêng của mình! Khi đạt đến cảnh giới thiền thứ chín, “Diệt thọ tƣởng định” thì mới hết
chuyện, lúc đó ngài mới trở thành bậc Giác ngộ thực sự, bậc Toàn giác! Nói cách khác,
“Diệt thọ tƣởng định” mới là thứ thuốc chữa tận gốc căn bệnh phiền não, khổ đau mà các
giai đọan trƣớc đó chỉ là chữa triệu chứng, kiểu đau đâu chữa đó nên cứ bị tái phát hoài.
Chữa tận gốc là chữa dứt điểm, hết sợ tái phát, hết sợ di chứng! “Diệt” trong diệt thọ
tƣởng định ở đây không mang nghĩa triệt tiêu mà là không để nảy sinh! Cắt bỏ một khối u
thì không bằng phòng ngừa để khối u đừng sinh ra. Phòng bệnh hơn chữa bệnh. Tóm lại,
để xứng danh là Bồ tát thì phải vƣợt qua đƣợc cửa ải này. Nói khác đi, Bồ tát phải “hành
thâm” thiền định cho rốt ráo, đạt đến trạng thái vô ngã- không còn thấy có tƣớng ta,
tƣớng ngƣời, tƣớng chúng sanh, tƣớng thọ giả gì nữa cả- không còn phân biệt, chấp trƣớc
gì nữa cả – thì mới thênh thang thõng tay vào chợ mà không sợ vƣớng bụi trần!

May thay, nghe cho kỹ thì Phật đã dạy Tu Bồ Đề rất rõ: “Chƣ Bồ tát Ma ha tát ƣng nhƣ
thị hàng phục kỳ tâm”. Ma ha tát là lớn, là đại! Các vị Đại bồ tát đều đã làm nhƣ vậy mà
hàng phục cái tâm mình! Chớ còn… “tiểu” Bồ tát hoặc mới phát tâm… sơ sơ, mới lõm
bõm học nhƣ ta thì cũng chớ nóng vội! Phải từng bƣớc, trì giới, nhẫn nhục, phải tinh
tấn… dài lâu!
                                                                                           39


“Phật cáo Tu Bồ Đề” chính là để nhắc nhở những ai muốn bƣớc vào con đƣờng Bồ tát thì
không thể không thiền định. Bởi không định thì khó mà tuệ. Giới sẽ dẫn đến định, định sẽ
dẫn đến tuệ và ngƣợc lại. Đây là một tam giác cân, có hai chiều xuôi ngƣợc. Theo tôi, để
điều trị cho tận gốc bệnh “tham sân si” thì chỉ có thể dùng thuốc đặc trị là “giới định tuệ”.
Giới để chữa tham, định chữa sân và tuệ chữa si. Nhƣng nếu chỉ chữa triệu chứng thì
không thể chữa dứt điểm đƣợc, nó sẽ tái phát, nó sẽ để lại di chứng. Vậy muốn chữa rốt
ráo, chữa tận gốc, thì phải phối hợp cả ba thứ thuốc, ba mặt giáp công. Định không thôi
dễ mù mịt. Giới không thôi dễ cố chấp. Tuệ không thôi dễ ba hoa. Tuy vậy rõ ràng là tùy
đối tƣợng mà ba thứ thuốc này sẽ gia giảm cho phù hợp. Ngƣời hay “sân”, dễ thƣơng dễ
nhớ dễ sầu dễ bi –Rồi bị thương người ta giữ gươm đau/ không muốn chữa không chịu
lành thú độc (Xuân Diệu) hay Chưa gặp em mà đã biệt ly/ hồn anh theo dõi bóng em đi
(Hàn Mặc Tử)… thì chữa bằng định là tốt nhất. Ngƣời trí thức, cóp nhặt gom góp, tự hào
vì “đãy sách” của mình, thì chữa bằng tuệ để khống chế, hàng phục triệu chứng “si”
trƣớc. Khi tuệ sáng ra thì tự dƣng thấy cần phải giới, cần phải định. Nhƣng trong cả ba
thứ thuốc đó, căn bản nhất theo tôi vẫn là định. Vì có định mới đạt tới vô ngã, mới diệt
đƣợc “thọ tƣởng”, mới không còn phân biệt, chấp trƣớc. Lão Tử bảo nhìn ngƣời đạt đạo
thấy họ “độn độn hề”- nghĩa là thấy họ có vẻ “khù khờ” thế nào ấy- bởi họ đã khác, đã vô
tranh, đã vô sinh rồi vậy!

Nếu bài học đầu tiên Phật dạy là đói ăn khát uống, nặng về Giới thì bây giờ bài học thứ
hai là về Định. Từ “Phật cáo Tu Bồ Đề” đến “…tức phi Bồ tát”, có sự nhất quán, trải dài
tiến trình thiền định, từ dục giới, sắc giới rồi vô sắc giới, rồi vƣợt qua tất cả để cuối cùng
đạt đến diệt thọ tƣởng định, còn gọi là “cửu thiền”, bậc thiền thứ chín! Nghe cứ y nhƣ
“Độc cô cửu kiếm” mà bí quyết nằm ở chỗ các chiêu thức linh hoạt dính kết không tách
rời từ hữu chiêu đến vô chiêu cuồn cuộn nhƣ nƣớc chảy mây trôi, không kẽ hở, đến một
lúc chiêu thức không còn mà chỉ còn kiếm ý, không thấy có ta có ngƣời nữa mới thật
sảng khoái, mới thật là… tuyệt chiêu! Lúc đó thì đúng là “năng sở song vong”, trâu cũng
mất mà ngƣời chăn cũng không còn! Hãy đến rồi biết! Đừng nói suông. Phật đã dạy nhƣ
vậy. Khó thay!

Dĩ nhiên còn có nhiều tầng lớp ý nghĩa khác nữa cần đƣợc trải nghiệm để tự khám phá, tự
phát hiện. Đó là cái mà trong kinh Phật gọi là “vô lƣợng nghĩa”! Gƣơm báu trao truyền ở
đây chính là khả năng “phá chấp”. Khi còn chấp, nghĩa là còn cột chặt vào một nghĩa cố
định nào đó là hãy còn “trụ”, còn dính, còn mắc, sao đạt đƣợc cái gọi là “ƣng vô sở trụ
nhi sanh kỳ tâm”? Một chiêu “phá kiếm thức” trong “Độc cô cửu kiếm” của Lênh Hồ
huynh đệ vung lên đủ phá kiếm trận của mƣời lăm cao thủ võ lâm đang vây hãm chàng.
Khi đạt đến vô chiêu, chắc còn kinh thiên động địa hơn nữa! Phá kiếm thức chỉ là một
chiêu đơn giản của “phá chấp” thôi! Vào một lúc nào đó ta sẽ cảm nhận, sẽ khám phá
thêm, sẽ “ngộ” thêm nhiều tầng lớp ý nghĩa khác nữa. Điều quan trọng là thực hành, là
khám phá, là phát hiện qua sự thể nghiệm, trải nghiệm riêng mình. Chính ở đó, mới biết
thế nào là không thể nói đƣợc (bất khả thuyết), không thể bàn luận đƣợc (bất khả tƣ
nghì)! Ngôn ngữ cũng đành “bó tay” vậy!

(trích “Gươm Báu Trao Tay”, viết về Kim Cang Bát nhã)
                                                                                        40




Lõm Bõm
Đỗ Hồng Ngọc

Prajna và Prana

Prajna và Prana là một. Nhƣ E=mc². Là một. Prajna là Trí tuệ Bát nhã, còn Prana là
Nguồn sống. Có Prana mới có Prajna và có Prajna thì có Prana.
Prana nguồn sống, từ cõi lặng, quãng lặng, trƣớc hơi thở vào. Và nếu nối liền quãng lặng
đó với nhau, liên tục, miên mật, ta có quãng dừng. Ở đó, cái gọi là chết. Hóa ra Chết là
Nguồn sống, cái gốc của sự sống.
Pra là trƣớc, Ana là hơi thở vào, là thở. Trƣớc cái thở là cái gì? Là cái chƣa cần… thở! Là
cái bào thai. Cái « Nhƣ lai tạng ».

Và chỉ khi ta hiểu rõ Prana, vui đùa tung hứng với Prana, ta có Prajna, Bát nhã. Bát nhã là
phiên âm của Prajna từ Phạn ngữ. Một thứ trí tuệ đặc biệt. Đặc biệt vì nó chẳng phải là trí
tuệ. Nó tự có, không qua tìm kiếm, biện biệt, so sánh, tính toan, học hỏi. Nó là cái biết
của trẻ thơ, hồn nhiên, trong sáng và từ đó, thanh tịnh.
Pra là trƣớc, Jna là sự hiểu biết. Trƣớc cả sự hiểu biết. Ấy là tuệ giác. Trực nhận. Hiện
tiền: cái hiện ra trƣớc sự biết. Ấy là Trí, là Tuệ, là Bát nhã.
Prana dẫn tới Prajna. Khi Prajnã mà Paramita thì lại gặp Prana.

Paramita

Nói vật chất là năng lƣợng và năng lƣợng là vật chất chƣa đủ, cũng nhƣ « E=m » thì còn
thiếu „c²‟. Phải qua bờ bên kia (Paramita) thì vật chất mới thành năng lƣợng và ngƣợc lại
đƣợc. Cũng là một thôi. Là một nhƣng trong điều kiện này thì là năng lƣợng, điều kiện
kia thì là vật chất. Duyên sinh cả thôi. Thực tƣớng Vô tƣớng ở đó. Vô lƣợng nghĩa ở đó.
Và « nhƣ nhƣ bất động » ở đó. Paramita, cái cầu để qua bờ bên kia. Prajna paramita,
phiên Bát nhã Balamậtđa từ Phạn. Prajna paramita thì cũng Prana paramita. Có khi ở hẳn,
có khi lại về. Cho nên Gate, Gate, Yết đế yết đế… mới là câu thần chú, minh chú: Qua đi,
qua đi… cũng là Về đi, về đi… đó vậy!

Sắc thọ tưởng hành thức

Sắc thân và Sắc tâm.
Sắc trong ngũ uẩn là sắc của tâm. Sắc có trƣớc. Không sắc chẳng tâm. Không tâm chẳng
sắc. Sắc dẫn tới thọ. Thọ dẫn tới tƣởng, rồi hành, rồi thức… Vô minh, hành, thức… Cứ
thế chằng chịt. Cứ thế quấn quít. Sắc là vô minh. Thọ là vô minh. Tƣởng là vô minh. Thọ
tƣởng mới sinh sự. Ái, Thủ, Hữu… này khác. Sinh sự thì sự sinh.
« Diệt thọ tƣởng định » là định quan trọng. Một kỹ thuật. Thọ không khởi, Tƣởng sẽ
không khởi (vô sinh). Sắc thọ tƣởng hành thức đƣợc xếp theo một quy trình, một tiến
                                                                                       41


trình đó vậy. Thật ra Tứ đại mới là Sắc-thân, còn Ngũ uẩn chính là Sắc-tâm. Nói khác đi,
ngũ uẩn là Tâm. Cho nên « ngũ uẩn giai không » là tâm Không. Còn Tứ đại kệ nó. Cứ
cho nó lắc lƣ bay nhảy theo kiểu chơi của nó, sanh bệnh lão tử của nó. Tha hồ.

Thường Lạc Ngã Tịnh

Từ Vô thƣờng, Khổ, Vô ngã, Bất tịnh… lăn lóc, lang thang, trôi nổi – luân hồi – bỗng
gặp Thƣờng, Lạc, Ngã, Tịnh! Vô thƣờng trở thành Thƣờng, Khổ trở thành Lạc, Vô ngã
trở thành Ngã và Bất tịnh trở thành Tịnh. Không khó. Nó chỉ là mặt bên kia, bờ kia, phía
kia. Lý thú : nó bất nhị bởi nó vô tƣớng, vô ngã!
Hoa nở rồi tàn, trăng tròn rồi khuyết, sanh bệnh lão tử. Vô thƣờng quá đi chứ, nhƣng cứ
đời đời kiếp kiếp đều đặn, lặp đi lặp lại nhƣ vậy hoài chẳng hóa ra là thƣờng ƣ ? Lạc làm
sao có nếu không thấy biết Khổ chính là “nguồn lực”? Cho nên luân hồi sinh tử chính là
Niết bàn đó vậy. Sóng ngàn đời về đâu ? Nƣớc ngàn đời về đâu ? Thân tứ đại ngũ uẩn
tƣởng là bất tịnh mà tịnh quá đi chứ, đàng sau kia là bao nhiêu nguyên tố chẳng đổi dời?
Khi Phật không cần “phƣơng tiện” nữa- thì nói trắng ra “Thƣờng, lạc, ngã, tịnh” đó thôi.
Đều “Nhƣ lai tạng” cả mà !




Lõm bõm (2)
Chúng sanh

« Chúng sanh tức phi chúng sanh thị danh chúng sanh » (Kim Cang). Chúng sanh tức
chẳng phải chúng sanh nên mới gọi là… chúng sanh. « Tức phi / thị danh » thật tuyệt vời
! Để thấy cái không phải, thấy cái giả danh, tạm gọi. Một thứ ngôn ngữ giúp ly niệm, bỏ
khái niệm để đến cái không phân biệt, ly tƣớng. Và từ đó thấy thực tƣớng vô tƣớng.
Cho nên nói chúng sanh là… chúng sanh thì sai. Nói chúng sanh không phải là chúng
sanh cũng sai. Hiểu chúng sanh là con ngƣời, là mọi sinh vật – đúng và sai. Vì có rất
nhiều loại chúng sanh. « Vô số vô lƣợng vô biên » chúng sanh kia mà! Để ý hai chữ « vô
biên » mà coi. Nó lạ chứ. Bởi không chỉ là số và lƣợng để có thể cân đong đo đếm, dù
không thể cân đong đo đếm xuể !

Cho nên « tùy chúng duyên nhi sanh » thì nghe đƣợc. Tùy « chúng » duyên với nhau mà
« sanh » ra nên gọi là « chúng sanh » thế thôi. Nếu không duyên, hết duyên, thì hết «
chúng sanh» tức khắc. «Diệt độ» vô số vô lƣợng vô biên chúng sanh mà chẳng có chúng
sanh nào đƣợc diệt độ cả là vậy. Không sanh lấy gì diệt ?
Nhƣng, cách nào? Phải sống trong Vô ngã, vô tƣớng. Khi không còn ngã tƣớng, ngã kiến:
ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả… gì nữa ! Ở một nơi không có ta, không có ngƣời, chúng
sanh, thọ giả thì không còn một chúng sanh nào « sinh sự » đƣợc nữa.
Ở đâu, nơi đó? Thiền. Định (samatha) và Quán (vipassana).

« Thức tự tâm Chúng sanh
Kiến tự tâm Phật tánh »
                                                                                       42


Chúng sanh không có ở ngoài. Nó ở trong tâm. Trong tự tâm. Nó bày ra, dựng lên, vẽ vời
trong tự tâm ta.
Thức là cái biết do biện biệt, phân tách, đối chiếu, so sánh. Thức tràn ngập, hỗn mang.
Thế giới phẳng, toàn cầu hóa, thức càng điên đảo. Thức nhiều khi từ tƣởng mà ra, nhƣng
cần. Chẳng hạn cần thức để thấy chúng sanh ngọ ngoạy tràn ngập trong tự tâm ra sao. Nó
ngọ ngoạy vì nó muốn quậy phá, muốn luân hồi, bay nhảy từ tầng này sang tầng khác,
sáu nẻo thênh thang, chút vầy chút khác ra sao.
“Thức” nó, nghĩa là thấy rõ, hiểu rõ về nó, phân tách nó ra một cách thấu đáo, hóa ra nó
do ta tự tạo ra, không ai khác, là một thứ puzzle, lắp ghép, tƣơng tác. Tự tâm ta mà chúng
sanh ra. Khi rõ vậy rồi thì thôi. Dẹp đi.
Khi dẹp nó đi thì không còn cần “thức” nữa. Mây tan rồi thì trời trong trăng sáng.
Lúc đó vằng vặc gƣơng soi.
Và lúc đó là “Kiến”. Thấy. Thấy rõ. Chiếu Kiến.
Và Kiến gì ? Kiến “Phật tánh”.
Phật tánh cũng lại ở ngay trong tự tâm ta. Không ở ngoài đến.
Ai cũng có. Cho nên ai cũng sẽ là Phật, một khi « thức tự tâm chúng sanh thì sẽ kiến tự
tâm Phật tánh ». Vậy thôi.

Trí và Thức

Thức dễ dẫn đến tranh chấp, đƣợc thua, hơn kém, thị phi. Thức từ lục căn với lục trần mà
sinh sự. “Nhãn nhỉ tỷ thiệt thân ý” ve vãn với “Sắc thanh hƣơng vị xúc pháp” mà sinh đủ
thứ thức. Nhãn thức đã đủ mệt. Mỗi ngƣời một nhãn thức khác nhau, nên mới sinh sự,
đấu đá. Còn Ý thức thì vô tận và mới thật ghê gớm vì ý dẫn đầu các pháp. Cho nên nếu
không có cách kềm chế, chúng tung hoành gieo rắc… đủ thứ!
Một khi lục căn mà thanh tịnh, thức sẽ trở thành Diệu quan sát trí. Diệu quan sát trí sẽ
cung cấp những chất liệu chọn lọc an hòa cho Bình đẳng chánh trí (Mạt na thức đã đƣợc
chuyển hóa) và cuối cùng là Đại viên cảnh trí hay Nhất thiết chủng trí, từ Alaiya thức
chuyển sang. Con đƣờng khó, nhƣng đƣợc, nếu rèn luyện.

Nhẫn nhục

Nhục mà cũng nhẫn đƣợc thì khó, khó quá. Khó quá làm đƣợc thì các nhẫn khác cũng sẽ
đƣợc. Trong lục độ thì bốn thứ Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn thuộc Giới. Hai thứ
còn lại là Định và Tuệ. Vì thế, Giới quan trọng biết bao. Nhƣng giới định tuệ là một tam
giác cân, hai chiều, tác động qua lại. Định dẫn đến Tuệ, rồi Tuệ lại dẫn đến Định, Giới.
Lòng tham mới là gốc. Tham dẫn đến sân, si. Tham dẫn đến chấp, thủ. Tham tạo ra ngạ
quỷ, địa ngục…
Nhẫn nhục là một đức, một hạnh, cớ sao cho vào lục độ, ngang với thiền định, trí tuệ?
Bởi vì không có nhẫn nhục thì các thứ khác khó mà hình thành. Ngƣời ta không thể tu
hành gì nếu thiếu nhẫn nhục vậy.



Lõm Bõm (3)
Phật
                                                                                      43


Có vô số Phật. Hằng hà sa số chƣ Phật. Không nơi nào không có Phật. Không thời nào
không có Phật. Chỉ cần « ly nhất thiết tƣớng tức danh chƣ Phật » (Kim Cang).
Phật là ngƣời giác ngộ. Chúng sanh là Phật « chƣa giác ngộ ». Nhƣng không giác rồi
cũng phải giác. Sẽ phải giác. Cũng phải ngộ, sẽ phải ngộ. Vì Phật và chúng sanh đồng
nhất thể. Sớm hay muộn mà thôi. Cùng một hạt giống cả! Nhƣng Phật (Thích Ca) giác
ngộ sớm nên giải thoát sớm, tìm ra đƣờng đi (Đạo) để giúp ngƣời với lòng từ bi vô lƣợng.

Giác ngộ thành Phật chỉ cần « ly tƣớng » thôi ƣ ? Phải. Ly tƣớng. Ly tất cả (nhất thiết)
tƣớng. Bởi muốn thấy biết (tri kiến) đƣợc Tánh, Chân nhƣ, Bản lai diện mục, Thực tƣớng
vô tƣớng… gì gì đó thì phải ly tƣớng. «Tƣớng » chỉ là cái « trình hiện » bên ngoài, cái «
thị hiện », cái giả danh… chơi vậy thôi. Cái « thực » nằm ở đằng sau, bên kia cái tƣớng,
bên ngoài cái tƣớng kìa. Thực ra, vẫn có tƣớng đó, nhƣng mà là cái tƣớng không. Duyên
sinh. Chân không mà diệu hữu.
Ly tƣớng không phải trốn chạy mà là thấy tƣớng không phải tƣớng, « kiến tƣớng phi
tƣớng ». Nói khác đi, thấy biết Nhƣ lai.
Tƣớng và tánh quấn quít nhau. Tƣớng đó thì tánh đó, tánh đó thì tƣớng đó. Ly tƣớng mà
vẫn ở trong tƣớng. Ở trong tƣớng mà vẫn ly tƣớng. Sống nhƣ lai, ăn nhƣ lai, ngủ nhƣ lai,
ở nhà nhƣ lai, mặc áo nhƣ lai…
Cho nên Phật cƣời. Cƣời tủm tỉm. Vui mà từ bi, mà an lạc.

Như Lai

Phật là Nhƣ Lai nhƣng Nhƣ Lai không phải Phật. Nhƣ Lai là Nhƣ Lai. Không từ đâu đến,
chẳng đi về đâu. « Vô sở tùng lai diệc vô sở khứ ». Có khi Phật và Nhƣ Lai nhập làm
một, có khi tách làm hai, ngồi vào hai ghế chơi. Nhƣng, hai mà một, một mà hai. Tùy lúc.
Đừng mong dùng âm thanh ánh sáng… mà thấy Nhƣ Lai. Nhƣ Lai thấy qua cách khác.
Thấy bằng tƣớng thì không sao tìm đƣợc Nhƣ Lai vậy. Phải « kiến tƣớng phi tƣớng » mới
đƣợc (kiến tƣớng phi tƣớng tức kiến Nhƣ Lai). Nên không thể dùng tri thức mà thấy. Phải
ở trong định, trong vô ngã. Có một thứ định, đi đứng nằm ngồi đều cùng Nhƣ Lai, với
Nhƣ Lai. Phật hằng hà sa số trong khi Nhƣ Lai chỉ có một. Có một mà muôn vàn. Thị
hiện vô vàn trong sắc, dìu dặt trong tiếng, ngan ngát trong hƣơng…
Khi chàng thi sĩ hỏi ngƣời đẹp xƣa của tôi đâu rồi, chỉ còn cánh hoa đào năm ngoái đây
thôi thì gió Đông đã cƣời vào mũi chàng : Hoa đào năm ngoái ƣ ? Hoa đào năm ngoái
nào ? Chỉ có hoa đào đời đời kiếp kiếp đó thôi ! Ngƣời đẹp cũng vậy. Vẫn là ngƣời đẹp
đời đời kiếp kiếp đây thôi. (Nhân diện bất tri hà xứ khứ/ Đào hoa y cựu tiếu Đông phong.
Thôi Hộ)
Bởi đó là Nhƣ Lai. Không đi không đến. Phải thoát cái ngã. Phải vƣợt cái tƣớng. Mới
thấy « Nhƣ Lai thọ lƣợng » vậy.

Phương tiện

Tuyệt vời thay cho phƣơng tiện ! Nhìn Phật mà không thấy phƣơng tiện, nghe Phật mà
không thấy phƣơng tiện, chẳng tiếc lắm ru ?
Với năm đệ tử đầu tiên, cũng là bạn đồng hành ngày xƣa, Phật chỉ cần nói Tứ diệu đế.
Bởi họ đã có đủ chất liệu, đang tu khổ hạnh. Chỉ cần « chỉ trăng » họ thấy ngay. Khổ Tập
Diệt Đạo là đã đủ. Triệu chứng: Khổ. Nguyên nhân: Tại sao khổ. Trị liệu cách nào ? Con
                                                                                         44


đƣờng (Đạo) phải thấy đúng (chánh kiến) trƣớc rồi mới nghĩ đúng (chành tƣ duy), nghĩ
đúng rồi mới làm đúng…. Chỉ cần giới định tuệ đủ dứt bệnh tham sân si. Một thứ điều trị
đặc hiệu. Nhƣng khi cần tới Bát Nhã thì có Bát Nhã. Nhân vô ngã mà pháp cũng vô ngã.
Qua sông bỏ bè. Rồi cần tổng hợp, cần nâng cao đã có Thƣờng Lạc Ngã Tịnh. Cần cho
thấy Nhƣ Lai thì trợn mắt chiếu hào quang, giữa chặn lông mày… Khi nói chuyện với
đám thanh niên thì có “thần tƣợng” Duy Ma Cật, đại gia, không cần xuống tóc, xuất
hiện…
Ngũ uẩn cũng là một phƣơng tiện. Thị hiện vậy thôi.

Tùng địa dũng xuất

Từ đất vọt ra. Đất nào ? Cái gì vọt ra ? Đất tâm. Tâm địa. Vọt ra cái sự gọi là “phát tâm”
muốn làm Phật, muốn thành Phật, “ vô thƣợng chánh đẳng chánh giác” chứ không bằng
lòng với A-la-hán, Bích chi, Duyên giác, Bồ tát… Có phát tâm thì mới nhẫn nhục, tinh
tấn, thiền định, trí tuệ… và dĩ nhiên sẽ có “ tri kiến” Phật sau khi đã đƣợc “khai thị” mà
“ngộ nhập”.
Nhƣng hình nhƣ không chỉ vậy. Nhìn kỹ lại mới thấy thân xác con ngƣời cũng “tùng địa
dũng xuất” (từ đất vọt ra) đó thôi. Ít nhất cái thân tứ đại đất nƣớc gió lửa (C,H,O,N) cũng
từ đất, tạng đất. Bởi trong cơ thể con ngƣời đã có 60-70% thể trọng là nƣớc, có 60
nguyên tố, khoáng chất đều từ đất mà ra gồm đồng, chì, sắt, kẽm, mangan…, các loại
muối K, Na… Một ngƣời nặng 70kg đã có 10kg là Calci (vôi), 7 kg Phospho, 1kg muối
(Natri)…
Không “tùng điạ cũng xuất” ƣ?

Đỗ Hồng Ngọc
(Tháng 7.2011)




“Già thêm chút nữa…”
Đỗ Hồng Ngọc

Nhà văn Võ Hồng ở Nha Trang là một ngƣời đặc biệt hóm hỉnh. Cách đây mƣơi năm, vào
tuổi 80, ông kể tôi nghe chuyện ngƣời ta tổ chức buổi lễ mừng thọ tuổi bảy mƣơi của ông
rất trang trọng, ai cũng nhắc câu “thất thập cổ lai hy”… Khi đứng lên đáp từ, ông làm bộ
đƣa tay sờ vào cổ mình và kêu lên đúng là thất thập “cổ” lai hy, rồi ông lần tay xuống
ngực: lục thập “ngực” lai hy, ngũ thập… “bụng” lai hy, và … tứ thập… Mọi ngƣời phát
hoảng rồi cƣời ầm lên sảng khoái!
Tƣởng đùa mà thật! Tuổi 60 dễ có những vấn đề tim mạch, tuổi 50 thì gặp những vấn đề
tiêu hóa, còn tuổi 40, rõ ràng đã nghe những trục trặc, lôi thôi của gió heo may, “trên bảo
dƣới không nghe” … nhƣ bây giờ ngƣời ta thƣờng nói.
                                                                                         45


Khi tôi gởi ông bản thảo “Già ơi… Chào bạn!”, ông cƣời bảo sau già ơi chào bạn anh sẽ
viết tiếp cái gì đây? Có vẻ ông đang tủm tỉm “Chết ơi… chào em!” chăng?
Nhƣng ông lầm. Sau cái già ơi, ngƣời ta chỉ già thêm chút nữa! Sau già thêm chút nữa
ngƣời ta lại già thêm chút nữa… nữa, rồi lại già thêm chút nữa nữa nữa… Cứ thế. Nhƣ
bác sĩ Dƣơng Cẩm Chƣơng trả lời tôi năm ngoái: “Chú cảm thấy thế nào trong buổi
mừng đại thọ 100 tuổi của chú hôm nay?”. Ông đáp gọn lỏn “Thấy già thêm chút nữa.”
Rồi tủm tỉm cƣời, hơi móm mém một chút so với mấy năm trƣớc. Hổm giờ tôi bận, chƣa
có dịp đến thăm ông. Nay ông đã 101 tuổi rồi. Già thêm chút nữa rồi! Bác sĩ Thân Trọng
Minh, cháu ông, phone tôi báo ông đã hôn mê, bệnh viện ghi “agonisant” (hấp hối) cho
về. Hôm kia, hỏi thăm Minh, anh bảo ông Cụ giờ lại khỏe lại. Khi đƣa ông về, ngƣời nhà
mời thầy đến tụng kinh. Ông bỗng ngồi dậy quát hỏi đứa nào bày đặt tụng kinh, muốn
cho tao chết sớm hả? Mọi ngƣời một phen hoảng vía. Nay thì ông đã tỉnh hẳn, chỉ già
thêm chút nữa thôi, vẫn ngồi tiếp Phạm Văn Hạng đến nói chuyện về hội họa…
Ủa, còn cái “Chết ơi… chào em!” thì sao? Làm gì có cái chết! Cái chết là của ngƣời
khác. Làm gì có cái chết riêng mình. Cái chết của ta nếu có thì cũng ngƣời khác biết chứ
ta đâu có biết? Nói khác đi, ta chẳng chết bao giờ. Không có chuyện chết với ta! Thực ra,
ta đã và đang chết từ lúc sinh ra, chết mỗi phút giây, rồi phục sinh, rồi chết, để cuối cùng
là đi vào “Nhƣ Lai thọ lƣợng”, nghĩa là vô lƣợng thọ, “tathagata”, không mất đi đâu cả!
Thử xem: cứ mỗi giây, có hằng trăm triệu hồng cầu tự hủy diệt đi để tạo ra hằng trăm
triệu hồng cầu mới; cứ mỗi năm ngày, hằng tỷ tế bào nhung mao ở ruột đƣợc thay thế bởi
hằng tỷ tế bào nhung mao mới… Không có lúc nào ngừng nghỉ cái sự thay đổi đó cả,
ngay trong cơ thể ta, trong mỗi sát-na. Còn cái không khí ta hít thở chẳng qua là tự động
chạy vào chạy ra trong cơ thể mình, vẫn cứ y nguyên nhƣ thế hằng triệu triệu năm qua,
chẳng cần biết có ta, chẳng là ta, chẳng của ta. Nó cứ lạnh lùng vào ra nhƣ thế hết đời này
đến đời khác. Nó chẳng quan tâm ta đang đau khổ hay hạnh phúc, ta đang đƣợc yêu
thƣơng hay đang… thất tình. Còn cái khối “tứ đại” 60 nguyên tố đồng chì sắt kẽm
mangan, ma-nhê, phospho, vôi vữa… kia cứ mãi còn đó, nhào nặn triền miên. Lá cứ rụng
rồi lá cứ xanh. Hoa cứ nở rồi hoa cứ tàn. Trăng cứ tròn rồi trăng cứ khuyết…
Cho nên, chỉ già thêm chút nữa, rồi già thêm chút nữa… nữa với mỗi ngƣời, thế thôi.


Về thăm Tịnh xá Trí Hải
• Thứ Sáu, Tháng Sáu 17th, 2011

Ghi chú:
Lâu lắm, từ ngày Ni sƣ Trí Hải mất đi, tôi mới có dịp trở lại thăm ngôi tịnh xá của Sƣ ở
Hốc Môn theo lời mời của Ni cô Tuệ Dung, đệ tử của Sƣ. Ngôi tịnh xá đơn sơ mái lá
ngày nào nay đã đƣợc các đệ tử xây cất lại, trang nghiêm và thanh thoát. Chỉ tiếc không
còn mái “lƣơng đình” vuông vắn ở góc vƣờn là nơi xƣa kia tôi thƣờng đến thăm Sƣ, đàm
đạo, tham vấn, học hỏi. “Đàm đạo” với Sƣ vui lắm, không chỉ nói chuyện kinh sách mà
còn là chuyện văn chƣơng thi phú, chuyện các nhân vật gần xa từ Kim Dung, đến Bùi
Giáng, Nguiễn Ngu Í, Trần Ngọc Ninh, Tuệ Sỹ… đến Không Lộ thiền sƣ, Huệ Năng lục
tổ…

Tôi biết sƣ Trí Hải từ lâu, từ hồi cô còn là Phùng Khánh, dịch giả Câu chuyện dòng sông
của Hermann Hess (cùng với Phùng Thăng),1966. Đó là cuốn sách mà đến nay thỉnh
thoảng tôi vẫn còn đọc lại. Cô cũng là ngƣời mà khi viết xong cuốn Nghĩ Từ Trái Tim tôi
                                                                                     46


liền gởi bản thảo viết tay đến nhờ đọc, góp ý. Ngay sáng hôm sau, cô đã phone bảo tối
hôm đó Hốc Môn cúp điện, cô đã phải đốt đèn cầy mà đọc suốt đêm thứ “chữ bác sĩ” thế
này! Cô bảo đƣợc lắm, khuyên nên in ra đi, sẽ giúp ích đƣợc cho nhiều ngƣời đó. Rồi cô
đọc cho tôi nghe một bài viết của cô về Có Không. Cô cũng góp ý cho tôi vài điểm ở
phần kết của cuốn sách.
Về thăm tịnh xá Trí Hải ở Hốc Môn lần này còn có Thầy Hạnh Bảo – là một ngƣời cháu
của Sƣ- vừa ở Đan Mạch về và nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khƣơng, chị em chú bác ruột của Sƣ.
Tôi đã có dịp nhắc lại những kỷ niệm về Sƣ thuở sinh tiền, những điều tôi học hỏi đƣợc ở
Sƣ cho các vị đệ tử Sƣ nghe. Thầy Hạnh Bảo cũng có một bài pháp thoại ngắn. Buổi họp
mặt chân tình và ấm áp. Thế nhƣng, hôm đó tôi chƣa có dịp nói cho các cô nghe về bài
thơ tôi viết tặng Sƣ (2003) và bài họa của Sƣ ( đã in trong bản thảo Ngọa bệnh ca 2, Trí
Hải). Hai bài thơ này cũng đã đƣợc nhà thơ Trụ Vũ viết thành thƣ pháp trƣng bày ở
Thiền viện Vạn Hạnh năm đó trong cuộc triển lãm của ông.
Nay xin “post” lại đây để chia sẻ cùng bè bạn và các vị đệ tử của Sƣ nhƣ một kỷ niệm.
Đỗ Hồng Ngọc
(12.5.2011)

Có Không
Kính tặng Ni Sư Trí Hải

Có có không không có có không?
Không không có có có không không?
Âm vang một tiếng hƣ không lạnh
Lấp lánh ngàn hoa nguyệt ánh lồng!
Tuyết cũ năm nao còn lắng đọng
Hƣơng xƣa ngày đó đã mênh mông…
Áo ai thấp thoáng bên bờ giậu
Vẫn có mà không chút bụi hồng…
Đỗ Hồng Ngọc
(9.5.2003)

Có không mê giác
(họa thơ Bs Đỗ Hồng Ngọc)

Có cũng không mà không cũng không
Giác mê mê diệt: giác không không
Thấy danh thực hữu: mê dƣờng có
Xem lợi hƣ vô: giác đã lồng
Vƣớng có, khổ đau càng thống thiết
Chấp không, tội nghiệp cũng mênh mông
Ngộ tâm ấy Phật, ly trần cấu
Rừng tía không xa chốn bụi hồng.
TRÍ HẢI
(Ngọa bệnh ca 2)
47

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Tags:
Stats:
views:29
posted:12/31/2011
language:
pages:47
Description: B�i Viết Về Kinh Kim Cương Của BS Dỗ Hồng Ngọc