Embed
Email

UBND T?NH �?NG NAI

Document Sample
UBND T?NH �?NG NAI
Shared by: HC111205015830
Categories
Tags
Stats
views:
8
posted:
12/4/2011
language:
Vietnamese
pages:
79
ỦY BAN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH ĐỒNG NAI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc



Số: 7253 /BC-UBND Biên Hòa, ngày 8 tháng 9 năm 2010





BÁO CÁO

KẾT QUẢ THỰC HIỆN 12 CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH ĐỒNG NAI GIAI ĐOẠN 2006 - 2010







A. KẾT QUẢ THỰC HIỆN 12 CHƯƠNG TRÌNH

* NHÓM CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ MÔI

TRƯỜNG:

I. CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM CÔNG NGHIỆP

CHỦ LỰC:

1. Tình hình triển khai thực hiện

- Chương trình được Ban hành tại Quyết định số 955/QĐ-UBND ngày

18/04/2007 của UBND tỉnh Đồng Nai về việc phê duyệt Chương trình phát triển

các sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006-2010.

- Thành lập Ban Chỉ đạo và kế hoạch triển khai chương trình: tỉnh đã thành

lập Ban Chỉ đạo Chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của

tỉnh, xây dựng Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo, xây dựng kế hoạch

triển khai thực hiện, thành lập Tổ chuyên viên giúp việc.

- Tổ chức tuyên truyền Chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp

chủ lực của tỉnh trên website của Sở Công thương, công bố Quy định hỗ trợ doanh

nghiệp tham gia Chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của

tỉnh giai đoạn 2006-2010; Quy định về thủ tục và hồ sơ đăng ký tham gia chương

trình để các doanh nghiệp truy cập đăng ký tham gia chương trình.

- Tổ chức triển khai: năm 2008 có 9 doanh nghiệp đăng ký tham gia chương

trình, năm 2009 có 24 doanh nghiệp đăng ký tham gia, năm 2010 có 12 doanh

nghiệp đăng ký.

- Kinh phí thực hiện: năm 2008 tổng kinh phí hỗ trợ theo đăng ký tham gia

chương trình của doanh nghiệp là 861,5 triệu đồng (Trong đó: lĩnh vực khoa học

công nghệ 551,5 triệu đồng, lĩnh vực xúc tiến thương mại 310 triệu đồng). Năm

2009, có 24 doanh nghiệp đăng ký tham gia với tổng kinh phí dự kiến là 3,3 tỷ

đồng. Năm 2010 có 12 doanh nghiệp đăng ký với tổng kinh phí dự kiến là 2 tỷ

đồng.

2. Kết quả đạt được

Giai đoạn 2006 - 2010, ước tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp

bình quân của 16 nhóm sản phẩm công nghiệp chủ lực tăng 20%/năm, đạt mục tiêu

chương trình đề ra và tăng cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị sản xuất

công nghiệp toàn ngành công nghiệp (toàn ngành tăng 18,1%/năm). Tình hình phát

triển và cơ cấu từng nhóm sản phẩm công nghiệp chủ lực như sau:

- Thức ăn chăn nuôi: tốc độ tăng trưởng bình quân 26,6%/năm. Đây là nhóm

chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu 16 nhóm sản phẩm công nghiệp chủ lực,

chiếm 18,2% nên đã tác động mạnh đến tăng trưởng chung của 16 nhóm sản phẩm

công nghiệp chủ lực.

- Giày dép và sản xuất phụ kiện: tốc độ tăng trưởng bình quân đạt

15,9%/năm, chiếm tỷ trọng 13% trong 16 nhóm sản phẩm công nghiệp chủ lực.

Tốc độ tăng trưởng chậm so với với mức bình quân chung của ngành do trong giai

đoạn 2006-2007, ngành giày dép chịu ảnh hưởng chung của cả nước về tình hình

ngành giày dép trong nước bị áp thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng giày mũ

da Việt Nam kể từ đầu năm 2006 đối với thị trường EU, làm ảnh hưởng đến năng

lực sản xuất của toàn ngành giày dép Việt Nam nói chung và ngành giày dép Đồng

Nai nói riêng. Tiếp đến giai đoạn 2006-2009, ảnh hưởng cuộc suy kinh tế thế giới

làm ảnh hưởng đến khả năng sản xuất kinh doanh của ngành hàng nên tốc độ tăng

trưởng bình quân giai đoạn 2006-2010 tăng thấp so với toàn ngành.

- Vải sợi các loại: tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 20,4%/năm, chiếm 11,8%

trong cơ cấu 16 nhóm. Là ngành có tăng trưởng khá (cao hơn so với tốc độ tăng 16

nhóm). Do ngành dệt vải sợi là ngành có vốn đầu tư lớn, trong những năm qua do

tình hình biến động của giá nguyên liệu trên thị trường thế giới, nhất là sản phẩm

sợi tổng hợp có nguồn gốc từ dầu mỏ, nhiều doanh nghiệp cân nhắc trong mở rộng

sản xuất và ngành dệt cũng có sự cạnh tranh gay gắt của thị trường trong và ngoài

nước, một số doanh nghiệp gặp khó khăn về thị trường xuất khẩu.

- Sản phẩm chế biến từ gỗ các loại: tốc độ tăng trưởng bình quân 24%/năm,

chiếm 9,5% trong cơ cấu 16 nhóm. Ngành gỗ là ngành mà những năm qua có tốc

độ tăng trưởng nhanh do mở rộng thị trường và thu hút mạnh đầu tư.

- Sản xuất linh kiện điện tử và máy móc thiết bị điện tử tin học, viễn thông:

tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 11,9%/năm, chiếm 7,2% trong cơ cấu 16 nhóm.

Tốc độ tăng trưởng của ngành so với tốc độ tăng trưởng chung của 16 nhóm là khá

thấp, nguyên nhân do giai đoạn 2008-2009 công ty sản xuất linh kiện điện tử lớn

như Fujitsu bị giảm mạnh đơn đặt hàng từ công ty mẹ tại Thái Lan, đồng thời

những sản phẩm của nhóm này bị cạnh tranh khá gay gắt của các sản phẩm từ

Trung Quốc.

- Ô tô, xe máy và sản xuất linh kiện, phụ tùng: tốc độ tăng trưởng bình quân

đạt 26,7%/năm, chiếm tỷ trọng 7% trong 16 nhóm sản phẩm công nghiệp chủ lực.

- Nhóm nhựa và các sản phẩm từ nhựa: tốc độ tăng trưởng bình quân đạt

27,6%/năm, chiếm 4,72% trong cơ cấu 16 nhóm.

- Dây và cáp điện các loại: tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 16,1%/năm,





2

chiếm 4,69% trong cơ cấu 16 nhóm. Sản phẩm của nhóm chủ yếu phục vụ nhu cầu

trong nước nên sản lượng sản xuất ổn định.

- Hóa dược và nông dược (cho người và động thực vật): tốc độ tăng trưởng

bình quân đạt 25,5%/năm, tỷ trọng của nhóm chiếm 4,63% so tổng giá trị 16 nhóm

sản phẩm công nghiệp chủ lực. Nguyên nhân tăng cao là do phát triển mạnh sản

phẩm thuốc thú y và một số doanh nghiệp mới đầu tư phát huy công suất sản xuất,

tiếp tục phát triển thị trường nội địa phục vụ cho nhu cầu trong nước, thay thế nhập

khẩu và từng bước tăng cường xuất khẩu.

- Nhóm sản phẩm bột ngọt: tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 14,8%/năm,

chiếm 4,54% so tổng giá trị 16 nhóm sản phẩm công nghiệp chủ lực.

- Nhóm sản phẩm vật liệu xây dựng (cát, đá, gạch, ngói, gạch men…): tốc độ

tăng trưởng bình quân đạt 6,6%/năm, chiếm 4,49% so tổng giá trị 16 nhóm sản

phẩm công nghiệp chủ lực.

- Quần áo may sẵn và sản xuất phụ kiện: tốc độ tăng trưởng bình quân đạt

26,6%/năm, nguyên nhân tăng cao chủ yếu do biến động giá cả vật tư, nguyên vật

liệu đầu vào, chi phí nhân công có xu hướng tăng cao trong giai đoạn này, làm giá

thành sản xuất sản phẩm tăng cao, đồng thời do hiệu quả mang lại từ việc mở rộng

thị trường khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO),

hạn ngạch được bãi bỏ ở các thị trường xuất khẩu Hoa Kỳ, EU. Tỷ trọng của nhóm

chiếm 3,65% trong cơ cấu 16 nhóm ngành sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh.

- Nhóm máy móc thiết bị điện công nghiệp (máy biến thế, động cơ điện...): tốc

độ tăng trưởng bình quân đạt 22,4%/năm, chiếm 3,1% so tổng giá trị 16 nhóm sản

phẩm công nghiệp chủ lực.

- Nhóm sản phẩm gốm, sứ (gốm mỹ nghệ, sứ dân dụng và công nghiệp): tốc

độ tăng trưởng bình quân đạt 38%/năm, chiếm 2,2% so tổng giá trị 16 nhóm sản

phẩm công nghiệp chủ lực.

- Nhân điều: tốc độ tăng trưởng bình quân 0,7%/năm, chiếm 0,64% so tổng

giá trị 16 nhóm sản phẩm công nghiệp chủ lực. Tốc độ tăng trưởng giảm do tình

hình xuất khẩu gặp nhiều khó khăn, khối lượng các đơn hàng giảm mạnh, giá

nguyên liệu, biến động tỷ giá hối đoái...

- Máy móc thiết bị nông nghiệp: tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 16%/năm,

chiếm 0,5% so tổng giá trị 16 nhóm sản phẩm công nghiệp chủ lực. Tỷ trọng của

nhóm chiếm tỷ trọng nhỏ do có rất ít nhà máy sản xuất (chủ yếu tập trung khu vực

nhà nước trung ương).

3. Đánh giá chung

3.1. Kết quả đạt được

- Chương trình góp phần phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp chủ lực

trên địa bàn tỉnh theo đúng định hướng.

- Chương trình tạo sự phát triển mạnh các sản phẩm công nghiệp chủ lực, góp







3

phần tạo động lực phát triển toàn ngành công nghiệp. Kết quả phát triển sản phẩm

công nghiệp chủ lực giai đoạn 2006-2010 đạt được mức tăng trưởng bình quân cao

hơn so với toàn ngành, tăng trưởng 20%/năm (toàn ngành công nghiệp tăng

18,1%/năm). Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp của sản phẩm công nghiệp chủ

lực đến cuối năm 2010 chiếm 75% toàn ngành.

- Chương trình đã góp phần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp quảng bá giới

thiệu sản phẩm; đào tạo nâng cao trình độ nguồn nhân lực của doanh nghiệp.

3.2. Những khó khăn, hạn chế

Mặc dù tỉnh đã tích cực triển khai thực hiện chương trình, hỗ trợ doanh

nghiệp phát triển các nhóm ngành sản phẩm công nghiệp chủ lực, tuy nhiên trong

quá trình triển khai còn gặp một số khó khăn, cụ thể như sau:

- Những biến động giá cả nguyên vật liệu, lãi suất, tỷ giá ngoại tệ, dịch bệnh

phát sinh và diễn biến phức tạp làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp. Do vậy, hầu hết các doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư thực

hiện các nội dung được hỗ trợ từ chương trình như: xây dựng Website, nghiên cứu

phát triển sản phẩm mới...

- Ảnh hưởng của suy giảm kinh tế toàn cầu năm 2009, ngành công nghiệp

Đồng Nai nói chung và các sản phẩm công nghiệp chủ lực nói riêng chịu tác động

mạnh, nhất là thị trường (cả thị trường trong nước và xuất khẩu), nên nhiều doanh

nghiệp bị giảm đơn hàng, sản lượng sản xuất giảm.

- Tiến độ triển khai Chương trình chậm do phải thực hiện nhiều thủ tục về tổ

chức, triển khai, thực hiện.

- Mức độ quan tâm của doanh nghiệp đối với chương trình: nhiều doanh

nghiệp chưa quan tâm đến chương trình, chính sách hỗ trợ của địa phương. Số

lượng các doanh nghiệp tham gia còn quá ít so với số lượng doanh nghiệp được

thông báo.

3.3. Nguyên nhân tồn tại

- Mức độ hỗ trợ từ Chương trình chủ yếu mang tính động viên, khuyến khích

doanh nghiệp, giá trị không lớn như mong đợi của doanh nghiệp, nên chưa thật sự

hấp dẫn, thu hút nhiều doanh nghiệp tham gia.

- Đối với mức hỗ trợ chi phí cơ sở hạ tầng cho doanh nghiệp đầu tư vào các

cụm công nghiệp đã được quy hoạch tại các địa bàn huyện Thống Nhất, Cẩm Mỹ,

Xuân Lộc, Định Quán và Tân Phú, có mức hỗ trợ khá cao, hấp dẫn nhà đầu tư. Tuy

nhiên, hiện nay kết cấu cơ sở hạ tầng các cụm công nghiệp này chưa được hoàn

thiện, nên chưa thể triển khai thực hiện.

- Đối với hỗ trợ lãi suất từ Quỹ bảo vệ môi trường tỉnh: hầu hết các doanh

nghiệp đăng ký tham gia Chương trình hỗ trợ đầu tư các hạng mục công trình bảo

vệ môi trường đều hoãn đầu tư các hạng mục công trình này, do hiện nay các

doanh nghiệp đang gặp khó khăn về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, hơn nữa

trong giai đoạn suy giảm kinh tế, các doanh nghiệp chủ yếu tập trung các biện pháp





4

duy trì sản xuất, ổn định việc làm cho người lao động, nên một số hoạt động đầu

tư, mở rộng phát triển sản xuất tạm thời hoãn lại, nên các doanh nghiệp này chưa

thực hiện các thủ tục hồ sơ.

- Số doanh nghiệp triển khai và hoàn tất hồ sơ hỗ trợ từ Chương trình thường

thấp so với tống số doanh nghiệp đăng ký ban đầu (năm 2009 chỉ có 14 doanh

nghiệp triển khai và hoàn tất hồ sơ trên tổng số 24 doanh nghiệp đăng ký tham gia

chương trình).

II. CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI CÂY TRỒNG, VẬT

NUÔI CHỦ LỰC

1. Tình hình tổ chức, triển khai thực hiện:

1.1. Lĩnh vực trồng trọt:

Thực hiện Quyết định số 43/2007/QĐ-UBND ngày 12/7/2007 của Ủy ban

nhân dân tỉnh về ban hành Chương trình phát triển các loại cây trồng, vật nuôi chủ

lực trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006-2010 (sau đây gọi tắt là Quyết định

43); Văn bản số 4567/UBND-CNN ngày 11/6/2008 về việc phê duyệt dự án Phát

triển cây trồng, vật nuôi chủ lực; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ

chức triển khai và phối hợp các sở ngành liên quan hướng dẫn các địa phương xây

dựng dự án Phát triển các loại cây trồng, vật nuôi chủ lực trên địa bàn; phê duyệt

dự án phát triển các loại cây trồng chủ lực trên địa bàn 9 huyện và Thị xã Long

Khánh.

Riêng thành phố Biên Hòa do đặc điểm diện tích cây chủ lực nhỏ (60 ha),

thực hiện chủ trương ngưng chăn nuôi gia súc, gia cầm (theo Văn bản số

2371/CV.UBT ngày 22/4/2005 của Uỷ ban nhân dân tỉnh); thành phố đang triển

khai thực hiện dự án quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng đến năm 2020 (xây

dựng mô hình trồng hoa lan cây cảnh, mô hình cây ăn trái phục vụ du lịch sinh

thái) nên đã có văn bản số 844/UBND-PKT ngày 08/4/2009 về việc đề nghị không

triển khai xây dựng dự án.

Sở Tài chính ban hành các Văn bản số 2348/STC-HCSN ngày 03/10/2008,

Văn bản số 262/STC-HCSN ngày 19/02/2009 về việc hướng dẫn tài chính trong

việc thực hiện Chương trình phát triển cây trồng chủ lực trên địa bàn tỉnh.

Các địa phương đã triển khai ký hợp đồng trồng mới, hỗ trợ vật tư và lắp đặt

hệ thống tưới nước tiết kiệm trên diện tích cây trồng chủ lực như sau:

- Cây xoài: trồng mới 70,1 ha (đạt 34,9%), thâm canh 45,5 ha (đạt 62,5%) kế

hoạch.

- Cây bưởi: trồng mới 3,6 ha (đạt 2,1%), thâm canh 11,3 ha (đạt 12,3%) kế

hoạch.

- Cây cà phê: trồng mới 70,7 ha (đạt 12,6%), thâm canh 67,3 ha (đạt 11,9%)

kế hoạch.

- Cây tiêu: trồng mới 27,4 ha (đạt 7,2%), thâm canh 116,5 ha (đạt 37,3%) kế







5

hoạch

- Cây sầu riêng: trồng mới 18,4 ha (đạt 9,4%), thâm canh 41,2 ha (đạt 32,5%)

kế hoạch.

Kết quả thực hiện phát triển diện tích các loại cây trồng đạt khá, một số loại

cây như: xoài, điều, cao su, cà phê hiện có diện tích cao hơn định hướng năm 2010;

đã hình thành được một số vùng chuyên canh cây trồng chủ lực như: bưởi Tân

Triều (Vĩnh Cửu); xoài La Ngà, Phú Ngọc (Định Quán), Xuân Hưng, Suối Cao

(Xuân Lộc); sầu riêng Long Khánh, Xuân Lộc; cà phê huyện Cẩm Mỹ, Xuân Lộc,

Long Khánh; tiêu Xuân Thọ (Xuân Lộc), Tân Phú…

1.2. Lĩnh vực chăn nuôi:

Chương trình giống cây trồng, vật nuôi:

Chương trình giống cây trồng, vật nuôi giai đoạn 2007-2010 trên địa bàn tỉnh

chưa được UBND tỉnh phê duyệt thực hiện. Năm 2006, UBND tỉnh hỗ trợ kinh phí

giống gốc cây trồng, vật nuôi là 1.778.241.752 đồng.

Trong 2 năm 2007- 2008, thực hiện Quyết định số 17/2006/QĐ-TTg ngày

20/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện Quyết định số

225/1999/QĐ-TTg ngày 10/12/1999 về Chương trình giống cây trồng, giống vật

nuôi; ngân sách tỉnh hỗ trợ các doanh nghiệp nuôi giữ giống gốc cây trồng, vật

nuôi là 3.268.273.325 đồng (trong đó năm 2007 là 1.463.212.085 đ và năm 2008 là

1.805.061.240 đ).

Về quy hoạch chăn nuôi:

UBND tỉnh đã phê duyệt quy hoạch các khu khuyến khích phát triển chăn

nuôi tại các huyện Định Quán (14 khu, diện tích 1.543 ha), Long Khánh (13 khu,

diện tích 629 ha), Thống Nhất (20 khu, diện tích 2.341 ha); Cẩm Mỹ (21 khu, diện

tích 7.384 ha); huyện Xuân Lộc (13 khu, 3.982 ha); huyện Tân Phú (24 khu, diện

tích 6.775 ha); huyện Vĩnh Cửu (10 khu, 1.420 ha); các huyện Trảng Bom, Long

Thành đã phê duyệt đề cương dự toán, đang hoàn chỉnh báo cáo quy hoạch trình

duyệt.

1.3. Triển khai thực hiện các nội dung hỗ trợ phát triển các loại cây

trồng, vật nuôi chủ lực.

Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 1759/QĐ-UBND ngày

25/6/2009 phê duyệt kế hoạch và kinh phí thực hiện điểm sản xuất thử nghiệm

thực hành nông nghiệp tốt. Triển khai xây dựng và thực hiện các điểm thử nghiệm

GAP trên rau tại hợp tác xã sản xuất và dịch vụ nông nghiệp Trảng Dài, thành phố

Biên Hoà (1,55 ha, 7 xã viên tham gia); cây xoài tại Hợp tác xã nông nghiệp, dịch

vụ, thương mại, du lịch Suối Lớn xã Xuân Hưng huyện Xuân Lộc (15 ha, 5 xã viên

tham gia); cây bưởi tại Hợp tác xã Nông nghiệp, dịch vụ Tân Triều, huyện Vĩnh

Cửu (diện tích 8 ha, 15 xã viên tham gia). Dự kiến tháng 7 năm 2010 có điểm rau

và xoài được cấp giấy chứng nhận sản xuất theo quy trình VietGAP.

Đang triển khai xây dựng Đề án về một số cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển





6

sản xuất, sơ chế, tiêu thụ rau quả an toàn theo Quyết định 107/QĐ-TTg của Thủ

tướng Chính phủ; đề án về cơ chế chính sách giảm tổn thất sau thu hoạch theo

Nghị quyết số 48/NQ-CP ngày 23/9/2009 của Chính phủ.

Tổ chức tập huấn 150 lớp, 30 buổi hội thảo, 28 chuyến tham quan cho cán bộ

chính quyền, đoàn thể, hợp tác xã, chủ trang trại, nông dân sản xuất các loại cây

trồng, vật nuôi chủ lực trên địa bàn tỉnh.

Xây dựng 88 mô hình khuyến nông đối với cây trồng chủ lực ở các địa

phương để phát triển sản xuất đại trà.

Các kỹ thuật được chuyển giao là trồng cây giống mới có năng suất cao, phẩm

chất tốt, đảm bảo đúng giống; kỹ thuật thiết kế vườn cây, thiết kế hệ thống thoát

nước; hệ thống tưới nước tiết kiệm, bón phân qua đường ống theo quy trình công

nghệ cao để đạt năng suất cao, chất lượng tốt; xử lý ra hoa cây ăn trái rải vụ để

tránh tình trạng dồn hàng, dội chợ đối với mặt hàng chủ lực, tăng giá trị sản xuất;

kỹ thuật sơ chế, bảo quản trái cây.

2. Đánh giá kết quả triển khai thực hiện:

Chương trình được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy và chính quyền địa

phương; sự hưởng ứng, tham gia tích cực của bà con nông dân nên mặc dù thực tế,

các dự án mới triển khai từ tháng 3/2009 nhưng đến nay, một số chỉ tiêu hoàn

thành khá như cây xoài trồng mới 70,1 ha (đạt 34,9%), thâm canh 45,5 ha (đạt

62,5%) kế hoạch; cây sầu riêng thâm canh 41,2 ha (đạt 32,5%) khối lượng đầu tư

của chương trình đến năm 2010.

Tuy nhiên, còn nhiều nội dung chưa đạt được so với mục tiêu đã đề ra của

chương trình như chưa huy động được tối đa nguồn lực của xã hội; chưa hình

thành và phát triển được các vùng chuyên canh, sản xuất mang tính hàng hóa cao

để sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng, độ đồng đều cao phục vụ nhu cầu thị

trường nội địa, chế biến và xuất khẩu; ứng dụng những công nghệ, phương pháp

chế biến phù hợp yêu cầu của thực tế.

Quá trình triển khai thực hiện chương trình còn một số tồn tại chủ yếu sau:

- Việc triển khai xây dựng dự án chậm so với tiến độ đề ra do các địa phương

xây dựng dự án chậm, cuối tháng 8/2008 mới phê duyệt hoàn chỉnh các dự án, bắt

đầu triển khai thực hiện và giải ngân từ tháng 3/2009.

- Việc xây dựng lồng ghép Chương trình phát triển các loại cây trồng chủ lực

với các chương trình, dự án khác của địa phương chưa được quan tâm đúng mức.

- Tiến độ thực hiện qui hoạch vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi và giết

mổ tập trung trên địa bàn tỉnh chưa đạt yêu cầu đề ra. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng

khu quy hoạch, quy hoạch chi tiết từng khu ở nhiều địa phương vẫn còn lúng túng.

- Triển khai thực hiện hỗ trợ đàn giống gốc vật nuôi theo Chương trình còn

nhiều ý kiến chưa thống nhất.

Nguyên nhân:







7

- Theo dự án đã được phê duyệt của từng địa phương, trách nhiệm từng

ngành, từng cấp được quy định cụ thể; tuy nhiên nhiều chủ dự án chưa xây dựng kế

hoạch triển khai tổng thể, quy định sự phân công và phối hợp, lộ trình thực hiện và

các giải pháp cụ thể thực hiện dự án. Vì vậy, quá trình triển khai thực hiện dự án có

nơi còn lúng túng, thiếu đồng bộ.

- Công tác tuyên tuyền, phổ biến chính sách của tỉnh về phát triển cây trồng,

vật nuôi chủ lực chưa đến với nhiều bộ phận dân cư, đơn vị.

- Đa số nông dân thiếu vốn đối ứng để đầu tư. Nhiều địa phương chưa xây

dựng được giải pháp cụ thể về nguồn vốn thực hiện dự án, đặc biệt là nguồn vốn

của người dân tham gia dự án.

- Phần lớn diện tích cây công nghiệp dài ngày và cây ăn trái được trồng xen

nhiều loại cây; diện tích trồng phân tán, xa khu dân cư. Với địa hình phức tạp, quy

mô nhỏ, cản trở đến việc thi công và bảo quản hệ thống tưới nước tiết kiệm.

- Sự biến động trong quy hoạch sử dụng đất đai, giá cả vật tư, nông sản trên

thị trường có ảnh hưởng tới tâm lý của nông dân trong việc đầu tư cho sản xuất.

- Quá trình triển khai thực hiện chưa được 1 năm nhưng đa số các địa phương

có đề xuất chuyển đổi đối tượng đầu tư (từ cây này sang cây khác) do nhu cầu của

nông dân vì có sự thay đổi về giá cả thị trường các loại nông sản. Mặt khác, công

tác điều tra thực trạng và nhu cầu của nông dân của các chủ dự án chưa sát với

thực tế.

- Mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp có ảnh hưởng đến tiến độ triển khai

chương trình: vào mùa mưa, nông dân không thực hiện lắp đặt hệ thống tưới nước

tiết kiệm. Mùa khô kéo dài 6 tháng, nông dân không triển khai trồng mới.

3. Tiếp tục thực hiện chương trình trong năm 2010:

Chương trình mới được triển khai trên thực địa từ tháng 2/2009 nên khối

lượng hầu hết các chỉ tiêu đạt thấp so với tiến độ đề ra của Chương trình. Do đó,

tiếp tục triển khai thực hiện chương trình trong năm 2010, chủ dự án cần phối hợp

chặt chẽ với các sở, ngành, đoàn thể, cơ quan chuyên môn triển khai thực hiện tốt

một số giải pháp sau:

- Khuyến cáo nông dân sử dụng các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất

cao, chất lượng tốt, thích hợp điều kiện sinh thái của từng vùng nhằm tăng hiệu

quả kinh tế trong sản xuất, đảm bảo sản xuất ổn định bền vững.

- Đẩy mạnh việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất đại trà, chú

trọng ứng dụng công nghệ mới, đảm bảo vệ sinh an toàn dịch bệnh; phát triển trang

trại trong vùng quy hoạch khuyến khích phát triển chăn nuôi và giết mổ tập trung.

- Tạo điều kiện thuận lợi về vốn vay để các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp

tác và hộ nông dân được vay vốn phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp.

- Tổ chức các khoá huấn luyện ngắn hạn, áp dụng công nghệ tiên tiến trong

các khâu thu hoạch, bảo quản, chế biến nông sản để đảm bảo chất lượng nông sản,







8

giảm tổn thất sau thu hoạch. Xây dựng và triển khai thực hiện chương trình thực

hành sản xuất nông nghiệp tốt (GAP).

III. CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI, DU LỊCH, DỊCH

VỤ PHỤC VỤ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2006 - 2010

III.1. CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI, DỊCH VỤ, DU

LỊCH:

1. Kết quả triển khai thực hiện

1.1. GDP thương mại dịch vụ

- Tăng trưởng GDP lĩnh vực thương mại dịch vụ giai đoạn 2006-2009 là

15,29%, dự kiến năm 2010 tăng 14,5%, vượt mục tiêu chương trình đề ra (mục tiêu

chương trình là 15-16%).

- Tỷ trọng khu vực dịch vụ giai đoạn 2006-2009 là 29%, năm 2008 tăng lên

31,5%, năm 2009 chiếm tỷ trọng 32,8% và dự kiến đến năm 2010 là 34,1%, vượt

mục tiêu chương trình đề ra (mục tiêu chương trình là 34% vào năm 2010).

1.2. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ

Tăng trưởng bán lẻ bình quân giai đoạn 2006-2009 là 26,59%/năm; dự kiến

năm 2010 tăng 25%, vượt mục tiêu chương trình đề ra (mục tiêu chương trình tăng

từ 20-22%/năm).

Thương mại dịch vụ ngoài quốc doanh nắm giữ phần lớn khâu bán lẻ trên thị

trường. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư phát triển nhanh các

loại hình: siêu thị, dịch vụ sân golf, kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp. Điểm nổi

bật là hầu hết cơ sở kinh doanh theo phương thức hiện đại là tiêu thụ sản phẩm sản

xuất trong nước. Riêng năm 2009, Siêu thị Metro Biên Hòa đã đầu tư trên 16 triệu

USD đã hoàn thành và đi vào hoạt động từ tháng 7/2009, doanh thu bán ra bình

quân 55 tỷ đồng/tháng.

Tình hình đầu tư vào kết cấu hạ tầng thương mại có tốc độ tăng cao nhất từ

trước tới nay. Trong 4 năm (2006-2009), có 40 chợ được nâng cấp, sửa chữa, xây

dựng, nhiều dự án kho, cảng, trạm dừng chân... Tổng vốn đầu tư riêng lĩnh vực

chợ, siêu thị, kho, trạm dừng chân đã đạt trên 500 tỷ đồng. Nhiều siêu thị và cửa

hàng tiện ích với các phương thức phục vụ văn minh được triển khai xây dựng và

đưa vào hoạt động như: Siêu thị Nguyễn Văn Cừ, Coop-Mart Biên Hòa, Vinatex,...

góp phần thay đổi nhanh chóng bộ mặt đô thị trên địa bàn tỉnh theo hướng văn

minh hiện đại.

Tiến độ triển khai một số dự án siêu thị, trung tâm thương mại:

- Siêu thị Metro (phường Quang Vinh, TP.Biên Hòa): Đã hoàn tất các thủ tục

liên quan và đi vào hoạt động tháng 07/2009; Trung tâm thương mại Tân Hiệp tại

chợ Tân Hiệp cũ (trung tâm thương mại hạng III kết hợp chợ truyền thống): Đã

hoàn tất các thủ tục, đang tiến hành xây dựng.

- Trung tâm thương mại Timex (thị xã Long Khánh): đã lập thủ tục đầu tư có





9

liên quan; Trung tâm thương mại tại chợ Long Khánh hiện hữu: đang làm thủ tục

xây dựng lại thành siêu thị kết hợp với chợ truyền thống.

- Trung tâm thương mại Hiệp Phước (huyện Nhơn Trạch) do Công ty TNHH

01 thành viên Tín Nghĩa làm chủ đầu tư, đã thực hiện xong hạ tầng đang chuẩn bị

xây dựng các hạng mục trên mặt bằng đã thi công; Trung tâm thương mại tại khu

600 ha trung tâm hành chính huyện Nhơn Trạch đang trong giai đoạn thiết kế trình

các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

- Trung tâm thương mại tại huyện Trảng Bom do Công ty Cổ phần Thống

Nhất làm chủ đầu tư đang tiến hành xây dựng hạ tầng.

- Hợp tác xã Long Hưng đã xây dựng siêu thị diện tích khoảng 3.000 - 4.000

m2 tại thị trấn huyện Long Thành, chưa đi vào hoạt động.

1.3. Xuất nhập khẩu

Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn giai đoạn 2006-2009 đạt 22.542 triệu USD,

trong đó doanh nghiệp trung ương đạt 565 triệu USD (chiếm 2,5%), doanh nghiệp

địa phương đạt 1.308 triệu USD (chiếm 5,8%), doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngoài đạt 20.669 triệu USD (chiếm 91,7%). Bình quân giai đoạn 2006-2009 tăng

19,1%/năm; giai đoạn 2006-2010 tăng 17,2%/năm, mặc dù không đạt mục tiêu

Chương trình đề ra (mục tiêu chương trình tăng từ 20 - 22%) nhưng đây là cố gắng

lớn của toàn ngành trong bối cảnh bị tác động suy giảm kinh tế toàn cầu.

Kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn toàn tỉnh giai đoạn (2006-2009) đạt 25.881

triệu USD, trong đó doanh nghiệp trung ương đạt 290 triệu USD (chiếm 1,1%),

doanh nghiệp địa phương đạt 582 triệu USD (chiếm 2,2%), doanh nghiệp có vốn

đầu tư nước ngoài đạt 25.009 triệu USD (chiếm 96,6%). Bình quân giai đoạn

2006-2009 tăng 12,3%/năm; giai đoạn 2006-2010 tăng 12,2%/năm, không đạt mục

tiêu chương trình đề ra. (Mục tiêu chương trình tăng từ 16-17%/năm)

Thị trường xuất khẩu tiếp tục được củng cố và mở rộng, từ trên 60 nước (năm

2005) đã lên đến trên 80 nước (năm 2008) và tập trung chủ yếu ở Châu Âu, tiếp

theo là Châu Mỹ, Châu Á.. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là cà phê, cao su, hạt điều,

giày dép, hàng mộc tinh chế, gốm mỹ nghệ, may mặc, linh kiện điện tử. Riêng năm

2009, kết quả xuất khẩu đạt thấp (88,2% so kế hoạch năm 2008) do tình hình suy

thoái kinh tế thế giới, ảnh hưởng đến thị trường xuẩt khẩu, các doanh nghiệp gặp

nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm hợp đồng xuất khẩu.

Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của các doanh nghiệp địa phương là phân bón,

thuốc y tế, nguyên phụ liệu thuốc lá, nguyên phụ liệu - máy móc thiết bị phục vụ

sản xuất sản xuất, hóa chất công nghiệp.

Về hoạt động xúc tiến thương mại, Trung tâm xúc tiến thương mại đã phối

hợp các Sở ngành, Hiệp hội đơn vị tổ chức triển khai chương trình xúc tiến thương

mại hàng năm theo hướng khuyến khích doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh mở rộng

thị trường trong nước và xuất khẩu; góp phần nâng cao năng lực kinh doanh của

cộng đồng doanh nghiệp, các hợp tác xã, hộ nông dân; phát triển các hình thức

quản lý, kinh doanh theo hướng văn minh thương mại. Tổng kinh phí xúc tiến





10

thương mại từ 2006-2009 khoảng 11,2 tỷ đồng.

Một số hoạt động xúc tiến chủ yếu đã thực hiện như tổ chức, tham gia hội chợ

triển lãm trong và ngoài nước; tổ chức đoàn khảo sát thị trường nước ngoài; kích

cầu thị trường “Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt”, tổ chức gặp gỡ thương nhân

nước ngoài. Ngoài ra, Trung tâm đang triển khai xây dựng các dự án phục vụ hoạt

động thương mại: Trung tâm Hội chợ Triển lãm Quảng trường Xanh, Cổng

Thương mại Điện tử.

2. Về dịch vụ phục vụ các KCN

* Dịch vụ cung cấp suất ăn công nghiệp

- Ban quản lý các Khu công nghiệp phối hợp, tham gia đoàn kiểm tra liên

ngành kiểm tra các cơ sở kinh doanh dịch vụ cung cấp suất ăn công nghiệp trên địa

bàn tỉnh. Qua đó, tổng hợp danh sách các cơ sở đủ điều kiện kinh doanh và phối

hợp với Sở Y tế, Sở Công Thương thông tin đến các doanh nghiệp nắm bắt và lựa

chọn nhà cung cấp.

* Dịch vụ nhà ở cho người lao động

- Theo thống kê sơ bộ tổng hợp từ kết quả điều tra nhà trọ trên địa bàn tỉnh,

năm 2009 Đồng Nai có 13.215 hộ kinh doanh nhà trọ (thời điểm 30/7/2009), trong

đó tập trung chủ yếu ở 4 địa phương: Biên Hòa, Long Thành, Trảng Bom, Nhơn

Trạch; số lao động tham gia trong lĩnh vực kinh doanh nhà trọ là 17.563 lao động

(trong đó có 8.838 nữ). Tổng số lao động tại các KCN, cụm công nghiệp tính đến

nay khoảng 390.000 người, trong đó hơn 250.000 người (70%) có nhu cầu thuê

nhà ở.

- Nhu cầu nhà ở cho công nhân các khu công nghiệp hiện được đáp ứng bởi

các quỹ nhà ở thuộc các nhóm đối tượng: nhà ở do các doanh nghiệp sử dụng

người lao động tự xây dựng, nhà ở do các công ty kinh doanh nhà và xây dựng hạ

tầng quản lý cho công nhân thuê; nhà ở do các hộ cá thể, tư nhân xây phòng trọ

cho công nhân thuê; các dạng nhà ở khác. Trong số đó, nhà ở do các hộ cá thể cho

thuê đáp ứng 70,6% nhu cầu của người lao động.

- Sở Xây dựng đã tiến hành ký kết chương trình phối hợp Liên minh các

HTX, hỗ trợ HTX Nhơn Long thực hiện dự án nhà ở thu nhập thấp tại huyện Nhơn

Trạch. Liên minh HTX lập kế hoạch tổ chức hội thảo HTX nhà ở tại Biên Hòa và

khảo sát các mô hình HTX xây dựng điển hình tiên tiến để tổ chức học tập kinh

nghiệm.

- Tại huyện Nhơn Trạch đã có nhiều đơn vị tham gia xây dựng nhà ở công

nhân: Công ty Lắp máy 45-1 (6,8 ha); Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa (1ha,

đã xây dựng xong và đi vào hoạt động); Công ty CP đầu tư nhà và Đô thị IDICO

(5ha, đã xong và đi vào hoạt động); Công ty TNHH HyoSung (0,6ha); UBND

huyện Nhơn Trạch đầu tư xây dựng nhà ở tạm cư (0,55ha); triển khai dự án thí

điểm nhà ở xã hội với quy mô 2 khối nhà 5 tầng, 108 căn hộ, diện tích 4,3 ha hiện

đang tổ chức đấu thầu gói thầu tư vấn KTKT-TDT xây dựng công trình.







11

- Tại huyện Long Thành, các đơn vị tiến hành tham gia xây dựng nhà ở công

nhân gồm: Công ty CP Vedan xây dựng 1,5 ha cho 200 lao động, đã đi vào hoạt

động, hiện đang lập thủ tục đầu tư tiếp khoảng 8 ha; Công ty nhựa- Hóa chất TPC

xây dựng 2 ha tại Phước Thái cho 30 hộ; Công ty Superphotphat Long Thành xây

dựng 2 ha tại Phước Thái cho 30 hộ; Công ty CP Địa ốc Sonadezi đã xây dựng

khối nhà 6 tầng phục vụ 960 công nhân và chuyên gia tại KCN Long Thành.

* Dịch vụ đưa rước công nhân

Hiện nay, trên địa bàn có 31 doanh nghiệp vận tải có xe phục vụ đưa rước

công nhân các KCN; và xe của các doanh nghiệp sử dụng lao động tự vận chuyển

đưa rước công nhân. Tổng số phương tiện tham gia đưa rước công nhân là 1.001

xe/36.967 ghế. Trong đó, xe của 31 doanh nghiệp vận tải là 410 xe/13.987 ghế; xe

của doanh nghiệp tự vận chuyển là 231 xe/5.195 ghế; xe buýt của 25 tuyến có kết

hợp đưa rước công nhân là 382 xe/18.612. Hàng ngày đã kết hợp đưa rước 65.586

lượt công nhân của các KCN trên địa bàn tỉnh, đáp ứng được 19,54% tổng số công

nhân trong các KCN. Các tuyến xe buýt hàng ngày đã kết hợp vận chuyển được

6.014 lượt công nhân.

Nhìn chung, với sự hình thành và phát triển mạng lưới vận tải khách công

cộng bằng xe buýt, xe đưa rước công nhân kết hợp với vận tải khách cố định trên

địa bàn, đã tạo được mạng lưới tuyến vận tải khách tương đối hoàn chỉnh và liên

hoàn phục vụ tốt nhu cầu đi lại của công nhân.

Thực hiện chỉ đạo của Tỉnh ủy và UBND tỉnh về xây dựng Phương án thí

điểm xe buýt kết hợp đưa rước công nhân các khu công nghiệp trên địa bàn TP.

Biên Hòa có trợ giá từ ngân sách nhà nước; Sở Giao thông vận tải đã xây dựng

Phương án và đã được UBND tỉnh chấp thuận tại văn bản số 7933/UBND-CNN

ngày 30/9/2009 đưa vào khai thác chính thức tuyến xe buýt số 03 nối dài và hai

tuyến chuyển tiếp đưa rước công nhân miễn phí Khu công nghiệp Biên Hòa II và

Amata có trợ giá từ ngân sách nhà nước.

Sau gần 1 năm đi vào hoạt động đến nay, tuyến xe buýt số 03 nối dài và 2

tuyến chuyển tiếp đưa rước công nhân miễn phí đã thu hút đông đảo công nhân

hưởng ứng tham gia đi lại, góp phần đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên tuyến

Quốc lộ 1K, khu vực Khu công nghiệp Amata và Biên Hòa II.

3. Những hạn chế, tồn tại:

- Xuất khẩu nông sản chủ yếu là xuất sản phẩm thô hoặc chỉ mới qua sơ chế,

giá trị gia tăng của sản phẩm thấp. Một số doanh nghiệp đã quan tâm đầu tư chế

biến tinh như cà phê bột, trái cây sấy, ...nhưng khả năng phát triển sản phẩm ra thị

trường nước ngoài rất hạn chế.

- Giá trị gia tăng của sản phẩm may mặc, điện tử thấp, cơ cấu chi phí nguyên

liệu nhập khẩu trong giá thành sản phẩm xuất khẩu còn cao, thiên về gia công, lắp

ráp là chính. Nguồn nguyên liệu trong nước phục vụ cho sản xuất ngành may mặc,

điện tử chưa đáp ứng được nhu cầu cho sản xuất cả về số lượng, chủng loại, chất

lượng.





12

- Hoạt động xúc tiến thương mại đã có chuyến biến tích cực nhưng chưa đáp

ứng yêu cầu phát triển thị trường của các doanh nghiệp; chi phí đầu tư cho hoạt

động nghiên cứu thị trường của các doanh nghiệp còn hạn chế.

- Mạng lưới chợ trên địa bàn được chú trọng đầu tư phát triển theo quy hoạch,

nhưng tình trạng chợ tự phát, lấn chiếm lề đường chưa xử lý dứt điểm. Các địa

phương, đặc biệt là cấp xã chưa thật sự quan tâm công tác quản lý, chưa bám sát

quy hoạch để tổ chức thực hiện.

- Thương mại, dịch vụ vùng sâu, vùng xa phát triển chậm, hạ tầng một số chợ

khu vực nông thôn còn nhiều yếu kém, điều kiện vệ sinh thấp.

III.2. CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

1. Kết quả thực hiện:

1.1. Phát triển mạng lư i Bưu ch nh:

Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 631 điểm phục vụ, với bán kính phục vụ là 1,72

km/điểm và mật độ phục vụ là 4.016 người/điểm. 100% số xã đã có điểm phục vụ,

các chỉ tiêu về bưu chính đều đạt so với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dịch vụ

bưu chính công ích và Quyết định 491/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc

ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.

1.2. Quản lý Internet, tần số và phát thanh - truyền hình

- Ước tính đến cuối năm 2010 toàn tỉnh có trên 100.000 thuê bao Internet, hơn

1.000 đại lý Internet và dịch vụ này hiện đang tiếp tục phát triển rất mạnh.

- Đồng Nai hiện có 258 tổ chức, cá nhân được cấp phép sử dụng tần số; Sở

Thông tin truyền thông đã cùng Trung tâm Kiểm soát Tần số khu vực 2 ký kết và

phối hợp thực hiện Quy chế hợp tác tuyên truyền các quy định về tần số, xử lý can

nhiễu, kiểm soát và quản lý chặt chẽ các khách hàng sử dụng dịch vụ.

1.3. Mạng viễn thông

- Mạng chuyển mạch: có 170 tổng đài chuyển mạch các loại; 30% tổng đài

được thay thế bằng công nghệ mạng thế hệ mới; tỷ lệ thuê bao băng rộng đạt

98,85%.

- Mạng truyền dẫn cáp quang: ước tổng chiều dài trên 2.400 km, với tổng

dung lượng trên 7,5 Gb (Giga bit) tương ứng trên 112.500 kênh. Hiện 100% xã

vùng nông thôn (133/133 xã) đã được cáp quang hóa, cung cấp dịch vụ thông tin di

động, dịch vụ Internet băng rộng, truyền số liệu tốc độ cao.

- Mạng Internet: 172 trạm. Hiện nay trên địa bàn có 2 loại hình dịch vụ truy

nhập Internet qua mạng viễn thông nội hạt thông qua cáp đồng hoặc cáp quang.

Đối với dịch vụ truy nhập Internet qua mạng truyền hình cáp: Trên địa bàn

tỉnh chưa triển khai dịch vụ này. Đặc biệt là dịch vụ truyền hình Internet hiện đã

được VNPT, FPT triển khai trên địa bàn tỉnh.







13

- Mạng ngoại vi: ngầm hoá mạng ngoại vi được thực hiện phần lớn các khu

công nghiệp và khu đô thị mới.

- Điện thoại di động: Tính đến đầu năm 2006 toàn tỉnh chỉ có 130 trạm BTS,

đến năm 2009 đã đạt 1.130 trạm BTS, cho thấy tốc độ phát triển mạng lưới viễn

thông ngày càng tăng mạnh.

- Tính đến nay 30% tổng đài đã được thay thế bằng công nghệ Mạng thế hệ

mới; đối với công nghệ thông tin di động 3G: hiện nay đã có 03 doanh nghiệp cung

cấp dịch vụ 3G là: Vinaphone, Mobifone, Viettel; EVN Telecom đang hoàn thiện

việc lắp đặt thiết bị.

Chỉ tiêu phát triển điện thoại và Internet

Mật độ điện thoại Mật độ điện thoại

Mật độ điện thoại

cố định di động Tỷ lệ dân số

(Máy/ 100 dân) sử dụng

Năm (Máy/ 100 dân) (Máy/ 100 dân) Internet

Thực Thực Chỉ (%)

Chỉ tiêu Chỉ tiêu Thực hiện

hiện hiện tiêu

2005 9,8 13,9 23,7 23,8



2006 12,6 12,36 23,36 22,54 35,96 34,9



2007 15,5 15,06 28,39 38,44 43,89 53,5



2008 18,2 17,01 34,53 51,69 52,73 68,7



2009 20,5 18,99 41,98 68,48 62,48 107,79 18,68



2010 22,1 20,20 51,04 82,95 73,14 120 20,5



Nhìn chung, các chỉ tiêu về viễn thông đều đạt và vượt kế hoạch đề ra so với

chương trình.

1.4. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu:

Kết quả từ năm 2006 đến nay, doanh thu bưu chính viễn thông ước đạt 8.787

tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng bình quân là 11%. Mật độ điện thoại từ 34,90

máy/100 dân, năm 2010 đạt 120 máy/100 dân. Tỷ lệ dân số sử dụng Internet đến

năm 2010 là 20,5%.

1.5. Công tác báo ch xuất bản:

- Về Báo chí:

Hiện trên địa bàn tỉnh có các cơ quan báo chí là:

+ 03 cơ quan báo in: Báo Đồng Nai, Song song với việc tăng số, Báo Đồng

Nai còn phát hành thêm ấn phẩm phụ “Thế giới gia đình”; Báo Lao động Đồng

Nai; Tạp chí Văn nghệ Đồng Nai.





14

+ 01 cơ quan báo hình và báo nói là Đài Phát thanh Truyền hình Đồng Nai.

Truyền hình Đồng Nai phát sóng trên kênh ĐN1 và kênh ĐN2 24/24 giờ, kênh

ĐN3 và ĐN4 đang phát thử nghiệm trên mạng truyền hình cáp. Kênh 31 đang phát

thử nghiệm tại huyện Thống Nhất sử dụng cho các vùng lõm. Di dời lắp đặt ăng

ten trạm phát sóng Analog và kênh VHF 12 từ Biên Hòa về Cẩm Mỹ để phát lại

chương trình VTV5 và chương trình Khoa giáo, chương trình tiếng dân tộc cho các

huyện miền núi vùng sâu, vùng xa vùng có đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh

sống. Ngày 30-12-2009, Đài Phát thanh - Truyền hình Đồng Nai khai trương trang

Website, địa chỉ: www.dnrtv.0rg.vn hoặc www.truyenhinhdongnai.vn.

Ngoài ra còn có hệ thống Đài truyền thanh cơ sở (11 đài cấp huyện và hệ

thống trạm Truyền thanh xã, phường), hoạt động của mạng lưới truyền thanh đều

đặn và thực hiện tốt công tác truyền thanh 4 cấp (cấp TW; cấp tỉnh; cấp huyện, thị,

thành phố và cấp xã, phường); góp phần rất lớn đưa những chủ trương của Đảng,

chính sách Pháp luật của Nhà nước đến với người dân.

- Về Xuất bản:

Nhà Xuất bản hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ được giao; tích cực

nghiên cứu, tìm kiếm lối ra cho Nhà Xuất bản theo hướng: các mảng sách đặt hàng

bằng nguồn kinh phí của tỉnh; cùng một số ngành hữu quan tham mưu, đề xuất với

tỉnh về mô hình hoạt động của Nhà xuất bản, nhằm tháo gỡ khó khăn trong hoạt

động xuất bản.

Hiện nay có khoảng gần 40 bản tin của các sở, ban, ngành trong toàn tỉnh chủ

yếu phục vụ cho hoạt động của các đơn vị.

Nhìn tổng thể 5 năm qua, có thể nói hoạt động báo chí xuất bản đã đạt được

nhiều thành tích đáng kể. Các cơ quan báo chí luôn bám sát sự chỉ đạo, hướng dẫn

của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo Trung ương để thực hiện nhiệm vụ

tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của

Nhà nước đến với cơ sở; hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích. Đặc biệt trong giai

đoạn hiện nay, báo chí đã tích cực chủ động tuyên truyền các giải pháp của Chính

phủ nhằm phát triển kinh tế, ngăn chặn suy giảm, nâng cao niềm tin của nhân dân

vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Chính phủ. Tuyên truyền có hiệu quả

cuộc vận động, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

2. Xây dựng kế hoạch phát triển bưu ch nh viễn thông và công nghệ

thông tin:

Định hướng phát triển công nghệ thông tin, hình thành, xây dựng và phát triển

Việt Nam điện tử với công dân điện tử, Chính phủ điện tử, doanh nghiệp điện tử,

giao dịch và thương mại điện tử.

3. Triển khai các dự án đầu tư

3.1. Kết quả thực hiện các dự án Bưu ch nh viễn thông

- Bưu chính: dự án về Phương tiện vận chuyển và Mạng điểm phục vụ với

tổng vốn đầu tư trong 2 năm 2006, 2007 là 3,215 tỷ đồng đạt tỉ lệ 139,78%;





15

- Viễn thông: thực hiện 6/8 dự án với tổng vốn đã đầu tư là 1.221,863 tỷ đồng

đạt 45,41% tổng vốn đầu tư.

- Có 03 dự án về bưu chính viễn thông không được triển khai là dự án Thư

viện tại các điểm bưu điện Văn hoá xã; Trung tâm thông tin cơ sở; Internet không

dây.

3.2. Kết quả thực hiện các dự án Công nghệ thông tin

* Các chỉ tiêu phát triển công nghệ thông tin

Về hạ tầng công nghệ thông tin:

- Tỷ lệ máy tính/cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước là:

87%.

- Tỷ lệ đơn vị hành chính nhà nước đã có mạng cục bộ: 100%.

- Tỷ lệ đơn vị được kết nối Internet băng thông rộng: 100%.

- Tỷ lệ đơn vị cấp huyện kết nối mạng cục bộ và Internet: 100%.

- Tỷ lệ cơ quan Đảng, Nhà nước kết nối vào mạng truyền số liệu chuyên

dùng: 100%

- Việc kết nối Internet đến điểm Bưu điện văn hóa xã: 100% điểm bưu điện

văn hóa xã đã được kết nối Internet, trong đó 18/73 điểm bưu điện văn hóa xã được

kết nối Internet tốc độ cao, đạt tỷ lệ 24,66% thấp hơn so với chỉ tiêu đề ra là 80%.

- 100% các trường PTTH, 100% trường THCS (169/169), 51,17% trường tiểu

học (153/299) và 41,30% trường mẫu giáo (102/247) đã được kết nối Internet.

Việc đưa Internet đến trường học đã được Viễn thông Đồng Nai và Cty Viễn

thông Quân đội triển khai thực hiện theo các chương trình ký kết giữa doanh

nghiệp và ngành Giáo dục.

Về ứng dụng CNTT:

- Ứng dụng trong các cơ quan hành chính nhà nước:

+ Tỷ lệ CBCC thuộc các cơ quan hành chính nhà nước đã được cung cấp hộp

thư điện tử: 100%. Trong đó Tỷ lệ CBCC thường xuyên sử dụng hệ thống thư điện

tử: 43%

+ Tỷ lệ máy trạm các cơ quan hành chính nhà nước được cài đặt phần mềm

mã nguồn mở: 77%

+ Tỷ lệ đơn vị đã được trang bị hệ thống quản lý văn bản và điều hành:

100%.

- Ứng dụng trong ngành giáo dục: Hiện có 9/9 trường Đại học, cao đẳng (đạt

100%) và 43/48 trường THPT (đạt 89,58%) trên địa bàn tỉnh có trang thông tin

điện tử.

- Ứng dụng trong ngành y tế: 100% các bệnh viện ứng dụng phần mềm quản

lý trong công việc; 100% các bệnh viện có kết nối Internet; 100% các bệnh viện có





16

kết nối mạng cục bộ, có kết nối mạng cục bộ nhưng chưa kết nối được tất cả máy

tính trong cùng đơn vị.

- Ứng dụng trong doanh nghiệp: Doanh nghiệp có Website : 475/4010 (đạt

11,85%); Doanh nghiệp tham gia giao dịchTMĐT: 706/4010 (đạt 17,60%).

Về nguồn nhân lực CNTT:

- Đến năm 2010, trên 100.000 người có trình độ cao đẳng và đại học trở lên

về công nghệ thông tin, trong đó khoảng 20% đạt trình độ khu vực và quốc tế.

Theo kết quả điều tra CNTT năm 2008 hiện có 2.684 người có trình độ Cao đẳng

và đại học CNTT trở lên chiếm tỉ lệ 2,7%.

Về công nghiệp công nghệ thông tin - truyền thông:

- Công nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông trở thành ngành công

nghiệp mũi nhọn có tốc độ tăng trưởng 20-25%/năm vào năm 2010 trong đó tổng

doanh thu các doanh nghiệp hoạt động CNTT từ năm 2006 đến năm 2008 như sau:

+ Công nghiệp phần mềm và CNND tổng doanh thu 110.706 USD

+ Công nghiệp phần cứng máy tính tổng doanh thu 565.907.386 USD

+ Công nghiệp sản xuất thiết bị viễn thông tổng doanh thu 125.556.997 USD

+ Công nghiệp điện tử tổng doanh thu 2.594.389.848 USD

* Các dự án CNTT:

- Dự án CNTT có 27 dự án trong chương trình phát triển tổng kinh phí đầu tư

nguồn vốn ngân sách là 128 tỷ, dự án rút khỏi quy hoạch ngành 12 dự án (38 tỷ)

trong đó Sở thông tin và truyền thông 8 dự án (25,5 tỷ), Sở ngành 4 dự án (12,5

tỷ); dự án đang thực hiện: 90 tỷ, trong đó: Sở TT&TT 6 dự án (18,5 tỷ), Sở ngành

4 dự án (28 tỷ); điều chỉnh 5 dự án (43,5 tỷ).

- Các dự án đang triển khai thực hiện có 05 dự án chỉ đạo điều hành, 02 dự án

phục vụ người dân và doanh nghiệp, 02 dự án phát triển nguồn nhân lực, 01 dự án

phát triển hạ tầng kỹ thuật.

4. Đánh giá chung:

4.1. Những mặt đạt được

- Xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch phát triển bưu chính viễn thông

và công nghệ thông tin, điều tra tiềm lực CNTT trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

- Tập trung mọi nguồn lực, phối hợp chặt chẽ với các sở ngành, cơ quan, đơn

vị hoàn thành mục tiêu đề ra.

- Các Sở, ngành, đơn vị, địa phương có sự quan tâm trong việc ứng dụng

CNTT trong xử lý thông tin, để phục vụ công tác quản lý, điều hành và tác nghiệp

tại đơn vị mình.

4.2. Những tồn tại, hạn chế







17

- Việc triển khai các dự án CNTT tại các sở ngành, địa phương trong thời gian

qua còn chậm chưa đáp ứng yêu cầu đề ra, nguyên nhân: nguồn vốn thực hiện các

dự án CNTT chưa thống nhất việc bố trí nguồn vốn xây dựng cơ bản và nguồn vốn

sự nghiệp.

- Công tác thẩm định các dự án CNTT hiện vẫn đang vận dụng các quy định,

những căn cứ pháp lý, hệ thống tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật chuyên

ngành xây dựng, chưa phù hợp với đặc thù chuyên ngành CNTT.

- Công tác bảo đảm an toàn an ninh thông tin, chỉ đạo, điều hành ứng dụng và

phát triển CNTT tại một số cơ quan đơn vị chưa được lãnh đạo quan tâm, hạ tầng

CNTT-TT chưa đáp ứng kịp với nhu cầu phát triển.

- Trình độ về ứng dụng CNTT tại địa phương chưa đạt, cán bộ công chức

chưa có thói quen làm việc trên máy tính, chủ yếu là xử lý soạn thảo văn bản và

các ứng dụng thông thường, chưa đáp ứng so với tốc độ phát triển CNTT như hiện

nay.

III.3. CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VẬN TẢI

1. Kết quả và đánh giá tình hình thực hiện:

1.1. Sản lượng vận tải:

Đơn vị Thực hiện Tỷ lệ % so với QĐ 39

Chỉ tiêu

tính 2006 2007 2008 2009 2010 2006 2007 2008 2009 2010

1. Hàng hoá

- Sản lượng

Tr tấn 3,1 3,2 3,3 3,3 3,4 103 102 102 101 103

vận chuyển

- Sản lượng Tr

310,9 335,2 337,8 344,4 345 103 104 104 102 102

luân chuyển tấn.km

2. Hành khách

- Sản lượng Tr lượt

37,3 39,4 42,5 44,6 44,8 105 103 101 104 105

vận chuyển HK

- Sản lượng Tr

2.847,1 3.105,5 3.112,4 3.168,3 3.26 105 105 100 102 103

luân chuyển HK.km

3. Hàng hoá

Tr tấn 1,8 2,9 2,9 2,6 2,9 101 152 100 100 100

thông qua cảng

4.Dịch vụ bến xe

- Lượt xe qua

Tr lượt 0,4 0,4 0,6 0,6 0,6 103 118 130 102 103

bến

- Lượt khách

Tr lượt 10,0 12,1 16,2 17,1 17,2 105 121 154 103 101

qua bến

Qua 5 năm thực hiện về vận tải hàng hóa, hành khách, xếp dỡ và dịch vụ bến

xe các doanh nghiệp đã phấn đấu bảm bảo phục vụ tốt nhu cầu về vận chuyển hàng

hóa và nhu cầu đi lại của nhân dân, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội trên

địa bàn tỉnh. Các chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch từ 0,1 đến 54%.

1.2. Vận tải khách theo tuyến cố định:

Từ năm 2006 đến nay, đã mở mới được 27 tuyến vận tải khách liên tỉnh,

thành phố liền kề, đạt 180% kế hoạch. Tính đến nay trên địa bàn tỉnh có 120 tuyến





18

với 288 xe/8.701 ghế, đối lưu với 23 tỉnh, thành phố. Các doanh nghiệp vận tải

tỉnh, thành phố có 265 xe/6869 ghế chạy đối lưu. Tổng số xe hoạt động trên 120

tuyến là 553 xe/15.570 ghế. Hàng ngày có 268 chuyến xe chạy đối lưu trên tuyến.

1.3. Vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt:

Thực hiện quy hoạch về phát triển mạng lưới xe buýt TP.Biên Hòa, các khu

công nghiệp và vùng phụ cận giai đoạn 2004-2010 đã được UBND tỉnh phê duyệt.

Bước đầu triển khai quy hoạch mạng lưới xe buýt gặp nhiều khó khăn do rất ít

doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tham gia. Tỉnh đã kêu gọi các doanh nghiệp vận tải

ngoài tỉnh đăng ký tham gia khai thác tuyến.

- Năm 2006: mở mới đưa vào khai thác 03 tuyến xe buýt không trợ giá, nâng

tổng số tuyến xe buýt đưa vào khai thác là 14 tuyến, trong đó: 07 tuyến có trợ giá

và 07 tuyến không trợ giá. Tổng số phương tiện khai thác là 183 xe/4.706 ghế. So

với năm 2005 tăng 27% về tuyến và 48% về số lượng phương tiện.

- Năm 2007: mở mới thêm 09 tuyến xe buýt không trợ giá, nâng tổng số tuyến

xe buýt đưa vào hoạt động trên địa bàn tỉnh là 23 tuyến. Tổng số phương tiện khai

thác là 371 xe/13.136 ghế. So với năm 2006 tăng 64% về tuyến và 279% về số

lượng phương tiện. Tuy nhiên, tuyến số 17 sau một thời gian hoạt động kém hiệu

quả, doanh nghiệp đã xin ngưng khai thác tuyến. Cuối năm 2007, tổng số tuyến xe

buýt là 22 tuyến.

- Năm 2008: mở mới thêm 01 tuyến xe buýt không trợ giá (tuyến số 18 từ Bến

xe Biên Hoà - KDL Đại Nam, tỉnh Bình Dương), nâng tổng số xe buýt lên 23

tuyến. Tổng số phương tiện tham gia khai thác 346 xe/15.459 ghế. So với năm

2007 số xe giảm 7% và số ghế tăng 18% nguyên nhân là do các doanh nghiệp đầu

tư đổi mới phương tiện có trọng tải lớn hơn để thay thế các phương tiện cũ không

đảm bảo tiêu chuẩn.

+ Tháng 05/2008 tuyến xe buýt số 01 chuyển sang hoạt động không trợ giá.

+ Đầu tháng 07/2008, tạm ngừng hoạt động tuyến xe buýt không trợ giá số

20. Đến cuối năm 2008, tổng số tuyến xe buýt hoạt động trên địa bàn là 22 tuyến.

- Tháng 08/2009, mở mới 02 tuyến xe buýt không trợ giá.

- Tổng số tuyến xe buýt đến nay hiện có 24 tuyến với 462 xe/22.512 ghế chạy

đối lưu. Hàng ngày có 1.830 chuyến xe hoạt động. Trong đó, các doanh nghiệp vận

tải của Đồng Nai có 392 xe/18.783 chỗ, hàng ngày có 1.645 chuyến xe hoạt động.

Nhìn chung các tuyến xe buýt hoạt động hiệu quả, sản lượng khách đi lại trên

tuyến ngày càng tăng, tạo được việc làm và thu nhập ổn định cho gần 1.000 lao

động, doanh nghiệp an tâm hoạt động sản xuất kinh doanh. Hiện nay đa số các

doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh (chủ yếu là HTX dịch vụ vận tải) đều tham gia hoạt

động kinh doanh loại hình vận tải khách bằng xe buýt, có nhiều doanh nghiệp đã

khai thác từ 02 đến 03 tuyến xe buýt.

1.4. Vận chuyển đưa rư c công nhân:







19

Hiện nay trên địa bàn có 31 doanh nghiệp vận tải đang có xe phục vụ đưa

rước công nhân (ĐRCN) các khu công nghiệp (KCN) và xe của các doanh nghiệp

sử dụng lao động tự vận chuyển ĐRCN. Tổng số phương tiện tham gia ĐRCN là

1.033 xe/37.965 ghế. Hàng ngày đã kết hợp ĐRCN được 65.586 công nhân của các

KCN trên địa bàn tỉnh đáp ứng được 19,54% (65.586 công nhân /335.626 công

nhân) tổng số công nhân trong các KCN trên địa bàn tỉnh.

1.5. Thực hiện kế hoạch phát triển mạng lư i xe buýt TP.Biên Hòa, các

khu công nghiệp và vùng phụ cận giai đoạn 2006-2010:

Trong 17 tuyến theo Quyết định số 3534/QĐ-UBND ngày 26/11/2009 của

UBND tỉnh, đã thực hiện 16 tuyến đạt 94% kế hoạch. Riêng tuyến từ Bến xe Nam

Cát Tiên, huyện Tân Phú đến Bến xe Hòa Ninh, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng do

đang thi công sửa chữa mở rộng đường QL20 đoạn tại đèo Bảo Lộc nên tuyến tạm

ngừng hoạt động.

1.6. Hệ thống bến xe, trạm xe:

- Về cơ sở hạ tầng phục vụ xe buýt: Hệ thống biển dừng, nhà chờ phục vụ cho

xe buýt đã được lắp đặt tương đối đầy đủ và phù hợp. Đến nay trên địa bàn tỉnh

hiện có 101 nhà chờ và 1.165 biển dừng đón trả khách góp phần phục vụ nhu cầu

đi lại của nhân dân ngày một tốt hơn, đồng thời tạo điều kiện cho các lái xe dừng

đón, trả khách đúng nơi qui định đảm bảo trật tự an toàn giao thông.

- Hệ thống bến xe, trạm xe trên địa bàn tỉnh:

Trên địa bàn tỉnh hiện có 15 bến xe và 12 trạm xe thuộc trung tâm TP.Biên

Hòa, các thị xã, thị trấn trên địa bàn tỉnh với tổng diện tích 116.798 m2 đã đáp ứng

được trong việc mở và khai thác các tuyến vận tải khách cố định, vận tải khách

công cộng bằng xe buýt để phục vụ nhu cầu đi lại cũa nhân dân và đảm bảo trật tự

an toàn giao thông trên địa bàn.

+ Năm 2009 đã thực hiện hoàn tất việc nâng cấp các bến xe theo kế hoạch

gồm: Long Khánh, Tân Phú, Bảo Bình, Sông Ray.

+ Năm 2010 các doanh nghiệp quản lý và khai thác bến xe đã và đang triển

khai thực hiện việc nâng cấp các bến xe phấn đấu đến cuối năm 2010 các bến xe sẽ

đạt đúng tiêu chuẩn theo Quyết định số 3534/QĐ-UBND ngày 26/11/2009 của

UBND tỉnh quy định cụ thể như sau:

Loại

Năm 2010, đầu tư nâng cấp

S bến xe

Tên bến xe các bến xe hiện hữu đạt tiêu

TT hiện

chuẩn bến xe loại

nay

1 Đầu tư sửa chữa bến xe Đồng Nai 3 3

2 Đầu tư sửa chữa bến xe Biên Hoà 2 2

Chuyển thành bến xe buýt

3 Bến xe ngã 4 Vũng tàu 4

và bãi đậu xe

4 Đầu tư nâng cấp trạm xe Hố Nai Trạm xe Bến xe loại 4

5 Đưa vào khai thác trạm dừng xe tại Đang XD Diện tích 3 ha đưa vào khai







20

huyện Xuân Lộc thác

Đầu tư nâng cấp Bến xe Nam Cát

6 5 4

Tiên, huyện Tân Phú

Đầu tư nâng cấp Bến xe Phương

7 5 4

Lâm, huyện Tân Phú

Đầu tư nâng cấp Bến xe Trị An,

8 5 4

huyện Vĩnh Cửu

Xây dựng và đưa vào khai thác Bến Xây

9 xe Vĩnh Cửu, huyện Vĩnh Cửu dựng xong 4

2009

Xây

dựng xong

Xây dựng và đưa vào khai thác Bến

10 tháng 02 3

xe Dầu Giây, huyện Thống Nhất

năm

2010

Đầu tư nâng cấp Bến xe Định Quán 5, thuê mặt

11 5

bằng

Riêng các bến xe gồm:

* Bến xe Vĩnh Cửu, huyện Vĩnh Cửu: do số lượt xe xuất bến còn ít, các

DNVT chưa mở được tuyến mới nên quy mộ của bến đến hết năm 2010 chỉ đạt

tiêu chuẩn bến xe loại 4, chưa đạt tiêu chuẩn bến xe loại 3 theo kế hoạch.

* Bến xe Trị An, huyện Vĩnh Cửu: theo kế hoạch đến năm 2010 đầu tư nâng

cấp theo tiêu chuẩn bến xe loại 5. Nhưng theo yêu cầu phát triển, mở thêm tuyến

vận tải khách liên tỉnh nên doanh nghiệp sẽ đầu tư đến cuối năm 2010 Bến xe đạt

tiêu chuẩn bến xe loại 4.

* Bến xe Nam Cát Tiên và Bến xe Phương Lâm, huyện Tân Phú: theo kế

hoạch đến năm 2010 đầu tư nâng cấp theo tiêu chuẩn bến xe loại 5. Nhưng theo

yêu cầu phát triển, mở thêm tuyến vận tải khách liên tỉnh nên doanh nghiệp sẽ đầu

tư đến cuối năm 2010 Bến xe Nam Cát Tiên và Bến xe Phương Lâm đạt tiêu chuẩn

bến xe loại 4.

1.7. Về đầu tư phương tiện:

Từ năm 2007 đến 2010 các doanh nghiệp vận tải đầu tư tổng số 489 xe. Tổng

số vốn thực hiện là 272.641 triệu đồng. Trong đó, vốn vay từ Quỹ đầu tư phát triển

của tỉnh là 87.554 triệu đồng để đầu tư 297 xe so với chỉ tiêu kế hoạch (297 xe/380

xe) đạt 78,20% kế hoạch. Tổng số phương tiện còn lại là 210 xe các doanh nghiệp

vận tải tự đầu tư là 185.087 triệu đồng để bảo đảm đúng tiêu chuẩn theo quy định

nhằm nâng cao chất lượng phục vụ đưa rước công nhân các KCN, học sinh, sinh

viên và vận tải khách cộng cộng bằng xe buýt. Các doanh nghiệp vận tải vay vốn

đầu tư phương tiện kinh doanh đều đạt hiệu quả và trả lãi vay từ Quỹ đầu tư của

tỉnh và các ngân hàng đúng thời gian quy định.

1.8. Kết quả thực hiện các công tác khác:

- Phối hợp với Hiệp hội vận tải ô tô Việt Nam tổ chức các lớp tập huấn







21

chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ lái xe và nhân viên phục vụ trên xe nhằm giáo

dục ý thức, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ vận chuyển hành khách đảm bảo

trật tự an toàn giao thông. Tính đến cuối tháng 12/2009 đã tổ chức tập huấn và

được Hiệp hội vận tải ô tô Việt Nam cấp Giấy chứng nhận về chuyên môn nghiệp

vụ cho hơn 1.666 lái xe taxi và nhân viên phục vụ trên xe.

- Tổ chức tập huấn để tuyên truyền giáo dục về đạo đức nghề nghiệp cho

2.450 lái xe và 125 nhân viên phục vụ trên xe khách nhằm nâng cao đạo đức nghề

nghiệp trong giao tiếp tạo dần nếp sống văn minh lịch sự trong lĩnh vực vận tải

nhất là vận tải hành khách.

1.9. Đánh giá tình hình:

Các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt và vượt mục tiêu chương trình đề ra cụ thể là:

- Tuyến xe buýt thực hiện là 24 tuyến/16 tuyến đạt 150 %.

- Về vận tải hàng hóa, hành khách, xếp dỡ và dịch vụ bến xe các doanh

nghiệp đã phấn đấu bảm bảo phục vụ tốt nhu cầu về vận chuyển hàng hóa và nhu

cầu đi lại của nhận dân, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn tỉnh.

Các chỉ tiêu so với Quyết định 39 và Quyết định số 3534 của UBND tỉnh đều đạt

và vượt kế hoạch từ 0,1 đến 54%.

- Tuyến vận tải khách liên tỉnh và đến tỉnh, thành phố lân cận, so với Quyết

định 39 và Quyết định số 3534 (27 tuyến/15 tuyến) đạt 180%.

- Mỗi năm thực hiện cắt một tuyến trợ giá theo kế hoạch để giảm chi phí cho

ngân sách của tỉnh.

- Đầu tư phương tiện: các doanh nghiệp vận tải đã đầu tư tổng số 489 xe. Với

tổng số vốn thực hiện là 272.641 triệu đồng. Các doanh nghiệp vận tải vay vốn đầu

tư phương tiện kinh doanh đều đạt hiệu quả và trả lãi vay từ Quỹ đầu tư của tỉnh và

các ngân hàng đúng thời gian quy định

- Đầu tư xây dựng bến xe: thực hiện được 14 bến/15 bến xe đạt 93% theo kế

hoạch.

IV. CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HỖ TRỢ CÁC

DOANH NGHIỆP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH; ÁP DỤNG HỆ

THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TIÊN TIẾN, BẢO HỘ SỞ HỮU TRÍ

TUỆ TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP.

IV.1. CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HỖ TRỢ CÁC

DOANH NGHIỆP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH; ÁP DỤNG HỆ

THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TIÊN TIẾN TRONG QUÁ TRÌNH HỘI

NHẬP

1. Kết quả thực hiện:

Tình hình xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn

ISO 9001:2000 của các cơ quan hành chính trên địa bàn tỉnh

a. Các cơ quan đã được cấp giấy chứng nhận:





22

Stt Tên đơn vị Năm chứng Số tiền đã hỗ trợ

nhận (VNĐ)

Các đơn vị thực hiện trư c khi có Quyết định 144/2006/QĐ-TTg

1 Sở Kế hoạch và Đầu tư 2004 146 triệu

2 Văn phòng UBND tỉnh 2004 145 triệu

3 Sở Thương mại và Du lịch 2004 146 triệu

4 Sở Công nghiệp 2004 145 triệu

5 Sở Khoa học và Công nghệ (ISO 2005 186 triệu

9001:2000)

Các đơn vị thực hiện sau khi có Quyết định 144/2006/QĐ-TTg

6 Sở Y tế 2008 75 triệu

7 Sở Xây dựng 2007 104,89 triệu

8 Sở Tài nguyên và Môi trường 2008 101,81 triệu

9 Sở Tư pháp 2008 98,73 triệu

10 Sở Ngoại vụ 2009 50 triệu (đang tiến hành

thanh lý)

11 Sở Tài chính 2009 89,5 triệu

12 UBND thành phố Biên Hòa 2008 107 triệu

13 UBND huyện Thống Nhất 2009 98 triệu

14 Sở Khoa học và Công nghệ (ISO 2009 200 triệu

27000)

15 Bệnh viện ĐKKV Thống Nhất 2007 108 triệu

16 Sở Giáo dục và Đào tạo 2009 50 triệu (đang tiến hành

thanh lý)

17 Sở Giao thông Vận tải 2009 50 triệu (đang tiến hành

thanh lý)

18 UBND Thị xã Long Khánh 2009 50 triệu (đang tiến hành

thanh lý)

19 Bệnh viện Nhi đồng Đồng Nai 2009 50 triệu (đang tiến hành

thanh lý)

b. Các cơ quan đang xây dựng ISO hành ch nh công:

Stt Tên đơn vị Thời gian dự kiến Số tiền hỗ trợ đến

nay (VNĐ)

1 Sở Nông nghiệp và Phát triển 12/2009

50 triệu

nông thôn

2 UBND huyện Tân Phú 12/2009 50 triệu

3 UBND huyện Trảng Bom 2010 50 triệu

4 UBND huyện Định Quán 2010 50 triệu

5 UBND huyện Vĩnh cửu 2010 50 triệu

6 UBND huyện Xuân Lộc 2010 50 triệu

7 Thanh tra tỉnh 2010 50 triệu

8 Sở Lao động Thương binh và 2010

50 triệu

Xã hội

9 Sở Nội vụ 2010 50 triệu

10 Sở Văn hóa Thể thao và Du 2010

50 triệu

lịch

c. Kế hoạch triển khai m i năm 2010:





23

Stt Tên đơn vị Thời gian thực hiện

1 Sở Thông tin và Truyền thông Năm 2010

2 UBND huyện Long Thành Năm 2010

3 UBND huyện Nhơn Trạch Năm 2010

4 UBND huyện Cẩm Mỹ Năm 2010

2. Đánh giá hiệu quả thực hiện:

2.1. Đánh giá hiệu quả triển khai áp dụng ISO hành ch nh công:

a) Về hiệu quả của việc thực hiện:

Giúp cho lãnh đạo đơn vị nắm bắt được mọi hoạt động của các đơn vị; Giúp

xác định rõ vai trò, trách nhiệm của mỗi cán bộ công chức, mỗi phòng ban trong

từng công việc cụ thể.

Các bước thực hiện công việc được cụ thể hóa rõ ràng và xác định được tiến

độ của công việc giúp cho các tổ chức, công dân không phải đi lại nhiều.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc xây dựng và áp dụng ISO hành

chính công đem lại hiệu qủa cao trong xử lý công việc, đồng thời giúp cho các tổ

chức công dân thuận tiện hơn trong việc thực hiện các thủ tục hành chính. Tuy

nhiên đến nay vẫn chỉ có Sở Khoa học và Công nghệ áp dụng ISO online.

Các hồ sơ, tài liệu được sắp xếp gọn gàng và được kiểm soát chặt chẽ do đó

không bị thất lạc, không mất nhiều thời gian truy lục hồ sơ khi làm việc với các tổ

chức, công dân.

b) Về hoạt động tư vấn, chứng nhận của các tổ chức tư vấn, chứng nhận:

+ Về hoạt động tư vấn:

Các tổ chức tư vấn bố trí chuyên gia tư vấn có năng lực phù hợp với lĩnh vực

tư vấn.

Các tổ chức tư vấn chưa dành nhiều thời gian cho việc đào tạo nhận thức về

ISO 9001:2000 cho Cán bộ công chức (CBCC) của các đơn vị.

Thời gian làm việc giữa tổ chức tư vấn với đơn vị thực hiện chưa nhiều do đó

CBCC của các đơn vị chưa thể nắm rõ được cách thức thực hiện.

Các tổ chức tư vấn chưa thực sự chủ động trong việc báo cáo tình hình triển

khai tại đơn vị thực hiện cho Ban chỉ đạo Chương trình, để đưa ra các giải pháp

nhằm thúc đẩy việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện.

+ Về hoạt động chứng nhận:

Các chuyên gia đánh giá đều là những người có năng lực và kinh nghiệm

đánh giá trong lĩnh vực ISO hành chính công.

Các tổ chức chứng nhận thực hiện việc đánh giá tại các đơn vị áp dụng ISO

hành chính công trong khoảng thời gian quá ngắn (01 ngày), do đó khó có thể đánh

giá được tất cả các quy trình tác nghiệp. Vì vậy hiệu quả của việc đánh giá chưa

cao.





24

Các tổ chức chứng nhận chưa tạo sự phối hợp chặt chẽ giữa tổ chức mình với

Ban chỉ đạo Chương trình để thực hiện việc giám sát, theo dõi và đánh giá hiệu quả

của việc áp dụng ISO hành chính công.

2.2. Đánh giá thuận lợi và khó khăn trong việc xây dựng, áp dụng và duy

trì, cải tiến hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000:

a. Thuận lợi:

- Được quan tâm, chỉ đạo của các cấp ủy đảng và chính quyền trong việc xây

dựng, áp dụng và duy trì, cải tiến hệ thống.

- Được sự quan tâm sâu sắc của lãnh đạo đơn vị và sự quyết tâm của toàn thể

cán bộ công chức trong việc xây dựng hệ thống.

- Một số thành viên trong Ban chỉ đạo Chương trình đã được đào tạo và có

kinh nghiệm trong việc xây dựng và đánh giá hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu

chuẩn ISO 9001:2000.

- Hiện nay số lượng tổ chức tư vấn cũng như tổ chức đánh giá trong lĩnh vực

ISO hành chính công ngày càng nhiều do đó thuận tiện cho các đơn vị trong việc

lựa chọn các tổ chức phù hợp với lĩnh vực quản lý của mình.

b. Khó khăn:

- Lãnh đạo một số đơn vị chưa thực sự chủ động trong việc thực hiện Chương

trình.

- Do cán bộ trong đơn vị luân chuyển công tác và đảm nhiều nhiều công việc

nên ảnh hưởng tới tiến độ thực hiện.

- Trong quá trình xây dựng hệ thống, một số chính sách pháp luật thay đổi, bổ

sung nên các quy trình, thủ tục của hệ thống tại các đơn vị cũng phải sửa đổi cho

phù hợp do đó cũng ảnh hưởng tới tiến độ thực hiện.

- Hoạt động đánh giá nội bộ của các đơn vị hiện nay: có một số đánh giá viên

thiếu chuyên môn, không am hiểu về công việc đánh giá nên kết quả đánh giá

không có chiều sâu, không phản ánh được nội dung công việc của hệ thống.

- Các đơn vị chưa chủ động trong việc khảo sát, thu thập ý kiến của các tổ

chức, công dân sau khi áp dụng ISO hành chính công. Do đó ảnh hưởng rất nhiều

đến việc đánh giá tính hiệu quả của ISO hành chính công mang lại cho đơn vị.

- Các đơn vị sau mỗi đợt đánh giá giám sát không thực hiện việc báo cáo về

kết quả đánh giá của đơn vị cho Ban chỉ đạo cũng như chưa thực hiện thông báo

thời gian đánh giá giám sát cho Ban chỉ đạo. Do đó Ban chỉ đạo gặp nhiều khó

khăn trong việc thực hiện theo dõi và giám sát hiệu quả cũng như hiệu lực của việc

áp dụng ISO hành chính công tại các đơn vị.

IV.2. CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HỘ SỞ

HỮU TRÍ TUỆ TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP:

1. Tình hình triển khai thực hiện:





25

a. Công tác hỗ trợ xác lập, khai thác, bảo vệ và phát triển tài sản tr tuệ

và quảng bá các tài sản tr tuệ thông qua việc xây dựng wesite cho các doanh

nghiệp:

- Qua 4 năm triển khai thực hiện Chương trình đã và đang hỗ trợ 130 doanh

nghiệp trong việc đăng ký, xác lập quyền sở hữu trí tuệ. Trong đó có 116 nhãn hiệu

hàng hóa trong nước, 07 nhãn hiệu hàng hóa nước ngoài; 9 kiểu dáng công nghiệp

và 7 sáng chế xây dựng 18 website. Lĩnh vực được các doanh nghiệp tập trung bảo

hộ là: lĩnh vực sản xuất, chế biến, dịch vụ, vật liệu xây dựng, cơ khí, may mặc và

trồng trọt. Các đơn vị được hỗ trợ chủ yếu là những đơn vị điển hình do các địa

phương đề xuất, hay thông qua các hội, tổ chức đoàn thể như Hội Nông dân tỉnh

Đồng Nai, Hội làm vườn huyện Vĩnh Cửu, Hội doanh nghiệp Trẻ, Các hợp tác xã

và doanh nghiệp ngoài Quốc doanh.

- Các sản phẩm bưởi Tân Triều, rau an toàn của hợp tác xã rau Trảng Dài sau

khi được cấp và công bố giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tập thể, nhiều nhà

phân phối sản phẩm trong nước đã đến khảo sát, tìm hiểu khả năng phối hợp với

đơn vị để đưa sản phẩm đúng nguồn gốc xuất xứ ra thị trường.

b. Công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức, tập huấn, phổ

biến các văn bản pháp luật của Nhà nư c có liên quan cho các cơ quan quản

lý, các doanh nghiệp và cộng đồng:

- Tuyên truyền: đã phối hợp với các cơ quan Trung ương và địa phương tổ

chức được nhiều chương trình để quảng bá, giới thiệu và phát triển thương hiệu

cho các doanh nghiệp đã đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ như thông qua các

hội chợ xúc tiến thương mại, chợ công nghệ, các website... trong và ngoài tỉnh.

- Đã tổ chức 19 lớp tập huấn về sở hữu trí tuệ cho khoảng gần 750 lượt người

trong đó, điển hình là phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ và Thanh tra Bộ KHCN mở

lớp tập huấn về thực thi sở hữu trí tuệ trong thời gian 5 ngày cho các các Bộ, Sở,

ban ngành đang hoạt động trên các lĩnh vực liên quan đến sở hữu công nghiệp.

- Phối hợp cùng với các cơ quan thông tin đại chúng của tỉnh xây dựng 52 tin

bài, 16 phim phóng sự và nhiều tin bài khác nhằm tuyên truyền quảng bá cho các

doanh nghiệp đã làm tốt việc xây dựng và phát triển thương hiệu. Điền hình là

nhân ngày Doanh nhân và ngày Sở hữu trí tuệ thế giới.

- Nhân ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 26/4 hàng năm Sở Khoa học và Công

nghệ đã phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình Đồng Nai mời đại diện Cục

Sở hữu trí tuệ, và một số nhà khoa học, nhà doanh nghiệp trong tỉnh tọa đàm trực

tiếp trên chuyên mục “Đồng hành cùng doanh nghiệp” nhằm tuyên truyền, phổ

biến kiến thức pháp luật sở hữu trí tuệ.

- Xây dựng và phát sóng “Chương trình Sở hữu trí tuệ và Cuộc sống” trên Đài

truyền hình tỉnh Đồng Nai, thời gian thực hiện từ 10/2009 đến 12/2009.

- Công tác tư vấn, hướng dẫn thủ tục nộp đơn bảo hộ tài sản trí tuệ, cung cấp

thông tin về nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp và thông tin về sáng chế

cho hơn 500 đơn vị. Hơn 2/3 trong số các đơn vị được tư vấn chủ yếu là về lĩnh





26

vực nhãn hiệu hàng hóa.

Năm 2008, hỗ trợ thông qua việc phê duyệt cho triển khai đề tài xác lập, quản

lý và phát triển chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm bưởi Tân Triều thực hiện 2009-2010.

Kết quả đề tài sẽ làm cơ sở khoa học xây dựng bộ hồ sơ đăng bạ Chỉ dẫn địa lý

bưởi Tân Triều tại Cục Sở hữu trí tuệ, nhằm góp phần bảo vệ, nâng cao uy tín, giá

trị thương phẩm của bưởi Tân Triều.

2. Kế hoạch năm 2010:

- Tiếp tục tổ chức các hoạt động thông tin, tuyên truyền về Chương trình; tổ

chức các Hội thảo hướng dẫn tham gia Chương trình.

- Tiếp tục việc hỗ trợ xác lập, khai thác, bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ và

quảng bá các tài sản trí tuệ thông qua việc xây dựng wesite cho các doanh nghiệp.

- Tổ chức các đoàn khảo sát, học tập kinh nghiệm về nhãn hiệu tập thể, chỉ

dẫn địa lý các tỉnh bạn.

- Chủ trì, tổ chức triển khai thực hiện đề tài “Xác lập quyền chỉ dẫn địa lý cho

sản phẩm bưởi Tân Triều huyện Vĩnh Cửu từ 9/2009 -7/2011”.

- Xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình năm 2011 trình UBND tỉnh phê

duyệt triển khai thực hiện.

Bảng : KẾ HOẠCH CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ BẢO HỘ TÀI SẢN TRÍ

TUỆ NĂM 2010

Năm Tổng số NHHH NHHH Kiểu dáng Sáng chế Website

doanh trong nước công

nghiệp được nước ngòai nghiệp

hỗ trợ

2010 45 45 02 06 05 06



3. Nhận xét, đánh giá:

3.1. Mặt tích cực:

- Chương trình đã và đang được khẩn trương triển khai theo đúng quy định,

kế hoạch được phê duyệt và đã thu hút được sự quan tâm, tham gia tích cực của

cộng đồng trên địa bàn tỉnh, các doanh nghiệp, hiệp hội, các HTX, tổ hợp tác,

CLB. Thông qua các hoạt động Chương trình đã triển khai được hầu hết các nội

dung được phê duyệt, đặc biệt là nội dung tuyên truyền về sở hữu trí tuệ; xác lập,

khai thác, bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ và quảng bá các tài sản trí tuệ. Đã góp

phần nâng cao uy tín, chất lượng, giá trị và thị trường của sản phẩm, góp phần hỗ

trợ nông dân, nhà sản xuất ổn định và từng bước nâng cao thu nhập.

- Các doanh nghiệp, hiệp hội, các HTX đã đăng ký tham gia vào chương trình

đều tích cực chủ động phối hợp, tạo điều kiện để ban chủ nhiệm chương trình khảo

sát, đánh giá về doanh nghiệp, cũng như chủ động hoàn tất các hồ sơ, thủ tục tạo

thuận lợi cho quá trình nộp đơn.





27

- Đội ngũ cán bộ của chương trình chủ yếu là trẻ, sáng tạo và nhiệt tình trong

công việc tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ các doanh nghiệp nắm bắt, hiểu biết về sở

hữu trí tuệ cũng như đăng ký xác lập quyền.

3.2. Những tồn tại, hạn chế:

- Công tác phối hợp giữa các Sở, ban ngành cũng như địa phương trong việc

tuyên truyền về sở hữu trí tuệ còn hạn chế. Ở địa phương, các cán bộ chủ yếu là

kiêm nhiệm, chính vì thế công tác phối hợp triển khai, tuyên truyền sâu rộng

chương trình đến doanh nghiệp ở địa phương ít được sự quan tâm của lãnh đạo địa

phương.

- Kinh phí chương trình hạn chế, nên không thể mở rộng phạm vi hỗ trợ ra

cho tất cả các nhóm ngành nghề như các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành mua

bán, kinh doanh chưa được hỗ trợ.

3.3. Đánh giá về hiệu quả của Chương trình:

- Công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về sở hữu trí tuệ, công tác thông

tin, nâng cao nhận thức về sở hữu trí tuệ đã được thực hiện, duy trì thường xuyên

trên các phương tiện thông tin đại chúng.

- Bước đầu định hình việc sử dụng công cụ sở hữu trí tuệ để nâng cao giá trị

và tính cạnh tranh của sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm nông nghiệp, góp phần phát

triển bền vững kinh tế - xã hội.

- Góp phần nâng cao chất lượng, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm.

V. CHƯƠNG TRÌNH KHAI THÁC SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI

NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ CHƯƠNG TRÌNH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG.

V.1. CHƯƠNG TRÌNH KHAI THÁC SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI

NGUYÊN THIÊN NHIÊN.

1. Kết quả thực hiện

1.1. Ban hành các quy định về quản lý, sử dụng các nguồn tài nguyên

Trong 05 năm, đã soạn thảo, ban hành 44 văn bản quy phạm pháp luật về

quản lý, sử dụng các nguồn tài nguyên, gồm 08 nghị quyết, 35 quyết định, 01 chỉ

thị. Các văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực phí đo đạc, lập bản đồ địa

chính; điều chỉnh, bổ sung quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản;

điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010, kế hoạch sử dụng đất 5 năm

(2006 – 2010); quy định về trình tự, thủ tục cấp phép hoạt động khoáng sản; về

khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng; quy định về cấp phép thăm dò, khai

thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước….

Tập trung thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đất đai,

tài nguyên nước, khoáng sản đến các tầng lớp nhân dân trên địa bàn.

1.2. Tập trung điều tra cơ bản, nắm chắc các nguồn tài nguyên:

a) Tập trung triển khai thực hiện dự án hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa





28

ch nh tỉnh Đồng Nai đến 2010:

Thực hiện dự án hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa được phê duyệt theo Quyết

định số 6049/QĐ.CT. UBND ngày 30/12/2005 của UBND tỉnh về việc phê duyệt

dự án hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa chính tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006 -2010,

trong 5 năm qua, đã đo đạc lập lại bản đồ địa chính chính quy cho 25 xã, phường

với 845 điểm địa chính II và 1.980 tờ bản đồ địa chính với tổng diện tích 118.496

ha. Nâng tổng số xã, phường, thị trấn có bản đồ địa chính được lập bằng công nghệ

bản đồ số là 124 xã và số xã, phường, thị trấn đo đạc theo hệ tọa độ độc lập, lập

bản đồ địa chính từ ảnh máy bay, thực hiện bằng phương pháp truyền thống là 47

xã, đã được số hóa, đưa về chuẩn phần mềm Famis do Bộ Tài nguyên và Môi

trường quy định để sử dụng.

Từ năm 2006 đến nay đã kê khai đăng ký đất đai để cấp đổi, cấp mới giấy

chứng nhận cho 46 xã, phường, thị trấn với khoảng 363.489 hồ sơ tương ứng diện

tích là 104.035 ha, nâng tổng số hồ sơ kê khai đăng ký đất đai từ trước đến nay là

503.208 hồ sơ tương ứng với 475.000 ha. Đã lập lại bộ hồ sơ địa chính cho 47 xã,

phường; trong đó lập 82 sổ mục kê và 540 sổ địa chính.

Ngoài ra, để xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính phục vụ công tác quản lý đất

đai, từ cuối năm 2006, UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành Tài nguyên và Môi trường

triển khai thực hiện dự án Hoàn thiện hồ sơ địa chính gốc theo đơn vị cấp xã và đã

hoàn thành việc cập nhật biến động và hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa chính gốc cho

09 huyện, thị xã Long Khánh và thành phố Biên Hòa với 118 xã và đã bàn giao hồ

sơ cho địa phương quản lý, sử dụng.

b) Điều tra, đánh giá tài nguyên khoáng sản:

Tiếp tục điều tra đánh giá đúng thực trạng tài nguyên khoáng sản có trên địa

bàn tỉnh Đồng Nai, đã triển khai và hoàn thành đề tài sét gạch ngói, kết quả đã

khoanh định được diện tích có phân bố sét là 112 km2 với tổng trữ lượng với tài

nguyên dự báo sét gạch ngói đạt 584 triệu m3. Các khu vực phân bố sét có triển

vọng đã được đưa vào Nghị quyết điều chỉnh quy hoạch thăm dò khai thác và sử

dụng khoáng sản tỉnh Đồng Nai đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 để

quản lý bảo vệ và cấp phép khai thác theo kế hoạch.

UBND tỉnh đã ra quyết định số 203/QĐ-UBND ngày 14/01/2008 về việc phê

duyệt các khu vực cấm, tạm thời cấm hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Đồng

Nai gồm 143 khu vực cấm hoạt động khoáng sản với diện tích 11.859 ha và các

khu vực cấm khai thác khoáng sản.

c) Điều tra hiện trạng tài nguyên nư c:

Triển khai và hoàn thành Dự án nghiên cứu đánh giá tổng hợp, hiện trạng khai

thác phục vụ quy hoạch và quản lý tài nguyên nước mặt tỉnh Đồng Nai: qua kết

quả nghiên cứu cho thấy chất lượng nguồn nước trên tỉnh Đồng Nai còn khá tốt

nhưng đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm trong tương lai gần nếu như không có

biện pháp kiểm soát hợp lý.

Triển khai và hoàn thành Dự án nghiên cứu và xây dựng mạng quan trắc động





29

thái nước dưới đất tỉnh Đồng Nai: Kết quả dự án làm cơ sở khoa học để định

hướng công tác quản lý, khai thác, sử dụng và thẩm định cấp phép khai thác, sử

dụng tài nguyên nước và điều chỉnh, đình chỉ khai thác, sử dụng nước dưới đất;

làm cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch tài nguyên nước.

1.3. Hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch khai thác sử dụng tài nguyên.

Đến nay, đã hoàn thành điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 -

2010 và lập kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 của tỉnh, 11/11 huyện, thị xã, thành

phố, 171 xã, phường, thị trấn. Để đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của địa

phương, UBND tỉnh chỉ đạo điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010, kế

hoạch sử dụng đất kỳ cuối (giai đoạn 2006 - 2010) của tỉnh và 6 huyện: Vĩnh Cửu,

Nhơn Trạch, Long Thành, Trảng Bom, Cẩm Mỹ và Xuân Lộc. Đến nay điều chỉnh

quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của tỉnh đã được Chính phủ thông qua tại

Nghị quyết số 56/2009/NQ-CP ngày 27/11/2009 và 6 huyện đã được UBND tỉnh

phê duyệt.

Thực hiện Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản, tỉnh đã

hoàn thành điều chỉnh quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản đến năm

2010, định hướng đến 2020 (Nghị quyết số 72/2006/NQ-HĐND của HĐND tỉnh),

Sở Tài nguyên và Môi trường đã công bố công khai các nội dung của Nghị quyết

(tại Sở; trên Website của Sở, trên Báo Đồng Nai); trình UBND tỉnh ban hành và

triển khai thực hiện kế hoạch hoạt động khoáng sản hàng năm; triển khai cắm

1.177 mốc theo quy hoạch, bàn giao cho các ngành và địa phương thực hiện công

tác quản lý.

Sau gần 3 năm thực hiện quy hoạch khoáng sản, công tác quản lý Nhà nước

về tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh từng bước đi vào nề nếp. Dự án Điều

chỉnh bổ sung quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản tỉnh

Đồng Nai đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã được HĐND Tỉnh thông

qua tại Nghị quyết số 143/2009/NQ-HĐND ngày 16/7/2009.

1.4. Hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Nhìn chung, công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy

CNQSDĐ) trên địa bàn tỉnh trong những năm qua đã tích cực triển khai thực hiện,

kết quả đạt được khá cao; hộ gia đình cá nhân đã cấp được xấp xỉ 90% số thửa và

diện tích. Trình tự, thủ tục cấp giấy thực hiện chặt chẽ, đúng quy định; hầu hết giấy

CNQSDĐ đã cấp đều được lập và quản lý thống nhất trên hê thống hồ sơ địa

chính, đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai theo đúng quy định của pháp luật.

Trong 05 năm qua, trên địa bàn tỉnh đã cấp được 159.842 giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất với 179.799 thửa đất, tương ứng 129.722 ha (chiếm khoảng

30% số giấy và 36% diện tích đã cấp từ trước đến nay).

Đến tháng 6/2010 trên địa bàn tỉnh đã cấp được 534.694 giấy với 1.130.324

thửa đất (đạt 91,9% số thửa đủ điều kiện cấp giấy) tương ứng diện tích 388.113 ha

(chiếm 83,5% diện tích cần cấp).

1.5. Quản lý chặt chẽ việc giao đất, cho thuê đất, cấp phép tài nguyên





30

khoáng sản, tài nguyên nư c:

a) Về đất đai:

Công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển quyền, chuyển mục đích

sử dụng đất thực hiện với khối lượng lớn, đúng quy định. Trong 05 năm qua Sở đã

tiếp nhận, lập thủ tục trình UBND tỉnh đã thu hồi đất để thực hiện 656 dự án phát

triển kinh tế với tổng diện tích 11.627 ha, đã giao đất, cho thuê đất 434 dự án với

tổng diện tích 5.760 ha. Các dự án lớn như: Đường Cao tốc TP.HCM - Long

Thành - Dầu Giây (139,6 ha), Khu dân cư Long Hưng (623,1 ha), Trường Cao

đẳng Công nghệ và Quản trị Sonadezi (21,2 ha); Hạ tầng KCN Dầu Giây (339 ha),

Công ty Phát triển KCN Hố Nai (270 ha); Khu công nghiệp Thạnh Phú (177 ha),

Khu công nghiệp Ông Kèo (487,4 ha).

Công tác kiểm tra sau giao đất, cho thuê đất được tăng cường, đã tiến hành

kiểm tra sau giao đất, cho thuê đất của 202 dự án, trong đó năm 2007 kiểm tra

131dự án, năm 2008 kiểm tra 31 dự án, năm 2009 kiểm tra 40 dự án. Kết quả: đã

phát hiện 4 trường hợp cho thuê trái phép với tổng diện tích 20,67 ha, 5 trường hợp

chuyển mục đích trái phép với tổng diện tích 5,32 ha và 53 trường hợp chậm đưa

đất vào sử dụng với tổng diện tích 579,79 ha. Đến nay đã thu hồi 21 dự án với tổng

diện tích 393,28 ha.

b) Về khoáng sản:

Từ năm 2007 đến năm 2010 Sở Tài nguyên môi trường tham mưu UBND

tỉnh phê duyệt Kế hoạch thăm dò, khai thác khoáng sản hàng năm. Trên cơ sở đó,

Sở đã tham mưu UBND tỉnh cấp 82 giấy phép các loại:

- Trong năm 2006, cấp giấy phép thăm dò 03 mỏ; cấp gia hạn giấy phép 02

mỏ; cấp giấy phép thừa kế 02 mỏ; cấp giấy phép nâng công suất 02 mỏ và cấp mới

giấy phép khai thác khoáng sản 01 mỏ.

- Trong năm 2007, cấp giấy phép thăm dò 09 mỏ; cấp gia hạn giấy phép 04

mỏ; cấp giấy phép nâng công suất 06 mỏ; cấp mới giấy phép khai thác khoáng sản

06 mỏ.

- Trong năm 2008, cấp giấy phép thăm dò 09 mỏ; cấp gia hạn giấy phép 03

mỏ; và cấp mới giấy phép khai thác khoáng sản 09 mỏ.

- Trong năm 2009, cấp giấy phép thăm dò 06 mỏ và giấy phép khai thác

khoáng sản 09 mỏ, thừa kế 02 mỏ, gia hạn 09 mỏ.

c) Về Tài nguyên nư c:

Tham mưu công tác cấp phép về tài nguyên nước, Sở Tài nguyên và Môi

trường tổ chức 02 đợt tập huấn, gửi thông báo đến 1.400 doanh nghiệp hướng dẫn

việc thực hiện các quy định xin cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên

nước và xả nước thải vào nguồn nước; tham mưu UBND tỉnh cấp 99 giấy phép

khai thác tài nguyên nước với tổng lưu lượng khai thác 34.128,38m3/ ngày.đêm;

đã cấp 18 giấy phép khai thác nước mặt với tổng lưu lượng khai thác là 2.261.695

m3/ngày ; đã cấp 86 giấy phép xả nước thải vào nguồn nước với tổng lưu lượng là





31

192.969,94m3/ngày.

1.6. Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của

pháp luật về tài nguyên:

Trong 05 năm đã tiến hành 566 cuộc thanh tra, kiểm tra tại 1.057 đơn vị. Qua

thanh tra, kiểm tra phát hiện 845 đơn vị có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh

vực tài nguyên và Môi trường. Đã xử phạt và đề xuất cấp có thẩm quyền đã tiến

hành xử phạt 1.300 trường hợp, với tổng số tiền là 9,6 tỷ đồng, thu hồi 117,3 ha

đất; chuyển cơ quan điều tra xử lý 01 vụ vi phạm pháp luật về đất đai, tạm đình chỉ

hoạt động của 01 doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường cho đến nay chưa cho

phép hoạt động trở lại.

2. Đánh giá chung

2.1. Những mặt được

- Công tác quản lý đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản đã có những bước

phát triển đáng kể, từng bước đi vào nền nếp, ổn định. Ý thức chấp hành pháp luật

về đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản trong cán bộ, đảng viên, công chức, các tổ

chức, nhân dân được nâng lên rõ rệt. Đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản ngày

càng được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, phát huy nguồn lực trong phát triển kinh tế

- xã hội, góp phần quan trọng vào nguồn thu ngân sách của tỉnh.

- Công tác cải cách hành chính trong thực hiện các thủ tục hành chính về đất

đai, tài nguyên ngày càng đạt hiệu quả, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp,

các tổ chức khi thực hiện các thủ tục có liên quan, góp phần đẩy nhanh tiến độ

triển khai các dự án phát triển kinh tế, xã hội. Qua thanh tra, kiểm tra đã kịp thời đề

ra các biện pháp chấn chỉnh trong công tác quản lý, sử dụng tài nguyên, góp phần

giảm bớt vi phạm và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước.

2.2. Những mặt hạn chế, tồn tại và nguyên nhân

- Mặc dù đã tập trung chỉ đạo, thực hiện nhiều biện pháp quyết liệt, công tác

cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sự chuyển biến mạnh mẽ, kết quả đạt

được khá cao (khối lượng cấp trong 5 năm chiếm 30% số giấy và 36% diện tích đã

cấp từ trước đến nay) nhưng vẫn chưa đạt chỉ tiêu đề ra.

- Quy hoạch tài nguyên nước vẫn chưa thực hiện được do chưa có hướng dẫn

của Bộ Tài nguyên và Môi trường về trình tự, thủ tục, thẩm quyền phê duyệt.

V.2. CHƯƠNG TRÌNH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG.

1. Kết quả thực hiện:

1.1. Phòng ngừa và hạn chế các tác động xấu đến môi trường

a) Tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật:

Công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật về bảo vệ

môi trường trên địa bàn trong hơn hai năm qua ngày càng được chú trọng thực hiện

thông qua nhiều phương thức. Đồng thời, đang xây dựng triển khai dự án “tổng thể







32

về truyền thông nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường đến năm 2010 và định

hướng đến năm 2020” trên địa bàn tỉnh.

b) Ban hành các quy định và tăng cường thanh tra, kiểm tra:

Quyết định số 65/2007/QĐ-UBND ngày 11/12/2007 về việc phân cấp vùng

môi trường tiếp nhận nước thải, khí thải trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; Quyết định số

33/2008/QĐ-UBND ban hành qui định về bảo vệ môi trường trong sử dụng năng

lượng từ than, gỗ tạp trên địa bàn tỉnh và kế hoạch số 4664/KH-UBND về kế

hoạch tổ chức thực hiện Nghị định thư Kyoto thuộc công ước khung của Liên hợp

quốc về biến đổi khí hậu giai đoạn 2008-2010…

Công tác lập và thẩm định đánh giá tác động môi trường các dự án đầu tư

được tuân thủ thực hiện; đã tổ chức hội đồng thẩm định 241 dự án đầu tư trên địa

bàn tỉnh và trình UBND tỉnh cấp quyết định phê chuẩn 191 dự án; UBND các

huyện thẩm định và xác nhận đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường 720 hồ sơ.

Công tác thanh tra hoạt động bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp

từng bước được củng cố và tăng cường qua từng năm, định kỳ báo cáo kết quả

thực hiện để có chỉ đạo xử lý kịp thời. Tổ chức thanh tra về lĩnh vực môi trường

803 đơn vị, xử phạt 859 trường hợp với tổng số tiền xử phạt là 7,9 tỷ đồng.

c) Kiểm tra, kiểm soát ô nhiễm và quan trắc môi trường

- Thẩm định hồ sơ, giải quyết cho 12 Công ty nhập khẩu phế liệu, với tổng

lượng nhập khẩu trên 4,8 triệu tấn (từ 2006-2009); tăng cường kiểm tra giám sát,

kịp thời phát hiện và xử lý những trường hợp vi phạm quy định về bảo vệ môi

trường đối với việc nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, việc nhập khẩu

hóa chất phục vụ sản xuất kinh doanh và mục đích khác.

- Tiến hành điều tra, đánh giá thực trạng sử dụng, quản lý hóa chất trên địa

bàn, qua đó công tác kiểm tra, kiểm soát kinh doanh sử dụng hóa chất có mức độ

độc hại cao trong sản xuất và thương mại được tăng cường và thực hiện nghiêm

túc, thông qua các hoạt động cụ thể như kiểm tra việc dán nhãn hóa chất, bảng biểu

cảnh báo, khai báo hóa chất.

- Tuân thủ thực hiện Quy định về quản lý sản xuất, kinh doanh cung ứng và

sử dụng vật liệu nổ công nghiệp trên địa bàn tỉnh, như kiểm tra, giám sát việc hợp

đồng và thanh lý mua bán về vật liệu nổ.

- Thời gian qua đã thẩm định cấp Sổ đăng ký quản lý chất thải nguy hại đối

với chủ nguồn thải 1061 sổ; thẩm định và cấp giấy phép, mã số hoạt động quản lý

chất thải nguy hại: tham mưu UBND tỉnh cấp giấy phép cho 01 đơn vị có phạm vi

hoạt động trên địa bàn tỉnh và có ý kiến thẩm định hồ sơ cấp phép cho 01 đơn vị có

phạm vi hoạt động trên địa bàn liên tỉnh.

- Bên cạnh đó, nhiệm vụ quan trắc các thành phần môi trường như quan trắc

nước mặt lục địa, môi trường không khí, môi trường đất, tài nguyên nước mặt,

động thái nước dưới đất được thực hiện hàng năm, với khối lượng quan trắc năm

sau cao hơn năm trước; cụ thể năm 2006 khối lượng thực hiện 2.332 mẫu/23.960





33

thông số, năm 2007: 3.291 mẫu/54.598 thông số, năm 2008: 4.249 mẫu/63.269

thông số, năm 2009: 3956 mẫu/78.841 thông số.

- Xây dựng dự án tổng thể về Nâng cao năng lực quan trắc môi trường trên

địa bàn tỉnh Đồng Nai, giai đoạn 2007-2010 và trình UBND tỉnh phê duyệt tại

Quyết định số 2046/QĐ-UBND ngày 06/7/2007, với tổng kinh phí 49.739 triệu

đồng, đến nay đã giải ngân 7.939 triệu đồng ( tính đến tháng 12/2009). Từ đó, năng

lực quan trắc và phân tích môi trường của tỉnh được củng cố và tiếp tục phát triển,

cơ bản đáp ứng được các yêu cầu về con người, trang thiết bị chuyên ngành môi

trường phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra bảo vệ môi trường, đặc biệt đối với các

khu công nghiệp.

- Triển khai thu phí bảo vệ môi trường đối với chất thải, trước mắt là nước

thải theo Nghị định 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ và Nghị định

04/2007/NĐ-CP: Hàng năm, đều tổ chức hội nghị sơ kết tình hình thực hiện và

triển khai kế hoạch thu phí năm sau; tổ chức kiểm tra thu, phân tích mẫu để thẩm

định tờ khai và thông báo nộp phí. Kết quả thu phí trên địa bàn tỉnh Đồng Nai các

năm 2006, 2007, 2008 và 2009 được 51,127 tỷ đồng (trong đó 23,097 tỷ đồng phí

nước thải công nghiệp; 28,03 tỷ đồng phí nước thải sinh hoạt).

1.2. Khắc phục tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường

- Nhằm mục tiêu thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ môi trường cấp bách đối với

lưu vực sông Đồng Nai trên địa bàn tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường cùng với

các ngành, các cấp tham mưu UBND tỉnh xây dựng:

+ Dự án tổng thể ứng cứu sự cố môi trường về tràn dầu và hóa chất độc hại

trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.

+ Dự án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai trên địa

bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2010, định hướng đến 2020, trong đó định hướng các

nội dung phối hợp với Trung ương và 12 tỉnh/thành trong lưu vực hệ thống sông

Đồng Nai để thực hiện “Đề án tổng thể về bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống

sông Đồng Nai đến 2020” theo Quyết định số 187/QĐ-TTg ngày 03/12/2007 của

Thủ tướng Chính phủ.

Từ năm 2007 đến nay, Đồng Nai đã và đang triển khai thực hiện một số dự

án/nhiệm vụ thành phần thuộc dự án tổng thể liên quan đến bảo vệ môi trường

nước lưu vực sông Đồng Nai, bao gồm các nhiệm vụ như:

+ Nhiệm vụ điều tra hiện trạng môi trường và nghiên cứu, đề xuất các biện

pháp xử lý khắc phục ô nhiễm môi trường do sản xuất hóa chất và hóa chất tồn lưu

trên địa bàn tỉnh.

+ Nhiệm vụ Điều tra, khảo sát và đánh giá chất lượng bùn đáy sông Thị Vải

thuộc địa bàn tỉnh.

+ Nhiệm vụ Xây dựng mô hình tự quản tại 2 địa bàn xã Thanh Bình và thị

trấn Trảng Bom, huyện Trảng Bom.

+ Dự án điều tra, đánh giá các nguồn thải, đề xuất các biện pháp bảo vệ môi





34

trường trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

+ Nhiệm vụ phân loại, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại hộ gia

đình trên địa bàn Tp. Biên Hòa (thí điểm cho 4 phường nội ô).

+ Xây dựng mạng lưới quan trắc định kỳ hàng năm, thực hiện quan trắc và lập

báo cáo về hiện trạng ô nhiễm, lan truyền và tích tụ chất độc hóa học/dioxin vùng

phụ cận sân bay Biên Hòa năm 2008. Đề xuất các giải pháp khắc phục.

- Khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường qua việc xử lý triệt để các cơ sở

gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định 64/2003/QĐ-TTg của Thủ

tướng Chính phủ. Tính đến nay trong 11 cơ sở, có 09 cơ sở đã được chứng nhận cơ

sở hoàn thành xử lý triệt để ô nhiễm môi trường.

- Tính đến tháng 12/2009 , đã đề xuất UBND tỉnh Quyết định và công bố

danh mục 123 cơ sở (45 cơ sở ô nhiễm môi trường và 78 cơ sở ô nhiễm môi trường

nghiêm trọng). Trong đó theo ủy quyền của Bộ Tài nguyên và Môi trường quyết

định danh mục 05 cơ sở ô nhiễm môi trường và 08 cơ sở ô nhiễm môi trường

nghiêm trọng thuộc thẩm quyền của Bộ. Hiện nay đã kiểm tra và chứng nhận 08 cơ

sở hoàn thành khắc phục ô nhiễm môi trường.

- Tổ chức kiểm tra công tác bảo vệ môi trường tại các doanh nghiệp trên địa

bàn tỉnh như xử lý nước thải, khí thải; chất thải nguy hại và chương trình giám sát

môi trường định kỳ: Đối với cấp tỉnh: tổ chức kiểm tra hoạt động BVMT của 719

doanh nghiệp và kiểm tra thu mẫu nước thải tại 21 khu công nghiệp và các doanh

nghiệp có lưu lượng nước thải lớn trên địa bàn tỉnh. Đối với cấp huyện: tổ chức

kiểm tra 658 cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

Ngoài ra, Công an tỉnh đã phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường và

phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện tổ chức kiểm tra, phát hiện 338 vụ

việc vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, trong đó có các điểm nóng như Công

ty men thực phẩm AB Mauri, Công ty cổ phần môi trường Đồng Xanh.

1.3. Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học

Triển khai, tập huấn Luật Đa dạng sinh học và chương trình hành động quốc

gia về đa dạng sinh học.

Đã lập dự án tổng thể phát triển rừng trên địa bàn tỉnh. Công tác quản lý bảo

vệ và phát triển rừng được quan tâm đã phát huy chức năng phòng hộ của rừng,

giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giữ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái; đến

năm 2008, độ che phủ rừng đạt 28,3%, năm 2009 ước đạt 29,01%.

Tiếp tục thực hiện các biện pháp bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học tại

Vườn Quốc gia Cát Tiên, Khu bảo tồn thiên nhiên và di tích Vĩnh Cửu, rừng phòng

hộ ngập mặn Long Thành - Nhơn Trạch.

1.4. Bảo vệ môi trường các khu vực trọng điểm

1.4.1. Bảo vệ môi trường các khu công nghiệp và đô thị.

a) Bảo vệ môi trường các khu công nghiệp/cụm công nghiệp.





35

Trong những năm qua, vấn đề ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp,

cụm công nghiệp chủ yếu là nước thải, chất thải rắn sinh hoạt, công nghiệp và chất

thải nguy hại. Sở Tài nguyên và Môi trường đã triển khai nhiều biện pháp, tham

mưu UBND tỉnh ban hành nhiều văn bản chỉ đạo về vấn đề này.

- Tổng lượng nước thải tại 21 KCN đã đi vào hoạt động khoảng 70.000

m3/ngày; trong đó, nước thải vào sông Đồng Nai khoảng 45.500 m3/ngày, sông

Thị Vải khoảng 21.800 m3/ngày và các nguồn tiếp nhận khác khoảng 2.700

m3/ngày; lượng nước thải của các KCN đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung

khoảng 57.500 m3/ngày và chưa có là 12.500 m3/ngày.

Đến nay, còn 2/21 KCN chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung do

vướng giải phóng mặt bằng (Thạnh Phú, Ông Kèo); riêng trong năm 2009 đã có 8

KCN triển khai xây dựng, 01 KCN đấu nối (Nhơn Trạch 2 - Lộc Khang) vào hệ

thống xử lý nước thải tập trung.

Có 4/43 Cụm công nghiệp đã thực hiện đánh giá tác động môi trường (02

Cụm công nghiệp đã có dự án đầu tư). Tại các Cụm công nghiệp đang hoạt động

hầu hết chưa đầu tư các hạng mục công trình xử lý môi trường, đã tác động tiêu

cực đến môi trường nguồn tiếp nhận nước mặt trong khu vực, ảnh hưởng đến chất

lượng không khí đối với khu dân cư xung quanh.

- Tại các KCN, chất thải rắn thông thường và chất thải nguy hại phát sinh đều

tăng hàng năm nhưng chưa được thu gom xử lý triệt để. Năm 2009, lượng chất thải

rắn thông thường phát sinh khoảng 748.980 tấn (thu gom đạt 88,7%); lượng chất

thải nguy hại phát sinh khoảng 108.441 tấn (thu gom và xử lý đạt 54%).

b) Bảo vệ môi trường đô thị:

- Về cấp nước: Tỷ lệ hộ dùng nước sạch khu vực đô thị tăng lên hàng năm,

ước năm 2009 đạt 83% tương ứng 96% số hộ; đảm bảo tiêu chuẩn cấp nước 120-

150lít/ người/ngày.đêm.

- Dự án thoát nước mưa và thu gom, xử lý nước thải đô thị:

Đã hoàn thành dự án nạo vét các suối Cầu Đen (Tp. Biên Hòa), suối Ông Lan

và suối Quản Thủ (huyện Long Thành); hệ thống thoát lũ ven thị xã Long Khánh.

Hoàn chỉnh thiết kế kỹ thuật và hồ sơ giải phóng mặt bằng 2 phường Trảng Dài và

Tân Tiến để triển khai dự án nạo vét suối Săn Máu (Biên Hòa) và thiết kế kỹ thuật

dự án nạo vét suối Sâu (Vĩnh Cửu).

Triển khai thực hiện lập quy hoạch hệ thống thoát nước và xử lý nước thải tập

trung cho các đô thị trên địa bàn tỉnh đến năm 2010.

- Tổ chức triển khai dự án thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn đô thị và

khu công nghiệp, kể cả chất thải nguy hại, bao gồm: triển khai thực hiện bãi chôn

chất thải rắn sinh hoạt và công nghiệp không nguy hại hợp vệ sinh tại phường

Trảng Dài (Biên Hòa); đối với 5 bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn

các huyện Xuân Lộc, Tân Phú, Trảng Bom, Định Quán và Thống Nhất đã được

phê duyệt báo cáo dự án đầu tư, chưa lập thiết kế cơ sở và dự toán.





36

- Ngành y tế đã quan tâm đầu tư hệ thống xử lý nước thải cho các cơ sở y tế,

năm 2005 chỉ có 8 cơ sở y tế đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải đến nay có

11/20 cơ sở y tế đã đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải.

1.4.2. Bảo vệ môi trường nông thôn.

Ngành nông nghiệp đã tổ chức triển khai dự án “Nước sạch và vệ sinh môi

trường nông thôn”. Đến nay, tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh đạt

85,6%; hộ có chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh đạt 59,1%, hộ có hố xí hợp vệ sinh

đạt 66%.

Ngày 03/01/2008, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 01/2008/QĐ-

UBND quy định về quy hoạch, xây dựng vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi;

Quyết định số 03/2008/QĐ-UBND ngày 10/01/2008 về việc quy định về điều kiện

giết mổ, buôn bán, vận chuyển động vật và sản phẩm động vật trên địa bàn tỉnh.

Trên cơ sở đó, phê duyệt quy hoạch vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi và các

cơ sở giết mổ tập trung đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 tại huyện

Thống Nhất, Định Quán, Long Khánh, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ; phê duyệt đề cương

quy hoạch tại huyện Long Thành, Vĩnh Cửu, Nhơn Trạch, Tân Phú.

Công tác tập huấn, hướng dẫn về kỹ thuật canh tác trong nông nghiệp nhằm

hạn chế dư lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong đất được tăng cường; tổ

chức kiểm tra các cơ sở kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh.

Triển khai dự án Quản lý chất thải vật nuôi ở Đông Á tại huyện Vĩnh Cửu, do

Quỹ Bảo vệ môi trường toàn cầu (GEF) tài trợ, đã thành lập Ban Điều hành dự án

trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu; tiến hành các bước khảo sát, thu thập thông tin, lập

báo cáo kỹ thuật, thiết kế chi tiết trình Ban Điều hành dự án quốc gia (Bộ Tài

nguyên và Môi trường).

2. Nhận xét, đánh giá:

2.1. Đánh giá kết quả thực hiện

- Công tác truyền thông nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường, đã hoàn thành

ký kết liên tịch với 10 đoàn thể, tổ chức trong tỉnh để phối hợp thực hiện các hoạt

động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường; xây dựng triển khai

dự án tổng thể “Nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường giai đoạn

2008-2010 và định hướng đến năm 2015” trên địa bàn tỉnh.

- Các hoạt động nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường

đã được đẩy mạnh, đã triển khai 08 dự án, nhiệm vụ lớn nhỏ như: Dự án tổng thể

ứng cứu sự cố môi trường về tràn dầu và hóa chất độc hại; Dự án tổng thể bảo vệ

môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai trên địa bàn tỉnh; Điều tra, khảo sát và

đánh giá chất lượng bùn đáy sông Thị Vải thuộc địa bàn tỉnh....

- Triển khai xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

theo Quyết định 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đến nay đã có 09/11

cơ sở đã được chứng nhận cơ sở hoàn thành xử lý triệt để ô nhiễm môi trường.

- Tổ chức kiểm tra, phân loại về môi trường theo Thông tư số 07/2007/TT-





37

BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường đối với 288 cơ sở trên địa bàn tỉnh, tiến

hành phân loại 216 cơ sở và trình UBND tỉnh Quyết định và công bố danh mục 45

cơ sở ô nhiễm môi trường và 78 cơ sở ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Đến nay

đã kiểm tra và chứng nhận 07 cơ sở hoàn thành khắc phục ô nhiễm môi trường.

- Công tác bảo vệ môi trường công nghiệp được thực hiện tốt, hoàn thành các

nhiệm vụ đề ra, trong năm 2009 đã có 8 KCN triển khai xây dựng, 01 KCN đấu

nối (Nhơn Trạch 2 - Lộc Khang) vào hệ thống xử lý nước thải tập trung; tỷ lệ đấu

nối nước thải của các dự án trong KCN vào hệ thống xử lý nước thải tập trung

cũng đã được nâng lên đáng kể, riêng năm 2009 đã tăng 23% so với năm 2008.

- Công tác bảo vệ môi trường đô thị, nông thôn đã có những chuyển biến rõ

nét, tỷ lệ số hộ đô thị được cấp nước sạch tăng lên hàng năm, (đến năm 2009 đạt

96% số hộ), tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 85,6%.

2.2. Những mặt còn tồn tại

- Mặc dù đã có nhiều biện pháp chỉ đạo, tuy nhiên, môi trường công nghiệp,

đô thị vẫn chưa chuyển biến đáng kể. Một số khu công nghiệp chưa xây dựng hệ

thống xử lý nước thải tập trung; hệ thống thoát nước ở các đô thị chưa được xây

dựng. Nguyên nhân chủ yếu do kinh phí đầu tư rất tốn kém, tính chất phức tạp nên

thủ tục, thời gian thực hiện kéo dài.

- Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải thông thường và chất thải nguy hại, kết quả

thu gom các loại chất thải rắn đô thị, chất thải rắn công nghiệp, chất thải y tế và

chất thải nguy hại mặc dù đạt chỉ tiêu nhưng chất lượng xử lý chưa đạt yêu cầu.

- Tiến độ xây dựng các bãi xử lý chất thải theo Quyết định số

7480/QĐ.UBND ngày 26/7/2006 của UBND tỉnh về phê duyệt điều chỉnh bổ sung

quy hoạch các khu xử lý rác thải sinh hoạt đến năm 2020 (08 khu xử lý rác thải

sinh hoạt và 02 khu xử lý tập trung liên huyện). Hiện nay, các địa phương đang xúc

tiến các thủ tục để tiến hành xây dựng nhưng tiến độ còn rất chậm. Nguyên nhân

chủ yếu do vốn đầu tư lớn, công nghệ phức tạp và việc giải phóng mặt bằng gặp

khó khăn.

VI. CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG:

I. Kết quả thực hiện :

Tổng nguồn vốn đã đầu tư đến hết năm 2010 dự kiến đạt 18.287,91 tỷ đồng

đạt 56% so với kế hoạch dự kiến của chương trình trong 5 năm, cụ thể như sau:

1. Về tổng vốn đầu tư cho các lĩnh vực: Tổng số 18.287,91 tỷ đồng, gồm:

- Hệ thống giao thông: 3.762,08 tỷ đồng, đạt 31,48% kế hoạch.

- Hệ thống cấp điện : 9.498 tỷ đồng, vượt kế hoạch gấp 3,1 lần.

- Hệ thống cấp nước : 1.125,51 tỷ đồng, đạt 50,66% kế hoạch.

- Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải: 503,44 tỷ đồng đạt 9,64% kế

hoạch.







38

- Khu xử lý chất thải rắn, hạ tầng khác: 2.444,40 tỷ đồng đạt 30,48% kế

hoạch.

- Hệ thống thông tin liên lạc (bưu chính viễn thông): 954,43 tỷ đồng đạt

33,72% kế hoạch.

2. Về nguồn vốn đầu tư : Trong tổng số 18.287,91 tỷ đồng bao gồm các nguồn

vốn sau:

- Ngân sách các cấp: 3.928,8 tỷ đồng.

- Doanh nghiệp chuyên ngành (điện, thông tin liên lạc, cấp nước), huy động

B.O.T, doanh nghiệp, thành phần kinh tế khác 14.359,12 tỷ đồng.

II. Đánh giá kết quả thực hiện:

1. Kết quả đạt được:

a. Hệ thống giao thông: Trong 5 năm thực hiện đầu tư hệ thống giao thông

đã xây dựng hoàn thành trên 948,4 km đường các loại.

- Các tuyến đường giao thông của xã (xã, phường, thị trấn), liên xã do các

huyện, thị xã và thành phố Biên Hoà đầu tư hoàn thành: trên 531,8 km đường.

b. Đầu tư trên lĩnh vực hệ thống cấp điện:

Đã triển khai thực hiện cải tạo sửa chữa và xây dựng mới 689,907 km đường

dây trung thế, 608,12 km đường dây hạ thế và cải tạo nâng cấp và xây dựng mới

725 trạm biến áp với tổng dung lượng 90,093 KVA; Đồng thời thực hiện công tác

lắp đặt điện kế cho các hộ dân và các đơn vị sử dụng điện, kết quả đạt được đến hết

năm 2010 dự kiến số hộ sử dụng điện toàn tỉnh là 99%, đã hoàn thành và vượt tỷ lệ

đã đạt ra đến năm 2010 là 98%.

Ngoài ra, Nhà máy nhiệt điện Nhơn Trạch I đã được đầu tư hoàn thành, công

suất: 462,8 MW; tổng mức đầu tư: khoảng 6.500 tỷ đồng, sản lượng điện trung

bình năm khoảng 2,2 – 2,5 tỷ kWh.

c. Hệ thống cấp nư c:

Trong các năm đã triển khai đầu tư thực hiện cấp nước sạch cho đô thị và

nông thôn, đạt kết quả như sau:

- Đến hết năm 2010 dự kiến cấp nước sạch cho khu vực đô thị đạt 98%, đối

với vùng nông thôn đạt khoảng 90% số hộ được sử dụng nước sạch.

- Cấp nước đô thị đang triển khai thực hiện các dự án cấp nước cho các thị

trấn các huyện Tân Phú, Định Quán, Trảng Bom, mở rộng hệ thống cấp nước thị

trấn Vĩnh An-Vĩnh Cửu, nâng tổng số hộ sử dụng nước sạch ở đô thị đạt 97 %.

d. Hệ thống thoát nư c và xử lý nư c thải:

Các dự án đầu tư thoát nước đều là các dự án khởi công mới, hiện nay đơn vị

chủ đầu tư đang triển khai công tác lập hồ sơ và thực hiện công tác bồi thường giải

phóng mặt bằng để triển khai thực hiện. Trong đó sẽ tập trung thực hiện hoàn





39

thành một số dự án trong năm 2010 gồm:

- Một số tuyến thoát nước thuộc Dự án thoát nước và xử lý nước thải thành

phố Nhơn Trạch, gồm tuyến thoát nước dải Cây xanh; Tuyến thoát nước cuối

đường số 2; Đồng thời tập trung triển khai hoàn tất hồ sơ và công tác bồi thường

giải phóng mặt bằng để đủ điều kiện bố trí kế hoạch năm 2010 thực hiện một số

tuyến có yêu cầu cấp bách để đấu nối thoát nước các khu công nghiệp, các khu dân

cư trên địa bàn huyện Nhơn Trạch. Phần còn lại của dự án tiếp tục đăng ký vốn

ODA.

- Dự án thoát nước và xử lý nước thải thành phố Biên Hoà: Đã có dự án đầu

tư được duyệt và đã được bố trí vào danh sách vốn ODA Nhật Bản (JICA) từ năm

2007. Dự kiến đến tháng 10/2010 phía Nhật Bản sẽ ký hiệp định cho vay vốn đối

với dự án.

- Xử lý nước thải tại các khu công nghiệp tập trung: Đến nay đã có 9/27 khu

công nghiệp tập trung đã triển khai xây dựng hệ thống xử lý nước thải.

e. Hạ tầng khác:

Trong các năm qua đã triển khai thực hiện đầu tư các dự án xây dựng hoàn

thành hạ tầng khu trung tâm huyện Thống Nhất, huyện Cẩm Mỹ; Đầu tư hoàn

thành dự án bãi rác sinh hoạt và công nghiệp không nguy hại hợp vệ sinh Trảng

Dài (giai đoạn 1), tiếp tục thực hiện giai đoạn 2 của dự án; Triển khai thực hiện các

dự án Bãi chôn lấp chất thải sinh hoạt hợp vệ sinh Huyện Tân Phú; huyện Định

Quán.

Kết quả đến hết năm 2010 dự kiến đạt được các chỉ tiêu quan trọng như sau:

Chỉ tiêu về thu gom xử lý chất thải y tế đạt 100%, chất thải nguy hại đạt 60%, thu

gom chất thải sinh hoạt đạt 80%.

f. Đầu tư trên lĩnh vực Bưu ch nh – Viễn thông:

- Lĩnh vực Bưu chính: Đã đầu tư nâng số đại lý bưu điện đến nay đã có 54

bưu cục, 75 điểm bưu điện văn hóa xã và 411 đại lý bưu điện, 91 thùng thư, số bán

kính phục vụ trung bình 1,72km/điểm với số dân phục vụ trung bình là 4.016

người/điểm.

- Công tác viễn thông: Hiện nay mạng viễn thông đã được đổi mới bằng công

nghệ IP và kết nối cáp quang, 100% xã vùng nông thôn đã được cáp quang hóa,

cung cấp dịch vụ thông tin di động, internet băng thông rộng và truyền số liệu tốc

độ cao. Mật độ điện thoại là 120 máy/100 dân; tỷ lệ dân số sử dụng internet đạt

20,5%.

- Đầu tư công nghệ thông tin: đến nay 11 đơn vị huyện thị và thành phố Biên

Hoà, các cơ quan sở ban ngành cấp tỉnh đều được trang bị mạng LAN. Kết nối

mạng internet băng thông (ADSL) 100% các cơ quan hành chính trong tỉnh, đã

hoàn thành việc lắp đặt và đưa vào sử dụng mạng truyền số liệu chuyên dùng tại 85

cơ quan Đảng và Nhà nước trên địa bàn tỉnh. Nhiều cơ quan ứng dụng công nghệ

thông tin vào quản lý phát huy được hiệu quả cao.





40

2. Các hạn chế và nguyên nhân:

- Đối với các dự án sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước phần lớn là các

dự án trong chương trình thuộc danh mục công trình khởi công mới, do đó dự án

phải thực hiện bắt đầu tư khâu lập hồ sơ dự án, hồ sơ thiết kế kỹ thuật tổng dự toán

và thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng nên mới đủ điều kiện để

triển khai đấu thầu thi công. Trong đó nhiều dự án trong quá trình thực hiện phải

điều chỉnh tổng mức đầu tư, tổng dự toán nhiều lần do ảnh hưởng của tình hình

biến động giá vật tư nguyên liệu, nhiên liệu, đồng thời nhiều dự án thực hịên chậm

công tác bồi thường giải phóng mặt bằng cũng làm ảnh hưởng đến tiến độ thực

hiện chung của chương trình.

- Một số dự án có vốn đầu tư lớn phải kêu gọi đầu tư từ các tổ chức đến nay

chưa triển khai thực hiện được như: Dự án cầu đường qua quận 9 thành phố Hồ

Chí Minh; Dự án đường QL1 đoạn tránh thành phố Biên Hoà, dự án đầu tư nâng

cấp đường ĐT768, Đường vành đai huyện Nhơn Trạch nối từ giao cắt 25B ra Quốc

lộ 51, Đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh- Long Thành – Dầu Giây và các dự

án xây dựng hạ tầng các cụm công nghiệp tại các địa phương một số cụm đang

trong bước lập thủ tục đầu tư.

- Dự án sử dụng vốn ODA có vốn đầu tư lớn nhưng chưa triển khai thực hiện

do phụ thuộc việc xem xét chấp thuận của nhà tài trợ vốn: Dự án hệ thống thoát

nước và xử lý nước thải thành phố Biên Hoà, Dự án hệ thống thoát nước và xử lý

nước thải thành phố Nhơn Trạch.

VII. CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG:

1. Lĩnh vực về kinh tế:

a) Tăng trưởng và phát triển khá cao, chuyển dịch cơ cấu theo hướng công

nghiệp hóa, hiện đại hóa:

Tổng sản phẩm Quốc nội (GDP) đạt tốc độ tăng trưởng cao, bình quân 5 năm

(2006-2010) tăng 13,2%; cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm 2001-2005

(tăng bình quân 12,8%), tuy nhiên do ảnh hưởng suy giảm kinh tế nên tốc độ tăng

GDP năm 2009 và năm 2010 giảm đáng kể làm cho bình quân 5 năm bị giảm.

Trong đó, ngành công nghiệp, xây dựng tăng bình quân là 14,4%; dịch vụ tăng

bình quân là 14,9%; ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng bình quân là 4,5%.

Quy mô GDP theo giá thực tế năm 2010 dự kiến đạt 75.137 tỷ đồng, tăng gấp

2,4 lần so với năm 2005.

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo đúng Nghị quyết đề ra, tỷ trọng

ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng, ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

giảm: Cơ cấu kinh tế năm 2005: ngành công nghiệp xây dựng chiếm 57%; ngành

dịch vụ chiếm 28%; ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 15%. Đến năm

2010 dự kiến: ngành công nghiệp xây dựng chiếm 57,2%; ngành dịch vụ chiếm

34,1%; ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 8,7%.

b) Thực hiện vốn đầu tư:







41

- Tổng vốn đầu tư thực hiện chương trình phát triển bền vững 4 năm (2006-

2009) của kế hoạch 5 năm 2006-2010 là 3.799,337 tỷ đồng, đạt 42% so vốn dự

kiến của chương trình (9.051,51tỷ đồng). Trong đó:

+ Dự án bảo vệ môi trường là 1.523,944 tỷ đồng, đạt 27%; Nguyên nhân

đạt thấp là do các dự án thoát nước đăng ký vốn ODA (chiếm 87% vốn) chưa được

Trung ương bố trí vốn thực hiện (trong đó có dự án Thoát nước và xử lý nước thải

TP. Biên Hoà (giai đoạn 1) là 2.556 tỷ đồng; Thoát nước và xử lý nước thải TP.

Nhơn Trạch (giai đoạn 1) là 1.424,345 tỷ đồng).

+ Dự án cấp nước là 1.159,105 tỷ đồng, đạt 52,2%;

+ Dự án đầu tư cơ sở y tế là 388,848 tỷ đồng, đạt 113%;

+ Dự án đào tạo nghề là 162,44 tỷ đồng, đạt 89,3%.

+ Dự án khu xử lý nước thải các khu công nghiệp là 565 tỷ đồng, đạt

86,9%.

2. Lĩnh vực văn hoá - xã hội:

- Giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị từ 3% đầu năm 2006 xuống còn dưới 2,6%

vào cuối năm 2010. Cơ cấu lao động đến năm 2010: khu vực công nghiệp- xây

dựng 36,7%, khu vực dịch vụ 33,8%, khu vực nông nghiệp 29,5%.

- Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đến cuối năm 2010 đạt 53%-55%, tỷ lệ lao

động qua đào tạo nghề đạt 40%.

- Đến cuối năm 2010, toàn tỉnh có 86% ấp, khu phố và 94% hộ gia đình đạt

danh hiệu ấp, khu phố, hộ gia đình văn hóa, 98% cơ quan, đơn vị có đời sống văn

hoá.

- Hoàn thành phổ cập bậc Trung học năm 2010 (theo chuẩn của tỉnh tại thời

điểm xây dựng Nghị quyết).

- Tỷ lệ hộ nghèo:

+ Tính theo chuẩn năm 2006 của tỉnh: đến cuối năm 2009 còn dưới 1% hộ

nghèo.

+ Tính theo chuẩn năm 2009 của tỉnh: đến cuối năm 2010 còn 4,27%.

- Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi cuối năm 2010 còn 14,5%.

- Tỷ lệ hộ dùng điện năm 2010 đạt 99%.

- Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch năm 2010 khu vực thành thị đạt 98%, khu vực

nông thôn đạt 90% (Mục tiêu Nghị quyết đến cuối năm 2010 tỷ lệ hộ dùng nước

sạch đạt trên 95% cả khu vực thành thị và nông thôn).

- Thu gom xử lý chất thải y tế đạt 100%; thu gom chất thải nguy hại đạt 60%;

thu gom xử lý rác thải sinh hoạt đạt 80%, đạt mục tiêu Nghị quyết (Mục tiêu Nghị

quyết: Thu gom và xử lý khoảng 70 - 80% các loại rác thải sinh hoạt khu đô thị,

khu công nghiệp đạt tiêu chuẩn về vệ sinh môi trường).

- Tỷ lệ độ che phủ cây xanh đến cuối năm 2010 đạt 54,3%, trong đó tỷ lệ độ

che phủ của rừng đạt 29,76%, không đạt mục tiêu Nghị quyết về độ che phủ rừng







42

(Mục tiêu Nghị quyết: nâng độ che phủ cây xanh trên diện tích toàn tỉnh đến năm

2010 đạt 50%; trong đó, tỷ lệ che phủ của rừng đạt 30%).

3. Về sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường:

- Công tác quản lý môi trường và giáo dục ý thức bảo vệ môi trường ngày

càng được mở rộng và nâng cao chất lượng. Nhờ vậy, đã góp phần tăng cường

quản lý, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa,

ngăn chặn ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường; phục hồi và cải thiện một cách

rõ rệt môi trường sinh thái ở các địa phương trên địa bàn tỉnh.

- Triển khai lập và thực hiện các dự án quan trọng nhằm phòng ngừa, khắc

phục những tác động xấu đến môi trường trên địa bàn tỉnh. Công tác quản lý nhà

nước về bảo vệ môi trường và hoạt động kiểm soát nguồn thải luôn được tăng

cường; công tác quan trắc môi trường trên địa bàn tỉnh được thực hiện thường

xuyên; các hoạt động bảo vệ môi trường khu công nghiệp, khu đô thị đã được quan

tâm hơn, góp phần phòng ngừa và hạn chế những tác động xấu đến môi trường trên

địa bàn toàn tỉnh.

- Đến cuối năm 2009, có 18 khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập

trung trên tổng số 21 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động. Dự kiến đến cuối năm

2010 có 21 khu công nghiệp có trạm xử lý nước thải tập trung đưa vào hoạt động.

- Đối với xử lý rác thải: căn cứ quy hoạch được duyệt, toàn tỉnh có 8 khu xử lý

rác thải tại các huyện và 3 khu xử lý rác thải liên huyện. Đối với các khu xử lý rác

thải của huyện thực hiện xã hội hóa kêu gọi đầu tư. Hiện nay các nhà đầu tư đang

hoàn tất hồ sơ theo quy định.

- Chương trình vệ sinh môi trường nông thôn về cấp nước sạch, hố xí hợp vệ

sinh, chuồng trại hợp vệ sinh ngày càng được chú trọng. Công tác quản lý, bảo vệ

và phát triển rừng được quan tâm nhằm phát huy chức năng phòng hộ của rừng

như bảo vệ môi trường sinh thái, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giữ gìn nguồn

nước; tình hình phá rừng, cháy rừng được hạn chế nhiều, giữ ổn định diện tích

rừng tự nhiên, rừng phòng hộ đầu nguồn, hệ sinh thái rừng dần được tái sinh, phục

hồi và phát triển. Tích cực trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc nâng cao độ che

phủ của rừng.

4. Chỉ tiêu môi trường:

Dự kiến đến cuối năm 2010 thực hiện một số chỉ tiêu về môi trường:

- Cấp nước sạch được quan tâm đầu tư: Khu vực đô thị đạt 98%, khu vực nông

thôn đạt 90%.

- Thu gom xử lý chất thải y tế đạt 100%; thu gom xử lý chất thải nguy hại đạt

60%; thu gom xử lý rác thải sinh hoạt đạt 80%.

- Tỷ lệ che phủ cây xanh là 54,28%, trong đó tỷ lệ che phủ của rừng đạt

29,76%.

* NHÓM CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA – XÃ HỘI:

VIII. CHƯƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO





43

1. Tình hình thực hiện

1.1. Kết quả thực hiện

- Đã huy động thực hiện chương trình giảm nghèo 984.469 triệu đồng, trong

đó: ngân sách Trung ương 45.926 triệu đồng, ngân hàng chính sách xã hội:

270.125 triệu đồng, ngân sách địa phương 252.013 triệu đồng, huy động cộng đồng

91.376 triệu đồng, miễn giảm các loại 39.500 triệu đồng, lồng ghép các chương

trình kinh tế- xã hội khác 282.467 triệu đồng, các nguồn khác 3.062 triệu đồng.

- Cho vay ưu đãi hộ nghèo: Trong 5 năm (2006 - 2010) ước cho vay được

65.614 lượt hộ, với số tiền 653.791,5 triệu đồng, ước so với kế hoạch đạt 149,54%

về số lượt hộ vay, 116,09% về số tiền cho vay. Đã huy động 299.483 triệu đồng bổ

sung nguồn quỹ cho vay hộ nghèo.

- Dự án khuyến nông - lâm - ngư và hỗ trợ phát triển sản xuất, phát triển

ngành nghề: Trong 5 năm (2006 -2010) thực hiện lồng ghép hỗ trợ cho 19.610 lượt

lao động hộ nghèo được tập huấn khuyến nông, biết cách làm ăn phát triển sản

xuất, phát triển ngành nghề với kinh phí thực hiện 14.616 triệu đồng

- Trong 5 năm (2006- 2010) dạy nghề cho 9.179 người nghèo với kinh phí

9.545 triệu đồng, trong đó: dự án dạy nghề riêng cho người nghèo đã dạy nghề cho

6.545 người nghèo với kinh phí 7.175 triệu đồng (NSTW), so với kế hoạch đạt

100% lượt người được đào tạo nghề và 100% kinh phí thực hiện.

- Tổ chức tập huấn cho 10.759 lượt cán bộ làm công tác giảm nghèo 3 cấp với

kinh phí 2.945 triệu đồng. Dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo: ước thực hiện

với kinh phí 6.198 triệu đồng. Cấp thẻ BHYT cho 1.010.705 lượt người nghèo với

kinh phí 163.754 triệu đồng, ước so với kế hoạch đạt 98,90% về số thẻ và 100% về

số tiền. Miễn giảm học phí cho 395.000 lượt con em hộ nghèo với số tiền 39.500

triệu đồng, ước so với kế hoạch đạt 176% về số lượt học sinh.

- Vận động xây dựng được 6.443 căn nhà tình thương với kinh phí 86.936

triệu đồng, ước so với kế hoạch đạt 163,67% về số tiền thực hiện. Trợ giúp pháp lý

cho 4.700 lượt người nghèo với kinh phí 210 triệu đồng.

- Hoạt động truyền thông: đã phối hợp với đài PTTH Đồng Nai, báo Đồng

Nai, báo Lao động Đồng Nai đưa tin về các chính sách, dự án, hoạt động của

chương trình, các mô hình tiêu biểu, các điển hình về thực hiện chương trình… với

kinh phí thực hiện 446 triệu đồng.

- Hoạt động giám sát, đánh giá: đã hướng dẫn, triển khai và kiểm tra hoạt

động giám sát, đánh giá chương trình giảm nghèo cấp huyện; mở lớp tập huấn cho

cán bộ chuyên trách tỉnh, huyện để bồi dưỡng kiến thức kiểm tra, đánh giá và triển

khai kế hoạch kiểm tra, đánh giá chương trình giảm nghèo, kinh phí thực hiện 407

triệu đồng.

- Tổ chức triển khai thực hiện tốt công tác rà soát hộ nghèo hàng năm và khảo

sát xác định hộ nghèo theo chuẩn mới với kinh phí thực hiện 4.052 triệu đồng.

- Hỗ trợ cho 57.228 lượt hộ nghèo có tiền ăn Tết, số tiền 30.400 triệu đồng.





44

1.2. Kết quả thực hiện mục tiêu

Trong 3 năm (2006 - 2008), theo chuẩn nghèo Nghị quyết 52/NQ- HĐND của

Hội đồng nhân dân tỉnh thì toàn tỉnh đã giảm được 26.251 hộ nghèo (đưa tỷ lệ từ

9,84% đầu năm 2006 xuống 3,33% cuối năm 2008).

Năm 2009, chuẩn nghèo mới theo nghị quyết 128/NQ-HĐND của Hội đồng

nhân dân tỉnh thì toàn tỉnh đã giảm 11.484 hộ, số hộ nghèo còn lại cuối năm 2009

là 31.387 hộ chiếm tỷ lệ 6,29%.

Năm 2010, ước giảm thêm 30% số hộ nghèo còn lại (giảm 13.000 hộ) đưa hộ

nghèo đầu năm 2010 từ 31.387 xuống còn 18.387 hộ, chiếm tỷ lệ 3,6%

2. Đánh giá chung:

2.1. Ưu điểm

- Ưu tiên nâng cấp hạ tầng thiết yếu đã nhanh chóng làm thay đổi bộ mặt của

ấp nghèo, xã nghèo và vùng dân tộc; Chương trình đã thực hiện tín dụng ưu đãi

cho hơn 80% hộ nghèo có nhu cầu về vốn để phát triển sản xuất và hỗ trợ các

dịch vụ về nhà ở; bảo hiểm y tế; khuyến nông; giải quyết việc làm; miễn giảm

thuế, học phí .v.v.

- Cấp ủy Đảng và HĐND, UBND các cấp có chương trình, kế hoạch giảm

nghèo phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của địa phương; Ban chỉ đạo giảm nghèo

các cấp được kiện toàn thành một hệ thống đồng bộ từ tỉnh xuống cơ sở. Đội ngũ

cán bộ chuyên trách làm công tác giảm nghèo ở 3 cấp được xây dựng và tập huấn

nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ góp phần đáng kể hoàn thành mục tiêu

giảm nghèo.

- Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo đã nhận được sự đồng thuận

của các tầng lớp nhân dân, cơ quan nhà nước, đoàn thể quần chúng và sự ủng hộ

đáng kể của các tổ chức kinh tế trong và ngoài tỉnh.

- Hội đồng nhân dân tỉnh, huyện đã thực hiện chương trình giám sát định kỳ

về tình hình thực hiện chương trình giảm nghèo ở cơ sở.

- Ngoài việc phân cấp cho huyện và xã quyết định: công tác khảo sát, phê

duyệt hộ vượt chuẩn nghèo, hộ nghèo phát sinh hằng năm; việc cấp giấy chứng

nhận hộ nghèo; duyệt danh sách cấp BHYT cho người nghèo v.v… đã làm giảm

rất nhiều thủ tục, thời gian thực hiện các công việc thường xuyên của chương trình,

giúp cho việc hỗ trợ hộ nghèo, người nghèo nhanh hơn, đạt hiệu quả cao hơn.

2.2. Hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn những hạn chế như sau:

- Còn tiềm ẩn nguy cơ tái nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số

và phát sinh nghèo mới ở vùng đô thị hóa do chính sách chưa đồng bộ.

- Trong đầu tư phát triển vùng nghèo, vùng nông thôn còn thiếu sự cân đối

giữa nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với đầu tư hạ tầng.







45

- Còn thiếu cơ chế làm tăng tính chủ động tự lực, tự vươn lên của người

nghèo và cộng đồng vùng nghèo.

- Chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở làm công tác giảm nghèo và chính sách,

tiền lương, phụ cấp chưa tương xứng với vị trí của công tác giảm nghèo.

IX. CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

IX.1. CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO LAO ĐỘNG KỸ THUẬT PHỤC VỤ

PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

1. Kết quả thực hiện

1.1. Phát triển mạng lư i cơ sở dạy nghề

Thực hiện những chính sách do Nhà nước ban hành nhằm tăng cường số

lượng và chất lượng cơ sở dạy nghề, từ năm 2006-2010 trên địa bàn tỉnh đã thành

lập 30 cơ sở dạy nghề mới. Ước tính đến cuối năm 2010 số đơn vị dạy nghề hoạt

động trên địa bàn tỉnh là 93 đơn vị bảo đảm được nhiệm vụ hoàn thành chỉ tiêu số

lượng và nâng cao chất lượng đào tạo, trong đó :

Số TT Số lượng theo năm

Loại hình

2006 2007 2008 2009 KH 2010

1 Công lập 25 25 22 25 25

2 Ngoài công lập 48 53 44 50 68



Tổng cộng 73 78 66 75 93



Trong 25 cơ sở dạy nghề công lập có 08 trường thuộc TW (03 trường cao

đẳng nghề, 01 trường cao đẳng có đào tạo nghề) và 17 cơ sở thuộc địa phương (01

trường cao đẳng, 03 Trường trung cấp nghề, 11 TTDN, 02 trường CĐ-THCN, 03

Trung tâm công lập khác có đào tạo nghề).

1.2. Tuyển m i

Trong 5 năm (2006-2010) trên địa bàn tỉnh có 280.582 người được tuyển mới,

trong đó dài hạn (TCN, CĐN) là 57.116 người, đào tạo nghề ngắn hạn (Sơ cấp

nghề) là 223.866 người.

1.3. Kết quả tốt nghiệp

Trong 5 năm (2006-2010) trên địa bàn tỉnh có 242.399 người tốt nghiệp các

khóa đào tạo nghề, trong đó: dài hạn (Cao đẳng, Trung cấp nghề) 36.433 người và

ngắn hạn (Sơ cấp nghề) 205.966 người.

Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đồng Nai năm 2006 là 34%,

năm 2007 là 36%, năm 2008 là 37,68% , năm 2009 là 39,09%, năm 2010 là 40%.

1.4. Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề

- Thực hiện phát triển và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, giáo viên theo





46

Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng, nâng cao

chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010, cuối

năm 2005 Hội đồng Nhân dân tỉnh khóa VII, kỳ họp thứ 5 ban hành Nghị quyết số

51/2005/NQ-HĐND7 ngày 21/07/2005 về việc thông qua Đề án phát triển nguồn

nhân lực phục vụ kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai giai đọan 2006-2010 và tầm nhìn

đến 2020.

- So với kế hoạch năm 2010 đề ra là 1.500 giáo viên, số giáo viên 2009 đã

vượt, cho nên ước tính đến năm 2010, tổng giáo viên dạy nghề của địa phương

tăng thêm 100 giáo viên, trong đó số giáo viên có trình độ từ Cao đẳng, Đại học trở

lên chiếm 89%, sau đại học là 260 giáo viên chiếm 11%.

Bồi dưỡng cán bộ giáo viên từ nguồn ngân sách:

Tính lượt người

TT Nội dung Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010



1 Bồi dưỡng sư phạm nghề 93 97 117 165 180

2 Bồi dưỡng cán bộ quản lý 34 30 0 105 100

3 Bồi dưỡng chuyên môn 0 0 219 459 500

4 Bồi dưỡng ngoại ngữ 0 0 24 75 80

Cộng 127 127 360 831 860



- Ngoài ra trong giai đoạn 2005-2008, tranh thủ nguồn kinh phí hỗ trợ của Dự

án Tăng cường các trung tâm dạy nghề -SVTC (Thụy Sĩ ), tổ chức INWENT

(CHLB Đức) về tăng cường năng lực đào tạo phục vụ doanh nghiệp và người học

nghề đã bồi dưỡng cho 1949 lượt giáo viên, cán bộ quản lý các Trung tâm dạy

nghề trên địa bàn tỉnh, với kinh phí hơn 313.640.000 đồng. Vùng Rhône Pháp tài

trợ 8 giáo viên học công nghệ mới tại Pháp.

- Trong 5 năm, tỉnh đã tổ chức 02 kỳ hội giảng giáo viên giỏi cấp tỉnh với 84

giáo viên được công nhận giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh; Giáo viên giỏi Đồng Nai

tham dự 02 kỳ hội giảng giáo viên dạy nghề toàn quốc năm 2006, 2009 có 06 giáo

viên đạt giải (02 nhất, 05 nhì, 04 ba, 02 khuyến khích).

1.5. Phát triển chương trình và giáo trình dạy nghề

- Luật Dạy nghề có hiệu lực từ tháng 07/2006, quy định dạy nghề theo 3 cấp

trình độ: Sơ cấp nghề, Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề, các đơn vị dạy nghề tổ

chức biên soạn, sửa đổi và bổ sung cập nhật thêm kiến thức mới cho phù hợp thực

tiễn nghề theo Quyết định số 01/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày 04/01/2007 của Bộ

trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành quy định về chương trình

khung trình độ cao đẳng nghề, chương trình khung trình độ trung cấp nghề.

- Một số ít các trường dạy nghề chủ động thông qua hợp tác quốc tế biên soạn

chương trình, giáo trình dạy nghề theo hướng nâng cao, chuyên sâu để đáp ứng





47

được yêu cầu kỹ thuật công nghệ của doanh nghiệp. Các trung tâm dạy nghề thông

qua Dự án tăng cường các Trung tâm dạy nghề - SVTC (Thụy Sĩ) hỗ trợ và tiến

hành cập nhật phương pháp xây dựng chương trình đào tạo nghề theo mô-đun linh

hoạt và phù hợp hơn.

- Mặc dù có cố gắng nhưng đến nay về chương trình và giáo trình dạy nghề

vẫn chưa đáp ứng yêu cầu thực tế của các doanh nghiệp có công nghệ sản xuất mới

trong tỉnh. Nhìn chung, việc biên soạn và tổ chức giảng dạy các chương trình còn

phụ thuộc vào trang thiết bị dạy nghề và đội ngũ giáo viên hiện có.

1.6. Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo nghề

1.6.1. Về phòng học và nhà xưởng

Từ năm 2006-2010, các cơ sở dạy nghề công lập địa phương được quan tâm

đầu tư từ nguồn ngân sách tỉnh và vốn tự có của đơn vị để phát triển mở rộng, nâng

cấp như sau:

TT Đơn vị Kinh phí (1000đ) Ghi chú

1 Trường Cao đẳng nghề Đồng Nai 37.164.000

2 Trường trung cấp nghề 26/3 71.649.000 Đang xây dựng

3 TTDN huyện Thống Nhất 18.795.891

4 TTDN huyện Cẩm Mỹ Khởi công XD

35.978.938

quý II/2010

5 Trường trung cấp nghề GTVT Đồng

6.021.000

Nai

6 Trường TCNKV Long Thành Nhơn

71.511.287

Trạch

7 TTDN huyện Định Quán 10.145.150

8 TTDN huyện Trảng Bom 13.814.633

9 TTDN huyện Tân Phú 6.600.000

10 TTDN huyện Xuân Lộc 5.784.000

11 TTDN huyện Vĩnh Cửu 9.000.000



1.6.2. Về nguồn vốn Trung ương đầu tư trang thiết bị cho các trường địa

phương

Nguồn vốn 2006 2007 2008 2009 2010

Chương trình mục tiêu quốc gia 6,5 tỷ

4,3 tỷ 6,4 tỷ 5,55 tỷ 6,6 tỷ

Trung ương phân bổ



Ngoài nguồn vốn Chương trình MTQG, các nguồn vốn huy động từ xã hội





48

hóa để tăng cường thiết bị, giúp cho học sinh nâng cao kỹ năng thực hành nghề, cụ

thể :

- Vùng Rhône của Pháp tài trợ cho trường Cao đẳng nghề Đồng Nai mua sắm

thiết bị cho 02 nghề ô-tô và may khoảng 8,5 tỷ đồng.

- Cộng hòa Thụy Sĩ tài trợ cho Trường Trung cấp nghề Kinh tế - Kỹ thuật Số

2 mua thiết bị dạy nghề là 241.821,0 euro.

- Dự án tăng cường các Trung tâm dạy nghề -SVTC (Thụy sĩ) tài trợ kinh phí

800 triệu đồng mua sắm thiết bị dạy nghề.

- Thành lập mới 3 trường trung cấp nghề tư thục, với nguồn vốn đầu tư hơn

120 tỷ đồng, hiện nay đang hoàn chỉnh thủ tục theo qui định, để tiến hành xây

dựng.

1.7. Các chương trình đã và đang hỗ trợ Thanh niên tham gia học nghề

để lập nghiệp

1.7.1. Về đào tạo lao động kỹ thuật

Kết quả thực hiện trong 02 năm 2008-2009 đã đào tạo bồi dưỡng chuyên môn

nghiệp vụ cho 802 giáo viên dạy nghề, đào tạo bồi dưỡng cho 69 cán bộ, giáo viên

làm công tác quản lý dạy nghề.

Bồi dưỡng lao động kỹ thuật: Năm 2008 bồi dưỡng cho 47 học sinh giỏi tham

gia kỳ thi quốc gia, kết quả có 09 thí sinh đạt loại giỏi, tham gia Hội thi tay nghề

trẻ Asean, kết quả đạt 01 huy chương đồng, 02 thí sinh đạt giải tay nghề trẻ xuất

sắc; trong năm 2009 bồi dưỡng 01 học sinh tham gia kỳ thi kỹ năng nghề Thế giới

(World Skill) tại Canada, kết quả đạt 484/500 điểm xếp thứ 15/21 quốc gia tham

gia cuộc thi.

1.7.2. Bộ đội xuất ngũ

Cấp học phí 100% theo Quyết định số 1920/QĐ.UBT ngày 19/06/2001 của

UBND tỉnh Đồng Nai cho Thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa

phương, bình quân mỗi năm 1,5 tỷ đồng của giai đoạn từ 2001-2008, tính đến

06/2009 thực hiện kế hoạch như sau:

Hệ dài Ghi

Năm Hệ ngắn hạn TSố học sinh Tổng số tiền cấp

hạn chú

2006 48 295 343 1.125.603.000

2007 79 383 462 1.526.125.000

2008 121 728 849 3.019.572.000

2009 48 418 466 1.921.286.000

KH 2010 700 2.300.000.000

Tổng cộng 296 1.824 2.820 9.892.586.000







49

1.7.3. Dạy nghề cho học sinh dân tộc thiểu số

Theo Quyết định số 4122/QĐ.CT.UBT ngày 28/10/2003 của UBND tỉnh

Đồng Nai, đối tượng DTTS học nghề nội trú được cấp 100% học phí, 80% lương

cơ bản cho tiền ăn, tiền nội trú 100%, sinh họat phí, đi lại mỗi năm 2 lần 100%,

bình quân chi 7 tỷ đồng/năm cho khoảng 450-500 học sinh học nghề nội trú trình

độ trung cấp, cao đẳng nghề tại Trường Cao đẳng nghề số 8, số lượng tốt nghiệp

các năm như sau :

Nơi đào tạo nghề 2009 KH

2006 2007 2008

2010

Tại Trường CĐN Số 8 (TCN, CĐN) 250 314 329 514 500

Lồng ghép theo chương trình đào tạo

535 241 224 300 300

nghề Nông thôn tại các huyện (SCN)



1.7.4. Đối tượng lao động nông thôn và hộ nghèo học nghề

Người học không thuộc diện chính sách, tiền học phí thực hiện theo Thông tư

liên tịch số 06/2006/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày của Bộ Tài chính và Bộ Lao

động - TBXH, đối với đối tượng diện chính sách được trợ cấp thêm tiền ăn

240.000đồng/tháng theo quyết định số 3920/QĐ.CT.UBND ngày 18/04/2006 của

UBND tỉnh Đồng Nai bình quân mỗi năm đào tạo sơ cấp nghề cho 4.000 người/4

tỷ đồng/năm. Số lượng tốt nghiệp trình độ sơ cấp nghề dưới 1 năm cụ thể như sau:

Lao động nông thôn và hộ Năm KH

nghèo học nghề 2006 2007 2008 2010

2009

Nhập học 4720 4.535 5.506 7.000 6.000

Tốt nghiệp 3659 4.139 3.875 5.500 5.500



1.7.5. Đối tượng Người khuyết tật

Thực hiện theo Thông tư liên tịch số 19/2005/TTLT-BLĐTBXH-BTC-

BKHĐT ngày 19/05/2005 của Bộ Tài chính - Bộ Lao động Thương binh Xã hội -

Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hỗ trợ 100% học phí Sơ cấp nghề và hỗ trợ tiền ăn như đối

tượng lao động nông thôn học nghề bình quân hàng năm 200 triệu đồng/150 người,

số lượng người tốt nghiệp:

Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 KH 2010

102 110 108 150 150



1.7.6. Đối tượng lao động thuộc diện bị thu hồi đất - tái định cư

Sở Lao động – Thương binh Xã hội Đồng Nai có văn bản số 1988/LĐTBXH-

DN ngày 17/07/2008 triển khai thực hiện quyết định số 05/2008/QĐ.UBND ngày

15/01/2008 của UBND tỉnh Đồng Nai về hỗ trợ học phí cho con em nhân dân

thuộc diện tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, Quyết





50

định số 26/2008/QĐ.UBND ngày 07/04/2008 của UBND tỉnh Đồng Nai về đào tạo

nghề, giải quyết việc làm cho nhân dân thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn tỉnh

Đồng Nai. Hỗ trợ học phí 4,6 triệu đồng/năm/đối tượng thuộc hộ giải tỏa trắng,

khoảng chênh lệch còn dư khi học nghề được hoàn trả trực tiếp cho đối tượng học

nghề.

1.7.7. Ch nh sách cho một số đối tượng khác

- Bồi dưỡng tay nghề trẻ cấp tỉnh, Quốc gia, bồi dưỡng giáo viên giỏi cấp tỉnh

dự thi cấp Quốc gia, thực hiện theo Thông tư liên tịch số 109/2006/TTLT/BTC-

BLĐTBXH ngày 22/11/2006 của Bộ tài chính - Bộ Lao động Thương binh Xã hội

và Quyết định số 1404/QĐ-UBND ngày 22/05/2007 của UBND tỉnh Đồng Nai.

- Ngoài ra còn có các đối tượng thanh niên xung phong, dân quân tự vệ, đối

tượng đặc xá, thanh niên vi phạm pháp luật sau cải tạo trở về địa phương, khi có

nhu cầu học nghề thì được lồng ghép vào chương trình đào tạo nghề lao động nông

thôn, chưa có chính sách qui định cụ thể cho các đối tượng này về dạy nghề trên

địa bàn tỉnh. Đối với thanh niên sau cai nghiện ma túy thì được hướng nghiệp và

dạy nghề tại Trung tâm Giáo dục Lao động xã hội tại huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng

Nai.

2. Đánh giá chung

2.1. Ưu điểm

- Công tác xã hội hóa dạy nghề được nhân dân tích cực tham gia, số cơ sở dạy

nghề dân lập, tư thục phát triển số lượng và được mở rộng, nâng cấp thường

xuyên, đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tăng lên 34% năm 2006, 37,68% năm

2008, 39,09% năm 2009, từ đó đã góp phần cung ứng nguồn nhân lực kỹ thuật, đáp

ứng yêu cầu của các doanh nghiệp và hình thành chuyển đổi cơ cấu các thành phần

kinh tế nhất là ở khu vực nông thôn.

- Các đối tượng chính sách, dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người tái định

cư, lao động nông thôn… được Nhà nước hỗ trợ học nghề đã từng bước ổn định

việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, ngày càng yên tâm tin tưởng vào

đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước chỉ đạo xây dựng chính sách, quan

tâm đến mọi tầng lớp nhân dân lao động trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội

của đất nước.

- Thông qua đề án phát triển nguồn nhân lực của tỉnh , đội ngũ cán bộ quản lý

và giáo viên dạy nghề được thụ hưởng chính sách cụ thể về đào tạo bồi dưỡng

nâng cao năng lực chuyên môn, cập nhật phương pháp sư phạm và từng bước tiếp

cận với khoa học công nghệ của khu vực ASEAN và thế giới.

2.2. Hạn chế

- Việc mua sắm, bổ sung trang thiết bị dạy nghề bằng nguồn vốn Trung ương

của một số đơn vị dạy nghề chậm giải ngân, kéo dài.

- Thiếu kinh phí đào tạo đạt chất lượng cao, vì nguồn kinh phí ngân sách thấp,

nguồn thu học phí theo Quyết định số 70/1998/QĐ.TTg ngày 31/03/1998 không đủ





51

bù theo yêu cầu đào tạo (đối với đơn vị công lập thu học phí không quá 120.000

đồng/tháng/nghề hệ trung cấp, 140.000 đồng/tháng/nghề hệ cao đẳng). Thiếu kinh

phí ưu đãi, thu hút đào tạo cho các ngành nghề thiếu hụt lao động và lao động trình

độ cao của địa phương.

- Phần lớn các đơn vị dạy nghề trong giai đọan 2006-2009 đang phát triển,

nên cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ giáo viên còn thiếu so với việc đáp ứng

được yêu cầu đào tạo lại, đặt hàng đào tạo nghề cho lao động theo yêu cầu của

doanh nghiệp.

- Chưa có cơ chế, chính sách cụ thể để doanh nghiệp phối hợp với các đơn vị

dạy nghề trong liên kết đào tạo, xây dựng chương trình đào tạo, hỗ trợ thực hành

thực tập tại doanh nghiệp.

IX.2. CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC:

1. Kết quả thực hiện

1.1. Kết quả ứng viên được tham gia chương trình:

Bảng thống kê đào tạo sau đại học do Sở Khoa học và Công nghệ thống kê

qua từng năm:



Stt Loại hình 2007 2008 2009 Ư c 2010



1 Trong Thạc sĩ: 05 Thạc sĩ + CK I: 35 Thạc sĩ + CK I: 96 Thạc sĩ + CK I: 85

nước

Tiến sĩ: 0 Tiến sĩ + CK II: 13 Tiến sĩ + CK II: 28 Tiến sĩ + CK II: 30



2 Liên kết Thạc sĩ: 02 Thạc sĩ: 02 Thạc sĩ: 01 Thạc sĩ: 02

Tiến sĩ: 0 Tiến sĩ: 0 Tiến sĩ: 0 Tiến sĩ: 01



3 Toàn phần Thạc sĩ: 01 Thạc sĩ: 02 Thạc sĩ: 0 Thạc sĩ: 02

nước

Tiến sĩ: 01 Tiến sĩ: 0 Tiến sĩ: 0 Tiến sĩ: 0

ngoài

Tổng cộng 09 52 125 119



1.2. Ư c đánh giá kết quả đạt được 5 năm 2006-2010:

Nhìn chung, Ban chủ nhiệm Chương trình đã chủ động phối hợp với các Sở,

ban ngành, đặc biệt là với Sở Nội vụ tỉnh và đã chuẩn bị sớm kế hoạch triển khai

nên khi có Quyết định Ban hành Quy định về tuyển sinh và Quy định về tổ chức và

hoạt động của chương trình đào tạo sau Đại học giai đoạn 2006-2010; Chương

trình đã triển khai thực hiện được ngay với số lượng ứng viên đăng ký dự tuyển

chương trình tiến triển tốt và số lượng trúng tuyển kỳ thi tuyển sinh sau Đại học

trong nước cao. Ước tính đến nay tổng số ứng viên đã và đang đào tạo qua 4 năm

(2006-2009) thực hiện Chương trình là 381 người (trong đó: Thạc sĩ+Chuyên khoa

1: 331 người; Tiến sĩ+Chuyên khoa 2: 50 người), tỷ lệ đào tạo đạt 76,2% so với

chỉ tiêu được giao giai đoạn 2006-2010. Dự kiến kế hoạch năm 2010 thì khả năng

chương trình sẽ phấn đấu đào tạo 119 người (trong đó: Thạc sĩ+Chuyên khoa 1: 89





52

người; Tiến sĩ+Chuyên khoa 2: 30 người) đạt tỷ lệ 100% chỉ tiêu được giao giai

đoạn 2006-2010 của tỉnh đề ra.

2. Đánh giá nguyên nhân tình hình:

Chương trình chính thức bắt đầu triển khai thực hiện vào thời điểm gần cuối

năm 2007. Do đó, trong giai đoạn 5 năm thực hiện từ 2006-2010 thì gần 2 năm

chương trình không có ứng viên được đào tạo.

Thực tế mặt bằng về trình độ ngoại ngữ của cán bộ, công chức, học sinh, sinh

viên của tỉnh còn rất thấp so với yêu cầu của chương trình. Do đó, số lượng đăng

ký dự tuyển chủ yếu là loại hình trong nước còn loại hình liên kết và nước ngoài

rất ít và không đạt yêu cầu về ngoại ngữ.

Bên cạnh Chương trình của tỉnh còn có nhiều Chương tình học bổng khác có

ưu thế hơn Chương trình của tỉnh như Chương trình đào tạo sau Đại học của thành

phố HCM có ưu thế hơn về nơi phục vụ sau khi tốt nghiệp; Chương trình học bổng

của các trường Đại học nước ngoài không có ràng buộc điều kiện hoàn trả kinh phí

và nơi phục vụ sau khi tốt nghiệp...

Một số ứng viên khi có quyết định phê duyệt của UBND tỉnh lại không muốn

tiếp tục tham gia chương trình, có 14 trường hợp không ký kết hợp đồng đào tạo là

do trong thời gian chờ đợi kết quả lại thay đổi ý định hoặc đã ký hợp đồng làm

việc với nơi khác hoặc tâm lý sợ bị ràng buộc theo quy định của chương trình.

Một số cơ quan không đồng ý ký giấy giới thiệu tham gia chương trình cho

ứng viên do lo sợ cán bộ không làm tốt công việc vì bận học và đặc biệt là ngại

mất cán bộ sau khi đã được đào tạo.

IX.3. CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CÁN BỘ NỮ

1. Kết quả thực hiện:

Từ năm 2006-2010, đã chuyển chỉ tiêu tỷ lệ nữ cho các chương trình đào tạo,

bồi dưỡng có liên quan cùng phối hợp thực hiện. Kết quả như sau :

+ Đào tạo sau Đại học: Có 59 nữ/151 tổng số học viên được đưa đi đào tạo, tỷ

lệ 37,19% đạt và vượt so với chỉ tiêu kế hoạch.

+ Đào tạo các lớp Đại học: Có 710 nữ/1.743 tổng số học viên được đào tạo, tỷ

lệ 40,73% đạt chỉ tiêu kế hoạch hàng năm.

+ Các lớp Cao cấp: Có 213 nữ/743 tổng số học viên được đào tạo, tỷ lệ 29%

so chỉ tiêu kế hoạch chưa đạt (chỉ tiêu 35%).

+ Các lớp Trung cấp: Có 815 nữ/2.206 tổng số học viên được đào tạo, tỷ lệ

37% đạt chỉ tiêu kế hoạch hàng năm (chỉ tiêu 35%).

+ Các lớp bồi dưỡng: Có 4041 nữ/13.215 tổng số học viên, tỷ lệ 30,50% so

với chỉ tiêu kế hoạch chưa đạt (chỉ tiêu 40%).

+ Đào tạo Thạc sĩ, Tiến sĩ: Có 17 nữ/30 được đưa đi đào tạo, tỷ lệ 56,66% đạt

và vượt so chỉ tiêu kế hoạch (chỉ tiêu 35%).





53

2. Đánh giá chung:

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức nữ trên địa bàn tỉnh

giai đoạn 2006 -2010 đã đạt được một số kết quả nhất định:

- Đối với lớp đào tạo, bồi dưỡng đều có tỷ lệ nữ tham gia đạt và vượt chỉ tiêu

kế hoạch đề ra như các lớp Đại học, Trung cấp lý luận chính trị, lớp bồi dưỡng

kiến thức Quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên...

- Đã khảo sát nắm thực trạng, trình độ đội ngũ cán bộ nữ, nhu cầu đào tạo cán

bộ nữ từ năm 2006 - 2010.

- Đội ngũ cán bộ nữ đã phấn đấu học tập để nâng cao trình độ nhằm đáp ứng

nhiệm vụ chuyên môn, đảm bảo đạt chuẩn theo quy định và đáp ứng yêu cầu phát

triển trong giai đoạn hội nhập. Sự quan tâm của UBND tỉnh hỗ trợ về chính sách

trợ cấp cho đội ngũ cán bộ nữ được cử đi đào tạo, bồi dưỡng dài hạn, ngắn hạn

cũng như duy trì hỗ trợ thêm cho cán bộ nữ đi học có con dưới 36 tháng tuổi và từ

36 tháng tuổi đến 60 tháng tuổi nhằm động viên khuyến khích cán bộ nữ tham gia

các lớp học.

Tuy nhiên còn tồn tại khó khăn, hạn chế sau:

- Do chương trình 3 đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức nữ là

chương trình lồng ghép với một số chương trình khác (Chương trình đào tạo bổ

sung nguồn nhân lực cho hệ thống chính trị, chương trình đào tạo sau đại học...)

nên Ban Chủ nhiệm chương trình không thể chủ động trong xây dựng kế hoạch

đào tạo cán bộ công chức, viên chức nữ trên địa bàn tỉnh.

- So với nhu cầu đào tạo thì số lượng công chức, viên chức nữ được đưa đi

đào tạo tỷ lệ còn thấp, một số lớp đào tạo, bồi dưỡng tỷ lệ nữ tham dự chưa đạt

nhất là các lớp tập trung ngoài tỉnh.

- Các lớp Đại học, Cao cấp và Cử nhân chính trị còn lệ thuộc vào chỉ tiêu của

Trung ương và các trường. Các lớp trên Đại học, Thạc sĩ, Tiến sĩ phụ thuộc vào thí

sinh tham gia có trúng tuyển hay không. Đây cũng là một trong những nguyên

nhân khách quan hạn chế công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ.

- Ban chủ nhiệm chương trình 3 chưa tổ chức được các cuộc giám sát việc

thực hiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức nữ đối với

những địa phương, đơn vị có tỷ lệ thấp.

Nguyên nhân đạt được:

- Các cấp lãnh đạo đã có sự quan tâm tạo điều kiện cho cán bộ công chức,

viên chức nữ tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng nên tỷ lệ nữ tham gia các lớp

nhìn chung đều đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch.

- Đội ngũ cán bộ công chức, viên chức nữ đã khắc phục khó khăn không

ngừng phấn đấu để tham gia các lớp học nhằm nâng cao trình độ về mọi mặt đáp

ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Nguyên nhân khó khăn, hạn chế:





54

- Nhu cầu được đào tạo, bồi dưỡng của cán bộ công chức, viên chức nữ thì

cao nhưng việc tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng hoặc đưa đi đào tạo, bồi dưỡng

tỷ lệ còn thấp chưa đáp ứng nhu cầu.

- Số lượng nữ tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng tại chức, ngắn hạn thì đạt

chỉ tiêu, nhưng các lớp tập trung nhất là ngoài tỉnh thì không đạt do độ tuổi đi học

tập trung đa số chị em có con nhỏ nên trong việc đi học rất khó khăn. Các cơ quan

biên chế đủ làm việc, ít có biên chế dự phòng, nếu cử cán bộ đi học tập trung sẽ

không đủ người làm việc nên một số cơ quan không muốn cử cán bộ đi học.

IX. 4. CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO BỔ SUNG NGUỒN NHÂN LỰC

CHO HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

1. Kết quả thực hiện:

1.1. Năm 2006:

- Đào tạo sau Đại học: 90 trường hợp.

- Đào tạo Đại học: 62 trường hợp.

- Các lớp Cao cấp lý luận Chính trị: 240 trường hợp, các lớp trung cấp: 210

trường hợp.

- Các lớp bồi dưỡng: bồi dưỡng nghiệp vụ cho 1.863 cán bộ, công chức; bồi

dưỡng kiến thức An ninh quốc phòng cho 244 cán bộ, công chức; bồi dưỡng; bồi

dưỡng kiến thức quản lý nhà nước cho 468 cán bộ, công chức; bồi dưỡng tin học

văn phòng cho 437 cán bộ, công chức cấp xã.

1.2. Năm 2007:

- Đào tạo sau Đại học: 43 trường hợp

- Đào tạo Đại học: 63 trường hợp

- Các lớp Cao cấp lý luận Chính trị: 14 trường hợp và các lớp trung cấp: 412

trường hợp

- Các lớp bồi dưỡng: bồi dưỡng nghiệp vụ cho 1.264 cán bộ, công chức; bồi

dưỡng kiến thức An ninh quốc phòng cho 73 cán bộ, công chức; bồi dưỡng kiến

thức quản lý nhà nước cho 590 cán bộ, công chức.

1.3. Năm 2008:

- Đào tạo sau đại học: 80 trường hợp

- Đào tạo đại học: 211 trường hợp

- Đào tạo trung cấp: 123 trường hợp

- Các lớp lý luận chính trị: cao cấp cho 427 cán bộ, công chức; trung cấp 318

cho cán bộ, công chức; cử nhân cho 68 cán bộ, công chức.

- Các lớp bồi dưỡng: bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước cho 1647 cán bộ,

công chức; bồi dưỡng nghiệp vụ cho 3021 cán bộ, công chức; bồi dưỡng kiến thức





55

quốc phòng an ninh cho 750 cán bộ, công chức.

1.4. Năm 2009:

- Đào tạo sau đại học: 10 trường hợp

- Đào tạo đại học: 476 trường hợp

- Đào tạo trung cấp: 199 trường hợp

- Các lớp bồi dưỡng: bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước cho 477 cán bộ,

công chức; bồi dưỡng nghiệp vụ công tác văn thư lưu trữ cho 282 cán bộ, công

chức; bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh cho 760 cán bộ, công chức.

1.5. 6 tháng đầu năm 2010:

- Đào tạo sau đại học: 6 trường hợp

- Đào tạo đại học: 54 trường hợp

- Các lớp bồi dưỡng: bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước cho 119 cán bộ,

công chức; bồi dưỡng các chuyên môn nghiệp vụ khác cho 282 cán bộ, công chức.

2. Đánh giá kết quả thực hiện giai đoạn 2006 - 2010:

* Về đào tạo, bồi dưỡng CBCC ngạch Chuyên viên và tương đương trở lên

cấp tỉnh, huyện:

+ Về trình độ chuyên môn: có 100% cán bộ công chức ngạch chuyên viên các

cơ quan cấp tỉnh có trình độ chuyên môn Cao đẳng, đại học trở lên; 100% cán bộ

công chức ngạch chuyên viên các cơ quan cấp huyện có trình độ chuyên môn Cao

đẳng, đại học trở lên (đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra).

+ Kiến thức quản lý nhà nước: tính đến tháng 6/2010 đạt khoảng 75% cán bộ

công chức ngạch chuyên viên phải được học bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước

theo yêu cầu của ngạch đang đảm nhiệm (đến nay đạt 75% kế hoạch và dự ước đạt

khoảng 90% - 95% kế hoạch của cả giai đoạn 2006 - 2010). Nguyên nhân chưa đạt

chỉ tiêu đề ra do cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên của trường Chính trị tỉnh

không đáp ứng được nhu cầu.

+ Về trình độ lý luận chính trị: tính đến tháng 6/2010 đạt 19,52% cán bộ công

chức ngạch chuyên viên các cơ quan cấp tỉnh, huyện có trình độ lý luận chính trị

cao cấp, cử nhân (đến nay mới đạt 32,53% chỉ tiêu kế hoạch đề ra và dự ước đạt

khoảng 50% kế hoạch của cả giai đoạn 2006 - 2010). Kết quả thực hiện chưa đạt

yêu cầu đề ra do phụ thuộc vào kế hoạch của các cơ sở đào tạo trung ương và do

cấp ủy ở địa phương không quan tâm cử cán bộ đi học.

+ Về ngoại ngữ, tin học: tính đến tháng 6/2010 đạt 70,23% cán bộ công chức

ngạch chuyên viên các cơ quan cấp tỉnh, huyện có trình độ A tin học trở lên (dự

ước đạt khoảng 90% - 95% kế hoạch của cả giai đoạn 2006 - 2010); tính đến tháng

6/2010 đạt 69,61% cán bộ công chức ngạch chuyên viên các cơ quan cấp tỉnh,

huyện có trình độ A ngoại ngữ trở lên (dự ước đạt khoảng 85% kế hoạch của cả

giai đoạn 2006 - 2010).





56

* Về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã:

+ Đối với cán bộ chuyên trách: tính đến tháng 6/2010, về chuyên môn: đạt

34% cán bộ có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên (dự ước đạt khoảng 55% -

60% kế hoạch của cả giai đoạn 2006 - 2010); về lý luận chính trị: 52,02% cán bộ

có trình độ trung cấp trở lên (dự ước đạt khoảng 70% kế hoạch của cả giai đoạn

2006 - 2010).

+ Đối với công chức cấp xã: tính đến tháng 6/2010, về chuyên môn: đạt

74,69% công chức có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên (dự ước đạt khoảng

85% kế hoạch của cả giai đoạn 2006 - 2010); về lý luận chính trị: 24,88% công

chức có trình độ trung cấp trở lên (dự ước đạt khoảng 40% - 45% kế hoạch của cả

giai đoạn 2006 - 2010).

+ Đối với cán bộ không chuyên trách: tính đến tháng 6/2010, về chuyên môn:

đạt 13,43% công chức có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên (dự ước đạt

khoảng 35% - 40% kế hoạch của cả giai đoạn 2006 - 2010); về lý luận chính trị:

9,37% công chức có trình độ trung cấp trở lên (dự ước đạt khoảng 40% - 45% kế

hoạch của cả giai đoạn 2006 - 2010).

IX. 5. CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG NĂNG KHIẾU

1. Kết quả thực hiện

1.1. Nội dung chương trình:

a. Đào tạo khoa học công nghệ:

- Đào tạo Tin học trẻ (Sở Giáo dục và Đào tạo phụ trách)

- Thiết kế Robot (Sở Khoa học và Công nghệ phụ trách)

b. Đào tạo Năng khiếu TDTT các bộ môn: bóng đá, bơi lội, cầu lông (Sở Văn

hóa, Thể thao và Du lịch phụ trách)

c. Đào tạo năng khiếu ngoại ngữ (Sở Giáo dục và Đào tạo phụ trách)

d. Đào tạo năng khiếu văn hóa nghệ thuật (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

phụ trách)

e. Đào tạo năng khiếu cho học sinh có năng lực đặc biệt (Nhà Văn hóa thiếu

nhi phụ trách).

f. Đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ để định hướng quy hoạch phát triển thành đội

ngũ cán bộ quản lý cốt cán đảm bảo các tiêu chuẩn về năng lực quản lý, phẩm chất

chính trị (Sở Giáo dục và Đào tạo phụ trách).

1.2. Kết quả đào tạo và đánh giá việc tổ chức đào tạo:

1.2.1. Kết quả thực hiện chương trình Đào tạo, bồi dưỡng năng khiếu

thiết kế robot:

Chương trình bắt đầu triển khai thực hiện từ năm 2008. Qua 3 năm thực hiện

2008 - 2010 kết quả đã và đang đào tạo, bồi dưỡng 215 học viên (năm 2008: đào





57

tạo, bồi dưỡng 78 học viên (đã hoàn thành), năm 2009: đào tạo, bồi dưỡng 68 học

viên (đang đào tạo, bồi dưỡng), năm 2010: đào tạo, bồi dưỡng 68 học viên (đang

đào tạo, bồi dưỡng).

Phối hợp với Sở giáo dục và Đào tạo, Nhà thiếu nhi tỉnh tổ chức Hội thi robot

năm 2010 dành cho thanh thiếu niên tỉnh trong dịp hè năm 2010.

Trong hội thi năm 2009, đã có nhiều robot tham dự hơn năm trước: như năm

2008 có 8 robot tham dự, năm 2009 có 19 robot tham dự. Đã tổ chức 15 đội và cá

nhân, với 15 robot tham dự hội thi. Hội thi cũng đã chọn ra 2 con robot xuất sắc

nhất để tham gia hội thi robot thanh thiếu niên toàn quốc năm 2009.

1.2. 2. Đào tạo năng khiếu thể dục thể thao:

- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phụ trách nhiệm vụ đào tạo năng khiếu thể

dục thể thao ở 3 bộ môn: năng khiếu bóng đá, bơi lội, cầu lông.

- Đã tiến hành tổ chức kiểm tra tuyển chọn, lập danh sách vận động viên:

+ Lớp năng khiếu bóng đá: 25 vận động viên

+ Lớp năng khiếu bơi lội: 20 vận động viên

+ Năng khiếu cầu lông: 12 vận động viên

Cả 3 lớp năng khiếu thể dục thể thao với số lượng vận động viên trên đã bắt

đầu đi vào chương trình huấn luyện từ tháng 7/2007. Trong quá trình đào tạo, huấn

luyện tiếp tục có sự sàng lọc, bổ sung vận động viên cho các lớp năng khiếu thể

dục thể thao.

Thực hiện chương trình 5 đã góp phần thúc đẩy khí thế, chất lượng chuyên

môn tốt hơn, tại hội khỏe Phù Đổng toàn quốc lần thứ VII tại Phú Thọ năm 2008

Đồng Nai đột phá vươn lên giành vị trí thứ tư toàn quốc trên 63 tỉnh thành cả nước

(đứng sau Tp. Hồ Chí Minh, Hà Nội và Phú Thọ).

1.2.3. Đào tạo năng khiếu văn hóa, nghệ thuật: Sở Văn hóa, Thể thao và

Du lịch đã chỉ đạo cho trường văn hóa Nghệ thuật Đồng Nai triển khai thực hiện.

Đây là chương trình đào tạo bồi dưỡng năng khiếu, nguồn học sinh được lựa chọn

từ số học sinh giỏi, xuất sắc đang học các bộ môn ở trường và học sinh phổ thông

có năng khiếu nghệ thuật đã đoạt giải cấp tỉnh trở lên ở địa phương, số lượng 30

em. Dạy các bộ môn năng khiếu chuyên ngành biểu diển nghệ thuật như:

- Âm nhạc truyền thống: đàn bầu, đàn tranh, sáo trúc, tam thập lục, tỳ bà.

- Âm nhạc phương Tây: guitare, violon, organ.

- Thanh nhạc.

- Múa: dân gian, cổ điển.

1.2.4. Đào tạo năng khiếu cho học sinh có năng lực đặc biệt:

Thực hiện nhiệm vụ Ban Chủ nhiệm chương trình 5 phân công, kế hoạch

“Đào tạo năng khiếu cho học sinh có năng lực đặc biệt” của Nhà Thiếu Nhi Đồng





58

Nai từ năm 2006 đến tháng 6/2010 đã được tiến hành như sau:

- Phối hợp phòng Giáo dục và Đào tạo Biên Hòa tuyển sinh 2 khóa các lớp tin

học nhi đồng và tin học lập trình Pascal ( năm học 2008 – 2009 và 2009 – 2010 ): 6

lớp lập trình, 7 lớp nhi đồng, 275 em. Sau đó tổ chức thi tuyển chọn vào đội

chuyên 51 em chính thức, 28 em dự bị. Các em tham dự hội thi Tin học trẻ tỉnh

năm 2008 đạt 1 giải nhất, 1 giải nhì, 1 giải ba và 2 giải khuyến khích; năm 2009

đạt được 1 giải nhất, 1 giải nhì, 1 giải ba khối THCS và 2 giải khuyến khích khối

tiểu học.

- Phối hợp Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức hội

thi Robot hàng năm.

- Nhằm giúp các em yêu thích văn học có điều kiện phát triển năng khiếu,

CLB Phóng viên nhỏ được thành lập, tham dự trại sáng tác thơ văn tuổi học trò

khu vực phía nam đạt được 1 giải A, 1 giải B và 3 giải C (cả 5 em tham dự đều

đoạt giải).

- Hiện Nhà Thiếu nhi có các đội nhóm chuyên như 2 đội văn nghệ - rối (100

em), 2 đội nhạc kèn nghi thức (100 em), 3 đội chuyên thể dục nhịp điệu (50 em)

thường xuyên tham gia phục vụ trong nhiều chương trình lễ hội lớn của tỉnh.

1.2.5. Đào tạo các l p Tin học trẻ và các năng khiếu ngoại ngữ:

Trong năm học 2007-2008, Sở Giáo dục và đào tạo đã ký kết thỏa thuận hợp

tác với Hội đồng Khảo thí Tiếng Anh - Đại học Cambridge, Vương Quốc Anh,

triển khai việc dạy và thi cấp chứng chỉ tiếng Anh quốc tế của Đại học Cambridge

tại Đồng Nai. Tiến hành biên soạn chương trình phục vụ cho các lớp năng khiếu

Tin học.

Hiện nay các lớp năng khiếu ngoại ngữ được tổ chức trên 3 địa bàn: Tp.Biên

Hòa, huyện Thống Nhất và thị xã Long Khánh với tổng số 4 lớp với 90 học sinh.

Mục tiêu của chương trình học sinh sẽ được đào tạo tiếng Anh từ lớp 6 đến lớp 11

đạt trình độ tiếng Anh học thuật đủ điểm để đi học nước ngoài.

1.2.6. Tuyển sinh l p đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ để định hư ng quy hoạch

phát triển thành đội ngũ cán bộ quản lý cốt cán đảm bảo các tiêu chuẩn về

năng lực quản lý, phẩm chất ch nh trị:

Sở Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ cho trường trung học phổ thông

chuyên Lương Thế Vinh tuyển sinh, trong năm học 2006 - 2007, nhà trường đã

tuyển sinh 02 lớp tạo nguồn nhân lực của tỉnh là lớp 10A1 : 23 học sinh, lớp 10A2

: 22 học sinh. Hiện nay hai lớp này đã ra trường.

2. Những thuận lợi và khó khăn khi triển khai chương trình

2.1. Thuận lợi

- Được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền, sự phối hợp chặt chẽ

giữa các thành viên Ban Chủ nhiệm chương trình và phòng Giáo dục và Đào tạo

Tp. Biên Hòa và các trường THCS, THPT trên địa bàn.







59

- Thông qua chủ trương của tỉnh các đơn vị triển khai phát hiện kịp thời, đào

tạo bồi dưỡng những học sinh giỏi cho tỉnh nhà.

2.2. Khó khăn

- Công tác tuyên truyền của chương trình còn hạn chế chưa phổ biến được đến

các em học sinh tại các trường học và các em học sinh chưa biết rõ mục tiêu đào

tạo để tạo nguồn nhân lực của tỉnh trong thời gian tới, vì vậy số học sinh tuyển vào

chưa đảm bảo sĩ số đúng quy định.

- Trong một chương trình bao gồm đào tạo năng khiếu về Tin học, Anh văn,

Thể dục thể thao, Văn nghệ và Robot... do đặc thù ở mỗi ngành đào tạo khác nhau,

do đó việc thực hiện các nội dung định mức chi chung cho các lớp đào tạo là

không thiết thực.

3. Kiến nghị:

- Chuyển mục Đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ để định hướng quy hoạch phát triển

thành đội ngũ cán bộ quản lý cốt cán đảm bảo các tiêu chuẩn về năng lực quản lý,

phẩm chất chính trị đặt tại trường trung học phổ thông chuyên Lương Thế Vinh

vào các lớp chuyên theo Nghị quyết số 126/2008/NQ-HĐND ngày 05/12/2008 về

chế độ đãi ngộ đối với cán bộ quản lý, giáo viên nhân viên và học sinh trường

THPT chuyên Lương Thế Vinh của Hội đồng nhân dân tỉnh.

- Chuyển các lớp năng khiếu Tin học trẻ lồng ghép vào chương trình bồi

dưỡng năng khiếu thiết kế robot và đào tạo năng khiếu cho học sinh có năng lực

đặc biệt.

- Cân đối kinh phí các lớp thuộc chương trình 5 theo hướng đầu tư vào các nội

dung hạng mục hoạt động có hiệu quả trong giai đoạn 2006 - 2010.

- Đề nghị được đưa các lớp tiếng Pháp (lớp song ngữ) vào chương trình bồi

dưỡng năng khiếu.

IX. 6. CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG TIN HỌC, NGOẠI

NGỮ, KIẾN THỨC ĐỐI NGOẠI CHO CÁN BỘ CHỦ CHỐT VÀ ĐÀO TẠO

PHIÊN DỊCH

1. Kết quả thực hiện

1.1. Năm 2006:

a) Đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ: Sở Nội vụ phối hợp với các Sở, ban, ngành

chọn cử cán bộ lãnh đạo chủ chốt đi học lớp tiếng Anh giao tiếp cho 15 học viên.

b) Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức đối ngoại: Phối hợp tổ chức 02 lớp bồi dưỡng

kiến thức ngoại giao, Hội nhập kinh tế quốc tế cho 110 cán bộ chủ chốt các Sở,

ban, ngành, UBND các huyện, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

c) Đào tạo phiên dịch: Cử 04 phiên dịch tiếng Anh được đi thực tập, phục vụ

phiên dịch chuyến xúc tiến đầu tư tại Anh Quốc.

1.2. Năm 2007:





60

a) Đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ: Sở Nội vụ phối hợp với các Sở, ban, ngành

chọn cử cán bộ lãnh đạo chủ chốt đi học lớp tiếng Anh giao tiếp cho 21 học viên.

b) Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức đối ngoại: Bồi dưỡng kiến thức ngoại giao,

Hội nhập kinh tế quốc tế cho 200 cán bộ chủ chốt các Sở, ban, ngành, UBND các

huyện, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

c) Đào tạo, bồi dưỡng tin học: Phối hợp các Sở, ban, ngành chọn cử 23 cán bộ

chủ chốt đi học Lớp Tin học văn phòng.

d) Đào tạo phiên dịch: Cử 01 phiên dịch tiếng Anh được đi tham gia khóa đào

tạo ngắn hạn tại Hàn Quốc; Cử 01 trường hợp đi học tiếng Hàn tại Hàn Quốc; Cử

01 trường hợp học tiếng Hoa tại Trung Quốc.

1.3. Năm 2008:

a) Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức đối ngoại: Bồi dưỡng kiến thức ngoại giao,

Hội nhập kinh tế quốc tế cho 95 cán bộ chủ chốt các Sở, ban, ngành, UBND các

huyện, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

b) Đào tạo, bồi dưỡng tin học: Phối hợp các Sở, ban, ngành chọn cử 124 cán

bộ chủ chốt đi học Lớp Tin học văn phòng.

1.4. Năm 2009:

Đào tạo, bồi dưỡng tin học: Phối hợp các Sở, ban, ngành chọn cử 41 cán bộ

chủ chốt đi học Lớp Tin học văn phòng.

1.5. 6 tháng đầu năm 2010:

a) Bồi dưỡng kiến thức ngoại giao: cho 132 cán bộ chủ chốt các Sở, ban,

ngành, UBND các huyện;

b) Bồi dưỡng tin học: dành cho 356 cán bộ, công chức chủ chốt cấp tỉnh, cấp

huyện.

2. Đánh giá kết quả thực hiện:

+ Về tin học: tính đến nay đại đa số CBCC đều biết sử dụng máy vi tính áp

dụng trong xử lý công việc như soạn thảo văn bản, ứng dụng các phần mềm trong

quản lý, khai thác thông tin trên mạng internet,...

+ Về ngoại ngữ: tính đến tháng 6/2010 đạt 69,61% CBCC ngạch chuyên viên

các cơ quan cấp tỉnh, huyện có trình độ A ngoại ngữ trở lên. Tuy nhiên, trên thực

tế, đa số CBCC do không được ôn luyện, sử dụng ngoại ngữ thường xuyên và ít có

cơ hội giao tiếp bằng tiếng nước ngoài nên kiến thức ngoại ngữ bị mai một dần.

Nhiều CBCC của các cơ quan có quan hệ công tác với người nước ngoài chưa đáp

ứng được yêu cầu giao tiếp bằng tiếng nước ngoài; nhiều CBCC không đủ trình độ

ngoại ngữ để dự tuyển các học bổng nước ngoài và dự tuyển sau đại học. Nguyên

nhân chưa đạt chỉ tiêu đề ra do chưa chú trọng đào tạo một cách bài bản, cán bộ

công chức đi học còn chi phối nhiều công việc cơ quan.

+ Về đào tạo phiên dịch: tính đến tháng 6/2010 tỉnh cử đi đào tạo 8/18 cán bộ





61

phiên dịch đạt 44,4% kế hoạch đề ra (dự ước đạt khoảng 55% - 60% kế hoạch của

cả giai đoạn 2006 - 2010). Trên thực tế, đội ngũ phiên dịch tiếng Anh cơ bản đáp

ứng được yêu cầu nhiệm vụ phiên dịch tiếng Anh ở mức độ thông thường. Đội ngũ

phiên dịch các ngoại ngữ khác (Nga, Pháp, Đức, Nhật, Hàn, Trung,...) vẫn còn hụt

hẫng.

X. CHƯƠNG TRÌNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH, THỰC HÀNH TIẾT

KIỆM, CHỐNG LÃNG PHÍ, CHỐNG THAM NHŨNG

X.1. CHƯƠNG TRÌNH THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, CHỐNG LÃNG

PHÍ

1. Kết quả thực hiện

1.1. Tiết kiệm, chống lãng ph trong quản lý, sử dụng tài ch nh ngân sách

Các cơ quan, đơn vị thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kinh phí

theo Nghị định 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 và Nghị định số 43/2006/NĐ-

CP ngày 25/04/2006 của Chính Phủ, đã xây dựng được quy chế chi tiêu nội bộ

nhằm tạo quyền chủ động trong việc quản lý và chi tiêu tài chính, sử dụng tài sản

đúng mục đích, có hiệu quả, khuyến khích tăng thu, tiết kiệm chi, tạo quyền chủ

động cho cán bộ, công chức để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Số tiết kiệm chi

quản lý hành chính quý 1 năm 2010 là 3.023 triệu đồng.

Chi tiếp khách, hội nghị đã giảm dần từng năm. Do các khoản chi này đã

được đơn vị đưa vào quy chế chi tiêu nội bộ, các hội nghị được tổ chức đơn giản,

gọn và có ý nghĩa, không phô trương hình thức, thực hiện đúng theo Quyết định số

114/QĐ-TTg ngày 25/12/2006 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành quy định chế

độ hội họp trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước.

Căn cứ Nghị quyết số 154/2009/NQ-HĐND ngày 10/12/2009 của HĐND

Tỉnh Đồng Nai khóa VII - kỳ họp thứ 18 về bổ sung dự toán thu, chi ngân sách

tỉnh Đồng Nai 06 tháng cuối năm 2009, Dự toán thu ngân sách nhà nước - chi ngân

sách địa phương, phân bổ ngân sách tỉnh, bổ sung ngân sách cấp dưới tỉnh Đồng

Nai năm 2010; Thực hiện Quyết định số 3699/QĐ-UBND ngày 10/12/2009 của

UBND Tỉnh về việc giao chỉ tiêu kế hoạch kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách

nhà nước năm 2010. Qua đó đã tính toán số tiết kiệm 10% cho thường xuyên để

làm lương của toàn tỉnh là 77.917 triệu đồng.

1.2. Quản lý đầu tư XDCB, đất đai, tài nguyên thiên nhiên:

a) Quản lý đầu tư XDCB:

- Việc bố trí vốn đầu tư XDCB hàng năm trong kế hoạch ngân sách địa

phương Đồng Nai được thực hiện đúng theo quy định của Luật Ngân sách Nhà

nước và các Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính.

- Việc bố trí vốn đầu tư XDCB phù hợp đã mang lại hiệu quả như: Các chủ

đầu tư triển khai dự án kịp thời đúng theo tiến độ thi công, tiến độ giải ngân thanh

toán vốn đầu tư đạt tỉ lệ cao so những năm trước tránh lãng phí về vốn.







62

- Tiết kiệm trong thẩm định dự án đầu tư, thẩm tra quyết toán dự án hoàn

thành được các ngành của Tỉnh tham mưu xem xét tính toán chặt chẽ, các dự án

đảm bảo đúng quy hoạch, hiệu quả tài chính, qui mô đầu tư, qua đó đóng góp

nhiều ý kiến xác đáng nâng cao hiệu quả đầu tư và tránh đầu tư lãng phí.

- Công tác thẩm tra quyết toán dự án hoàn thành thực hiện chặt chẽ đúng quy

định của Luật xây dựng và các Thông tư quy định về xây dựng.

b) Quản lý đất đai, tài nguyên thiên nhiên:

Các cơ quan chuyên ngành đã tuyên truyền, phổ biến Luật đất đai 2003 và

Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ và Thông tư số

30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định

về việc công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho mọi công dân, cán

bộ công chức biết nhằm hạn chế mức thấp nhất việc sử dụng đất, chuyển nhượng

đất, khai thác tài nguyên khoáng sản đúng theo quy định của Luật đất đai.

Việc quy hoạch sử dụng đất cơ bản hoàn thành quy hoạch sử dụng đất đến

năm 2010, tiết kiệm chống lãng phí trong giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích

sử dụng đất, thu hồi đất được thực hiện theo đúng quy hoạch sử dụng đất, tuy

nhiên việc quản lý sử dụng đất ở nhiều nơi, cơ quan, đơn vị cấp huyện, phường xã,

thị trấn còn yếu kém chưa phát hiện và ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm các

quy định của nhà nước về quản lý đất đai.

Về quản lý khai thác tài nguyên nước, cơ quan chuyên ngành đã triển khai

thực hiện Nghị định số 149/2004/NĐ-CP quy định việc cấp phép thăm dò, khai

thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước và tổ chức thẩm định

chặt chẽ cấp phép thăm dò, khai thác tài nguyên nước và gia hạn cấp phép khai

thác nước dưới đất cho các tổ chức và cá nhân đảm bảo tiết kiệm, hiệu qủa.

Về khoáng sản hoàn thành điều chỉnh quy hoạch thăm dò, khai thác sử dụng

khoáng sản đến năm 2010, định hướng đến 2020; hiện đang triển khai lập quy

hoạch tài nguyên đến năm 2020 để làm cơ sở quản lý, sử dụng các loại tài nguyên

trên địa bàn tỉnh.

1.3. Quản lý, sử dụng vốn tài sản tại công ty nhà nư c:

Công ty nhà nước được tự chủ về tài chính, Hội đồng quản trị, ban giám đốc

chịu trách nhiệm trước nhà nước về điều hành Công ty, thu nhập của người lao

động gắn với kết quả kinh doanh nên việc tiết kiệm chi phí, bố trí lao động hợp lý

luôn được quan tâm, chưa có đơn vị nào phải sử lý về chi vượt quỹ tiền lương theo

đơn giá tiền lương được duyệt.

Qua giám sát tình hình tài chính và báo cáo tài chính năm 2009 và quý 1 năm

2010, hầu hết các công ty nhà nước đều chấp hành pháp luật về quản lý tài chính,

kế toán cũng như chế độ báo cáo.

Việc mua sắm mới, quản lý, sử dụng tài sản thực hiện đúng theo quy định.

Đối với công ty công ích thực hiện mua sắm, đầu tư tài sản khi có phê duyệt của

cấp có thẩm quyền và sử dụng có hiệu quả phục vụ tốt cho sản xuất kinh doanh.





63

1.4. Công tác thanh tra, kiểm tra:

- Tiếp tục tổ chức thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp theo kế hoạch được

duyệt, nhất là các doanh nghiệp đang được hưởng chế độ ưu đãi của Chính phủ

theo tinh thần Nghị Quyết số 30/2008/NQ-CP và Quyết định số 16/2009/QĐ-TTg.

- Tăng cường kiểm tra các trường hợp doanh nghiệp có nghi vấn định mức

thông qua số liệu thanh khoản cân đối âm, tỷ lệ hao hụt cao, … kịp thời phát hiện,

tính toán truy thu vào Ngân sách Nhà nước các trường hợp gian lận trong khai báo

định mức.

- Tăng cường công tác kiểm tra giá, đặc biệt đối với những doanh nghiệp nhập

khẩu hàng hóa tiêu thụ nội địa; mặt hàng có thuế suất cao, dễ gian lận qua giá để

tập trung kiểm tra trước; những hồ sơ có chênh lệch thấp hoặc không đáng kể thì

tiến hành chuyển kiểm tra sau thông quan. Nhất là các doanh nghiệp có mặt hàng

được hưởng chế độ ưu đãi theo chủ trương Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP của

Chính phủ.

2. Nhiệm vụ và biện pháp trong thời gian t i:

- Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý

của Bộ máy nhà nước. Trong đó trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính trên các

lĩnh vực thường xuyên tiếp xúc với nhân dân và doanh nghiệp. Tăng cường rà soát

các văn bản để điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung kịp thời giải quyết các vướng mắc

trong quá trình thực hiện cải cách hành chính.

- Công khai tài chính đối với các đơn vị dự toán ngân sách và tổ chức được

ngân sách hỗ trợ. Trong đó, thực hiện tốt quyết định số 390/QĐ-TTg ngày

17/12/2008 của thủ Tướng Chính Phủ về việc điều hành kế hoạch đầu tư xây dựng

cơ bản và chi tiêu ngân sách nhà nước phục vụ mục tiêu kiềm chế lạm phát.

- Công khai tài chính đối với các doanh nghiệp nhà nước. Công khai minh

bạch một số hoạt động trong các cơ quan quản lý nhà nước như: các thủ tục hành

chính, phí, lệ phí, thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan hành chính, của

người đứng đầu và người thừa hành. Quy trình giải quyết công việc, thời gian nhận

và thời hạn giải quyết công việc theo đơn thư yêu cầu của nhân dân, doanh nghiệp

và tổ chức...

- Tiếp tục thực hiện nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 09/03/2007 của

Chính Phủ, và thông tư hướng dẫn số 2442/2007/TT-TTCP của Thanh tra chính

phủ hướng dẫn thực hiện nghị định số 37/2007/NĐ-CP về minh bạch tài sản, thu

nhập cho các cán bộ chủ chốt cấp tỉnh và chỉ đạo các ngành, địa phương tổ chức

quán triệt, triển khai đến cán bộ, công chức và quần chúng nhân dân thực hiện.

- Thường xuyên tổ chức kiểm tra về thực hiện chế độ, chính sách, tiêu chuẩn,

định mức ở các đơn vị sử dụng kinh phí nhà nước kết hợp với công tác thanh tra,

kiểm tra việc thực hành tiết kiệm chống lãng phí và xử lý nghiêm các cá nhân, tổ

chức có hành vi vi phạm.

- Tiếp tục rà soát lại tiêu chuẩn, định mức trang thiết bị và phương tiện làm





64

việc thực hiện theo Quyết định số 170/2006/QĐ-TTg ngày 18/07/2006 của Thủ

tướng Chính phủ.

- Tiếp tục xây dựng và thực hiện chặt chẽ đề án sắp xếp, cổ phần hoá doanh

nghiệp nhà nước. Tăng cường quản lý vốn nhà nước và nhân sự tại doanh nghiệp,

chú trọng thực hiện đúng quy định về tổ chức xác định giá, giá trị tài sản, vốn

doanh nghiệp trước khi thực hiện cổ phần và công khai việc mua bán cổ phần của

doanh nghiệp đã chuyển đổi theo kế hoạch (giai đoạn 2007-2010) khi được Thủ

tướng Chính phủ phê duyệt.

- Tiếp tục thực hiện Quyết định số 64/2007/QĐ-TTg ngày 10 tháng 07 năm

2007 ban hành quy chế về việc tặng qùa, nhận quà và nộp lại quà tặng của cơ quan,

tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách nhà nước và của cán bộ, công chức, viên

chức.

- Tiếp tục thực hiện Quyết định số 390/QĐ-TTg ngày 17/04/2008 của Thủ

tướng Chính phủ về việc điều hành kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản và chi tiêu

ngân sách năm 2008 phục vụ mục tiêu kiềm chế lạm phát.

- Triển khai kịp thời Nghị định 52/2009/NĐ-CP về quản lý tài sản nhà nước

được ban hành ngày 03/06/2009 của Chính Phủ.

- Tiếp tục thực hiện chỉ thị số 27/CT-TW ngày 12/01/1998 của Bộ Chính trị

(khóa VIII) và kết luận số 51-KL/TW ngày 22/07/2009 về thực hiện nếp sống văn

minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, và một số vấn đề tâm linh, ngoại cảm.

X.2. CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG THỰC HIỆN LUẬT PHÒNG

CHỐNG THAM NHŨNG

1. Tổ chức học tập, nghiên cứu, quán triệt Luật Phòng, chống tham

nhũng:

UBND tỉnh tổ chức Hội nghị quán triệt Luật Phòng, chống tham nhũng và

Nghị định số 120/2006/NĐ-CP ngày 20/10/2006 của Chính phủ quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành Luật phòng, chống tham nhũng cho cán bộ chủ chốt của

tỉnh; đồng thời chỉ đạo cho các sở, ngành, địa phương tiếp tục tổ chức học tập,

quán triệt Luật Phòng, chống tham nhũng, Chương trình hành động của UBND

tỉnh về thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng.

Thông qua công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật, nhận thức của cán bộ,

công chức, viên chức và nhân dân từng bước được nâng cao, phát huy vai trò của

mọi tầng lớp nhân dân tham gia công tác phòng, chống tham nhũng.

2. Ban hành các văn bản pháp luật về phòng, chống tham nhũng:

Ban hành Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo tỉnh Đồng Nai về phòng, chống

tham nhũng để theo dõi, chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng tại địa

phương; ban hành quyết định thành lập Văn phòng Ban Chỉ đạo tỉnh để tham mưu,

giúp việc cho Ban Chỉ đạo.

Hằng năm, UBND tỉnh đều ban hành kế hoạch công tác phòng, chống tham







65

nhũng; ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung

ương Đảng lần thứ chín (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công

tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; ban hành Kế hoạch thực hiện Chiến lược

Quốc gia về phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 (giai đoạn 2009-2011); ban

hành Chỉ thị về việc đưa Luật Phòng, chống tham nhũng vào chương trình đào tạo,

bồi dưỡng cán bộ của tỉnh.

Đặc biệt, ngày 17/9/2009, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 65/2009/QĐ-

UBND ban hành Quy định bảo vệ, khen thưởng, hỗ trợ người phát hiện tham

nhũng, lãng phí. Hiện nay, Văn phòng Ban chỉ đạo tỉnh về Phòng, chống tham

nhũng đang thống kê danh sách để đề xuất khen thưởng đối với 13 cá nhân (dự

kiến đề xuất Trung ương khen thưởng 08 cá nhân, UBND tỉnh khen thưởng 05 cá

nhân) có thành tích trong công tác phòng, chống tham nhũng.

Thông qua việc ban hành các văn bản chỉ đạo nêu trên, công tác phòng, chống

tham nhũng tại địa phương đã được triển khai đồng bộ, theo quy định của pháp luật

về phòng, chống tham nhũng, góp phần từng bước nâng cao hiệu quả công tác này.

3. Thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng:

Các biện pháp phòng ngừa tham nhũng được triển khai khá đồng bộ, góp

phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng tại địa phương. Sau

đây là một số biện pháp cụ thể:

a) Rà soát, sửa đổi bổ sung cơ chế, ch nh sách.

Ban hành Quyết định 46/2009/QĐ-UBND ngày 02/7/2009 ban hành quy định

về thành lập, chức năng và nhiệm vụ của tổ chức pháp chế tại các sở, ban, ngành

và các doanh nghiệp nhà nước thuộc UBND tỉnh. Theo đó, công tác pháp chế tại

các cơ quan, đơn vị được củng cố, kiện toàn; các văn bản quy phạm pháp luật được

thường xuyên rà soát, để kiến nghị sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

b) Thực hiện công khai minh, bạch trong hoạt động cơ quan nhà nư c.

Xác định việc công khai, minh bạch là nhiệm vụ then chốt trong công tác

phòng, ngừa, hàng năm UBND tỉnh chỉ đạo thực hiện nghiêm túc quy định công

khai minh bạch hoạt động các cơ quan nhà nước. UBND tỉnh đã ban hành Công

văn số 4684/UBND-NC ngày 16/6/2009 chỉ đạo các sở ngành, địa phương, đơn vị

trên địa bàn tỉnh tự kiểm tra, rà soát việc thực hiện công khai, minh bạch; triển khai

đầy đủ, nghiêm túc các nội dung công khai, minh bạch, hình thức công khai, minh

bạch theo quy định từ Điều 11 đến Điều 33 của Luật Phòng, chống tham nhũng.

c) Rà soát, xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn:

Toàn tỉnh tiếp tục triển khai có hiệu quả các Nghị quyết của Hội đồng nhân

dân tỉnh, các quyết định của UBND tỉnh quy định về các chính sách, tiêu chuẩn,

định mức trong sử dụng ngân sách, việc huy động đóng góp tự nguyện của nhân

dân, mức hỗ trợ từ ngân sách đầu tư cơ sở hạ tầng, chính sách bồi thường, hỗ trợ

tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; phân cấp quản lý nhà nước đối với tài sản nhà

nước; chế độ công tác phí, chế độ chi tổ chức các hội nghị đối với các cơ quan nhà





66

nước và các đơn vị sự nghiệp công lập trong tỉnh…Định kỳ tiến hành rà soát các

quy định về chính sách, tiêu chuẩn, định mức sửa đổi, bổ sung cho phù hợp theo

quy định hiện hành.

d) Xây dựng, thực hiện các quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp

và chuyển đổi vị tr công tác:

Các cấp, các ngành tiếp tục thực hiện Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức;

tiếp tục thực hiện các quy định về những điều cán bộ, công chức không được làm;

quy định về cấm sử dụng công quỹ làm quà tặng, chiêu đãi, tiếp khách, hội nghị

phí không đúng quy định; quy định thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới,

việc tang; quy định cấm uống rượu, bia trong ngày giờ làm việc...

Thực hiện Nghị định số 158/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của Chính phủ về

quy định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công

tác đối với cán bộ, công chức, viên chức; UBND tỉnh Đồng Nai đã xây dựng Kế

hoạch số 7093/KH-UBND ngày 29/8/2008 chỉ đạo các địa phương, đơn vị triển

khai thực hiện nghiêm túc theo quy định. Kết quả có 21/21 sở, ban, ngành; 11/11

huyện, thị xã, thành phố; các đơn vị sự nghiệp thuộc tỉnh, doanh nghiệp nhà nước

do tỉnh quản lý đã thực hiện chuyển đổi vị trí công tác đối với 451người/473 người

theo kế hoạch (đạt tỷ lệ 94,5%) ; các đơn vị thuộc ngành dọc đóng trên địa bàn tỉnh

đã thực hiện chuyển đổi vị trí công tác cho 747 cán bộ, công chức, viên chức.

e) Minh bạch tài sản, thu nhập:

Về việc tổ chức tập huấn phổ biến, quán triệt các quy định về kê khai tài sản,

thu nhập: Năm 2007, UBND tỉnh đã tổ chức tập huấn kê khai tài sản, thu nhập

theo quy định Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 09/3/2007 của Chính phủ về

minh bạch tài sản, thu nhập và Thông tư số 2442/2007/TT-TTCP ngày 13/11/2007

của Thanh tra Chính phủ cho cán bộ lãnh đạo các sở, ngành, địa phương, đơn vị

trên địa bàn tỉnh; năm 2009, UBND tỉnh tiếp tục tổ chức tập huấn cho lãnh đạo và

cán bộ, công chức phụ trách công tác kê khai tài sản, thu nhập trên địa bàn tỉnh

nhằm quán triệt một số quy định Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 09/3/2007 của

Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập và Thông tư số 2442/2007/TT-TTCP

ngày 13/11/2007 của Thanh tra Chính phủ; trong tháng 2/2010, UBND tỉnh chỉ đạo

Thanh tra tỉnh triển khai Thông tư số 01/2010/TT-TTCP ngày 23/01/2010 của

Thanh tra Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều Thông tư số 2442/2007/TT-

TTCP ngày 13/11/2007.

Về công tác chỉ đạo thực hiện: Hàng năm, Thanh tra tỉnh đều có tham mưu

UBND tỉnh ban hành văn bản chỉ đạo các địa phương, đơn vị triển khai, thực hiện

công tác kê khai tài sản, thu nhập và báo cáo kết quả thực hiện theo quy định.

Kết quả đánh giá, tổng kết công tác kê khai tài sản, thu nhập: Theo hướng

dẫn của Thanh tra Chính phủ tại Văn bản số 636/VP-TTCP ngày 31/3/2010, Thanh

tra tỉnh đã tham mưu UBND tỉnh Đồng Nai ban hành Kế hoạch số 3436/KH-

UBND ngày 05/5/2010 để triển khai thực hiện đánh giá, tổng kết việc thực hiện

các quy định pháp luật về minh bạch tài sản, thu nhập. Ngày 30/6/2010, UBND

tỉnh có Báo cáo số 5212/BC-UBND đánh giá, tổng kết thực hiện các quy định về





67

minh bạch tài sản, thu nhập gửi về Thanh tra Chính phủ. Kết quả thực hiện:

- Năm 2007: Tổng số cơ quan phải kê khai tài sản, thu nhập là 990 đơn vị ;

tổng số cơ quan đã kê khai tài sản, thu nhập là 990 đơn vị. Tổng số người kê khai

lần đầu là 5.188 người/tổng số người đã kê khai lần đầu là 5.188 người.

- Năm 2008: Tổng số cơ quan phải kê khai tài sản, thu nhập là 1.210 đơn vị;

tổng số cơ quan đã kê khai tài sản, thu nhập là 1.210 đơn vị. Tổng số người kê khai

là 9.049 người/tổng số 9.049 người thuộc diện phải kê khai. Trong đó : đã kê khai

lần đầu là 4.724 người/tổng số người đã kê khai lần đầu là 4.724 người ; số người

đã kê khai bổ sung là 4.325 người/tổng số người đã kê khai bổ sung là 4.325

người.

- Năm 2009: Tổng số cơ quan, đơn vị phải kê khai tài sản, thu nhập là 1.233;

tổng số cơ quan, đơn vị đã kê khai tài sản, thu nhập là 1.233. Tổng số người đã kê

khai là 10.584 người/tổng số người phải kê khai là 10.585 (một trường hợp bệnh

nặng, vừa hết trong tháng 6/2010 chưa kê khai). Trong đó : đã kê khai lần đầu là

3.700 người/tổng số 3.700 người thuộc diện phải kê khai lần đầu; tổng số người đã

kê khai bổ sung là 6.884 người/tổng số 6.885 người thuộc diện kê khai bổ sung.

f) Thực hiện quy định về trách nhiệm người đứng đầu:

UBND tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị định số

107/2007/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định trách nhiệm của người

đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản

lý; Quy định số 02-QĐ/TU ngày 26/2/2008 của Tỉnh ủy và Hướng dẫn số 13-

HD/KT ngày 16/5/2008 của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy quy định về “trách nhiệm

của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong công tác phòng, chống tham

nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm”. Từ đó, Thủ trưởng các cấp, các ngành luôn

nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong các cơ quan, tổ chức, đơn

vị; thường xuyên kiểm tra, giám sát cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện

nhiệm vụ, công vụ để chấn chỉnh kịp thời những sai phạm xảy ra, góp phần hạn

chế phát sinh tham nhũng trong hàng ngũ cán bộ, công chức.

Trong năm 2009, các cơ quan thẩm quyền xem xét, xử lý trách nhiệm người

đứng đầu đối với 14 cán bộ lãnh đạo của 08 đơn vị, cụ thể:

- Xử lý trách nhiệm người đứng đầu đã để xảy ra tham nhũng trong cơ quan

do mình quản lý; cụ thể: Sở Giao thông vận tải (01 người với hình thức cảnh cáo,

chuyển công tác); huyện Vĩnh Cửu (01 người, hình thức khiển trách).

- Xử lý trách nhiệm người đứng đầu đối với 12 cán bộ lãnh đạo của 06 đơn vị

để cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý có hành vi tham nhũng nhưng chưa đến

mức truy cứu trách nhiệm hình sự; cụ thể: Chi cục Kiểm lâm 01 người (hình thức

khiển trách); Sở Công thương 01 người (hình thức khiển trách); huyện Trảng Bom

02 người (hình thức khiển trách); huyện Tân Phú 04 người (01 cảnh cáo; 03 khiển

trách); huyện Định Quán 02 người (01 cảnh cáo; 01hạ bậc lương); huyện Long

Khánh 02 người (hình thức cách chức).

g) Cải cách hành ch nh, đổi m i công nghệ và phương thức thanh toán:





68

* Về cải cách hành chính:

Qua thực hiện cải cách hành chính, cơ chế một cửa, một cửa liên thông tiếp

tục được mở rộng; các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh và UBND cấp

huyện tiến hành rà soát chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy đơn vị theo Nghị

định số 13 và 14/2008/NĐ-CP của Chính phủ để điều chỉnh cho phù hợp, khắc

phục những chồng chéo, trùng lắp, chú trọng tăng cường mối quan hệ giữa các cơ

quan để thực hiện nhiệm vụ chung của địa phương; thủ tục hành chính thường

xuyên được rà soát nhằm cải tiến, giảm bớt phiền hà của nhân dân và doanh

nghiệp.

* Về đổi mới công nghệ, phương thức quản lý:

Tiếp tục thực hiện Chương trình số 8396/CTr-HTQT ngày 26/12/2005 về hỗ

trợ xây dựng và áp dụng các hệ thống quản lý tiên tiến cho các tổ chức, doanh

nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2006-2010 và Quyết định số 36/QĐ-UBND

ngày 03/01/2007 của UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt kế hoạch. Toàn tỉnh có 20

đơn vị đã và đang xây dựng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn

TCVN ISO 9001 :2000 vào hoạt động cơ quan hành chính; hiện có 13 sở, ban

ngành, địa phương đã được cấp chứng nhận, các đơn vị còn lại đang triển khai thực

hiện.

* Về đổi mới phương thức thanh toán tiền lương thông qua tài khoản:

Thực hiện Chỉ thị số 20/2007/CT-TTg ngày 24/8/2007 của Thủ tướng Chính

phủ về việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách

Nhà nước; UBND tỉnh Đồng Nai đã triển khai thực hiện chi trả lương qua tài

khoản cho đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức thuộc khối tỉnh và thành phố

Biên Hòa. Riêng tại các huyện, thị xã Long Khánh chưa triển khai được, vì hệ

thống ngân hàng chưa trang bị hệ thống máy rút tiền tự động.

4. Phát huy vai trò làm chủ của quần chúng nhân dân; phối hợp Mặt trận

Tổ quốc, các đoàn thể, báo ch trong thực hiện Luật Phòng, chống tham

nhũng.

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh đã thể hiện tốt vai trò của mình trong việc triển

khai các hoạt động thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và việc thực hiện cơ chế

giám sát của các đoàn thể, nhân dân đối với các cơ quan quản lý nhà nước, cán bộ,

công chức và đảng viên.

UBND tỉnh chỉ đạo Thanh tra tỉnh phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh

củng cố, kiện toàn và thực hiện tập huấn, bồi dưỡng thành viên các Ban thanh tra

nhân dân nhằm phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong đấu tranh phòng,

chống tham nhũng.

Vai trò của báo chí từng bước được phát huy, đã góp phần vào công tác tuyên

truyền phổ biến giáo dục pháp luật; đưa tin phản ánh những vụ việc liên quan đến

về phòng, chống tham nhũng để cơ quan chức năng kịp thời làm rõ, chấn chỉnh

hoặc kiến nghị xử lý theo quy định pháp luật.







69

5. Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, điều tra, xử

lý các vụ việc tham nhũng.

Từ tháng 02/2007 đến 6 tháng đầu năm 2010, toàn ngành Thanh tra tỉnh đã

triển khai 1.076 cuộc thanh tra trên các lĩnh vực; phát hiện sai phạm và kiến nghị

xử lý 173.969 triệu đồng, đã thu hồi 172.908 triệu đồng; xử lý hành chính 84 cá

nhân vi phạm; chuyển 10 vụ việc sang cơ quan điều tra làm rõ và xử lý theo pháp

luật (bảng kê kèm theo).

Công tác điều tra, truy tố, xét xử được tăng cường nhằm kịp thời xử lý

nghiêm minh hành vi tham nhũng, tiêu cực. Trong kỳ báo cáo, toàn tỉnh đã xét xử

38 vụ án tham nhũng, với 74 bị cáo có mức phạt cao nhất là 8 năm tù giam, thấp

nhất là cải tạo không giam giữ; tài sản thiệt hại được phát hiện là 6,7 tỷ đồng. Hiện

còn 08 vụ đang tiếp tục điều tra.

X.3. CHƯƠNG TRÌNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

1. Kết quả thực hiện:

1.1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện cải cách hành ch nh

Quán triệt nội dung Nghị quyết số 17/NQ-TW ngày 01/8/2007 của Hội nghị

lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X), Nghị quyết số

53/2007/NQ-CP ngày 07/11/2007 của Chính phủ và Kế hoạch số 51-KH/TU ngày

21/02/2008 của Tỉnh ủy về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu

quả quản lý của bộ máy nhà nước; UBND tỉnh ban hành Chương trình hành động

số 3556/CTr-UBND ngày 08/5/2008, xây dựng Kế hoạch triển khai nhiệm vụ cụ

thể và tổ chức tổng kết công tác cải cách hành chính trên địa bàn cho từng năm và

định kỳ hàng tháng UBND tỉnh có nội dung xem xét, đánh giá tình hình và kết quả

thực hiện cải cách hành chính.

Bên cạnh đó, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản để chỉ đạo triển khai các

nội dung cụ thể về cải cách hành chính như Kế hoạch số 3177/KH-UBND ngày

04/5/2007 về nâng cao hiệu quả thực hiện cơ chế "một cửa"; Kế hoạch số

3178/KH-UBND ngày 04/5/2007 về tổ chức thực hiện Đề án đơn giản hóa thủ tục

hành chính theo Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 của Thủ tướng Chính

phủ, Kế hoạch số 713/KH-UBND ngày 30/01/2009 về thực hiện thống kê thủ tục

hành chính, Kế hoạch số 6641/KH-UBND ngày 18/8/2009 về thực hiện rà soát đơn

giản hóa thủ tục hành chính; Kế hoạch 2808/KH-UBND ngày 13/4/2010 tổng kết

thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 -

2010 và xây dựng chương trình cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 -

2020.

1.2. Cải cách thể chế hành ch nh

Trong thời gian qua, công tác cải cách thể chế hành chính được quan tâm thực

hiện, từ năm 2006 đến nay, UBND đã ban hành 344 văn bản quy phạm pháp luật

(gồm: 272 Quyết định và 72 Chỉ thị). Nội dung các văn bản trên tập trung điều

chỉnh các lĩnh vực đời sống, kinh tế xã hội của tỉnh, tập trung ở lĩnh vực quản lý

quy hoạch, xây dựng; quản lý sử dụng đất; quản lý cán bộ công chức, tổ chức bộ





70

máy; cơ chế phối hợp để giải quyết các nhu cầu của công dân, doanh nghiệp.

Đã tổ chức kiểm tra 488 văn bản quy phạm pháp luật và 4.591 văn bản khác

do chính quyền các cấp ban hành từ năm 2004-2007; qua kiểm tra đã rà soát 145

văn bản không còn hiệu lực hoặc ban hành không đúng theo quy định hiện hành;

các văn bản quy phạm pháp luật trên đã được kiến nghị sửa đổi, bãi bỏ kịp thời

theo quy định.

Việc phân cấp hoặc uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước từ tỉnh

cho các sở, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh được chú trọng.

Một số lĩnh vực đã được phân cấp hoặc uỷ quyền như: cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất trên địa bàn tỉnh; tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, viên chức

thuộc UBND tỉnh; quản lý quy hoạch, đào tạo, sử dụng cán bộ quản lý doanh

nghiệp; thỏa thuận địa điểm dự án sản suất kinh doanh trên địa bàn; thẩm định, phê

duyệt hồ sơ đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh; thẩm định, phê duyệt hồ sơ kế hoạch

đấu thầu, hồ sơ mời thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu; cấp phép xây dựng công trình

trên địa bàn tỉnh ...

1.3. Cải cách thủ tục hành ch nh

UBND tỉnh đã ban hành quyết định công bố công khai tất cả các danh mục

thủ tục hành chính, mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính được áp dụng thống nhất tại

các cấp chính quyền (tỉnh, huyện, xã) trên địa bàn tỉnh gồm tổng cộng 1.409 thủ

tục; trong đó cấp tỉnh 983 thủ tục, cấp huyện 276 thủ tục và cấp xã 150 thủ tục. Để

thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính, các đơn vị địa phương tiếp tục rà soát

1.409 thủ tục hành chính, 1.083 mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính, 554 yêu cầu,

điều kiện thực thủ tục hành chính được tổ chức kiểm tra, soát xét. Trong đó: có 502

thủ tục hành chính được kiến nghị giữ nguyên; 905 thủ tục hành chính kiến nghị

đơn giản hóa. Tỷ lệ kiến nghị đơn giản hóa thủ tục hành chính đạt 64,32%

(905/1.407), vượt 34,32% so với chỉ tiêu đơn giản tối thiểu 30% theo quy định của

Thủ tướng Chính phủ.

Việc tiếp nhận, xử lý những phản ảnh, kiến nghị của người dân và doanh

nghiệp về thủ tục hành chính được quan tâm, hầu hết các cơ quan, đơn vị đã công

khai địa chỉ, số điện thoại đường dây nóng, hộp thư để tiếp nhận ý kiến của người

dân và doanh nghiệp. Ngoài ra, trên website của tỉnh đã công khai thủ tục hành

chính hiện đang thực hiện tại các địa phương, đơn vị; tiếp nhận, giải quyết phản

ánh của người dân và doanh nghiệp về thủ tục hành chính.

Về thực hiện cơ chế một cửa: đến nay, có 100% cơ quan hành chính trên toàn

tỉnh đã thực hiện cơ chế một cửa, gồm 20 đơn vị cấp Sở; 11 đơn vị cấp huyện và

171 đơn vị cấp xã.

Đối với cấp xã, việc thực hiện cơ chế một cửa được quan tâm chỉ đạo thực

hiện, các đơn vị bố trí công chức có đủ trình độ, năng lực để tiếp nhận hồ sơ, việc

công khai thủ tục hành chính, giải quyết hồ sơ đã có nhiều tiến bộ hơn.

Cơ chế một cửa liên thông được đẩy mạnh thực hiện nhằm tăng cường việc

phối hợp giữa các cơ quan để giải quyết thủ tục hành chính cho người dân và





71

doanh nghiệp. Ở cấp tỉnh, cơ chế một cửa liên thông được thực hiện đối với các thủ

tục cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp dấu đối với

doanh nghiệp; cấp giấy phép quảng cáo. Ở các huyện, thị xã, thành phố, cơ chế

một cửa liên thông được triển khai trong thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất ở cho hộ gia đình và cá nhân từ cấp xã đến cấp huyện.

1.4. Cải cách tổ chức bộ máy hành ch nh nhà nư c

Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh và UBND cấp huyện được tổ

chức, sắp xếp lại theo Nghị định số 13/2008/NĐ-CP và Nghị định số 14/2008 /NĐ-

CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ. Hiện nay, cấp tỉnh có 19 cơ quan chuyên môn

thuộc tỉnh; cấp huyện có 12 cơ quan chuyên môn thuộc huyện theo đúng quy định

của Chính phủ. Các đơn vị, địa phương tiếp tục thực hiện rà soát chức năng, nhiệm

vụ và tổ chức bộ máy của đơn vị để điều chỉnh cho phù hợp, khắc phục những

chồng chéo, trùng lắp; chú trọng tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa các cơ

quan để thực hiện nhiệm vụ chung của địa phương.

UBND tỉnh dã ban hành Tiêu chí đánh giá, phân loại kết quả thực hiện nhiệm

vụ cải cách hành chính, áp dụng cho từng cấp cơ quan hành chính nhà nước (cấp

Sở, cấp huyện và cấp xã).

Công tác thanh tra công vụ, kiểm tra cải cách hành chính được chú trọng.

Hàng năm, Hội đồng nhân dân tỉnh tổ chức nhiều cuộc giám sát tình hình thực hiện

cải cách hành chính tại các đơn vị, địa phương. Các đơn vị, địa phương nhất là ở

cấp huyện tăng cường thanh tra công vụ, kiểm tra cải cách hành chính trong nội bộ

thuộc phạm vi quản lý, chủ yếu là kiểm tra về chức trách công vụ, giải quyết thủ

tục hành chính, thái độ ứng xử của cán bộ, công chức.

1.5. Cải cách tài ch nh công

Thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP về chế độ khoán biên chế, kinh phí

quản lý hành chính, đến nay có 36/36 (100%) đơn vị do tỉnh quản lý và 191/222

(86%) đơn vị do cấp huyện quản lý đã triển khai. Thực hiện Nghị định số

43/2006/NĐ-CP về chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính, có 164/164

(100%) đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh và 699/700 (99,86%) đơn vị sự nghiệp cấp

huyện đã triển khai. Ngoài ra, 03 đơn vị thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách

nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập theo Nghị định số

115/2005/NĐ-CP. Kết quả cho thấy việc thực hiện chế độ khoán biên chế đã phát

huy hiệu quả, các đơn vị chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ, quy chế

chỉ tiêu nội bộ, nâng cao ý thức tiết kiệm, tạo điều kiện tăng thu nhập thêm cho cán

bộ công chức, viên chức của đơn vị.

1.6. Hiện đại hóa nền hành ch nh

Hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước được cải thiện một bước,

nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý, từng bước đổi mới công tác

quản lý, điều hành thông qua quy hoạch, kế hoạch, tổ chức hướng dẫn và kiểm tra

việc thực hiện; từng bước giảm văn bản, giấy tờ hành chính không cần thiết.

Việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác chỉ đạo điều





72

hành nhằm nâng cao chất lượng điều hành và hiệu quả quản lý nhà nước được

quan tâm thực hiện và có nhiều chuyển biến. Nhiều cơ quan xây dựng và triển khai

các đề án ứng dụng công nghệ thông tin nhằm phục vụ cho công tác quản lý nội

bộ. Mạng máy tính đã kết nối từ tỉnh đến hầu hết các sở, ngành, các huyện và một

số xã, hầu hết các cơ quan đều triển khai mạng nội bộ. Nhằm nâng cao tính phục

vụ của cơ quan quản lý hành chính nhà nước đối với người dân theo hướng công

khai, đơn giản và thuận tiện, đến nay đã có trên 20 đơn vị đã xây dựng và triển

khai các website để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân, cung cấp thông tin cần thiết

về quy định, chế độ, chính sách, thủ tục hành chính của ngành.

Thực hiện Quyết định số 144/2006/QĐ-TTg ngày 20/6/2006 của Chính phủ,

đến nay, có 21 cơ quan, đơn vị đã tổ chức áp dụng thực hiện hệ thống quản lý chất

lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 vào hoạt động giải quyết công việc,

góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý, giảm các cuộc họp,

giảm văn bản, giấy tờ hành chính không cần thiết; chuẩn hóa các quy trình tác

nghiệp; kiểm soát được công việc; minh bạch trong quản lý, điều hành, rút ngắn

thời gian giải quyết thủ tục cho người dân và doanh nghiệp.

1.7. Thông tin, tuyên truyền cải cách hành ch nh

Công tác thông tin, tuyên truyền về cải cách hành chính trong thời gian qua

được tăng cường; các phương tiện truyền thông thường xuyên phổ biến, tuyên

truyền về cách hành chính, lồng ghép việc tuyên truyền cải cách hành chính với

việc tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Nhiều

nhiều hình thức chuyên đề về cải cách hành chính được thực hiện như báo cáo, hội

nghị, tham luận, lấy ý kiến người dân.....Các báo, đài phát thanh và truyền hình của

tỉnh xây dựng các chuyên trang, chuyên mục về cải cách hành chính, phản ảnh về

tình hình triển khai cải cách hành chính tại các đơn vị, địa phương. Đài phát thanh

các địa phương thường xuyên thông tin, tuyên truyền các nội dung cải cách hành

chính trên địa bàn.

2. Nhận xét, đánh giá:

2.1. Ưu điểm:

- Chất lượng xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật được chú

trọng, hiệu lực quản lý nhà nước được tăng cường, tạo cơ sở pháp lý, môi trường

thuận lợi cho sinh hoạt của nhân dân và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp.

- Công tác cải cách thủ tục hành chính được tập trung chỉ đạo thực hiện và

bước đầu đã đạt được những kết quả tích cực; thủ tục hành chính đã được đơn

giản, thời gian giải quyết hồ sơ có nhanh hơn trước; qua rà soát, nhiều thủ tục

không còn phù hợp đã được kiến nghị điều chỉnh, bãi bỏ. Cơ chế một cửa, cơ chế

một cửa liên thông được được triển khai mạnh mẽ và rộng khắp, giúp giảm bớt

phiền hà cho người dân.

- Cơ quan hành chính nhà nước được tổ chức sắp xếp theo quy định và hoạt

động có hiệu quả hơn. Chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của từng cơ quan được





73

xác định rõ, khắc phục dần tình trạng chồng chéo, trùng lắp lẫn nhau. Việc phân

cấp quản lý giữa các cấp chính quyền và cơ quan hành chính nhà nước được đẩy

mạnh, tăng cường trách nhiệm và tính chủ động trong triển khai thực hiện ở các cơ

quan được phân cấp.

- Công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức được quan tâm

thực hiện; trình độ, năng lực, tinh thần trách nhiệm, ý thức tận tụy phục vụ nhân

dân của cán bộ, công chức được nâng cao một bước. Công tác đào tạo, bồi dưỡng

cán bộ, công chức cấp xã được chú trọng, nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi được

triển khai thực hiện nhằm thu hút và nâng cao năng lực thực thi công vụ của cán bộ

công chức ở cơ sở.

- Công tác thanh tra, kiểm tra được chú trọng thực hiện, qua thanh tra đã giúp

cho cán bộ, công chức nâng cao trách nhiệm thực thi công vụ và các cơ quan, đơn

vị được thanh tra thực hiện đúng pháp luật của Nhà nước.

2.2. Tồn tại, hạn chế:

- Công tác cải cách thủ tục hành chính mặc dù được quan tâm đẩy mạnh, tuy

nhiên việc thực hiện chưa đạt yêu cầu. Qua kết quả thăm dò, dư luận nhân dân về

công tác cải cách thủ tục hành chính, mức độ người dân hài lòng nhìn chung là

chưa cao. Việc triển khai đơn giản hoá thủ tục hành chính còn chậm; nhiều cơ

quan, cán bộ, công chức chưa nhận thức đầy đủ mục đích, ý nghĩa, cách làm mới,

nên chưa tập trung cao trong triển khai thực hiện làm ảnh hưởng đến tiến độ và

chất lượng của việc.

- Một số đơn vị, địa phương triển khai cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên

thông chất lượng chưa tốt. Nơi làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ở

một số đơn vị còn chật hẹp, chưa đảm bảo diện tích theo quy định. Tinh thần trách

nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức còn yếu kém, hạn chế về chuyên môn,

nghiệp vụ.

- Công tác tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân chưa được triển khai mạnh

mẽ, chưa đa dạng hóa hình thức nhằm huy động sự tham gia đông đảo của người

dân để công tác cải cách hành chính triển khai có hiệu quả hơn. Công tác kiểm tra,

thanh tra công vụ chưa được tiến hành rộng rãi ở tất cả các cấp, các ngành, các đơn

vị.

- Việc áp dụng công nghệ thông tin vào công tác cải cách hành chính còn

chậm, chưa ứng dụng rộng rãi phần mềm vào công tác quản lý; dịch vụ công trên

mạng, thông tin hai chiều giữa cơ quan Nhà nước với người dân và doanh nghiệp

còn ít.

XI. CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TỈNH

1. Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”

+ Xây dựng “Ấp, khu phố văn hóa”: toàn tỉnh đạt tỷ lệ 100% ấp, khu phố thực

hiện đăng ký xây dựng và giữ vững danh hiệu ấp, khu phố văn hóa năm 2009 và

ước trên 85% đạt danh hiệu ấp, khu phố văn hóa.





74

+ Xây dựng “Xã, phường lành mạnh không có tệ nạn xã hội”: ước cả năm đạt

trên 73% xã, phường, thị trấn đạt danh hiệu lành mạnh không có tệ nạn xã hội.

+ Xây dựng “Cơ quan, đơn vị có đời sống văn hóa”: tổng số cơ quan, đơn vị

đăng ký là 2.185, số đăng ký thi đua là 1967 đơn vị, đạt 90% và ước trên 96% các

cơ quan, đơn vị đạt danh hiệu cơ quan, đơn vị có đời sống văn hóa.

+ Xây dựng “Gia đình văn hóa”: ước cuối năm trên 93% gia đình đạt danh

hiệu gia đình văn hóa.

+ Phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”: ước

tính số người tập luyện thể dục, thể thao thường xuyên là 27% (đạt 100% kế

hoạch); số hộ gia đình thể thao là 84.895 hộ, đạt 17%; số trường thực hiện giáo dục

thể chất nội khóa đạt 100%, ngoại khóa đạt 70%.

+ Phong trào “Phát huy sáng kiến, sáng tạo trong lao động, học tập”: được

phát động ở các cơ quan, đơn vị, trường học, doanh nghiệp trên địa bàn các huyện,

biểu dương đội ngũ tri thức, cán bộ và nhân dân có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ

thuật, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tế.

+ Phong trào “Gương người tốt việc tốt điển hình tiên tiến”: Ban chủ nhiệm

chương trình đã tuyên truyền và hướng dẫn các nội dung phát động gương người

tốt việc tốt đối với các cơ quan, đơn vị tỉnh, huyện và cơ sở, nhiều tầm gương

người tốt việc tốt đã được cơ sở quan tâm, giới thiệu qua đó đã kịp thời biểu dương

các cá nhân, đơn vị có thành tích xuất sắc.

2. Xây dựng các thiết chế văn hóa

- Xây dựng nhà luyện tập biểu diễn của Đoàn Nghệ thuật cải lương. Phối hợp

với các ban ngành đẩy mạnh tiến độ quy hoạch và xây dựng các thiết chế văn hóa,

nhất là các trung tâm văn hóa thể thao cơ sở.

- Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản được đẩy mạnh thông qua việc

phối hợp lập dự án và tổ chức trùng tu, tôn tạo, bảo quản, chống xuống cấp hơn 20

di tích.

- Tổ chức bàn giao 11 xe chuyên dùng (mỗi xe gần 500 triệu đồng) cho 11

huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh. Kịp thời hỗ trợ các trang thiết bị, phương tiện

tác nghiệp cho các thiết chế văn hóa thể thao cơ sở như: các thiết bị âm thanh, ánh

sáng, cung cấp máy chiếu cho Đội chiếu sáng lưu động của tỉnh… từ nguồn kinh

phí Chương trình mục tiêu Quôc gia.

- Thường xuyên tập huấn chuyên môn về công tác quản lý nhà nước trên các

lĩnh vực: văn hóa, thể thao, du lịch gia đình cho cán bộ văn hóa thông tin, cán bộ

gia đình trẻ em cơ sở và các dịch vụ kinh doanh trên các lĩnh vực hàng năm.

- Phát huy hiệu quả hệ thống thư viện công cộng từ tỉnh đến huyện, nhất là đề

án Thư viện điện tử và bổ sung, luân chuyển sách báo tạp chí, đáp ứng được nhu

cầu văn hóa đọc của nhân dân. Đến nay, hệ thống thư viện công cộng trên toàn tỉnh

có 927 nhà (trong đó cấp tỉnh: 1, cấp huyện: 10, thư viện kết hợp xã phường: 35,

điểm bưu điện văn hóa: 105, thư viện trường học: 486, tủ sách thôn ấp: 119, tủ





75

sách pháp luật: 171).

3. Tăng cường hiệu lực hiệu quả công tác quản lý Nhà nư c về hoạt động

văn hóa, dịch vụ văn hóa công cộng

- Tổ chức triển khai Chỉ thị số 17/2005/CT-TTg về việc chấn chỉnh các hoạt

động tiêu cực trong quán bar, nhà hàng karaoke, vũ trường; Nghị định số

11/2006/NĐ-CP ngày 18/01/2006 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế hoạt

động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng. Chủ động xây dựng Đề án

quy hoạch dịch vụ văn hóa và các ngành nghề nhạy cảm phù hợp với điều kiện

thực tế của địa phương.

- Thanh tra Sở thường xuyên tổ chức kiểm tra, giám sát các hoạt động văn

hóa, thể thao và du lịch, đặc biệt là các dịch vụ văn hóa dễ phát sinh tệ nạn xã hội

Kiểm tra hơn 1.302 lượt cơ sở, phát hiện 845 cơ sở vi phạm, ra quyết định xử phạt

hành chính 834,6 triệu đồng, tịch thu hơn 12.789 đĩa CD-VCD, 28 cassettes và

nhiều tài liệu khác. Kiểm tra trên 53 doanh nghiệp kinh doanh du lịch, xử phạt số

tiền gần 70 triệu đồng.

- Đội kiểm tra liên ngành 814 các huyện, thị xã, thành phố Biên Hòa và cơ sở

thường xuyên kiểm tra, nhắc nhở, xử lý vi phạm hành chính; đưa hoạt động văn

hóa, thể thao và du lịch ở cơ sở đi vào nề nếp theo đúng quy định.

4. Khuyến kh ch phát triển xã hội hóa hoạt động văn hóa thể thao và du

lịch

- Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động xã hội hóa; phối hợp với các Sở, Ban

ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội huy động được nhiều lực lượng xã hội tham gia,

tạo nguồn lực cho phát triển văn hóa, thể thao và du lịch, nâng cao đời sống tinh

thần cho nhân dân.

- Về công tác trùng tu, tôn tạo đã huy động được nguồn xã hội hóa từ cơ sở

khá lớn như: Chùa Ông, tổng kinh phí gần 5 tỷ đồng, hiện nay công trình đã hoàn

thành và đưa vào sử dụng; chùa Đại Giác thực hiện khoảng 2 tỷ đồng, công trình

đã đưa vào sử dụng, phục vụ tốt cho nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân và

khách tham quan; đền thờ mộ Đoàn Văn Cự, trùng tu sửa chữa nhỏ bằng nguồn

vốn xã hội hóa khoảng 100 triệu đồng; đình An Hòa, tổng dự toán hơn 4 tỷ đồng

trong đó nguồn xã hội hóa là 500 triệu; lập hồ sơ xếp hạng di tích, lập biển chỉ

đường, in ấn tờ rơi, sách giới thiệu di tích bằng nguồn kinh phí xã hội hóa là 220

triệu đồng.

- Phong trào thể dục thể thao, văn nghệ quần chúng được các Sở, ngành và

nhân dân tích cực hưởng ứng bằng việc tổ chức nhiều hội thao, các giải thi đấu thể

thao thành lập và thường xuyên hoạt động phục vụ nhân dân của các đội văn nghệ

quần chúng (có trên 650 đội văn nghệ), các nhóm nhạc, các câu lạc bộ… góp phần

đưa phong trào văn nghệ, thể thao quần chúng phát triển.

- Trong lĩnh vực du lịch, ngành đã tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành dịch

vụ, các ngành hỗ trợ có liên quan đến du lịch phát triển, chuyển dịch nhanh cơ cấu

kinh tế theo hướng tỷ trọng khu vực thương mại dịch vụ ngày càng tăng mang tính





76

xã hội cao và gắn với đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội.

5. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học trên lĩnh vực văn hóa – du

lịch

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và từng bước ứng dụng kết quả

nghiên cứu vào phát triển sự nghiệp và phục vụ nhân dân, nhất là đội ngũ công

nhân tại các khu công nghiệp. Một số đề tài đã thực hiện là:

- “Điều tra khai quật khảo cổ học phục vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa” thực

hiện 2 năm (2007-2008).

- Triển khai đề tài “Du lịch Đồng Nai phát triển bền vững trong hội nhập kinh

tế quốc tế đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”.

- “ Di tích – danh thắng Đồng Nai với việc phát triển văn hóa du lịch” thực

hiện 2 năm (2007-2008).

- Phối hợp viện Văn hóa thông tin hoàn thành giai đoạn 1 đề tài nghiên cứu

“Xây dựng mô hình đời sống văn hóa cho công nhân ở các khu công nghiệp” đã

được Hội đồng khoa học nghiệm thu.

- “ Sưu tầm, nghiên cứu dân ca, hò và lý ở Đồng Nai” thực hiện năm 2007-

2008.

- “Tổng điều tra di sản văn hóa phi vật thể” trên địa bàn toàn tỉnh.

6. Mở rộng hợp tác văn hóa, thể thao và du lịch v i các tỉnh thành và khu

vực

- Tiếp nhận các đoàn nghệ thuật của Trung ương, các tỉnh trong nước đến biểu

diễn, góp phần nâng cao mức hưởng thụ văn hóa tinh thần cho nhân dân.

- Phục vụ các đoàn khách quốc tế đến Đồng Nai và cử diễn viên tham gia

đoàn của tỉnh giao lưu văn hóa – giáo dục tại tỉnh Gyongnam (Hàn Quốc).

- Thường xuyên duy trì các chương trình giao lưu văn hóa văn nghệ trong khu

vực Đông Nam Bộ như: Chung một dòng sông (Đồng Nai, Tp.Hồ Chí Minh, Bà

Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương), Liên hoan các huyện giáp ranh (Đồng Nai, Bình

Thuận, Lâm Đồng)...và các hội thi khác.

- Tổ chức thi đấu giao hữu giải thể dục thể hình và FINTNESS châu Á (từ

ngày 30/8-4/9/2006) tại nhà thi đấu tỉnh. Đây là một giải châu lục có số lượng các

nước tham gia đông nhất từ trước tới nay, là cơ hội lớn cho ngành thể dục thể thao

nói riêng và tỉnh Đồng Nai quảng bá hình ảnh Đồng Nai với quốc tế.

- Thực hiện chương trình xúc tiến du lịch Quốc gia, phối hợp với Đài truyền

hình Việt Nam thực hiện 2 chương trình quảng bá du lịch Đồng Nai tại khu du lịch

Bửu Long, khu vui chơi giải trí câu lạc bộ Xanh, làng bưởi Tân Triều, chiến khu Đ,

vườn Quốc gia Cát Tiên, khu du lịch thác Giang Điền...

* NHÓM CÁC CHƯƠNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN AN NINH TRẬT

TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN:





77

XII. CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM;

PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM BUÔN BÁN PHỤ NỮ, TRẺ EM VÀ PHÒNG,

CHỐNG MA TÚY

1. Công tác tuyên truyền vận động quần chúng: Các sở, ngành, đoàn thể,

quần chúng trong toàn tỉnh đã làm tốt công tác tuyên truyền, vận động trong quần

chúng nhân dân, tham gia sinh hoạt tại các tổ nhân dân. Qua công tác tuyên truyền

vận động quần chúng đã cung cấp nhiều nguồn tin, giúp lực lượng Công an các cấp

điều tra làm rõ hàng nghìn vụ phạm pháp hình sự, trực tiếp bắt nhiều vụ phạm tội

quả tang giao cơ quan công an xử lý.

Thực hiện tinh thần chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh công tác tuyên truyền

quần chúng nhân dân tham gia phòng, chống tội phạm phải gắn liền với với các

chính sách xã hội như xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình

thương như đã tổng hợp báo cáo.

Tuy nhiên, đối tượng cần được tuyên truyền là thanh thiếu niên tại địa bàn

dân cư chưa có biện pháp, hình thức phù hợp, do đó hiệu quả chưa cao, tội phạm

trong lứa tuổi thanh thiếu niên vẫn gia tăng và chiếm tỷ lệ cao.

2. Công tác đấu tranh chống tội phạm xâm phạm trật tự xã hội: Tội phạm

xâm phạm về trật tự xã hội đã được kiềm chế, giảm 913 vụ (7.935/8.848 vụ) =

10,31%, so với mục tiêu đặt ra là giảm từ 5 đến 10%/1 năm. Tội phạm giết cướp,

giết hiếp, hiếp cướp xảy ra không nhiều, mỗi năm xảy ra từ 3 đến 5 vụ nhưng tính

chất đặc biệt nghiêm trọng, giảm 05 vụ so với cùng kỳ trước đó (36/41 vụ). Hiếp

dâm trẻ em giảm 41 vụ (66/107) nhưng nhiều vụ nạn nhân còn rất nhỏ tuổi. Lừa

đảo giảm 68 vụ (141/209), trộm cắp tài sản giảm 357 vụ (5.368/5.725 vụ). Một số

loại án tăng như: giết người tăng 51 vụ (195/144 vụ), nguyên nhân chủ yếu do mâu

thuẫn thù tức trong sinh hoạt; tội phạm cố ý gây thương tích tăng 85 vụ (590/505

vụ); chống người thi hành công vụ tăng 28 vụ (109/81 vụ); cướp giật tài sản tăng

70 vụ (541/471 vụ). Các băng nhóm tội phạm tập trung ở các loại tội như: cướp,

cướp giật, trộm cắp tài sản và cố ý gây thương tích, địa bàn hoạt động chủ yếu trên

các tuyến giao thông và những địa bàn tập trung các khu công nghiệp và những địa

phương có tốc độ đô thị hóa nhanh như Biên Hòa, Long Thành, Nhơn Trạch,

Trảng Bom và thị xã Long Khánh.

3. Công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ

em: Tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em trên địa bàn Đồng Nai xảy ra không nhiều

nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố phát sinh tội phạm này, do việc phụ nữ kết hôn với

người nước ngoài dễ bị lợi dụng buôn bán ra nước ngoài. Vì vậy, cần được tuyên

truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân, nhất là đồng bào gốc người Đài Loan

(Trung Quốc) đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

4. Công tác phòng, chống tội phạm về ma tuý: Hàng năm, chủ động phối

hợp với Mặt trận tổ quốc và các ngành chức năng, các địa phương tiến hành điều

tra khảo sát nắm chắc tình hình người nghiện ma túy. Tính đến 6/2010 trên địa bàn

tỉnh Đồng Nai đã phát hiện, lập hồ sơ quản lý 1.462 đối tượng, so với cuối năm

2005 giảm 2 đối tượng.





78

B. CÁC CHƯƠNG TRÌNH THỰC HIỆN TRONG GIAI ĐOẠN 2011-

2015:

Các chương trình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh thực chất là kế hoạch triển

khai thực hiện Nghị quyết của tỉnh Đảng bộ, Nghị quyết của HĐND tỉnh; vì vậy

phần lớn các chương trình sẽ chuyển thành kế hoạch thực hiện 5 năm, hàng năm

đảm bảo đạt mục tiêu Nghị quyết của tỉnh Đảng bộ và HĐND tỉnh. Riêng 1 số lĩnh

vực sau đây tiếp tục hoàn chỉnh chương trình để triển khai giai đoạn 2011-2015:

1. Chương trình hỗ trợ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu các ngành công nghiệp

giai đoạn 2011-2015 (thay thế cho chương trình phát triển các sản phẩm công

nghiệp chủ lực giai đoạn 2006-2010).

2. Chương trình phát triển nông thôn mới và xây dựng thương hiệu sản phẩm

nông nghiệp giai đoạn 2011-2015.

3. Chương trình phát triển nguồn nhân lực 2011-2015.

4. Chương trình phát triển kết cấu hạ tầng giai đoạn 2011-2015.

5. Chương trình khoa học và công nghệ hỗ trợ các đơn vị, doanh nghiệp nâng

cao năng lực cạnh tranh; áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến; bảo hộ sở

hữu trí tuệ trong quá trình hội nhập giai đoạn 2011-2015.

6. Chương trình bảo vệ môi trường giai đoạn 2011 - 2015.

7. Chương trình phát triển các loại cây trồng, vật nuôi chủ lực giai đoạn 2011

- 2015.

8. Chương trình phát triển dịch vụ tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015.

Các đơn vị chủ trì chương trình này tiếp tục rà soát bổ sung và tổng hợp báo

cáo UBND tỉnh vào quý 4 năm 2010.

Các Chương trình còn lại không triển khai thành chương trình mà chuyển

sang thực hiện kế hoạch hàng năm, các đơn vị chủ trì thực hiện lập kế hoạch thực

hiện chương trình hàng năm gửi UBND tỉnh vào tháng 10 của năm trước./.

TM.ỦY BAN NHÂN DÂN

Nơi nhận: CHỦ TỊCH

- Thường trực Tỉnh ủy;

- Thường trực HĐND tỉnh;

- Thường trực UB.MTTQVN tỉnh; Đã ký

- Chủ tịch, các phó Chủ tịch UBND tỉnh;

- Chánh, phó VP.UBND tỉnh;

- Lưu: VT, TH.





Võ Văn Một









79


Other docs by HC111205015830
Section 12
Views: 0  |  Downloads: 0
Cargo Manifest (Air)
Views: 1  |  Downloads: 0
HCS HPN Cheat Sheet FAQ
Views: 5  |  Downloads: 0
Cultuurbeleidsplan 2008-2013
Views: 1  |  Downloads: 0
DO: Leitch v
Views: 1  |  Downloads: 0
Gasabo 2011-2012
Views: 12  |  Downloads: 0
Newspaper Correspondence Information
Views: 1  |  Downloads: 0
Student connect Cheatsheet
Views: 3  |  Downloads: 0
By registering with docstoc.com you agree to our
privacy policy

You are almost ready to download!

You are almost ready to download!