TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRẦN THẾ VƢỢNG

Document Sample
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRẦN THẾ VƢỢNG Powered By Docstoc
					             TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

                                                                        TRẦN THẾ VƢỢNG
                                                  Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã làm cuộc cách mạng thành công, Cách mạng Tháng
Tám năm 1945. Từ đó, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, một Nhà nước kiểu mới, Nhà
nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời. Trong hơn 50 năm xây dựng và không ngừng
hoàn thiện bộ máy nhà nước kiểu mới, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân,
Đảng và nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến việc thành lập và kiện toàn các cơ quan tư pháp,
trong đó có Viện Kiểm sát nhân dân. Có thể nói, trong mỗi giai đoạn của cách mạng nước ta,
cúng với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước, Viện Kiểm sát nhân dân đã góp phần quan
trọng vào việc bảo vệ chính quyền cách mạng của nhân dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,
pháp chế xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập
thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân. Với khuôn khổ của đề
tài “Hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước”,
trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ xin đề cập đến lịch sử hình thành và phát triển của Viện
Kiểm sát nhân dân trong cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát, trong hoạt động quản lý nhà nước
và phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện Kiểm sát nhân dân theo tinh thần Nghị
quyết Trung ương 3 khoá VIII.
1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN QUA
CÁC THỜI KỲ
Từ năm 1945 đến nay, tổ chức cơ quan Viện Kiểm sát nhân dân của nước ta đã trải qua những
bước phát triển khác nhau phù hợp với nhận thức, mức độ phát triển của xã hội và đáp ứng các
yêu cầu của thực tiễn đặt ra đối với từng giai đoạn lịch sử. Quá trình hình thành và phát triển của
Viện Kiểm sát nhân dân có thể được phân theo các giai đoạn lịch sử khác nhau như sau:
1- Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959
Sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành
nhiều sắc lệnh đầu tiên là Sắc lệnh số 33A ngày 14/9/1945, Tại Sắc lệnh này có quy định mỗi khi
bắt người phải thông báo ngay cho ông Biện lý biết (tức là Thẩm phán làm nhiệm vụ công tố).
Tiếp theo, trong Sắc lệnh số 7/SL ngày 15/1/1946 đã quy định cụ thể như sau: “Đứng buộc tội,
tuỳ quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, sẽ là nhân viên của Công tố viện do Chưởng lý Toà
thượng thẩm chỉ định”. Như vậy, Công tố viện đã bước đầu được hình thành dưới sự quản lý, chỉ
đạo, điều hành của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Tuy nhiên, Sắc lệnh hoàn chỉnh đầy đủ nhất về tổ
chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp là Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 về tổ chức Toà án
(Ban tư pháp xã, Toà án sơ cấp, Toà án đệ nhị cấp, Toà thượng thẩm) và tổ chức các ngạch Thẩm
phán (ngạch Thẩm phán; việc tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán; quyền, nghĩa vụ của Thẩm
phán). Có hai ngạch Thẩm phán là ngạch sơ cấp và ngạch đệ nhị cấp. Thẩm phán sơ cấp làm việc
ở Toà sơ cấp; Thẩm phán đệ nhị làm việc ở các Toà đệ nhị cấp và Toà thượng thẩm. Thẩm phán
đệ nhị cấp được chia ra làm hai chức vụ: các Thẩm phán xử án do Chánh nhất Toà thượng thẩm
đứng đầu và các Thẩm phán Công tố viên (Thẩm phán buộc tội) do Chưởng lý đứng đầu. Những
nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp trong các Sắc lệnh được ban hành
trong những năm đầu của chính quyền cách mạng đã được ghi nhận trong bản Hiền pháp đầu tiên
của Nhà nước ta, Hiến pháp năm 1946. Tại Chương VI về “cơ quan tư pháp” của Hiến pháp năm
1946 quy định “cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà gồm có:
a) Toà án tối cao;
b) Các Toà án phúc thẩm;
c) Các Toà án đề nhị cấp và sơ cấp”;
“Các nhân viên Thẩm phán do Chính phủ bổ nhiệm”.
                                                                                                 1
Cần lưu ý rằng, tổ chức Chính phủ theo Hiền pháp năm 1946 có nét đặc thù riêng biệt. Theo Điều
44 thì Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Phó Chủ tịch và nội các.
Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng. Có thể có Phó Thủ tướng.
Như vậy, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước trong Hiền pháp năm 1946 cho thấy cơ quan tư pháp
có một vị trí độc lập trong tổ chức bộ máy nhà nước, là cơ quan thực hiện quyền công tố và xét
xử.
Trong thời gian từ năm 1946 đến năm 1959, Nhà nước ta không thành lập cơ quan thực hành
quyền công tố riêng. Trong cơ cấu Toà án, các Thẩm phán được chia làm hai loại:
- Các Thẩm phán xét xử do Chánh án Toà án Thượng thẩm đứng đầu.
- Các Thẩm phán Công tố viên (Thẩm phán buộc tội) hợp thành một đoàn thể độc lập (Công tố
viện) với các Thẩm phán xét xử do Chương lý đứng đầu. Các Thẩm phán Công tố viên ở Toà án
đệ nhị cấp gọi là Biện lý, Phó biện lý; ở Toà thượng thẩm gọi là Chưởng lý, Phó chưởng lý,
Tham lý. Thực hành nhiệm vụ công tố trong việc hình, Thẩm phán Công tố viên được áp dụng
nhiều biện pháp trong quá trình giải quyết vụ án và có nhiệm vụ thay mặt Nhà nước buộc tội bị
cáo tại phiên toà. Trong việc hộ, Thẩm phán Công tố viên bảo vệ quyền lợi của những người ởi
tuổi vị thành niên, của các pháp nhân hành chính và phải tham gia vào một số công việc khác
theo quy định của pháp luật.
Trong cơ cấu các Toà án quân sự có một số công cáo uỷ viên đứng buộc tội. Các công cáo uỷ
viên trực tiếp đặt dưới quyền của các Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp và tuân theo mệnh lệnh
của cả hai Bộ trưởng này. Trong Toà án đặc biệt có một Uỷ viên Ban Thanh tra đặc biệt do Chính
phủ lập ra để đứng buộc tội. Uỷ viên Chính phủ là một quân nhân hoặc một nhân viên Bộ Quốc
phòng do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ định theo đề nghị của Cục trưởng quân pháp.
Thực hiện cuộc cải cách tư pháp năm 1950, cùng với việc thành lập Toà án nhân dân các cấp, tổ
chức và hoạt động của Viện công tố cũng có sự chuyển biến đáng kể. Theo Sắc lệnh số 85/SL
ngày 22/5/1950, Viện công tố có quyền kháng nghị cả bản án hay quyết định về dân sự của Toà
án. Mặt khác, Thông tư số 21/TTg ngày 7/6/1950 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư liên bộ
số 18/BKT-TT ngày 8/6/1950 của Bộ Kinh tế và Bộ Tư pháp đã quy định các Viện công tố địa
phương phải chịu sự quản lý, chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban kháng chiến hành chính. Cụ thể là:
“Uỷ bán các cấp điều khiển Viện công tố trong địa hạt của mình, Uỷ ban kháng chiến hành chính
có thể ra mệnh lệnh cho Viện công tố. Đại diện Viện công tố phải tuân theo mệnh lệnh của Uỷ
ban”.
Vào cuối những năm 1950, tổ chức của Viện công tố lại được kiện toàn và tăng cường một bước
quan trọng. Thực hiện Nghị quyết ngày 29/4/1958 của Quốc hội khoá I và Nghị định số 256/TTg
ngày 1/7/1959, Nghị định số 321/TTg ngày 2/7/1959 của Chính phủ, các Viện công tố được tổ
chức thành hệ thồng gồm Chính phủ, các Viện công tố đã được tổ chức thành hệ thống gồm:
- Viện công tố Trung ương;
- Viện công tố thành phố, tỉnh;
- Viện công tố huyện và các đơn vị hành chính tương đương;
- Viện công tố quan sự các cấp.
Viện công tố Trung ương thuộc Chính phủ, có trách nhiệm và quyền hạn như một bộ và các
nhiệm vụ cụ thể như sau;
- Điều tra và truy tố tước Toà án những kể phạm pháp về hình sự;
- Giám sát việc chấp hành pháp luật trong công tác điều tra của cơ quan điều tra;
- Giám sát việc chấp hành pháp luật trong việc thi hành các bản án về hình sự, dân sự và trong
hoạt động giam giữ, cải tạo;
- Khởi tố và tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng có liên quan đến lợi ích của
Nhà nước và của nhân dân.
Có thể nói, những quy định trên đây là bước phát triển quan trọng tổ chức và hoạt động của Viện
công tố, tiến tới việc thành lập Viện Kiểm sát nhân dân vào giữa năm 1960.
                                                                                             2
2- Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980
Với thắng lợi của cuộc kháng chống thực dân Pháp và cùng với việc xây dựng miền Bắc sau ngày
giải phóng, Hiến pháp năm 1959 của nước Việt Nam dân chủ công hoà ra đời. Những quy định
về tổ chức bộ máy nhà nước trong Hiến pháp năm 1959 có những sửa đổi căn bản so với Hiến
pháp năm 1946. Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và Phó Chủ tịch nước được tách ra
khỏi Hội đồng Chính phủ, là người thay mặt cho Nhà nước về đối nội và đối ngoại. Hội đồng
Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội và là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất.
Viện công tố được thay thế bằng Viện Kiểm sát nhân dân. Viện Kiểm sát nhân dân cùng với Toà
án nhân dân là các cơ quan tư pháp, không còn trực thuộc Hội đồng Chính phủ mà chịu trách
nhiệm báo cáo trước Quốc hội. Khác với Hiến pháp năm 1959 xác định cơ quan thực hành quyền
công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, nhân viên cơ quan nhà nước
và công dân bao gồm: Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện Kiểm sát nhân dân địa phương
và Viện Kiểm sát quân sự. Viện Kiểm sát nhân dân trên và sự lãnh đạo thống nhất của Viện Kiểm
sát Nhân dân tối cao. Như vậy, theo quy định của Hiến pháp năm 1959 thì Viện Kiểm sát nhân
dân các cấp được tổ chức thành một hệ thống nhất, độc lập với cơ quan xét xử và cơ quan hành
chính, chỉ chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội.
Nhưng quy định của Hiến pháp năm 1959 về tổ chức và hoạt động của Viện Kiểm sát nhân dân
các cấp đã được cụ thể hoá bằng Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1960. Theo quy định
tại Điều 4 này thì các Viện Kiểm sát nhân dân gồm có: Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện
Kiểm sát nhân dân địa phương và các Viện Kiểm sát quân sự. Các Viện Kiểm sát nhân dân địa
phương gồm có: Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc đơn vị
hành chính tương đương; Viện Kiểm sát nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã hoặc đơn vị
hành chính tương đương, Viện Kiểm sát nhân dân ở các khu vực tự trị. Viện Kiểm sát nhân dân
có nhiệm vụ và quyền hạn: kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các nghị quyết, quyết định,
thông tư, chỉ thị và biện pháp của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và cơ quan nhà nước
địa phương, kiểm sát việc tuân theo pháp luật của nhân viên cơ quan nhà nước và công dân; điều
tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước Toà án nhân dân những người phạm pháp
về hình sự; kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc điều tra của cơ quan Công an và của cơ quan
điều tra khác; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của Toà án nhân dân và trong
việc chấp hành các bản án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam giữ của trại giam;
khởi tố hoặc tham gia tố tụng những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của Nhà nước
và của nhân dân.
Triển khai thực hiện Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, sau một thời gian ngắn, Viện Kiểm
sát nhân dân đã được tổ chức thành một hệ thống từ Trung ương đến các đơn vị hành chính cấp
huyện, hoạt động theo nguyên tắc trung thống nhất dưới sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện Kiểm
sát nhân dân tối cao. Trong thời gian này, tổ chức và hoạt động của Viện Kiểm sat không ngừng
được củng cố và do đó đã góp phần tích cực vào việc giữ vững trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội,
bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, góp phần quan trọng vào công cuộc giải phòng
miền Nam, thống nhất đất nước.
3- Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992
 Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Nhà nước ta đã ban hành Hiến pháp năm 1980. So với
Hiến pháp năm 1959 thì vai trò, vị trí của Viện Kiểm sát nhân dân đã được khẳng định rõ hơn và
có những điểm bổ sung mới trong Hiến pháp năm 1980. Hiến pháp năm 1980 đã nhấn mạnh đến
chức năng “thực hành quyền công tố” của Viện Kiểm sát, đồng thời đã đề cao vai trò và trách
nhiệm của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cao. Điều 140 Hiến pháp năm 1980 quy định:
“Viện Kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp dưới
chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp trên, Viện trưởng Viện Kiểm sát
nhân dân địa phương chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối
cao.
                                                                                             3
Viện trưởng, các Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân địa phương do Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm và bãi nhiệm”.
Để cụ thể hoá những quy định trên đây về Viện Kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp năm 1980,
Quốc hội khoá VII đã thông qua Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1981 và được sửa
đổi, bổ sung vào năm 1989. So với luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1960, thì Luật tổ
chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1981 và Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân được sửa đổi,
bổ sung vào năm 1989 đã quy định cụ thể, chi tiết hơn rất nhiều về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện
Kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ án hình sự, dân sự và khi thực hiện công tác kiểm
sát chung.
Tuy nhiên, cũng như Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1960, Luật tổ chức Viện Kiểm
sát nhân dân năm 1980 vẫn giữ nguyên những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban
Kiểm sát là cơ quan tư vấn cho Viện trưởng. Cụ thể là: “trong các cuộc họp Uỷ ban Kiểm sát,
Viện trưởng kết luận và quyết định cuối cùng. Trong trường hợp Viện trưởng kết luận khác với ý
kiến của đa số trong Uỷ ban Kiểm sát thì Viện trưởng thực hiện ý kiến của mình, đồng thời báo
cáo lên Hội đồng Nhà nước”.
Trong giai đoạn này, Viện Kiểm sát nhân dân đã có những cố gắng cùng với các cơ quan tư pháp
và các cơ quan nhà nước khác tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ cách mạng do các Đại hội lần
thứ IV, V và VI của Đảng đề ra.
4- Giai đoạn từ năm 1992 đến nay
Đường lối đổi mới mọi mặt về đời sống xã hội do Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt
Nam khởi xướng đã tạo tiền đề cho việc nghiên cứu, xây dựng Hiến pháp năm 1992, một Hiến
pháp của thời kỳ đổi mới đất nước. Một số quy định của Hiến pháp năm 1992 về tổ chức và hoạt
động của các cơ quan tư pháp đã thể hiện rõ nét những điểm đổi mới trong nguyên tắc tổ chức và
hoạt động của các cơ quan này.
Để cụ thể hoá những quy định của Hiến pháp năm 1992 về tổ chức và hoạt động của Viện Kiểm
sát nhân dân năm 1992 và Uỷ ban hành Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1992 và Uỷ
ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh về tổ chức Viện Kiểm sát quân sự, Pháp lệnh về
Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân.
Theo các quy định của Hiến pháp năm 1992, Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1992, thì
tổ chức và hoạt động của Viện Kiểm sát nhân dân đã có những đổi mới cơ bản như sau:
- Uỷ ban Kiểm sát không còn là cơ quan tư vấn cho Viện trưởng nữa. Viện trưởng Viện Kiểm sát
nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh không được quyền tự quyết
định mọi vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của Viện Kiểm sát nhân dân. Những vấn đề
quan trọng (như phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch công tác của toàn ngành; báo cáo của Viện
Kiểm sát nhân dân tối cao trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước, báo cáo
của Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp…) phải được Uỷ ban
Kiểm sát thảo luận và quyết định theo đa số. Tuy nhiên, trong trường hợp biểu quyết ngang nhau
thì thực hiện theo phía có ý kiến của Viện trưởng; nếu Viện trưởng không nhất trí với ý kiến của
đa số thì thực hiện theo quyết định của đa số nhưng có quyền báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc
hội hoặc Chủ tịch nước. Quy định này xuất phát từ việc kết hợp nguyên tắc tập trung thống nhất
lãnh đạo trong ngành Kiểm sát với nguyên tắc tập trung, dân chủ.
- Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân địa phương chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng
cấp; chịu trách nhiệm báo cáo trước Hội đồng nhân dân về tình hình thi hành pháp luật ở địa
phương; trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân. Quy định mới này nhằm nâng cao trách
nhiệm của Viện Kiểm sát nhân dân địa phương nhưng không làm cho Viện Kiểm sát nhân dân
địa phương phụ thuộc vào Hội đồng nhân dân địa phương về tổ chức và hoạt động (Viện trưởng
Viện Kiểm sát nhân dân địa phương không do Hội đồng nhân dân bầu và bãi nhiệm).
Đồng thời với việc giao cho Viện Kiểm sát nhân dân quyền hạn, nhiệm vụ rộng lớn, liên quan
đến chủ trương giữ vững trật tự, kỷ cương pháp luật, tăng cường pháp chế trong điều kiện mới,
                                                                                              4
Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1992 đã quy định Viện Kiểm sát nhân dân phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật về hậu quả của các quyết định, kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu do
mình ban hành; nếu ra văn bản trái pháp luật thì tuỳ theo tính chất và mức độ sai phạm mà người
ra văn bản bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Để xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát có phẩm chất đạo đức, có kiến thức chuyên môn, nghiệp
vụ, thì các tiêu chuẩn Kiểm sát viên đã được đổi mới và quy định cụ thể hơn. Cùng với việc thành
lập Viện Kiểm sát nhân dân ở 3 cấp, Viện Kiểm sát quân sự cũng được tổ chức ở 3 cấp là tỉnh và
khu vực; cấp quân khu và tương đương; cấp trung ương.
Như vậy, về mặt cơ cấu tổ chức, sau khi ban hành Hiến pháp năm 1992, về cơ bản, Viện Kiểm
sát nhân dân các cấp đã kiện toàn và đổi mới một bước quan trọng. Với cơ cấu tổ chức như vậy,
Viện Kiểm sát nhân dân đã đạt được những kết quả nhất định, tạo nên một số chuyển biến tích
cực trong hoạt động tư pháp ở nước ta, cùng với các cơ quan nhà nước khác thực hiện một cách
có hiệu quả đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước.
II. VỊ TRÍ, VAI TRÒ, TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1- Vị trí, vai trò của Viện Kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nƣớc nói chung và trong cơ
chế kiểm tra, thanh tra, kiểm sát, giám sát nói riêng
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà
xét về nội dung cốt lõi đó chính là sự quản lý nhà nước bằng pháp luật và triệt để tuân theo pháp
luật của các cơ quan nhà nước, các tổ chức và công dân phải đặt mình trong khuôn khổ của pháp
luật. Nội dung này đặt ra nhiều vấn đề nặng nề, mà một trong nhưng nhiệm vụ đó là phải xây
dựng một quy chế bảo đảm sự tuân thủ pháp luật và có một cơ chế xử lý nghiêm minh những vi
phạm pháp luật, bảo vệ quyền dân chủ của nhân dân, bảo đảm sự an toàn và môi trường pháp lý
đáng tin cậy trong mọi hoạt động của đời sống xã hội. Trong các cơ chế để bảo đảm thực hiện
yêu cầu nêu trên, thì cơ chế kiểm tra, thanh tra, kiểm sát, giám sát của cơ quan nhà nước, các tổ
chức, đoàn thể nhân dân đóng một vai trò rất quan trọng. Kiểm tra, thanh tra, kiểm sát, giám sát
tuy là các khái niệm có nội dung khác nhau nhưng đều là các khái niệm chỉ các hoạt động có
chung một mục đích: theo dõi và kiểm tra xem xét việc thực hiện có đúng những điều quy định
hay không hoặc theo một nghĩa chung hơn là trông nom, xem xét công việc được tiến hành có tốt
hay không. Tuy nhiên, căn cứ vào chủ thể tiến hành các hoạt động này, đối tượng chịu sự tác
động của hoạt động, tính chất của hoạt động thì trong hệ thống các cơ quan nhà nước có sự phân
công các cơ quan có thẩm quyền có nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra, kiểm sát hoặc giám sát khác
nhau. Viện Kiểm sát nhân dân là cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội,
có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ, các cơ quan ngang bộ, các cơ quan
tuân theo pháp luật của các bộ, các cơ quan ngang bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan
chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân,
bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Là một cơ quan tư pháp
quan trọng, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Viện Kiểm sát nhân dân có trách
nhiệm bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà
nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân bằng
cách áp dụng các biện pháp cần thiết do pháp luật quy định nhằm phát hiện chính xác trong các
đạo luật và các văn bản pháp luật mà hệ thống các cơ quan có chức năng bảo đảm cho quyền lực,
ý chí đó được thực thi lại hoạt động không tốt thì quyền lực, ý chí Nhà nước sẽ không thể phát
huy hiệu lực, hiệu quả trong việc quản lý mọi mặt của đời sống xã hội; thậm chí trong không ít
các trường hợp còn làm cho quyền lực, ý chí Nhà nước bị méo mó. Với ý nghĩa như vậy, Viện
Kiểm sát nhân dân, với tư cách và cơ quan cơ chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và
thực hành quyền công tố Nhà nước, có một vai trò rất quan trọng.
Xét xử phía công dân, thì hoạt động của Viện Kiểm sát là những phương tiện hữu hiệu để bảo vệ
quyền và lợi ích của họ. Nhiều hoạt động của Viện Kiểm sát có liên quan trực tiếp đến quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân, do đó công dân đòi hỏi Viện Kiểm sát trong hoạt động của mình
                                                                                               5
phải thể hiện tính công minh, khách quan, phải thực sự là cơ quan gương mẫu tuân thủ Hiến pháp
và pháp luật. Chính vì những lý do đó mà cùng với hoạt động của các cơ quan tư pháp khác, hoạt
động của Viện Kiểm sát nhân dân thể hiện trực tiếp bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố báo đảm cho pháp luật được chấp
hành nghiêm chỉnh và thống nhất là chức năng đặc thù của Viện Kiểm sát nhân dân (Điều 137
Hiến pháp năm 1992). Trước tiên, chức năng này của Viện Kiểm sát bắt nguồn từ nguyên tắc
quyền lực nhà nước là thống nhất không phân chia nhưng có phân công rành mạch giữa 3 quyền:
lập pháp, hành pháp và tư pháp, mà quyền lực nhà nước cao nhất được tập trung ở Quốc hội.
Quốc hội cần phải Quốc hội cần phải có cơ quan thực hiện quyền lực của mình là Viện Kiểm sát
nhân dân, giúp cho Quốc hội tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hiện quyền công
tố Nhà nước, bảo đảm cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất trong cả nước,
chống các biểu hiện cục bộ, địa phương chủ nghĩa. Được quốc hội giao cho việc thực hiện chức
năng này, một mặt Viện Kiểm sát nhân dân kiểm sát được việc tuân theo pháp luật, góp phần bảo
đảm cho tổ chức và tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan khác thuộc Chính phủ, các cơ
quan thuộc chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội phủ hợp với hiến
pháp, luật của Quốc hội, pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, phù hợp với các nghị quyết,
nghị định của Chính phủ (gọi tắt là kiểm sát chung). Mặt khác, Viện Kiểm sát được thực hành
quyền công tố Nhà nước bảo đảm cho pháp luật về tư pháp được chấp hành nghiêm chỉnh và
thống nhất. Thực hành quyền công tố Nhà nước là việc đưa vụ án ra toà với quyền truy tố và
buộc tội. Điều này là cho cơ quan Viện Kiểm sát nhân dân được cơ quan lập pháp giao cho chức
năng đặc thù riêng mà các cơ quan khác của Nhà nước không thể thay thế.
Tuy nhiên, như đã trình bày trên đây, trong bộ máy nhà nước có nhiều cơ quan thực hiện chức
năng kiểm tra, thanh tra, kiểm sát, giám sát. Do đó, việc phân định rõ ràng chức năng của các cơ
quan nhà nước này, đặc biệt là việc phân định ranh giới giữa chức năng kiểm sát chung của Viện
kiểm sát với chức năng thanh tra của các cơ quan Thanh tra nhà nước với một ý nghĩa rất quan
trọng, để khi thực hiện trong thực tiễn không có sự chồng chéo, trùng lặp giữa hai cơ quan, đặc
biệt là trong lĩnh vực hành chính – kinh tế. Cần phải đặc biệt chú ý rằng các Viện Kiểm sát nhân
dân, trong phạm vi trách nhiệm của mình, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các văn bản
pháp quy và trong việc chấp hành pháp luật khi thấy có dấu hiệu vi phạm pháp luật, bảo đảm cho
các văn bản pháp quy do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành đúng pháp luật, bảo đảm cho
việc chấp hành pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và
công dân được nghiêm chỉnh và thống nhất; còn Thanh tra nhà nước là cơ quan thuộc Chính phủ,
chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong thanh tra việc thực hiện các quyết định, mệnh lệnh của
cơ quan cấp trên đối với cấp dưới trong nội bộ cơ quan nhà nước. Công tác thanh tra là công tác
thường xuyên được thực hiện trên nhiều mặt của các cơ quan, đơn vị. Khi thanh tra phát hiện có
dấu hiệu phạm tội thì chuyển cho các cơ quan pháp luật như Công an hay Viện Kiểm sát tiến
hành điều tra. Thanh tra cũng tiến hành xem xét, đối chiếu với pháp luật, nhưng chủ là xem xét,
đánh giá việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Nhà nước, không chỉ đơn thuần
đánh giá hành vi hợp pháp hay bất hợp pháp mà còn xác định hiệu quả thu được nhiều hay ít các
chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, không chỉ đơn thuần đánh giá hợp pháp
hay bất hợp pháp mà còn xác định hiệu quả thu được nhiều hay ít của các chủ trương, chính sách,
biện pháp. Trong khi đó, Viện Kiểm sát chủ yếu chỉ xem xét khi có dấu hiệu của hành vi vi phạm
pháp luật, đã xác định nguyên nhân và hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật ấy. Thanh tra khi
pháp hiện những việc làm sai trái, không phù hợp với chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng
và Nhà nước, với chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên thì có những quyền hạn xử lý đối với tổ chức và
các nhân trong phạm vi thẩm quyền do luật định. Viện Kiểm sát không có quyền trực tiếp xử lý
về mặt hành chính theo thẩm quyền, trừ trường hợp sai phạm có thể dẫn tới những hậu quả
nghiêm trọng thì kiến nghị về mặt hành chính của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao là
                                                                                              6
có tính chất bắt buộc. Khi phát hiện có yếu tố cấu thành tội phạm thì Viện Kiểm sát chỉ có quyền
khởi tố, truy tố và luận tội trước toà. Việc quyết định có tội hay vô tội, và là tội gì, chịu hình phạt
như thế nào lại thuộc quyền của Toà án. Nếu Viện Kiểm sát không đồng ý với quyết định hay bản
án của Toà án thì có quyền kháng nghị theo thủ tục tố tụng.
Khi thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các văn bản pháp quy của các
bộ, các cơ quan ngang bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương
kiểm sát việc chấp hành pháp luật của các tổ chức, đơn vị và cá nhân khi pháp hiện có vi phạm
pháp luật, Viện Kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
- Yêu cầu thông báo về hành vi vi phạm pháp luật; cung cấp các văn bản pháp quy, tài liệu cần
thiết cho việc xác định vi phạm pháp luật, kiểm tra việc vi phạm pháp luật.
- Yêu cầu cơ quan Thanh tra cung cấp thanh tra việc làm vi phạm pháp luật và thông báo kết quả
cho Viện Kiểm sát nhân dân.
- Yêu cầu viên chức nhà nước, nhân viên tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, quân nhân và công dân
trả lời và cung cấp tài liệu về việc vi phạm pháp luật có liên quan đến họ.
Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân còn chỉ rõ khi kết luận có vi phạm pháp luật, Viện Kiểm sát
nhân dân kháng nghị với cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế - xã hội, yêu cầu đình chỉ, sửa đổi
hoặc bãi bỏ các văn bản, chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và yêu cầu xử lý về kỷ luật hay
khởi tố nếu có dấu hiệu tội phạm. Các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm trả lời kháng nghị với
Viện Kiểm sát nhân dân trong thời gian 15 ngày kể từ ngày nhận được kháng nghị. Trong trường
hợp cơ quan, tổ chức đơn vị hữu quan cấp trên nhận được kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân
dân đối với cấp dưới của mình thì thời hạn trả lời là 30 ngày kể từ ngày nhận được kháng nghị.
Nếu cơ quan, tổ chức không nhất trí với nội dung kháng nghị thì đề nghị Viện Kiểm sát nhân dân
cấp trên trực tiếp xem xét lại. Viện Kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp phải xem xét và trả lời
trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị.
2- Các quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân về tổ chức và hoạt
động của Viện Kiểm sát nhân dân
Theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân thì Viện Kiểm sát nhân
dân là một hệ thống cơ quan bao gồm:
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
- Các Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Các Viện Kiểm sát nhân dân huyện, tỉnh, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
- Các Viện Kiểm sát quân sự (Điều 137 Hiến pháp và Điều 25 Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân
dân).
Để thực hiện chức năng bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ
tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của
công dân, Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân đã qui định Viện Kiểm soát nhân dân các cấp có
thẩm quyền:
a) Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ,
các cơ quan ngang bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan thuộc chính quyền địa phương,
tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân, thực hành quyền công tố Nhà nước
bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
b) Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan chính
quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân, thực hành quyền công tố ở cấp
mình.
c) Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện cũng thực hiện chức năng kiểm sát như Viện Kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh, nhưng chỉ trong phạm vi cấp huyện của mình.
d) Các Viện Kiểm sát quân sự được tổ chức trong quân đội, kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối
với các cơ quan, đơn vị, tổ chức của quân đội, quân dân, công dân, nhân viên quốc phòng, cơ
quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân khác có liên quan, thực hành quyền công tố Nhà nước theo quy
                                                                                                     7
định của pháp luật. Viện Kiểm sát quân sự gồm có Viện Kiểm sát quân sự trung ương, Viện
Kiểm sát quân sự quân khu và tương đương, Viện Kiểm sát quân sự tỉnh và khu vực.
Các Viện Kiểm sát nhân dân nói trên tạo thành một hệ thống và tổ chức, hoạt động của chúng
theo các nguyên tắc do Hiến pháp quy định tại các Điều 138, 139, 140 và ở Chương I Luật tổ
chức Viện Kiểm sát nhân dân. Đó là các nguyên tắc cơ bản sau:
a) Viện Kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo,Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp
dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng Viện Kiểm
sát nhân dân các địa phương, Viện trưởng Viện Kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống
nhất của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
b) Tại Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện Kiểm sát quân sự
trung ương, Viện Kiểm sát quân sự quân khu và tương đương thành lập Uỷ ban Kiểm sát để thảo
luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng theo quy định của Luật tổ chức Viện
Kiểm sát nhân dân.
c) Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm, chịu
trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu
trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước, trả lời chất
vấn của các đại biểu Quốc hội.
d) Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tối
cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Viện trưởng Viện Kiểm
sát nhân dân tối cao.
đ) Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương, Phó Viện
trưởng Viện Kiểm sát quân sự trung ương, Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện
Kiểm sát quân sự quân khu và tương đương, tỉnh và khu vực... do Viện trưởng Viện Kiểm sát
nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức.
e) Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân địa phương chịu trách nhiệm báo cáo trước Hội đồng
nhân dân về tình hình thi hành pháp luật ở địa phương và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng
nhân dân.
III. MỘT SỐ Ý NGHĨ VỀ PHƢƠNG HƢỚNG ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CÁC CẤP
 Thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, văn minh, trong những năm gần đây, cùng với những tiến bộ đạt được trong việc đổi mới
kinh tế, Nhà nước ta đang từng bước vững chắc tiến hành việc đổi mới hệ thống chính trị nói
chung và đổi mới bộ máy nhà nước nói riêng. Tuy nhiên, những kết quả đạt được đó mới chỉ là
bước đầu, còn nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn cần phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện để
đáp ứng tốt hơn yêu cầu đổi mới đất nước. Viện Kiểm sát nhân dân cùng với các cơ quan tư pháp
khác là một bộ phận quan trọng trong bộ máy nhà nước. Viện nghiên cứu đổi mới tổ chức và hoạt
động của Viện Kiểm sát nhân dân, đồng thời với việc nghiên cứu đổi mới bộ máy nhà nước ta
trong điều kiện hiện nay theo tình thần các Nghị quyết Đại hội 7, Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba
Ban chấp hành Trung ương khoá VIII và các văn kiện khác của Đảng là một yêu cầu tất yếu.
Để có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện Kiểm sát, bảo đảm cho Viện Kiểm sát thực hiện
tốt các chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố, đồng thời thực
hiện tốt nhiệm vụ điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, thì Viện Kiểm sát nhân dân
cần tập trung thực hiện những công việc sau đây:
- Đổi mới hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà
nước, kinh tế - xã hội (kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các văn bản pháp quy và kiểm sát
việc chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức và công dân), nhằm xác định rõ phạm vi hoạt động
của Viện Kiểm sát nhân dân để tránh chồng chéo với hoạt động kiểm tra, thanh tra và giám sát
của các cơ quan khác của Nhà nước, đặc biệt là hoạt động thanh tra của Thanh tra nhà nước.
Hướng chủ yếu của đổi mới hoạt động này là ngành Kiểm sát tập trung kiểm sát việc tuân theo
                                                                                                8
pháp luật đối với các văn bản pháp quy. Hoạt động kiểm sát việc chấp hành pháp luật của cơ
quan cần được xác định rõ trong phạm vi nhất định và chỉ tiến hành khi phát hiện đối tượng có vi
phạm pháp luật có tính chất điển hình để từ đó kiến nghị, kháng nghị những vấn đề chung nhằm
tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, chống lại những biểu hiện cực bộ, địa phương chủ nghĩa;
không làm thay cơ quan Thanh tra, kiểm sát chuyên ngành. Hoạt động kiểm sát việc tuân theo
pháp luật không được làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường của các tổ
chức kinh tế và công dân.
- Tổ chức lại bộ máy làm công tác kiểm sát hình sự của ngành Kiểm sát thành một hệ thống bảo
đảm sự chỉ đạo thống nhất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các công tác kiểm sát điều tra,
kiểm sát xét xử, kiểm sát thi hành án hình sự và kiểm sát việc giam, giữ và cải tạo. Khắc phục
tình trạng phân tán về tổ chức bộ máy trong lĩnh vực kiểm sát hình sự như hiện nay.
- Xác định phạm vi và thẩm quyền của Viện Kiểm sát nhân dân trong việc kiểm sát xét xử dân sự
nhằm phát huy hiệu lực của công tác kiểm sát thuộc lĩnh vực này. Làm rõ và thực hiện một cơ
chế cơ hiệu quả trong viện Viện Kiểm sát nhân dân tham gia tố tụng trong các vụ án kinh tế thuộc
thẩm quyền xét xử của Toà án kinh tế.
- Xác định rõ về mặt pháp lý nội dung của chức năng thực hành quyền công tố Nhà nước. Từ đó
mới xác định một cách hợp lý về vị trí, mô hình của Viện Kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà
nước. Hiện nay, cũng còn có các loại ý kiến khác nhau về vấn đề này. Có ý kiến cho rằng chức
năng công tố (buộc tội) là việc nhân danh Nhà nước tiến hành các biện pháp luật định nhằm
chứng minh tội phạm và người phạm tội. Viện thực thi quyền công tố hiện diện ngay từ khi khởi
tố vụ án hình sự và cơ quan Điều tra hình sự bắt đầu tiến hành các biện pháp điều tra cho đến khi
Viện Kiểm sát chuẩn bị cáo trạng và buộc tội trước toà, còn trước đó là công việc chủ yếu của cơ
quan điều tra mà Viện Kiểm sát chỉ giữ vai trò kiểm sát điều tra. Theo quan điểm này thì chức
năng công tố là chức năng trung tâm của hệ thống cơ quan điều tra, công tố, do đó cần quy định
chức năng công tố là chức năng của Chính phủ và cần thành lập Viện công tố thuộc Chính phủ để
bảo đảm tính hợp lý trong việc thực hiện tốt chức năng này. Quan điểm này đã vượt ra ngoài
khuôn khổ Hiến pháp năm 1992, quy định Viện Kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền
công tố, đồng thời việc thành lập Viện công tố thuộc Chính phủ sẽ gây xáo trộn lớn về tổ chức
trong bộ máy nhà nước ta (khi đó Viện Kiểm sát nhân dân chỉ còn chức năng kiểm sát việc tuân
theo pháp luật). Ý kiến khác lại cho rằng quyền công tố chỉ được thực hiện từ giai đoạn Viện
Kiểm sát chuẩn bị cáo trạng cho đến khi buộc tội trước toà. Việc cơ quan Điều tra hình sự tiến
hành các biện pháp điều tra không chỉ để chứng minh tội phạm và người phạm tội mà còn biện
minh cho những người oan ức, không làm oan cho những người vô tội, cho nên chức năng công
tố không thể bắt đầu từ khi cơ quan điều tra khởi tố vụ án. Mặt khác, Viện Kiểm sát có quyền
truy tố bị can trước toà, trả lại hồ sơ điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án, cho đến
việc nhân danh Nhà nước thực hiện quyền công tố chỉ bắt đầu từ khi Viện Kiểm sát chuẩn bị cáo
trạng, buộc tội trước Toà án. Chính vì những lý do đó, nên quyền công tố chỉ do Viện Kiểm sát
đảm nhiệm. Đây là vấn đề rất phức tạp cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện và tổng kết
thật đầy đủ thực tiễn hoạt động công tố ở nước ta trong những năm qua. Trên cơ sở đó mới có thể
đưa ra được những phương án thích hợp nhất đối với nước ta.
- Nghiên cứu, xác định một cách hợp lý phạm vi, thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra thuộc
Viện Kiểm sát nhân dân.
- Đổi mới hệ thống tổ chức của Viện Kiểm sát nhân dân nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ và
nghiêm chỉnh nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành. Về tổ chức của Viện Kiểm
sát, cần tiến hành sắp xếp lại các đơn vị trực thuộc của Viện Kiểm sát thành hai hệ thống đảm
nhiệm hai chức năng của Viện Kiểm sát đó là việc thực hiện quyền công tố và việc kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử tránh tình trạng mâu thuẫn về chức năng và nhiệm
vụ.Thiết lập tổ chức bộ máy gọn nhẹ, hợp lý, hoạt động cơ hiệu quả trên cơ sở chuyên môn hoá
các hoạt động nghiệp vụ.
                                                                                                 9
- Song song với việc tiến hành nghiên cứu tăng thẩm quyền xét xử sơ thẩm cho Toà án nhân dân
cấp huyện để Toà án nhân dân cấp tỉnh chủ yếu xét xử phúc thẩm, Toà án nhân dân tối cao chủ
yếu tập trung vào công tác giám đốc thẩm việc xét xử, tổng kết thực tiễn xét xử để hướng dẫn
việc áp dụng pháp luật thì chúng ta cũng cần phải sớm có sự nghiên cứu để xác định lại thẩm
quyền kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử, kiểm sát giam, giữ, cải tạo của Viện Kiểm sát nhân dân
các cấp cho phù hợp với việc đổi mới thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân các cấp. Tuy
nhiên, cũng phải nhận thấy trên thực tế, tổ chức của Toà án nhân dân các cấp huyện hiện tại là
“vừa yếu, vừa thiếu” nên trong thời gian trước mắt khó có thể giao cho Toà án cấp này nhiệm vụ
xét xử sơ thẩm phần lớn các vụ án lao động, kinh tế, dân sự, hình sự được. Do đó, chúng ta cũng
cần phải tiến hành nghiên cứu việc thành lập Toà án theo khu vực, theo đó Toà án khu vực có
thẩm quyền xét xử sơ thẩm tất cả các vụ án thuộc địa bàn một hoặc hai, ba huyện, quận với
những phân toà có tính chất chuyên môn cao. Việc thành lập các Toà án khu vực sẽ đảm bảo tinh
gọn bộ máy Toà án nhân dân các cấp, tiết kiệm được kinh phí, nhân lực, đồng thời nâng cao được
hiệu quả, chất lượng xét xử của Toà án (tuy nhiên, phương án này cũng có những trở ngại về cơ
chế kiểm tra, giám sát đối với Toà án; vấn đề thuận tiện cho nhân dân...). Như vậy, đồng thời với
hướng nghiên cứu này, chúng ta cũng phải tiến hành nghiên cứu việc tổ chức các Viện Kiểm sát
khu vực tương ứng với các Toà án khu vực được thành lập.
- Xác định rõ mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân địa phương và Viện Kiểm sát nhân dân địa
phương trong việc Viện Kiểm sát nhân dân chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
- Xây dựng đội ngũ Kiểm sát viên theo các tiêu chuẩn của Pháp lệnh Kiểm sát viên, đáp ứng
được yêu cầu, nhiệm vụ mới. Xây dựng các chức danh Kiểm sát viên thực hiện chức năng kiểm
sát chung; chức danh Công tố viên thực hiện chức năng công tố.
- Xây dựng chương trình, nội dung đổi mới công tác đào toạ, tuyển chọn, đánh giá, bổ nhiệm và
điều động cán bộ ngành Kiểm sát.
- Xây dựng chế độ trách nhiệm cá nhân của Kiểm sát viên (Công tố viên) và các chế độ đãi ngộ,
khen thưởng, kỷ luật.
- Tăng cường công tác hướng dẫn nghiệp vụ kiểm sát đối với các Viện Kiểm sát cấp dưới.
- Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ cho hoạt động của ngành Kiểm sát./.




                                                                                              10

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Tags:
Stats:
views:30
posted:12/4/2011
language:Vietnamese
pages:10