khen thuong ton dong
Document Sample


UBND TỈNH HẢI DƯƠNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
SỞ NỘI VỤ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
–––––––– –––––––––––––––––––––––––
Số: 439/ HD- SNV Hải Dương, ngày 05 tháng 7 năm 2011
HƯỚNG DẪN
Về việc giải quyết dứt điểm khen thưởng
tổng kết kháng chiến tồn đọng
––––––––––
Căn cứ Công văn số: 837/BTĐKT- VIII ngày 27 tháng 5 năm 2011 của Ban
Thi đua, Khen thưởng Trung ương, về việc giải quyết dứt điểm khen thưởng tổng
kết thành tích kháng chiến tồn đọng, UBND tỉnh Hải Dương đã ban hành Công văn
số: 1032 /UBND- VP ngày 16 tháng 6 năm 2011, gửi các sở, ban ngành, đoàn thể
tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố về việc rà soát giải quyết dứt điểm khen
thưởng tổng kết thành tích kháng chiến tồn đọng. Được sự đồng ý của Chủ tịch
UBND tinh, Sở Nội vụ hướng dẫn các bước tiến hành như sau:
I. Công tác chỉ đạo, triển khai, thực hiện:
1. Công tác tuyên truyền
Triển khai, quán triệt qua hệ thống tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể các
cấp trong toàn tỉnh; thông báo trên hệ thống thông tin đại chúng để mọi công dân
nắm được kế hoạch rà soát, xét khen thưởng thành tích kháng chiến còn tồn đọng
của tỉnh.
2. Đối tượng rà soát:
- Hồ sơ còn tồn đọng trước ngày 31/12/2004.
- Trường hợp đã kê khai, xét khen thành tích chống Pháp giai đoạn 1961-
1976, 2000- 2004; khen chống Mỹ giai đoạn 1982- 2004 nhưng chưa được Hội
đồng TĐKT ở cơ sở xét duyệt do không đủ căn cứ thời gian theo quy định, nay
được xem xét lại, nhưng phải bổ sung đủ các căn cứ để xét khen.
- Cá nhân có hồ sơ đủ các căn cứ, điều kiện và tiêu chuẩn, nhưng chưa kê
khai thành tích đề nghị khen thưởng.
II. Các căn cứ để xét khen thưởng:
1. Điều lệ khen thưởng thành tích kháng chiến chống Pháp
a) Huy chương kháng chiến hạng Nhất tặng thưởng:
- Ủy viên Ủy ban kháng chiến hành chính xã, cán bộ cấp ủy xã, cán bộ chỉ
huy trong Ban xã đội, trong Ban công an xã đã hoàn thành tốt chức trách từ 3 năm
trở lên hoặc từ hai năm trở lên là ở hậu địch.
- Ủy viên thường vụ Ban chấp hành các đoàn thể xã, nhân viên chuyên
nghiệp công tác giao thông, liên lạc và cán bộ công tác địch vận ở xã đã hoàn
thành tốt chức trách từ 4 năm trở lên hoặc 3 năm trở lên ở hậu địch.
- Công nhân viên thuộc các ngành chính quyền và đoàn thể từ huyện trở lên,
đội viên thanh niên xung phong chuyên hoạt động phục vụ kháng chiến từ 5 năm
trở lên hoặc từ 3 năm trở lên nếu ở vùng hậu địch. Các đội viên du kích đã hoàn
thành tốt chức trách từ 5 năm trở lên hoặc từ 3 năm trở lên ở hậu địch.
b) Huy chương kháng chiến hạng Nhì tặng thưởng:
- Ủy viên Ủy ban kháng chiến hành chính xã, cán bộ cấp ủy xã, cán bộ trong
Ban chỉ huy xã đội, trong Ban công an xã đã hoàn thành tốt chức trách từ 01 năm
trở lên.
- Ủy viên thường vụ Ban chấp hành các đoàn thể xã, các nhân viên chuyên
nghiệp công tác giao thông liên lạc và cán bộ công tác địch vận ở xã đã hoàn thành
tốt chức trách từ 02 năm trở lên, hoặc từ 01 năm trở lên ở hậu địch.
- Công nhân viên thuộc các ngành chính quyền và đoàn thể từ huyện trở lên,
đội viên thanh niên xung phong chuyên hoạt động phục vụ kháng chiến từ 3 năm
trở lên hoặc từ 02 năm trở lên ở hậu địch. Các đội viên du kích đã hoàn thành tốt
chức trách từ 3 năm trở lên hoặc từ 02 năm trở lên ở hậu địch.
2. Thông tư số 15- TTg ngày 12/01/1961 của Phủ Thủ tướng Quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành Điều lệ khen thưởng tổng kết thành tích kháng chiến
2.1. Đối tượng khen thưởng:
Đối tượng được thưởng Huân chương và Huy chương kháng chiến, theo quy
định của Điều lệ, là những người dưới đây đã tham gia kháng chiến ở trong nước
và ở các mặt trận Lào và Miên trong giai đoạn từ ngày 19/12/1946 đến ngày ký
hiệp định Giơ-ne-vơ 20/7/1954;
- Cán bộ, công nhân, viên chức công tác ở các cơ quan Nhà nước từ cấp
trung ương đến huyện.
- Cán bộ chuyên trách và nhân viên công tác ở cơ quan đoàn thể từ cấp trung
ương đến huyện.
Cán bộ chuyên trách của các đoàn thể là cán bộ thoát ly, thường xuyên làm
công tác đoàn thể, có chức vụ nhất định trong các cơ quan đoàn thể.
Cán bộ lãnh đạo chủ chốt của cấp ủy là những Ủy viên thường vụ Ban Chấp
hành các cấp Đảng bộ.
Riêng đối với cấp ủy xã, những cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp ủy xã- bao
gồm cả Chi ủy viên phụ trách các ngành công tác chính quyền của xã, các Ban của
Chi bộ Đảng, các đoàn thể xã và các thôn.
- Cán bộ, công nhân viên chức các xí nghiệp quốc doanh.
- Cán bộ ở các cơ quan chính quyền đoàn thể ở xã như:
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên Ủy ban kháng chiến hành chính.
+ Bí thư, Phó Bí thư, Chi ủy viên Chi bộ Đảng.
+ Ủy viên Thường vụ Ban chấp hành các đoàn thể.
+ Cán bộ chỉ huy trong Ban xã đội, Trưởng và phó ban Công an xã.
+ Nhân viên chuyên nghiệp làm công tác giao thông liên lạc.
+ Cán bộ làm công tác địch vận xã.
- Cán bộ chỉ huy, đội viên các đội du kích do chính quyền địa phương tổ
chức và lãnh đạo. Các đội du kích bao gồm: Các đội tự vệ thành và tự vệ khu phố
của các thành phố, thị xã, thị trấn.
- Thanh niên xung phong chuyên phục vụ kháng chiến.
2.2.Tiêu chuẩn khen thưởng:
2
a) Điều kiện để khen thưởng:
Việc khen thưởng Huân chương, Huy chương kháng chiến cho các đối tượng
trên căn cứ vào những điều kiện dưới đây:
- Đã hoàn thành chức trách (các chức vụ đã giữ) trong thời gian nhất định.
- Đã chuyên hoạt động phục vụ kháng chiến (đã tham gia kháng chiến):
Công tác thoát ly và công tác ở xã thuộc diện khen thưởng nói ở mục II trên đây,
trong một thời gian nhất định.
- Đã tham gia kháng chiến tích cực và liên tục đến 20/7/1954.
b) Điều kiện tích cực và liên tục công tác đến ngày 20/7/1954:
- Tích cực và liên tục công tác đến ngày 20/7/1954 nghĩa là đã thường xuyên
đảm nhiệm những trách nhiệm nhất định không có thời gian bị giãn đoạn.
Những thường hợp dưới đây cũng được xét khen thưởng:
+ Cán bộ, công nhân, viên chức công tác thoát ly, cán bộ xã nằm trong diện
được khen thưởng và thanh niên xung phong chuyên phục vụ kháng chiến được
thôi công tác trước ngày 20/7/1954 vì bị bệnh tật, già yếu không còn đủ sức khỏe
để tiếp tục công tác.
+ Người thôi việc ở các trường hợp khác ( như vì chấn chỉnh tổ chức cơ
quan, không được bầu vào chức vụ cũ nữa hoặc vì có sự phân công lại trong tổ
chức) mà từ đó đến nay vẫn chấp hành đúng các chính sách và pháp luật của Nhà
nước, làm đầy đủ các nghĩa vụ công dân của mình.
+ Phụ nữ đã phải nghỉ công tác một thời gin không quá 18 tháng vì chửa đẻ,
nuôi em bé.
Những người ở trong 3 trường hợp nêu trê chỉ được khen thưởng nếu tính
đến ngày thôi việc hoặc thời gian giữ chức vụ trong diện được khen thưởng đã có
đủ điều kiện để được khen thưởng như quy định trong Điều lệ.
+ Cán bộ chỉ huy và đội viên du kích phải là những người đã thiết thực và
liên tục hoạt động trong kháng chiến như: Luôn luôn tích cực tham gia sinh hoạt,
học tập, tập luyện của đội, làm tròn nhiệm vụ tuần phòng, canh gác, bảo vệ an ninh
thôn xóm, tham gia chiến đấu chống địch, làm tròn nhiệm vụ trên giao cho.
Đối với những người đã thôi hoạt động trong tổ chức du kích trước ngày
20/7/1954, việc xét khen thưởng cũng theo các điều quy định ở điểm 1 trên đây.
+ Không phạm sai lầm lớn kể từ ngày tham gia kháng chiến cho đến nay.
- Những điều kiện không phạm sai lầm lớn từ ngày tham gia kháng chiến
cho đến nay:
Những người được khen thưởng phải là người không phạm những sai lầm
lớn trong thời kỳ kháng chiến và từ ngày hòa bình lập lại đến nay;
- Điều lệ chỉ loại trừ những người sai lầm lớn tức là những sai lầm làm tổn
thương nhiều đến lợi ích của nhân dân, đến uy tín của Đảng, của chính quyền, của
cách mạng. Những trường hợp dưới đây thì không được khen:
+ Bị tước quyền công dân.
+ Có hành động phản bội, đầu hàng, làm tay sai cho địch.
+ Bị thải hồi.
- Đối với những trường hợp phạm sai lầm trong khi thực hiện nhiệm vụ mà
đã bị thi hành kỷ luật của chính quyền hoặc đoàn thể từ cảnh cáo trở lên thì sẽ tùy
3
theo tính chất sai lầm nặng hay nhẹ và thái độ hối cải của người đã phạm sai lầm
mà xét định khen thưởng theo đúng mức của tiêu chuẩn, theo mức thấp hơn, hoặc
không khen.
- Đối với những người phải buộc thôi việc sau ngày hòa bình lập lại thì sẽ
tùy theo sự đóng góp của họ trước đây cho kháng chiến, tính chất của sai lầm và
thái độ của họ sau khi phải buộc thôi việc mà khen thưởng theo mức thấp hơn hoặc
không khen.
- Đối với những người đã bị tòa án phạt tù thì nói chung không khen thưởng
- Những người trong thời kỳ kháng chiến đã tự ý bỏ công tác nhưng sau lại
được tiếp tục công tác cho đến 20/7/1954 thì được xét theo tiêu chuẩn chung,
nhưng thường thấp hơn một bậc. Thời gian phục vụ trước khi nghỉ được cộng vào
thời gian phục vụ sau khi nghỉ để tính thâm liên; thời gian nghỉ việc không được
tính, nếu đã nghỉ quá 01 năm thì không được tính thời gian trước khi bỏ việc.
- Đối với những người có đủ tiêu chuẩn để được xét khen thưởng, nhưng
trong kháng chiến vì bị ép buộc hoặc bị lừa phỉnh mà đã có thời gian làm ngụy
quân, ngụy quyền, nếu những người ấy không có tội ác đối với nhân dân, không
làm hại kháng chiến và được nhân dân đồng tình thì cũng được xét thưởng.
3. Hướng dẫn số 802/HD-TĐKT- V3, ngày 7/6/2006 của Ban TĐKT
Trung ương về việc thực hiện Quyết định số 98/2006/QĐ- TTg của Thủ tướng
Chính phủ về việc tặng Bằng khen...của Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương cho các đối tượng có thành tích tham gia kháng chiến chống
Pháp và chống Mỹ.
3.1. Về chống Pháp:
a) Đối với cán bộ và du kích.
- Uỷ viên uỷ ban kháng chiến hành chính xã, cán bộ cấp uỷ xã, cán bộ trong
ban chỉ huy xã đội, trong Ban công an xã đã hoàn thành tốt chức trách từ 9 tháng
trở lên
- Uỷ viên Thường vụ Ban chấp hành các đoàn thể xã, các nhân viên chuyên
nghiệp công tác giao thông, liên lạc và cán bộ phụ trách công tác địch vận ở xã đã
hoàn thành chức trách từ 18 tháng trở lên hoặc từ 9 tháng trở lên ở hậu địch.
- Công nhân viên thuộc các ngành chính quyền và đoàn thể từ huyện trở lên,
đội viên thanh niên xung phong, đội viên du kích, chuyên hoạt động phục vụ
kháng chiến từ 02 năm 3 tháng trở lên hoặc từ 18 tháng trở lên ở vùng hậu địch.
b) Đối với nhân dân ở thị xã, thị trấn bị địch chiếm đóng hoặc ở các
thôn có tề ngụy gian ác.
- Đã nuôi dưỡng và bảo vệ thương binh từ 02 lần hoặc 10 ngày trở lên.
- Đã cho cất dấu vũ khí ở nhà từ 02 tháng hoặc 3 lần trở lên.
- Đã cho mượn nhà làm địa điểm liên lạc của các tổ chức kháng chiến từ 02
tháng trở lên.
- Đã thường xuyên nuôi chứa và bảo vệ cán bộ, bộ đội, du kích từ 2 tháng trở
lên, hoặc chứa cán bộ về hoạt động gây cơ sở kháng chiến đầu tiên ở khu phố,
đường phố, thị trấn, hoặc ở thôn.
- Đã làm công tác mật giao, chuyển đưa tài liệu, tin tức, làm liên lạc chở đò
cho cán bộ, bộ đội, du kích từ 4 tháng trở lên.
4
c) Đối với nhân dân ở vùng nông thôn tạm bị chiếm (ngoài các thôn có
tề, nguỵ gian ác ) và ở vùng căn cứ du kích.
- Đã nuôi dưỡng và bảo vệ thương binh 3 lần hoặc từ 20 ngày trở lên.
- Đã cho mượn nhà để chứa vũ khí, làm kho tàng của Nhà nước từ 2 tháng trở
lên.
- Đã cho mượn nhà để đặt trụ sở cơ quan chính quyền, đoàn thể, quân đội,
dân quân du kích từ cấp xã trở lên (Uỷ ban kháng chiến hành chính xã, chi bộ xã,
đoàn thể xã hội) thường xuyên chở đò hoặc nuôi chứa và bảo vệ cán bộ, bộ đội và
du kích, từ 9 tháng trở lên.
d) Đối với nhân dân vùng tự do và căn cứ du kích.
- Đã đón thương binh về nhà nuôi dưỡng từ 9 tháng trở lên.
- Đã cho mượn nhà để chứa vũ khí, làm kho tàng và bảo vệ vũ khí kho tàng
từ 3 năm trở lên.
- Đã cho mượn nhà cùng các phương tiện cần thiết từ 9 tháng trở lên để đặt
trụ sở cơ quan chính quyền, đoàn thể, quân đội, dân quân du kích từ cấp xã trở lên
(kể cả những nhà tu hành đã bố trí cho mượn đền, chùa, nhà thờ… làm trụ sở cơ
quan, kho tàng).
- Đã thường xuyên nuôi hoặc chứa và tích cực giúp đỡ cán bộ, bộ đội từ 3
năm trở lên.
đ) Các trường hợp khác.
- Đã có hành động trực tiếp gây thương hại cho địch, tiêu diệt và bắt sống dụ
hàng địch.
- Đã có sáng kiến phát minh, mưu mẹo đánh địch, được áp dụng, có hiệu quả.
- Làm tròn nghĩa vụ dân quân trong kháng chiến và xung phong đi thêm 01
đợt nữa ít nhất là 20 ngày.
- Đã đi dân công tiền phương được 9 tháng trở lên hoặc 4 tháng trở lên ở
vùng rẻo cao (đi dân công tiền phương là thoát ly sản xuất đi làm nghĩa vụ dân
công ở nơi xa như đi làm đường chiến lược, phục vụ chiến dịch…).
- Hoàn thành tốt nghĩa vụ trong đợt dân công hoả tuyến theo sát bộ đội ở mặt
trận để vận chuyển vũ khí, lương thực, thương binh… hoặc đã 2 lần được bình bầu
xuất sắc trong đơn vị từ đại đội trở lên.
- Những phụ nữ đã tham gia đội Lão du kích, Bạch đầu quân và sinh hoạt đều
đặn trong các tổ chức này từ 1 năm 6 tháng trở lên, hoặc 12 tháng trở lên nếu ở hậu
địch.
- Cán bộ xã, thôn, xóm đã hoạt động được 02 năm 3 tháng ở vùng tự do
hoặc 18 tháng ở vùng địch hậu: Uỷ viên các ban thuộc Uỷ ban hành chính kháng
chiến, chi uỷ xã, cán bộ công tác thường xuyên như: Thư ký Văn phòng uỷ ban,
Văn phòng Chi bộ, trưởng, phó xóm, cán bộ thuế, nhân viên, công an, giao thông,
thông tin, giáo viên, bình dân học vụ, y tế; uỷ viên chấp hành các đoàn thể ở thôn,
bà mẹ chiến sỹ ở xã thường xuyên hoạt động, có thành tích (không phải là người
nhận làm mẹ nuôi chiến sĩ) phụ trách Văn phòng xã đội, thôn đội trưởng không
phải là đội viên du kích.
3.2. Về chống Mỹ:
a) Đối với cán bộ, nhân viên, chiến sỹ, thanh niên xung phong, công
nhân quốc phòng, tự vệ và dân quân du kích.
5
- Có thời gian tham gia kháng chiến từ 3 năm 8 tháng đến 4 năm 11 tháng
(đã quy đổi theo Điều lệ khen thưởng tổng kết thành tích kháng chiến chống Mỹ).
- Cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng vũ trang nhân dân, du kích xã thoát ly tập
trung và thanh niên xung phong, tham gia cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1975
ở miền Nam phải có thời gian tham gia kháng chiến 9 tháng trở lên.
b) Đối với nhân dân.
- Đã hoàn thành nghĩa vụ dân công thời chiến được 12 tháng trở lên ở vùng
thường xuyên có chiến sự ở miền Bắc.
- Đã phục vụ vận tải, bốc xếp cho ngành giao thông vận tải trong thời kỳ
chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc liên tục 02 năm 3 tháng trở lên hoặc 18
tháng liền trở lên ở vùng thường xuyên có chiến sự.
- Có nhà cho cán bộ, bộ đội mượn sử dụng vào mục đích kháng chiến như:
Đặt cơ quan, kho tàng, trường học, địa điểm liên lạc, làm nơi ở…hoặc cho nhân
dân sơ tán được 02 năm 3 tháng trở lên trong thời kỳ chiến tranh phá hoại ở miền
Bắc.
4. Nghị quyết số 47- NQ/ HĐNN7 ngày 29/9/1981 của Hội
đồng Nhà nước ban hành Điều lệ khen thưởng tổng kết thành tích kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước và các văn bản hướng dẫn thi hành:
4.1. Đối tượng được xét khen thưởng:
a) Cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân, gồm quân đội và công
an.
b) Cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước và cán bộ các đoàn thể, kể cả
công nhân quốc phòng và thanh niên xung phong.
c) Cán bộ xã, phường, thôn, ấp, cán bộ hợp tác xã, tự vệ và dân quân du
kích.
d) Những người không phải là cán bộ, chiến sĩ mà có thành tích kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước.
4.2. Tiêu chuẩn để xét khen thưởng.
- Công tác tích cực và liên tục đến ngày 30/4/1975.
- Từ ngày tham gia kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến nay không phạm
sai lầm nghiêm trọng.
4.3. Thời gian để xét và mức khen thưởng:
a). Mốc thời gian để xét khen thưởng chung tính từ ngày 20/7/1954 đến
ngày 30/4/1975.
b) Mức khen thưởng chung:
- Huân chương kháng chiến hạng Nhất tặng thưởng những người tham gia
kháng chiến 20 năm.
- Huân chương kháng chiến hạng Nhì tặng thưởng những người tham gia
kháng chiến từ 15 năm đến dưới 20 năm.
- Huân chương kháng chiến hạng Ba tặng thưởng những người tham gia
kháng chiến từ 10 năm đến dưới 15 năm.
- Huy chương kháng chiến hạng Nhất tặng thưởng những người tham gia
kháng chiến từ 7 năm đến dưới 10 năm.
- Huy chương kháng chiến hạng Nhì tặng thưởng những người tham gia
kháng chiến từ 5 năm đến dưới 7 năm.
6
c) Cán bộ chủ chốt của xã, hợp tác xã được xét khen thưởng theo tiêu chuẩn
chung nói trên; đối với cán bộ, nhân viên khác trong các ban, ngành ở xã, phường,
thôn, ấp, thì tiêu chuẩn thời gian để xét khen thưởng phải tăng thêm 02 năm so với
tiêu chuẩn chung.
d) Các đối tượng được xét khen thưởng nếu chỉ hoạt động ở miền Bắc thì ít
nhất phải tham gia phục vụ trong 1/3 thời kỳ chống chiến tranh phá hoại, tính từ
ngày 5/8/1964 đến ngày 28/01/1973. Nếu có đủ thâm niên quy định trong Điều lệ,
nhưng không có điều kiện nói trên, thì được khen thưởng thấp hơn một mức, so với
tiêu chuẩn chung.
5. Thông tư số 39- BT ngày 21/4/1982 của Hội đồng Bộ trưởng, hướng
dẫn thi hành Điều lệ khen thưởng tổng kết thành tích kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước, quy định đối tượng được xét khen thưởng gồm có:
5.1. Cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân bao gồm quân đội
nhân dân, công an nhân dân vũ trang và công an nhân dân hoặc an ninh nhân dân.
5.2. Cán bộ, công nhân, viên chức trong các cơ quan Nhà nước kể cả công
nhân quốc phòng và cán bộ các đoàn thể cách mạng.
5.3. Thanh niên xung phong được tổ chức trong thời kỳ 1965- 1975 theo
Chỉ thị số 71/CP ngày 25/6/1965 của Hội đồng Chính phủ.
5.4. Các đối tượng được xét khen theo tiêu chuẩn chung:
- Cán bộ xã:
+ Bí thư, phó bí thư và các Ủy viên BCH Đảng bộ, hoặc chi bộ (ở nơi không
có tổ chức Đảng bộ cơ sở)
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên thư ký của các Ủy ban hành chính, Mặt
trận dân tộc giải phóng, nhân dân cách mạng ở miền Nam.
+ Trưởng, phó các ban, ngành: Xã đội, công an hoặc an ninh, kinh tế, tài
chính, lương thực, giao bưu, văn hóa, thông tin, y tế, thương binh- xã hội, đấu
tranh chính trị- binh vận, địch vận, công trường sản xuất vũ khí..
+ Cán bộ phụ trách các văn phòng, Đảng ủy, Ủy ban hành chính, Mặt trận
dân tộc giải phóng, nhân dân cách mạng và cán bộ khác thường xuyên công tác có
hưởng phụ cấp.
- Trưởng, phó các đoàn thể nhân dân: Mặt trận, thanh niên, phụ nữ, nông
hội.
- Cán bộ hợp tác xã:
+ Chủ nhiệm, phó chủ nhiệm, trưởng ban kiểm soát, kế toán, trưởng các hợp
tác xã: Nông nghiệp, ngư nghiệp, nghề muối, hợp tác xã xây dựng...
+ Chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm các hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng.
5.5. Các đối tượng được xét khen thưởng theo tiêu chuẩn chung với điều
kiện phải tăng thêm 2 năm:
- Cán bộ xã:
+ Ủy viên các Ủy ban: Hành chính, Dân tộc giải phóng, nhân dân cách
mạng.
+ Ủy viên các ban chuyên môn.
+ Ủy viên Ban chấp hành các đoàn thể nhân dân.
7
+ Cán bộ, nhân viên các ban, ngành kể cả bưu tá viên, giáo viên bổ túc văn
hóa.
- Cán bộ ấp, thôn, xóm:
+ Bí thư, phó bí thư và các ủy viên BCH chi bộ.
+ Tổ trưởng, tổ phó tổ Đảng ở miền Nam.
+ Ủy viên ban nhân dân cách mạng thôn, ấp ở miền Nam.
+ Trưởng các ngành, các đoàn thể quần chúng ở miền Nam.
+ Bí thư chi đoàn, chi hội trưởng phụ nữ ở miền Bắc.
+ Ban chỉ huy thôn đội du kích ở miền Nam, hoặc Ban chỉ huy trung đội
dân quân du kích ở miền Bắc.
+ Nhân viên công an ở miền Bắc hoặc an ninh ở miền Nam.
- Cán bộ hợp tác xã:
+ Ủy viên các ban: Quản trị, kiểm soát, trưởng các tiểu ban, bộ môn giúp
việc các hợp tác xã: Nông nghiệp, lâm nghiệp, nghề muối.
+ Đội trưởng, đội phó, thư ký các đội sản xuất.
- Cán bộ khối phố (tiểu khu phố- nay là Phường) gồm có:
+ Bí thư, phó bí thư chi bộ và các ủy viên BCH chi bộ, tổ trưởng, tổ phó
Đảng.
+ Trưởng, phó ban đại biểu, hoặc ban hành chính.
+ Trưởng, phó ban bảo vệ, khu đội trưởng, khu đội phó.
+ Các trưởng triểu ban khối phố, Ủy viên thư ký tiểu khu.
5.6. Tự vệ, dân quân du kích gồm có:
- Ở miền Bắc:
+ Tự vệ và du kích cơ động trực chiến ở các huyện, xã, tiểu khu phố, cơ
quan, xí nghiệp, hợp tác xã...không thoát ly sản xuất trong thời kỳ chống chiến
tranh phá hoại.
+ Tự vệ và du kích thoát ly sản xuất, do ban chỉ huy quân sự huyện, thị xã,
khu phố trực tiếp chỉ huy trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại.
5.7 Quy định Tiêu chuẩn khen thưởng:
a. Vùng thường xuyên có chiến sự ở miền Bắc gồm các tỉnh: Hà Tĩnh,
Nghệ An, Quảng Bình, Vĩnh Ninh, tính từ ngày 5/8/1964 đến ngày 28/01/1973.
b. Về điều kiện công tác tích cực và liên tục:
Những người thôi công tác trước ngày 30/4/1975 nhưng tính đến ngày thôi
công tác đã có đủ điều kiện được khen thưởng như điều lệ quy định thì được xét
khen thưởng nếu ở vào một trong các trường hợp sau đây:
- Về hưu, nghỉ việc vì mất sức lao động.
- Vì thương tật hoặc bệnh tật mà không thể công tác đến ngày 30/4/1975;
- Phục viên, xuất ngũ sau khi đã làm xong nghĩa vụ quân sự.
- Thôi việc do không bầu vào chức vụ cũ, hoặc vì có sự phân công lại trong
tổ chức, nhưng vẫn tham gia công tác thuộc diện cán bộ, nhân viên xã, tiểu khu
phố.
6. Nguyên tắc rà soát, xem xét đề nghị khen thưởng:
8
- Phân loại hồ sơ: Chỉ lập danh sách đề nghị khen thưởng các trường hợp có
đủ các căn cứ, điều kiện khen thưởng sau khi đã tiến hành rà soát, thẩm định và đối
chiếu với tiêu chuẩn quy định.
- Những hồ sơ không thuộc diện tồn đọng, do những điều kiện khách quan,
nay mới kê khai thành tích phải thực hiện theo đúng quy định của Điều lệ khen
thưởng thành tích kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ và các văn bản
hướng dẫn hiện hành.
- Không để sót những người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn khen thưởng; không
khen trùng, khen sai, hoặc khai lại để nâng mức khen. Kiên quyết xử lý nghiêm các
trường hợp cố tình khai man, xác nhận sai sự thật.
III. Xét duyệt hồ sơ:
1. Những hồ sơ đủ các căn cứ, điều kiện, tiêu chuẩn xét khen thưởng
gồm có:
- Bản khai thành tích đã được bổ sung đủ các căn cứ, đủ điều kiện, tiêu
chuẩn khen thưởng, phải ghi chép đầy đủ các cột, mục và ý kiến kết luận của Hội
đồng TĐKT cùng cấp trong bản khai thành tích của cá nhân, ký tên, đóng dấu.
- Các căn cứ xét khen kèm theo bản khai thành tích của cá nhân gồm có: Lý
lịch cán bộ, công nhân viên chức, lý lịch đảng viên, lý lịch quân nhân; Quyết định
về phục viên, xuất ngũ, nghỉ hưu, mất sức, thôi việc, phiếu cá nhân.v.v.; đối với
những trường hợp công tác ở địa phương phải căn cứ vào lịch sử tổ chức của địa
phương và xác nhận của 2 người cùng hoạt động, cùng công tác đã được khen
thưởng (đối với khen chống pháp).
- Đơn đề nghị khen thưởng của cá nhân mới kê khai phải nói rõ lý do, có xác
nhận của thủ trưởng cơ quan, đơn vị hoặc chính quyền địa phương nơi cư trú từ khi
về nghỉ: Hưu, mất sức, thôi việc... cho đến nay, nếu có hình thức kỷ luật phải nêu
cụ thể chức vụ, thời gian bị kỷ luật.
- Biên bản xét duyệt của Hội đồng Thi đua, Khen thưởng cùng cấp.
2. Những hồ sơ thiếu các căn cứ xét khen:
Trong bản khai thành tích của cá nhân và biên bản xét duyệt của Hội đồng
TĐKT phải ghi rõ thiếu căn cứ xét khen (thiếu loại giấy tờ nào, chi tiết nào trong
giấy xác nhận không đúng với lịch sử tổ chức của địa phương, hoặc không có chức
danh khen thưởng...).
3. Những hồ sơ không khen:
Phải ghi cụ thể vào hồ sơ và biên bản xét duyệt của Hội đồng TĐKT, ví dụ:
“Không đủ thâm niên khen thưởng”, “Không đủ điều kiện công tác tích cực liên
tục đến 30/4/1975”, hoặc “vì có phạm kỷ luật nghiêm trọng bị kết án tù, đảo ngũ,
tước quân tịch...”.
4. Lập danh sách (có mẫu kèm theo) gồm:
- Những trường hợp đủ các căn cứ, điều kiện, tiêu chuẩn xét khen thưởng;
- Những trường hợp thiếu các căn cứ, điều kiện, tiêu chuẩn xét khen;
- Những trường hợp không khen.
Lưu ý: Trường hợp thiếu căn cứ xét khen cần thông báo cho đối tượng bổ
sung; trường hợp không khen cần thông báo, giải thích chi tiết cụ thể, đồng thời
lưu trữ thật cẩn thận hồ sơ theo quy định, không trả lại cho đối tượng bản khai
9
thành tích đã có ý kiến xét duyệt của Hội đồng TĐKT, đủ chữ ký và dấu của các
cấp.
Khi xét duyệt hồ sơ tồn đọng từ những năm trước cần chú ý xem xét người
kê khai thành tích đến nay có bị kỷ luật bằng hình thức gì không (có hoặc không
đều phải ghi rõ trong bản khai thành tích của cá nhân; nếu bị hình thức kỷ luật từ
cảnh cáo trở lên, có hạ mức hay không hạ mức khen, hạ một mức hay hạ hai mức
khen).
IV. Một số công việc chính cần tập trung giải quyết
1. Đối với các Sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh:
Giao Thường trực Hội đồng TĐKT của đơn vị rà soát lại những người có đủ
điều kiện, tiêu chuẩn nhưng chưa được khen thưởng, tiến hành kê khai thành tích,
hoàn thiện hồ sơ, lập danh sách trình UBND tỉnh (qua Ban TĐKT - Sở Nội vụ)
theo thời gian quy định.
Đối với những người đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức, nghỉ thôi việc hoặc chuyển
công tác…, phải có xác nhận (theo Mẫu số 02) của cơ quan cũ nêu rõ lý do chưa
được khen thưởng, có bị kỷ luật hay không.
2. Đối với cấp huyện:
- Chỉ đạo các xã, phường, thị trấn và các đơn vị trực thuộc rà soát lại những
hồ sơ khen thưởng thành tích kháng chiến còn tồn đọng, bổ sung các căn cứ xét
khen; những trường hợp có thành tích nhưng chưa được khen thưởng lập danh
sách, trình UBND tỉnh (qua Ban TĐKT- Sở Nội vụ) theo đúng thời gian quy định.
- Thực hiện tốt công tác lưu trữ, phân loại hồ sơ theo quy định tại (Mục II)
để có biện pháp xử lý từng loại đối tượng được chính xác.
3. Đối với cấp xã, phường, thị trấn:
Rà soát, thẩm định, phân loại hồ sơ các trường hợp có thành tích tham gia
kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ còn tồn đọng, tổng hợp những
trường hợp có lý do chính đáng, thành tích rõ ràng, có đủ các căn cứ, tiêu chuẩn,
điều kiện khen thưởng theo quy định lập danh sách đề nghị khen thưởng:
4. Hồ sơ khen thưởng thành tích kháng chiến chống pháp và chống Mỹ
- Phần lớn hiện nay đang lưu trữ tại tỉnh, đã được phân loại cụ thể, cần phải
củng cố, thẩm định và bổ sung thêm căn cứ xét khen.
- Những hồ sơ còn tồn đọng tại các địa phương phải tiến hành rà soát lại, bổ
sung các căn cứ xét khen, thẩm định, phân loại hồ sơ:
+ Đủ các căn cứ, điều kiện, tiêu chuẩn xét khen;
+ Thiếu căn cứ, điều kiện, tiêu chuẩn xét khen;
+ Không đủ điều kiện, tiêu chuẩn khen thưởng.
Đối với những người bị chết hoặc bị thương trước 20/7/1954 mà chưa được
công nhận là thương binh, hoặc liệt sĩ, những người bị quy thành phần sai trong
cải cách ruộng đất (bị xử lý) nếu chưa được xuống thành phần, không có quyết
định minh oan thì chưa xét khen thưởng;
Đối với những trường hợp có liên quan bị địch bắt tù đày chưa có cơ sở để
Sở Lao động TBXH quyết định công nhận bị địch bắt tù đày, thì phải đưa vào danh
sách tồn đọng, để giải quyết sau.
10
- Biên bản xét duyệt của Hội đồng Thi đua, Khen thưởng cùng cấp phải ghi
chi tiết, cụ thể từng trường hợp.
- Lập danh sách:
+ Đủ các căn cứ, điều kiện, tiêu chuẩn xét khen thưởng (theo mẫu số 1a
chống Mỹ, 1b chống Pháp );
+ Thiếu các căn cứ, điều kiện, tiêu chuẩn xét khen;
+ Không khen.
Chú ý:
- Những trường hợp có thành tích tham gia kháng chiến chống Pháp, dưới
mức Bằng khen Chính phủ, đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen theo
Quyết định số 98/2006/QĐ- TTg ngày 5 tháng 5 năm 2006 của Thủ tướng Chính
phủ, lập danh sách (theo mẫu số 3a ) có tờ trình riêng.
- Những trường hợp có thành tích tham gia kháng chiến chống Mỹ, dưới
mức Huy chương kháng chiến hạng Nhì, đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng
khen theo Quyết định số 98/2006/QĐ- TTg ngày 5 tháng 5 năm 2006 của Thủ
tướng Chính phủ, lập danh sách ( theo mẫu số 3b) có tờ trình riêng.
V. Thời gian hoàn thành việc giải quyết tồn đọng khen thưởng thành
tích kháng chiến:
- Các xã, phường, thị trấn, các đơn vị cơ sở tổng hợp hồ sơ đã xét duyệt
được theo qui định gửi về: UBND huyện, thị xã, thành phố; sở, ban, ngành đoàn
thể cấp tỉnh trước ngày 31 tháng 8 năm 2011, qua cơ quan Thường trực của Hội
đồng TĐKT cùng cấp.
- Các Sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh, các huyện, thị xã, thành phố tổng hợp hồ
sơ đã xét duyệt được theo qui định, gửi về Ban TĐKT- Sở Nội vụ trước ngày 31
tháng 9 năm 2011.
- Thường trực Hội đồng TĐKT tỉnh tổng hợp hồ sơ đã xét duyệt trình
UBND tỉnh, trình Thủ tướng Chính phủ, trước ngày 30 tháng 11 năm 2011, không
nhận hồ sơ nộp sau ngày 31/9/2011.
Trên đây là hướng dẫn một số nội dung thực hiện Công văn số:
1032/UBND- VP ngày 16/6/2011 của UBND tỉnh, thực hiện rà soát khen thưởng
thành tích kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ còn tồn đọng, đề nghị các cấp, các
ngành, các tổ chức có liên quan quan tâm thực hiện. Trong quá trình tổ chức có
vấn đề gì vướng mắc cần kịp thời phản ánh về Ban Thi đua, Khen thưởng- Sở Nội
vụ để có hướng giải quyết./.
Nơi nhận: KT. GIÁM ĐỐC
- VP Tỉnh ủy; PHÓ GIÁM ĐỐC
- VP UBND tỉnh;
- VP đoàn ĐBQH- HĐND tỉnh; (Đã ký)
- Các Sở, ban ngành, đoàn thể tỉnh;
- UBND, phòng Nội vụ các huyện, thị xã, thành phố;
- Lãnh đạo và các CV Ban TĐKT;
Nguyễn Đức Vang
- Lưu: VT- NV2 (Sỹ 65 b).
11
Get documents about "