T?nh ?y L�m �?ng
Shared by: LoRnJMp
-
Stats
- views:
- 12
- posted:
- 11/26/2011
- language:
- Vietnamese
- pages:
- 34
Document Sample


TỈNH ỦY LÂM ĐỒNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Dự thảo lần 6 Đà Lạt, ngày tháng 6 năm 2010
ĐOÀN KẾT, ĐỔI MỚI, TRÁCH NHIỆM, KỈ CƯƠNG, PHÁT HUY MỌI
NGUỒN LỰC, ĐƯA LÂM ĐỒNG PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG
(Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa VIII
trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh khóa IX)
Phần thứ nhất
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI
ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ VIII (2006- 2010)
Năm năm qua, tình hình thế giới diễn biến khá phức tạp; bên cạnh xu thế
hòa bình, hợp tác và phát triển, các hoạt động khủng bố, bạo loạn, li khai tiếp
tục gia tăng; cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu dẫn đến sự
phá sản của nhiều tập đoàn kinh tế lớn, làm đảo lộn chính sách kinh tế của một
số nước... Ở trong nước, ngoài những mặt thuận lợi, cũng gặp không ít khó
khăn, thách thức như ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính, suy
thoái kinh tế; những hạn chế, yếu kém trên lĩnh vực kinh tế- xã hội chậm khắc
phục; sự chống phá của các thế lực thù địch; thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi
trường... diễn ra trên diện rộng.
Đối với tỉnh, bên cạnh những thuận lợi cơ bản về điều kiện tự nhiên và kế
thừa những thành quả đạt được của những năm trước đây, cũng phải đối mặt
với những khó khăn, thách thức lớn, như điểm xuất phát về kinh tế- xã hội
thấp, xa các trung tâm kinh tế lớn, kết cấu hạ tầng yếu kém, chất lượng nguồn
nhân lực còn thấp...
Trong bối cảnh đó, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã tranh
thủ thời cơ, khắc phục khó khăn, phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng
bộ tỉnh lần thứ VIII đạt và vượt hầu hết các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, một số
lĩnh vực phát triển vượt bậc.
I. NHỮNG THÀNH TỰU.
1. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu.
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân 5 năm đạt 14%/năm1.
- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm đạt 32.328 tỉ đồng, tăng gấp 3,5
lần so với thời kỳ 2001- 20052.
- Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 20,2%/năm. Tổng kim ngạch xuất
1
NQ: Tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm 13- 14%/năm
2
NQ: Tăng 3,2- 3,3 lần so với thời kỳ 2001- 2005.
2
khẩu 5 năm đạt 1.200 triệu USD3.
- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 5 năm đạt 11.283 tỉ đồng;
riêng năm 2010 đạt 3.050 tỉ đồng, tỉ lệ huy động vào ngân sách đạt 13,4%
GDP, trong đó thuế và phí đạt 8,1% GDP4.
- Phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 20095.
- Giải quyết việc làm mới hàng năm cho trên 24.000 lao động6.
- Giảm tỉ lệ sinh bình quân hàng năm 0,5%o7.
Đến năm 2010:
- GDP bình quân đầu người đạt 19 triệu đồng, gấp 2,8 lần so năm 20058.
- Cơ cấu GDP: nông- lâm- thủy sản 49%, công nghiệp và xây dựng 20%,
dịch vụ 31%9.
- Có 75% dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh10.
- Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 17,5%11.
- Có 25% lao động đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo12.
- Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2010 đạt 1,35%13.
- Tỉ lệ hộ nghèo còn dưới 5%; trong đó vùng đồng bào dân tộc thiểu số
còn 20%14.
- Phủ sóng phát thanh truyền hình đến 100% số xã trong tỉnh.
- Cuối năm 2009, có 3 xã, 55% thôn, buôn, khu phố và 80% cơ quan đạt
danh hiệu tiêu chuẩn đơn vị văn hóa15; 80% số hộ gia đình đạt danh hiệu gia
đình văn hóa.
- Giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
- Năm 2009, có 72,0 % tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh16.
- Cuối năm 2009, có 1.049 thôn, khu phố có tổ chức đảng, chiếm 82,5%
tổng số thôn, khu phố17.
2. Lĩnh vực kinh tế.
2.1. Phát triển công nghiệp- xây dựng.
3
NQ: Tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm đạt 900- 950 triệu USD, tăng bình quân hàng năm 14- 16%.
4
NQ: Tỉ lệ huy động GDP vào ngân sách đạt 15- 16%; trong đó huy động thuế và phí đạt 12- 13% so với GDP.
5
NQ: Phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2007.
6
NQ: Tạo việc làm mới hàng năm cho 24.000- 25.000 lao động.
7
NQ: Giảm tỉ lệ sinh bình quân hàng năm 0,5- 0,6%o.
8
NQ: GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 15,5- 16,5 triệu đồng.
9
NQ: Tỉ trọng nông nghiệp chiếm 36- 38%, dịch vụ 36- 38%, công nghiệp- xây dựng 26% trong GDP.
10
NQ: Có 80% dân số nông thôn được dùng nước sạch.
11
NQ: Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn dưới 20%.
12
NQ: Có 25% lao động trong tỉnh được đào tạo nghề.
13
NQ: Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên còn dưới 1,4%.
14
NQ: Giảm hộ nghèo xuống còn dưới 14%, trong đó vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn dưới 30%.
15
NQ: Có 50- 55% gia đình văn hóa; 55- 60% thôn, buôn, khu phố và 80% cơ quan văn hoá.
16
NQ: Năm 2010, có ít nhất 80% số tổ chức cơ sở đảng đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh.
17
NQ: Đến năm 2010, hầu hết các thôn, buôn đều có tổ chức đảng.
3
Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm 17,5%; các ngành
công nghiệp điện, khai thác khoáng sản, vật liệu xây dựng có bước phát triển
mới. Đã tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng các khu, cụm
công nghiệp; ngoài các khu công nghiệp Lộc Sơn, Phú Hội, tỉnh đã quy hoạch,
đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng 14 cụm công nghiệp ở các huyện, thành phố
với diện tích 713,8 ha; đồng thời tích cực thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào
các khu, cụm công nghiệp. Quan tâm hỗ trợ các nhà đầu tư triển khai nhanh các
dự án, nhất là các dự án thủy điện, khai thác và chế biến quặng bauxite, sản
xuất phân bón, chế biến chè, cà phê… Sau 5 năm, các ngành công nghiệp mũi
nhọn như chế biến nông sản thực phẩm tăng 13,9%, khai thác mỏ tăng 30,1%,
sản xuất phân phối điện, nước tăng 53,9%18...
2.2. Phát triển các ngành dịch vụ.
Đã chú trọng công tác quy hoạch, xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển
du lịch đến năm 2020, quy hoạch các khu, điểm, tuyến du lịch; tăng cường
công tác quảng bá, xúc tiến du lịch- thương mại- đầu tư; kêu gọi các nhà đầu tư
xây dựng các khu vui chơi giải trí, các loại hình du lịch có lợi thế, mở rộng cơ
sở lưu trú, nâng cao chất lượng du lịch, cơ bản đáp ứng được nhu cầu ngày
càng đa dạng của du khách. Số lượt khách du lịch tăng bình quân hàng năm 15-
16%, số ngày lưu trú bình quân tăng từ 2,1 ngày năm 2005 lên 2,5 ngày năm
2010.
Khai thác các nguồn lực đầu tư xây dựng các trung tâm thương mại ở một
số huyện, thành phố; khuyến khích phát triển hệ thống chợ nông thôn, vùng
sâu, vùng xa, mở rộng giao lưu hàng hóa giữa các vùng trong tỉnh; tổng mức
bán lẻ hàng hóa dịch vụ giai đoạn 2006- 2010 tăng bình quân hàng năm 27,1%.
Hoạt động vận tải, bưu chính viễn thông, ngân hàng và quỹ tín dụng, bảo hiểm,
tư vấn… tiếp tục phát triển, phục vụ tốt hơn nhu cầu của nhân dân.
2.3. Phát triển nông- lâm nghiệp và kinh tế nông thôn.
- Do được tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng và triển khai chương trình
phát triển nông nghiệp công nghệ cao, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học-
công nghệ, đưa giống mới vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi,
xây dựng và chuyển giao cho nông dân nhiều mô hình sản xuất rau, hoa, chè,
cà phê, lúa, nuôi cá nước lạnh… nên nông nghiệp đã tiếp tục phát triển và đạt
hiệu quả kinh tế cao; một số lĩnh vực có bước phát triển vượt bậc. Giá trị sản
xuất nông- lâm nghiệp và thuỷ sản tăng bình quân hàng năm 10,1%; năm 2010,
giá trị sản phẩm thu hoạch trên 1 ha đất canh tác đạt 76 triệu đồng, tăng gấp 2,9
lần so với năm 200519. Giá trị nông sản xuất khẩu chiếm khoảng 80% tổng kim
ngạch xuất khẩu của tỉnh.
- Sản xuất lâm nghiệp phát triển theo hướng giảm khai thác, tăng cường
18
Đầu năm 2010 đã hoàn thành dự án điện thôn, buôn.
19
Các mô hình điểm rau- hoa đạt 500- 1.000 triệu đồng/ha, chè chất lượng cao đạt 150- 250 triệu đồng/ha.
4
quản lí bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng kinh tế. Các cơ sở sản xuất
lâm nghiệp được sắp xếp lại và từng bước chuyển sang hoạt động theo mô hình
lâm nghiệp xã hội. Trong 5 năm đã trồng trên 11.360 ha rừng, hàng năm giao
khoán quản lí, bảo vệ 325.313 ha. Thực hiện thí điểm chính sách chi trả dịch vụ
môi trường rừng theo Quyết định 380 của Thủ tướng Chính phủ, bước đầu cải
thiện được đời sống người dân nhận quản lí bảo vệ rừng. Đã duy trì ổn định độ
che phủ của rừng đạt trên 61%.
- Kinh tế nông thôn được đầu tư phát triển theo hướng sản xuất tập trung,
chuyên canh, ứng dụng các thành tựu khoa học- công nghệ tiên tiến vào sản
xuất; gắn xây dựng các vùng sản xuất nguyên liệu với công nghiệp chế biến
nông sản, phát triển ngành nghề, dịch vụ… tạo điều kiện để chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn. Chú trọng việc chỉ đạo rà soát, xây dựng
quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch nông thôn, đặc biệt quy hoạch và bố trí lại
dân cư, ưu tiên bố trí dân ở vùng chịu ảnh hưởng của thiên tai, vùng rừng xung
yếu và rất xung yếu, vùng bảo vệ nghiêm ngặt của rừng phòng hộ, rừng đặc
dụng và ổn định cho dân nhập cư ngoài kế hoạch.
Thực hiện lồng ghép các chương trình phát triển nông thôn đã góp phần
xây dựng kết cấu hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, cơ cấu lao động gắn với việc tổ chức tiêu thụ hàng hóa, chuyển giao khoa
học- công nghệ; tạo điều kiện để nông dân tiếp cận được các dịch vụ y tế, giáo
dục, văn hóa. Đến năm 2010, có 75% dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh,
90% thôn, buôn và trên 90% hộ dân vùng đặc biệt khó khăn được sử dụng điện,
số hộ nghèo giảm đáng kể và nhiều hộ vươn lên làm giàu.
2.4. Đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Trong 5 năm, ngân sách nhà nước đầu tư vào các dự án, chương trình mục
tiêu là 2.309 tỉ đồng. Các chương trình này cơ bản đã thực hiện đúng yêu cầu,
nội dung, góp phần xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, tạo
điều kiện phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vùng đồng bào dân tộc thiểu
số. Đến nay, hầu hết các xã vùng sâu, vùng xa đều có đường bê tông nhựa đến
trung tâm xã; hệ thống trường học, trạm y tế từng bước được kiên cố hoá và
chuẩn hoá; nhiều nơi có đủ nước sạch, điện lưới quốc gia. Hệ thống chính trị cơ
bản được củng cố; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.
2.5. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng.
Tỉnh đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành Trung ương đầu tư xây dựng
các công trình hạ tầng quan trọng như: hoàn thành thủy điện Đại Ninh, nâng
cấp Sân bay Liên Khương; khởi công dự án khai thác bauxit- sản xuất alumin,
thủy điện Đồng Nai 2, Đồng Nai 3, Đồng Nai 4, ĐạmB'ri...
Mạng lưới giao thông phát triển khá tốt; trong nhiệm kỳ đã đầu tư xây
dựng mới và nâng cấp trên 826 km đường quốc lộ, tỉnh lộ (trong đó có 19,2 km
đường cao tốc); huy động trên 677 tỉ đồng từ nhiều nguồn để xây dựng mới và
5
nâng cấp, sửa chữa trên 1.350 km đường giao thông nông thôn (đường cấp
huyện, cấp xã và đường thôn, xóm).
Hệ thống thuỷ lợi được duy trì và mở rộng; trong nhiệm kỳ, đã đầu tư
củng cố, nâng cấp, xây dựng mới nhiều dự án thuỷ lợi như Dak K’long
Thượng, Ka La, kiên cố hóa kênh mương thủy lợi Đạ Tẻh, Đạ Đờn, Tuyền
Lâm... Đến năm 2010, có 90% diện tích rau, hoa, 90% diện tích lúa, 38% diện
tích cây công nghiệp dài ngày được tưới nước.
Cơ sở giáo dục, đào tạo, nhà ở giáo viên được đầu tư xây dựng, nâng cấp
và từng bước kiên cố hoá; đến nay, toàn tỉnh có 633 trường học, tăng 31 trường
so với năm 2005. Trong 5 năm, đã đầu tư xây dựng mới trên 2.000 phòng học,
hàng trăm phòng ở cho giáo viên.
Mạng lưới y tế cũng được đầu tư nâng cấp, xây dựng mới các bệnh viện đa
khoa tỉnh, các trung tâm y tế huyện, thành phố, phòng khám khu vực; chú trọng
đầu tư xây dựng, phát triển mạng lưới y tế cơ sở. Đến nay, toàn tỉnh có 190 cơ
sở y tế với 2.940 giường bệnh.
Thiết chế văn hoá từ tỉnh đến cơ sở tiếp tục được đầu tư phát triển; đến
nay, hầu hết các huyện, thành phố có nhà văn hoá, trung tâm văn hoá thể thao;
phần lớn xã, phường, thị trấn có trạm truyền thanh (140/148 xã), sân thi đấu thể
thao, bưu điện văn hoá; nhiều thôn, khu phố có nhà sinh hoạt cộng đồng...
Một số dự án lớn đã đưa vào khai thác, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát
triển kinh tế- xã hội, đảm bảo quốc phòng- an ninh và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế sang hướng công nghiệp- dịch vụ.
2.6. Phát triển kinh tế nhiều thành phần.
Tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần
kinh tế; cơ bản đã hoàn thành việc cổ phần hoá, sắp xếp, đổi mới hoạt động của
doanh nghiệp nhà nước; xây dựng, củng cố các loại hình kinh tế tập thể và
khuyến khích các thành phần kinh tế khác phát triển. Đến nay, toàn tỉnh còn 12
doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, trong đó có 4 công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên và 8 công ty lâm nghiệp; có 35 doanh nghiệp nhà nước được
chuyển đổi thành công ty cổ phần, trong đó 13 doanh nghiệp cổ phần có vốn
nhà nước. Qua sắp xếp, quy mô vốn, hiệu quả hoạt động của nhiều doanh
nghiệp tăng lên; hầu hết doanh nghiệp đều thực hiện tốt quyền chủ động trong
tổ chức sản xuất kinh doanh, duy trì tốc độ tăng trưởng. Khu vực kinh tế dân
doanh có 3.150 doanh nghiệp đã đăng k kinh doanh; có trên 25.500 hộ kinh
doanh cá thể; khu vực kinh tế tập thể có 100 hợp tác xã, 2.953 tổ hợp tác. Phần
lớn các doanh nghiệp sau đăng k đã triển khai sản xuất kinh doanh theo ngành
nghề đăng k , chấp hành tương đối tốt các quy định của pháp luật, giải quyết
việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động.
Từ năm 2006 đến cuối năm 2009, có 310 dự án trong nước được thỏa
6
thuận đầu tư hoặc cấp giấy chứng nhận đầu tư, vốn đăng k 39.487 tỉ đồng, với
39.497 ha đất; vốn thực hiện khoảng 4.000 tỉ đồng, bằng 10,1% vốn đăng k ;
cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 79 dự án nước ngoài, với tổng vốn đăng k
457,5 triệu USD, vốn thực hiện 97,5 triệu USD, bằng 21,3% vốn đăng k .
3. Lĩnh vực văn hóa- xã hội.
Thực hiện khá tốt chủ trương xã hội hoá lĩnh vực văn hoá- xã hội, huy
động được nhiều nguồn lực đầu tư, nhất là vào lĩnh vực giảm nghèo, giáo dục-
đào tạo và y tế.
- Đã tập trung các nguồn vốn thực hiện có hiệu quả công tác giảm nghèo,
như xây dựng các công trình hạ tầng thiết yếu, xóa nhà tạm, hỗ trợ vốn và cho
vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất, miễn giảm và hỗ trợ học phí, cấp thẻ
khám chữa bệnh cho đối tượng nghèo; giải quyết đất sản xuất và đất ở cho
đồng bào dân tộc thiểu số.
Thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ, tỉnh đã phê duyệt đề án giảm
nghèo nhanh và bền vững cho huyện Đam Rông với kinh phí thực hiện đến
năm 2020 là 2.125 tỉ đồng và vận dụng Nghị quyết 30a, phê duyệt đề án cho 16
xã và 94 thôn, buôn nghèo, tạo điều kiện giảm nghèo bền vững trong những
năm sau.
- Sự nghiệp giáo dục phát triển nhanh theo hướng đa dạng hoá về loại
hình, phương thức đào tạo. Hệ thống trường lớp phát triển rộng khắp, bố trí
tương đối hợp lí theo địa bàn dân cư, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của nhân
dân; năm học 2008- 2009, có 85/633 trường đạt chuẩn quốc gia. Chất lượng
giáo dục- đào tạo có chuyển biến tích cực, toàn tỉnh đã hoàn thành phổ cập tiểu
học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Quy mô, chất lượng đào
tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ngày càng phát triển, nhất là đào tạo nghề, đào
tạo cán bộ cơ sở.
- Việc nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ vào sản xuất và
đời sống được chú trọng; trong 5 năm, có 98 đề tài khoa học đã và đang được
ứng dụng vào sản xuất kinh doanh, nhất là các đề tài phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa- hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Hoạt động bảo vệ môi
trường bước đầu đã hạn chế được tình trạng ô nhiễm tại các khu công nghiệp
tập trung và khu dân cư.
- Hoạt động y tế, bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ cho người dân có chuyển biến
tích cực. Mạng lưới y tế, cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ cán bộ được
tăng cường; thực hiện tốt các chương trình y tế cộng đồng, chủ động phòng
chống, không để dịch bệnh xảy ra trên diện rộng; tăng cường truyền thông và
tổ chức phòng chống có hiệu quả dịch bệnh Sars và dịch cúm A H5N1, H1N1.
Việc chăm sóc, bảo vệ bà mẹ, trẻ em và công tác dân số kế hoạch hóa gia đình
được thực hiện khá tốt; tỉ lệ tăng dân số tự nhiên giảm từ 1,73% năm 2005
xuống 1,35% vào năm 2010.
7
- Lĩnh vực văn hoá thông tin, văn học nghệ thuật, báo chí có nhiều tiến bộ;
hệ thống thông tin liên lạc được đầu tư đến thôn, buôn. Sóng phát thanh truyền
hình phủ kín hầu hết các địa bàn trong tỉnh; duy trì thời lượng phát sóng truyền
hình và phát thanh bằng tiếng dân tộc thiểu số. Phong trào thể dục- thể thao
quần chúng, phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ngày
càng phát huy tác dụng thiết thực.
- Đã chú trọng đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động.
Thực hiện tốt các chính sách xã hội, chính sách ưu đãi, hỗ trợ các đối tượng xã
hội; đặc biệt quan tâm thực hiện đúng, đầy đủ chính sách đối với người và gia
đình có công với nước.
4. Về quốc phòng, an ninh và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.
4.1. Về quốc phòng, an ninh.
Chú trọng chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng, Nhà
nước về nhiệm vụ quốc phòng- an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an
toàn xã hội; chủ động phát hiện, ngăn chặn, làm thất bại các âm mưu, hoạt
động chống phá của các thế lực thù địch; kịp thời giải quyết những vấn đề phức
tạp nảy sinh, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa
bàn.
Quan tâm xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh
nhân dân vững chắc, xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh chính quy, tinh nhuệ và
từng bước hiện đại; kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng- an ninh, lấy
sự ổn định an ninh chính trị làm cơ sở cho phát triển kinh tế- xã hội. Chỉ đạo
xây dựng lực lượng cốt cán trong vùng dân tộc, tôn giáo; quan tâm xây dựng
lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên, tỉ lệ dân quân tự vệ đạt 1,49% so
với dân số.
Thường xuyên tuyên truyền giáo dục nâng cao cảnh giác cách mạng trong
các tầng lớp nhân dân về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch,
nhất là âm mưu “Diễn biến hòa bình”; hoàn chỉnh Kế hoạch xây dựng khu vực
phòng thủ giai đoạn 2007- 2015, Kế hoạch thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính
trị về “Bảo đảm an ninh quốc phòng trong tình hình mới”, Kế hoạch thực hiện
Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ về “Đấu tranh xóa bỏ các tổ chức phản
động Fulrô đang nhen nhóm phục hồi trên địa bàn Tây Nguyên”.
4.2. Giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.
Các cấp ủy đảng và các sở, ban, ngành đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc
giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; tăng cường phối hợp các cơ quan bảo
vệ pháp luật với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể từ cấp cơ sở đến huyện, tỉnh
tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo. Việc giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo
cơ bản đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền quy định; hàng năm giải quyết
được trên 80% số lượng đơn, thư. Tình hình khiếu nại, tố cáo đông người, vượt
8
cấp đã giảm thiểu; quyền lợi hợp pháp của công dân cơ bản được bảo vệ, góp
phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
5. Xây dựng chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.
5.1. Xây dựng chính quyền.
- Hội đồng nhân dân các cấp đã có nhiều cố gắng thực hiện chức năng,
nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Đã tập trung thảo luận, quyết định
những vấn đề quan trọng của địa phương; tiến hành giám sát, kiểm tra việc
thực hiện chính sách, pháp luật; duy trì và từng bước nâng cao chất lượng, hiệu
quả tiếp xúc cử tri của đại biểu hội đồng nhân dân.
Tổ chức bộ máy của uỷ ban nhân dân từ tỉnh đến cơ sở được sắp xếp, kiện
toàn theo chỉ đạo của Trung ương, nội dung và phương thức hoạt động đã từng
bước đổi mới, cơ bản đáp ứng yêu cầu quản lí, chỉ đạo, điều hành và tổ chức
thực hiện nhiệm vụ của địa phương. Đã xây dựng và thực hiện quy định về
phân cấp quản lí nhà nước, tăng cường phân cấp, ủy quyền cho cấp dưới; xây
dựng quy chế làm việc và chương trình, kế hoạch công tác cụ thể. Trong quản
lí, điều hành, chú trọng xây dựng quy hoạch, nghiên cứu định hướng chiến lược
phát triển vùng và những ngành, lĩnh vực trọng tâm, địa bàn trọng điểm.
Uỷ ban nhân dân các cấp đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh cải cách hành
chính, tiến hành rà soát và giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế "một cửa",
"một cửa liên thông"; thực hiện công khai, minh bạch các thủ tục hành chính,
phổ biến rộng rãi các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo sự
thống nhất về nhận thức giữa các cấp, các ngành và đồng thuận xã hội trong
việc tổ chức thực hiện.
- Các cơ quan tư pháp ở địa phương đã tập trung củng cố, kiện toàn tổ
chức, tăng cường cán bộ, cơ sở vật chất- kĩ thuật, tăng thẩm quyền xét xử cho
toà án nhân dân cấp huyện theo lộ trình cải cách tư pháp. Chất lượng điều tra,
truy tố, xét xử, thi hành án có chuyển biến tiến bộ.
- Các cấp uỷ đảng đã quán triệt, xây dựng chương trình hành động và chỉ
đạo quyết liệt việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá X) về tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí và
Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; thực
hiện công khai, dân chủ, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị
gắn với cải cách thủ tục hành chính; công khai sử dụng ngân sách, tài sản công,
kinh phí chi tiêu nội bộ, công tác tổ chức cán bộ. Qua công tác thanh tra, kiểm
tra, điều tra, truy tố, xét xử, hàng năm đều phát hiện và xử lí 10- 20 vụ.
5.2. Xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.
Công tác vận động quần chúng có nhiều chuyển biến tiến bộ cả về nội
dung, phương thức và lực lượng tham gia; đã từng bước khắc phục tình trạng
hành chính hoá trong tổ chức, hoạt động. Các tổ chức trong hệ thống chính trị
9
từ tỉnh đến cơ sở đã xây dựng quan hệ phối hợp công tác; phát huy sức mạnh
tổng hợp các lực lượng trong hệ thống chính trị, tập trung tuyên truyền, vận
động đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân thực hiện các chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Chú trọng hơn trong chỉ đạo, xây
dựng, củng cố mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân, tăng cường khối
đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện phát
huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia xây dựng, giám sát hoạt
động của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và của chính quyền các cấp.
6. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
6.1. Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức
thực hiện của Đảng bộ tỉnh.
Thực hiện các nghị quyết của Trung ương về tiếp tục đổi mới phương thức
lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, về nâng cao năng lực lãnh đạo,
sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng
viên... Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo, đổi mới phương thức lãnh
đạo; đổi mới cách ra nghị quyết, chỉ đạo triển khai thực hiện nghị quyết; chú
trọng xây dựng, sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc của cấp ủy nhằm nâng cao
hiệu quả lãnh đạo của Đảng, phát huy tốt hơn vai trò giám sát của hội đồng
nhân dân, sự chủ động trong quản lí, điều hành của ủy ban nhân dân và vai trò
của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội, nhờ đó đã phát huy
được sức mạnh tổng hợp, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện của hệ thống
chính trị.
Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính
sách của tỉnh; phát huy dân chủ, sự năng động, sáng tạo và trách nhiệm cá nhân
trong nghiên cứu vận dụng, xác định các chương trình trọng tâm, công trình
trọng điểm để lãnh đạo, chỉ đạo, tập trung các nguồn lực đầu tư tăng tốc phát
triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội. Ngoài 6 chương trình trọng tâm đã được
xác định từ nhiệm kỳ trước, nhiệm kỳ 2006- 2010 đã bổ sung 3 chương trình
của tỉnh20; ngoài 3 địa bàn Đà Lạt, Bảo Lộc, Đức Trọng, đã xác định thêm địa
bàn trọng điểm Bảo Lâm và chỉ đạo các huyện, thị xã, thành phố chọn các
chương trình trọng tâm, công trình và địa bàn trọng điểm cấp mình để tập trung
chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh ở
từng địa phương. Nghiên cứu, xác định những định hướng lớn phát triển kinh
tế- xã hội tỉnh đến 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 phục vụ xây dựng các văn
kiện trình Đại hội Đảng bộ lần thứ IX.
6.2. Công tác tư tưởng.
- Đảng bộ đã tập trung lãnh đạo đổi mới và nâng cao chất lượng công tác
20
Quy hoạch mở rộng và phát triển đô thị; Hợp tác phát triển kinh tế- xã hội với thành phố Hồ Chí Minh; Thực hiện
công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư, tái định canh khi Nhà nước thu hồi đất.
10
chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về
chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước; gắn công tác tư tưởng với thực hiện nhiệm vụ chính trị, giải
quyết những vấn đề quan trọng, nhạy cảm, phức tạp liên quan đến đời sống
nhân dân. Việc tổ chức học tập, quán triệt và triển khai thực hiện nghị quyết
được đổi mới, gắn học tập với thảo luận, xây dựng chương trình, kế hoạch hành
động và tuyên truyền, cung cấp thông tin đến mọi đối tượng nhân dân; góp
phần củng cố niềm tin, nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên, tạo sự
thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội, sự đồng bộ trong lãnh đạo và
triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị.
- Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
được triển khai đồng bộ, sâu rộng, tạo sự chuyển biến đáng kể trong việc rèn
luyện nâng cao phẩm chất đạo đức của cán bộ, đảng viên, nâng cao trách nhiệm
xã hội của công dân. Các tổ chức, đơn vị đã gắn thực hiện Cuộc vận động với
chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, giải quyết có hiệu quả những khó khăn,
bức xúc của nhân dân, được nhân dân đồng tình, hưởng ứng. Tại các khu dân
cư, cơ quan, doanh nghiệp đã xuất hiện nhiều tấm gương tập thể, cá nhân điển
hình trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác.
6.3. Công tác cán bộ.
Nhận thức của các cấp uỷ, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên về
quan điểm, mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ và vị trí, vai trò của công tác cán
bộ được nâng cao. Triển khai các khâu trong công tác cán bộ cơ bản đúng quy
trình, bảo đảm dân chủ, công khai, phát huy được trí tuệ của tập thể.
Đội ngũ cán bộ công chức của tỉnh nhiệm kỳ qua đã có sự phát triển nhanh
cả về số lượng, chất lượng, từng bước trẻ hoá, chuẩn hoá; do vậy, tỉnh đã cơ
bản đảm bảo được nguồn cán bộ khi tiến hành đại hội đảng bộ hoặc bầu cử hội
đồng nhân dân các cấp. Đội ngũ cán bộ chuyên trách và công chức cấp xã được
bố trí, sắp xếp lại theo quy định của Trung ương và từng bước được đào tạo,
bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặt theo tiêu chuẩn.
Công tác bảo vệ chính trị nội bộ có nhiều chuyển biến tích cực. Các cấp uỷ
đảng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nắm chắc tình hình và kịp thời giải quyết
vấn đề chính trị nội bộ của cán bộ, đảng viên, phục vụ cho việc xây dựng và tổ
chức thực hiện quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ và kết nạp đảng viên mới.
6.4. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng.
Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã chỉ đạo các cấp uỷ trực thuộc chọn
điểm chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc
việc triển khai thực hiện của các ngành, các cấp; kịp thời uốn nắn những sai
sót, khuyết điểm.
Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng đã được nâng lên
rõ rệt, thể hiện được vai trò hạt nhân lãnh đạo toàn diện trong từng cơ quan,
11
đơn vị và cả hệ thống chính trị. Các cấp uỷ, tổ chức đảng đã lựa chọn các vấn
đề trọng tâm, lĩnh vực và địa bàn trọng điểm để tập trung chỉ đạo, tạo được sự
chuyển biến có tính đột phá trong từng cơ quan, đơn vị, địa phương; thực hiện
nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt, phát huy dân chủ trong Đảng, xây
dựng và điều hành hoạt động theo quy chế làm việc, từ đó đã phát huy vai trò
của từng thành viên trong cấp uỷ, xây dựng được sự đoàn kết thống nhất trong
Đảng và trong hệ thống chính trị. Kết quả đánh giá tổ chức cơ sở đảng và đảng
viên các năm qua cơ bản phản ảnh đúng thực chất.
Tỉ lệ tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh tăng từ 68,4% năm 2005
lên 72,0 % năm 2009; số tổ chức yếu kém năm 2005 là 2,1% và năm 2009 là
2,26%. Tỉ lệ đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ tăng từ 72,9% năm
2006 lên 74,78% năm 2009, đảng viên vi phạm tư cách giảm từ 1,32% xuống
còn 0,85% năm 2009.
Công tác phát triển đảng viên được triển khai trong tất cả các loại hình cơ
sở và đã chú trọng về chất lượng, quan tâm đến lực lượng thanh niên, công
nhân, trí thức và ở những địa bàn nông thôn, nhất là ở các thôn, buôn chưa có
đảng viên và tổ chức đảng. Giai đoạn 2006- 2009, bình quân hàng năm kết nạp
được 1.600 đảng viên21; đến nay, đã thu hẹp được 26 thôn, khu phố chưa có
đảng viên và 141 thôn, khu phố chưa có tổ chức đảng. Cuối năm 2009, toàn tỉnh
có 1.049 thôn, khu phố có tổ chức đảng, chiếm 82,5% tổng số thôn, khu phố.
6.5. Công tác kiểm tra, giám sát.
Các cấp uỷ đảng đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ
trương, nghị quyết của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỉ luật
đảng; chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch và triển khai thực hiện công
tác kiểm tra, giám sát; tập trung kiểm tra các cơ quan, đơn vị và lĩnh vực, công
việc dễ nảy sinh tiêu cực; giám sát việc thực hiện tiêu chuẩn đảng viên, cấp uỷ
viên, những điều cán bộ, đảng viên và công chức không được làm. Giám sát tổ
chức đảng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước. Việc xem xét thi hành kỉ luật đối với tổ chức đảng
và đảng viên đã thực hiện cơ bản đúng phương hướng, phương châm, nguyên
tắc, trình tự thủ tục và thẩm quyền; có tác dụng giáo dục phòng ngừa, góp phần
phòng chống tham nhũng, lãng phí, làm trong sạch nội bộ Đảng, nâng cao sức
chiến đấu, năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng và đảng viên. Quan tâm củng cố,
kiện toàn đội ngũ cán bộ kiểm tra; kịp thời xây dựng các quy chế, quy định,
từng bước đưa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đi vào nề nếp.
Trong nhiệm kỳ, các cấp ủy đã kiểm tra... lượt tổ chức đảng và... lượt đảng
viên, kết luận... tổ chức,... đảng viên có khuyết điểm, vi phạm. Uỷ ban kiểm tra
các cấp đã kiểm tra... lượt tổ chức đảng và... lượt đảng viên, phát hiện có... tổ
chức đảng,... đảng viên có vi phạm. Đã tiến hành kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối
21
NQ: Hàng năm kết nạp từ 1.300 đảng viên mới trở lên.
12
với... tổ chức đảng,... đảng viên. Đã xử lí kỉ luật 21 tổ chức đảng và... đảng viên
(trong đó có... tổ chức đảng,... đảng viên xử lí sau kiểm tra dấu hiệu vi phạm).
Cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra các cấp giám sát... tổ chức đảng,... đảng viên; phát
hiện có... tổ chức và... đảng viên có dấu hiệu vi phạm.
6.6. Lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chính quyền các cấp.
Trong nhiệm kỳ qua, mặc dù tình hình thế giới và trong nước có nhiều
diễn biến phức tạp, nhưng Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, chính
sách phù hợp nhằm ổn định chính trị, tạo điều kiện phát triển kinh tế, đảm bảo
an sinh xã hội, nâng cao mức sống nhân dân; mặt khác, trong quá trình thực
hiện nhiệm vụ, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo đã phát huy
trách nhiệm, thức phục vụ nhân dân, kịp thời giải quyết những vấn đề bức
xúc... đã góp phần củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chính quyền
các cấp.
II. NHỮNG HẠN CHẾ, YẾU KÉM.
1. Lĩnh vực kinh tế.
Tỉ trọng nông nghiệp trong cơ cấu GDP còn cao, chuyển dịch theo hướng
công nghiệp, dịch vụ chậm22. Khả năng hội nhập, sức cạnh tranh của nền kinh
tế địa phương thấp. Quy mô các doanh nghiệp nhỏ, thiết bị, công nghệ lạc hậu,
vùng nguyên liệu và thị trường tiêu thụ không ổn định. Diện tích rừng, đất rừng
tiếp tục bị lấn chiếm. Sản phẩm du lịch chưa phong phú về chủng loại và hạn
chế về chất lượng, một số danh lam thắng cảnh bị xuống cấp. Mạng lưới
thương mại ở vùng sâu, vùng xa chậm phát triển. Tỉ lệ huy động GDP vào ngân
sách chưa đạt mục tiêu đề ra. Kết cấu hạ tầng yếu kém và thiếu đồng bộ, đặc
biệt là ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Kinh tế tập thể hoạt động kém hiệu quả.
Kinh tế tư nhân phát triển nhanh về số lượng, nhưng phần lớn có quy mô nhỏ,
sức cạnh tranh thấp. Hoạt động hợp tác kinh tế, liên doanh, liên kết sản xuất
với các địa phương trong cả nước chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; liên kết
giữa các thành phần kinh tế, liên kết giữa “4 nhà” chưa được quan tâm đúng
mức. Công tác đền bù giải phóng mặt bằng, tiến độ triển khai các dự án chậm,
nhất là một số công trình, dự án trọng điểm.
2. Lĩnh vực văn hóa- xã hội.
Thực hiện xã hội hoá các lĩnh vực văn hóa- xã hội chưa đều, chỉ tập trung
ở một số đô thị lớn, một số ngành có lợi thế. Cơ cấu, quy mô đào tạo nghề, chất
lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội. Tỉ lệ hộ nông thôn sử
dụng nước hợp vệ sinh chưa đạt mục tiêu đề ra. Đời sống của một bộ phận
nhân dân còn nhiều khó khăn, đặc biệt là ở nông thôn và vùng đồng bào dân
22
NQ: Nông nghiệp 36- 38%, dịch vụ 36- 38%, công nghiệp- xây dựng 26%. Thực hiện: nông nghiệp 49%, dịch vụ
31%, công nghiệp- xây dựng 20%.
13
tộc thiểu số; khoảng cách giàu nghèo có xu hướng giãn ra23, nguy cơ tái nghèo
cao. Quản lí nhà nước trên lĩnh vực văn hóa chưa chặt chẽ, để một số tác phẩm
có nội dung độc hại, thiếu lành mạnh xâm nhập vào các tầng lớp nhân dân, nhất
là đối với lớp trẻ. Tình trạng xem thường kỉ cương, pháp luật, chống người thi
hành công vụ, dùng bạo lực trong quan hệ ứng xử vẫn đang tồn tại trong một
bộ phận dân cư, kể cả trong học đường vẫn chưa được ngăn chặn có hiệu quả.
3. Về quốc phòng, an ninh và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.
3.1. Về quốc phòng, an ninh.
Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân về âm mưu
“Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ và các hoạt động chống phá của các thế
lực thù địch chưa sâu sắc; một số chủ quan, mơ hồ, mất cảnh giác. Tình hình an
ninh nông thôn còn tiềm ẩn yếu tố mất ổn định; thực lực chính trị ở nhiều cơ sở
còn yếu, chưa đủ khả năng giải quyết triệt để những vấn đề phát sinh. Tội phạm
hình sự, các tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông diễn biến phức tạp.
3.2. Giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.
Một số ngành, địa phương chưa thực hiện nghiêm Luật Khiếu nại, tố cáo;
việc phân loại, xử lí đơn thư và quản lí hồ sơ chưa chặt chẽ, chế độ thông tin
báo cáo chưa kịp thời; giải quyết đơn khiếu nại trên lĩnh vực đền bù, giải phóng
mặt bằng còn chậm, có trường hợp thiếu chính xác; xác định thẩm quyền giải
quyết một số nơi chưa đúng, có biểu hiện đùn đẩy trách nhiệm; việc thực hiện
các quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật còn chậm, có trường
hợp chưa đúng trình tự thủ tục… gây bức xúc trong nhân dân.
4. Xây dựng chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.
4.1. Xây dựng chính quyền.
- Tổ chức, hoạt động của bộ máy chính quyền cơ sở một số địa phương
còn bất cập so với yêu cầu nhiệm vụ. Công tác giám sát, thẩm định của hội
đồng nhân dân chưa toàn diện; chất lượng chất vấn và tiếp xúc cử tri trước, sau
các kỳ họp ở nhiều địa phương chưa cao.
Công tác quản lí, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện của ủy ban nhân
dân các cấp còn một số mặt hạn chế; hiệu lực, hiệu quả chưa cao; chưa chấp
hành nghiêm kỉ luật, kỉ cương trong quản lí nhà nước, nhất là quản lí quy
hoạch, xây dựng, quản lí đô thị, đất đai và tài nguyên khoáng sản.
Cải cách hành chính chậm, hiệu quả còn thấp. Sự phối hợp giữa các cấp,
các ngành trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhất là giải quyết các yêu cầu của
nhân dân, các doanh nghiệp chưa hiệu quả. Tinh thần trách nhiệm, thức phục
vụ nhân dân của một bộ phận công chức, viên chức còn thấp.
23
Theo điều tra năm 2008, khoảng cách giàu, nghèo của tỉnh là 8,24 lần (của Tây Nguyên là 8,3 lần; của cả nước là 8,6
lần), trong đó khu vực thành thị là 6,03 lần và khu vực nông thôn là 9,42 lần;
14
- Chất lượng điều tra, truy tố, xét xử một số vụ án chưa đáp ứng yêu cầu
cải cách tư pháp. Sự phối kết hợp giữa các cơ quan tư pháp chưa thật chặt chẽ,
nhiều vụ việc chậm giải quyết; số án bị hủy, cải sửa còn chiếm tỉ lệ cao. Trình
độ, năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháp có mặt còn hạn chế; tinh
thần trách nhiệm của một bộ phận cán bộ chưa cao.
- Nhận thức của một số cấp ủy đảng, chính quyền và cán bộ, đảng viên về
phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí chưa đầy đủ và
sâu sắc; chưa thể hiện tính tự giác cao trong tổ chức thực hiện, nên kết quả đạt
được còn nhiều hạn chế, nhất là trong lĩnh vực quản lí đất đai, xây dựng cơ
bản, đền bù giải phóng mặt bằng, mua sắm, sử dụng tài sản công...
4.2. Xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.
Nhận thức của một số cấp uỷ, chính quyền về công tác dân vận còn hạn
chế; một vài nơi còn xem công tác vận động quần chúng là công việc của Mặt
trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị- xã hội nên thiếu quan tâm chỉ đạo thực
hiện. Sự phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể với chính quyền các cấp
trong chỉ đạo, giải quyết những vấn đề phát sinh ở địa phương chưa chặt chẽ,
đồng bộ và hiệu quả. Số lượng đoàn viên, hội viên của các đoàn thể đông
nhưng chưa mạnh; một số tổ chức ở cơ sở gặp nhiều khó khăn trong tập hợp
lực lượng, tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng đời sống văn hóa
ở khu dân cư...
Nội dung, phương thức vận động quần chúng của Mặt trận Tổ quốc, các
đoàn thể chậm đổi mới; xu hướng hành chính hoá trong tổ chức đoàn thể chậm
khắc phục. Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở nhiều nơi chưa tốt và còn hình
thức.
5. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
- Công tác tư tưởng chưa theo kịp với diễn biến tình hình; thiếu nhạy bén
trong thông tin, định hướng dư luận xã hội; chưa trực diện đấu tranh với các
quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch. Việc giáo dục chính trị
tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng
và pháp luật của Nhà nước trong nhân dân chưa thường xuyên, chất lượng và
hiệu quả chưa cao. Tệ tham nhũng, lãng phí, tình trạng suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống cả trong Đảng và trong xã hội chưa được khắc phục
có hiệu quả.
Kết quả thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh” ở một số địa phương, đơn vị còn yếu, chưa gắn Cuộc vận
động với thực hiện nhiệm vụ chính trị, chậm xây dựng và nhân rộng mô hình,
điển hình tốt.
- Một số tổ chức cơ sở đảng thiếu tính chiến đấu, có biểu hiện mất đoàn
kết nội bộ, chưa thực hiện tốt vai trò hạt nhân chính trị; hạn chế cả về tư duy và
năng lực lãnh đạo, nhất là lãnh đạo kinh tế; trong lãnh đạo còn can thiệp sâu
15
vào công tác quản lí, điều hành của chính quyền. Năng lực, trách nhiệm cán bộ,
đảng viên ở một số nơi còn thấp. Công tác phát triển đảng viên ở khu vực xã,
phường, thị trấn và trong các doanh nghiệp chậm. Công tác xây dựng, phát
triển tổ chức đảng, đảng viên trong các doanh nghiệp còn yếu kém, phát triển
đảng viên ở xã, phường, thị trấn khó khăn.
Quy hoạch cán bộ có nơi, có lúc chưa gắn với đào tạo, bồi dưỡng, bố trí
công tác; chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ còn một số mặt hạn chế. Chậm
khắc phục tình trạng hụt hẫng về đội ngũ cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu
số.
- Nội dung kiểm tra, giám sát của một số cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra còn dàn
trải; một số cuộc kiểm tra còn hình thức, chưa chú trọng kiểm tra việc sửa
chữa, khắc phục thiếu sót, khuyết điểm... Đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra
thiếu, chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao.
III. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT.
Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, Đảng bộ và nhân dân các
dân tộc trong tỉnh đã nỗ lực, phấn đấu vượt qua khó khăn, thách thức và đạt
được những thành tựu quan trọng, thực hiện được mục tiêu đưa Lâm Đồng
thoát khỏi tình trạng chậm phát triển. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, quy mô
và chất lượng nền kinh tế được nâng lên đáng kể, một số ngành và lĩnh vực
phát triển vượt bậc; kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội được chú trọng đầu tư, tạo
điều kiện cho sự bứt phá về phát triển kinh tế- xã hội những năm qua, đồng thời
là cơ sở quan trọng cho sự phát triển nhanh và bền vững trong những năm sau.
Lĩnh vực văn hoá- xã hội có nhiều tiến bộ: An sinh xã hội được đảm bảo,
hộ nghèo giảm, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên; đặc
biệt là các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe của nhân dân, ứng
dụng khoa học- công nghệ vào sản xuất và đời sống... có những bước phát triển
quan trọng.
An ninh chính trị, trật tự xã hội tiếp tục ổn định. Công tác xây dựng Đảng
và hệ thống chính trị có nhiều chuyển biến tích cực; năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng được nâng lên, cơ bản thể hiện được vai trò là
hạt nhân chính trị lãnh đạo ở cơ sở. Việc thực hiện các nguyên tắc của Đảng,
đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ được các tổ chức đảng chú trọng. Hiệu
lực, hiệu quả quản lí nhà nước được nâng lên; vai trò của Mặt trận Tổ quốc và
các đoàn thể nhân dân được khẳng định. Đoàn kết trong Đảng và đồng thuận
trong xã hội ngày càng được tăng cường, củng cố.
Tuy vậy, khả năng hội nhập, năng lực cạnh tranh của tỉnh thấp; chất lượng,
hiệu quả, tính bền vững của nền kinh tế còn hạn chế; công nghiệp, dịch vụ
chậm phát triển; kết cấu hạ tầng yếu và thiếu đồng bộ. Tổ chức thực hiện các
chương trình, dự án đầu tư chậm, chưa quyết liệt; sự phối hợp giữa các cấp, các
ngành liên quan chưa tốt, đặc biệt là trong đền bù giải phóng mặt bằng. Nhiều
16
vấn đề xã hội bức xúc như lao động, việc làm, ô nhiễm môi trường... chưa được
giải quyết kịp thời; đời sống của một bộ phận nhân dân, đặc biệt là nông dân,
vùng dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn. An ninh nông thôn còn tiềm ẩn yếu
tố mất ổn định. Chất lượng lãnh đạo, hoạt động của hệ thống chính trị một số
địa phương chưa đồng bộ; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ
sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở một số nơi còn hạn chế.
IV. NGUYÊN NHÂN.
1. Nguyên nhân thành tựu.
Việc thực hiện đường lối đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng đã
tạo điều kiện cho tỉnh đẩy mạnh thu hút đầu tư, tiếp thu công nghệ, kĩ thuật,
giống mới, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm; được các bộ, ngành Trung
ương giúp tỉnh giải quyết khó khăn, hỗ trợ đầu tư thông qua các dự án, chương
trình mục tiêu; song chủ yếu, do những nguyên nhân chủ quan sau:
- Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã nhận thức đúng,
vận dụng sáng tạo các chủ trương, chính sách của Trung ương, đề ra chủ
trương, chính sách phù hợp với thực tiễn; tập trung chỉ đạo đẩy mạnh công tác
vận động quần chúng, phát huy dân chủ, huy động sức mạnh toàn dân để giải
quyết những vấn đề quan trọng, bức xúc của địa phương.
- Tỉnh ủy và nhiều cấp ủy đảng đã đổi mới nội dung, phương thức lãnh
đạo, điều chỉnh quy chế làm việc, củng cố sự đoàn kết nội bộ, tạo sự đồng
thuận xã hội, sự đồng bộ trong triển khai thực hiện nhiệm vụ.
- Đa số cán bộ, công chức của tỉnh đã được rèn luyện, thử thách, có bản
lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ, năng lực cụ thể hoá và tổ chức thực hiện
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Nhiều cán bộ có tư duy và
phong cách lãnh đạo khoa học, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước
Đảng và nhân dân.
- Nhân dân các dân tộc, các doanh nghiệp trong tỉnh luôn cố gắng, năng
động, sáng tạo, nghiên cứu, học hỏi, ứng dụng những phương pháp, công nghệ
tiên tiến, có hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội của địa
phương.
2. Nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm.
Những hạn chế, khuyết điểm trong nhiệm kỳ qua có nguyên nhân khách
quan do điểm xuất phát về kinh tế- xã hội của tỉnh thấp, kết cấu hạ tầng chưa
đồng bộ, xa các trung tâm kinh tế lớn; đặc biệt, trong những năm gần đây, kinh
tế địa phương chịu sự tác động bởi tình hình khủng hoảng tài chính và suy
thoái kinh tế; thiên tai, dịch bệnh; hoạt động chống phá chính quyền và chia rẽ
khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch diễn biến phức tạp…
Nhưng chủ yếu, do các nguyên nhân chủ quan sau:
- Năng lực lãnh đạo của cấp ủy đảng, hiệu quả hoạt động của chính quyền
17
và chất lượng hoạt động của đoàn thể ở một số nơi còn hạn chế; một số địa
phương, đơn vị và cán bộ lãnh đạo vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào cấp
trên, chưa có quyết tâm cao trong tổ chức thực hiện. Việc thực hiện nguyên tắc
tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình ở một số tổ chức đảng
chưa triệt để. Ý thức chấp hành kỉ luật, kỉ cương, tinh thần trách nhiệm của một
số đơn vị, địa phương và cán bộ, đảng viên chưa nghiêm, làm hạn chế đến chất
lượng, hiệu quả lãnh đạo của Đảng bộ.
- Công tác vận động quần chúng chưa đổi mới kịp với yêu cầu nhiệm vụ.
Việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các
đoàn thể chính trị- xã hội trên một số lĩnh vực còn lúng túng, hiệu quả vận
động đoàn viên, hội viên chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước chưa cao.
- Trình độ, năng lực và phẩm chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất
là một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp chưa theo kịp với yêu cầu đổi mới;
chưa dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; một số cán bộ lãnh đạo chưa
thực sự chăm lo công tác xây dựng Đảng, củng cố tổ chức, hoạt động của Mặt
trận Tổ quốc và các đoàn thể.
V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM.
Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo trong nhiệm kỳ qua, rút ra một số bài học
kinh nghiệm:
1. Phát huy dân chủ, giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, củng cố
khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận xã hội trong lãnh đạo, thực
hiện nhiệm vụ chính trị.
2. Tập trung xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh toàn diện
nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng,
hiệu lực quản lí của chính quyền, chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể.
3. Xác định rõ tiềm năng, thế mạnh; lựa chọn đúng nội dung đột phá, các
chương trình trọng tâm, công trình trọng điểm và quyết tâm cao, chỉ đạo quyết
liệt trong tổ chức thực hiện; trong chỉ đạo phải luôn quan tâm đến chất lượng,
hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển. Thường xuyên kiểm tra, giám sát
việc thực hiện đối với cấp dưới để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh.
4. Bên cạnh việc đẩy mạnh thu hút đầu tư, phải coi trọng phát huy nội lực,
đặc biệt là về vốn, công nghệ, lao động, năng lực tổ chức thực hiện để tiếp
nhận các nguồn vốn đầu tư. Ưu tiên đầu tư phát triển và thu hút đầu tư vào các
lĩnh vực có lợi thế so với các địa phương khác.
5. Lãnh đạo phát triển kinh tế phải được tiến hành đồng bộ với giải quyết
các vấn đề xã hội, quốc phòng- an ninh và xây dựng hệ thống chính trị; quan
tâm xây dựng vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
18
Phần thứ hai
PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU,
NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP 2011- 2015
I. THỜI CƠ, THÁCH THỨC.
1. Thời cơ.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ IX trong bối cảnh thế giới
đang có xu thế hòa bình, hợp tác là chủ yếu; toàn cầu hóa kinh tế tạo điều kiện
cho từng quốc gia mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, phát triển nền kinh tế
tri thức, tiếp cận khoa học- công nghệ hiện đại. Ở trong nước, hoà bình, ổn định
chính trị tiếp tục được giữ vững; việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế cùng
với những thành tựu trong thời gian qua tạo điều kiện để cả nước đẩy nhanh
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Ở trong tỉnh, có nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên và những thành quả
đạt được, đặc biệt là kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ
VIII, là tiền đề quan trọng cho sự phát triển nhanh, bền vững hơn trong những
năm tới.
2. Thách thức.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế phải chấp nhận cạnh tranh ngày càng
gay gắt; xung đột cục bộ về sắc tộc, tôn giáo, lãnh thổ và những vấn đề xã hội
mang tính toàn cầu như đói nghèo, thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường,
khủng bố... diễn biến phức tạp. Ở trong nước, cũng gặp khó khăn, thách thức
do những hạn chế, yếu kém nội tại chậm được khắc phục, trong lúc các thế lực
thù địch đẩy mạnh thực hiện âm mưu “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, tập
hợp lực lượng, tìm mọi thủ đoạn chống phá Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội
chủ nghĩa.
Ở trong tỉnh, bên cạnh những khó khăn chung của đất nước, còn phải đối
mặt với nhiều khó khăn của một tỉnh vùng Tây Nguyên, đó là xa các trung tâm
kinh tế lớn, điểm xuất phát của nền kinh tế thấp, khả năng cạnh tranh yếu, cơ
sở hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu; chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, di
dân tự do tiếp tục tăng, tỉ lệ hộ nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số cao,
chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị lớn; các vấn đề về khiếu nại,
tố cáo, cùng với sự chống phá của các thế lực thù địch là nguyên nhân có khả
năng gây mất ổn định chính trị.
Trong bối cảnh đó, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh phải quyết
tâm và nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết với tinh thần "Đoàn kết,
đổi mới, trách nhiệm, kỉ cương, phát huy mọi nguồn lực, đưa Lâm Đồng phát
triển nhanh và bền vững".
II. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU.
19
1. Phương hướng, mục tiêu tổng quát 5 năm 2011- 2015.
Phương hướng, mục tiêu tổng quát 5 năm 2011- 2015 là: Giữ vững đoàn
kết thống nhất trong Đảng bộ, trong hệ thống chính trị, củng cố khối đại đoàn
kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận xã hội; phát huy sức sáng tạo, tiếp tục đổi
mới toàn diện, mạnh mẽ, đề cao tinh thần trách nhiệm, thức chấp hành kỉ
luật, kỉ cương của đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; phát
huy và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển kinh tế- xã hội, giữ
vững quốc phòng- an ninh, xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, đưa Lâm
Đồng phát triển nhanh và bền vững.
2. Mục tiêu cụ thể.
2.1. Về kinh tế.
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân 5 năm đạt 13-14%/năm.
- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm đạt 76.000- 77.000 tỉ đồng, tăng
bình quân 17,3%/năm.
- Tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm đạt 2.800 triệu USD.
- Tỉ lệ huy động vào ngân sách nhà nước bình quân hàng năm đạt 14,5-
15% GDP, trong đó thuế và phí đạt 9,3- 9,5% GDP.
Đến năm 2015:
- GDP bình quân đầu người đạt 39- 40 triệu đồng (khoảng 2.100 USD),
gấp 2- 2,1 lần so với năm 2010.
- Cơ cấu GDP: nông- lâm- thủy sản 39,3%, công nghiệp và xây dựng
25,3%, dịch vụ 35,4%.
- Giá trị sản phẩm thu hoạch trên 1 ha đất canh tác bình quân đạt 100 triệu
đồng/năm.
- Duy trì tỉ lệ che phủ rừng đạt 62%.
2.2. Về văn hóa, xã hội.
- Giải quyết việc làm mới hàng năm từ 28.000- 30.000 lao động.
- Giảm tỉ lệ sinh bình quân hàng năm 0,3- 0,4%o.
Đến năm 2015:
- Có 90% dân số đô thị được sử dụng nước sạch; 85% dân số nông thôn sử
dụng nước hợp vệ sinh.
- Có 70% học sinh trong độ tuổi tốt nghiệp trung học phổ thông và tương
đương; có 45- 50% số trường học đạt chuẩn quốc gia.
- Có 100% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; nâng cấp các bệnh viện huyện
thành bệnh viện hạng II.
- Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn dưới 15%.
20
- Có 35- 40% lao động đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo24.
- Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên dưới 1,3%. Quy mô dân số 1,3 triệu người.
- Tỉ lệ hộ nghèo còn dưới 3%; trong đó vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn
dưới 15%25.
- Có ít nhất 30 xã cơ bản đạt các tiêu chí về nông thôn mới.
- Có 25% xã, phường, thị trấn; 75% thôn, tổ dân phố và 100% cơ quan đạt
danh hiệu tiêu chuẩn văn hóa; 85% số hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn
hóa.
2.3. Giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng- an ninh.
2.4. Xây dựng hệ thống chính trị.
- Hàng năm, có ít nhất 70% tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh.
- Mỗi năm, kết nạp từ 1.700 đảng viên trở lên.
- Hàng năm, các đoàn thể chính trị- xã hội tập hợp đoàn viên, hội viên đạt
trên 75%; có ít nhất 70% tổ chức cơ sở vững mạnh.
Đến năm 2015:
- Có ít nhất 80% thôn, tổ dân phố, 90% đơn vị sự nghiệp có tổ chức đảng.
- 100% tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn là đảng bộ cơ sở.
- Có ít nhất 80% tổ chức chính quyền phường, thị trấn; 60% tổ chức chính
quyền xã đạt trong sạch vững mạnh.
- 100% các chức danh cán bộ chuyên trách và công chức cơ sở xã, phường,
thị trấn đạt chuẩn hóa về chuyên môn nghiệp vụ; 70% được đào tạo trung cấp lí
luận chính trị trở lên.
III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP.
1. Lĩnh vực kinh tế.
1.1. Quy hoạch, cơ cấu lại nền kinh tế.
- Coi trọng công tác nghiên cứu, xây dựng quy hoạch; thuê tổ chức tư vấn
quốc tế có uy tín, kinh nghiệm xây dựng một số đồ án quy hoạch mà địa
phương chưa có khả năng thực hiện. Tiếp tục rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy
hoạch tổng thể kinh tế- xã hội, quy hoạch vùng, ngành… Tăng cường quản lí
quy hoạch, nâng cao trách nhiệm, thức chấp hành pháp luật của mọi tầng lớp
nhân dân trong việc thực hiện quy hoạch.
- Cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu
quả, sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa; chú trọng đúng mức sự phát triển
của một số ngành, lĩnh vực có lợi thế, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái.
24
Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2015, cả nước có 45% lao động đang làm việc đã qua đào tạo.
25
Theo tiêu chí hiện hành (QĐ 170 của TTg CP, ngày 08.7.2005).
21
1.2. Xác định các chương trình trọng tâm, công trình trọng điểm.
a. 10 chương trình trọng tâm.
- Chương trình phát triển công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp.
- Chương trình phát triển ngành dịch vụ- du lịch.
- Chương trình phát triển nông nghiệp công nghệ cao.
- Chương trình xây dựng nông thôn mới.
- Chương trình phát triển hạ tầng kinh tế- xã hội.
- Chương trình phát triển doanh nghiệp và xây dựng bản quyền, thương
hiệu hàng hóa.
- Chương trình nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học- công nghệ
vào sản xuất, đời sống.
- Chương trình phát triển nguồn nhân lực.
- Chương trình nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin.
- Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững.
b. 16 công trình trọng điểm.
- Các khu công nghiệp Lộc Sơn, Tân Phú, Phú Hội.
- Dự án thuỷ điện Đồng Nai 5; các dự án thuỷ lợi Đạ Sị, Đạ Lây.
- Các khu du lịch hồ Tuyền Lâm, hồ Đại Ninh, Đan Kia- Đà Lạt.
- Đường cao tốc Dầu Giây- Liên Khương; các đường liên tỉnh 721, 725,
đường vành đai thành phố Đà Lạt, thành phố Bảo Lộc.
- Quảng trường thành phố Đà Lạt, Trung tâm văn hóa thể thao Lâm Đồng.
c. Các ngành, địa phương rà soát, bổ sung, điều chỉnh các chương trình
trọng tâm, công trình trọng điểm, xây dựng kế hoạch, dự án cụ thể, tập trung
chỉ đạo phát huy mọi nguồn lực, tổ chức thực hiện đúng tiến độ, tạo động lực
thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển nhanh và bền vững.
1.3. Phát triển công nghiệp- xây dựng.
Phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng, sức cạnh
tranh, tạo điều kiện nâng cao tỉ trọng công nghiệp- xây dựng trong cơ cấu kinh
tế. Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông- lâm sản có lợi thế
cạnh tranh và sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ, công nghiệp khai thác và chế
biến khoáng sản, công nghiệp năng lượng. Thu hút đầu tư phát triển hạ tầng để
lấp đầy diện tích các khu công nghiệp Phú Hội, Lộc Sơn, 40% các khu công
nghiệp Đại Lào, Tân Phú và 50% các cụm, điểm công nghiệp vào năm 2015.
Chú trọng thu hút những tập đoàn kinh tế có tiềm năng về công nghệ, thị
trường, vốn đầu tư để xây dựng những dự án có quy mô lớn, làm động lực phát
triển công nghiệp; tạo điều kiện phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp
phục vụ nông nghiệp, nông thôn.
22
1.4. Phát triển các ngành dịch vụ.
Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến du lịch, thương mại; hỗ trợ các doanh
nghiệp mở rộng thị trường, xây dựng thương hiệu, quảng bá hình ảnh, áp dụng
tiêu chuẩn hệ thống quản lí chất lượng phù hợp để nâng cao tính cạnh tranh của
sản phẩm hàng hóa. Tiếp tục kêu gọi đầu tư có chọn lọc; tập trung sức hỗ trợ,
tạo điều kiện tốt nhất để các nhà đầu tư triển khai dự án.
a. Về du lịch.
Tập trung các nguồn lực đầu tư xây dựng, phát triển các trung tâm du lịch,
nghỉ dưỡng chất lượng cao, quan tâm đào tạo nguồn nhân lực cho hoạt động du
lịch, đáp ứng yêu cầu phát triển các loại hình du lịch, dịch vụ có lợi thế của địa
phương. Xây dựng thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận trở thành trung tâm du
lịch nghỉ dưỡng chất lượng cao của cả nước và khu vực. Tạo điều kiện tốt nhất
để đẩy nhanh tiến độ đầu tư các dự án tại khu du lịch hồ Tuyền Lâm, Đan Kia-
Đà Lạt, hồ Đại Ninh, Cam Ly- Măng Lin, Langbian, Đam M’Bri... Đến năm
2015, có trên 15 khu, điểm tham quan du lịch được đầu tư, nâng cấp theo chủ
đề. Tập trung nâng cấp môi trường cảnh quan thành phố Đà Lạt và các trục
đường vào Đà Lạt; tôn tạo, nâng cấp các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh,
bảo tồn và khôi phục những khu biệt thự cổ tại Đà Lạt, xây dựng và phát triển
các làng nghề truyền thống… Đầu tư hạ tầng một số khu du lịch mới để kêu gọi
đầu tư khai thác; gắn với khu vực miền Trung- Tây Nguyên, miền Đông Nam
bộ, hình thành các tam giác phát triển du lịch.
Thời kỳ 2011- 2015, lượng khách tăng bình quân hàng năm 10- 11%; đến
năm 2015 đạt 4,5- 5,0 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế chiếm 10%.
Tăng thời gian lưu trú bình quân của khách lên 2,7 ngày.
b. Về thương mại.
Tiếp tục thu hút đầu tư phát triển các trung tâm thương mại, hệ thống siêu
thị, chợ trung tâm có chất lượng cao; triển khai chương trình phát triển hệ
thống chợ nông thôn, khuyến khích mở rộng các hình thức kinh doanh, mua
bán, trao đổi hàng hoá ở vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế- xã hội khó khăn. Đa
dạng hóa các loại hình thương mại, bảo đảm hàng hóa lưu thông thông suốt, thị
trường ổn định trên từng địa bàn; đồng thời với tăng cường công tác kiểm tra,
kiểm soát thị trường, bình ổn giá cả. Giữ vững thị trường truyền thống, tiếp tục
mở rộng thị trường xuất khẩu; ưu tiên nhập khẩu vật tư, thiết bị và công nghệ
tiên tiến.
c. Một số loại hình dịch vụ khác.
Quan tâm đầu tư nâng cấp phương tiện vận tải, đáp ứng nhu cầu vận
chuyển; tăng cường các giải pháp đảm bảo an toàn giao thông. Hiện đại hóa
mạng lưới dịch vụ bưu chính viễn thông và phát triển đồng bộ các dịch vụ phục
vụ cho sinh hoạt sản xuất, đời sống của nhân dân như tín dụng, ngân hàng, vận
23
tải, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, khoa học, công nghệ... Ứng dụng rộng rãi
công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn
thể, gắn với cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ
máy; đến năm 2015, cơ bản hoàn thành tin học hoá quản lí hành chính nhà
nước và vận hành tốt “Chính phủ điện tử”.
1.5. Phát triển nông- lâm nghiệp và kinh tế nông thôn.
a. Sản xuất nông- lâm nghiệp và thuỷ sản.
- Phát triển các vùng sản xuất cây công nghiệp, cây ăn quả, cây rừng và
chăn nuôi đại gia súc tập trung, tạo thành vùng nguyên liệu cho công nghiệp
chế biến và xuất khẩu. Đẩy nhanh việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công
nghệ trong sản xuất, chế biến, bảo quản và tiêu thụ nông- lâm sản. Tổng kết các
mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao để có định hướng quy hoạch phát
triển, bảo đảm sự phát triển bền vững của mô hình sản xuất này; bố trí lại cơ
cấu cây trồng, tập trung chuyển đổi cây Điều nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
đất. Phấn đấu đến năm 2015, giá trị sản phẩm thu hoạch trên 1 ha đất canh tác
bình quân đạt 100 triệu đồng.
- Tăng cường công tác quản lí bảo vệ rừng, nhất là đối với rừng phòng hộ,
rừng đặc dụng. Tiếp tục thực hiện xã hội hoá nghề rừng, kêu gọi các nguồn lực
đầu tư phát triển lâm nghiệp thành ngành kinh tế kĩ thuật; thực hiện đề án quản
lí, sử dụng và phát triển bền vững rừng sản xuất thông 3 lá tự nhiên nhằm khai
thác lợi thế của tỉnh. Hoàn thiện công tác giao, khoán rừng và đất lâm nghiệp
cho cộng đồng để hưởng lợi; hạn chế và tiến tới chấm dứt nạn phá rừng. Mở
rộng diện thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Quyết định
380 của Thủ tướng Chính phủ, cùng với các biện pháp khác nhằm đảm bảo
người dân có thể sống, làm giàu từ nghề rừng.
- Khuyến khích nuôi trồng thủy sản, trọng tâm là quy hoạch phát triển các
loại thuỷ sản có lợi thế của điạ phương như cá tầm, cá hồi gắn với chế biến,
tiêu thụ.
b. Kinh tế nông thôn.
Quy hoạch nông thôn gắn với phát triển đô thị và bố trí các cụm, điểm dân
cư, phát triển công nghiệp, dịch vụ, làng nghề tiểu- thủ công nghiệp; thực hiện
di giãn dân nội vùng và sắp xếp ổn định dân di cư tự do trên địa bàn. Triển khai
chương trình xây dựng nông thôn mới của xã Tân Hội (huyện Đức Trọng) và
11 xã điểm ở các huyện, thành phố để nhân rộng; đồng thời, phát động phong
trào xây dựng xã, thôn và hộ gia đình nông thôn mới trong toàn tỉnh.
Tiếp tục thực hiện các chương trình phát triển thủy lợi gắn với thủy điện;
chương trình kiên cố hóa kênh mương; đề án phát triển thủy lợi nhỏ vùng đồng
bào dân tộc... Từng bước xã hội hoá việc đầu tư phát triển và quản lí khai thác
các công trình cấp nước sạch trên địa bàn nông thôn. Phát triển giao thông
24
nông thôn, đến năm 2015, 100% đường trục xã, liên xã được nhựa hóa, bê tông
hóa; 36 xã đạt tiêu chí về giao thông trong Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn
mới; 30% đường trục thôn, xóm, hẻm, đường trục chính nội đồng được cứng
hóa. Thực hiện các dự án đầu tư để đến năm 2015, tỉ lệ hộ dùng điện ở nông
thôn đạt 95%.
Tập trung chỉ đạo, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững
các loại hình kinh tế tập thể. Rà soát, đánh giá chất lượng hoạt động để có kế
hoạch sắp xếp, kiện toàn tổ chức, hoạt động; có chính sách hỗ trợ về đất đai,
thuế, tín dụng, kĩ thuật, công nghệ, thông tin, xúc tiến thương mại, đào tạo nhân
lực... Tạo điều kiện giúp đỡ, thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững các hình
thức tổ chức sản xuất, các loại hình kinh tế tập thể ở nông thôn.
1.6. Đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chủ trương về tập trung nguồn
lực, tiếp tục đầu tư phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo quốc phòng- an ninh
vùng dân tộc thiểu số; ưu tiên đầu tư hạ tầng đồng bộ với đầu tư trực tiếp cho
sản xuất để đồng bào có điều kiện vươn lên cải thiện đời sống.
Tiếp tục thực hiện đầy đủ, kịp thời các cơ chế, chính sách đối với người
nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số như: hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước
sinh hoạt; hỗ trợ các mặt hàng thiết yếu; ưu tiên giao rừng, khoán quản lí bảo vệ
rừng cho hộ gia đình và cộng đồng trong thôn, buôn đồng bào dân tộc thiểu số tại
chỗ; thực hiện tốt các chính sách về giáo dục, khám, chữa bệnh cho người
nghèo, chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo...
Xây dựng chương trình, kế hoạch đào tạo, sử dụng, khắc phục tình trạng
hụt hẫng cán bộ người dân tộc thiểu số; coi đây là hướng đột phá trong việc đầu
tư toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
1.7. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng.
a. Về giao thông.
Phối hợp chặt chẽ với các ngành của Trung ương, đồng thời tích cực tìm
nguồn vốn để khởi công xây dựng đường cao tốc Dầu Giây- Liên Khương; đầu
tư nâng cấp các quốc lộ 20, 27, 28, 55; các tuyến đường tỉnh quan trọng như
721, 723, 725; tuyến đường sắt Bảo Lâm- Bình Thuận; đường vành đai thành
phố Đà Lạt, thành phố Bảo Lộc, các tuyến tránh quốc lộ qua các đô thị; hoàn
thành đường Trường Sơn Đông. Tiếp tục đầu tư nâng cấp đường nội thị, đáp
ứng tiêu chí đô thị; thực hiện đề án đầu tư giao thông nông thôn theo quy hoạch
được duyệt. Mở thêm các tuyến bay nội địa và quốc tế đi và đến sân bay Liên
Khương để đến năm 2015 có khả năng tiếp nhận 1 triệu lượt khách.
b. Về thuỷ điện, thuỷ lợi.
Tiếp tục thu hút đầu tư phát triển thủy điện theo quy hoạch. Đầu tư kiên cố
hoá kênh mương để phát huy tốt năng lực tưới tiêu của các công trình thủy lợi
25
hiện có. Ưu tiên đầu tư các công trình thủy lợi phục vụ tưới cho vùng cây công
nghiệp dài ngày và vùng sâu, vùng xa; tranh thủ nguồn vốn đầu tư của Trung
ương để xây dựng các công trình quy mô lớn. Đến năm 2015, đảm bảo tưới
trên 50% diện tích canh tác toàn tỉnh.
c. Về hạ tầng đô thị.
Rà soát toàn bộ quy hoạch xây dựng các đô thị để điều chỉnh, hoàn thiện.
Xây dựng quy hoạch khu đô thị mới tại 2 thành phố Đà Lạt và Bảo Lộc phục
vụ cho việc giãn dân khu vực trung tâm và công tác chỉnh trang đô thị. Thực
hiện Chương trình phát triển nhà ở đô thị, nhà ở cho sinh viên, công nhân và
đối tượng thu nhập thấp. Phát triển đồng bộ và hiện đại hóa mạng lưới giao
thông. Đầu tư xây dựng và nâng công suất các nhà máy cấp nước, mở rộng
mạng lưới cấp nước; xây dựng nhà máy xử lí chất thải rắn.
1.8. Phát triển kinh tế nhiều thành phần.
Tiếp tục thực hiện chính sách phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, xây
dựng nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa; trọng tâm là
tạo điều kiện nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà
nước; chăm lo phát triển đa dạng các loại hình kinh tế tập thể, khuyến khích
phát triển kinh tế trang trại ở nông thôn, kinh tế tư nhân, kinh tế hộ gia đình và
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Các cơ quan quản lí nhà nước quan tâm hướng dẫn, cung cấp thông tin,
đào tạo cán bộ, xúc tiến thương mại, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế
tiếp cận công nghệ, thị trường tín dụng và tiêu thụ sản phẩm… Có cơ chế,
chính sách phát triển các mối liên kết chặt chẽ giữa nông hộ với các doanh
nghiệp, tổ chức khoa học, hiệp hội, tổ chức dịch vụ sản xuất, chế biến, tiêu thụ
sản phẩm.
1.9. Khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường.
Thực hiện Chương trình nghị sự 21 của Lâm Đồng26 bằng các giải pháp
đồng bộ. Tăng cường quản lí nhà nước đi đôi với giáo dục, nâng cao nhận thức,
thức trách nhiệm của toàn xã hội về bảo vệ môi trường; có biện pháp ngăn
chặn có hiệu quả nạn cháy rừng, phá rừng, tình trạng khai thác tài nguyên trái
phép và các hành vi gây ô nhiễm môi trường, đảm bảo cho sự phát triển bền
vững. Tăng đầu tư nhà nước đi đôi với đẩy mạnh xã hội hoá, huy động mọi
nguồn lực bảo vệ môi trường; trước hết là các hoạt động thu gom, xử lí và tái
chế chất thải. Phát triển và ứng dụng công nghệ sạch hoặc công nghệ ít gây ô
nhiễm môi trường. Bảo đảm khai thác tài nguyên hợp lí và tiết kiệm; thực hiện
26
Là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế
(nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải
quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lí, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường;
phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lí và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên), bảo đảm phát triển
bền vững trong thế kỉ 21.
26
nghiêm các quy định về phục hồi môi trường các khu khai thác khoáng sản.
2. Lĩnh vực văn hoá- xã hội.
2.1. Về giáo dục- đào tạo, khoa học công nghệ và nguồn nhân lực.
a. Giáo dục- đào tạo.
Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục- đào tạo, thực hiện chuẩn hoá,
hiện đại hoá, xã hội hoá và từng bước hội nhập quốc tế.
Đổi mới phương pháp dạy và học, quan tâm chất lượng giáo dục toàn diện,
chú trọng giáo dục lí tưởng, đạo đức lối sống, thức trách nhiệm xã hội; đẩy
mạnh xã hội hoá giáo dục và đào tạo nhằm phát huy mọi nguồn lực đầu tư;
thực hiện liên kết đào tạo với một số cơ sở có uy tín trong nước và quốc tế, đa
dạng hoá các loại hình trường lớp và hình thức học tập; xây dựng đội ngũ cán
bộ quản lí và giáo viên các cấp đủ về số lượng, giỏi về chuyên môn, đảm bảo
về phẩm chất đạo đức, tâm huyết với nghề nghiệp.
Quan tâm xây dựng cơ sở vật chất trường lớp và đầu tư trang thiết bị phục
vụ dạy và học. Củng cố và phát triển các trung tâm giáo dục thường xuyên-
hướng nghiệp, các trung tâm học tập cộng đồng, đáp ứng nhu cầu học tập
thường xuyên của mọi người, mọi trình độ. Ưu tiên phát triển giáo dục vùng
đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa để giảm khoảng cách về chất
lượng dạy và học giữa các vùng trong tỉnh. Chuẩn bị các điều kiện để từng
bước xây dựng thành phố Đà Lạt trở thành một trong những trung tâm nghiên
cứu, đào tạo đa ngành của khu vực và cả nước.
b. Khoa học- công nghệ.
Nghiên cứu, ứng dụng và triển khai các đề tài, dự án khoa học và công
nghệ trên các lĩnh vực, góp phần tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh
tranh và sự phát triển nhanh, bền vững của nền kinh tế địa phương; phát triển
các công nghệ có tính đặc thù, có lợi thế so sánh và hiệu quả cao. Khuyến
khích và hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ trong các ngành,
phát triển sản phẩm công nghệ có hàm lượng khoa học cao trong các lĩnh vực
điện tử tin học, vật liệu mới, năng lượng mới, công nghệ sinh học.
c. Phát triển nguồn nhân lực.
Triển khai chương trình phát triển nguồn nhân lực, tập trung đào tạo nghề
cho lao động theo nhu cầu của xã hội; đặc biệt là thực hiện tốt Đề án đào tạo
nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 của Chính phủ. Mặt khác, khuyến
khích, hỗ trợ các doanh nghiệp đào tạo nghề cho người lao động, góp phần
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ khoa
học kĩ thuật, chuyên gia giỏi tại các khu, cụm, công nghiệp, du lịch; đào tạo
nâng cao phẩm chất, năng lực cho đội ngũ cán bộ công chức, cán bộ lãnh đạo,
quản lí. Chú trọng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, phát huy nhân tài.
Gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động, nâng tỉ lệ lao
27
động qua đào tạo và cơ cấu lại lực lượng lao động xã hội: đến năm 2015, tỉ
trọng lao động dịch vụ 25%, công nghiệp 15,4%, nông nghiệp 59,6%.
2.2. Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, dân số, kế hoạch hoá gia
đình và bảo vệ bà mẹ, trẻ em.
Tăng cường đầu tư của Nhà nước, đồng thời với đẩy mạnh xã hội hóa hoạt
động y tế; thường xuyên giáo dục, nâng cao y đức của đội ngũ cán bộ y tế đi
đôi với phát triển và nâng cao chất lượng mạng lưới dịch vụ khám, chữa bệnh,
các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở cơ sở; kiên quyết đấu tranh với các
hoạt động sai trái, tiêu cực trong hoạt động khám, chữa bệnh và làm tốt công
tác quản lí thị trường thuốc chữa bệnh. Có chính sách trợ giúp các đối tượng
chính sách, người nghèo, người có thu nhập thấp được tiếp cận dịch vụ y tế.
Phát triển mạng lưới y tế dự phòng đủ khả năng dự báo, giám sát, phát
hiện và khống chế các dịch bệnh và các tác nhân truyền nhiễm gây dịch nhằm
chủ động phòng, chống dịch.
Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ khám, điều trị
bệnh; đồng thời phải tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực y tế, đặc biệt
là thu hút đầu tư xây dựng các bệnh viện gắn điều trị với nghỉ dưỡng.
Thực hiện nghiêm pháp luật về dân số, duy trì mức sinh hợp lí, quy mô gia
đình ít con. Quan tâm công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ bà mẹ và
trẻ em, tạo môi trường lành mạnh để trẻ em được phát triển toàn diện. Thực
hiện bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ, tạo điều kiện để phụ nữ tham gia
học tập nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu công việc.
2.3. Về văn hoá, thông tin; thể dục, thể thao.
a. Về văn hoá, thông tin.
- Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hoá; tập trung xây dựng
môi trường văn hoá lành mạnh, nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang,
lễ hội, xây dựng xã, thôn, tổ dân phố, gia đình văn hóa; chú trọng xây dựng
nhân cách con người Việt Nam, trước hết là lòng tự tôn dân tộc, trách nhiệm xã
hội và thức chấp hành luật pháp. Nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân
dân, giảm chênh lệch về đời sống văn hóa tinh thần giữa các tầng lớp dân cư và
giữa các địa bàn trong tỉnh.
Nâng cao chất lượng thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hóa” gắn với thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh"; tập trung xây dựng các mô hình, điển hình tiên
tiến trong việc thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác, trong
thực hiện quy chế văn hoá công sở, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá
truyền thống, bảo tồn có chọn lọc những phong tục tập quán tốt đẹp, hình thành
nếp sống văn minh, gia đình văn hoá.
- Sắp xếp, nâng cao chất lượng hệ thống thông tin, báo chí, Internet, bảo
28
đảm quyền được thông tin và cơ hội được thông tin của nhân dân. Đổi mới cơ
chế quản lí, đẩy mạnh xã hội hoá lĩnh vực thông tin; quan tâm đầu tư các loại
hình báo chí, các chương trình phát thanh, truyền hình phục vụ yêu cầu thực
hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương; chú trọng các loại hình, chương trình
truyền thông dành cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Chỉ đạo đổi mới nội
dung, hình thức của Báo Lâm Đồng, Đài Phát thanh- Truyền hình Lâm Đồng
nhằm tăng khả năng chi phối thông tin của báo chí địa phương. Phủ sóng
truyền hình mặt đất đến 100% dân cư, mạng truyền hình cáp được triển khai tại
100% trung tâm các huyện, thành phố.
b. Thể dục, thể thao.
Quan tâm chỉ đạo phát triển phong trào thể dục, thể thao quần chúng; chú
trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ vận động viên thành tích cao. Đẩy mạnh xã
hội hóa các hoạt động thể dục, thể thao; đầu tư xây dựng hoàn chỉnh sân vận
động và khu trung tâm đủ tiêu chuẩn tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao
cấp quốc gia và khu vực.
2.4. Thực hiện các chính sách an sinh xã hội khác.
- Thực hiện chương trình hỗ trợ giảm nghèo của Chính phủ theo Nghị
quyết số 30a đối với huyện Đam Rông và vận dụng cho các xã, thôn nghèo của
tỉnh; đồng thời với phát huy mọi nguồn lực tiếp tục thực hiện các dự án giảm
nghèo khác và có biện pháp tích cực, cụ thể giúp đỡ các hộ cận nghèo, nhằm
xóa được nghèo một cách căn bản.
- Thực hiện đúng các chính sách xã hội, vận động toàn dân tham gia các
hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với những người có
công với cách mạng và các đối tượng chính sách xã hội khác.
3. Về quốc phòng, an ninh và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.
3.1. Về quốc phòng, an ninh.
Tiếp tục triển khai thực hiện tốt Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị
(khoá VIII) về Chiến lược an ninh quốc gia; Nghị quyết Trung ương 8 (khoá
IX) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Chỉ thị 05 của Bộ
Chính trị về đảm bảo an ninh quốc gia trong tình hình mới; các chương trình
quốc gia phòng, chống tội phạm, ma túy; chương trình hành động phòng,
chống buôn bán phụ nữ, trẻ em… Chủ động phát hiện, kiên quyết đấu tranh
ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù
địch, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Tăng cường công tác giáo dục quốc phòng để các tầng lớp nhân dân nhận
thức rõ âm mưu "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.
Bố trí thế trận quốc phòng, an ninh phù hợp với tình hình mới và kết hợp chặt
chẽ với phát triển kinh tế- xã hội. Phát huy mọi nguồn lực, lồng ghép các
chương trình, các dự án để xây dựng khu kinh tế- quốc phòng.
29
Xây dựng tiềm lực quốc phòng; củng cố nền quốc phòng toàn dân và thế
trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân vững chắc; kết hợp chặt chẽ phát triển
kinh tế- xã hội với quốc phòng- an ninh; chăm lo xây dựng lực lượng công an
nhân dân, quân đội nhân dân vững mạnh toàn diện; quan tâm chỉ đạo xây dựng
lực lượng dân quân tự vệ và dự bị động viên, công an viên có bản lĩnh chính trị
vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, làm nòng cốt trong việc giữ gìn trật
tự ở cơ sở.
Tăng cường và bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của
Đảng đối với lực lượng quân đội, công an; nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước
đối với sự nghiệp quốc phòng và bảo vệ an ninh quốc gia.
3.2. Giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.
Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác giải quyết
đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân; nâng cao trách nhiệm giám sát của các
tổ chức đoàn thể và nhân dân về công tác này. Đồng thời tăng cường công tác
quản lí nhà nước trên lĩnh vực kinh tế- xã hội, an ninh, quốc phòng nhằm hạn
chế thấp nhất những sơ hở, thiếu sót là nguyên nhân chính phát sinh khiếu nại,
tố cáo.
4. Xây dựng chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.
4.1. Xây dựng chính quyền.
- Đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân, uỷ ban
nhân dân; phát huy dân chủ, công khai trong thảo luận, chất vấn; thực hiện tốt
hơn công tác tiếp xúc, giải quyết kiến nghị của cử tri, công tác giám sát, thẩm
định của hội đồng, các ban của hội đồng và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp;
thực hiện tốt công tác phối hợp tiếp dân, giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo
của công dân theo quy định của luật pháp.
Tiếp tục đổi mới tư duy, phương thức chỉ đạo, điều hành của chính quyền
các cấp, bảo đảm thực hiện nghiêm quy chế làm việc của cấp uỷ, nghị quyết
của hội đồng nhân dân, đồng thời phát huy sự năng động, sáng tạo trong quản
lí, điều hành của ủy ban nhân dân và vai trò tập hợp, vận động quần chúng của
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.
Chỉ đạo thực hiện cải cách hành chính một cách đồng bộ trên tất cả các khâu,
từ tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đến thủ tục hành chính,
hiện đại hóa công sở. Công bố các chuẩn mực, quy định hành chính để nhân dân
giám sát, kiểm tra việc thực hiện. Nâng cao chất lượng cải cách thủ tục hành
chính theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” trong các cơ quan hành chính
nhà nước địa phương; có giải pháp cụ thể nâng cao năng lực, trách nhiệm, sự phối
hợp giữa các cơ quan, tổ chức nhà nước trong việc giải quyết các thủ tục hành
chính, nhất là trong lĩnh vực đầu tư, triển khai dự án, tạo môi trường cạnh tranh
bình đẳng.
30
Thực hiện triệt để các quy định về phân công, phân cấp quản lí nhà nước
giữa các cấp chính quyền, bảo đảm sự chủ động, tinh thần trách nhiệm của từng
cấp, từng ngành và sự quản lí thống nhất về quy hoạch, định hướng phát triển
của cơ quan nhà nước cấp trên.
Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ nhằm chuẩn hóa
đội ngũ cán bộ công chức nhà nước. Xây dựng phong cách làm việc khoa học,
năng động, hiệu quả, nâng cao khả năng tiếp cận, dự báo phát triển kinh tế- xã
hội địa phương trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; chủ động
đối phó với khó khăn, thách thức, những tác động tiêu cực từ bên ngoài đối với
nền kinh tế địa phương.
- Triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị về chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trọng tâm là cải cách hoạt động xét xử;
nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan điều tra, toà án nhân dân,
viện kiểm sát nhân dân các cấp. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật,
trợ giúp pháp lí, thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong các cơ quan tư
pháp, sự tham gia, giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; đổi mới
quy trình, thủ tục giải quyết công việc của các toà án; xây dựng và thực hiện
quy chế phối hợp công tác giữa các cơ quan tư pháp và cơ quan hành chính để
sớm phát hiện, xử lí chính xác, đúng pháp luật các loại tội phạm, tranh chấp
trong xã hội.
- Kiên trì thực hiện cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, gắn
với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên
truyền, giáo dục Luật Phòng, chống tham nhũng sâu rộng trong các tầng lớp
nhân dân; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra,
xử lí nghiêm minh, kịp thời, công khai, dứt điểm các hành vi tham nhũng; tăng
cường công tác kiểm tra trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị, địa phương
trong đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí; chú trọng các lĩnh vực có
nguy cơ tham nhũng cao như đầu tư xây dựng cơ bản, quản lí đất đai, thu chi
ngân sách, quản lí tài sản công.
Phát huy vai trò của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể,
các phương tiện thông tin đại chúng và của nhân dân trong việc giám sát cán
bộ, công chức; cổ vũ, động viên phong trào tiết kiệm trong sản xuất và tiêu
dùng của nhân dân.
Tăng cường công tác giám sát của các cấp, các ngành, đoàn thể và nhân
dân nơi cư trú; khuyến khích báo chí tham gia phát hiện, đấu tranh phòng
chống tham nhũng, lãng phí. Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan
phòng chống tham nhũng; có cơ chế phù hợp, bảo đảm an toàn cũng như các
quyền, lợi ích và phát huy trách nhiệm của tổ chức, cá nhân phát hiện, đấu
tranh hoặc báo cáo với cơ quan nhà nước, tổ chức đảng có thẩm quyền về hành
vi tham nhũng, lãng phí.
4.2. Xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.
31
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động quần chúng;
huy động sức mạnh của hệ thống chính trị để tuyên truyền, vận động các tầng
lớp nhân dân chấp hành nghiêm chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Chú trọng giáo dục, đào tạo, xây dựng và phát huy vai trò của các giai cấp, các
tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo... Gắn triển khai phong trào “Dân vận
khéo” với phát động phong trào thi đua yêu nước, trọng tâm là chăm lo xây
dựng sự đồng thuận xã hội, thực hiện tốt chính sách đại đoàn kết dân tộc của
Đảng; thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng- an
ninh, xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị.
Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc,
các đoàn thể nhân dân; phát huy vai trò nòng cốt tập hợp, đoàn kết nhân dân,
thực hiện Quy chế dân chủ, Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở, vai trò giám sát và phản
biện xã hội, tổ chức các phong trào thi đua yêu nước… kịp thời giải quyết
những vấn đề bức xúc, các quyền lợi chính đáng của nhân dân.
Thực hiện nghiêm các quy chế phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc và các
đoàn thể với chính quyền, các ban, ngành nhằm phát huy sức mạnh cả hệ thống
chính trị cùng vận động quần chúng. Duy trì, nâng cao chất lượng, hiệu quả
việc cấp uỷ, chính quyền các cấp định kỳ sinh hoạt với tập thể lãnh đạo Mặt
trận Tổ quốc và các đoàn thể.
Quan tâm kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân vận, Mặt trận Tổ
quốc, đoàn thể; tạo mọi điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể
chính trị- xã hội thực hiện tốt chức năng giám sát việc thực hiện Quy chế dân
chủ ở cơ sở và tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, nhất là cấp cơ
sở, vùng dân tộc, tôn giáo.
5. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
5.1. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với hoạt
động của hệ thống chính trị; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, năng
lực và hiệu quả lãnh đạo của các cấp uỷ đảng; gắn đổi mới phương thức lãnh
đạo với thực hiện nhiệm vụ đổi mới, chỉnh đốn Đảng, đổi mới phong cách, lề
lối làm việc của các cấp uỷ; bảo đảm thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung
dân chủ, thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng và trong xã hội, phát huy vai
trò, trách nhiệm của chính quyền, các đoàn thể, người đứng đầu cơ quan, đơn
vị; giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội, sự gắn
bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính
trong các cơ quan khối Đảng, đoàn thể, giảm bớt giấy tờ, hội họp...
5.2. Công tác tư tưởng.
Đổi mới nội dung, phương thức; nâng cao tính sắc bén, tính thuyết phục,
tính chiến đấu của công tác tư tưởng. Tập trung giáo dục, bồi dưỡng chủ nghĩa
Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, đường lối,
32
quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm làm cho cán
bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ củng cố niềm tin, nâng cao bản
lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, phương pháp tư duy khoa học; biết tôn trọng
và bảo vệ lẽ phải, đấu tranh chống lại những quan điểm, tư tưởng sai trái và
tiêu cực xã hội; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống
trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Ra sức bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ
nghĩa, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, làm thất bại âm mưu “diễn biến hoà
bình” của kẻ thù. Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức, lòng tin của
nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
Các cấp uỷ đảng, người đứng đầu cấp uỷ thường xuyên chỉ đạo công tác tư
tưởng, kịp thời nắm bắt, đánh giá, dự báo diễn biến tư tưởng, dư luận xã hội;
chủ động làm tốt công tác tư tưởng trong nội bộ Đảng, hệ thống chính trị và
trong xã hội; coi công tác tư tưởng là nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên và có
tính chiến lược lâu dài của Đảng. Tạo môi trường dân chủ trong thảo luận,
tranh luận, nghiên cứu, đề xuất các chính sách, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo; gắn
tổng kết thực tiễn với phát triển lí luận để giải quyết có kết quả những vấn đề
thực tiễn đặt ra, nhất là việc thực hiện các chương trình mục tiêu, dự án kinh tế
lớn, thực hiện nhiệm vụ quốc phòng- an ninh, công tác xây dựng Đảng, xây
dựng hệ thống chính trị.
Tiếp tục tổ chức thực hiện sâu rộng, thiết thực và có hiệu quả Cuộc vận
động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, gắn thực hiện
Cuộc vận động với nhiệm vụ xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và
công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, chống các biểu hiện suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.
Xây dựng, phát triển, nâng cao tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ và
thực hiện sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng làm công tác tư tưởng. Tăng
cường cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị phù hợp nhằm nâng cao chất lượng,
hiệu quả công tác tư tưởng.
5.3. Công tác cán bộ.
Thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ ở các cấp, các ngành đáp ứng
nhu cầu trước mắt và lâu dài. Trên cơ sở đánh giá cán bộ để có kế hoạch đào
tạo, bồi dưỡng theo chức danh quy hoạch gắn với yêu cầu xây dựng đội ngũ
cán bộ trong thời kỳ mới; trước hết là cán bộ lãnh đạo Đảng, chính quyền, đoàn
thể các cấp, cán bộ quản lí, khoa học kĩ thuật, cán bộ trẻ, cán bộ nữ và cán bộ
người dân tộc thiểu số. Tạo môi trường thuận lợi để phát huy tính năng động,
sáng tạo, tự giác, tinh thần đoàn kết, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Xây
dựng kế hoạch luân chuyển, tạo điều kiện để cán bộ được rèn luyện, học tập,
bồi dưỡng kiến thức qua thực tiễn công tác, tạo nguồn quy hoạch cán bộ.
Chủ động chuyển hướng từ rà soát chính trị nội bộ sang nắm bắt và giải
quyết vấn đề chính trị hiện nay, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ cán bộ trong
33
thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế; nâng cao trách nhiệm của tổ chức cơ sở đảng
trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ.
5.4. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng.
Quan tâm củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức
cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; gắn xây dựng, củng cố tổ
chức đảng với chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cấp uỷ viên ở cơ
sở. Chăm lo phát triển đảng viên ở khu vực nông thôn, trong các doanh nghiệp;
tập trung xây dựng, kiện toàn tổ chức, đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống
chính trị ở cơ sở, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng tổ chức và hoạt
động của các loại hình tổ chức cơ sở đảng; bảo đảm hệ thống tổ chức của Đảng
ở cơ sở vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đủ sức lãnh đạo thực
hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị.
5.5. Công tác kiểm tra, giám sát.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra các
cấp; trọng tâm là kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương của Đảng,
pháp luật của Nhà nước, thực hiện quy chế làm việc và chức trách, nhiệm vụ
được giao.
Tiếp tục tuyên truyền, phố biến và thực hiện nghiêm các quy định của
Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỉ luật đảng; tạo sự chuyển biến mạnh
mẽ về nhận thức, trách nhiệm của các cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu
cấp uỷ và cán bộ, đảng viên, quần chúng trong việc thực hiện công tác kiểm
tra, giám sát và thi hành kỉ luật của Đảng.
Đổi mới nội dung, hình thức tổ chức kiểm tra, giám sát; thực hiện công
khai, dân chủ, khách quan, thận trọng, chặt chẽ và có trọng tâm, trọng điểm,
đảm bảo chất lượng, hiệu quả. Thực hiện tốt các quy chế phối hợp giữa các
ngành, tổ chức liên quan trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của Đảng.
Chủ động xây dựng, tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám
sát việc chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là việc
thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình, phê bình, thực hiện quy
chế làm việc, giữ gìn phẩm chất, đạo đức lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng
viên.
Coi trọng công tác kiểm tra của tổ chức đảng ở cơ sở, công tác giám sát
của các tổ chức đoàn thể và nhân dân, kịp thời phát hiện, ngăn chặn có hiệu quả
các vi phạm của đảng viên và tổ chức đảng; tập trung đẩy mạnh cuộc đấu tranh
chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong bộ máy các cơ quan đảng, chính
quyền các cấp; giải quyết kịp thời đơn thư tố cáo, khiếu nại và xử lí nghiêm
minh các vụ việc vi phạm kỉ luật đảng.
Tăng cường công tác quản lí, giáo dục cán bộ, đảng viên, chủ động phòng
ngừa và ngăn chặn các vi phạm xảy ra. Quan tâm chỉ đạo củng cố, kiện toàn tổ
chức, cán bộ của uỷ ban kiểm tra các cấp. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán
34
bộ kiểm tra, tạo điều kiện để cán bộ tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất đạo đức,
bản lĩnh chính trị, thể hiện rõ chính kiến trong thực thi nhiệm vụ kiểm tra, giám
sát và kỉ luật của Đảng.
* *
*
Trong nhiệm kỳ Đại hội IX, cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tạo sự
chuyển biến mạnh mẽ trong thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
- Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và chất lượng đội
ngũ cán bộ, đảng viên; chú trọng cấp cơ sở xã, phường, thị trấn.
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lí nhà nước, năng lực tổ chức thực hiện
của chính quyền các cấp; đặc biệt là trong triển khai các chương trình trọng
tâm, công trình trọng điểm.
- Cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính liên quan đến tổ
chức, hoạt động của doanh nghiệp, của nhân dân.
- Đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
chính trị của địa phương.
- Xây dựng, phát triển hạ tầng kinh tế- xã hội; phát triển các ngành, lĩnh vực
kinh tế quan trọng của địa phương.
- Xây dựng nông thôn mới; giảm nghèo nhanh và bền vững, đặc biệt là đối
với vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
- Giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc của xã hội; nâng cao chất lượng,
hiệu quả cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí.
***
Nhiệm kỳ qua, tình hình đất nước và địa phương còn nhiều khó khăn,
nhưng Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã nỗ lực phấn đấu thực
hiện được mục tiêu đưa Lâm Đồng thoát khỏi tình trạng chậm phát triển. Đại
hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX khẳng định quyết tâm của toàn Đảng bộ, toàn dân
phát huy những thành quả đạt được, giữ vững đoàn kết, kiên trì đổi mới, nâng
cao trách nhiệm, giữ vững kỉ cương, phát huy mọi nguồn lực để đưa Lâm Đồng
phát triển nhanh và bền vững.
BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH LÂM ĐỒNG
Related docs
Other docs by LoRnJMp
Get documents about "