Docstoc

So2

Document Sample
So2 Powered By Docstoc
					    NH÷NG VÊN §Ò LiªN QuaN §ÕN
Sö DôNG aMoNiaC TRoNG C«NG NGHiÖP




            Hµ Néi- 2008




             MỤC LỤC



                 3
                                                         Trang
I. MỞ ĐẦU                                                   5
II. GIỚI THIỆU VỀ AMONIAC                                   7
 II.1. Lịch sử phát hiện và sử dụng amoniac                 7
 II.2. Nguồn phát sinh amoniac                              8
 II.3. Một số tính chất cơ bản của amoniac                  8
   II.3.1. Tính chất vật lý                                 8
   II.3.2. Tính chất hóa học                               10
III. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ SỬ DỤNG AMONIAC                 12
 III.1. Ứng dụng amoniac                                   12
 III.2. Sản xuất và tiêu thụ amoniac                       12
   III.2.1. Sản xuất amoniac                               12
   III.2.2. Tiêu thụ amoniac                               14
 III.3. Tiêu chuẩn liên quan đến amoniac                   15
IV. CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT AMONIAC                             16
 IV.1. Quy trình Haber tổng hợp amoniac                    16
 IV.2. Các bước trong quy trình tổng hợp amoniac           18
 IV.3. Hướng nghiên cứu công nghệ trong tương lai          22
V. VẤN ĐỀ AN TOÀN TRONG SẢN XUẤT, SỬ DỤNG, LƯU TRỮ VÀ      22
VẬN CHUYỂN AMONIAC
 V.1. Tính chất độc hại của amoniac                        22
 V.2. Tính chất cháy nổ của amoniac                        25
 V.3. Thao tác an toàn với NH3 lỏng                        25
   V.3.1. Nguyên tắc chung                                 25
   V.3.2. Một số quy định cụ thể trong sử dụng an toàn     26
 V.4. Xử lý các tình huống khi làm việc với amoniac        28
 V.5. Các vấn đề liên quan khác                            30




                                       4
                                I. MỞ ĐẦU
    Amoniac (NH3) là một hợp chất của nitơ và hyđro có tên quốc tế (theo
IUPAC) là “Azane”, “Ammonia”, “Hydrogen nitride”, và một số tên khác.
     Amoniac là một hóa chất có rất nhiều ứng dụng.
      Trước đây trong thời kỳ Chiến tranh Thế giới thứ II, NH3 lỏng từng được
thiết kế sử dụng làm thuốc phóng tên lửa.
     Trước khi diclorodiflorometan (Freon 12 hay R12) và một số chất hữu
cơ chứa flo, clo (nhóm các chất CFC) được phát minh ra và áp dụng làm môi
chất lạnh, thì NH3 lỏng là môi chất lạnh độc tôn. Tuy nhiên do tính độc hại và
hiệu suất năng lượng thấp mà NH3 lỏng đã có thời phải nhường chỗ cho các
CFC trong lĩnh vực làm lạnh, nhất là các thiết bị làm lạnh dân dụng công suất
nhỏ (tủ lạnh, máy điều hòa không khí, v.v…). Tuy nhiên đối với các dây
chuyền lạnh công suất lớn, NH3 lỏng vẫn phát huy tác dụng, nhất là từ năm
1994 khi nhiều nước có lệnh cấm sản xuất và sử dụng các CFC để giảm hiện
tượng phá hủy tầng ozon theo Nghị định thư Montreal (1987).
      Hiện nay NH3 vẫn được sử dụng nhiều nhất trong sản xuất phân bón và
một số hoá chất cơ bản. Trong đó lượng sử dụng cho sản xuất phân bón (cả
dạng rắn và lỏng) chiếm phần lớn, đến trên 80% sản lượng NH3 toàn thế giới
và tương đương với khoảng 1% tổng công suất phát năng lượng của thế giới.
Bên cạnh đó NH3 vẫn được sử dụng trong công nghiệp đông lạnh (sản xuất
nước đá, bảo quản thực phẩm, v.v...), trong các phòng thí nghiệm, trong tổng
hợp hữu cơ và hóa dược, y tế và cho các mục đích dân dụng khác. Ngoài ra
trong công nghệ môi trường, NH3 còn được dùng để loại bỏ khí SO2 trong khí
thải của các nhà máy có quá trình đốt nhiên liệu hóa thạch (than, dầu) và sản
phẩm amoni sunfat thu hồi của các quá trình này có thể được sử dụng làm
phân bón. NH3 cũng được dùng theo công nghệ khử chọn lọc (selective
catalytic reduction- SCR) với xúc tác chứa vanađi để loại chất ô nhiễm NOx
trong khói động cơ.
     Hiện tại NH3 lỏng là dạng thương phẩm được sử dụng ở quy mô lớn nhất.


                                      5
     Ngoài NH3 lỏng, trong công nghiệp người ta còn dùng cả dung dịch NH 3
trong nước, đặc biệt dạng này vẫn còn được dùng trực tiếp làm phân bón tại
một số nước (như Hoa Kỳ, Nga). Tại Nga, người ta dùng nhiều NH3 dạng
dung dịch (công thức quy ước là NH3.H2O) theo tiêu chuẩn GOST 9-92
(liquid ammonia technical GOST 9-92). Đây là dung dịch NH3 trong nước, có
nồng độ NH3 là 25% (min), được sản xuất dưới 2 dạng là loại A (type A)
dùng cho các ngành công nghiệp và loại B (type B) dùng trong nông nghiệp
(trực tiếp làm phân bón).
      Dùng các dung dịch NH3 trong nước an toàn hơn dùng NH3 lỏng do
không cháy và không gây nổ, tuy nhiên hơi amoniac tách ra từ dung dịch vẫn
có thể tạo hỗn hợp nổ với không khí trong những điều kiện thích hợp.Việc lưu
trữ, chuyên chở các dung dịch này cũng đơn giản hơn nhiều so với NH3 lỏng
do không cần các bồn chịu áp lực chuyên dụng (chỉ cần dùng thùng đựng có
nắp thông thường và có thể nạp tối đa đến 95% dung tích bình chứa).
     NH3 dùng trong các phòng thí nghiệm và cho các mục đích dân dụng
thường ở dạng dung dịch nước có nồng độ 5, 10 hoặc 25% ở các cấp tinh
khiết (P) hoặc tinh khiết phân tích (PA).
     Do một số tính chất riêng của NH3, người làm việc và sử dụng NH3 phải
đối mặt với những rủi ro do chất này đem lại như tính độc, khả năng gây ô
nhiễm môi trường, khả năng gây mất an toàn do áp suất cao (khi sử dụng
amoniac lỏng) và một số nguy cơ khác. Vì vậy tại các nước, quá trình sản
xuất, lưu trữ và vận chuyển amoniac đều có các quy trình và quy định cụ thể.
Tại Việt Nam do vấn đề này còn tương đối mới, nên mới chỉ có rất ít tài liệu
phục vụ những người trực tiếp sử dụng NH3 tại các cơ sở sản xuất, mà chưa
có các tài liệu, thông tin rộng rãi về vấn đề này.
     Ở nước ta, NH3 đã được sử dụng khá lâu trong công nghiệp làm lạnh.
Tuy nhiên việc sử dụng còn giới hạn ở quy mô nhỏ. Trong những năm gần
đây, trong ngành công nghiệp trong nước, amoniac lại nổi lên như là một sản
phẩm trung gian, một tiền chất quan trọng, có nhu cầu lớn trong công nghiệp
sản xuất các loại phân bón chứa đạm và phân tổng hợp (urê, DAP, v.v…) vì
vậy các thông tin liên quan đến NH3 càng được quan tâm nhiều hơn.



                                     6
    Trong tài liệu này, chúng tôi sẽ đưa ra một số thông tin cơ bản nhất, liên
quan đến các quá trình sản xuất, sử dụng, lưu trữ và vận chuyển amoniac.

II. GIỚI THIỆU VỀ AMONIAC

II.1. Lịch sử phát hiện và sử dụng amoniac
     Người Roman xưa đã tìm thấy muối amoni clorua tại đền thờ thần
Jupiter tại xứ Libi cổ và gọi muối đó là “ muối Amun” ( salt of Amun).
Trong một tác phẩm cổ, Caius Plinius Secundus (hay còn gọi là Pliny the
Elder) có nhắc đến tên một loại muối được gọi là “Hammoniacus”
(hammoniacus sal, hay còn gọi là sal ammoniac). Vào Thế kỷ thứ 8, các nhà
giả kim thuật Arập đã biết đến sal ammoniac. Sau đó vào Thế kỷ 13, Geber
(Jabir ibn Hayyan) và các nhà giả kim thuật châu Âu cũng nhắc đến tên
muối này. Vào thời kỳ Trung thế kỷ, những người thợ nhuộm đã biết dùng
muối sal ammoniac (còn được gọi là nước tiểu lên men) để làm đổi màu các
loại thuốc nhuộm có nguồn gốc thảo mộc. Vào Thế kỷ 15, Basilius
Valentinus đã chỉ ra rằng có thể thu được amoniac bằng các cho kiềm tác
dụng với sal ammoniac. Sau đó loại muối này đã được điều chế bằng cách
chưng (nhiệt phân) sừng và móng gia súc, sau đó trung hòa dịch cất chứa
cacbonat thu được với axit clohyđric (HCl).
     Lần đầu tiên amoniac dạng khí do Joseph Priestley phân lập vào năm
1774 và được ông đặt tên là “không khí kiềm” (alkaline air). Tuy nhiên người
đầu tiên thu được chất khí này là nhà giả kim thuật Basil Valentine. 11 năm
sau, Claude Louis Berthollet đã xác định được thành phần phân tử của
amoniac là NH3.
     Fritz Haber và Carl Bosch là những người phát hiện quy trình sản
xuất amoniac vào năm 1909. Công trình này đã được đăng ký phát minh
vào năm 1910.
    Người Đức là là những người đầu tiên trên thế giới sử dụng amoniac ở
quy mô công nghiệp trong thời kỳ Đại chiến thế giới lần thứ I sau khi bị
phong tỏa mất nguồn natri nitrat từ Chilê. Khi đó amoniac được được người
Đức dùng để sản xuất thuốc nổ phục vụ chiến tranh.


                                      7
II. 2. Nguồn phát sinh amoniac
     Hiện nay ngoài nguồn NH3 nhân tạo (các nhà máy sản xuất phân urê hoặc
các nhà máy chuyên sản xuất amoniac lỏng), trong tự nhiên cũng có một lượng
nhỏ NH3 tồn tại trong khí quyển do thường xuyên hợp chất này được tạo ra từ
các quá trình phân hủy các vật liệu hữu cơ có nguồn gốc động, thực vật.
    Trong nước mưa, nước biển người ta cũng phát hiện thấy có NH 3 và các
các muối amoni. Hoạt động của núi lửa cũng là nguồn sinh ra muối amoni
(như amoni clorua NH4Cl và amoni sunfat (NH4)2SO4). Tại một số vùng
khoáng chứa sôđa, người ta cũng thấy có các tinh thể amoni bicacbonat
NH4HCO3. Các hoạt động sinh hóa hàng ngày của người và động vật cũng là
nguồn sinh ra NH3.

II.3. Một số tính chất cơ bản của amoniac

     II.3.1. Tính chất vật lý
     Amoniac có công thức phân tử là NH3. Phân tử lượng NH3 là 17,0306g/mol.
    Ở điều kiện thường, NH3 khan là một chất khí không màu, nhẹ bằng nửa
không khí (tỷ trọng so với không khí bằng 0,596 ở OoC), có mùi sốc đặc trưng.
     Amoniac khan tạo “khói” trong không khí ẩm. Amoniac hòa tan mạnh
trong nước tạo thành dung dịch nước của NH3 (hay còn gọi là amoni hyđroxit
do trong dung dịch nước của amoniac có tạo thành NH4OH). Ở OoC, NH3 có
độ hòa tan cực đại là 89,9g trong 100 ml nước. Dung dịch nước của NH3 (còn
có tên là “ nước đái quỷ”) khá bền nhưng bị loại gần hết NH3 khi đun tới sôi.
   Nồng độ của amoni hyđroxit có thể được xác định bằng tỷ trọng kế hoặc
Bomé kế.
     Ở áp suất khí quyển, NH3 hóa lỏng tại -33,34oC (239,81oK), có trọng
lượng riêng 682 g/lit tại 4oC, hóa rắn tại -77,73oC (195,92oK), vì vậy ở nhiệt
độ thường người ta phải lưu trữ NH3 lỏng dưới áp suất cao (khoảng trên 10
atm tại 25,7oC).
     Do NH3 lỏng có entalpy (nhiệt bay hơi) ∆H thay đổi lớn (23,35kJ/mol)
nên chất này được dùng làm môi chất làm lạnh.



                                      8
     NH3 lỏng là một dung môi hòa tan tốt nhiều chất và là một trong những
dung môi ion hóa không nước quan trong nhất. Nó có thể hòa tan các kim loại
kiềm, kiềm thổ và một số kim loại đất hiếm để tạo ra các dung dịch kim loại
(có màu), dẫn điện và có chứa các electron solvat hóa.
    Dưới đây là bảng tóm tắt một số tính chất đặc trưng của NH3
Điểm sôi (ở áp suất khí quyển)                -33,34°C
Tỷ trọng (so với không khí ở OoC)             0,596
Độ hòa tan trong nước g/100g H2O              89,9 (OoC)
                                              60 (ở 15°C)
                                              7,4 (100°C)
Độ tan của NH3 khí trong 1 lit nước           700 lít (20°C)
Giới hạn nổ với không khí                     15-28% (thể tích)
    Độ tan của một số muối vô cơ trong NH3 lỏng:

                                          Độ tan (g muối/ 100 g NH3 lỏng)

Amoni axetat                                253.2

Amoni nitrat                                389.6

Liti nitrat                                 243.7

Natri nitrat                                97.6

Kali nitrat                                 10.4

Natri florua                                0.35

Natri clorua                                3.0

Natri brorua                                138.0

Natri iodua                                 161.9

Natri tioxyanat                             205.5


                                      9
      NH3 lỏng là một dung môi ion hóa nhưng yếu hơn nước. Nó có thể hòa
tan và phân li nhiều hợp chất có liên kết ion điển hình như các muối nitrat,
nitrit, xyanua, v.v ...của kim loại kiềm và amoni. Trong NH3 lỏng, các muối
amoni tan đều có tính axit. So với trong môi trường nước, thế oxyhóa khử của
nhiều hệ trong NH3 lỏng đều chuyển sang dương hơn.


                                 E° (V, amoniac lỏng)         E° (V, nước)

  Li+ + e− ⇌ Li                  −2.24                        −3.04

  K+ + e− ⇌ K                    −1.98                        −2.93

  Na+ + e− ⇌ Na                  −1.85                        −2.71

  Zn2+ + 2e− ⇌ Zn                −0.53                        −0.76

 NH4+ + e− ⇌ ½ H2 +
                                 0.00                         –
NH3

  Cu2+ + 2e− ⇌ Cu                +0.43                        +0.34

  Ag+ + e− ⇌ Ag                  +0.83                        +0.80

    II.3.2. Tính chất hóa học
    Phân tử NH3 có cấu trúc kim tự tháp tam giác (trigonal pyramid).
    Trong không khí, NH3 là chất bền, không tự bốc cháy và không duy trì
sự cháy. Ở nhiệt độ cao (1200oC) và có mặt của chất xúc tác thích hợp,
amoniac có thể bị phân hủy thành nitơ và hyđro.
                  2NH3  N2 + 3H2         t°= 1200°C   (1)
          NH3 có thể phản ứng với các chất oxy hóa. Ví dụ: nó có thể cháy
trong oxy với ngọn lửa màu lục vàng yếu cho sản phẩm là nitơ và nước; có
thể cháy trong khí clo, nitơ bị đẩy ra và tạo HCl, còn trong trường hợp dư
NH3 thì có thể xảy ra nổ mạnh đồng thời tạo thành nitơ triclorua NCl3. Khi đó
nitơ trong phân tử NH3 chuyển hóa trị từ - 3 lên +3.


                                     10
     Cũng vì lẽ NH3 dễ dàng phản ứng với nhiều chất, trong đó có các chất
oxy hóa mạnh, các axit mạnh, v.v..., nên trong thực tế người ta khuyến cáo
không nên trộn lẫn (hoặc để gần) amoniac với các axit mạnh, các halogen, các
chất chất tẩy trắng clorin (chlorine bleach) hoặc các chất oxy hóa mạnh khác.
      NH3 khan (độ ẩm dưới 0,2%) không phản ứng với HCl khan, tuy nhiên
khi có mặt của nước (độ ẩm) sẽ xảy ra phản ứng mạnh. Trong trường hợp này,
NH3 thể hiện tính bazơ điển hình. Dung dịch nước của amoniac thường được
gọi là amoni hyđroxit với hằng số bazơ pk=4,75, và tác dụng tỷ lượng với các
axit và tạo các muối amoni. Ví dụ:
                   NH3 + HCl → NH4Cl                     (2)
        Phản ứng tạo khói trắng rất đặc trưng khi cho hơi NH3 tiếp xúc với
dung dịch HCl đậm đặc.




     Trong khi đó bản thân NH3 khan lại là một axit rất yếu, có thể mất 1
proton H+ tạo thành anion amid NH2-. Ví dụ cho liti nitrua vào NH3 lỏng
người ta nhận được anion amid (NH2- )
           Li3N(s)+ 2 NH3 (l) → 3 Li+(am) + 3 NH2−(am)               (3)
     Hyđro trong NH3 có thể bị các kim loại mạnh đẩy ra và thế chỗ để tạo ra
các nitrua như magie có thể cháy trong NH3 để tạo magie nitrua Mg3N2. Natri
hoặc kali kim loại nóng có thể tạo ra các nitrua (NaNH2, KNH2) khi tác dụng
với NH3.
     NH3 có thể bị oxy hóa thành axit nitric HNO3 với sự có mặt của xúc tác
platin ở nhiệt độ 750-800oC, áp suất oxy 9 atm. Quá trình này được gọi là
quá trình Oswald
               4 NH3 + 8 O2 → 4 HNO3 + 4 H2O                   (4)


                                      11
     Từ axit nitric người ta có thể sản xuất nhiều dẫn xuất của nitơ trong đó
có các chất nổ.
    NH3 tự bốc cháy ở 651 °C và có thể tạo hỗn hợp nổ với không khí khi
nồng độ nằm trong vùng 16–25% (có tài liệu nói là 16-28%).
     NH3 có tính ăn mòn các kim loại và hợp kim chứa đồng (Cu), kẽm (Zn),
nhôm (Al), vàng (Au), bạc (Ag), thủy ngân (Hg), v.v... Vì vây trong thực tế
người ta khuyến cáo không nên để hơi hoặc dung dịch amoniac tiếp xúc với
các vật dụng có chứa các kim loại hoặc hợp kim này. Khi NH3 tiếp xúc lâu dài
với một số kim loại (Au, Ag, Hg, Ge, Te, Sb…) thì có thể tạo ra các hợp chất
kiểu fuminat dễ gây nổ nguy hiểm.
     Amoniac lỏng phá hủy các chất dẻo, cao su, gây phản ứng trùng hợp nổ
của etylen oxit.

III. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ SỬ DỤNG AMONIAC

III.1. Ứng dụng amoniac
    Amoniac được sử dụng cả trong công nghiệp và trong đời sống hàng
ngày. Cụ thể:
    - Dung dịch nước của NH3 có nồng độ 25% hoặc thấp hơn thường được
dùng trong các phòng thí nghiệm và trong đời sống.
      - Dung dịch NH3 được sử dụng trong nông nghiệp như: tạo môi trường
chống đông (nồng độ NH3 0,03% và axit boric 0,2-0,5%) để bảo quản mủ cao
su (latex) hoặc được sử dụng trực tiếp làm phân bón.
     - Dung dịch amoniac hoặc amoniac lỏng được sử dụng trong xử lý môi
trường nhằm loại các NOx hoặc SOx trong các các khí thải khi đốt các
nguyên liệu hóa thạch (than đá, dầu, v.v…). Quá trình này thường có thể phải
dùng chất xúc tác chứa vanađi.
     - Dung dịch amoniac hoặc amoniac lỏng được sử dụng trong công
nghiệp sản xuất phân bón, hóa chất và hóa dược.

III.2.Sản xuất và tiêu thụ amoniac

     III.2.1. Sản xuất amoniac


                                     12
     NH3 là một loại hóa chất hiện được sản xuất ở quy mô lớn trên thế giới
với sản lượng hàng trăm triệu tấn/năm và sản xuất amoniac luôn chiếm vị trí
quan trọng trong cân bằng ngân sách của thế giới.
        Dưới đây là các số liệu của Hiệp hội Phân bón quốc tế (IFA) về sản
lượng của amoniac thế giới trong các năm gần đây:
      Năm 2004                               159,1 triệu tấn
      Năm 2005                               162,3 triệu tấn
      Năm 2006                               166,1 triệu tấn
      Năm 2007                               176,6 triệu tấn
      Năm 2008                               184,0 triệu tấn
      Năm 2010                               Dự kiến khoảng 202 triệu tấn
     Sản lượng NH3 (năm 2004) cao nhất là Trung Quốc (chiếm 28,4% sản
lượng toàn cầu), Ấn Độ (8,6%) Nga (8,4%), Hoa Kỳ (8,2%). Ngoài ra một số
nước tại khu vực Trung Đông, Nam Mỹ, Đông Nam Á, cũng có các nhà máy
sản xuất phân đạm nên cũng sản xuất nhiều NH3. Trong những năm gần đây
số nhà máy phân đạm tại khu vực Tây Á và Trung Đông tăng lên do có ưu thế
về giá khí thiên nhiên nên tỷ lệ về sản lượng NH3 tại các khu vực trên thế giới
đang thay đổi.
     Các chuyên gia trong ngành dự báo sản lượng amoniac của thế giới dự
kiến sẽ tăng bình quân 7%/năm nếu tình hình sản xuất hoá chất này của các
nước trên thế giới tiến triển theo đúng kế hoạch. Khu vực Tây Á có thể chiếm
1/3 mức gia tăng sản lượng trong khoảng thời gian trên.
     Tại Việt Nam hiện nay có 2 cơ sở có sản xuất NH3, đó là Nhà máy Phân
đạm Bắc Giang (tại tỉnh Bắc Giang) của Công ty TNHH một thành viên Phân
đạm và Hóa chất Hà Bắc thuộc Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam
(VINACHEM) và Nhà máy Phân đạm Phú Mỹ (tại tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu)
thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam).
     Nhà máy Phân đạm Bắc Giang chuyên sản xuất phân urê từ nguồn
nguyên liệu than đá (dạng cục) do Trung Quốc giúp xây dựng từ năm 1960
nhưng do chiến tranh và nhiều khó khăn khác mà đến năm 1973 Nhà máy mới
có sản phẩm urê. Nhà máy có công suất thiết kế ban đầu 10 nghìn tấn urê/

                                      13
năm. Năm 1977 Nhà máy chính thức đi vào sản xuất sau khôi phục. Thời kỳ
2000-2003 Nhà máy được cải tạo kỹ thuật nâng công suất lên 150 nghìn tấn
urê/năm và chạy ở công suất 180 nghìn tấn urê/năm từ đó đến nay. Bên cạnh
sản xuất urê, Nhà máy cũng có khả năng cung cấp CO2 lỏng và rắn, năng
lượng điện và 5-10 nghìn tấn NH3 lỏng/năm tùy theo nhu cầu thị trường.
     Sản phẩm NH3 lỏng của Nhà máy đạt độ tinh khiết 99,9% và đã đạt được
một số giải thưởng, huy chương (Huy chương Vàng Hội chợ Kinh tế Quốc
dân năm 1986, 1988; Huy chương Vàng Hội chợ Kinh tế hàng công
nghiệpViệt Nam năm 1993; Huy chương vàng Hội chợ Quốc tế Hóa chất
Việt Nam năm 1997; Giải thưởng Bông lúa Vàng Hội chợ Nông nghiệp Quốc
tế Cần Thơ năm 1997).
     Nhà máy Phân đạm Phú Mỹ chuyên sản xuất urê từ nguồn khí thiên
nhiên, khánh thành và bắt đầu đi vào sản xuất từ cuối năm 2004. Nhà máy có
công suất thiết kế 760 nghìn tấn urê/năm. Ngoài sản phẩm urê, Nhà máy còn
có năng lực cung cấp năng lượng điện và 90-100 nghìn tấn NH3/năm tùy theo
nhu cầu thị trường.
    Sản phẩm NH3 lỏng của Nhà máy đạt độ tinh khiết 99,9%; hàm lượng
nước nhỏ hơn 0,1%; hàm lượng sắt nhỏ hơn 2mg/lít; hàm lượng đồng nhỏ hơn
8mg/lít.
     Từ nay đến sau năm 2010, tại Việt Nam sẽ có thêm một số nhà máy sản
xuất phân đạm (có sản xuất cả NH3) như: Nhà máy phân đạm từ than cám tại
Ninh Bình (VINACHEM đầu tư) công suất 560 nghìn tấn urê/năm, Nhà máy
Phân đạm Cà Mau (thuộc Tổ hợp Khí-Điện-Đạm do PetroVietnam đầu tư)
chạy bằng nguyên liệu khí thiên nhiên, công suất 800 nghìn tấn urê/năm. Cả hai
nhà máy phân đạm này đang trong quá trình thi công xây dựng. Ngoài ra còn
một dự án về sản xuất phân đạm cũng đang được chuẩn bị đầu tư như: Dự án
sản xuất phân đạm từ than tại Nghi Sơn (Thanh Hóa) và một số dự án khác.

     III.2.2. Tiêu thụ amoniac
     Phần lớn (trên 80%) NH3 được tiêu thụ với mục đích sản xuất phân bón.
NH3 lỏng là dạng thương phẩm chủ yếu được sử dụng ở quy mô lớn và chủ
yếu cũng để sản xuất phân bón.



                                     14
      Giá NH3 thay đổi mạnh tùy theo tình hình thay đổi giá phân đạm thế
giới. Nếu như năm 2005 giá NH3 trên thị trường thế giới chỉ khoảng trên 200
USD/tấn thì đầu năm 2008 đã vượt 700 USD/tấn (FOB). Tuy nhiên từ giữa
năm 2008 đến nay giá NH3 đã giảm nhẹ xuống còn 450-550 USD/tấn.
     Tại Việt Nam, NH3 ngoài lĩnh vực sản xuất phân urê, lượng NH3 tiêu thụ
chủ yếu là cho lĩnh vực làm lạnh (sản xuất nước đá, bảo quản thực phẩm và
thủy sản, v.v...).
     Đến nay, với công suất urê cả nước tổng cộng vào khoảng 900-950
nghìn tấn/năm, thì lượng NH3 cần cho sản xuất phân bón trong nước hàng
năm là 500-540 nghìn tấn NH3. Khối lượng này do các cơ sở sản xuất tự sản
xuất, cân đối và hiện không phải nhập khẩu thêm từ bên ngoài.
     Các nhà máy phân urê Cà Mau (từ khí thiên nhiên), Ninh Bình (từ than
cám) khi hoàn thành thi công xây dựng và đi vào hoạt động cũng sẽ tiêu thụ
những lượng lớn NH3 do các nhà máy tự sản xuất. Năm 2009, Nhà máy sản
xuất DAP Hải Phòng của VINACHEM bắt đầu đi vào hoạt động (với công
suất 330 nghìn tấn DAP/năm), thì có khả năng phải nhập khẩu khoảng 90-100
nghìn tấn NH3 lỏng/năm. Một số nhà máy DAP tiếp tục được xây dựng trong
tương lai cũng được tính toán là sẽ sử dụng NH3 lỏng nhập khẩu hoặc cân đối
một phần từ công suất dư của các nhà máy urê trong nước.
     Hiện nay cũng có những tính toán về khả năng đầu tư một cơ sở sản xuất
NH3 phục vụ cho nhu cầu sử dụng trong nước (sản xuất DAP, SA, v.v…) và
xuất khẩu.
     Hiện chưa thấy có số liệu chính thức về mức tiêu thụ amoniac lỏng để
làm môi chất lạnh tại Việt Nam, song qua số lượng amoniac dư thừa có khả
năng bán ra của các cơ sở có sản xuất amoniac (Nhà máy Phân đạm Bắc
Giang và Nhà máy Phân đạm Phú Mỹ) trong những năm gần đây, có thể sơ bộ
ước tính nhu cầu này hàng năm của cả nước là không vượt 100 nghìn tấn.

III.3. Tiêu chuẩn liên quan đến amoniac
    Hiện tại có một số tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế liên quan đến NH3
đang được áp dụng ở nước ta:


                                    15
 STT       Tiêu chuẩn                          Nội dung
   1    TCVN 2613-1993 Amoniac lỏng tổng hợp. Yêu cầu kỹ thuật
                       (Technical requirements)
   2    TCVN 2614-1993 Amoniac lỏng tổng hợp. Lấy mẫu
                       (Liquid synthetic amoniac.Sampling)
   3    TCVN 2615:1993 Amoniac lỏng tổng hợp. Phương pháp xác định
                       hàm lượng amoniăc (Liquid synthetic
                       ammonia. Method for the determination of
                       ammonia content)
   4    TCVN 2616:1993 Amoniac lỏng tổng hợp. Phương pháp xác định
                       hàm lượng nước (Liquid synthetic ammonia.
                       Method for the determination of water content)
   5    TCVN 2617:1993 Amoniac lỏng tổng hợp. Phương pháp xác định
                       hàm lượng dầu (Liquid synthetic ammonia.
                       Method for the determination of oilcontent)
   6    TCVN 2618:1993 Amoniac lỏng tổng hợp. Phương pháp xác định
                       hàm lượng sắt (Liquid synthetic ammonia.
                       Method for the determination of iron content)
   7    ISO 7108:1985       Ammonia solution for industrial use --
                            Determination of ammonia content --
                            Titrimetric method
   8    ISO 7109:1985       Ammonia solution for industrial use --
                            Determination of residue after evaporation at
                            105 degrees C -- Gravimetric method

IV. CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT AMONIAC

IV. 1. Quy trình Haber tổng hợp amoniac
    Trước Đại chiến Thế giới lần I, NH3 được điều chế ở quy mô rất nhỏ
bằng cách chưng cất các chất thải động thực vật, than đá, hoặc cho các muối
amoni, nhất là amoni clorua (sal ammoniac), tác dụng với kiềm (vôi). Phản
ứng xảy ra như sau:
         2 NH4Cl + 2 CaO → CaCl2 + Ca(OH)2 + 2 NH3             (5)


                                    16
    Mặc dù trong không khí rất sẵn nitơ, nhưng phải đến đầu Thế kỷ 20, nhờ
phản ứng cố định nitơ con người mới có thể sản xuất NH3 và các hợp chất
chứa đạm khác ở quy mô công nghiệp.
     Hai nhà hóa học người Đức (Fritz Haber và Carl Bosch) là những người
đầu tiên phát hiện quy trình sản xuất amoniac vào năm 1909 và công trình này
đã được đăng ký phát minh vào năm 1910.
     Quy trình Haber (hay còn gọi là quy trình Haber-Bosch) là quy trình dựa
trên phản ứng cố định nitơ bằng hyđro trên nền sắt (xúc tác) để tạo ra NH3 .
Đây là một phản ứng vô cùng quan trọng vì nó là cơ sở để sản xuất NH3 ở quy
mô công nghiệp phục vụ sản xuất phân đạm.
     Các công nghệ sản xuất NH3 mang tên khác nhau được đăng ký phát
minh về sau này chủ yếu vẫn dựa trên nguyên tắc cố định nitơ bằng hyđro của
Haber-Bosch trên cơ sở thay đổi nguyên liệu đầu, chất xúc tác và các điều
kiện phản ứng (áp suất, nhiệt độ, v.v…).
     Hiện nay trên thế giới có một số công nghệ sản xuất amoniac đang được
áp dụng thương mại, trong đó có 5 công nghệ được thương mại hóa nhiều
nhất là:
    1/ Công nghệ Haldor Topsoe ;
    2/ Công nghệ M.W. Kellogg;
    3/ Công nghệ Krupp Uhde;
    4/ Công nghệ ICI;
    5/ Công nghệ Brown & Root.
     Riêng công nghệ Haldor Topsoe hiện chiếm đến 50% thị phần trên thị
trường công nghệ trong lĩnh vực tổng hợp amoniac trên thế giới. Hiện các
nhà máy sản xuất amoniac (và phân đạm) hiện đại nhất trên thế giới đều
chuyển nguyên liệu đầu, ví dụ khí thiên nhiên (chủ yếu là metan NH 4), khí
hóa lỏng (chứa propan và butan), hoặc naphta, than đá thành khí tổng hợp
(syngas) có chứa hyđro (H2) và cacbon monooxit (CO). Tiếp theo H2 được
tách từ syngas (sau khi chuyển CO thành CO 2 và được loại đi). Nitơ (N2)
được lấy từ không khí sau khi tách hết oxy trong quá trình khí hóa nguyên
liệu chứa cacbon.


                                    17
     Sau các quá trình rửa khí và điều chỉnh tỷ lệ N2:H2 người ta tiến hành
tổng hợp NH3 bằng quá trình Haber–Bosch theo phản ứng:
                    3 H2 + N2 → 2 NH3                 (6)
     Trong một số trường hợp, người ta có thể lấy hyđro từ các nguồn khác
(ví dụ điện phân).
     Tại Việt Nam, các nhà máy phân đạm mới được xây dựng hoặc đang
được xây dựng đều áp dụng quy trình công nghệ tổng hợp amoniac của hãng
Haldor Topsoe như: Nhà máy Phân đạm Phú Mỹ của PetroVietnam tại Bà
Rịa- Vũng Tầu (đi từ khí tự nhiên) ký mua bản quyền công nghệ năm 2002,
Nhà máy Phân đam Ninh Bình của VINACHEM tại Ninh Bình (đi từ than đá)
ký năm 2007, Nhà máy Phân đạm Cà Mau của PetroVietnam tại Cà Mau (đi
từ khí thiên nhiên) ký năm 2008.

IV.2. Các bước trong quy trình tổng hợp amoniac
     Có thể tóm tắt quá trình sản xuất (tổng hợp) amoniac quy mô công
nghiệp gồm một số bước như sau:

     1. Ðiều chế hỗn hợp khí nitơ - hydro
     Khí tổng hợp (syngas) thường được điều chế bằng các phương chuyển
hóa khí thiên nhiên, khí hóa than, phân ly khí cốc.
     Trong trường hợp nguyên liệu là khí thiên nhiên: Khí thiên nhiên (chủ yếu
chứa metan CH4) được chuyển hóa bằng hơi nước hoặc oxi theo các phản ứng:
                  CH4 + H2O = CO + 3H2                  (7)
                  CH4 + 1/2 O2 = CO + 2H2               (8)
     Khí CO tạo thành được chuyển hóa tiếp thành hydro và CO2:
                  CO + H2O = CO2 + H2                   (9)
       Tùy theo chất oxi hóa sử dụng mà trong công nghiệp có 3 loại công
nghệ chuyển hóa:
     - Chuyển hóa bằng hơi nước có xúc tác.
     - Chuyển hóa bằng hơi nước và oxi có xúc tác.
     - Chuyển hóa không có xúc tác bằng oxi hay không khí giàu oxi.

                                     18
    Trong trường hợp nguyên liệu là than đá: Về nguyên tắc, khí hóa than
để điều chế syngas cũng tương tự. Nếu coi trong than chỉ chủ yếu chứa
cacbon và không tính đến các thành phần tạp chất khác thì quá trình khí hóa
được coi như gồm các phản ứng chính sau:
     Các phản ứng dị thể:
                   C + O2           CO2        (10)
                   C + CO2          2CO         (11)
                   C + H2O          CO + H2 (12)
                   C + 2H2          CH4         (13)
     Các phản ứng đồng thể:
                   CO + 3H2 CH4 + H2O (14)
                   CO + H2O          CO2 + H2          (15)
        Kết thúc quá trình chuyển hóa, người ta thu được hỗn hợp khí N2 +
H2 có lẫn khí CO2 và một ít CO, CH4.

     2. Làm sạch khí
     Trước khi tổng hợp NH3, hỗn hợp khí N2 + H2 điều chế được phải được
cho qua hệ thống làm sạch khí để loại các tạp chất (H2S, CO2, CO...) có hại đến
hệ xúc tác. Người ta tách khí CO2 và H2S bằng cách rửa bằng nước ở áp suất
cao. Ngày nay, người ta sử dụng rộng rãi dung dịch etanolamin trong nước, chủ
yếu là mono etanolamin CH2-CH2(OH)NH2 để tách loại các khí trên.

      3. Nén khí
     Dùng các máy nén công suất lớn để tạo đủ áp suất cần thiết cho hỗn
hợp khí trong hệ thống tổng hợp amoniac

     4. Tổng hợp amoniac
     Dựa vào áp suất sử dụng, người ta chia làm 3 loại hệ thống tổng hợp amoniac:
     - Hệ thống làm việc ở áp suất thấp 100  160 atm.
     - Hệ thống làm việc ở áp suất trung bình 250  360 atm.
     - Hệ thống làm việc ở áp suất cao 450 1000 atm.

                                       19
     Tháp tổng hợp amoniac sử dụng hệ thống áp suất trung bình là thông
dụng nhất. Dưới đây sẽ trình bày sơ lược 2 công nghệ sản xuất amoniac điển
hình nhất:
     Công nghệ Haldor Topsoe A/S là công nghệ sản xuất amoniac có mức
tiêu hao năng lượng thấp, đi từ các loại nguyên liệu hyđrocacbon khác nhau,
từ khí thiên nhiên đến naphta nặng và cả than đá.
     Hiện nay trên thế giới có hơn 60 nhà máy lớn sản xuất amoniac từ khí
thiên nhiên theo công nghệ Haldor Topsoe A/S. Ngoài ra, nhiều nhà máy sản
xuất amoniac đi từ các nguyên liệu khác cũng áp dụng công nghệ này. Từ
năm 1988, đã có 52% sản lượng amoniac của các nhà máy amoniac mới xây
dựng trên thế giới được sản xuất theo công nghệ Haldor Topsoe A/S.
     Mô tả quy trình:
      Nguyên liệu khí (hoặc hyđrocacbon nói chung) được tách lưu huỳnh, sau
đó được phối trộn với hơi nước và được chuyển hóa thành khí tổng hợp trong
thiết bị cracking bằng hơi nước. Thiết bị reforming bao gồm một thiết bị
reforming sơ bộ (đây là thiết bị tùy chọn, nhưng đặc biệt có ích khi sử dụng
nguyên liệu hyđrocacbon cao hoặc naphta), một thiết bị reforming ống đốt và
một thiết bị reforming thứ cấp. Khí công nghệ được nạp vào thiết bị reforming
thứ cấp này. Thiết bị reforming bằng hơi nước, với thiết kế kiểu ống, là thiết bị
theo thiết kế đốt thành bên đã được Công ty Topsoe đăng ký sáng chế. Sau
công đoạn reforming, khí tổng hợp sẽ đi qua các công đoạn chuyển hóa shift
nhiệt độ cao và nhiệt độ thấp, công đoạn tách CO2 và metan hóa.
     Khí tổng hợp được nén đến áp suất cần thiết, sau đó được chuyển hóa
thành amoniac trong công đoạn tổng hợp với các thiết bị tổng hợp. Các thiết
bị tổng hợp này có các tầng đệm xúc tác (S - 200, S – 250 hoặc S- 300). Sản
phẩm amoniac được ngưng tụ (hóa lỏng) và tách bằng cách làm lạnh. Tất cả
các chất xúc tác sử dụng trong các bước phản ứng xúc tác của quy trình đều
do Topsoe cung cấp.
     Công nghệ Krupp Uhde là công nghệ sản xuất amoniac từ khí thiên
nhiên, khí hoá lỏng hoặc naphta. Nếu sửa đổi các thiết bị đầu - cuối một cách
thích hợp thì cũng có thể sử dụng các nguyên liệu hyđrocacbon khác như
than, dầu, các loại bã hoặc metanol. Trong thời gian từ năm 1990 đến năm
2000 đã có 40 nhà máy áp dụng công nghệ này được đưa vào vận hành với
công suất 500 -1.800 tấn/ngày.

                                       20
      Theo quy trình công nghệ Krupp Uhde, người ta áp dụng phương pháp
reforming thông thường bằng hơi nước để sản xuất syngas chứa CO và H2,
tiếp theo sử dụng chu trình tổng hợp amoniac với thiết bị trung áp. Phương
pháp này được tối ưu hóa để giảm tiêu thụ năng lượng và tăng độ ổn định vận
hành. Nhà máy lớn nhất được xây dựng theo công nghệ Krupp Uhde có công
suất 1.800 tấn amoniac/ngày và định mức tiêu hao năng lượng là 6,65 Gcal/
tấn NH3.
    Mô tả quy trình:
     Nguyên liệu (ví dụ khí thiên nhiên) được tách lưu huỳnh, phối trộn với
hơi nước và được chuyển hoá thành syngas nhờ xúc tác niken ở áp suất
khoảng 40 bar và nhiệt độ 800-850oC. Thiết bị reforming sơ cấp của Krupp
Uhde là thiết bị đốt ở phần trên, có các ống được làm bằng thép hợp kim và
hệ thống ống xả lạnh để nâng cao độ ổn định vận hành.
     Trong thiết bị reforming thứ cấp, không khí được đưa vào syngas qua hệ
thống vòi phun đặc biệt, cho phép phối trộn hoàn hảo hỗn hợp không khí với
syngas. Công đoạn tạo hơi nước và đun quá nhiệt tiếp theo đảm bảo sử dụng
tối đa nhiệt năng của quy trình để đạt hiệu quả năng lượng tối ưu.
      Khí CO được chuyển hóa thành CO2 trong các thiết bị chuyển hóa nhiệt
độ cao và nhiệt độ thấp với tác dụng của các xúc tác. Khí CO2 được loại bỏ ở
thiết bị rửa khí, CO2 dư được chuyển hóa thành metan nhờ phản ứng metan
hóa có xúc tác để giảm hàm lượng CO2 dưới mức cho phép.
      Quá trình tổng hợp amoniac sử dụng hai thiết bị chuyển hóa với ba tầng
xúc tác bột sắt. Nhiệt thải được sử dụng để sản xuất hơi dùng ở cuối dòng.
Thiết bị sản xuất hơi bằng nhiệt thải có bộ phận gia nhiệt sơ bộ nước nạp với
các ống làm lạnh đặc biệt để giảm nhiệt độ vỏ xuống mức tối thiểu và giảm
ứng suất vật liệu. Thiết kế dòng chảy xuyên tâm cho phép hạn chế tối đa sự
tụt áp trong quá trình tổng hợp và tăng tối đa hiệu suất chuyển hóa amoniac.
    Amoniac lỏng ngưng tụ và được tách ra khỏi quá trình tổng hợp, sau đó
được làm lạnh tiếp xuống dưới nhiệt độ ngưng tụ và đưa vào bể chứa, hoặc
được vận chuyển tới địa chỉ tiêu thụ.
     Tại Việt Nam, các nhà máy sản xuất phân urê mới đầu tư hoặc sẽ đầu tư
xây dựng trong thời gian tới như Nhà máy Phân đạm Phú Mỹ (đã hoạt động
năm 2004), Phân đạm Cà Mau (đang thi công xây dựng), Nhà máy Phân đạm

                                     21
Ninh Binh (đang thi công xây dựng) đều sử dụng công nghệ của Haldor
Topsoe A/S (Đan Mạch). Trong đó Nhà máy Phân đạm Phú Mỹ, Cà Mau
dùng nguyên liệu chính là khí đồng hành và khí thiên nhiên) từ các mỏ dầu và
khí tại Bạch Hổ, Nam Côn Sơn, Cà Mau và các bể khác thuộc thềm lục địa
phía Nam. Nhà máy phân đạm Ninh Bình dùng nguyên liệu là than cám vùng
Uông Bí, Đông Triều (Quảng Ninh).

IV.3. Hướng nghiên cứu công nghệ trong tương lai
     - Hiện nay trên thế giới, người ta đang nghiên cứu các phương pháp mới
để tổng hợp amoniac, nhất là tổng hợp ở nhiệt độ và áp suất thường. Các nhà
hóa học tại Đại học Tổng hợp Oregon, Mỹ, đã điều chế được amoniac từ nitơ
ở nhiệt độ phòng và áp suất khí quyển bình thường. Đây là bước đột phá quan
trọng để đạt được một trong những mục tiêu đầy ý nghĩa của ngành công
nghiệp hóa chất - sản xuất phân đạm trong những điều kiện ít khắc nghiệt và
với giá thành thấp hơn.
     Quá trình phản ứng này được giáo sư hóa học David Tyler và hai nghiên
cứu sinh của ông là John Gilberton và Nate Szymczak tìm ra và thực hiện.
     Tuy phương pháp mới đã đưa ra được giải pháp cho một vấn đề khoa
học có ý nghĩa lớn, nhưng có thể còn cần phải hàng nhiều năm nữa thì
phương pháp này mới có thể được áp dụng một cách có hiệu quả kinh tế trong
sản xuất công nghiệp.
     - Trong một số vi sinh vật trong tự nhiên, nhờ có enzym nitrogenases
nên có khả năng chuyển ni tơ không khí thành NH 3. Quá trình này được gọi
là quá trình cố định đạm (nitơ). Hiện nay người ta chưa đặt vấn đề áp dụng
quá trình “phỏng sinh học” này vào các quá trình sản xuất công nghiệp để
cạnh tranh với quá trình Haber, mà các nhà khoa học chỉ hy vọng tìm hiểu bản
chất của quá trình cố định đạm trong sinh vật. Một phát hiện rất ấn tượng liên
quan đến vấn đề này là đã tìm ra vùng hoạt động của enzym cố định đạm có
cấu trúc dị thường Fe7MoS9.

V. VẤN ĐỀ AN TOÀN TRONG SẢN XUẤT, SỬ DỤNG, LƯU TRỮ VÀ
VẬN CHUYỂN AMONIAC

V.1. Tính chất độc hại của NH3


                                     22
      Độc tính của NH3 tùy thuộc vào nồng độ của chất này. Thông thường,
người ta ít khi đặt ra vấn đề về “độ độc” của amoniac đối với động vật và
người do trong cơ thể của người và động vật có tồn tại một cơ chế, nhờ đó
ngăn cản hiện tượng tích tụ NH3 trong máu. Kết quả nghiên cứu cho thấy
trong máu NH3 chuyển thành cacbamonyl phôt phat do có sự tác động của
enzym tổng hợp “carbamoyl phosphate synthetase” và amoniac sẽ đi vào “chu
trình urê” của cơ thể để chuyển thành các amino axit hoặc bị thải ra duới dạng
nước tiểu. Cá và các loài lưỡng cư không có cơ chế này nhưng có thể thải
NH3 dư thừa bằng cách bài tiết trực tiếp.
     NH3 hòa tan trong nước khi ở nồng độ cao sẽ gây độc cho các sinh vật
thủy sinh, nhưng trong trường hợp này NH3 lại chỉ được phân loại là “chất
gây độc hại môi trường”.
     Dung dịch amoniac loãng trong nước (dùng trong mục đích dân dụng
như rủa kính, dùng trong phòng thí nghiệm, v.v…) có khả năng bốc hơi làm
kích thích niêm mạc (mắt, mũi). Khi cùng có mặt các sản phẩm chứa clo
(thuốc tẩy), hơi amoniac có khả năng tạo ra cloramin độc hại có khả năng gây
ung thư.
     Dung dịch NH3 nồng độ cao có thể có thể kích thích và gây tổn thương
da, niêm mạc, đặc biệt là mắt và hệ thống hô hấp. Tùy theo nồng độ mà tác
động độc hại là khác nhau.
     Liên hiệp Châu Âu (EU) đã có quy định phân loại các dung dịch này
như sau:
                                                                    Mức độ
    Nồng độ         Khối lượng riêng           Phân loại độc hại
                                                                   nguy cấp
     5–10%
                      48.9–95.7 g/l         Kích thích (Xi)        R36/37/38
(2.87–5.62 mol/l)
     10–25%
(5.62–13.29 mol/l     95.7–226.3 g/l        Gây ăn mòn (C)         R34
        )

      >25%                                  Gây     ăn mòn   (C)
                        >226.3 g/l          và ảnh hưởng đến môi R34, R50
  (>13.29 mol/l)
                                            trường (N)

                                       23
     NH3 khan (điển hình là amoniac lỏng) được xếp vào loại hóa chất “độc”
(toxic), đó là chưa kể tới những nguy hiểm và sự cố do áp suất cao gây ra,
đồng thời chất này cũng là chất có khả năng gây ô nhiễm mạnh môi trường.
     Trong không khí có lẫn hơi NH3, tùy theo nồng độ, mà người và động
vật sẽ bị ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau. Người ta đã phân loại giới hạn
nồng độ của NH3 tác động đến sức khỏe con người như sau:

                         Hiện tượng                       Nồng độ, ppm

Phát hiện thấy có mùi                                     5

Dễ dàng phát hiện mùi                                     20-50

Gây khó chịu và ảnh hưởng đến sức khỏe khi tiếp xúc lâu   50-100

Gây chảy nước mắt kể cả khi tiếp xúc trong thời gian ngắn 150-200

Kích thích mắt, mũi, khó thở kể cả khi tiếp xúc trong thời 400-700
gian ngắn

Ho, co thắt cuống phổi                                    1.700

Nguy hiểm đến tính mạng kể cả tiếp xúc dưới 30 phút       2.000-3.000

Phù, ngẹt thở, ngạt và nhanh chóng tử vong                5.000-10.000

Chết lập tức                                              Trên 10.000

     Tổ chức Quản lý An toàn và Sức khỏe nghề nghiệp Hoa Kỳ (OSHA) đã
có quy định giới hạn thời gian phơi nhiễm NH3 trong không khí xung quanh
tối đa 15 phút đối với NH3 khi nồng độ 35ppm (thể tích); 8 giờ đối với NH3
khi nồng độ 25ppm. Khi hít phải NH3 nồng độ cao có thể bị tổn thương phổi
và chết.
   Tại Việt Nam, nồng độ NH3 cho phép trong không khí xung quanh theo
TCVN 5938-2005 là 0,2 mg/m3.
    NH3 hiện tại không được xếp vào loại chất có khả năng gây ung thư hoặc
thường cũng không được đưa vào danh sách các chất độc.


                                      24
V.2.Tính chất cháy nổ của NH3

     Hơi amoniac
     Bản thân amoniac không phải là chất dễ bắt lửa và không duy trì sự
cháy. Nhiệt độ bốc cháy của NH3 khá cao: 651o C (1204oF) khi có mặt của
xúc tác sắt, và 850 o C (1562oF) khi không có chất xúc tác.
     Hơi amoniac có thể tạo hốn hợp nổ với không khí khi nồng độ amoniac
trong hỗn hợp là 16-28%.
    Khi cho amoniac tiếp xúc với thủy ngân, các halogen, bạc oxit,
hypoclorit có thể tạo ra các hợp chất nổ.

     Dung dịch amoniac
     Dùng các dung dịch NH3 trong nước an toàn hơn dùng amoniac lỏng do
không cháy, không gây nổ. Việc lưu trữ, chuyên chở (bằng đường sắt, đường
bộ hoặc đường thủy) các dung dịch này cũng đơn giản hơn so với NH3 lỏng (có
thể dùng thùng đựng có nắp bình thường). Tuy nhiên khi chuyên chở vẫn phải
tuân theo quy định đối với hóa chất bay hơi và ăn mòn. Khi lưu trữ và chuyên
chở dung dịch amoniac có thể nạp tối đa đến 95% dung tích bình chứa.

V.3. Thao tác an toàn với NH3 lỏng

     V.3.1. Nguyên tắc chung
     - Làm việc với amoniac lỏng luôn luôn phải đương đầu với một số nguy
cơ là: bị ngộ độc cấp hơi amoniac, bị “bỏng” lạnh và tai nạn nổ khi làm việc
với áp suất cao.
     - Tại các vị trí có nguy cơ rò rỉ NH3 cần phải có hệ thống cảnh báo. Và
các phương tiện xử lý sự cố, cấp cứu (nước, bình bọt, v.v…).
     - Những người làm việc với NH3 lỏng phải được đào tạo về chuyên môn
và về cách xử lý các sự cố liên quan, đồng thời phải được trang bị các thiết bị
bảo hộ cần thiết (mặt nạ, kính bảo hộ, găng tay và ủng cao su butyl, quần áo
bảo hộ chuyên dụng, v.v…).
    - Vì NH3 lỏng có khả năng gây độc, nổ, … nên các bình chứa amoniac
dùng khi chuyên chở, bảo quản và sử dụng phải đáp ứng một cách nghiêm

                                      25
ngặt các tiêu chuẩn, nền chai (hoặc bồn) phải sơn màu vàng, chữ đề phải là
màu đen. Làm việc với amoniac lỏng phải tuân thủ đúng các quy định.

     V.3.2. Một số quy định cụ thể
      1. Quy định về sử dụng an toàn các thiết bị chịu áp lực
     - Đạt các yêu cầu chung về chế tạo, lắp đặt, sửa chữa các bình (thiết bị)
áp lực theo TCVN 6153-1996.
     - Đạt các yêu cầu về chế độ kiểm định kỹ thuật (lắp đặt, kiểm định kỹ thuật).
     - Đạt các yêu cầu về vận hành theo đúng nguyên tắc an toàn.
     - Đạt các yêu cầu chung về các dụng cụ kiểm tra, đo lường, cơ cấu an
toàn và phụ tùng kèm theo (áp kế, cơ cấu an toàn, các dụng cụ đo, v.v…) và
phải tiến hành định kỳ kiểm định các dụng cụ này theo quy định.
     2. Quy định về sử dụng, lưu trữ amoniac lỏng
     - Người làm việc cần đeo mặt nạ (hoặc kính đeo mắt và khẩu trang ướt),
đi ủng và găng tay cao su butyl để phòng hộ. Khi thao tác cần đứng tại vị trí
ngược hướng gió với nguồn NH3.
     - Tại nơi làm việc với NH3 lỏng cần có sẵn nguồn nước dùng khi cần
cấp cứu sự cố. Nếu chẳng may amoniac lỏng tiếp xúc vào da hoặc mắt cần
được rửa ngay bằng nhiều nước nguội (15 phút) và đưa gấp nạn nhân đến
trạm y tế, bệnh viện cứu chữa.
    Lượng hơi NH3 trong không khí có thể được loại trừ bằng cách dùng
nước phun sương.
    - Không làm việc với NH3 lỏng hoặc để bình chứa NH3 lỏng ở khu vực
có nhiệt độ cao trên 50oC hoặc gần lửa, không phơi nắng quá lâu các bình
chứa NH3.
    - Khi làm việc với NH3 cần phải kiểm tra bình chứa, van, vòi dẫn NH3.
Nếu phát hiện các bất thường liên quan đến sự nguy hiểm cần ngay lập tức
dừng thao tác và tìm các biện pháp xử lý kịp thời.
     - Đề phòng trường hợp khi NH3 lỏng bay hơi, thu nhiệt và giữ trạng thái
lỏng khá lâu. Trong trường hợp này nếu để da tiếp xúc với NH3 lỏng có thể bị
“bỏng“ lạnh rất nguy hiểm.

                                        26
    - Khi dùng amoniac lỏng đóng bình, thì không được dùng đến hết kiệt
mà phải dừng sử dụng khi áp suất còn 0,05 MPa (0,5 atm)
     - Tuyệt đối không sửa chữa bình chứa khi trong bình đang còn áp suất
     - Nghiêm cấm để lẫn bình, bồn chứa NH3 với các bình chứa các chất
khác, đặc biệt là bình chứa khí oxy.
     - Quá trình lưu giữ phải có biên bản ghi rõ ngày tháng bắt đầu lưu, thời
gian thanh kiểm tra, sửa chữa, đo lường, v.v…
     Quy định về chiết nạp amoniac lỏng
     - Chuẩn bị bình (bồn) nạp NH3: Do amoniac có thể tạo hỗn hợp nổ với
không khí nên vì vậy cần thực hiện đúng các quy định về chuẩn bị bình nạp.
Đối với các vỏ bình mới hoặc lâu ngày không sử dụng, cần dùng không khí để
sục rửa trước khi dùng. Mở van dưới và bổ sung một lượng nhỏ NH3 vào bình.
Khí đẩy ra sẽ được dẫn qua nước và kiểm tra đến khi chắc chắn toàn bộ khí ra
là NH3. Áp suất khí NH3 đưa vào bình cho phép đến 0,05 MPa (0,5 atm).
    Tại nơi nạp bình phải tuyệt đối cấm lửa, cấm hàn hoặc sửa chữa bình
chứa. Mọi việc cho việc nạp bình cần phải được chuẩn bị xong xuôi trước.
     - Không được nạp đầy bình (bồn) để đề phòng sự giãn nở khi nhiệt độ
tăng. Lượng NH3 nạp vào bình được tính theo công thức:
                                   G= 0,53V.
     Trong đó: V là thể tích bình tính bằng lit;
                 G tính bằng kg.
    Một số nước có quy định khá chi tiết về chế tạo, sử dụng bình, bồn chiết
nạp NH3 lỏng. Ví dụ tại Hoa Kỳ:
     1/ Cơ sở thiết kế và sản xuất bình, bồn chứa phải có chứng chỉ, giấy phép
của chính quyền. Từng loại bình, bồn phải có chứng nhận hợp cách.
    2/ Đào tạo nhân sự: Người thao tác chiết nạp NH3 phải được đào tạo
chuyên nghề và kiểm tra tay nghề.
      3/ Khi thao tác chiết nạp phải thật thận trọng, mở van chậm để tránh áp
suất thay đổi đột ngột.

                                      27
    4/ Không được nạp đầy bình, bồn và khối lượng NH3 tối đa được nạp là
G= 0,53 V.
     5/ Kiểm tra đinh kỳ các bình, bồn đựng do cơ quan có thẩm quyền tiến hành
1 hoặc 2 năm một lần. Phải đóng có dấu xác nhận kiểm tra vào vỏ bình, bồn.
      6/ Bình, bồn chứa NH3 cần được định kỳ bảo dưỡng để tránh hư hỏng rò
rỉ. Các bình, bồn không sử dụng cần phải để nơi khô ráo.
    Không dùng bình, bồn đựng amoniac để đựng các chất khác mà không
được đánh dấu lại theo đúng quy định.
     Quy định về chuyên chở amoniac lỏng
     - Xe bồn chở amoniac: Phải đạt yêu cầu tương đương loại phương tiện
vận tải trung áp. Vì amoniac là chất có thể gây độc nên các xe bồn trên 440 lít
mặc nhiên được xếp loại xe bồn cấp II do hậu quả nghiêm trọng khi xấy ra sự
cố nổ.
    - Chuyên chở an toàn NH3: Trước khi bốc xếp và chuyên chở NH3, cần
kiểm tra bình, bồn, van. Trong quá trình chuyên chở phải đảm bảo bình, bồn
không bị lật đổ hoặc xê dịch; van phải đóng chặt và có mũ đạy. Khi bốc và rỡ
hàng phải từ tốn, chậm rãi và thận trọng. Không để các bình, bồn bị va chạm
mạnh, không lăn các bình.
    Khi chuyên chở, nghiêm cấm để lẫn bình, bồn chứa NH3 với các bình
chứa các chất khác, đặc biệt bình chứa oxy.
     Nếu phát hiện các bất thường liên quan đến sự nguy hiểm cần ngay lập
tức dừng chuyên chở và tìm các biện pháp xử lý kịp thời.
     - Lái xe chở amoniac cần được đào tại chuyên môn và kiểm tra tay nghề.
Khi chở amoniac, người lái xe khi cho xe chạy hoặc dừng, đỗ thì ngoài việc
phải tuân thủ các quy định chung về an toàn giao thông còn phải tuân thủ các
quy định riêng liên quan đến việc chuyên chở hóa chất có thể gây nguy hiểm
cháy nổ và độc hại. Các quy định này phải được ghi trên hoặc trong xe.

V.4. Xử lý các tình huống khi làm việc với amoniac
     - Để phát hiện vị trí rò rỉ amoniac trên đường ống có thể dùng giấy chỉ
thị ướt (tẩm phenolphtalein, quỳ).


                                      28
     - Khi phát hiện trong hệ thống có hiện tường rò rỉ khí NH3 cần nhanh
chóng khóa ngắt nguồn phát NH3, quạt thông gió và dùng nước phun mưa toàn
bộ hệ thống để hòa tan và pha loãng NH3, đồng thời phải nhanh chóng nằm
thấp để tránh luồng NH3, bịt mũi bằng khẩu trang ướt và rời khỏi nơi ô nhiễm
theo hướng ngược chiều gió, sau đó lái quạt gió hướng vào bình chứa NH3.
     - Trong trường hợp sự cố van bình bị hỏng và có một lượng lớn NH 3
lỏng bị thoát ra, có thể dùng đất, cát để ngăn hoặc đào hố chứa NH 3 lỏng để
giảm khả năng NH3 lỏng tràn rộng, hạn chế sự bốc hơi NH 3. Có thể dùng
bọt bình bọt cứu hỏa hoặc tấm nhựa để che lên bề mặt NH 3 lỏng. Nếu
không có đất, cát hoặc không đào được hố chứa NH 3 lỏng thì có thể tìm
cách quay thùng chứa NH3 lỏng sao cho van ở vị trí cao nhất nhằm hạn chế
tốc độ NH3 thoát ra. (1 lít NH 3 thể lỏng thoát ra sẽ tương đương với 1000
lit NH3 thể khí).
      Chú ý: Các thao tác này đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao và tránh để cơ
thể tiếp xúc với amoniac lỏng. Tuyệt đối không được phun nước trực tiếp và
amoniac lỏng vì như vậy sẽ làm amoniac lỏng bay hơi nhanh hơn, làm tăng
nhanh nồng độ amoniac trong không khí.
    Một số yêu cầu sơ cứu tai nạn do amoniac gây ra:
    Sơ cứu khi hít phải NH3
     Chuyển nạn nhân khỏi khu vực bị ô nhiễm (trong khi phải chú ý bảo vệ
cho mình), hô hấp nhân tạo hoặc nếu có điều kiện thì cho thở oxy. Giữ nạn
nhân nằm ấm và yên tĩnh. Lưu ý các vết thương ở phổi có thể còn tiến triển
sau 18-24 giờ. Nếu nạn nhân bị ngất cần xoa bóp lồng ngực và nhanh chóng
đưa nạn nhân đến trạm y tế hoặc bệnh viện để cứu chữa.
    Sơ cứu các tại nạn ở mắt do tiếp xúc với NH3
     Chuyển nạn nhân khỏi nguồn ô nhiễm và nhanh chóng rửa mắt bằng
nước sạch hoặc vòi sen. Nhanh chóng nhưng nhẹ nhàng lau sạch các vết hóa
chất. Tiếp tục rửa mắt (có thể cả 2 mắt) bằng dòng nước chảy nhẹ 15 phút
hoặc lâu hơn và đưa đẩy tròng mắt về các phía cho sạch. Nhanh chóng đưa
nạn nhân đến trạm y tế hoặc bệnh viện để cứu chữa.

                                    29
     Sơ cứu các tai nạn do da tiếp xúc với NH3
     Dùng nước để xử lý quần áo, găng tay, ủng dính amoniac. Không chà xát
hoặc dùng thuốc mỡ bôi lên vết thương trên da.
     Chuyển nạn nhân khỏi vùng bị ô nhiễm và nhanh chóng tắm rửa nạn
nhân bằng nước sạch hoặc vòi sen (chú ý bảo vệ mắt). Rửa khoảng 1 giờ hoặc
hơn. Sau đó cần đưa nạn nhân đến trạm y tế hoặc bệnh viện để cứu chữa.
     Sơ cứu khi uống hoặc nuốt phải NH3
     Nới lỏng cà vạt, khăn, cổ áo nạn nhân và cho nạn nhân súc miệng
nhiều lần bằng nước lạnh và nhổ đi. Tiếp tục cho nạn nhân uống 1-2 chén
sữa. Không gây nôn và không cho nạn nhân uống các loại dầu với mục
đích trung hòa axit, không cho nạn nhân uống natri cacbonat hoặc các loại
nước giải khát có ga. Nếu nạn nhân nôn thì phải để đầu thấp hơn chân để
tránh vật nôn lọt vào phổi. Sau đó cần đưa nạn nhân đến trạm y tế hoặc
bệnh viện để cứu chữa.

V.5. Các vấn đề liên quan khác
     Vấn đề đào tạo người lao động
    - Vấn đề đào tạo nghiệp vụ cho người lao động làm việc với NH3 là trách
nhiệm của nhà quản lý.
     - Nhân viên mới, cũ đều có quyền được đào tạo và đào tạo lại theo định
kỳ để duy trì tính chuyên nghiệp.
     - Chương trình đào tạo bao gồm cả tài liệu viết và giảng giải được thực hiện
dưới dạng các mục huấn luyện kỹ thuật chuyên môn, đặc tính thiết bị, v.v…
     - Tạo cho người lao động có tính kỷ luật cao trong lao động và tuân thủ
các nguyên tắc, nội quy làm việc để tránh tai nạn, thương tích hoặc bị ngộ độc.
     Các biện pháp phòng ngừa, sự cố, ô nhiễm
    Mỗi cơ sở sản xuất có đặc thù riêng nên cần có các biện pháp phòng
ngừa các sự cố liên quan đến amoniac, bao gồm:
     - Các chương trình phòng hộ, ứng cứu (tập huấn và đào tạo kỹ thuật xử
lý sự cố, sơ cứu, cấp cứu, v.v…);


                                       30
    - Hệ thống thiết bị phòng hộ (hệ thống quạt thông gió, hệ thồng phun
mưa và làm sạch không khí, hệ thống cảnh báo ô nhiễm);
    - Trang thiết bị bảo hộ lao động.                           .
    - Huấn luyện về cách lập báo cáo sự cố.
    Giám sát, báo cáo
     - Mọi sự cố, tai nạn liên quan đến chiết nạp, sử dụng, chuyên chở NH3
cần phải được báo cáo ngay với cảnh sát hoặc cơ quan có thẩm quyền.




                                        31

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Tags:
Stats:
views:23
posted:11/25/2011
language:Vietnamese
pages:29