VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Trung tâm Tin học
QUỐC HỘI KHÓA XII
KỲ HỌP THỨ 08
BẢN TỔNG HỢP THẢO LUẬN TẠI HỘI TRƯỜNG
(Ghi theo băng ghi âm)
Buổi sáng ngày 01/11/2010
Nội dung:
Thảo luận ở hội trường về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội năm 2010 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng chủ trì
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên chủ trì điều khiển nội dung
Nguyễn Đức Kiên - Phó Chủ tịch Quốc hội
Kính thưa Quốc hội,
Kính thưa các đại biểu, quý khách.
Theo chương trình, trong 2 ngày: ngày hôm nay và ngày mai Quốc hội thảo
luận Báo cáo của Chính phủ và các cơ quan hữu quan dự kiến đánh giá kết quả
thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2010 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội năm 2011. Đầu kỳ họp các đại biểu Quốc hội đã thảo luận tại tổ nửa ngày. Ý
kiến của các vị đại biểu Quốc hội đã được tổng hợp thành văn bản và đã gửi đến
các vị đại biểu Quốc hội. Để tập trung vào những vấn đề lớn và được nhiều đại
biểu Quốc hội phát biểu ý kiến tại Hội trường trong điều kiện có hạn về thời gian,
tôi trân trọng xin phép Quốc hội như sau:
Thứ nhất, về những vấn đề cần tập trung thảo luận. Đối với dự kiến đánh giá
kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2010 xin đề nghị với Quốc hội:
Một là Quốc hội thảo luận tình hình thực hiện mục tiêu, phương hướng tổng
quát gắn với các chỉ tiêu chủ yếu ở tầm cả nước, ở cấp địa phương và cơ sở. Đánh
giá một cách khách quan, đánh giá đúng, làm rõ và sâu sắc những kết quả tiến bộ
việc làm được, làm tốt, những việc chưa làm được, chưa tốt, hạn chế, yếu kém,
nguyên nhân của tình hình trên.
Hai là Quốc hội thảo luận về việc xác định ban hành, tổ chức thực hiện các
nhiệm vụ, giải pháp, cơ chế chính sách để thực hiện mục tiêu, phương hướng tổng
quát, các chỉ tiêu chủ yếu theo nghị quyết của Quốc hội.
Ba là Quốc hội cho ý kiến về những bài học về việc xác định mục tiêu,
phương hướng, các chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, cơ chế chính sách và việc tổ
chức chỉ đạo triển khai thực hiện trên thực tế.
Đối với dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 xin Quốc hội
cho ý kiến:
Trung tâm Tin học
Một là tính hợp lý đầy đủ về mục tiêu, phương hướng tổng quát và sự tương
thích của các chỉ tiêu chủ yếu với mục tiêu và phương hướng tổng quát.
Hai là, cho ý kiến về việc lựa chọn những ngành, lĩnh vực, những khâu,
những việc cần phải tập trung nguồn lực, tập trung chỉ đạo, tổ chức triển khai để
vừa hoàn thành được nhiệm vụ của năm 2011, vừa tạo đà thế và lực mới để đất
nước phát triển nhanh hơn, bền vững hơn trong những năm sau của kế hoạch 5
năm 2011 - 2015.
Ba là, thảo luận, đề xuất những nhiệm vụ giải pháp cơ chế, chính sách để
nâng cao sức cạnh tranh, hiệu quả chất lượng của nền kinh tế, tăng tính ổn định
kinh tế vĩ mô, tăng khả năng bảo đảm phúc lợi và an sinh xã hội, nhân dân ở mọi
vùng đều được hưởng hợp lý thành quả của sự phát triển đất nước và cải thiện đời
sống nhân dân trên thực tế. Đặc biệt là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa các chỉ
tiêu vĩ mô, mục tiêu của tăng trưởng kinh tế để kiên quyết chỉ đạo, giải quyết hợp
lý, đảm bảo tính bền vững vấn đề bội chi ngân sách Nhà nước, nợ công, nợ Chính
phủ, nhập siêu, lạm phát, giá cả, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí với đảm bảo
nâng cao đời sống thực tế của nhân dân.
Bốn là, Quốc hội thảo luận và đề xuất những biện pháp mạnh để ngăn chặn,
giải quyết có hiệu quả tình trạng bạo lực xã hội, bạo lực học đường, trọng tội, vi
phạm pháp luật về môi trường đang gây bức xúc trong nhân dân, bảo đảm và cải
thiện rõ rệt vấn đề trật tự an ninh xã hội.
Năm là, Quốc hội đề xuất những biện pháp để ngăn chặn thất thoát, quản lý,
sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của Nhà nước ở mọi khâu.
Về vấn đề điều hành thảo luận, xin Quốc hội một số ý kiến dưới đây.
Một là, khi phát biểu các đại biểu Quốc hội cố gắng bảo đảm đúng thời
lượng như đã quy định, đi thẳng, trực tiếp vào vấn đề, nêu tình hình địa phương
cũng chỉ để minh họa nhưng cũng rất ngắn gọn và cô đọng, không nhất thiết phải
có nghi lễ thưa gửi, cảm ơn nhiều.
Hai là, khi điều hành Đoàn Chủ tịch cố gắng bố trí để có được ý kiến của các
vị đại biểu Quốc hội hoạt động ở các ngành, các lĩnh vực, các khu vực, các địa
phương, các chính giới.
Ba, để làm rõ đi sâu hiểu đúng bản chất của một số vấn đề Đoàn Chủ tịch sẽ
bố trí để các vị Bộ trưởng, trưởng ngành dù là đại biểu Quốc hội, hay không phải
là đại biểu Quốc hội phát biểu ý kiến. Do đó có vấn đề cần trao đi, đổi lại giữa các
vị đại biểu Quốc hội với các vị bộ trưởng, trưởng ngành, giữa các vị đại biểu Quốc
hội với nhau. Xin Quốc hội bắt đầu đi vào thảo luận.
Xin mời đại biểu Bùi Văn Tỉnh - đoàn Hòa Bình phát biểu ý kiến.
Bùi Văn Tỉnh - Hoà Bình
Kính thưa Quốc hội.
Tôi cơ bản tán thành với báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2010 và kế hoạch phát triển kinh tế. xã hội
năm 2011. Cũng như đánh giá khách quan của Ủy ban kinh tế của Quốc hội về kết
quả và một số vấn đề tồn tại cần khắc phục về chỉ đạo, điều hành của Chính phủ
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
trong việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011. Năm 2010,
năm cuối thực hiện kế hoạch 5 năm, năm 2006 - 2010 và chiến lược 10 năm giai
đoạn 2001 - 2010. Các số liệu thống kê chính thức đến thời điểm này cho thấy nền
kinh tế đã có những dấu hiệu khả quan, đó là tốc độ tăng trưởng GDP sẽ đạt
khoảng 6,7% vượt chỉ tiêu đã được Quốc hội thông qua là thành quả của sự chỉ
đạo điều hành quyết liệt của Chính phủ. Chín tháng đầu năm giá trị sản suất công
nghiệp cả nước tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước.
Vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá với số lượng lớn doanh nghiệp được thành
lập mới chứng tỏ môi trường đầu tư và cơ hội kinh doanh trong nước tiếp tục được
cải thiện đáng kể. Đặc biệt là dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sau thời kỳ suy
giảm đã tăng trở lại, tăng gấp 1,5 lần so với cùng kỳ năm 2009. Đó là những yếu
tố quan trọng góp phần ổn định và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên
nỗi lo về giá cả, thị trường thế giới có xu hướng tăng cao, gây áp lực đến mặt bằng
giá cả trong nước, đặc biệt những tháng cuối năm. Hiệu quả đầu tư của khối doanh
nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nước được xác định là yếu tố chủ đạo của nền
kinh tế là chưa được cải thiện. Tình trạng chậm trễ, sử dụng kém hiệu quả nguồn
vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước còn khá phổ biến.
Mặt bằng lãi suất luôn ở mức khá cao cho dù cơ quan quản lý Nhà nước đã
có những nỗ lực nhất định, nhưng các quyết định trong việc điều hành chính sách
tiền tệ vẫn còn nặng tính hành chính, chưa sát với thực tiễn của diễn biến thị
trường, thiếu điện gay gắt đã làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, giảm môi
trường đầu tư, dân bức xúc.
Tình trạng hạn hán của các tỉnh miền núi phía Bắc gây thiếu nước cung cấp
cho các nhà máy thủy điện diễn ra gay gắt. Đã vào cuối mùa mưa nhưng mực
nước hồ thủy điện Hòa Bình hiện nay thấp hơn hàng năm khoảng 12m. Tính đến
nay, riêng Nhà máy thủy điện Hòa Bình mới đạt khoảng 23% công suất và giảm
1,3 tỷ kW giờ điện so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó là bộ máy cồng kềnh
và thủ tục hành chính rườm rà, chất lượng công vụ còn thấp. Hội chứng các tổng
cục, chi cục, trung tâm liên tục phát triển. Ở cấp tỉnh hiện nay đã có đến 13 chi cục
và 70 trung tâm trực thuộc các sở, ngành nhất là ngành Y tế, ngành Nông nghiệp
và phát triển nông thôn. Bộ máy cán bộ quản lý cấp xã theo quy định mới có tới
hơn 20 công chức chuyên trách và không chuyên trách là rất lớn. Việc triển khai
một số văn bản pháp quy chưa kịp thời, trong đó việc hướng dẫn Nghị định số 912
của Chính quá chậm và lúng túng trong thực hiện. Việc cải cách hành chính theo
Đề án 30 của Thủ tương Chính phủ đã được triển khai, nhưng vẫn còn nhiều thủ
tục hành chính rất rườm rà như thủ tục về đầu tư xây dựng. Quy trình đầu tư phải
trải qua 30 bước và sử dụng 30 lượt con dấu gây chậm trễ và chi phí đầu tư tăng
cao. Nhưng chi phí quản lý tư vấn, quản lý dự án, quyết toán công trình có dự án
đã chiếm tới 22,7% tổng mức đầu tư. Riêng việc mua sắm ô tô phải trải qua 17 thủ
tục trong thời gian khoảng 2 tháng. Từ thực tế trên, xin kiến nghị:
Một là, dừng việc thành lập và rà soát, sắp xếp lại các tổng cục, trung tâm,
chi cục của các bộ và địa phương theo hướng giảm đầu mối để giảm bớt khâu
trung gian về thủ tục hành chính và thực hiện tinh giảm biên chế theo nghị quyết
Trung tâm Tin học
của Quốc hội. Sớm quy định rõ về ổn định việc phân cấp quản lý, kinh tế và xã
hội, làm rõ phân cấp quản lý xã theo Thông tư 03 của liên Bộ Y tế - Nội vụ cho
phù hợp với tình hình thực tế ở cơ sở và quy định của pháp luật.
Hai là, để khắc phục tình trạng giải ngân cao, giá trị khối lượng hoàn thành
thấp, không nên gọi là giải ngân trong thanh toán vốn đầu tư, mà nên gọi là tạm
ứng theo cơ chế tạm ứng không quá 50% kế hoạch vốn hàng năm, không quá 50%
tổng mức đầu tư của dự án có quy định thời hạn tạm ứng, nếu tạm ứng quá hạn sẽ
tính lãi, bởi lãi suất tiền gửi ngân hàng. Tiến hành kiểm tra cơ sở để hình thành lãi
suất, để điều chỉnh chính sách tiền tệ linh hoạt, nghiên cứu cơ chế huy động cao
nhất các nguồn vốn còn rất lớn ở trong dân. Tăng cường kiểm soát giá cả, đặc biệt
là giá các mặt hàng để phục vụ sản xuất và tiêu dùng thiết yếu.
Thứ ba, do điều kiện khó khăn của một số tỉnh chưa có khả năng tự cân đối
về ngân sách để bị điều chỉnh đề án kiên cố hóa trường lớp học và nhà công vụ
cho giáo viên theo hướng tăng định mức hỗ trợ xây dựng phòng học. Vì hiện nay
mức bình quân đầu tư lên đến 250 triệu đồng/1 phòng học. Để nâng cao hiệu quả
trong quản lý giáo dục Chính Phủ cần nghiên cứu làm điểm việc thành lập trường
phổ thông theo khu vực để hạn chế bộ máy quản lý giáo dục cồng kềnh như hiện
nay.
Thứ tư, thời gian qua số vụ và số người chết vì tai nạn giao thông không
giảm mặc dù các cơ quan chức năng đã đưa ra rất nhiều biện pháp ngăn chặn, xử
lý. Văn hóa ứng xử xuống cấp đáng kể, thói quen xả rác và vệ sinh bừa bãi diễn ra
khá phổ biến từ thành thị đến nông thôn. Việc tuyên truyền giáo dục thực hiện nếp
sống văn minh, mĩ quan đô thị chưa thực sự được chú trọng, thiếu chế tài điều
chỉnh. Rất cần sự đồng thuận của cả xã hội trong việc xây dựng đề án quốc gia về
văn hóa ứng xử, kỷ cương và chấp hành pháp luật của Nhà nước nhằm xây dựng
hình ảnh con người Việt Nam đẹp hơn trong cộng đồng quốc tế. Xin cám ơn Quốc
hội.
Vũ Quang Hải - Hưng Yên
Kính thưa Chủ tọa phiên họp.
Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội.
Báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội năm 2010 và tình hình thực hiện nhiệm
vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2011. Về mặt cơ bản tôi hoàn toàn nhất trí với
Báo cáo. Tuy nhiên, tôi xin tham gia về một số vấn đề như sau:
Năm 2010 tăng trưởng kinh tế của Việt Nam ở mức 6,7% GDP là khá cao so
với khu vực. Điều này thể hiện sự quyết tâm của Chính Phủ và của Việt Nam thoát
ra khỏi việc suy giảm kinh tế. Đây cũng là một bước rất đáng khích lệ và điều đó
chứng tỏ Việt Nam với quyết tâm rất cao trong khu vực chúng ta vừa thoát khỏi
việc suy giảm kinh tế nhưng vừa tiếp tục phát triển. Tuy nhiên tôi đánh giá rằng
trong báo cáo tuy có thể hiện nhưng theo tôi chất lượng tăng trưởng chưa cao, chỉ
số lạm phát hiện nay đã tiến tới mức 8,64% và 2 tháng cuối năm có thể tiến tới sát
2 con số. Điều này chứng tỏ rằng chất lượng tăng trưởng kinh tế của chúng ta chưa
thật sự cao. Đây là điều phải nói rằng chúng ta cần hết sức suy nghĩ và cân nhắc,
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
vì tăng trưởng kinh tế mà không gắn với đời sống nhân dân được tăng lên thì đó là
sự tăng trưởng chất lượng thấp.
Một vấn đề cũng đáng suy nghĩ đó là tăng trưởng trong nông nghiệp chỉ
chiếm 2,6%, tuy nhiên tôi hiểu rằng tăng trưởng trong nông nghiệp là rất khó
khăn, nhưng vùng lũ lụt bị tàn phá ở miền Trung nếu tính đúng, tính đủ thì tăng
trưởng trong nông nghiệp sẽ dưới 2,6% và Chính phủ chưa đưa vào trong báo cáo.
Tôi đề nghị sau này Chính phủ nên có báo cáo bổ sung với Quốc hội để Quốc hội
thấy được tình hình thiệt hại của nông nghiệp ở miền Trung và các thiệt hại nói
chung của lũ bão miền Trung.
Một chỉ số nữa có thể nói là liên quan đến chất lượng tăng trưởng đó là chỉ
số ICO và chỉ số lạm phát. Chỉ số ICO đang kéo tăng trưởng Việt Nam với một
chất lượng rất hạn chế. Chỉ cần tính mức đầu tư cho phát triển là 41% theo như
báo cáo để có thể được 6,7% tăng trưởng thì chỉ số ICO của chúng ta là 6,2%, nếu
ở khu vực công thì có thể lên tới 10%. Như vậy chúng ta là một trong những nước
có chỉ số đầu tư công khá cao trong khu vực và điều đó chứng tỏ rằng tăng trưởng
và đầu tư công đang là vấn đề rất bức xúc. Tôi đề nghị Quốc hội nên cùng với
Chính phủ tập trung vào giải quyết những vấn đề căn bản mà nhiều kỳ họp chúng
tôi đã nêu lên, nhưng vấn đề này xử lý chưa hiệu quả.
Hai, về vấn đề nợ công, theo Báo cáo nợ Chính phủ là 44.5%, trong đó nợ
nước ngoài là 42.2% nhưng nếu tính đúng, tính đủ theo quy định và theo Luật đầu
tư công thì chúng tôi sẽ thấy chỉ số nợ đầu tư công của chúng ta cao hơn mức hiện
nay. Bởi lẽ chúng ta chưa tính hết nợ ngân hàng, nợ doanh nghiệp của Nhà nước,
nợ phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp mà Chính phủ phải bảo lãnh. Nợ
công của Việt Nam đang tiệm cận đến những vấn đề không an toàn, tuy nhiên theo
chỉ số trong Báo cáo của Chính phủ đang ở mức an toàn nhưng theo tôi nợ công
của Việt Nam đang tiệm cận đến những vấn đề không an toàn bởi một số lý do
như sau:
Một, các khoản nợ của các dự án không tạo ra giá trị gia tăng là khá nhiều,
chúng ta vay nợ để làm ra giá trị gia tăng hoặc làm ra hiệu quả xã hội nhưng nếu
vay nợ làm ra giá trị gia tăng thấp thì hiệu quả xã hội thấp, đồng thời chất lượng
sau này để trả nợ rất khó khăn.
Hai, hiện nay chúng ta chưa phải trả nợ nhiều bởi theo tôi được biết số liệu
trả nợ cho đến năm gần đây mới chỉ khoảng 250 - 270 triệu đô, đến năm 2020 và
những năm tiếp theo đến kỳ trả nợ sẽ phải trả nợ nhiều hơn con số này rất nhiều.
Như vậy chỉ số giá trị gia tăng để chúng ta phát triển sản xuất mang hiệu quả xã
hội và trả nợ đang là vấn đề quan hệ mật thiết với nhau. Có rất nhiều doanh nghiệp
Nhà nước khi vay để làm các dự án thì dự án đó mang lại hiệu quả rất thấp, chưa
nói đến việc dự án đó mất đi khá nhiều vốn, ví dụ như Vinashin là trường hợp điển
hình. Theo số liệu có khoảng 80.000 tỷ đồng chìm theo con tàu Vinashin, tương
đương khoảng 4 tỷ đô la, nhưng theo số liệu của kiểm toán độc lập thì con số này
lên tới 96.635 tỷ, thậm chí có những con số nói tới 120.000 tỷ. Với một số doanh
nghiệp tương tự như vậy thì không hiểu còn PR gì nữa, nhưng cứ như thế này thì
số nợ công của chúng ta, giá trị gia tăng sẽ rất thấp và sẽ là tiềm ẩn với nguy cơ
Trung tâm Tin học
mà tôi nghĩ Quốc hội và Chính phủ phải đặt trong tình trạng giám sát chặt chẽ
hơn.
Nguyên nhân tiếp theo tôi xin phân tích làm rõ thêm đó là chúng ta có khoản
nợ nước ngoài với 42,2% và với khoản nợ lớn như vậy chỉ cần tính chênh lệch giá
so với chỉ số giá đô la, đồng Euro, đồng Yên đang bị trượt giá rất nhiều so với
đồng tiền Việt Nam, chỉ riêng khoản trượt giá này cũng phải kéo theo hàng tỷ đôla
mà sau này chúng ta phải cộng thêm khoản nợ. Đó là những vấn đề chúng tôi thấy
trong kỳ họp lần này, chúng tôi xin đặt vấn đề một lần nữa là đề nghị với Quốc hội
và Chính phủ phải đặt việc quản lý nợ công vào trong một sự kiểm soát đặc biệt
của Quốc hội và Chính phủ để chúng ta mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn.
Vấn đề thứ ba là vấn đề nông nghiệp và phát triển nông thôn. Đây là vấn đề
mà cũng có nhiều cử tri và nhiều đại biểu cũng rất gửi gắm rằng chúng ta tăng
trưởng kinh tế nhưng làm sao để đời sống bà con nhân dân được phát huy. Nhưng
gần đây chúng ta thấy cùng với biến đổi khí hậu và rất nhiều yếu tố khác làm cho
tình hình nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng có phần phát triển chậm lại.
Đặc biệt là bão lũ miền Trung với 4 năm Quốc hội rút gắn đã qua 2 lần Quốc hội
và Chính phủ phải chứng kiến sự thật rất thảm hại đó là việc bão lũ miền Trung
tàn phá làm cho nông nghiệp khu vực này mất trắng, mất trơn và làm cho những
vành khăn tang luôn là nỗi bức xúc, day dứt của nhiều đại biểu Quốc hội và nhiều
cử tri trong cả nước.
Tôi nghĩ chúng ta phải xây dựng một kịch bản như thế nào để chúng ta giải
quyết vấn đề thực hiện việc mà chúng ta phòng, chống lũ bão ở miền Trung. Tôi
xin hết.
Lê Như Tiến - Quảng Trị
Kính thưa Quốc hội,
Tôi xin phát biểu một vấn đề, đó là tầm nhìn và chất lượng quy hoạch.
Quy hoạch được hiểu là hoạch định trước những việc cần làm và đặt ra
những mục tiêu cần đạt đến trong dài hạn. Trong những năm qua, công tác quy
hoạch của ta còn nhiều bất cập đó là tầm nhìn và chất lượng quy hoạch. Thiếu tầm
nhìn xa, thiếu tính dự báo các quy hoạch sẽ rời rạc, chắp vá, thiếu liên kết, kém
bền vững, không hiệu quả, gây lãng phí về cơ hội, về tài nguyên, đất đai, vốn đầu
tư, nguồn nhân lực.
Do thiếu tầm nhìn nên chỉ trong vòng 12 năm Bộ Xây dựng đã phải trình Thủ
tướng Chính phủ 4 lần điều chỉnh quy hoạch ngành xi măng do bị vỡ quy hoạch,
cung vượt quá cầu. Với 108 dây chuyền xi măng đang hoạt động, công suất thiết
kế khoảng 65 triệu tấn/năm thì năm 2010 thì cung vượt cầu khoảng 3 triệu tấn và
năm 2011 là 7 triệu tấn xi măng dư thừa.
Cũng rơi vào tình cảnh tương tự, quy hoạch ngành thép có nguy cơ bị đổ bể,
Bộ Công thương đã phải soạn thảo đề án trình Chính phủ điều chỉnh quy hoạch
ngành thép, nguyên nhân là do nhiều địa phương xé rào quy hoạch. Trong 65 dự
án sản xuất thép có tới 32 dự án được các địa phương cấp giấy chứng nhận đầu tư
song chưa được ý kiến chấp thuận của Thủ tướng hoặc ý kiến thỏa thuận của Bộ
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
Công thương, đó là hiện tượng "tiền trảm hậu tấu" trong quy hoạch. Đến nay tổng
công suất thép cả nước đã lên tới hơn 20 triệu tấn/năm, trong khi nhu cầu chỉ ở
mức 11,5 triệu tấn. Ở một tỉnh miền Đông Nam Bộ có tới 18 dự án thép thì 9 dự
án nằm ngoài quy hoạch, các nhà máy thép này ngang nhiên sài tới trên 60% sản
lượng điện cả tỉnh. Ngành điện hụt hơi vì ngành thép, các ngành công nghiệp khác
và các khu dân cư cũng bị vạ lây do cắt điện bởi sự bành trướng thái quá của quy
hoạch ngành thép. Tỉnh này đang rơi vào bi kịch là thiếu điện, thừa ô nhiễm và
đang đánh mất dần lợi thế do thiên nhiên ban tặng của một thành phố du lịch biển
đẹp vào bậc nhất miền Đông Nam Bộ. Đồng cảm và chia sẻ với nỗi bức xúc của
cử tri, đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh đã phải vào cuộc.
Từ thực tế trên có vấn đề đáng báo động là công tác quản lý quy hoạch,
Chính phủ cần chấn chỉnh ngay những dự án sai quy hoạch, ngoài quy hoạch và
lách quy hoạch như trên. Một nghịch lý đang diễn ra là khi nhiều ngành công
nghiệp là nạn nhân của ngành điện thì đến lượt mình ngành điện lại trở thành nạn
nhân. Quy hoạch điện 6 có nguy cơ bị phá vỡ do thiếu than, mỗi năm ngành công
nghiệp khai thác than xuất khẩu tới 50% sản lượng. Hiện nay ngành than đang hối
hả xuất khẩu 18 triệu tấn than để hoàn thành kế hoạch năm 2010, trong khi đó 31
nhà máy nhiệt điện đang đói than từng ngày, dự kiến phải nhập khẩu khoảng 8
triệu tấn than/năm. Hàng chục nhà máy xi măng cùng hàng ngàn xí nghiệp gốm
sứ, vôi gạch, thủ công mỹ nghệ phải ăn đong than từng giờ. Nhiều nhà máy, phân
xưởng có nguy cơ ngừng sản xuất do thiếu than. Các quy hoạch khoáng sản, thủy
lợi, thủy điện, quy hoạch giao thông cũng đang có vấn đề đặt ra.
Thực trạng quy hoạch ở các khu công nghiệp, khu chế xuất cũng không mấy
sáng sủa. Trong hơn 20 năm qua cả nước đã hình thành một hệ thống trên 130 khu
công nghiệp, khu chế xuất, chiếm 26.517 ha đất tự nhiên. Nhiều khu công nghiệp,
khu chế xuất tuy được hình thành nhưng không được lấp đầy gây tình trạng lãng
phí quỹ đất, nhiều quy hoạch treo, treo cả chục năm, treo xuyên thế kỷ, trong khi
nhiều người dân thiếu đất canh tác. Các ngành này chưa có sự liên kết hài hòa giữa
quy hoạch ngành với quy hoạch lãnh thổ, chưa gắn kết và thúc đẩy các chương
trình mục tiêu quốc gia, chưa giải được bài toán quy hoạch vùng nguyên liệu với
quy hoạch sản xuất nên không tận dụng được lợi thế so sánh, đôi khi còn cạnh
tranh gay gắt, xung đột lợi ích ngay trong khu công nghiệp, khu chế xuất, thiếu sự
hỗ trợ lẫn nhau, không cộng hưởng nguồn lực, khó tạo ra giá trị gia tăng.
Quy hoạch vùng, quy hoạch đô thị và quy hoạch khu dân cư của chúng ta
còn đang mất cân đối nghiêm trọng giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa,
giáo dục, y tế và các vấn đề xã hội. Theo Báo cáo giám sát của Ủy ban Văn hóa
giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh sau 35
năm giải phóng mới chỉ có thêm một rạp hát Hòa Bình, Thủ đô Hà Nội và các đô
thị khác cũng tương tự, trong khi hàng chục nghìn cao ốc, siêu thị, khách sạn, nhà
hàng, văn phòng cho thuê mọc lên dày đặc, nhưng bệnh viện, trường học, rạp
chiếu phim, nhà hát, khu vui chơi giải trí cho trẻ em và các thiết chế văn hóa
dường như không phát triển được bao nhiêu, chưa tương xứng với tăng trưởng
Trung tâm Tin học
kinh tế. Lâu nay trước mỗi dự án chúng ta thường quen hỏi vốn ở đâu, đất đai ở
đâu, ít ai hỏi nguồn nhân lực ở đâu.
Mặc dù muộn màng so với các quy hoạch, các ngành kinh tế nhưng chúng tôi
thiết tha đề nghị Chính phủ cần khẩn trương sớm chỉ đạo xây dựng quy hoạch phát
triển nguồn nhân lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020. Để có tầm nhìn và chất
lượng quy hoạch chúng tôi xin kiến nghị, trước khi xây dựng quy hoạch cần điều
tra khảo sát kỹ lưỡng, phải có đội ngũ làm công tác quy hoạch chuyên nghiệp, phải
có những hội đồng thẩm định quy hoạch khách quan, khoa học, độc lập, công tâm,
có tầm nhìn vì lợi ích quốc gia, không bị chi phối bởi nhóm lợi ích hoặc lợi ích
trước mắt của ngành, của địa phương mình, cần công khai minh bạch các quy
hoạch để nhân dân và các tổ chức giám sát, nên huy động tối đa tiềm năng, thế
mạnh các chuyên gia, đội ngũ các nhà khoa học, đặt hàng với các Viện nghiên
cứu, các trường đại học, các hiệp hội nghề nghiệp tham gia, tham vấn phản biện
quy hoạch.
Để chuẩn bị cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm tiếp theo chúng
tôi đề nghị Chính phủ rà soát đánh giá lại toàn bộ các quy hoạch hiện có, bắt mạch
và khám bệnh cho các quy hoạch, nhất là các quy hoạch thiểu năng về kinh tế - xã
hội, phải có những liều kháng sinh mạnh như thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều
chỉnh, đình chỉ, chấm dứt hiệu lực đối với các quy hoạch thiểu năng này.
Kính thưa Quốc hội, có thể nói tầm nhìn và chất lượng qui hoạch vừa là
nguyên nhân vừa là bài học sâu sắc đắt giá cho công tác chỉ đạo điều hành đất
nước trong thời gian qua và trong tương lai. Xin cảm ơn Quốc hội.
Nguyễn Minh Thuyết - Lạng Sơn
Kính thưa Quốc hội.
Theo Báo cáo của Chính phủ, năm 2010 này nước ta đã đạt và vượt 16/21 chỉ
tiêu do Quốc hội đề ra. Cũng như đông đảo người dân tôi rất hân hoan trước tin
vui này và sự trân trọng những kết quả đã đạt được. Tuy nhiên tôi cũng vô cùng lo
lắng trước những khuyết điểm nghiêm trọng trong điều hành nền kinh tế, phân tích
chưa sâu, chưa đủ cụ thể và nghiêm khắc. Trong thời gian có hạn tôi chỉ tập trung
nói về vụ Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam Vinashin sụp đổ. Vâng, thực
sự nó đã sụp đổ, mặc dù chúng ta có thể dùng từ ngữ nhẹ nhàng hơn theo truyền
thống tu từ của mình. Tập đoàn Vinashin sụp đổ đã trút lên vai đồng bào món nợ
khổng lồ không dưới 100.000 tỷ đồng. Món nợ mà một tỉnh thu nhập cỡ 1000 tỷ
đồng một năm phải làm quần quật không mua sắm, ăn uống, may mặc gì suốt, một
thế kỷ mới trả nổi. Đối với đồng bào nhiều nơi nhất là nông thôn. miền núi thì trả
món nợ khổng lồ này có nghĩa là chậm làm đường, làm cầu, xây trường, xây bệnh
viện v.v... những nhu cầu rất thiết yếu của cuộc sống đồng bào. Sai phạm trong chỉ
đạo điều hành thì đã rõ. Nhưng có một câu hỏi đến nay vẫn chưa có câu trả lời là
ngoài lãnh đạo Vinashin còn những ai phải chịu trách nhiệm về những sai phạm
này.
Báo cáo của Chính phủ cho biết Chính phủ có trách nhiệm và đã nghiêm túc
kiểm điểm, nhưng cụ thể như thế nào? Theo tôi hiểu trong trường hợp này các
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
thành viên Chính phủ có liên quan phải kiểm điểm và nhận kỷ luật trước Quốc hội
- cơ quan đại diện nhân dân cả nước bầu ra mình. Không thể chỉ nhận khuyết điểm
một cách chung chung và tuyên bố đã kiểm điểm nội bộ là rũ xong trách nhiệm.
Vụ việc này nhắc tôi nhớ đến vụ án Lã Thị Kim Oanh ở Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn cách đây hơn 6 năm. Vì nuông chiều, luôn áp dụng những
siêu cơ chế cho công ty của Lã Thị Kim Oanh dẫn đến thất thoát trên 100 tỷ đồng
mà một vị Bộ trưởng đang rất được lòng dân, được lòng đại biểu Quốc hội đã phải
từ chức và 2 vị Thứ trưởng đã phải ra trước vành móng ngựa. Vinashin là một kiểu
Lã Thị Kim Oanh phóng đại cỡ 1000 lần. Thẩm tra Báo cáo của Chính phủ về
công tác phòng, chống tham nhũng năm nay, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội đã
nhận định có dấu hiệu bao che cho những sai trái, vi phạm pháp luật của Vinashin,
làm thiệt hại lớn đến tiền và tài sản Nhà nước. Nhưng ai bao che? Bao che thế
nào? Vì nguyên nhân gì? Nhằm mục đích gì và phải chịu trách nhiệm ra sao thì Ủy
ban Tư pháp chưa có điều kiện kết luận. Thế mà nếu Quốc hội không làm rõ được
điều này thì không hoàn thành nhiệm vụ trước Đảng, trước dân.
Vì vậy, căn cứ Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội, tôi trân trọng đề nghị Ủy
ban Thường vụ Quốc hội tổ chức để Quốc hội biểu quyết thành lập Ủy ban lâm
thời điều tra trách nhiệm của các thành viên Chính phủ trong vụ việc này. Trên cơ
sở đó vào thời gian cuối kỳ họp bỏ phiếu tín nhiệm Thủ tướng và một số thành
viên Chính phủ có liên quan. Để tạo điều kiện cho công tác điều tra của Ủy ban
lâm thời, tôi đề nghị Quốc hội tạm đình chỉ chức vụ của các vị cần được điều tra.
Thưa quý vị Chủ tọa,
Thưa quý vị đại biểu khách mời,
Nói những điều trên tôi cảm thấy rất đau xót và khó khăn, nhưng chúng ta có
xử lý nghiêm vụ việc này thì mới thể hiện được sự công minh của pháp luật, hạn
chế được những dự án làm ăn phá của bốc trời, đưa hoạt động của các doanh
nghiệp Nhà nước vào quỹ đạo lành mạnh, đảm bảo cho kinh tế phát triển bền vững
và lấy lại được niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và quyết tâm của
Đảng và Nhà nước ta thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham nhũng.
Thưa quý vị, hôm nay tôi đọc một bài đã chuẩn bị sẵn là để ngay sau buổi
họp này trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội như một kiến nghị chính thức của đại
biểu. Trân trọng đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội khẩn trương xem xét và cho
biểu quyết về kiến nghị của tôi. Xin trân trọng cảm ơn.
Nguyễn Hữu Nhị - Nghệ An
Kính thưa Quốc hội.
Tiếp xúc cử tri trước kỳ họp Quốc hội thì cử tri bày tỏ sự tin tưởng vào
đường lối lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự điều hành linh hoạt, kịp thời, quyết
liệt của Chính phủ và vui mừng trước thành tựu chung của đất nước. Tuy nhiên cử
tri, nhất là cử tri ở nông thôn còn rất nhiều băn khoăn, trăn trở khi mà nước ta trở
thành cường quốc trong lĩnh vực xuất khẩu gạo, cà phê, thủy hải sản, v.v. nhưng
người làm nông nghiệp vẫn là người đối mặt với nhiều khó khăn vất vả nhất,
những người thuộc nghèo nhất của xã hội. Một thực trạng là người làm nông
Trung tâm Tin học
nghiệp đang nảy sinh tâm lý chán ruộng vì thu nhập quá thấp, việc làm của thanh
niên nông thôn đang là một bài toán nan giải trong nông nghiệp và nông thôn hiện
nay. Có thể nói rằng ở nông nghiệp nông thôn hiện nay đang tồn tại những bất cập
lớn gồm 5 vấn đề sau :
Một là vấn đề ruộng đất. Đất nông nghiệp quá manh mún. Theo nhiều nguồn
tài liệu thì ở Việt Nam chúng ta có đến 70 triệu thửa đất nông nghiệp trên chưa
đến 4 triệu hécta đất trồng lúa. Đất ít, manh mún đang chứng tỏ một nền kinh tế
tiểu nông. Chưa nói đến việc đất canh tác đang ngày một bị loang lổ bởi vì sự xâm
lấn của sân golf, khu công nghiệp. Theo tài liệu của Viện nghiên cứu định cư thì
mỗi năm chúng ta mất khoảng 70 nghìn hécta đất nông nghiệp. Điều đó dẫn đến
thực trạng là doanh nghiệp chưa dám mạnh dạn đầu tư vào nông nghiệp. Chính
sách đất đai hiện hành của chúng ta còn bộc lộc quá nhiều bất cập, chậm được sửa
đổi.
Thứ hai là vấn đề thị trường. Chúng ta đều biết với một thị trường nông sản
bấp bênh hiện nay thì chuyện nông dân nay trồng, mai chặt là bình thường. Rõ
ràng đã bấp bênh thì không ai muốn đầu tư cho nông nghiệp. Chúng ta đã định
hướng phát triển kinh tế thị trường có vai trò quản lý của Nhà nước rằng muốn ổn
định thị trường thì Nhà nước phải thực sự vào cuộc. Người dân cảm thấy không
được như những ngành khác, dường như vai trò của Nhà nước đối với thị trường
nông sản vẫn chưa đủ mạnh.
Thứ ba là giá cả đầu vào vừa cao lại vừa loạn, hàng giả, hàng kém chất
lượng, giá giống, giá vật tư phân bón, thuốc trừ sâu tăng liên tục. Giá cả tăng, vấn
nạn hàng giả, hàng kém chất lượng lại tràn lan, không trừ bất cứ mặt hàng gì. Rõ
ràng từ giá cả cho đến chất lượng vật tư nông nghiệp chúng ta đã quản lý chưa tốt,
nguy cơ là chưa có một giải pháp đồng bộ, chưa có một chế tài đủ mạnh và thuyết
phục để chống hàng giả, hàng kém chất lượng như hiện nay.
Thứ tư là vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, bài toán không mới nhưng vẫn
chưa có những lời giải hữu hiệu, về vệ sinh an toàn thực phẩm đang đặt ra cho
nông nghiệp nước ta trước sự cạnh tranh hết sức gay gắt, ngay cả trên sân nhà
chưa nói đến việc xuất khẩu.
Thứ năm là việc biến đổi khí hậu đã gây ra hạn hán, lũ lụt lịch sử, dịch bệnh
gia súc, gia cầm, sâu bệnh phá hoại mùa màng đang là những thách thức lớn đối
với nông nghiệp của nước ta.
Từ năm tồn tại, bất cập nên trên, tôi xin có một số kiến nghị như sau:
Thứ nhất, đề nghị Chính phủ cần sớm tổng kết việc thực thi chính sách đất
đai, nhất là chính sách đất đai trong nông nghiệp để sớm sửa đổi một cách toàn
diện Luật đất đai hiện hành vốn còn rất nhiều bất cập như hiện nay. Có chính sách
khuyến khích các doanh nghiệp thuê đất, đầu tư sản xuất nông nghiệp, vì doanh
nghiệp thuê đất đầu tư sản xuất nông nghiệp thì mới có thể có hàng hóa lớn.
Khuyến khích nhân rộng mô hình dồn điền đổi thửa tốt.
Thứ hai, tăng cường quản lý Nhà nước về thị trường, nhất là thị trường nông
sản, thị trường cung ứng giống, vật tư cho sản xuất nông nghiệp. Chính phủ phải
phân định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp và phải có
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
chế tài đủ mạnh để xử lý các vi phạm, phải vào cuộc một cách quyết liệt hơn nữa.
Thiết nghĩ, đầu tư một hệ thống kho tàng dự trữ tốt hơn để khi giá thấp mua dự trữ
cho nông dân hoặc cho dân gửi tạm nông sản miễn phí, chờ giá lên sẽ luôn có lợi
cho người sản xuất. Nhà nước miễn thuế nông nghiêp, miễn thủy lợi phí được cho
dân thì việc đầu tư để ổn định thị trường cũng là một giải pháp để kích cầu cho lãi
suất.
Thứ ba, tiếp tục ưu tiên đầu tư mạnh cho hạ tầng nông nghiệp, nông thôn,
nhất là giao thông thủy lợi. Đặc biệt cần ưu tiên cho những vùng thường xuyên
chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai.
Thứ tư, có chính sách và giải pháp đồng bộ để khuyến khích có trách nhiệm
đầu tư công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt là đầu tư để có nguồn
lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp gắn với phát triển nhanh công
nghiệp và dich vụ, gắn với phát triển nông thôn với phát triển đô thị. Vậy là lực
lượng quốc gia có hơn 70% dân số ở khu vực nông nghiệp và nông thôn, vì thế
phải phấn đấu làm sao tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với phát triển đời sống của
nhân dân và làm thế nào để người nông dân thực sự nếm được vị ngọt của tăng
trưởng kinh tế. Xin cảm ơn Quốc hội.
Võ Minh Phương - Lâm Đồng
Kính thưa Quốc hội,
Chúng tôi nhất trí với Báo cáo của Chính phủ, Báo cáo thẩm tra của Ủy ban
Kinh tế về tình hình kinh tế - xã hội của đất nước năm 2010 và phương hướng
nhiệm vụ phát triển kinh tế năm 2011 như trong báo cáo đã nêu. Năm nay chúng ta
đã đạt được những kết quả khá toàn diện, qua đánh giá có trên 15/21 chỉ tiêu đạt
và vượt so với kết hoạch, ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế được nguy cơ lạm phát
cao, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2009. Bên cạnh đó lĩnh vực an sinh
xã hội đạt được nhiều kết quả, đời sống nhân dân ổn định và phát triển. Tuy nhiên
chúng ta cũng phải đối mặt với những thách thức lớn giữa tăng cường ổn định
kinh tế vĩ mô, tiếp tục chống lạm phát cao, khắc phục các hạn chế thiếu sót như
Báo cáo của Chính phủ và Báo thẩm tra đã đưa ra. Nhất là tăng trưởng chưa gắn
chặt với tiến bộ và công bằng xã hội, những chỉ tiêu về môi trường chưa đạt được.
Chúng tôi xin phát biểu một số ý kiến mà cử tri quan tâm như sau:
Một, tình trạng giá cả tăng cao không kiểm soát được của nhiều mặt hàng
thiết yếu như giá lương thực, thực phẩm, vật tư nông nghiệp, vật liệu xây dựng,
giá sữa, giá thuốc tân dược v.v... đều tăng là băn khoăn, lo lắng của đông đảo cử
tri.
Đối với nông dân, tình trạng bấp bênh của giá nông sản là câu chuyện muôn
thủa đã khiến người nông dân gặp nhiều khó khăn. Tình trạng giá nông sản quá
thấp trong khi giá vật tư nông nghiệp không ngừng tăng cao, dẫn đến người nông
dân sản xuất không có lãi hoặc lãi thấp. Ở vùng Tây Nguyên nông dân trồng cà
phê bấp bênh với giá cả nhiều tháng qua, mới đây giá nhích lên khoảng trên
30.000 đồng/kg nhưng vẫn là lo lắng. Bên cạnh đó vẫn tiếp tục chịu tác động bởi
Trung tâm Tin học
nạn phân bón, thuốc trừ sâu giả hoặc kém chất lượng mà phần thua thiệt luôn về
phía nông dân.
Về giá hàng hóa tiêu dùng tăng rất cao, dự báo khoảng 8 - 8,5% tác động xấu
đến đời sống của nhân dân, đặc biệt là bộ phận dân cư có thu nhập thấp. Theo Báo
cáo của Chính phủ, dự báo số chỉ số giá tiêu dùng năm nay khoảng 7 - 8% nhưng
thực tế khó giữ được ở mức đó, do đó năm nay tăng trưởng cao, nhưng đời sống
của người dân chưa thấy được cải thiện, nhất là giá cả thường tăng vào những
tháng cuối năm.
Đề nghị Chính phủ cần có giải pháp quyết liệt hơn trong điều hành và kiểm
soát giá cả, nhất là sử dụng quỹ bình ổn giá, đảm bảo giá các mặt hàng thiết yếu và
các loại vật tư nông nghiệp ổn định, tạo điều kiện cho nông dân yên tâm sản xuất,
tăng cường hỗ trợ nông dân, doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Riêng đối với cà phê, đề nghị Chính phủ có chủ trương, chủ động mua tạm trữ từ
đầu vụ thu hoạch góp phần giữ giá cà phê để nông dân yên tâm sản xuất.
Thứ hai, về vốn đầu tư cho các dự án giao thông, thủy lợi, giảm nghèo, đầu
tư mạnh mẽ cho hạ tầng giao thông là giải pháp hữu hiệu chống suy giảm và phát
triển kinh tế - xã hội bền vững. Thực trạng hạ tầng giao thông nước ta còn yếu và
chưa đáp ứng được các hoạt động của các ngành kinh tế. Ở Lâm Đồng lĩnh vực
phát triển hạ tầng giao thông thủy lợi mặc dù được các bộ và Chính phủ có nhiều
cố gắng đáp ứng phần nào theo kiến nghị của cử tri tại các kỳ họp trước, nhưng
nguồn vốn đầu tư còn quá ít. Có những dự án nâng cấp làm mới các công trình đã
được duyệt nhiều năm rồi nhưng chưa triển khai được vì chưa có vốn như các dự
án giao thông của Quốc lộ 20, 27, đập chắn thủy điện Đồng Nai 3 v.v...., các dự án
thủy lợi của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đầu tư như hồ Đạ Lây, huyện
Đạ Tẻh v.v....
Bên cạnh đó quá trình thi công một số dự án lại kéo dài không đảm bảo chất
lượng như công trình sửa chữa, nâng cấp các quốc lộ trên địa bàn Lâm Đồng, thi
công kéo dài nhiều năm gây khó khăn cho giao thông đi lại. Có đoạn vừa thi công
xong đã phải sửa chữa chắp vá lại, gây nhiều bức xúc trong nhân dân. Ngoài ra
một số ít đường có ý nghĩa tạo điều kiện cho sự phát triển của tỉnh ở vùng như
tuyến đường cao tốc Dầu Giây - Đà Lạt đã được Chính phủ chấp thuận đầu tư từ
nhiều năm nay nhưng chưa thu xếp được nguồn vốn. Chúng tôi đề nghị các bộ và
Chính phủ chỉ đạo rà soát các dự án, hỗ trợ các địa phương đẩy nhanh tiến độ, cụ
thể bằng vốn ODA và phát hành trái phiếu để nhanh chóng đầu tư hệ thống giao
thông huyết mạch, các dự án thủy lợi giúp cho sự phát triển của địa phương kịp
với sự phát triển chung.
Về vốn cho chương trình giảm nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ
cũng còn rất thấp, khó hoàn thành mục tiêu xóa nghèo nhanh và bền vững như
mục tiêu đề ra. Ví dụ Lâm Đồng có một huyện Đam Rông nằm trong 62 huyện
nghèo của Chương trình 30a này, theo đề án giảm nghèo nhanh, bền vững được
duyệt của huyện trong 10 năm với tổng số vốn đầu tư hơn 200 tỷ đồng/1 năm,
nhưng thực tế 2 năm nay số vốn đầu tư hơn 200 tỷ đồng/năm nay mỗi năm chỉ
khoảng 20%, do vậy rất khó để đạt yêu cầu đề ra. Cử tri đề nghị Chính phủ chỉ đạo
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
sát sao hơn trong việc lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn
của các huyện nghèo để tổng hợp và bố trí đủ các nguồn vốn đầu tư giúp cho
chương trình có hiệu quả hơn.
Ý kiến thứ ba, về tình hình phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm,
lãng phí luôn được cử tri quan tâm. Báo cáo của Chính phủ có đánh giá tình hình
tham nhũng năm 2010 tuy có giảm nhưng trên một số lĩnh vực vẫn còn nghiêm
trọng, phức tạp và trở lên tinh vi hơn. Mặc dù năm nay các ngành, các cấp đầu tư
khá nhiều thời gian, công sức cho công tác này nhưng xem ra kết quả còn ít. Thực
tế số địa phương phát hiện là rất ít, chỉ có 25 cơ quan như trong Báo cáo phát hiện
có tham nhũng, ở địa phương không có vụ nào, qua thanh tra phát hiện nhiều sai
phạm, xử lý kỷ luật hơn 500 tập thể, hơn 2000 cá nhân nhưng chỉ chuyển cơ quan
điều tra xử lý hình sự 62 vụ, 84 đối tượng liên quan đến tham nhũng. Trong những
vụ đã khởi tố nhiều vụ điều tra kéo dài, hồ sơ trả đi trả lại gây hoài nghi trong
nhân dân. Trong khi xét xử số vụ án xử án nhẹ chiếm tỷ lệ khá cao, bị can khởi tố
tội tham nhũng chủ yếu là cán bộ cấp xã, cấp phường chiếm tỷ lệ là 1/3 số bị can.
Những con số thực tế này phù hợp với dư luận xã hội cho rằng tình trạng tham
nhũng trong bộ máy công quyền vẫn còn phổ biến, tính chất còn rất nghiêm trọng,
thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn. Cử tri cũng nghi ngờ tính nghiêm minh trong
thanh tra, kiểm tra nội bộ và trong xử lý tham nhũng, đề nghị Chính phủ, các bộ,
ngành xác định rõ hơn và sát hơn để tiếp tục có giải pháp đẩy lùi tham nhũng trong
thời gian tới.
Về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Năm nay Chính phủ tiếp tục chỉ đạo
triển khai nhiều biện pháp tích cực để ý thức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
của toàn xã hội có chuyển biến hơn trước. Tuy vậy hiệu quả đích thực thì dư luận
xã hội còn nhiều nghi ngờ, từ tình hình quản lý, sử dụng vốn tài sản như Tập đoàn
Vinashin đã công bố vừa qua như các đại biểu đã phát biểu chưa nói đến tham
nhũng tiêu cực thì lãng phí cũng đã là quá lớn.
Một vấn đề nữa cũng cần đề cập là năm nay đất nước chúng ta tổ chức nhiều
ngày lễ lớn, trong đó có nhiều ngành tổ chức kỷ niệm ngày thành lập, các đại hội
thi đua điển hình tiên tiến, cả nước tổ chức nhiều sự kiện chào mừng và tiến tới
Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Tình hình lãng phí qua tổ chức lễ hội được
Quốc hội nêu ra từ kỳ họp trước nhưng chưa khắc phục được nhiều. Thực tế có
nhiều nội dung cũng chưa được cân nhắc, chọn lựa kỹ, trong đó đáng chú ý là chất
lượng một số công trình chào mừng chưa bảo đảm, không ít sản phẩm ăn theo
mang tính hình thức không cần thiết, gây tốn kém tiền của công sức của xã hội. Đề
nghị Chính phủ cần có chỉ đạo, tổng kết các lễ hội trong năm 2010, nhất là Đại lễ
1000 năm Thăng Long - Hà Nội để công bố cho nhân dân biết tổng chi phí từ ngân
sách Nhà nước phục vụ cho lễ hội. Qua đó rút kinh nghiệm chỉ đạo công tác thực
hành tiết kiệm tốt hơn trong thời gian tới. Tôi xin hết ý kiến, xin cảm ơn Quốc hội.
Lê Văn Cuông - Thanh Hoá
Kính thưa Quốc hội,
Trung tâm Tin học
Qua nghiên cứu Báo cáo của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của các cơ quan
Quốc hội về tình hình kinh tế - xã hội năm 2010, nhiệm vụ năm 2011 tôi cơ bản
tán thành. Sau đây tôi xin được tham gia thảo luận 3 vấn đề.
Thứ nhất, về việc quản lý các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước. Từ nhiều
năm nay Đảng và Nhà nước ta có chủ trương rất đúng đắn là cổ phần hóa các
doanh nghiệp Nhà nước. Qua đó tách chức năng quản lý Nhà nước ra khỏi chức
năng sản xuất kinh doanh, nhưng chưa được Chính phủ, các Bộ, ngành và địa
phương tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện. Trái lại ở một số nơi đã cố níu bám
mô hình khép kín ấy để hình thành các nhóm lợi ích, để bảo vệ quyền lợi riêng của
mình họ đã tìm mọi cách cản trở tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước.
Sự cố Vinashin đã được cảnh báo sớm về kết quả quản lý yếu kém, tiêu cực,
nhưng vì có biểu hiện bao che, ưu ái, nuông chiều nên cái u, cái nhọt lâu ngày đã
vỡ tung để lại hậu quả hết sức nặng nề. Tổng vay nợ có thể lên đến con số 120
nghìn tỷ đồng, bình quân mỗi công dân Việt Nam từ lớn đến bé, từ người giàu đến
người nghèo phải gánh nợ cho Vinashin khoảng 1,5 triệu đồng. Vinashin là giọt
nước làm tràn ly, bộc lộ rõ trình độ quan liêu, yếu kém, thiếu trách nhiệm, buông
lỏng quản lý vốn, tài sản Nhà nước của Chính phủ, các Bộ ngành chức năng đối
với các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước được xác định là những đầu tàu, là quả
đấm thép của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bởi Chính phủ
đã đứng ra bảo lãnh cho tập đoàn này được vay hàng tỷ đôla trái phiếu quốc tế, tạo
điều kiện cho họ mang tiền Nhà nước đi tung hoành khắp đó đây từ Nam ra Bắc,
kể cả đến các tỉnh miền núi thu gom nhiều xí nghiệp làm ăn thua lỗ về, thành lập
đến 200 công ty con, công ty cháu, thật khó hiểu. Không biết quản lý kiểu gì mà
Vinashin đi mua tàu, mua nhà máy phát điện cũ và đầu tư khắp nơi. Nhưng bộ chủ
quản, các bộ chức năng và cả Thủ tướng Chính Phủ cũng không có biện pháp hữu
hiệu để ngăn chặn kịp thời. Đặc biệt, có hai lần Thanh tra Chính Phủ đề nghị được
vào cuộc, nhưng đã bị chặn lại. Mặt khác, kể từ năm 2006 đến năm 2009, có tới 11
đoàn đến làm việc nhưng vẫn không phát hiện ra được căn bệnh hiểm nghèo của
Vinashin.
Còn nhớ cách đây mấy năm, có thành viên Chính phủ trả lời chất vấn đại
biểu Quốc hội đã giải trình, tiền cấp cho người ta rồi, người ta muốn làm gì tùy họ,
mình quản sao được. Và hệ lụy để Vinashin sụp đổ thảm hại như hôm nay cũng là
điều dễ hiểu, có điều để xảy ra hậu quả nghiêm trọng như thế nếu ở các nước,
Chính Phủ hoặc ít ra có vài ba vị trí đã phải lên tiếng xin từ chức rồi, nhưng ở
nước ta thì chưa. Cho nên cử tri kiến nghị tại kỳ họp này, Quốc hội cần xác định rõ
nguyên nhân, trách nhiệm cụ thể của Chính Phủ, Thủ tướng Chính Phủ, Phó Thủ
tướng phụ trách ngành, Bộ trưởng Bộ chủ quản, Thủ trưởng các Bộ, ngành chức
năng có liên quan, chứ không thể nêu chung chung như nội dung các Báo cáo của
Chính Phủ.
Tôi tán thành ý kiến đại biểu Nguyễn Minh Thuyết đề nghị Quốc hội tại kỳ
họp này cần thành lập Ủy ban lâm thời theo quy định của pháp luật, để điều tra xác
làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan qua vụ tiêu cực ở Vinashin,
nhằm ngăn chặn kịp thời, hữu hiệu các tập đoàn kinh tế lũng loạn Nhà nước.
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
Về Tập đoàn điện lực Việt Nam là doanh nghiệp Nhà nước độc quyền sản
xuất, phân phối trên 60% sản lượng điện của cả nước. Nhiều năm qua họ được coi
như con cưng của nền kinh tế, nên nhận được nhiều ưu ái. Khi có thành tích họ vơ
vào và chia tiền thưởng cao, còn khi thiếu điện thì không thấy ai đứng ra nhận
trách nhiệm. Thử hỏi vai trò, trách nhiệm của Nhà nước ở đâu, trong kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội chúng ta đặt quyết tâm đến năm 2020 cơ bản trở thành nước
công nghiệp. Vậy bây giờ thiếu điện triền miên, các cơ quan Chính phủ, lãnh đạo
Bộ Công thương và lãnh đạo Tập đoàn điện lực Việt Nam cứ hứa tới, hứa lui để
biện minh cho sự yếu kém, thiếu trách nhiệm của mình. Để thiếu điện nhiều năm
liên tục và sắp tới lại thiếu điện nữa, tôi xin hỏi Chính phủ ai là người phải chịu
trách nhiệm chính? Tôi đề nghị Chính phủ làm rõ nguyên nhân, báo cáo trước
Quốc hội để nếu còn gì vướng mắc thì Quốc hội, Chính phủ tập trung xem xét,
tháo gỡ để sớm khắc phục tình trạng thiếu điện, đáp ứng nhu cầu, năng lực của nền
kinh tế đất nước.
Thứ hai, về nông nghiệp phục vụ nông thôn. Qua các cuộc tiếp xúc cử tri
phàn nàn đã kiến nghị nhiều về tình trạng các loại giống cây trồng, phân bón,
thuốc bảo vệ thực vật không đảm bảo chất lượng, gây thất thiệt cho nhà nông
nhưng đến nay vẫn chưa được ngăn chặn. Việc phân bón, thuốc bảo vệ thực vật
kém chất lượng gia tăng, theo lý giải của Cục bảo vệ thực vật là do có quá nhiều
cơ sở tham gia sản xuất kinh doanh nên các cơ quan chức năng gặp nhiều khó
khăn trong công tác quản lý và giám sát.
Đề nghị Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn cho biết đã có giải pháp và
chế tài gì để ngăn chặn, xử lý trách nhiệm những đơn vị, cá nhân vi phạm, hay chỉ
phạt rồi cho tồn tại. Hoặc có những lúc phải bó tay cứ để mặc cho kiến nghị của cử
tri luôn giữ nguyên giá trị năm này qua năm khác.
Thứ ba, về giáo dục, đào tạo, đạo đức lối sống và dư luận xã hội qua các kỳ
họp của Quốc hội. Ngành giáo dục đào tạo phát động rộng khắp "phong trào hai
không" đến nay không biết đã đi đến đâu, về đâu mà kết quả kỳ thi tốt nghiệp
trung học phổ thông năm học vừa qua tăng vọt đến bất ngờ, làm đau đầu nhiều
người tâm huyết với sự nghiệp giáo dục nước nhà, bởi không hiểu thật hay giả.
Người trong cuộc cho rằng kỳ thi diễn ra bình thường, an toàn, nghiêm túc. Còn
dự luận khẳng định đỗ cao là do đề thi quá dễ, đáp án càng dễ và kỷ luật phòng thi
lỏng lẻo. Trong khi đó đề án "hai trong một" có đến chục lần được chỉnh sửa, tốn
kém không biết bao nhiêu công sức giấy tờ, nhưng phải hoãn đi, hoãn lại nhiều
lần. Tuy nhiên như lời một vị Thứ trưởng của Bộ thì không biết đến bao giờ mới
được thực hiện, vì người khởi xướng ra nó đã về hưu hoặc chuyển công tác khác.
Kính thưa Quốc hội,
Cuộc vận động "học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" đã
được triển khai bốn năm trên phạm vi cả nước, nhưng kết quả làm theo lời Bác
chưa được nhiều, trái lại có một số vấn đề bức xúc như chạy chức, chạy quyền,
tham nhũng, lãng phí, tư lợi, đạo đức xuống cấp trong một bộ phận cán bộ công
chức ngày càng có biểu hiện tinh vi, phức tạp.
Trung tâm Tin học
Tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội Khóa XII, có một số vị lãnh đạo Chính phủ cho
rằng cứ sai là chặt chém kỷ luật hết thì lấy ai làm việc và bầu sao cho kịp. Hay
chất lượng giáo dục như hôm nay, các Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo từ năm
1975 đến nay cùng chịu trách nhiệm đã không đón nhận được sự đồng tình của cử
tri và đại biểu Quốc hội.
Tuy nhiên, sau Kỳ họp thứ 7, Ủy ban kiểm tra Trung ương đã ra Thông báo
số 32 đề nghị xem xét, xử lý một số cán bộ cao cấp, đã góp phần củng cố niềm tin
trong nhân dân trước thềm Đại hội XI của Đảng. Xin trân trọng cám ơn.
Huỳnh Ngọc Đáng - Bình Dương
Kính thưa Quốc hội.
Trước hết, tôi bày tỏ sự vui mừng với những thành tựu kinh tế - xã hội mà
chúng ta đã đạt được. Với 16/21 chỉ tiêu kế hoạch của năm 2010 đã đạt và vượt
cho thấy nền kinh tế đất nước đã phục hồi, cân kinh tế vĩ mô cơ bản được ổn định,
kết quả hoạt động xuất khẩu rất đáng phấn khởi. Tôi thật sự ấn tượng với những
thành tựu trong công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế, nhất là những kết quả nổi
bật đạt được qua các Hội nghị cấp cao ASEAN vừa qua. Chúng ta đã tận dụng tốt
cơ hội để nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam, qua đó góp phần bảo vệ lợi ích
và chủ quyền quốc gia. Trong những ngày qua có thể nói cả dân tộc tự hào và chia
sẻ niềm vui trước những thành tựu ngoạn mục về ngoại giao của đất nước. Chính
phủ, ngành ngoại giao và các ngành liên quan đã hoạt động xuất sắc, xứng đáng
với niềm tin của tất cả đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước.
Tuy nhiên, qua Báo cáo Chính phủ, các thông số vẫn tiếp tục gây lo lắng cho
mỗi người Việt Nam. Nếu tăng trưởng 6,7% nhưng chỉ số giá tiêu dùng tăng từ 7
đến 8% thì chất lượng tăng trưởng đó đối với người lao động, đối với người nông
dân là rất thấp, thậm chí chỉ bằng không.
Kim ngạch xuất khẩu tăng gấp 3 lần chỉ tiêu kế hoạch nhưng vẫn còn nhập
siêu ở mức cao. Các cán cân tổng thể thâm hụt, xấp xỉ 4 tỷ đôla không hé lộ khả
năng tích cực nào cho tương lai của cán cân thanh toán thương mại.
Thu ngân sách tăng 12,7% nhưng bội chi ngân sách vẫn ở mức gần 6% GDP
và dư nợ công vẫn trên 56% GDP, chứng tỏ chính sách tiền tệ và tài chính của ta
còn nhiều vấn đề cần phải đặc biệt lưu ý. Tôi nghĩ cần phải có những liệu pháp
mạnh để làm chuyển biến tình hình này.
Thứ hai, về sự kiện Vinashin. Ngay trước thềm Đại hội Đảng đã xảy ra sự
kiện Vinashin. Có thể xem đây như là một biến cố quan trọng trong lịch sử hình
thành và hoạt động của các tập đoànkinh tế Việt Nam, gọi nó là một biến cố vì hệ
quả của nó tác động sâu rộng không chỉ về kinh tế mà cả về xã hội, chẳng những
làm suy yếu tình hình quốc gia, mà còn gây sụp giảm niềm tin của nhân dân đối
với Chính phủ. Tuy nhiên sự kiện này không được Báo cáo của Chính phủ đánh
giá tác động đúng mức và thật thỏa đáng khi đúc rút các nguyên nhân, sẽ thật
không công bằng và phải đạo nếu cho rằng sự yếu kém về năng lực và những sai
phạm của lãnh đạo tập đoàn là nguyên nhân chính bao trùm, càng không nên đổ
cho tình trạng thiếu luật pháp và thể chế quản lý các tập đoàn kinh tế. Luật pháp,
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
thể chế đều do chúng ta đặt ra. Trong một thời gian dài để thiếu luật pháp và thể
chế quản lý các tập đoàn kinh tế có vốn hàng chục ngàn tỷ đồng đang quản lý hầu
hết các nguồn tài nguyên quốc gia, trước hết đó chính là khuyết điểm của Chính
phủ và sau đó có trách nhiệm liên đới của Quốc Hội. Tôi và nhiều cử tri hiện nay
đang quan tâm nhiều hơn về các vấn đề của hậu Vinashin và kế đó là "tân
Vinashin". Sau sự kiện Vinashin liệu sẽ còn những Vinashin nào khác trong số các
tập đoàn kinh tế và tổng công ty của chúng ta. Các lỗ hổng về luật pháp và thể chế
quản lý các tập đoàn kinh tế và các công ty sẽ được khắc phục như thế nào. Những
cá nhân, tổ chức có liên quan đến việc buông lỏng quản lý để gây ra hậu quả
nghiêm trọng của Vinashin phải được truy cứu trách nhiệm thế nào cho công minh
v.v... Những câu hỏi đó tôi biết rất khó trả lời, nhưng tôi đề nghị Chính phủ cần
nghiêm túc có lời đáp thỏa đáng với cử tri cả nước. Tôi đề nghị Quốc hội cần có
nghị quyết chuyên đề về các vấn đề này.
Còn về tân Vinashin tôi cho rằng một Vinashin mới không thể chỉ là
Vinashin cũ cộng với bộ máy lãnh đạo mới. Tái cấu trúc Vinashin không chỉ là
bán bớt tài sản của Vinashin để trả nợ, thu hẹp ngành nghề và thay đổi nhân sự
lãnh đạo tập đoàn. Tôi cho rằng Vinashin là điển hình của những hạn chế yếu kém
trong sản xuất kinh doanh và quản lý của doanh nghiệp Nhà nước. Do vậy một
Vinashin mới phải là một điển hình đổi mới của doanh nghiệp Nhà nước. Tân
Vinashin đòi hỏi chúng ta có những chuyển đổi phù hợp trong tư duy và luật pháp
về doanh nghiệp Nhà nước. Tôi xin đề nghị như vậy.
Thứ ba, tôi muốn đề cập đến tình trạng thiếu điện hiện nay, hơn 10 năm qua
năm nào chúng ta cũng thiếu điện. Năm nay có thêm cái mới là ngành điện đã phải
cúp điện luân phiên ngay giữa mùa mưa, điện đang là bức tranh ảm đạm. Trong
hiện trạng cơ sở hạ tầng đất nước, thiếu điện là điểm nghẽn kiên cố và bảo thủ
nhất. Điện không chỉ là sản xuất, thu hút đầu tư, là đời sống văn minh, mà còn là
chỉ số hài lòng của người dân đối với Chính phủ, do vậy khủng hoảng thiếu điện
cũng nguy hiểm ngang bằng tham nhũng và nguy cơ thụt hậu. Để xảy ra khủng
hoảng thiếu điện tức là đã cản trở đất nước hướng tới mục tiêu trở thành một nước
công nghiệp phát triển. Trong 10 năm qua có quá nhiều ý kiến lập luận về nguyên
nhân thiếu điện, người thì cho rằng tại thủy điện, có vị cho rằng do giá điện chưa
theo giá thị trường. Cử tri mong muốn các vị đừng tranh luận nữa mà hãy làm đi
cho dân nhờ. Tôi thấy Báo cáo của Chính phủ chưa thực sự quan tâm tình trạng
đang rất khẩn cấp này. Xin đề nghị Chủ tọa kỳ họp, nếu quy chế kỳ họp cho phép,
nên yêu cầu lãnh đạo Tập đoàn điện lực Việt Nam đến trực tiếp báo cáo, giải trình
về tình hình thiếu điện trước Quốc hội.
Thứ tư, về diễn biến tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm, như Báo cáo
của Chính phủ và các ngành chức năng đã nỗ lực hết mình trong công tác phòng
chống, ngăn ngừa, nhưng rất tiếc các loại tội phạm chẳng những không giảm, mà
còn gia tăng và biểu hiện ngày càng phức tạp. Tội phạm ngày càng trẻ hơn, hoạt
động trắng trợn hơn, kỹ thuật và phương tiện phạm tội ngày càng tinh vi và hiện
đại hơn, các tổ chức băng nhóm ngày càng lộ hình rõ nét những quy mô lớn hơn.
Theo tôi tình hình đã trở lại xấu đi như thời kỳ băng nhóm Năm Cam còn hoạt
Trung tâm Tin học
động. Bây giờ người lương thiện bước ra đường là phải đối mặt với nhiều bất trắc,
mà không bất trắc sao được khi còn hơn 17.769 đối tượng truy nã, trong đó có hơn
4.464 đối tượng nguy hiểm và đặc biệt nguy hiểm đang nhởn nhơ rình rập khắp
mọi nẻo đường. Bọn tội phạm bây giờ hình như ngày càng được thế, cứ ngang
nhiên hoạt động, lo cho mình chưa xong nói gì đến việc giúp đỡ người khác chống
lại tội phạm. Vì vậy, bây giờ người tốt ra đường phải ngoảnh mặt làm ngơ, các bậc
nghĩa hiệp thì cũng thu mình mà suy tư. Ở trong Bình Dương có một câu lạc bộ
của những người bắt cướp từng được gọi là câu lạc bộ hiệp sỹ đường phố, các bạn
ấy hoạt động rất tốt, nhiều hiệp sỹ được ngành Trung ương biểu dương nhưng số
hiệp sỹ đó ít quá, làm sao để xã hội ta ở các nơi có nhiều các hiệp sỹ đường phố là
việc lớn nên làm. Chúng ta cần tiến hành ráo riết các cuộc tấn công trấn áp, triệt hạ
tội phạm nhất là các băng nhóm tội phạm có tổ chức, thiết lập lại trật tự trị an làm
cho xã hội ta trở lại trong lành, yên ổn, giảm thiểu tối đa các bức bách để người
lương thiện và quần chúng xã hội thở phào nhẹ nhõm như trước đây ta triệt hạ
được băng nhóm Năm Cam.
Kính thưa Quốc hội, đây là kỳ họp cuối của Quốc hội khóa này, tôi cũng đã
mạnh dạn có những ý kiến đóng góp như trên, mong các vị quan tâm tham khảo.
Xin cảm ơn Quốc hội.
Nguyễn Văn Sỹ - Quảng Nam
Kính thưa Quốc hội,
Năm 2010 trong bối cảnh kinh tế thế giới còn khó khăn, nhiều nền kinh tế
lớn tăng trưởng không ổn định, trong nước chúng ta thiếu điện, thiên tai, dịch bệnh
xảy ra ở một số nơi, nhưng chúng ta là một trong số ít các nước đạt được những
thành tựu đáng kể về phục hồi và duy trì tăng trưởng kinh tế. Đã đạt và vượt 15/21
chỉ tiêu kinh tế - xã hội do Quốc hội đề ra. Dự kiến tổng sản phẩm trong nước và
thu ngân sách đều đạt và vượt chỉ tiêu, bội chi ngân sách giảm so với chỉ tiêu của
Quốc hội. An sinh xã hội được chăm lo tốt hơn. Với nhiều chính sách hỗ trợ tác
động cho vùng nghèo, người nghèo, vùng thiên tai, dịch bệnh, chính sách hỗ trợ
tiếp cận các dịch vụ cơ bản về giáo dục, về y tế cho người dân.
Đây là một thành công lớn, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, của nhân
dân, sự điều hành quyết liệt và kịp thời xử lý những vấn đề cụ thể của Chính phủ.
Song 6 chỉ tiêu không đạt được tập trung vào lĩnh vực xã hội, môi trường, hai
trụ cột quan trọng của phát triển bền vững. Một số năm gần đây các chỉ tiêu về
môi trường không hoàn thành. Cần xem xét lại việc đề ra các chỉ tiêu và điều hành
có vấn đề gì chưa ổn. Ngay chỉ tiêu về nước sạch tôi được biết đến nay có khoảng
75% dân số có nước sạch để dùng, trong đó số dân được sử dụng nước sạch theo
tiêu chuẩn của Bộ Y tế mới chiếm khoảng 40%. Như vậy trên thực tế mức độ đáp
ứng về nước sạch cho người dân tại các địa phương còn thấp hơn nhiều so với Báo
cáo của Chính phủ.
Về xử lý rác thải và nước thải ở các khu dân cư, các khu công nghiệp, các
cụm công nghiệp, xử lý chất thải rắn về y tế nhiều nơi chưa tốt. Ô nhiễm môi
trường trong khai thác khoáng sản ảnh hưởng các dòng sông, nguồn nước gây bức
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
xúc trong nhân dân. Cần đẩy mạnh cuộc vận động giữ gìn môi trường và có chính
sách đầu tư tốt hơn để xử lý, chú trọng hơn tới việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên,
hạn chế ô nhiễm môi trường đối tới từng dự án triển khai.
Chỉ số giá tiêu dùng 10 tháng đã tăng 7,58%, khó kìm chế ở mức 8% như dự
kiến của Chính phủ. Hiện nay giá cả nhiều hàng hóa tiêu dùng đang trên đà tăng
mạnh như lúa gạo, thực phẩm, gas, sữa, thuốc chữa bệnh v.v..... Kế hoạch kìm chế
lạm phát chắc là sẽ bị vỡ, cuộc sống của người nghèo, người nông dân, người sống
bằng tiền lương khó khăn, hiệu quả đầu tư thấp, ICO khu vực Nhà nước cao gấp
đôi so với khu vực tư nhân. Hiệu quả vốn đầu tư khu vực Nhà nước nhìn chung là
không tương xứng với ưu đãi được nhận.
Một vấn đề các đại biểu trước tôi đã có ý kiến và tôi cũng xin phản ánh ý
kiến cử tri là Vinashin là một điển hình làm xấu đi hình ảnh của các tập đoàn kinh
tế Nhà nước. 11 cuộc thanh tra, kiểm tra, kiểm toán không phát hiện được, đến khi
Ủy ban kiểm tra Trung ương vào thì mới rõ được vấn đề. Những bài học gì cần
được rút ra trong quá trình quản lý từ thất bại của Vinashin, cần nghiêm túc chấn
chỉnh, cần nhanh chóng xây dựng cơ chế kiểm soát và giám sát chặt chẽ các tập
đoàn kinh tế Nhà nước để tránh những vấn đề tương tự có thể xảy ra.
Về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011, tôi xin thống nhất với mục
tiêu tổng quát, cần ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó tập trung kìm chế lạm
phát như Báo cáo của Chính phủ, giảm thâm hụt ngân sách, giảm thâm hụt cán cân
thương mại, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn năm 2010, gắn với đảm bảo
an sinh xã hội, trong đó trọng tâm là vấn đề xóa đói giảm nghèo, cân bằng xã hội,
giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân. Việc làm thường xuyên và lâu dài
để nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân vùng nông thôn, đầu tư tốt
hơn cho khu vực nông thôn. Thực tế thu nhập hiện nay của cư dân nông thôn là
76.6% bình quân chung của Nhà nước, chỉ bằng 47,5% so với khu vực đô thị, có
tới 84,5% hộ nghèo trong tổng số hộ nghèo cả nước sống ở khu vực nông thôn.
Tập trung tháo gỡ những điểm vướng của nền kinh tế, đặc biệt là vấn đề giao
thông, điện và nguồn nhân lực, huy động các nguồn lực đi đôi với tăng cường hợp
tác công, tư trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng, giao thông, điện, nguồn lực
trong và ngoài nước. Đề nghị nâng cấp tuyến quốc lộ 1A rộng gấp đôi so với hiện
nay, tập trung nguồn lực trong một số năm đầu tư tuyến đường bộ cao tốc Bắc -
Nam, đường ven biển, đặc biệt là qua khu vực miền Trung vừa phục vụ cứu hộ,
cứu nạn khi thiên tai, khi lũ, vừa thực hiện chiến lược biển Việt Nam. Tỉnh Quảng
Nam đang triển khai xây dựng cầu Cửa Đại mới gắn liền với Đà Nẵng, khu kinh tế
Chu Lai, khu kinh tế Dung Quất. Cử tri đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Chính phủ tiếp tục hỗ trợ vốn theo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ là 50% cho
cây cầu này để tạo thế phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo vùng ven
biển của tỉnh.
Chất lượng nguồn nhân lực là vấn đề nóng không chỉ hiện nay mà cả tương
lai của đất nước, chúng ta đang hội nhập thì nguồn nhân lực phải đảm bảo tính
cạnh tranh, đáp ứng được thị trường lao động. Chất lượng nguồn nhân lực còn hạn
chế là do số lượng lao động đào tạo ở nước ta ở mức thấp, chất lượng còn nhiều
Trung tâm Tin học
vấn đề bất cập. Theo Báo cáo mới nhất của Diễn đàn kinh tế thế giới về mức độ
hài lòng với chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam thì chúng ta đứng thứ 85/123
quốc gia, vùng lãnh thổ.
Số lượng sinh viên đại học, cao đẳng ra trường gia tăng nhưng việc làm rất
khó vì không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp, cơ quan tuyển dụng. Khả
năng thực hành hạn chế do đào tạo thiên về lý thuyết hơn thực hành, sinh viên rất
bỡ ngỡ khi tiếp cận với thiết bị hiện đại, công nghệ nên doanh nghiệp phải đào tạo
lại. Cần đổi mới hơn nữa phương pháp giảng dạy trong các trường đại học, cao
đẳng theo hướng nâng cao kỹ năng thực hành. Hiện đại hóa các cơ sở đào tạo
nghề, đào tạo kỹ sư. Có chính sách đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phòng thí
nghiệm, thư viện, xây dựng đội ngũ nhà giáo để nâng cao chất lượng đào tạo, kỹ
năng thực hành cho sinh viên. Xin hết.
Lê Thị Nga - Thái Nguyên
Kính thưa Quốc hội,
Tôi xin phát biểu về cơ sở pháp lý của việc thí điểm thành lập và hoạt động
của tập đoàn kinh tế Nhà nước. Hiện nay chúng ta có 12 tập đoàn kinh tế Nhà
nước thí điểm, 8 tập đoàn thành lập năm 2005 - 2006; 4 tập đoàn thành lập năm
2009 - 2010. Chúng tôi hoan nghênh những cố gắng của Thủ tướng, của Chính
phủ và những đóng góp của các tập đoàn thời gian qua, nhất là việc Chính phủ đã
kịp thời tái cơ cấu Vinashin. Việc tiêu lỗ của Vinashin là bài học lớn, trong đó có
cả trách nhiệm của Chính phủ, của Quốc hội. Từ những hạn chế trong hoạt động
của các tập đoàn trong thời gian qua, tôi xin phân tích những vấn đề pháp lý về sự
ra đời và hoạt động của các tập đoàn kinh tế Nhà nước.
Một, về cơ sở pháp lý của việc thí điểm, trước hết chúng tôi khẳng định chủ
trương của Đảng về thí điểm thành lập tập đoàn kinh tế Nhà nước là đúng đắn, hợp
với xu hướng quốc tế và có bước đi thận trọng phù hợp với điều kiện thực tiễn
Việt Nam.
Về nguyên tắc thí điểm tức là làm thử những việc mà pháp luật chưa quy
định thí điểm thì có thể thành công hoặc thất bại. Vì vậy, phạm vi thí điểm chỉ nên
hẹp, sau một thời gian nhất định phải đánh giá, tổng kết, chấn chỉnh những thiếu
sót, nếu khẳng định thành công thì mới triển khai trên diện rộng.
Mô hình tập đoàn kinh tế Nhà nước là một mô hình rất phức tạp về địa vị
pháp lý, về tư cách pháp nhân, về cơ cấu tổ chức và nhất là việc thực hiện quyền
đối với phần vốn Nhà nước tại tập đoàn. Những nước còn tập đoàn kinh tế Nhà
nước trên thế giới hiện nay không phải tập đoàn nào cũng thành công.
Thí điểm về thành lập tập đoàn kinh tế Nhà nước là một vấn đề rất quan
trọng liên quan đến quản lý, bảo toàn nguồn tài sản thuộc sở hữu toàn dân được
quy định trong Hiến pháp. Tuy là thí điểm nhưng các tập đoàn của chúng ta đều
được thành lập chính thức, là một chủ thể quan trọng của nền kinh tế. Nên từ chủ
trương của Đảng cho đến thực tiễn cần thiết phải có bước thể chế hóa thành văn
bản quy phạm pháp luật về thí điểm ở tầm một nghị quyết của Quốc hội trong đó
quy định rõ phạm vi lĩnh vực, thời gian thí điểm, mô hình tổ chức, địa vị pháp lý
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
xử lý những vấn đề mâu thuẫn với các luật, phân công trách nhiệm kiểm tra, giám
sát và xác định thời hạn tổng kết thì mới đảm bảo.
Nhưng ngay từ giai đoạn đầu tiên năm 2005, chúng ta đã bỏ qua bước thể
chế hóa quan trọng này mà chỉ dùng các quyết định cá biệt để thành lập từng tập
đoàn. Đáng lưu ý là có 8 tập đoàn thành lập đầu tiên gồm: than khoáng sản, dệt
may, Bảo Việt, dầu khí, cao su, điện lực, tàu thủy, viễn thông ra đời và họat động
từ năm 2005- 2006 khi chưa có văn bản pháp lý nào điều chỉnh về địa vị pháp lý,
mô hình tổ chức và đã hoạt động trong tình trạng này từ đó cho đến ngày
5/11/2009, Chính phủ mới ban hành Nghị định 101 về thí điểm thành lập tổ chức
họat động và quản lý tập đoàn kinh tế Nhà nước. Như vậy 4 năm sau ngày thành
lập chúng ta mới có hành lang pháp lý ở tầm nghị định cho tổ chức, hoạt động
quản lý của 8 tập đoàn này.
Cuối năm 2009 Quốc hội tiến hành giám sát việc chấp hành pháp luật về
quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước tại các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước.
Bên cạnh đánh giá mặt được thì Quốc hội cũng đã chỉ ra khá nhiều thiếu sót trong
công tác quản lý vốn, tài sản Nhà nước tại các Tập đoàn và ban hành Nghị quyết
42 yêu cầu Chính phủ tổng kết, đánh giá mặt tốt, mặt chưa tốt, chấn chỉnh những
thiếu sót và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp thứ 8. Trong 2 tháng kể từ khi Quốc hội
giám sát Chính phủ tiếp tục thí điểm thành lập thêm 4 tập đoàn mới: Viễn thông
quân đội, phát triển nhà đô thị, hóa chất, Sông Đà và cho đến nay Chính phủ vẫn
chưa có báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết 42 theo yêu cầu của Quốc hội.
Hai, về thẩm quyền và phạm vi thí điểm, các Tập đoàn thí điểm đều thuộc
những lĩnh vực trọng yếu, xương sống của nền kinh tế nhất là đối với 8 tập đoàn
đầu tiên. Do đó, nếu chỉ một Tập đoàn không thành công sẽ kéo theo cả những dây
chuyền và có ảnh hưởng lớn đến các cân đối kinh tế, đến uy tín quốc gia, đến
người lao động và Vinashin hiện nay là một minh chứng điển hình. Việc chúng ta
thí điểm ngay trên phạm vi rất rộng với nhiều lĩnh vực trọng yếu và gần đây lại
càng mở rộng là vấn đề rất đáng cân nhắc, nhiều luật gia cho rằng việc thí điểm
liên quan đến hàng trăm ngàn tỷ đồng vốn Nhà nước mà về mặt pháp luật ngay từ
đầu chúng ta lại không ràng buộc trách nhiệm của Quốc hội với tư cách là thiết
chế quyền lực Nhà nước cao nhất để cùng chia sẻ trách nhiệm mà chỉ đặt trách
nhiệm quá nặng nề lên vai Chính phủ là chưa thật hợp lý. Cử tri đặt câu hỏi Quốc
hội khóa XI, XII có trách nhiệm gì trong việc thí điểm thành lập các Tập đoàn
kinh tế lớn nắm giữ nhiều nguồn lực chủ yếu của đất nước như điện, dầu khí,
khoáng sản để đến bây giờ khi xác định trách nhiệm trong vụ Vinashin và trách
nhiệm về những sai phạm khác của các tập đoàn kinh tế thì trách nhiệm của Quốc
hội phải chăng chỉ còn là trách nhiệm của cơ quan giám sát.
Ba, việc Chính phủ quản lý Nhà nước và thực hiện quyền chủ sở hữu tài sản
Nhà nước tại các tập đoàn. Trong quá trình quản lý, Chính phủ đã phát hiện ra
rằng việc thực hiện quyền chủ sở hữu của Nhà nước, việc quản lý Nhà nước đối
với các tập đoàn có rất nhiều bất cập và lúng túng. Thậm chí lãnh đạo Bộ Kế
hoạch, đầu tư đã nói là rất khó khăn khi bộ vào làm việc với tập đoàn thì không có
cơ sở pháp lý. Cử tri cho rằng về mặt lý luận. Tập đoàn kinh tế Nhà nước không
Trung tâm Tin học
có tư cách pháp nhân, nhưng trên thực tế đã trở thành siêu pháp nhân. Nhiều tập
đoàn kinh tế đã biến độc quyền Nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp, nhưng
từ năm 2005 đến nay Chính phủ chưa kịp thời đề nghị Quốc hội sửa luật để khắc
phục những bất cập và lúng túng đó, để cho đến nay khi một trong những tập đoàn
thí điểm đó đổ vỡ Chính phủ mới báo cáo Quốc hội tại Báo cáo số 153 rằng sự
lúng túng và bất cập này cộng với mô hình tập đoàn đang ở giai đoạn thí điểm, thể
chế còn thiếu là một trong những nguyên nhân dẫn đến sai phạm của Vinashin. Về
phía cơ quan giám sát chúng ta cũng chưa chủ động phát hiện để kịp thời khắc
phục.
Bốn, về việc đầu tư ngoài ngành sản xuất kinh doanh chính.
Kính thưa Quốc hội. Đảng ta chủ trương xây dựng tập đoàn kinh tế Nhà nước
mạnh, tức là mạnh về ngành sản xuất kinh doanh chính. Mỗi tập đoàn sẽ là một
mũi nhọn của nền kinh tế, nhưng khi triển khai chúng ta lại cho tất cả các tập đoàn
dàn hàng ngang để kinh doanh tất cả các lĩnh vực như nhau thì còn đâu là mũi
nhọn.
Nghiên cứu kỹ các quyết định thành lập 8 tập đoàn đầu tiên cho thấy chúng ta
đã cho 8 tập đoàn này đầu tư đa lĩnh vực, trùng chéo nhau, trong đó không xác
định lĩnh vực nào là chính, lĩnh vực nào là phụ. Do đó, về mặt pháp lý sẽ không có
khái niệm đầu tư ra ngoài lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính. Theo các quyết định
này cả 8 tập đoàn đều được đầu tư bất động sản, tài chính, chứng khoán, ngân
hàng, bảo hiểm là những lĩnh vực đầy rủi ro. Điện lực được kinh doanh viễn
thông, còn cao su, dầu khí, than thì được đầu tư kinh doanh điện. Rõ ràng thực
trạng nhiều tập đoàn ồ ạt đổ xô vào đầu tư bất động sản, đầu tư tài chính, chứng
khoán trong khi quản trị yếu, thiếu trách nhiệm, dẫn đến thất thoát tài sản Nhà
nước mà Quốc hội và cử tri đã lên tiếng, chính là hệ quả của việc chúng ta đã cho
phép kinh doanh đa ngành nhưng không phân biệt ngành chính, ngành phụ và
trong hoạt động đã không được các bộ kiểm soát chặt chẽ.
Tập đoàn điện lực để xảy ra thiếu điện, cắt điện thường xuyên, ảnh hưởng lớn
đến sản xuất và đời sống của nhân dân, trong khi luôn kêu thiếu vốn, lỗ và đòi
tăng giá điện thì năm 2008 đề nghị thưởng cho cán bộ trong ngành hơn 1.000 tỷ
đồng và lại bỏ ra hơn 2.000 tỷ đồng để đầu tư lĩnh vực tài chính, chứng khoán
nhưng về cơ bản là không hiệu quả. Chúng tôi hoan nghênh Thủ tướng Chính phủ
đã nghiêm túc thực hiện ý kiến chỉ đạo của Trung ương và của Quốc hội chỉ đạo
chấn chỉnh tình trạnh này trong thời gian gần đây và 4 tập đoàn mới đã phân biệt
ngành nghề chính và ngành nghề liên quan.
Từ thực tế trên chúng tôi kiến nghị: một, ngoài Vinashin đề nghị Quốc hội và
Chính phủ cho kiểm toán, thanh tra toàn bộ hoạt động của các tập đoàn kinh tế
Nhà nước còn lại, nhất là đối với Tập đoàn điện lực, trên cơ sở đó báo cáo với
Quốc hội toàn diện về tổ chức và họat động của các tập đoàn thí điểm. Nếu khẳng
định thành công thì đề nghị Quốc hội sửa luật để tạo hành lang pháp lý cho tổ
chức và hoạt động của tập đoàn kinh tế Nhà nước.
Hai, đề nghị Chính phủ thực hiện nghiêm quy định tại Khoản 3, Điều 168
Luật doanh nghiệp, theo đó hàng năm Chính phủ báo cáo Quốc hội về thực trạng
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
kinh doanh vốn Nhà nước, thực trạng bảo toàn và phát triển giá trị vốn và tài sản
thuộc sở hữu Nhà nước tại doanh nghiệp.
Ba, đề nghị Chính phủ sớm báo cáo Quốc hội kết quả tổng kết mô hình Tổng
công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước và kết quả thực hiện Nghị quyết 42 về
kết quả giám sát của Quốc hội. Xin cảm ơn.
Phạm Thị Loan - TP Hà Nội
Kính thưa Quốc hội,
Về tình hình kinh tế - xã hội năm 2010 và nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm
2011 tôi cơ bản tán thành với Báo cáo của Chính phủ. Tôi xin đóng góp một số ý
kiến sau:
Một, tình hình kinh tế vĩ mô. Theo Báo cáo của Chính phủ thì tăng trưởng
GDP năm 2010 khoảng 6,7% cao hơn dự kiến của Quốc hội đưa ra. Tuy nhiên cử
tri còn nghi ngờ về các số liệu báo cáo tăng trưởng này, vì nếu theo dõi các báo
cáo Đại hội Đảng của các tỉnh thì con số các tỉnh báo cáo tăng trưởng của các tỉnh
từ 12 - 15%. Cử tri lo lắng về tình trạng chạy đua tăng trưởng về số mà thiếu quan
tâm tăng trưởng về chất và tính bền vững của sự phát triển.
Thực tế cho thấy việc nhập siêu năm 2009 là 12,92 tỷ, dự kiến năm 2010
thâm hụt mậu dịch khoảng 13 tỷ đôla, giá vàng tăng trong năm khoảng 20 đến
25%, tỷ giá hối đoái chênh lệch tỷ giá đang là nỗi bức xúc của doanh nghiệp. Lãi
suất ngân hàng đứng vào hàng cao nhất trên thế giới, lạm phát cao, chỉ số giá tiêu
dùng cao, ICO vẫn chưa được cải thiện, nhập siêu từ Trung Quốc rất cao, chiếm
90% nhập siêu của cả nước, nhưng Chính phủ vẫn chưa có biện pháp để cân đối,
trong khi đó vẫn đang mở rộng cửa cho hàng hóa và những dự án EPC mà trong
nước có đủ khả năng làm dành cho các doanh nghiệp của Trung Quốc thực hiện.
Việc hạn chế quotar nhập khẩu vàng và để giá vàng tăng cao, để cho thị trường tự
do thản nhiên thao túng nhập lậu vàng qua biên giới gây tác động xấu đến tỷ giá
ngoại tệ. Sự khan hiếm ngoại tệ ảnh hưởng đến cả thị trường bất động sản, thị
trường chứng khoán. Nhưng trong kế hoạch năm 2011 và kể cả định hướng chiến
lược những năm tiếp theo chúng tôi chưa thấy đưa ra được biện pháp thực sự hữu
hiệu nào. Vậy Chính phủ sẽ làm gì cho xã hội và kinh tế Việt Nam cân bằng và
phát triển bền vững?
Vấn đề thứ hai là vấn đề quản lý Nhà nước và trách nhiệm cuối cùng của ai
trong việc quản lý kinh tế Nhà nước. Vừa qua theo Báo cáo của Chính phủ và
thông báo của Ủy ban kiểm tra Trung ương Đảng ai cũng thấy được sự thật về
Vinashin, đó là sản phẩm của việc thí điểm tập đoàn kinh tế Nhà nước. Vấn đề tôi
muốn nêu ra ở đây là ai sẽ là người chịu trách nhiệm cuối cùng trong việc để
Vinashin rơi vào tình trạng như vậy. Trách nhiệm của Thủ tướng, của Chính phủ
và các Bộ, ngành, cá nhân liên quan như thế nào? Theo tôi không thể nói một cách
đơn giản là do các cán bộ lãnh đạo của Tập đoàn Vinashin, một mình Vinashin
không thể làm sai luật được. Chúng tôi tự hỏi ai đã cho phép Vinashin phát hành
trái phiếu với lượng tiền lớn như vậy? Ai đã cho phép Vinashin vay vượt hạn mức
quy định của một khách hàng theo quy định của luật là 15% vốn điều lệ của ngân
Trung tâm Tin học
hàng. Ai đã để Vinashin đầu tư tràn lan như vậy? Và đặc biệt là tại sao đã có 11
đoàn vào kiểm tra, giám sát nhưng vẫn không phát hiện ra sai phạm? Và tại sao
Quốc hội đã có quyết định đưa Vinashin vào danh sách giám sát từ năm 2009
nhưng Chính phủ vẫn đề nghị để hoãn lại, cho Thanh tra Chính phủ làm việc trước
và cho đến bây giờ kiểm toán Nhà nước của Quốc hội vẫn chưa vào kiểm toán
được. Vậy tại sao Thanh tra Chính phủ vẫn không phát hiện ra điều gì. Vậy tất cả
những việc đó là xuất phát từ mục đích gì? trách nhiệm thuộc về ai?
Trong Điểm c, Khoản 1, Điều 168, Luật doanh nghiệp qui định tách việc
chức năng thực hiện các quyền chủ sở hữu với chức năng quản lý hành chính Nhà
nước. Nhưng trong thực tế Bộ trường Bộ tài chính làm Chủ tịch Hội đồng quản trị
Công ty SCIC. Thứ trưởng Bộ công thương làm Chủ tịch tập đoàn TKV và Thủ
tướng thì đang trực tiếp quản lý 19 tập đoàn Tổng công ty Nhà nước 90 - 91.
Theo tôi được biết với việc Thủ tướng đang trực tiếp quản lý 19 tập đoàn
Tổng công ty Nhà nước như vậy. Các tập đoàn Tổng công ty Nhà nước này làm ăn
thua lỗ thì trách nhiệm của Thủ tướng như thế nào? Tại sao Thủ tướng vẫn trăm
công nghìn việc điều hành chung đất nước mà lại còn trực tiếp quản lý, điều hành
các tập đoàn Tổng công ty này. Tại sao không ban hành cơ chế điều hành chung
để họ hoạt động theo pháp luật. Đặc biệt tại Khoản 3, Điều 168, Luật doanh
nghiệp qui định: định kỳ hàng năm Chính phủ trình Quốc hội báo cáo tổng hợp về
thực trạng kinh doanh vốn chủ sở hữu Nhà nước. Thực trạng bảo toàn và phát triển
giá trị vốn đầu tư và tài sản sở hữu Nhà nước tại doanh nghiệp, nhưng nhiều năm
nay Quốc hội chưa nhìn thấy có bản báo cáo nào trình Quốc hội từ phía Chính phủ
theo như qui định nêu trên. Vậy việc không tuân thủ pháp luật để gây hậu quả
nghiêm trọng như vụ Vinashin thì trách nhiệm cuối cùng sẽ thuộc về ai?
Tôi đồng tình với các ý kiến trước tôi về việc phải qui trách nhiệm đến cùng
và đặc biệt Quốc hội, Đảng cần phải làm rõ trách nhiệm của những người quản lý
Nhà nước. Theo tôi nghĩ những người làm sai cũng cần phải có một lời xin lỗi với
nhân dân và có lẽ là cũng nên nghĩ đến văn hóa từ chức để nhân dân còn có lòng
tin với lãnh đạo Nhà nước và với Đảng.
Vấn đề thứ ba là vấn đề chiến lược về năng lượng của Chính phủ như thế
nào. Vừa qua khắp nơi nhân dân kêu thiếu điện, cắt điện tùy tiện không đúng Luật
điện lực, EVN kêu thiếu vốn, thủy điện thiếu nguồn nước để phát điện, EVN kêu
lỗ vốn trong năm hơn 6.000 tỷ Việt Nam đồng, giá mua điện cao hơn giá bán, các
nhà đầu tư điện ngoài EVN kêu khó ký hợp đồng bán điện cho EVN, có hợp đồng
bán rồi thì có được phép lên lưới hay không, lại phải xin - cho. Trong khi đó các
nhà máy nhiệt điện lớn do Trung Quốc làm EPC chạy không ổn định, tốn nhiều
than, công nghệ sử dụng than không phù hợp với loại than trong nước sản xuất
được.
Về thủy điện thì các nhà thầu EPC từ Trung Quốc chiếm đến 90% các dự án
EPC về điện và ta đang phải phụ thuộc họ về vấn đề hậu mãi, phụ tùng, phụ kiện
trong vận hành. Mặt khác Trung Quốc đang kiểm soát nguồn nước thượng nguồn,
lúc khô họ có thể giữ nước, lúc lũ lụt họ có thể xả nước gây nguy cơ cho ta. Gần
đây họ đang chuẩn bị xây nhà máy điện hạt nhân gần biên giới của ta với mục tiêu
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
sẽ bán điện cho ta và thực tế hiện nay ta đang phải mua điện của họ với giá cao
hơn giá mua điện trong nước. Vậy rõ ràng đang có nguy cơ ta sẽ bị phụ thuộc vào
nguồn điện của Trung Quốc và nếu vậy thì an ninh năng lượng có nguy cơ bị hệ
lụy vì sự phụ thuộc này.
Tôi xin có ý kiến về 3 vấn đề nêu trên, xin cảm ơn Quốc hội.
Lý Kim Khánh - Cà Mau
Kính thưa Quốc hội,
Cơ bản thì tôi cũng tán thành với Báo cáo của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra
của Ủy ban kinh tế của Quốc hội. Cùng với những ý kiến của các vị đại biểu đã
phát biểu trước về những nhận định, thành tựu đã đạt được. Tuy nhiên, bên cạnh
những kết quả đã được thì kinh tế - xã hội của nước ta vẫn còn bộc lộ không ít
những hạn chế, bất cập và đòi hỏi cần phải được phân tích một cách thấu đáo và
có những biện pháp thật cụ thể nhằm tạo bước chuyển biến cho năm tới và giai
đoạn tiếp theo.
Vấn đề thứ nhất, đó là vấn đề chương trình, mục tiêu quốc gia nói chung và
những chính sách xóa đói, giảm nghèo nói riêng. Qua thực tiễn và qua Báo cáo
của Chính phủ về các chương trình mục tiêu quốc gia đã được triển khai, thì phát
huy có hiệu quả kinh tế - xã hội và góp phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo
tạo việc làm theo mục tiêu đã được đề ra. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai các
chương trình mục tiêu quốc gia đã bộc lộ tồn tại và hạn chế. Do đó, tôi cũng đồng
tình cao với Báo cáo của Chính phủ và việc đề xuất danh mục các chương trình,
mục tiêu quốc gia giai đoạn 2011 - 2015 và có một số kiến nghị, giải pháp như
sau.
Thứ nhất là mục tiêu, chỉ tiêu của chương trình mục tiêu quốc gia được lựa
chọn phải thật cụ thể, rõ ràng, đo lường được, phù hợp với các mục tiêu của chiến
lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung của quốc gia trong khoảng thời
gian xác định. Đồng thời không trùng lắp với những mục tiêu, đối tượng của các
chương trình khác đang được thực hiện và cần tăng mức đầu tư để các địa phương
có thêm nguồn lực phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất cải thiện và nâng cao
đời sống nhân dân ở những vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Thứ hai, tiến độ triển khai thực hiện phải phù hợp với kế hoạch hàng năm,
điều kiện thực tế và khả năng huy động nguồn lực, các mục tiêu cụ thể phải xác
định được theo thứ tự ưu tiên hợp lý, đảm bảo đầu tư tập trung và có hiệu quả đối
với vùng sâu, vùng xa, vùng kém phát triển để giảm khoảng cách chênh lệch giữa
các vùng, miền.
Thứ ba là cần lồng ghép các chương trình mục tiêu, dự án đầu tư theo hướng
là tăng cường phân cấp đề cao vai trò, trách nhiệm của chính quyền địa phương và
sự kiểm tra giám sát của các ngành của Trung ương để tập trung nguồn vốn đầu tư.
Khắc phục tình trạng bố trí phân tán, dàn trải các nguồn vốn nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn.
Thứ tư, đề nghi các Ủy ban của Quốc hội có liên quan đến những vấn đề về
tài chính, khoa học công nghệ và các vấn đề xã hội cùng các cơ quan của Chính
Trung tâm Tin học
Phủ nghiên cứu, đề xuất về các cơ chế, chính sách pháp luật, tạo môi trường pháp
lý về đất đai, rừng, tài nguyên, môi trường và các chính sách phát triển sản xuất.
Đồng thời, các chính sách mới phải phù hợp với điều kiện và tình hình thực tế của
từng vùng, miền nhằm phát huy và khai thác tiềm năng, lợi thế để xóa đói, giảm
nghèo, phát triển bền vững cho các vùng đặc biệt khó khăn.
Thứ năm, cần triển khai đồng bộ các chính sách và giải pháp xóa đói, giảm
nghèo gắn với giải quyết việc làm và đào tạo nghề, nhất là đối với người nghèo,
lao động ở nông thôn. Ngoài ra, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách đối với người
có công, chính sách đối với thanh niên xung phong và chính sách trợ cấp xã hội.
Vấn đề thứ hai, đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Để thực hiện tốt hơn
nữa về chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc trong hội nhập. Kiến nghị với Chính
Phủ, Quốc Hội cần quan tâm những vấn đề sau:
Thứ nhất, cần tăng cường tốt hơn nữa về công tác tuyên truyền giáo dục,
nâng cao giác ngộ hiểu biết trong đồng bào dân tộc về đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Thứ hai, đề nghị Quốc hội, Chính Phủ tiếp tục có chủ trương, chính sách,
những giải pháp phù hợp và đòi hỏi phải có sự phối hợp thật đồng bộ nhiều giải
pháp về kinh tế, văn hóa, xã hội. Đồng thời cần có sự nỗ lực đầu tư toàn diện ở các
cấp, các ngành từ cơ sở đến Trung ương và của toàn xã hội thì sẽ làm chuyển biến
được toàn bộ đời sống và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Thứ ba, cần đổi mới nội dung và các phương thức công tác dân tộc để đáp
ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng
gắn liền với nhiệm vụ xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc.
Xây dựng cả về số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác vùng dân tộc.
Đặc biệt cần chú trọng và quan tâm hơn về việc đào tạo, bồi dưỡng và cơ cấu hợp
lý cán bộ là người dân tộc thiểu số ở các ngành, các cấp tại các địa phương.
Thứ tư, thực hiện tốt hơn nữa phương châm dân vận: "cận dân, gần dân, hiểu
dân và hợp dân, có trách nhiệm với dân", cần chú trọng xây dựng lực lượng nòng
cốt để nắm chắc và giải quyết kịp thời nguyện vọng chính đáng của đồng bảo dân
tộc, thực hiện tốt chính sách của Nhà nước và quán triệt quan điểm xây dựng đời
sống văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Vấn đề thứ ba, vấn đề liên quan đến y tế và chăm sóc sức khẻ nhân dân, hiện
nay ta chưa có cơ chế để cơ quan bảo hiểm xã hội kiểm soát giá thuốc, trong khi
hàng năm cơ quan chi trả một số lượng tiền rất lớn, năm 2009 quỹ bảo hiểm y tế
chi trả tiền thuốc cho các bệnh viện khoảng 9.500 tỷ đồng, dự kiến trong năm
2010 sẽ là 13.000 tỷ đồng, không biết đó là đắt hay rẻ, có đúng với giá hay không?
Thứ hai, theo quy định của Luật bảo hiểm y tế, một số nhóm đối tượng tham
gia bảo hiểm y tế thực hiện cùng chi trả 5% hoặc 20% kinh phí khám, chữa bệnh
nên một số đối tượng là người nghèo, người cận nghèo, người bị bệnh mãn tính,
bệnh nặng gặp rất nhiều khó khăn trong việc cần chi trả kinh phí khám chữa bệnh.
Thứ ba, thời gian qua về tình trạng giá thuốc tăng làm dư luận xã hội rất bức
xúc và bất bình trong nhân dân. Về vấn đề này tôi kiến nghị Chính phủ:
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
Thứ nhất, sớm chỉ đạo nghiên cứu bổ sung sửa đổi các quy định để có căn cứ
phát lý về giá thuốc khi xét thầu, bảo đảm tính công khai, minh bạch về giá thuốc,
hạn chế các công ty kinh doanh dược trung gian và hạn chế tình trạng hoa hồng
cho các hiệu thuốc. Đông thời, bổ sung quy định trách nhiệm của cơ quan bảo
hiểm xã hội trong việc tham gia kiểm soát giá thuốc và sớm sửa đổi một số quy
định còn bất cập của Luật bảo hiểm y tế để một số nhóm đối tượng gặp nhiều khó
khăn được bảo vệ sức khỏe tốt hơn.
Thứ hai, Bộ Y tế cần phối hợp thường xuyên với cơ quan truyền thông đại
chúng để thông tin chính xác, kịp thời diễn biến của giá thuốc trên thị trường cũng
như triển khai thực hiện Luật bảo hiểm y tế một cách toàn diện và các chính sách
về y tế khác. Trước mắt cần nghiên cứu để trình với Chính phủ sửa đổi một số văn
bản pháp luật để tạo điều kiện bình ổn giá thuốc chữa bệnh cho nhân dân.
Thứ ba là cần kiện toàn bộ máy thanh tra, tăng cường phối hợp liên ngành
trong thanh tra, kiểm tra việc quản lý Nhà nước về thuốc, giá thuốc và xử lý
nghiêm về các vi phạm trong các lĩnh vực này. Tôi xin hết ý kiến, xin cám ơn
Quốc hội.
(Quốc hội nghỉ giải lao)
Trần Ngọc Vinh - TP Hải Phòng
Kính thưa Quốc hội,
Mặc dù kinh tế toàn cầu phục hồi chậm, nhưng kinh tế nước ta đã sớm ra
khỏi tình trạng suy giảm và có mức tăng trưởng khá cao, kinh tế vĩ mô có bước cải
thiện, an sinh xã hội được bảo đảm tốt hơn. Có được kết quả đó là do sự lãnh đạo
sáng suốt của Đảng, sự chỉ đạo điều hành quyết liệt, linh hoạt của Chính phủ, sự
giám sát tích cực có hiệu quả của Quốc hội, sự phấn đấu nỗ lực và sáng tạo của
các ngành, các cấp cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể nhân dân. Tuy nhiên, nền
kinh tế nước ta vẫn còn đối mặt với những khó khăn, thách thức, ảnh hưởng đến
sự phát triển bền vững không chỉ trước mắt mà cho cả những năm sau. Nhất là
nguy cơ về chất lượng tăng trưởng còn thấp, lạm phát có xu hướng tăng cao. Vì
vậy, chúng ta phải nghiêm túc đánh giá phân tích một cách khách quan, đầy đủ
hơn nữa về những hạn chế, tồn tại của năm 2010 để từ đó đưa ra những giải pháp
hữu hiệu, bổ khuyết cho năm 2011. Với nhận thức như vậy, tôi xin tham gia cụ thể
một số nội dung sau.
Trước tình hình giá cả thị trường trong nước có xu hướng tăng cao, thâm hụt
thương mại lớn, thanh khoản của nhiều ngân hàng khó khăn, lãi suất tín dụng cao,
các doanh nghiệp rất khó tiếp cận với nguồn vốn, sản xuất kinh doanh gặp nhiều
khó khăn. Để thực hiện Nghị quyết của Quốc hội đề ra, Chính Phủ đã kịp thời ban
hành Nghi quyết số 18 với nhiều giải pháp cụ thể nhằm ổn định kinh tế vĩ mô,
không để lạm phát tăng cao, tốc độ tăng trưởng kinh tế ước khoảng 6,7% trong
năm 2010. Song, trong 21 chỉ tiêu của Quốc hội đề ra, còn 6 chỉ tiêu không hoàn
thành, chủ yếu liên quan đến đời sống của nhân dân, nhất là chỉ tiêu về lạm phát,
Trung tâm Tin học
môi trường, giáo dục và một số chỉ tiêu khác. Đề nghị Chính Phủ cần đánh giá sâu
sắc về nguyên nhân không hoàn thành các chỉ tiêu đó để có giải pháp khắc phục.
Về kinh tế tăng trưởng, nhưng đánh giá tổng thể thì thiếu bền vững. Trong đó
nhập siêu vẫn là một vấn đề báo động mà nhiều năm, năm nào cũng nêu trong báo
cáo nhưng chưa có biện pháp xử lý thích hợp. Mức nhập siêu quá lớn làm giảm dự
trữ ngoại tệ, thâm hụt ngân sách vãng lai. Nhiều mặt hàng trong nước sản xuất
được nhưng vẫn cho nhập khẩu, như vậy công tác quản lý của các cơ quan công
quyền còn lỏng lẻo. Hoạt động nhập khẩu chủ yếu dựa vào các doanh nghiêp nước
ngoài chi phối. Đề nghị Chính Phủ có chính sách cụ thể với nhập siêu và đẩy
mạnh hiệu quả của ngành công nghiệp phụ trợ.
Năm 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta tương đối cao. Tuy nhiên,
chủ yếu nhờ vào tăng vốn, chất lượng tăng trưởng thấp, hiệu quả đầu tư công thấp.
Kinh tế tăng trưởng nhưng thị trường tiền tệ vẫn diễn biến phức tạp, đồng Việt
Nam bị phá giá, lãi suất cao, giá vàng lên xuống thất thường, đôla tăng cao khiến
doanh nghiệp gặp khó khăn, ảnh hưởng đến thu nhập của người dân, giảm tác
dụng đến chính sách hỗ trợ người nghèo của Chính phủ.
Việc khống chế lạm phát chưa thực sự hiệu quả, giá tiêu dùng ngày càng
tăng cao gây khó khăn cho đời sống những người làm công, ăn lương, đối tượng
hưởng lương hưu trí, người có thu nhập thấp. Việc bình ổn giá chỉ mang tính tình
thế, chưa có giải pháp lâu dài. Đề nghị Chính phủ cần có biện pháp mạnh hơn để
chống độc quyền về giá.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song trong công tác dự báo tình hình cung cấp
điện còn yếu kém, quy hoạch thủy điện và chỉ đạo, xử lý thiếu điện chưa tốt. Việc
để tình trạng thiếu điện kéo dài gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt, tạo tâm lý
bức xúc cho người dân. Do đó, đề nghị Chính phủ phải đặt ưu tiên hàng đầu cho
việc quy hoạch và cơ cấu ngành điện một cách hợp lý nhất.
Về các tập đoàn và tổng công ty hiệu quả hoạt động không tương xứng với
nguồn lực của nhà nước đã đầu tư, mất lòng tin của nhân dân. Đề nghị Chính phủ
cần đánh giá và phân tích sâu sắc hơn nữa về nguyên nhân tồn tại, trên cơ sở đó
đưa ra những giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các tập
đoàn và tổng công ty nhà nước trong thời gian tới.
Về nông nghiệp nông thôn, chúng ta có hơn 70% dân số làm nông nghiệp
nên vấn đề bảo đảm an sinh xã hội là rất quan trọng. Đảng ta đã có Nghị quyết
Trung ương 7 về xây dựng nông thôn mới, song trên thực tế chưa có chuyển biến
tích cực. Năm 2009, nông nghiệp đóng vai trò 21% GDP nhưng chỉ được đầu tư
có 6,45% GDP, xu hướng ngày càng giảm, chưa thực sự ưu tiên cho người nông
dân, một số chính sách vừa qua nghiêng phần lợi cho các doanh nghiệp. Đề nghị
Chính phủ cần triển khai đồng bộ các chính sách để điều tiết tốt hơn, tạo sự cân
bằng vững chắc.
Trong năm 2011, đề nghị Chính phủ cần đẩy mạnh hơn nữa, phát triển kinh
tế điểm xa và có những giải pháp chỉ tiêu cụ thể để tập trung xử lý những vấn đề
như ô nhiễm môi trường; khắc phục tình trạng thiếu điện; ách tắc giao thông; đẩy
mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước; nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
hành chính; đầu tư thỏa đáng cho nông nghiệp nông thôn; chấn chỉnh, nâng cao
đạo đức xã hội, tăng cường kỷ cương phép nước.
Kính thưa Quốc hội.
Hiện nay lượng hàng đến và đi tại cảng Hải Phòng ngày một tăng; xe chở
hàng chạy trên đường 5 ngày càng quá tải, nhiều lúc gây ách tắc giao thông, tai
nạn thường xảy ra. Đề nghị Chính phủ tiếp tục chỉ đạo quyết liệt hơn nữa để đẩy
nhanh việc xây dựng cảng nước sâu Lạch Huyện và tiến độ đường cao tốc Hà Nội
- Hải Phòng, tạo động lực phát triển kinh tế xã hội cho các tỉnh khu vực sông
Hồng.
Trên đây là một số ý kiến của tôi xin kính trình Quốc hội và Chính phủ. Xin
trân trọng Quốc hội.
Đồng Hữu Mạo - Thừa Thiên - Huế
Thưa Quốc hội,
Tôi xin phát biểu 2 vấn đề.
Vấn đề thứ nhất, cũng vào thời điểm này năm trước khi thảo luận về kinh tế -
xã hội với những tác động bất lợi của nền kinh tế thế giới. Cộng với những khó
khăn trong nước, chúng ta lo sợ năm 2010 kinh tế của nước nhà có những diễn
biến xấu. Tuy nhiên, đến nay chúng ta giữ được sự ổn định và phát triển tốc độ
tăng trưởng GDP cao, chính trị ổn định, quốc phòng an ninh giữ vững, vị thế của
Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng cao. Kết quả đó không phải là ngẫu nhiên
mà là kết quả của sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng, của Quốc hội đặc biệt là sự điều
hành linh hoạt nhạy bén của Chính phủ. Dù vậy tình hình hiện nay vẫn đang hết
sức phức tạp, nhất là sự biến động của giá cả. Đề nghị Quốc hội, Chính phủ có
những giải pháp chủ động, kịp thời đối phó, đừng để lạm phát cao trở lại, ảnh
hưởng bất lợi đến kinh tế - xã hội.
Vấn đề thứ hai, năm ngoái phát biểu trước Quốc hội, tôi đã đề xuất các chính
sách hỗ trợ phòng, chống bão lụt. Lần này lẽ ra không nên phát biểu lại, nhưng
tình hình bão lụt vừa qua tại miền Trung, tôi thấy nhiều điều ray rứt. Vì vậy, tôi
xin trở lại chủ đề này. Nhìn cảnh nhiều gia đình ngồi trên nóc nhà, đu trên cành
cây trong những trận lụt vừa qua tôi thầm nghĩ giá như lúc đó mỗi gia đình của họ
có một góc nhà an toàn để trú ẩn, góc nhà không cần phải rộng, càng không cần
phải tiện nghi, miễn là có chỗ an toàn để nằm, có chỗ đứng để nấu ăn để khỏi đói
rét trong những ngày bão lụt thì hạnh phúc biết mấy, nhưng họ lại không có nơi an
toàn như thế để trú ẩn, nóc nhà, cành cây không phải là nơi làm ra để tránh trú bão.
Năm ngoái ở tỉnh chúng tôi có hai vợ chồng có đứa con nhỏ rơi xuống nước chỉ vì
trú ẩn qua đêm ở những nơi như thế. Những cảnh thương tâm đó làm tôi nghĩ tới
công tác phòng, tránh bão lụt.
Trước hết nói về người dân sinh ra và lớn lên trong vùng thấp trũng và không
năm nào là không trực tiếp với bão lụt hoặc bị bão lụt đe dọa, nên chắc chắn
không một gia đình nào là không có những giải pháp đề phòng bão lụt. Tuy nhiên
trừ một số gia đình có điều kiện xây nhà kiên cố, còn phần lớn đều là phòng tránh
Trung tâm Tin học
sơ sài, không đủ sức phòng chống về bão lụt, chưa nói đến những trận bão lụt lịch
sử, chỉ cần một trận bão lụt bình thường thì cũng đã thiệt hại khá nặng nề rồi.
Đối với Nhà nước đã thực sự quan tâm đến công tác phòng, chống bão lụt, đã
đầu tư nhiều hồ, đập, đê điều đã hết hàng ngàn tỷ đồng, hàng vạn tấn gạo để cứu
trợ đồng bào. Các cấp ủy Đảng, chính quyền từ Trung ương xuống địa phương đã
làm hết mình để cứu dân. Nhưng chúng ta chưa hỗ trợ nhân dân, nhất là người
nghèo có một chỗ ở an toàn để tránh trú bão. Không có chỗ an toàn để tránh bão
lụt, nên khi bão lụt xảy ra thì thiệt hại khôn lường, người chết, tài sản trôi, bị hỏng,
đặc biệt là người nghèo nhà cửa đơn sơ, dành dụm được một ít vốn liếng chưa kịp
thoát nghèo thì bão lụt lại xóa sạch. Những hình ảnh mà các phương tiện truyền
thông đưa tin trận lụt vừa qua tại Hà Tĩnh, Quảng Bình, Nghệ An làm cho bất cứ
một ai không khỏi động lòng. Những tiếng kêu cầu cứu trong đêm, những cánh tay
nhô lên từ các mái nhà, có những gia đình chịu đói, chịu khát nhiều ngày, có người
phụ nữ bồng con đứng suốt đêm vì không có chỗ ngồi, tất cả đều nói lên vì không
có một chỗ ở an toàn. Cũng nói thêm là thiệt hại vừa qua mới chỉ là thiệt hại đơn,
tức là thiệt hại do lụt chưa kèm theo bão, nếu gặp lụt kèm theo bão mà chỗ ở
không an toàn như hiện nay thì thiệt hại gấp hàng chục, thậm chí hàng trăm lần.
Năm trước tôi có đề xuất Quốc hội cần có chính sách hỗ trợ nơi ở an toàn
cho nhân dân vùng bão lụt, năm nay qua tình hình bão lụt vừa rồi càng thôi thúc
tôi đề nghị mạnh hơn. Nơi ở an toàn là vấn đề hết sức bức thiết, là mong muốn lớn
nhất của nhân dân sống trong vùng bão lụt, vì vậy sự quan tâm của Đảng và Nhà
nước trong phòng, chống bão lụt trước hết phải là sự quan tâm hỗ trợ cho nhân dân
có nơi ở an toàn. Nơi ở an toàn ở mỗi vùng, miền khác nhau, miền Nam có thể tôn
nền vượt lũ, còn miền Trung có thể xây dựng công trình có độ cao hơn 3m, trong
điều kiện còn khó khăn, nhất là người nghèo không đủ khả năng xây dựng ngôi
nhà có độ cao như vậy, vì vậy tôi đề nghị nhà nước hỗ trợ các hộ nghèo và cận
nghèo xây dựng góc nhà an toàn, đó là góc nhà có độ cao vượt được lũ lịch sử, có
kết cấu chịu được bão mạnh, với diện tích tối thiểu đủ để cất giữ tài sản thiết yếu
và trú ẩn cho gia đình trong những lúc cần thiết. Vì là diện tích tối thiểu nên nó sẽ
không tiện nghi, nhưng theo tôi nghĩ đó là phương án lựa chọn tối ưu khi bão lụt
thường xuyên đe dọa, nhưng nhân dân chưa đủ điều kiện để xây dựng nhà kiên cố.
Tôi không có điều kiện để tính toán cụ thể nhưng tôi nghĩ chi phí để xây dựng một
nơi ở như vậy là có thể thực hiện được nếu có sự nỗ lực của Nhà nước và nhân
dân.
Thưa Quốc hội, việc Nhà nước, các tổ chức từ thiện, người hảo tâm hỗ trợ
giúp đỡ người nghèo về nhà ở là việc đã và đang làm. Vì vậy, việc tôi kiến nghị
giúp đỡ người nghèo có nơi ở an toàn là không có gì quá đáng. Trước khi đưa ra
đề xuất này tôi đã tìm hiểu chính sách Nhà nước hiện hành như Chương trình 134,
Quyết định 193, Quyết định 167 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ nhà ở cho
người nghèo. Những chính sách này đã thực hiện được nhiều năm và sắp đến thời
kỳ kết thúc. Đây là điều kiện thuận lợi cả nguồn kinh phí và kinh nghiệm để thực
hiện hỗ trợ người nghèo về nơi ở an toàn. Nếu có chỗ ở an toàn, có nơi trú ẩn và
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
cất giữ tài sản thiết yếu sẽ không bị thiệt hại nặng nề khi có bão lụt. Đó là điều
kiện đầu tiên để người nghèo vươn lên thoát nghèo.
Việc hỗ trợ ngân sách Nhà nước cho người nghèo có chỗ ở an toàn là cách hỗ
trợ chủ động, hỗ trợ 1 lần khác với hỗ trợ sau bão lụt là hỗ trợ nhiều lần. Hỗ trợ
trước bão lũ để không xảy ra thiệt hại, hỗ trợ sau bão lũ dù nhiều cũng không thể
bù đắp được những thiệt hại do bão lũ gây ra. Xin cảm ơn Quốc hội.
Nguyễn Hồng Quân - Bộ trưởng Bộ Xây dựng
Kính thưa Quốc hội,
Được phép của Đoàn Chủ tịch, tôi xin phép báo cáo với Quốc hội về tình
hình quy hoạch xi măng.
Trước hết, tôi cũng chia sẻ và đồng tình với ý kiến của đại biểu Tiến ở
Quảng Trị phát biểu trước đây về công tác quy hoạch của chúng ta có vấn đề về
chất lượng, về sự đồng bộ. Trước hết phải nói rằng quy hoạch ở đây chúng ta cũng
phải nhận thức là nó 2 phạm trù khác nhau là quy hoạch ngành và quy hoạch lãnh
thổ, hay nói cách khác là quy hoạch phi vật thể và quy hoạch vật thể. Tôi xin phép
nói về quy hoạch ngành, quy hoạch xi măng là thuộc phạm vi chức năng của
ngành xây dựng. Như đại biểu nêu số liệu cũng có cái đúng, tức là hiện nay nếu
xét trong quan hệ cung cầu của xi măng thì các dự án xi măng trong nước của
chúng ta cung đang lên cao dần và như năm nay con số của cung là vượt cầu. Thưa
Quốc hội, mỗi năm thị trường xi măng của chúng ta tăng trưởng khoảng 11%, tức
là khoảng 4,5-5 triệu tấn/1 năm, năm nay chúng ta tiêu thụ khoảng 50,5-51 triệu
tấn xi măng, dự báo cuối năm nay chúng ta sẽ có khoảng 55-56 triệu tấn xi măng.
Trong những năm vừa qua không phải chúng tôi điều chỉnh quy hoạch xi măng
đến 4 lần như đại biểu nói mà quy hoạch 108 được Thủ tướng Chính phủ cách đây
5 năm, bây giờ chúng tôi đang điều chỉnh.
Điều chỉnh quy hoạch ngành nhiệm vụ quan trọng là mục tiêu đảm bảo bình
ổn thị trường, có nghĩa là cung cầu nhất trí, cung với cầu mà nhất trí với nhau có
nghĩa là mình đảm bảo bình ổn thị trường. Quan hệ cung cầu có tác động bởi các
quy luật của kinh tế thị trường và nhiệm vụ của nhà nước là làm sao chúng ta nhìn
thấy trước được việc đó và chúng ta tăng được cung để đảm bảo cầu, tăng cầu tức
là phát triển thị trường và tăng cung lên để đảm bảo bình ổn sự cung cầu đó, hiện
nay đang làm việc này. Thị trường xi măng của chúng ta trong những năm vừa
qua, chúng ta cũng phải nhìn nhận nhập khẩu clinke khoảng 3-3,5 triệu tấn/1 năm.
Như ngay trong năm nay mình nói là thừa xi măng như thế nhưng trên thực tế vẫn
còn phải nhập khẩu tới 1,7 triệu tấn clinke, đó là tình hình thị trường, vì thị trường
giờ chúng ta hội nhập rồi, không phải mình cấm đoán, doanh nghiệp ở thị trường
cảm thấy nhập khẩu còn tiêu thụ được thì người ta lại nhập khẩu. Chính phủ chỉ
đạo một mặt mình tăng cung, mặt khác mình hạn chế nhập khẩu clinke, năm nay
Chính phủ đã làm việc đó, Bộ Xây dựng đã làm việc đó, năm ngoái nhập khẩu 3,5
triệu tấn clinke, năm nay nhập 1,7 triệu tấn, cung đang từng bước hạn chế. Khi
chúng tôi làm quy hoạch vật liệu có xác định rõ trên các vùng nguyên liệu là làm
quy hoạch. Báo cáo Quốc hội, trên cơ sở các vùng nguyên liệu của nước ta chia ra
Trung tâm Tin học
làm 6 vùng nguyên liệu xi măng và gắn với phát triển kinh tế - xã hội của vùng để
đảm bảo việc các dự án xi măng có hiệu quả. Thị trường xi măng của ta có đặc
điểm ở khu vực miền Bắc nguồn nguyên liệu dồi dào cho nên cung ở miền Bắc lớn
nhưng cầu không cao bằng miền Nam nên khu vực ở miền Nam nguồn nguyên
liệu đá vôi ít, tiêu thụ xi măng cao. Khi làm quy hoạch xi măng chúng tôi phải tính
toán việc này làm sao đảm bảo cân đối hợp lý giữa các vùng miền và đảm bảo cân
đối cung cầu.
Chúng tôi dự báo trong những năm tới thị trường xi măng của chúng ta tiếp
tục tăng, hiện nay các dự án xi măng đưa vào quy hoạch đang đảm bảo cung phù
hợp với cầu, nó có cao hơn cầu cũng có bởi tính toán bằng hệ số. Trong những
năm tới dư thừa xi măng từ 2 - 5 triệu tấn xi măng, trong những năm tới đây chúng
tôi đang đề xuất những biện pháp để báo cáo với Chính phủ, trong đó có:
Biện pháp thứ nhất là tăng cường tiêu thụ xi măng hơn nữa, đẩy cầu lên bằng
việc đưa xi măng vào các công trình giao thông, công trình thủy lợi, kênh mương,
nội đồng, đường giao thông nông thôn và chúng tôi cũng đang bàn với Bộ Giao
thông vận tải là cả đường quốc lộ. Xi măng là một mặt hàng trong nước sản xuất
được mà nếu chúng ta tiêu thụ trong nước được thì đó là một việc tốt, việc này
cũng đang còn có những ý kiến tranh luận về vấn đề giá thành đầu tư đường xi
măng, đường nhựa v.v..., việc này từng bước chúng tôi đang bàn với Bộ Giao
thông vận tải để giải quyết.
Thứ hai là tăng các dự án đầu tư vào vật liệu xây dựng không nung để thay
thế cho gạch ngói, đất sét nung. Gạch ngói, đất sét nung ở nước ta hiện nay
khoảng 15 - 20 tỷ viên một năm, ảnh hưởng đến môi trường tiêu thụ năng lượng,
tiêu thụ than. Vật liệu xây dựng không nung có nhiều tính ưu việt và nếu thay thế
cho gạch ngói, đất sét nung giải quyết vấn đề xi măng ngoài ra còn có những ưu
điểm của nó như vấn đề về môi trường, vấn đề tiêu thụ năng lượng, vấn đề đất đai.
Hiện nay trên cả nước chúng tôi đã trình đề án này Thủ tướng Chính phủ đang phê
duyệt và đang phát động trên cả nước có 10 dự án nhà máy gạch vật liệu xây dựng
không nung đang đầu tư xây dựng và có 2 nhà máy đã đi vào sản xuất. Đó là vấn
đề thứ hai.
Thứ ba là cũng phải tính đến việc xuất khẩu, xuất khẩu hiện nay thì chúng tôi
bàn với Hiệp hội xi măng để tăng cường thúc đẩy xuất khẩu xi măng nhưng thực
chất là xuất khẩu clinke. Vì xi măng nó là một loại hàng có đặc thù giá trị không
cao, vật liệu rời, mau hỏng, cho nên việc mình tính tới chuyện xuất khẩu của nó thì
không phải dễ, cái này phải trên cơ sở tính toán về thị trường, có những giải pháp.
Ví dụ, cảng dân dụng, tàu dân dụng v.v... thì mới thúc đẩy được cái này. Vì hiện
nay đang khuyến khích xuất khẩu xi măng và một số doanh nghiệp của chúng ta
cũng đang làm việc này.
Thưa Quốc hội, điều chỉnh quy hoạch 108 là quy hoạch về cân đối cung cầu
xi măng do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2005 thì bây giờ chúng tôi mới
đang chuẩn bị trình Thủ tướng Chính phủ để điều chỉnh việc thi hành này đảm bảo
bình ổn thị trường xi măng ở trong cả nước. Còn việc cung tăng lên, thưa với
Quốc hội là nó cũng có một tình hình nữa, tức là trong những năm vừa qua thì
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
thường xi măng của mình cung nhỏ hơn cầu, làm xi măng ra bán không hết, các
nhà doanh nghiệp thấy làm xi măng dễ quá nên cũng muốn đầu tư, nhiều nhà đầu
tư muốn đầu tư. Đầu tư để phát triển thì cũng là tốt, cái này khi mình và các nhà
doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp khu vực tư nhân người ta đầu tư thì tất nhiên
người ta có quyền hạn của người ta, trong kinh tế thị trường thì mình cũng phải
giải thích, chúng tôi cũng làm tuyên truyền và giải thích này để cho anh em doanh
nghiệp, các nhà doanh nghiệp người ta cũng phải hiểu. Bởi vì đầu tư ra nhà máy xi
măng cũng dễ nhưng làm xong nhà máy xi măng rồi mà không bán được xi măng
thì người đầu tư cũng chết. Việc này cũng cần phải có một quá trình để thay đổi
nhận thức, kể cả cho các khu vực doanh nghiệp, kể cả ngoài xã hội. Đặc biệt cần
phải có sự phối hợp ở trên đối với các đồng chí, các cơ quan, các cấp chính quyền
ở các địa phương nữa.
Thưa Quốc hội, tôi xin báo cáo có một đặc điểm là ở nhiều địa phương của
mình, nhất là những địa phương nghèo, công nghiệp thì không có, kinh tế thì chậm
phát triển, có nhà đầu tư đến thì mình cũng mừng. Cho nên tâm lý anh em hay ủng
hộ, hay khuyến khích, thậm chí tạo điều kiện cho nhà đầu tư đầu tư xi măng vào.
Nhưng bức tranh vĩ mô về cung - cầu xi măng của toàn quốc có khi các đồng
chí không biết, có khi lãnh đạo địa phương cũng không biết và nhà đầu tư có khi
cũng không biết. Cho nên phong trào cũng đã có lúc, có nơi lên tiếng là phong trào
đầu tư xi măng thì chúng tôi cố gắng giúp Chính Phủ hạn chế công việc này,
không để xảy ra câu chuyện gọi là "phong trào xi măng".
Nếu chúng ta theo dõi trên thị trường thì thấy như năm ngoái, nhưng bây giờ
tự thị trường làm cho mọi người cũng phải giác ngộ, kể cả các nhà đầu tư, các nhà
doanh nghiệp và nhiều đồng chí lãnh đạo chính quyền địa phương. Ví dụ có những
địa phương thấy mình có đá vôi được nhiều, có hàng tỷ tấn đá vôi có thể làm 5
triệu, 10 triệu tấn xi măng ở một chỗ thì chắc chắn thị trường không cho phép làm
được như thế, không tiêu thụ được như thế. Đó là chưa nói đến chuyện hạ tầng, hạ
tầng cơ sở không cho phép. Bởi vì đầu tư xi măng mà muốn tiêu thụ được thì nó
phải có hạ tầng, phải có đường xá, bến cảng. Ví dụ tỉnh Quảng Bình có Nhà máy
xi măng Sông Gianh nếu con đường tốt mà đưa ra được cảng Hòn La và bán được,
tiêu thụ được thì tiết kiệm được 20.000 đồng nếu đưa ra được cảng Vũ Hán thì nó
phải đồng bộ với hạ tầng. Vấn đề này thì không phải nhà đầu tư nào cũng biết
được và không hỏi nhiều như các đồng chí lãnh đạo cấp chính quyền được. Chúng
tôi giúp Chính phủ tuyên truyền vấn đề này. Quá trình xây dựng, quy hoạch cũng
là quá trình tuyên truyền, vận động để cho mọi người hiểu về quy hoạch.
Năm nay thị trường đang từng bước đi vào ổn định. Chúng tôi tham mưu
giúp Chính phủ để bình ổn thị trường xi măng. Hiện nay đã giảm nhập khẩu cờ
lanh ke rồi, cung cầu ổn định.
Được phép của Đoàn Chủ tịch, tôi xin báo cáo Quốc hội thêm một số thông
tin như vậy.
Vi Trọng Lễ - Phú Thọ
Kính thưa Quốc hội.
Trung tâm Tin học
Tôi nhất trí với Báo cáo của Chính phủ đánh giá về tình hình thực hiện Nghị
quyết của Quốc hội, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2010, cũng như Báo
cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho rằng mặc dù năm 2010 còn gặp
nhiều khó khăn, song với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị; sự chỉ đạo, điểu
hành quyết liệt trong tổ chức thực hiện, nhất là việc xử lý kịp thời, nhanh nhạy
những tình huống phát sinh, chúng ta đã vượt qua khó khăn và đạt được những kết
quả khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và
công tác đối ngoại. Tôi cũng đồng ý với các chỉ tiêu và 6 nhóm nhiệm vụ, giải
pháp phát triển kinh tế - xã hội mà Chính phủ đưa ra cho năm 2011. Đóng góp vào
các nhiệm vụ, giải pháp của năm 2011, tôi xin có 2 ý kiến sau đây:
Thứ nhất, về lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn. Thời gian qua
Chính phủ đã nỗ lực triển khai Nghị quyết của Hội nghị ban chấp hành Trung
ương Đảng lần thứ 7 về nông nghiệp, nông thôn và nông dân, kết quả bước đầu đạt
được rất đáng khích lệ. Tuy nhiên qua khảo sát và nắm bắt thực tế chúng tôi nhận
thấy việc đầu tư vào nông nghiệp hiện nay chứa đựng nhiều rủi ro, phụ thuộc rất
nhiều vào thời tiết, giống, đất đai, thổ nhưỡng. Trong khi đất nông nghiệp lại
manh mún không chỉ ở vùng trung du, miền núi mà ngay ở các tỉnh vùng đồng
bằng. Do vậy việc đưa cơ giới vào đồng ruộng rất khó khăn, mặc dù trong các năm
gần đây các địa phương đã nỗ lực tổ chức thực hiện việc dồn điền, đổi thửa. Ở
những nơi có tiềm năng sản xuất lúa để xuất khẩu như vùng Đồng bằng sông Cửu
Long thì sản lượng, chất lượng lúa không đồng nhất, do kỹ thuật chăm sóc của
nông dân không giống nhau từ khâu chọn giống, chọn phân bón, chăm sóc từ chu
kỳ đến khâu thu hoạch và chế biến sau thu hoạch cũng không đồng nhất. Do vậy
theo các chuyên gia xuất khẩu lúa gạo thì chất lượng gạo của Việt Nam thấp, tỷ lệ
tấm ở mức cao, kém lợi thế cạnh tranh.
Để chương trình xây dựng nông thôn mới có hiệu quả vừa đảm bảo chiến
lược an ninh lương thực, vừa đảm bảo ở nông nghiệp, nông thôn phát triển bền
vững, tôi xin đề nghị Chính phủ:
Một, chỉ đạo các Viện khoa học quan tâm nghiên cứu xây dựng một bộ giống
cây lương thực chuẩn và ổn định, để từ đó có thể sản xuất đại trà tạo ra một sản
lượng lương thực hàng hóa lớn, phục vụ cho tiêu dùng trong nước cũng như là
xuất khẩu.
Hai, chỉ đạo các địa phương sớm hoàn thành việc xây dựng quy hoạch sử
dụng đất nông nghiệp, bao gồm cả việc quy hoạch vùng nông nghiệp chuyên canh
lớn, trong đó quan tâm đến quỹ đất nông nghiệp ổn định, đặc biệt là đất trồng cây
lương thực, không cho lấy đất trồng lúa để sử dụng sang việc khác, nhằm giúp cho
người nông dân yên tâm sản xuất lâu dài và có điều kiện thâm canh, chuyên canh
sâu trên thửa ruộng của mình. Nhà nước nên tiếp tục triển khai việc miễn, giảm
thuế sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2020.
Ba, để gắn kết người nông dân với nhau trong mô hình mới về hợp tác xã
nông nghiệp, nhà nước phải tạo điều kiện để họ hỗ trợ lẫn nhau hoặc cộng đồng
trách nhiệm trong sản xuất nông nghiệp nói chung, từ khâu chọn giống quy trình
kỹ thuật chăm sóc đến khâu thu hoạch, chế biến và tiêu thụ. Muốn vậy phải sớm
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
sửa đổi, hoàn thiện Luật hợp tác xã theo hướng nhà nước có nhiều ưu đãi để hỗ trợ
hình thành và phát triển các hợp tác xã nói chung, trong đó có hợp tác xã nông
nghiệp, thu hút người nông dân hăng hái vào hợp tác xã.
Bốn, mô hình liên kết 4 nhà là nhà nước, nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh
nghiệp trong sản xuất nông nghiệp đang được nhiều ngành, địa phương, doanh
nghiệp và nông dân quan tâm. Tuy nhiên mối liên kết này còn rất lỏng lẻo, chưa
phát huy được hiệu quả, nhất là mức độ liên kết giữa các khâu từ sản xuất, chế
biến đến tiêu thụ của các thành phần kinh tế chưa chặt chẽ. Đề nghị Chính phủ cần
quan tâm chỉ đạo để phát triển mối liên kết 4 nhà đảm bảo chặt chẽ và hiệu quả
theo hướng xác định rõ trách nhiệm từng nhà đến đâu, cơ chế ràng buộc giữa các
nhà nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp nông thôn phát triển. Theo chúng tôi nên
bổ sung thêm một nhà trong mô hình liên kết 4 nhà, đó là nhà trường, vì muốn
phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững, có hiệu quả thì người nông dân phải
được đào tạo bài bản, nhà trường phải có trách nhiệm đào tạo nông dân theo nhu
cầu ngành nghề, cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng đúng địa chỉ và phải là
một mắt xích quan trọng trong quy trình khép kín phát triển nông nghiệp, nông
thôn bền vững.
Vấn đề thứ hai tôi muốn phát biểu là về lĩnh vực lao động và việc làm. Theo
Báo cáo của Chính phủ năm 2010 nước ta đã tạo được 1,6 triệu việc làm mới, tăng
6,65% so với năm 2009, đào tạo nghề cho trên 1,7 triệu người và thu nhập bình
quân đầu người một tháng đạt 1.365.000 đồng. Các số liệu trên đây cho thấy lĩnh
vực lao động, việc làm đã phục hồi và tăng trưởng trở lại sau khủng hoảng tài
chính toàn cầu. Tuy nhiên, qua khảo sát trên địa bàn tỉnh và theo dõi một số trung
tâm công nghiệp lớn của cả nước, chúng tôi nhận thấy một bất cập đang xảy ra, đó
là các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện
nay đang rất khát lao động, họ cần tuyển một số lượng lớn lao động phổ thông và
lao động có tay nghề nhưng đã rất khó khăn. Ảnh hưởng không nhỏ đến kế hoạch
sản xuất, kinh doanh và hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp.
Vậy nguyên nhân nào có tình trạng như vậy? Theo tôi nguyên nhân chủ yếu
là do thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp còn rất thấp, không đảm
bảo được các điều kiện sinh hoạt hàng ngày cho người lao động. Bên cạnh đó
chính sách đào tạo nghề cho người lao động còn nhiều hạn chế và chưa đáp ứng
được yêu cầu thực tiễn đặt ra khi nguồn cầu lao động ngày càng một lớn, do số
lượng các doanh nghiệp ngày càng tăng. Một nguyên nhân khác mang tính quyết
định đó là các doanh nghiệp sử dụng lao động chưa có chính sách thu hút lao động
phù hợp, sự nhận thức về pháp luật lao động còn hạn chế nên đã vi phạm các điều
khoản trong hợp đồng lao động cũng như các nguyên tắc xây dựng thang lương,
bảng lương, định mức lao động, lập quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm, trích kinh
phí công đoàn, đóng bảo hiểm xã hội, vi phạm công tác vệ sinh an toàn lao động
v.v... Để đáp ứng yêu cầu lao động cho các doanh nghiệp trong thời gian tới, khắc
phục những hạn chế nêu trên, tôi xin kiến nghị với Chính phủ và các bộ, ngành
liên quan một số nội dung sau:
Trung tâm Tin học
Thứ nhất, Chính phủ cần dự báo được xu thế phát triển của thị trường lao
động có khả năng ổn định trong 5 năm tới. Đồng thời không ngừng củng cố hệ
thống các trường đào tạo nghề và các trung tâm giới thiệu việc làm hiện có, đảm
bảo số lượng lao động đã được đào tạo nghề, dần dần đáp ứng với yêu cầu thực
tiễn của các doanh nghiệp đặt ra. Muốn vậy thì sự liên kết giữa các cơ sở đào tạo
nghề với các doanh nghiệp phải gắn bó chặt chẽ hơn nữa.
Thứ hai, tăng cường công tác quản lý Nhà nước, nhất là thanh tra, kiểm tra
thực hiện các quy định của Nhà nước về lao động, việc làm, phải đề cao hoạt động
của các tổ chức công đoàn, nhất là tổ chức công đoàn cơ sở, coi hoạt động của các
tổ chức công đoàn là vấn đề cốt lõi để bảo vệ quyền lợi của người lao động cũng
như giải quyết tranh chấp lao động tập thể và đình công, lãn công. Tăng cường các
chế tài xử lý và xử lý nghiêm túc các doanh nghiệp vi phạm đến quyền lợi của
người lao động cũng như quyền của các tổ chức công đoàn. Mặt khác, chủ sử dụng
lao động, các tổ chức công đoàn cơ sở phải chú trọng đến công tác tuyên truyền,
giáo dục pháp luật về lao động cho người lao động, nâng cao nhận thức và trách
nhiệm của họ đối với doanh nghiệp.
Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hệ thống tiền lương, tiền công một cách
đồng bộ, ổn định, đồng thời thực hiện thống nhất chính sách chế độ đối với người
lao động làm việc trong các doanh nghiệp, các ngành nghề khác nhau, hoàn thiện
hệ thống thể chế thị trường lao động, tạo hành lang pháp lý và bảo đảm bình đẳng
hài hòa lợi ích giữa người lao động, người sử dụng lao động và lợi ích chung.
Thứ tư, tiếp tục quan tâm đến chính sách nhà ở cho công nhân cũng như các
thiết chế văn hóa, trạm y tế, bệnh viện, trường mầm non ở những nơi tập trung
đông người lao động. Trên đây là một số ý kiến của tôi xin được tham gia.
Huỳnh Nghĩa - TP Đà Nẵng
Kính thưa Chủ tọa kỳ họp,
Kính thưa Quốc hội,
Về tình hình kinh tế - xã hội năm 2010 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
năm 2011, tôi xin tham gia một số vấn đề sau đây:
Trước tiên, cần phải khẳng định năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự
giám sát chặt chẽ của Quốc hội, sự chỉ đạo điều hành năng động quyết liệt của
Chính phủ và chính quyền các cấp, chúng ta đã đạt được những thành tựu ấn
tượng, to lớn và đáng phần khởi, GDP tăng 6,7%, có 15/21 chỉ tiêu đạt và vượt kế
hoạch, đặc biệt nền kinh tế phục hồi khá nhanh, càng cuối năm càng nhanh hơn,
cân đối kinh tế vĩ mô cơ bản giữ được ổn đinh. Tuy nhiên, còn khá nhiều vấn đề
bức xúc mà kỳ họp nào cũng đề cập, nhưng vẫn chưa xử lý kéo dài năm này qua
năm khác, đó là giá cả tăng, thiếu điện trầm trọng, an toàn vệ sinh thực phẩm, ô
nhiễm môi trường, dạy thêm học thêm, tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông, tham
nhũng, lãng phí, sách nhiễu, phân hóa giàu nghèo v.v... chưa có chuyển biến
nhiều, chưa đưa ra giải pháp mạnh, đột phá để khắc phục cải thiện hữu hiệu trong
năm tới.
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
Ba vấn đề quan trọng của đất nước hiện nay là nhập siêu, bội chi ngân sách
và nợ công, trong Báo cáo của Chính phủ vẫn chưa thấy lối ra an toàn. Nhập siêu
liên tục nhiều năm với mức khá cao và không có chiều hướng giảm. Năm 2006 là
4,8 tỷ, năm 2007 là 14 tỷ, năm 2008 là 18 tỷ, dự kiến năm 2010 là 13,5 tỷ đô la
Mỹ. Bội chi ngân sách cao, liên tục nhiều năm làm nợ công những năm gần đây
tăng nhanh. Năm 2007 là 33,8%, năm 2008 là 36,2% và năm 2010 ước tính 52,6%
GDP, hàng năm phải bố trí 14, 16% ngân sách Nhà nước để trả nợ, đặc biệt nợ
nước ngoài ngày càng tăng lên nhanh chóng nếu cộng tất cả con số lại thì mức nợ
công của chúng ta mấp mé mức không an toàn, trong khi ngân sách đang bội chi,
dự trữ ngoại tệ ngày càng giảm, làm cho nền kinh tế vĩ mô không ổn định, vững
chắc và tạo nguy cơ bất trắc không kiểm soát được. Vì vậy, trong điều kiện hội
nhập ngày càng sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, chính sách tiền tệ phối hợp với
chính sách tài khóa cần được xem là quốc sách lớn đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô
và tăng trưởng bền vững.
Báo cáo của Chính phủ vừa không xác định rõ hướng đi, vừa không có giải
pháp cụ thể để thực hiện từng bước chuyển nguồn, tăng trưởng từ chiều rộng sang
chiều sâu là chủ yếu gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, hướng đột phá quan trọng nhất
và tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách kinh tế và cơ chế quản lý, cùng với nâng
cao tầm vóc, chất lượng hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước. Làm được điều
này sẽ tạo nên xung lực mạnh, giải phóng mọi tiềm năng, lợi thế của đất nước, làm
thay đổi nhanh chóng toàn diện và sâu sắc trạng thái hiện tại của một số lĩnh vực
kinh tế trọng yếu, tạo những bước phát triển nhảy vọt và hiện đại hóa nhanh chóng
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và chuyển sang nền kinh tế trí thức, kết
hợp chặt chẽ tam giác phát triển kinh tế, môi trường, xã hội, làm cho đất nước phát
triển bền vững.
Về giải pháp, xin đề xuất 4 vấn đề sau.
Chúng tôi đề nghị trước hết phải xác định đúng mức độ tăng trưởng GDP đi
đôi với giải quyết vấn đề xã hội và phúc lợi xã hội. Không nên đặt mục tiêu tăng
trưởng quá cao, mà nên tập trung ưu tiên kìm chế lạm phát, siết chặt quản lý thu,
chi ngân sách, phải biết quý và có trách nhiệm đối với mỗi đồng tiền thuế của
nhân dân đóng góp. Đồng thời cơ cấu lại đầu tư, chỉ tập trung cho những dự án
thiết thực, có hiệu quả, cương quyết dừng những dự án chưa phải là cấp bách.
Xem xét một cách nghiêm túc, hiệu quả hoạt động của các tổng công ty, tập đoàn
kinh tế Nhà nước. Giảm bớt một số chương trình mục tiêu quốc gia và các dự án
hỗ trợ có mục tiêu thiếu hiệu quả. Kiểm soát chặt chẽ nợ công, vốn vay ODA cũng
như sử dụng tiền từ nguồn trái phiếu Chính phủ.
Hai, đề nghị xây dựng thí nghiệm một số đặc khu kinh tế trên cơ sở 15 khu
kinh tế mở hiện có trong cả nước để rút kinh nghiệm và mở rộng theo hướng xác
định vai trò đặc khu kinh tế vừa là động lực, vừa là giải pháp đột phá phát triển
kinh tế đất nước. Mạnh dạn trao các thể chế hành chính và cơ chế chính sách vượt
trội, khác biệt rõ với hiện tại, tạo môi trường hết sức thuận lợi với những ưu đãi
hấp dẫn nhằm thu hút các nhà đầu tư chiến lược trong và ngoài nước.
Trung tâm Tin học
Ba, ưu tiên phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt nguồn nhân lực chất lượng
cao và xem đây là vấn đề then chốt, đột phá. Trước hết, phải đổi mới thật sự mạnh
mẽ tư duy về đào tạo đại học và trên đại học. Cần có thái độ cách mạng thật sự
trong lĩnh vực này mới hy vọng góp phần phát triển nhanh nguồn nhân lực chất
lượng cao, đủ trình độ, năng lực tiếp thu ứng dụng phát triển các ngành khoa học
kỹ thuật đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế
tri thức và hội nhập quốc tế.
Bốn, đề nghị tập trung chấn chỉnh kỷ cương phép nước. Có một sự thật là
việc chống tham nhũng của chúng ta không thể vượt qua các bóng hình thức. Địa
phương nào cũng có Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, cấp Trung ương có
một Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, cấp Trung ương có một Ban chỉ đạo
đầy uy quyền nhưng tình trạng tham nhũng vẫn không giảm mà ngày càng nghiêm
trọng hơn, điển hình là vụ Vinashin.
Tôi đồng tình với phân tích và kiến nghị của đại biểu Thuyết ở Lạng Sơn, đại
biểu Cuông ở Thanh Hóa, điều này đòi hỏi phải có sự mổ xẻ, đổi mới, làm quyết
liệt hơn nữa nhằm đem lại lòng tin cho cử tri cả nước. Đã đến lúc phải xây dựng
biện pháp cụ thể, phải có cơ chế kiểm soát và đưa hoạt động chống tham nhũng đi
vào thực chất, hiệu quả hơn. Xin hết.
Vũ Huy Hoàng - Bộ trưởng Bộ Công thương
Kính thưa Quốc hội,
Được sự chỉ định của Chủ tọa kỳ họp, chúng tôi xin phép được báo cáo Quốc
hội về 3 nhóm vấn đề:
Thứ nhất, xung quanh vấn đề cung ứng điện;
Thứ hai, quy hoạch của ngành thép; Thứ ba, vấn đề nhập siêu.
Về vấn đề cung ứng điện, trong các kỳ họp vừa qua, nhất là trong các kỳ họp
gần đây cử tri cả nước và các đại biểu Quốc hội đã quan tâm, có yêu cầu Tập đoàn
điện lực Việt Nam, Bộ Công thương có báo cáo với Quốc hội, với cử tri cả nước
về tình hình sản xuất và cung ứng điện. Trong các kỳ họp trước chúng tôi đã được
phép của Quốc hội giải trình và báo cáo làm rõ thêm một số vấn đề. Hôm nay, một
lần nữa chúng tôi xin được báo cáo Quốc hội trách nhiệm về việc chưa đảm bảo
cung ứng điện trong thời gian vừa qua có phần trách nhiệm của Bộ Công thương.
Chúng tôi xin được giải trình thêm như sau:
Năm 2010, đặc biệt là mùa khô từ tháng 5 - 7 tình hình cung ứng điện có
nhiều khó khăn, cử tri cũng như đại biểu Quốc hội đã có nhiều ý kiến, chúng tôi
cũng đã có báo cáo. Khó khăn này có nhiều nguyên nhân, trước hết chúng tôi thấy
có trách nhiệm về mặt chỉ đạo đó là việc thực hiện tổng sơ đồ phát triển điện giai
đoạn sáu từ năm 2006 đến năm 2010 và có tầm nhìn đến năm 2015. Nếu thực hiện
đúng theo quy hoạch sáu thì chúng ta sẽ không xảy ra tình trạng thiếu điện như
vừa rồi. Các kịch bản về tăng trưởng phụ tải điện đã dự báo trong tổng sơ đồ sáu
cho đến ngày hôm nay vẫn thể hiện dự báo đúng đắn.
Theo tính toán, trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2015, bình quân một
năm chúng ta tăng phụ tải điện khoảng 16 đến 17%. Trên thực tế trong các năm
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
qua từ năm 2007 đến năm 2010, chúng ta cũng tăng ở mức đó, tức là khoảng 15 -
16%, năm nay dự báo chúng ta sẽ tăng 15,7%. Như vậy , dự báo của chúng ta về
nhu cầu điện là tương đối phù hợp với diễn biến nhưng trên thực tế việc huy động
các nguồn điện vào sản xuất và cung ứng điện có chậm trễ. Báo cáo với Quốc hội,
việc chậm trễ này có nhiều lý do, trong đó có một lý do cũng hết sức đáng quan
tâm, đó là vấn đề thiếu vốn. Nhất là trong giai đoạn năm 2008 và năm 2009, đứng
trước ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầu, chúng ta cũng thực
hiện một số giải pháp để thắt chặt chi tiêu, trong đó có giải pháp hạn chế đầu tư.
Vì vậy, một số công trình trong ngành điện trong giai đoạn năm 2008, năm 2009
cũng rất khó khăn trong việc vay vốn. Vì vậy cũng ảnh hưởng đến tiến độ đưa một
số công trình điểm vào huy động trong giai đoạn của năm 2010 và một số năm
sau. Đứng trước tình hình đó Chính phủ có chỉ đạo Bộ Công thương, Tập đoàn
điện lực Việt Nam và một số nhà phát điện độc lập, trong trường hợp này có Tập
đoàn dầu khí Việt Nam và Tập đoàn công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam,
đây là 3 đơn vị chủ lực tham gia vào việc xây dựng và cung ứng điện. Chính phủ
đã chỉ đạo:
Trước hết, để khắc phục tình trạng thiếu điện hiện nay cũng như trong các
năm tới thì giải pháp quyết liệt nhất và quyết định nhất là phải đẩy mạnh tiến độ
xây dựng các công trình nguồn điện theo Tổng sơ đồ 6 và sắp tới đây là Tổng sơ
đồ 7. Đây là giải pháp quan trọng nhất, phải có nguồn thì mới có khả năng cung
ứng điện. Bên cạnh đó chính phủ đã chỉ đạo Bộ Công thương và các ngành phải
nhanh chóng đưa những công trình nhiệt điện mới xây dựng đã đi vào hoạt động
nhưng phải hoạt động ổn định. Trong thời gian qua chúng ta đã đưa một số nhà
máy nhiệt điện chạy than vào hoạt động như nhiệt điện Hải Phòng công suất 600
Mw, nhiệt điện Quảng Ninh công suất 600 Mw, nhiệt điện Cẩm Phả và một số
nhiệt điện nhỏ khác, các nhà máy này hoạt động chưa ổn định do những khiếm
khuyết về mặt kỹ thuật. Đây cũng là một điều tương đối bình thường, bởi vì trong
giai đoạn đầu nói chung các công trình đi vào hoạt động thì cũng phải có thời gian
chạy thử để rà soát, căn chỉnh những cái chưa đồng bộ về mặt kĩ thuật. Chính phủ
yêu cầu phải có biện pháp cuối năm 2010, chậm nhất là đầu năm 2011 phải đưa
được các nhà máy này vào hoạt động ổn định. Đấy là giải pháp thứ nhất.
Giải pháp thứ hai mà các đại biểu Quốc hội và cử tri cả nước quan tâm là vấn
đề tái cơ cấu ngành điện, trong đó có Tập đoàn điện lực Việt Nam.
Thưa Quốc hội, năm 2009 chúng tôi đã phối hợp với các bộ, các ngành xây
dựng đề án về tái cơ cấu ngành điện. Tuy nhiên, do một số nội dung chưa đáp ứng
được yêu cầu cho nên vừa qua Chính phủ yêu cầu chúng tôi tiếp tục phối hợp với
các bộ, các ngành của Tập đoàn điện lực Việt Nam hoàn chỉnh đề án này và từ nay
cho đến cuối năm 2010 thì trình Chính phủ đề án đó.
Vấn đề thứ ba là vấn đề xây dựng các phương án để chủ động cung ứng điện
trong bất cứ tình huống nào xảy ra. Theo yêu cầu của Chính phủ thì dù khó khăn
đến mấy trong năm 2011-2011 phải đảm bảo nhu cầu điện cho các nhu cầu sản
xuất thiết yếu và phục vụ cho đời sống của nhân dân. Muốn xây dựng phương án
cung ứng điện bằng cách tính toán như thế nào thì cũng phải đạt mức của 2 yêu
Trung tâm Tin học
cầu này. Chúng tôi đang chỉ đạo Tập đoàn điện lực Việt Nam triển khai tính toán.
Trong tính toán có phối hợp với một số bộ, một số địa phương rà soát lại các công
trình sử dụng điện không hiệu quả hoặc lãng phí, hoặc công nghệ lạc hậu, ở đây có
cả các dự án thép, một số dự án trong lĩnh vực công nghiệp thì chúng tôi đang làm
và cũng phải báo cáo Chính phủ trong năm 2010.
Vấn đề thứ tư là vấn đề tiếp tục xây dựng đề án điều chỉnh giá điện theo
hướng bám sát chỉ đạo của Trung ương và đã được Quốc hội thông qua đó là theo
cơ chế giá trị trường. Tuy nhiên, để thực hiện cơ chế giá thị trường thì phải đảm
bảo một nguyên tắc đó là đối với những hộ nghèo, những hộ khó khăn thì phải có
hỗ trợ của nhà nước, hỗ trợ trực tiếp hay hỗ trợ gián tiếp cũng phải hỗ trợ. Đối với
các hộ tiêu dùng khác, đặc biệt là vấn đề sử dụng nhiều nhu cầu điện cho ánh sáng
sinh hoạt, cho tiêu dùng thì phải có những biện pháp để vừa khuyến khích việc tiết
kiệm điện, đồng thời cũng để sử dụng điện có hiệu quả. Vấn đề cuối cùng là vấn
đề tăng cường giải pháp vận động tiết kiệm điện. Báo cáo Quốc hội, xung quanh
vấn đề điện chúng tôi xin được báo cáo thêm với Quốc hội một số ý kiến như vậy.
Thứ hai, xung quanh vấn đề quy hoạch ngành thép, ý kiến của đại biểu Quốc
hội nêu là có cơ sở. Trong thời gian vừa qua đúng là chúng ta có tình trạng một số
dự án thép nằm ngoài quy hoạch, vấn đề này cũng tương tự như ý kiến của Bộ
trưởng Bộ Xây dựng, Nguyễn Hồng Quân đã phát biểu liên quan đến quy hoạch xi
măng. Đối với một số địa phương, đặc biệt là những địa phương còn nghèo, điều
kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn cũng rất mong muốn có các dự án đầu tư vào
địa phương mình để góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển công
nghiệp. Chính vì thế cho nên cũng không tránh khỏi tình trạng chỗ này, chỗ kia,
thời điểm này, thời điểm khác có thể có những dự án nó chưa nằm ở trong quy
hoạch và vì thế nó cũng dẫn đến ảnh hưởng đến quy hoạch đã định hướng. Vừa
qua thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và trước ý kiến của cử tri và đại biểu Quốc
hội cả nước, chúng tôi cũng đã phối hợp với các ngành và các địa phương rà soát
lại quy hoạch ngành thép và trên tinh thần, theo chỉ đạo của Chính phủ. Một là
riêng đối với quy hoạch ngành thép thì không phải là một quy hoạch mềm, nghĩa
là đối với ngành thép thì phải xác định ngay từ đầu một quy hoạch cứng, các dự án
chỉ nằm trong quy hoạch thì mới được phép triển khai. Đấy là ý thứ nhất chúng tôi
xin báo cáo với Quốc hội.
Ý thứ hai là qua rà soát kiểm tra, nếu phát hiện thấy những dự án thép, một là
nằm ngoài quy hoạch và thứ hai là không có hiệu quả, sử dụng công nghệ lạc hậu,
tiêu tốn năng lượng thì phải yêu cầu có thay đổi về công nghệ, hoặc là thay đổi về
thiết bị, nếu không đáp ứng được yêu cầu đó thì phải đình chỉ và thậm chí là chấm
dứt hoạt động.
Thứ ba là tăng cường công tác kiểm tra, phối hợp với các ngành, các địa
phương để làm sao đảm bảo quy hoạch thép này nó đáp ứng được yêu cầu của
chúng ta, trong đó hướng là chúng ta tập trung vào sản xuất các dự án sản xuất
phôi thép. Còn hạn chế các dự án sản xuất thép sản phẩm. Bởi vì hiện nay chúng ta
thiếu là thiếu phôi thép chứ không thiếu thép sản phẩm nhất là thép xây dựng.
Chính vì vậy, cho nên trong thời gian vừa qua thì chúng ta cũng đã tập trung thực
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
hiện một số dự án sản xuất phôi thép. Ví dụ, như dự án thép ở Vũng Áng ở Hà
Tĩnh, công suất khoảng hơn 1 triệu tấn /1 năm. Chúng ta đang mở rộng dự án phôi
thép ở Thái Nguyên công suất từ 500.000 tấn lên 1 triệu tấn phôi thép/1 năm.
Chúng ta đang xây dựng dự án sản xuất phôi thép tại Lào Cai, ở mỏ Quý Sa vào
khoảng 500.000 tấn phôi thép/1năm. Đấy là những hướng Chính phủ đang chỉ đạo.
Còn các dự án cán thép thì tập trung vào những dự án cán thép chế tạo, chứ còn dự
án sản xuất thép xây dựng thì hiện nay đã hạn chế rất nhiều, xin báo cáo với Quốc
hội vấn đề thứ hai về thép.
Vấn đề thứ ba, về nhập siêu, đúng là trong tình hình hiện nay nhập siêu đang
còn cao và đây cũng là một trong những khó khăn thách thức nó dẫn đến đe dọa
ổn định kinh tế vĩ mô, nhưng chúng tôi xin báo cáo với Quốc hội như thế này.
Trước hết các con số về tình hình nhập siêu trong những năm gần đây, mặc
dù nhìn chung tỷ lệ nhập siêu còn cao nhưng chúng ta cũng đã có những bước tiến
bộ nhất định, tôi xin được báo cáo với Quốc hội mấy con số như thế này. Nếu mà
nói về con số tuyệt đối thì đúng là năm 2007 chúng ta nhập siêu khoảng 14 tỷ đô
la. Năm 2008 chúng ta là 18 tỷ. Năm 2009 là 12 tỷ 800 triệu đô la, tức là xấp xỉ 13
tỷ đô la. Năm 2010 trong báo cáo ước thực hiện năm 2010 mà được xây dựng từ
tháng 9 thì con số vào khoảng 13,5 tỷ đô la. Nhưng thưa với Quốc hội đến giờ
phút này qua nhiều tháng thực hiện và dự báo hai tháng cuối năm chúng tôi tính
toán cùng với Tổng cục Hải quan và Tổng cục thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư con số nhập siêu của năm 2010 sẽ vào khoảng 12 tỷ đôla, thấp hơn so với dự
báo là 13,5 tỷ và thấp hơn so với năm 2009. Như vậy, chiều hướng từ năm 2008
trở lại đây mỗi một năm chúng ta đều có giảm, tất nhiên mức giảm chưa lớn về
con số tuyệt đối.
Về tỷ lệ nhập siêu trên kim ngạch xuất khẩu liên tục chúng ta cũng giảm.
Năm 2007 xấp xỉ 30% trên tổng kim ngạch xuất khẩu; năm 2008 là 28,8%; năm
2009 là 22,5%; và năm nay khoảng 18%. Việc chúng ta khắc phục nhập siêu cũng
đòi hỏi một quá trình tương đối dài chứ cũng không thể trong ngày một, ngày hai
có thể khắc phục được bởi vì một lý do đó là chúng ta đang tập trung đầu tư rất
nhiều cho kinh tế, đặc biệt cho xây dựng các năng lực sản xuất mới cho các năm
sau. Ví dụ chúng ta xây dựng một nhà máy nhiệt điện công suất 1200 Mw thì tổng
vốn đầu tư khoảng 2 tỷ đôla, bằng chúng ta xuất khẩu 6 triệu tấn gạo của một năm,
mấy chục triệu nông dân của chúng ta làm một năm cũng chỉ làm ra một giá trị
xuất khẩu đủ để đầu tư xây dựng nhà máy nhiệt điện mà chúng ta xây dựng rất
nhiều các công trình như vậy. Cho nên phải rất cố gắng và trong thời gian cũng
không phải ngắn chúng ta mới có thể khắc phục được tình trạng nhập siêu. Hơn
nữa, hiện nay công nghiệp hỗ trợ của chúng ta chưa phát triển nên rất nhiều sản
phẩm của chúng ta xuất khẩu nhưng phải nhập khẩu mới có bán sản phẩm, có
nguyên liệu để xuất khẩu. Ngành dệt may của chúng ta cũng như vậy, chúng ta
xuất khẩu 10,5 tỷ đô la nhưng cũng phải nhập khẩu trên dưới 6 tỷ đô la, chúng ta
lo trong nước khoảng 40%, ngành da giầy cũng như vậy. Chúng tôi cho rằng vấn
đề nhập siêu là câu chuyện rất đáng quan tâm và chúng tôi sẽ thực hiện mọi biện
pháp Quốc hội yêu cầu cũng như Chính phủ đề ra để trong thời gian tới đây và
Trung tâm Tin học
theo dự kiến của kế hoạch 5 năm 2011 - 2015, đến năm 2015 phải bằng mọi cách,
cái này là dự kiến chứ chưa phải thông qua chính thức đưa tỷ lệ nhập siêu xuống
14%. Dự tính trong một vài năm sau năm 2015 sẽ tiến tới công bằng cán cân thanh
toán. Tôi xin hết
Sùng Chúng - Lào Cai
Kính thưa Quốc hội,
Chúng tôi cơ bản nhất trí với Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế - xã
hội năm 2010 và triển khai thực hiện kế hoạch năm 2011, mặc dù tình hình kinh tế
trong nước và thế giới năm 2010 vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, giá vàng và
ngoại tệ tăng cao nhưng với sự điều hành quyết liệt và năng động của Chính phủ
nền kinh tế của nước ta đã sớm ra khỏi tình trạng suy giảm và đạt mức tăng trưởng
cao. Tuy nhiên tình hình hiện nay giá cả có chiều hướng tăng và tăng vào những
tháng cuối năm, nhất là ở những mặt hàng thiết yếu nhân dân đang rất lo ngại.
Trên cơ sở phân tích đánh giá những nguyên nhân, chủ quan và khách quan, xuất
phát từ thực tế của nền kinh tế đất nước, Chính phủ đã đề ra 6 nhóm nhiệm vụ và
biện pháp chủ yếu để phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội. Qua nghiên cứu
Báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội của Chính phủ, tôi đồng ý với những chỉ tiêu
phát triển kinh tế - xã hội của năm tới. Nhân đây chúng tôi xin kiến nghị với Quốc
hội và Chính phủ một số vấn đề như sau:
Thứ nhất là việc Chính phủ ban hành Quyết định số 60 quy định về các
nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn vốn
ngân sách Nhà nước giai đoạn 2011 - 2015. Việc phân bổ được tính dựa theo các
tiêu chí sau:
Tiêu chí thứ nhất là các tỉnh có số thu lớn sẽ được ưu tiên và những tỉnh có
số thu thấp sẽ được ưu tiên thấp hơn. Có những tiêu chí như diện tích đất trồng lúa
lớn như vậy thì những tỉnh khó khăn tới đây sẽ càng khó khăn hơn. Đề nghị Quốc
hội và Chính phủ cần nghiên cứu, làm thế nào ưu tiên cân đối nguồn lực đầu tư
cho các tỉnh vùng cao, vùng khó khăn.
Vấn đề thứ hai, cửa khẩu quốc tế Lào Cai khẳng định là vai trò cầu nối, nơi
trung chuyển hàng hóa lớn trên hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội -
Hải Phòng; giữa Việt Nam với ASEAN với miền Tây Trung Quốc trong khu vực
mậu dịch tự do ASEAN Trung Quốc. Vì vậy việc phát triển cửa khẩu Lào Cai
không chỉ cho riêng Lào Cai mà phục vụ chung cho cả nước.
Về chủ trương đầu tư phát triển khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai và xây dựng
khu hành chính mới, di chuyển các cơ quan phục vụ khu kinh tế cửa khẩu đã được
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, đồng chí Chủ tịch nước Nguyễn Minh
Triết, đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Sing Hùng đồng ý hỗ trợ có
mục tiêu từ ngân sách Trung ương 5 năm 2009 - 2013. Để thực hiện đầu tư khu
kinh tế cửa khẩu và xây dựng khu hành chính mới, để thực hiện chủ trương trên
tỉnh Lào Cai đã tích cực chỉ đạo xây dựng nhanh, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các
dự án tại khu kinh tế cửa khẩu và khu hành chính mới. Tôi đề nghị Quốc hội,
Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính cho phép tỉnh Lào Cai thực hiện
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
có thời hạn cơ chế đặc thù là để lại 50% số thu từ kinh tế cửa khẩu, để đầu tư cho
hạ tầng kinh tế xã hội của khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai trong thời gian 5 năm, từ
năm 2011 - 2015 cho các dự án khu kinh tế của khẩu và hành chính mới của tỉnh
Lào Cai.
Thứ ba, theo chiến lực phát triển giao thông vận tải đến năm 2020 và tầm
nhìn đến năm 2030 phê duyệt tại Quyết định số 35 ngày 03/03/2009 của Thủ
tướng Chính phủ, quy hoạch xây dựng mới các tuyến đường sắt theo tiêu chuẩn
quốc tế là 1,35m qua các tỉnh thuộc hai hành lang một vành đai kinh tế Việt Nam -
Trung Quốc. Đề nghị Quốc hội, Chính phủ sớm có chủ trương nghiên cứu lập dự
án đầu tư xây dựng mới tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội phía hữu ngạn sông
Hồng theo tiêu chuẩn quốc tế để đáp ứng nhu cầu vận chuyển nguyên liệu cũng
như hàng hóa từ Lào Cai về các tỉnh miền xuôi. Bởi vì các mỏ lớn hầu hết nằm ở
phía hữu ngạn sông Hồng. Do đó, xây dựng tuyến đường sắt song song với đường
cao tốc Hà Nội - Lào Cai thì rất thuận lợi cho việc vận chuyển quặng Apatít cho
nhà máy DAP Đình Vũ và quặng Apatít cho nhà máy phân lân Lập Thạch và các
sản phẩm thép như sản phẩm đồng đã được chế biến từ các nhà máy tuyển quặng
tại Lào Cai về các khu công nghiệp lớn của đất nước. Theo quy hoạch được duyệt
tại Quyết định số 35 năm 2009 của Chính phủ về mục tiêu phát triển đến năm
2020 sẽ xây dựng mới sân bay Lào Cai. Đề nghị Quốc hội, Chính phủ chỉ đạo Bộ
giao thông vận tải sớm thực hiện khảo sát và chuẩn bị đầu tư dự án khởi công xây
dựng trước năm 2015. Xin trân trọng cảm ơn Quốc hội.
Nguyễn Danh - Gia Lai
Kính thưa Chủ tọa,
Kính thưa Quốc hội,
Tôi xin tham gia thảo luận về 2 nội dung sau đây:
Một, liên quan đến nông nghiệp, nông thôn. Nông thôn nước ta chiếm trên
70% dân số lao động ở khu vực 1, chiếm 50% trong tổng số lao động các khu vực,
đóng góp trên 20% GDP trong khi đây là lĩnh vực chịu nhiều rủi ro và bị ảnh
hưởng thiên tai hàng năm. Lao động qua đào tạo ở nông thôn chỉ chiếm trên dưới
10% so với 25% ở khu vực thành thị. Dân trí thấp hơn 2 lần, nhân lực thấp hơn 10
lần, năng suất lao động nông nghiệp thấp, trên 80% hộ nghèo sống ở nông thôn
v.v... là những khó khăn cho phát triển. Do đó đề nghị cần tăng cường ngân sách
đầu tư cho khu vực này nhằm phát triển nông thôn nhanh hơn. Rừng và đất rừng
nước ta chiếm gần 50% đất liền, đặc biệt là ở vùng miền núi, ngoài góp phần phát
triển kinh tế, rừng còn có chức năng cân bằng môi trường sinh thái và tạo sinh
cảnh cho đa dạng sinh học. Do đó cần hết sức coi trọng việc bảo vệ và phát triển
nguồn tài nguyên bị suy giảm này, nhất là bình quân diện tích rừng/đầu người của
nước ta đang rất thấp, chỉ bằng 14% bình quân của thế giới. Đến nay trong chương
trình trồng mới 5 triệu ha rừng, chỉ tiêu trồng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đạt
87,8%; trồng rừng sản xuất đạt dưới 50%; độ che phủ của rừng năm 2010 không
đạt Nghị quyết của Quốc hội là 40%. Nếu theo đà tăng trường bình quân, độ che
Trung tâm Tin học
phủ hàng năm tăng 0,5% những năm gần đây thì đến năm 2015 sẽ khó đạt 43% độ
che phủ như dự thảo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đề ra.
Lâm nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng ngay ở những đất nước có địa
hình bằng phẳng. Đối với nước ta, đồi núi chiếm hơn 2/3 lãnh thổ thì rừng càng có
vai trò đa dạng, Đề nghị cần kịp thời rà soát, sửa đổi, bổ sung những bất cập và có
những chính sách đầu tư đồng bộ, căn cơ và sự chỉ đạo quyết liệt nhằm nhanh
chóng phục hồi rừng, xử lý nghiêm vi phạm lâm nghiệp, làm cho lâm nghiệp đóng
góp tích cực hơn vào phát triển kinh tế và đặc biệt có cơ chế, chính sách bảo đảm
đời sống cho những người sống dựa vào rừng, tạo sự gắn bó và có trách nhiệm với
tài nguyên được giao. Cần tổng kết thực tiễn thực hiện lâm nghiệp xã hội hóa để
đẩy mạnh giao đất, giao rừng cùng với thực hiện PTD sau giao rừng. Tổng kết
việc giao đất lâm nghiệp lâu dài cho các thành phần nhằm đẩy mạnh xã hội hóa
trong phát triển bền vững tài nguyên rừng. Trong quy hoạch thủy điện cần thiết
phải gắn với quy hoạch lâm phần tương ứng để bảo đảm cung cấp nguồn nước cho
hoạt động, tránh lãng phí thềm chứa nước.
Hai, liên quan đến chất lượng tăng trưởng và hướng đến mục tiêu cơ bản trở
thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. GDP bình quân tăng
là điều đáng mừng, nhưng sự điều tiết về xã hội lại chưa tương xứng nên những
đối tượng nghèo còn gặp rất nhiều khó khăn. Tốc độ tăng GDP đạt bình quân 7%
nhưng tỷ lệ giảm nghèo chưa đến 2% mỗi năm, cùng với hệ số Gini tiếp tục tăng
qua các năm càng làm giãn thêm cách biệt giàu nghèo và cơ hội tiếp cận từ nhóm
đối tượng nghèo đối với mức GDP bình quân càng trở nên xa vời, do đó cần có
chính sách điều tiết mạnh mẽ cho các nhóm yếu thế cũng như cho các vùng có
nguồn lực thấp. Như Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng có tỷ lệ đồng bào
dân tộc thiểu số cao, các nguồn lực cho phát triển còn thấp, nguồn FDI, ODA hiếm
hoi do đó cần có sự quan tâm đầu tư của nhà nước về ngân sách và cả các dự án
đầu tư phát triển, trái phiếu Chính phủ v.v.... Cần có sự ưu tiên trong phân bổ các
nguồn vốn, nếu không sẽ khó có điều kiện để theo kịp sự phát triển chung của cả
nước và trong việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tiêu chí phân bổ đầu tư phát triển không thể chung cho các địa bàn, mà phải
chú ý đặc điểm vùng, miền và tình trạng phát triển của từng địa phương, miền núi
không lấy đâu ra diện tích lúa như đồng bằng để đạt điểm số cao, để có lợi trong
phân bổ vốn đầu tư. Số liệu cũng cho thấy tăng trưởng GDP chủ yếu dựa vào vốn
52, 53%, lao động 19, 20%, cả 2 yếu tố này chiếm gần 3/4 trong cả 3 yếu tố tác
động đến tăng trưởng, chứng tỏ tỷ lệ đóng góp của năng suất tổng hợp vào tăng
trưởng hàng năm của Việt Nam còn rất thấp, trên dưới 28%, trong khi các nước
khác trong khu vực là 35, 40%. Tỷ trọng đóng góp vốn cao gấp 3 lần tỷ trọng yếu
tố lao động, trong khi vốn là nguồn nước ta còn thiếu, lao động nước ta lại dồi dào
hơn. Tỷ lệ sử dụng công nghệ đạt khoảng 2%, trong khi các nước thu nhập trung
bình quanh ta trên 30%. Do đó, nếu kéo dài tình trạng này sẽ kìm hãm tăng trưởng,
sẽ không có bước tiến mang tính đột phá cũng như dễ rơi vào vòng lẩn quẩn, khó
thoát ra nước có thu nhập trung bình để phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền
vững theo công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Ngoài các biện pháp nâng cao hiệu quả
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
đầu tư, đặc biệt trong đầu tư công, cần có biện pháp nâng cao tốc độ tăng năng
suất tổng hợp giữa trên các yếu tố giáo dục đào tạo, phát triển khoa học công nghệ,
áp dụng hệ thống tiên tiến và cơ cấu lại nền kinh tế, cơ cấu lao động trong nông,
lâm nghiệp, giảm bình quân 0,95% hàng năm hàng năm. Như vậy đến năm 2020
đạt khoảng 40%, còn cao hơn nhiều so với tiêu chí nước công nghiệp là dưới 25%.
Để trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì tỷ lệ dân số đô thị trên
50%, hiện tại chúng ta khoảng 30%, đóng góp cho khoa học, công nghệ và tăng
trưởng kinh tế 60 - 70% ta mới đạt khoảng một nửa. Năng suất lao động của doanh
nghiệp nước ta thấp hơn từ 2 đến 5 lần so với các nước trong khu vực v.v... Đây là
những thách thức cần có giải pháp đúng mức. Xin cảm ơn Quốc hội.
Cao Sĩ Kiêm - Thái Bình
Kính thưa Đoàn Chủ tịch.
Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội.
Ngoài phần nhất trí trong Báo cáo của Chính phủ cũng như Báo cáo của Ủy
ban kinh tế, tôi xin bổ sung ba vấn đề mới trong chín tháng qua. Chín tháng qua
thì đà khôi phục của kinh tế thế giới không đều, đang chậm lại và thất nghiệp vẫn
tăng cao, khả năng suy thoái kép có thể xảy ra. Tài chính khôi phục đang mỏng
manh và xung đột về tiền tệ đang diễn ra, nếu không được giải quyết thì có khả
năng diễn tới một cuộc chiến tranh tiền tệ thế giới mới. Trong khi đó Việt Nam
chúng ta đã chặn được đà suy giảm kinh tế, phục hồi kinh tế, có mức tăng trưởng
khá cao, kinh tế vĩ mô được cải thiện và đảm bảo xuất khẩu tăng, bội chi ngân
sách và nhập siêu đang được cải thiện. Đấy là điểm mới thứ nhất.
Điểm mới thứ hai, qua dự kiến thực hiện kế hoạch năm 2010 thì có thể nói
rằng chúng ta đã thành công tiếp trong việc phục hồi kinh tế sau khủng hoảng và
kế tiếp với việc thành công trong chống lạm phát 2008 và chống suy giảm 2009.
Có thể khẳng định rằng chúng ta đã thành công trong những giải pháp tình thế,
giải quyết những tác động rất bức bách của đất nước chúng ta và của thế giới khá
thành công. Nhưng nhìn vào những khuyết điểm trong Báo cáo của Chính phủ 6
nội dung hạn chế, yếu kém, đặc biệt là những hạn chế yếu kém trong sức cạnh
tranh, trong khoa học công nghệ, trong giáo dục, trong đào tạo, trong xây dựng thể
chế, trong xây dựng hạ tầng, nâng chất lượng nguồn lực là những vấn đề rất cơ
bản đảm bảo phát triển bền vững của đất nước chúng ta trong những năm tới, thì
chưa thành công, hoặc chuyển biến rất chậm. Đây là một điểm mới yếu kém của
chúng ta.
Thứ ba là Báo cáo của Chính phủ lần này cũng như Báo cáo của Ủy ban
Kinh tế tôi thấy nêu và phân tích phần khuyết điểm, hạn chế khá toàn diện, sát
thực tế. Đặc biệt là nêu nguyên nhân chủ quan về quản lý và điều hành, những
điểm này rất trúng và rất đúng, nhưng tiếc rằng những điểm nêu trách nhiệm chưa
cụ thể và chưa rõ ở một số vị trí. Khâu quản lý kinh tế và quản lý con người của
chúng ta là nguyên nhân rất quan trọng và trầm trọng gây ra thất thoát tài sản tiền
vốn, gây xói mòn lòng tin và sự xói mòn này đang càng tăng nhanh. Đó là 3 điểm
mới trong việc thực hiện kế hoạch 9 tháng qua.
Trung tâm Tin học
Về kế hoạch năm 2011 chúng tôi thấy với tồn tại đang mắc phải, nhất là
những vấn đề về dài hạn và tính bền vững thì mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô
chuyển cơ cấu nâng năng suất chất lượng, hiệu quả trung, dài hạn cho năm 2010 là
rất đúng. Từ đó xác định tăng 7 - 7,5 GDP cũng như 8% lạm phát và các chỉ tiêu
nêu trong kế hoạch tôi cho là phù hợp. Nhưng để đảm bảo cho tình hình đó được
thực hiện, nhất là trong tình hình thế giới hiện nay, theo dự báo kinh tế thế giới sẽ
khôi phục năm 2011 rất chậm và chứa đựng nhiều rủi ro, bất ổn, có thể gây ra
những cái rất phức tạp cho tình hình mới.
Cho nên để đảm bảo các mục tiêu được thực hiện một cách đầy đủ, đặc biệt
là những mục tiêu của năm 2011- năm đầu của kế hoạch 5 năm và năm đầu tiên
chúng ta thực hiện những tư tưởng chỉ đạo mới của Đại hội XI, tôi đề nghị tập
trung vào 3 vấn đề lớn.
Trước hết, muốn giải quyết cho kế hoạch năm 2010 này tốt và chuẩn bị điều
kiện chúng ta đi vào năm 2011 thuận lợi, chúng tôi đề nghị có chương trình, lộ
trình sửa một cách cơ bản, tạo chuyển biến một cách rõ rệt 6 khuyết điểm mà trong
Báo cáo năm 2011 nêu lên. Trước mắt tập trung vào 3 việc ngay trong những
tháng còn lại của năm 2010: Một là giải quyết thành công hoặc giải quyết thành
công cơ bản những nút thắt của kinh tế hiện nay, mà nút thắt ấy chúng ta đã bàn
nhiều lần.
Hai là chuyển biến cho bằng được, tạo tiền đề cho bằng được bội chi ngân
sách và nhập siêu giảm càng nhanh càng tốt, càng nhiều càng hay.
Thứ hai, chúng tôi thấy để chuyển sang tư tưởng chỉ đạo mới là từ chiều rộng
sang chiều sâu, từ tốc độ sang chất lượng, từ tính hiệu quả phải được nâng lên,
năng suất, chất lượng phải được nâng lên, chúng tôi đề nghị làm mấy việc cụ thể
để có chất lượng tăng trưởng cao.
Một, rất chú ý có những biện pháp, có những giải pháp khai thác một cách
hiệu quả, tập trung một cách hiệu quả cho thành phần kinh tế tư nhân, trong đó có
doanh nghiệp nhỏ và vừa. Kiên quyết chúng ta phải điều hành và chỉ đạo theo
nguyên tắc thị trường nhất quán.
Thứ hai, có giải pháp nâng bằng được hiệu quả đầu tư công vào nợ quốc gia
và sắp xếp một bước mạnh mẽ và có hiệu quả, có chất lượng doanh nghiệp nhà
nước.
Thứ ba, tập trung hoàn chỉnh khâu đột phá là hệ thống thể chế và những quy
định để đảm bảo thông thoáng trong hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ của
các thành phần kinh tế. Đặc biệt chú ý đến chất lượng hạ tầng, kể cả trong đầu tư
đường xá, bến cảng, nhà cửa v.v... đây là vấn đề rất nhức nhối và gây tổn hại
nhiều.
Thứ tư, nâng bằng được một bước cơ bản chất lượng nguồn lực, đặc biệt là
các ngành mũi nhọn cũng như khu vực nông thôn, nông dân. Đó là việc chúng tôi
thấy để đảm bảo cho chuyển hướng sang chất lượng và nâng tính hiệu quả của nền
kinh tế.
Chúng tôi đề nghị tất cả giải pháp kể cả cuối năm 2010 và năm 2011 nên tập
trung vào những điểm yếu kém nhất, mà yếu kém nhất hiện nay trong tất cả những
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
yếu kém là công tác quản lý, kể cả quản lý tiền vốn, vật tư, môi trường, khoáng
sản, đất đai v.v... có một điểm quản lý quan trọng là vấn đề cán bộ, kể cả phẩm
chất, đạo đức, năng lực và trách nhiệm làm việc. Trên cơ sở phải quy định rõ tiêu
chuẩn, tiêu chí thanh tra, kiểm tra, phát hiện xử lý kịp thời gắn với trách nhiệm
chính trị với trách nhiệm kinh tế, gắn nghị quyết với hành động làm cho việc thực
hiện của chúng ta nghiêm và lòng tin được nâng lên. Đây là yếu tố đảm bảo cho kế
hoạch năm 2011 thành công. Xin hết.
Trương Thị Thu Hằng - Đồng Nai
Kính thưa Quốc hội,
Trải qua 19 kỳ họp của gần 2 nhiệm kỳ Quốc hội, qua nghiên cứu tất cả các
báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội của Chính phủ và các báo cáo của các ủy ban
của Quốc hội tôi nhận thấy mức tăng trưởng GDP hàng năm tuy có thay đổi tăng ít
hay nhiều, đạt cao hay thấp cũng đều được cảnh báo là thiếu bền vững, chất lượng
thấp, nhập siêu cao, sản xuất hàng hóa trong nước thiếu cạnh tranh, đầu tư tăng
cao nhưng hiệu quả thấp bởi chi tăng, các doanh nghiệp Nhà nước sản xuất kinh
doanh kem hiệu quả, lãng phí, tham nhũng vẫn tồn tại và thách thức. Mặc dù
Chính phủ luôn xác định được nguyên nhân và đưa ra nhiều giải pháp tích cực để
điều hành. Quốc hội cũng ra nhiều nghị quyết để định hướng cho hoạt động điều
hành của Chính phủ, nhưng những nhận định về tăng trưởng kinh tế nêu trên vẫn
như một mặc định trong các báo cáo mà không biết khi nào mới chấm dứt. Trong
hai năm thế giới lâm vào khủng hoảng kinh tế tài chính và rơi vào suy thoái, nhiều
chuyên gia kinh tế đã cho đây là câu hỏi để tái cơ cấu, khắc phục những tồn tại,
khuyết tật của nền kinh tế nước nhà và tranh thủ thời cơ để phát triển. Tuy nhiên
suy thoái đi qua, kinh tế thế giới đang dần hồi phục, nhưng có vẻ ta chưa tận dụng
được cơ hội đó. Chính phủ đã có nhiều cơ chế chính sách để hỗ trợ cho doanh
nghiệp trong giai đoạn khó khăn này, nhưng có bao nhiêu doanh nghiệp sản xuất
đã được tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình dây chuyền sản xuất nhằm đẩy mạnh
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần phục hồi tăng trưởng và nâng cao chất lượng
tăng trưởng, chưa có báo cáo nào nêu được số liệu này.
Chính phủ báo cáo đã kiểm soát được lạm phát nhưng theo thông tin chính
thức từ tổng Cục thống kê CPI 10 tháng đầu năm đã tiệm cận mức 8%, giá tiêu
dùng liên tục tăng, thu nhập thực tế của người lao động giảm sút, mức tăng tiền
lương của người lao động đã thấp xa so với mức tăng giá và sự sụt giảm của giá trị
đồng tiền.
Ngay những ngày này khi Quốc hội đang nghị sự, giá cả lương thực, thực
phẩm, hàng hóa từ thông thường đến đặc biệt đang phập phồng tăng từng giờ theo
giá vàng, giá đô la. Người dân cầm đồng tiền ít ỏi trong tay hôm nay nhưng đến
ngày mai trị giá đã không còn như hôm qua, mà không biết vì sao? Báo cáo cho
biết trong năm 2010 có 25 bộ ngành và 31 địa phương đã tiết kiệm được trên
2.700 tỷ đồng, 9 tập đoàn tổng công ty Nhà nước tiết kiệm được 2.350 tỷ, nếu so
với món nợ 86 ngàn tỷ mà ngân sách gánh cho Vinashin thật là như muối bỏ biển.
Số tiền đó nếu đầu tư cho y tế, tôi chắc rằng sẽ có rất nhiều trẻ em bệnh tim được
Trung tâm Tin học
phẫu thuật để có đủ sức khỏe để tiếp tục đến trường, rất nhiều bệnh nhân ung thư
được chữa trị, nhiều bệnh viện được mở rộng hoặc xây mới, không còn cảnh người
bệnh phải nằm chen chúc như thực trạng tại một số bệnh viện hiện nay.
Chính phủ cũng báo cáo 100% tỉnh thành cả nước đạt được chuẩn phổ cập
trung học cơ sở, nhưng bạo lực học đường ngày càng gia tăng, quan hệ thầy trò
không còn như thời trước khi phổ cập. Bên ngoài học đường, va chạm nhỏ cũng
sẵn sàng chém giết nhau, bạo lực gia đình ngày càng nghiêm trọng. Ý thức của
người dân về chấp hành những quy tắc của xã hội như giữ trật tự , vệ sinh công
cộng đều đáng báo động. Ngay giữa Thủ đô Hà Nội văn minh, thanh lịch, hào hoa,
có không ít sự kiện quan trọng tầm cỡ quốc tế, có nhiều quan khách cấp cao nước
ngoài lẫn du khách nhiều nước trên thế giới đến thăm, nhưng việc chen lấn, giành
giật, dẫm đạp, phá nát cảnh quan, xả rác bừa bãi của người dân tại các điểm thăm
quan công cộng trong các lễ hội. Đặc biệt, ngay trong Đại lễ 1000 năm Thăng
Long - Hà Nội cũng diễn ra một cách đáng xấu hổ. Những điều đó đã làm giảm đi
ý nghĩa của việc đạt chỉ tiêu phổ cập trung học cơ sở toàn quốc.
Việt Nam ta đến nay vẫn còn nghèo, dân đông, tiền của ít. Nhà nước ta đặt ra
nhiều chế định nhằm quản lý chi tiêu, bảo tồn và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ít ỏi
do người dân chắt chiu đóng góp. Nhưng những chế định với những quy trình thực
hiện chặt chẽ tưởng như rất hiệu quả ấy, đã làm phát sinh nhiều chi phí gián tiếp,
tốn kém rất nhiều thời gian mà kết quả đi ngược với mong muốn ban đầu. Đó là tất
cả những tài sản, thiết bị, công trình được mua sắm, xây dựng từ nguồn ngân sách
Nhà nước đều có trị giá cao hơn rất nhiều so với giá trị thực. Còn chất lượng thì
không tương xứng, còn chậm chễ, mất tính cấp thiết và giảm hiệu quả sử dụng.
Những chế định đó đã tạo ra cơ chế xin, cho và một ý thức hệ là việc sử dụng tiền
ngân sách như tiền chùa, hết sức lãng phí, góp phần đáng kể cho sự thiếu bền vững
của tăng trưởng kinh tế.
Tôi đề nghị Chính phủ nghiên cứu sửa đổi các chế định về tài chính hiện
hành theo hướng khoán thu, khoán chi, một cơ chế chống thất thoát, lãng phí đã
được thực tế chứng minh là có hiệu quả. Chính phủ đề ra chỉ tiêu tăng trưởng kinh
tế GDP năm tới là 7-7,5%, cử tri mong rằng đằng sau con số đó là công ăn việc
làm không bị ngăn trở bởi sự không nhất quán trong điều hành của Chính phủ và
chính quyền địa phương, thu nhập được ổn định, không bị lạm phát ngốn mất, trẻ
em đến trường không chỉ được dạy chữ mà còn biết lễ nghĩa, có kỹ năng sống và
biết gắn kết với cộng đồng, người có bệnh vào viện không phải nằm đôi, nằm ba,
ra đường không bị kẹt xe, ngập nước, sập hố, sập hầm, khi cần đến cơ quan Nhà
nước không phải lót tay bồi dưỡng cán bộ thì mới được giải quyết. Mùa khô hay
mưa cũng có điện đủ dùng cho sinh hoạt và sản xuất, có nước sạch để nấu ăn, tắm
giặt, cử tri cũng muốn những đồng tiền do họ đóng góp vào ngân quỹ Nhà nước
phải được chi tiêu hiệu quả, đúng mục đích, được kiểm soát chặt chẽ, công khai
minh bạch có trách nhiệm để những vụ việc như Vinashin không xảy ra nữa. Để
làm được điều đó, ngoài 6 giải pháp Chính phủ đã đề ra, tôi đề nghị trong năm
2011 Chính phủ cần cắt giảm những khoản đầu tư công không hiệu quả hoặc chưa
thật cấp thiết để tăng cường đầu tư cho y tế và giáo dục để tạo ra sức khỏe và tri
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
thức cho nguồn nhân lực là khâu trọng yếu, có tác động trực tiếp đến tăng trưởng
kinh tế cả về chất lẫn về lượng. Đồng thời, Chính phủ cần tạo ra một đột phá để
ngành y tế và giáo dục không chỉ trông đợi vào sự đầu tư của Nhà nước, còn có thể
phát huy được nội lực, thu hút được ngoại lực để phát triển.
Trước mắt, tôi kiến nghị Chính phủ sớm thông qua đề án đổi mới cơ chế hoạt
động, cơ chế tài chính đối với ngành y tế, điều chỉnh mức thu hợp lý đối với một
giá dịch vụ y tế như ngày/gường, công khám, đổi mới phương thức chi trả dịch vụ
khám chữa bệnh từ bao cấp cho cơ sở y tế sang hỗ trợ cho đối tượng hưởng dịch
vụ. Đây sẽ là một bước cải cách quan trọng trong cơ chế tài chính y tế. Tôi cũng
kiến nghị Quốc hội xem xét bổ sung chương trình phòng, chống HIV/AIDS và an
toàn vệ sinh thực phẩm cùng với chương trình y tế và dân số kế hoạch hóa gia
đình vào danh mục chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2011 - 2015, đầu tư
cho y tế và giáo dục là đầu tư cho phát triển, chính là đầu tư cho chất lượng tăng
trưởng kinh tế. Tôi xin hết.
Nguyễn Đăng Vang - Bình Định
Kính thưa Chủ tọa cuộc họp.
Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội.
Kính thưa các vị khách quý.
Chúng tôi có chuẩn bị về nhận định của kinh tế - xã hội năm 2010 và phương
hướng của năm 2011 nhưng đã có nhiều vị đại biểu Quốc hội nói rất sâu sắc, cho
nên chúng tôi tập trung lại hai ý kiến cơ bản là về vấn đề đầu tư cho nông nghiệp
và ý kiến thứ hai là vấn đề tích tụ đất đai.
Vấn đề đầu tư cho nông nghiệp thì trong Báo cáo của Chính phủ có nêu đầu
tư cho nông nghiệp nông thôn chưa tương xứng, nhưng báo cáo chưa đưa ra con
số cụ thể cho nên khó thấy được mức độ sâu sắc của nhận định này. Thực ra không
phải là năm 2010 mà đã lâu chúng ta đầu tư cho nông nghiệp chưa xứng tầm của
nó. Đầu tư cho nông nghiệp năm 2009 chỉ bằng 6,26% tổng đầu tư cho xã hội,
trong khi GDP của ngành này là 20,91%. Trước đó năm 2008 thì tỉ trọng này còn
cao hơn một chút, tức là 6,45% và vào năm 2005 cách đây 5 năm thì còn được
7,50%, vào năm 2000, cách đây 10 năm còn được 13,85%. Nhưng từ đấy đến nay
cứ giảm dần, giảm dần và chỉ còn 6,26%. Tôi e rằng năm 2011 sẽ còn giảm nữa và
nếu như vậy sẽ gây tác động không tốt cho ngành nông nghiệp của chúng ta. Như
vậy rõ ràng đầu tư cho nông nghiệp ngày càng giảm, hiện nay bằng 30% so với
trung bình tương đương giá trị GDP của chính ngành này mang lại. Chúng tôi
cũng thấy xem phân khúc tại sao đầu tư vào khu vực này lại thấp như vậy? Chúng
tôi xem tiếp đầu tư nước ngoài FDI vào ngành này thì năm 2008 người nước ngoài
đầu tư vào khu vực này chỉ chiếm 0,32% tổng đầu tư FDI của họ đưa vào Việt
Nam, năm 2009 là 0,58%. Toàn giai đoạn từ năm 1988 đến 2009, 21 năm qua thì
đầu tư cho ngành nông nghiệp của người nước ngoài vào lĩnh vực này có 2,3%,
trong khi toàn bộ giai đoạn này nông nghiệp chiếm 27,7%. Rõ ràng không hấp dẫn
nhà đầu tư nước ngoài, cũng không hấp dẫn nhà đầu tư trong nước, nhưng có thể
Trung tâm Tin học
nói cũng không hấp dẫn các nhà hoạch định chính sách. Đó là một điều chúng tôi
rất đáng lo ngại.
Nói đến phát triển bền vững người ta thường hay nói là tăng trưởng kinh tế
phải nhanh, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ và giữ gìn môi trường thì rõ ràng
công bằng xã hội ở nông thôn là một vấn đề cần phải được quan tâm và bảo vệ
môi trường cũng chính khu vực này.
Nước Anh vào năm 1900, tức là cách đây 110 năm họ cũng thấy tăng trưởng
của nông nghiệp chậm nên không đầu tư vào. Sau 10 năm họ phát hiện rằng đó là
một sai lầm và sai lầm đó suốt 100 năm nay họ không dám vi phạm trở lại. Đài
Loan bắt đầu phải quay trở về chu kỳ 2, tái đầu tư trở lại cho nông nghiệp sau khi
bị lãng quên. Hàn Quốc hiện nay riêng trong khuyến nông đầu tư cho 1ha là 850
đôla trong khi khuyến nông của chúng ta hiện nay đầu tư cho 1ha là 1 đôla, tức là
bằng 1/850 lần so với Hàn Quốc.
Chúng tôi xin đề nghị năm 2011 không nên tiếp tục giảm tỷ lệ đầu tư ở khu
vực này và cần phải có một chính sách đồng bộ theo cách gọi là khung lôgic hay là
phương pháp ma trận mà bây giờ người ta không lệ thuộc vào ý chí của một người
mà lệ thuộc vào một phương pháp tính toán hiệu quả kinh tế nhất. Tôi nói ví dụ
như vừa qua để chuẩn bị kết thúc dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, Quốc hội đã có
Nghị quyết 73 là đến năm 2011 sau khi dự án kết thúc thì dự án này được chuyển
giao đầu tư theo chương trình trọng điểm quốc gia. Vừa qua chúng ta lại không
đưa vào chương trình trọng điểm quốc gia mà Quốc hội đã nêu, cũng không đầu tư
tiền tương tự như trước đây là 1.425 tỷ đồng vào năm 2011 thì năm nay chúng ta
đưa vào 725 tỷ bằng nửa. Trong khi chúng ta lại tự kiểm điểm là độ che phủ rừng
năm nay không đạt, như vậy không đạt phải tăng tiền lên thì lại giảm tiền đi. Tôi
hỏi Bộ nông nghiệp là tại sao có chuyện như vậy, Bộ nông nghiệp bảo là Bộ kế
hoạch và đầu tư không đồng ý. Như vậy rõ ràng có sự không đồng bộ tại đây và
cần phải được sắp xếp một cách thật hợp lý, nếu không như thế này sẽ không có
lợi cho sản xuất. Trong khi chúng ta nhập khẩu gỗ khoảng 1 tỷ đô la 1/ năm
khoảng 20.000 tỷ đồng, chúng ta lại bảo rằng phải tránh nhập siêu, nhưng chúng ta
có thể khai thác rừng, những rừng mà đã là 15 năm, từ năm 1994 của Chương
trình 327 bây giờ có thể khai thác được, cây gỗ rừng già nó cũng chết, giống như
người già phải chết, nhưng chúng ta cứ để đó mà không khai thác để giữ độ che
phủ rừng thì là một thiệt hại lớn cho kinh tế của đất nước.
Vấn đề thứ hai, về tích tụ đất đai. Trong một số báo cáo của Đảng và Nhà
nước, kể cả của Chính phủ có nói vấn đề tích tụ đất đai, nhưng hiện nay người ta
hiểu tích tụ đất đai là đất sử dụng của người này chuyển cho người khác và đồng
bằng có thể lên tới 3ha trên một hộ và đương nhiên chúng ta hiện bây giờ trên 9
triệu hộ nông dân và có 9 triệu hộ đất nông nghiệp thì có nghĩa là mỗi một hộ có
1ha. Nếu một hộ có 3ha thì các hộ đâu đó sẽ là không có đất đai, người kia sẽ đi
làm thuê cho người này. Trên miền núi có khoảng 14 - 16 triệu ha đất lâm nghiệp
hoặc đất rừng vì còn một số chưa trồng rừng hết. Như vậy mỗi một hộ trung bình
khoảng 3 ha, nếu chúng ta cho phép chuyển sở hữu lên 50 ha thì một hộ nào đó có
50 ha sẽ có 17 hộ không có đất đai. Chính vì vậy sự giàu nghèo sẽ doãng ra tiếp
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
tục. Hiện nay khoảng cách giàu nghèo của chúng ta đã doãng ra rồi vì theo thống
kê của Tổng cục thống kê năm 2006 chúng ta 20% người nghèo nhất của xã hội và
20% người giàu nhất khoảng cách là 8,4 lần; năm 2008 sau 2 năm khoảng cách đó
là 8,9 lần. Nếu tình trạng này còn doãng nữa vì một bên tăng trưởng 49%, bên
khác tăng trưởng 58% thì giàu nghèo còn tiếp tục doãng ra. Nếu như vậy công
bằng xã hội sẽ không đảm bảo và sự phát triển của xã hội không bền vững.
Chúng tôi thấy vấn đề tích tụ đất đai là một vấn đề hết sức tế nhị. Ở Đài Loan
người ta mua đất của địa chủ để chia cho hộ nông dân mượn và tích tụ bằng công
nghệ, tích tụ bằng chế biến, tích tụ bằng thu mua để thành một hàng hóa lớn. Còn
không có tích tụ về sở hữu, năm 1955, 1956 chúng ta có đất đai chia cho nông dân,
cho người cày có ruộng và tạo nên một hưng phấn mới, chính vì vậy cho nên
chúng ta đã có nhiều thành công. Hiện nay tại Sơn La, Điện Biên, Lai Châu cũng
một hình thức tích tụ như vậy, 13 ngàn ha với sự đầu tư của ngành cao su thì cũng
đã hình thành một dạng tương tự như vậy. Và chúng tôi cho rằng đây là mô hình
cần phải nghiên cứu để có thể đưa vào ứng dụng và không nên tích tụ đất đai theo
hình thức quyền sở hữu mà hiện nay trong vấn đề này đang rất nguy cấp, chúng tôi
đã có báo cáo trong bản Báo cáo là chuyển gần như đất đai của 26 ngàn ha của
những hộ đang nhận khoán chuyển cho một doanh nghiệp trong đó có doanh
nghiệp tư nhân thì mấy chục ngàn người kia họ sẽ sống bằng gì. Chúng tôi thấy
cần phải được xem xét hết sức cẩn thận, chứ nếu không thì xã hội có thể sẽ phức
tạp hơn nhiều, liên quan đến vấn đề đất đai. Xin trân trọng cảm ơn.
Ngô Tự Nam - Đồng Tháp
Kính thưa Quốc hội,
Sau khi nghiên cứu Báo cáo của Chính phủ, chúng tôi đồng tình với rất nhiều
nội dung trong Báo cáo đã nêu, chúng tôi đồng tình với nhận định những hạn chế
của hệ thống thể chế, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực vẫn là những cản trở lớn.
Chúng tôi nhất trí với Báo cáo nêu yêu cầu phải tổ chức thực hiện tốt 6 nhóm giải
pháp với 27 giải pháp cụ thể, trong đó nhấn mạnh một số giải pháp như pháp điển
kết cấu hạ tầng nông nghiệp và nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó
khăn nhằm tạo ra liên thông giữa các vùng miền, tạo điều kiện cho các vùng khó
khăn phát triển, giảm bớt sự giãn cách giữa các vùng miền. Chúng tôi xin phát
biểu 2 vấn đề về xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực:
Một, về xây dựng cơ sở hạ tầng, nhu cầu về cơ sở hạ tầng của Việt Nam rất
lớn, rất đa dạng, một trong những thách thức lớn đối với Việt Nam đó là khắc
phục những thiếu hụt trong cơ sở hạ tầng. Chúng ta đang phải đối mặt với những
đòi hỏi giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở hạ tầng yếu kém
cũng ảnh hưởng tới đầu tư trực tiếp của nước ngoài cả hiện tại và trong tương lai.
Đối với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, thời gian vừa qua cơ sở hạ tầng giao
thông đã có bước phát triển rất đáng phấn khởi. Các công trình trọng điểm đề cập
trong Quyết định 344 của Thủ tướng Chính phủ về phương hướng, nhiệm vụ và kế
hoạch phát triển giao thông vận tải vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2010
và định hướng đến năm 2020 đều đã cơ bản hoàn thành mục tiêu giai đoạn 2010.
Trung tâm Tin học
Nhưng cũng có thể nói chưa đủ để tạo ra sức cạnh tranh. Một số tuyến đường
trong khu vực nhỏ hẹp và xuống cấp không bảo đảm chuyên chở hàng hóa bằng
công ten nơ, nhiều tuyến có đường nhưng chưa có cầu và ngược lại trên một số
tuyến đường có nhiều cầu thì mỗi cầu lại có trọng tải khác nhau. Một số công trình
triển khai chậm tiến độ, chưa kể thời gian các phương tiện giao thông chờ đợi qua
phà. Thời gian và chi phí vận tải hàng hóa cao hơn so với các khu vực khác trong
cả nước.
Thực trạng trên đây đã gây ra lãng phí lớn cả về thời gian và vật chất. Kết
cấu hạ tầng giao thông chưa đồng bộ đang là một trong những nguyên nhân làm
chậm sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng
và sự liên kết giữa các tỉnh, các vùng miền trong cả nước nói chung ảnh hưởng
đến tốc độ tăng tưởng kinh tế và đây cũng được xem là tác động có ảnh hưởng đến
chỉ số cạnh tranh của khu vực này.
Cầu Cao Lãnh bắc qua sông Tiền và cầu Vàm Cống bắc qua sông Hậu đã
được Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
quy hoạch tổng thể. Theo đó, hai cây cầu này được ưu tiên đầu tư trong giai đoạn
2007-2010. Nhưng cho đến nay việc xây dựng 2 cây cầu này vẫn chưa được triển
khai. Ngày 31/8/2010 Bộ Kế hoạch và Đầu tư có Báo cáo gửi đồng chí Trưởng
đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp cho biết cầu Cao Lãnh và cầu Vàm Cống
được thực hiện từ nguồn vốn ODA đang trong quá trình chuẩn bị thực hiện hỗ trợ
kỹ thuật và triển khai vào năm 2012.
Cử tri tỉnh Đồng Tháp rất phấn khởi trước sự quan tâm chỉ đạo của Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ triển khai việc thực hiện xây dựng 2 cây cầu này. Cảm
ơn Chính phủ và nhân dân Australia đã hỗ trợ đầu tư xây dựng cầu Cao Lãnh,
Chính phủ và nhân dân Hàn Quốc hỗ trợ đầu tư xây dựng cầu Vàm Cống. Cùng
với các tuyến đường N1 và N2 Hồ Chí Minh cầu Cao Lãnh và cầu Vàm Cống
được xây dựng sẽ nối liền miền Đông Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh với các
tỉnh phía Nam sông Hậu đến các tỉnh cực Nam của Tổ quốc ngang qua tỉnh Đồng
Tháp. Mở ra sự giao lưu trực tiếp về kinh tế - xã hội giữa vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam với vùng sản xuất lúa quan trọng nhất của cả nước. Vùng kinh tế biển,
vùng cây trái, vùng có nhiều tiềm năng du lịch đồng bằng sông Cửu Long trong đó
có tỉnh Đồng Tháp sẽ có cơ hội phát triển nhanh hơn. Chúng tôi xin đề nghị Chính
phủ tăng cường chỉ đạo điều hành trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
giao thông vận tải, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, thiếu tập trung và không
đồng bộ như một số công trình thời gian qua.
Hai, về dạy nghề cho lao động nông thôn và thực hiện chương trình mục tiêu
quốc gia về việc làm. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yêu
cầu cấp thiết của đất nước ta, đất nước có lực lượng lao động lớn nhưng chất
lượng nguồn nhân lực thấp. Cử tri đồng tình với việc tiếp tục thực hiện chương
trình mục tiêu quốc gia về việc làm nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng
và hiệu quả đào tạo nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn, góp
phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Hỗ trợ tạo việc làm và phát triển
QUỐC HỘI KHÓA XII - KỲ HỌP THỨ 08
thị trường lao động giai đoạn 2011 - 2015, đặc biệt ở khu vực nông thôn để giảm
tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống 40% lao động xã hội vào năm 2015 và giảm tỷ
lệ thiếu việc làm ở khu vực nông thôn. Theo dự báo quy mô lực lượng lao động
nước ta sẽ tiếp tục tăng, lực lượng lao động được bổ sung là rất lớn, chủ yếu là lao
động trẻ, trong đó có lao động trẻ nông thôn có tiềm năng, có thế mạnh nhưng lại
gặp khó khăn khi tìm kiếm việc làm.
Để thực hiện có hiệu quả việc triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về
việc làm, chúng tôi xin đề nghị Chính phủ có các giải pháp đồng bộ để thực hiện
có hiệu quả, trong đó giải pháp về huy động nguồn nhân lực là rất quan trọng. Dự
toán ngân sách Nhà nước năm 2011 đã bố trí 1000 tỷ đồng cho dạy nghề lao động
ở nông thôn. Báo cáo của Chính phủ có đề nghị cân đối tối thiểu 3% tổng chi ngân
sách Nhà nước giai đoạn 2011 - 2015 cho thực hiện các chương trình mục tiêu
quốc gia trong đó có chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm. Chúng tôi xin đề
nghị xem xét nâng mức cân đối tối thiểu là 4% tổng chi ngân sách Nhà nước giai
đoạn 2011 - 2015 cho việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trong đó
có chương trình quốc gia về việc làm. Xin cảm ơn Quốc hội.
(Quốc hội nghỉ)