ITN 031411 VN QS Hai Quan Viet Nam doc by CSHO0esK

VIEWS: 83 PAGES: 19

									                          HẢI QUÂN VIỆT NAM
Hải Quân Việt Nam (danh xưng chính thức là Hải Quân Nhân Dân Việt Nam:
Vietnam People's Navy) là một Hải Quân nhỏ trong vùng Đông Nam Á. Trong khi
cuộc chiến Việt Nam gia tăng vào thập niên 60, Hải Quân Bắc Việt bắt đầu gia
tăng lực lượng với 28 pháo đỉnh nhận được từ Trung Quốc và 30 ngư lôi đĩnh từ
Liên Sô. Phần lớn các tàu này bị phá hủy trong những đợt không tập Bắc Việt
của hải-không quân Hoa Kỳ. Sau năm 1975, Hải Quân Bắc Việt nhận được thêm
một số chiến hạm do hải quân Việt Nam Cộng Hòa để lại.

Trong những năm từ 1978 cho đến 1990, Hải Quân Việt Nam nhận được sự
yểm trợ và khuyến khích của Liên Sô. Đổi lại, Việt Nam phải để cho Liên Sô sử
dụng căn cứ Cam Ranh. Trong thời gian này, Việt Nam có một lực lượng Hải
Quân lớn nhất vùng Đông Nam Á với 1,500 tàu chiến đủ loại gồm 2 khu trục
hạm, 192 tàu tuần tiễu, 156 tàu đổ bộ đủ loại và 133 tàu yểm trợ.

Sau khi Liên Sô sụp đổ, Việt Nam không có một cố gắng nào để canh tân Hải
Quân của mình cho đến những năm gần đây mới bắt đầu có những nỗ lực để
mua các chiến hạm thế hệ mới, tàu ngầm và phi cơ dùng cho hải chiến và phi cơ
săn tàu ngầm.

I.       HỆ THỐNG CHỈ HUY

Hệ thống chỉ huy của Việt Nam tương tự như của Trung Quốc. Dưới Bộ Tổng
Tham Mưu Quân Đội Nhân Dân VN đóng tại Hà Nội là Bộ Tham Mưu Hải Quân
(Naval Directorate). Cả hai Bộ Tham Mưu Hải Quân và Bộ Tư Lệnh Hải Quân
do một Đô Đốc 3 sao chỉ huy. Bộ Tư Lệnh Hải Quân đặt tại Hải Phòng được chia
ra 5 vùng hải quân. Vùng Hải quân là tổ chức liên binh đoàn chiến dịch-chiến
thuật của hải quân, phân chia theo lãnh thổ, gồm các binh đoàn, binh đội tàu mặt
nước, không quân của hải quân, hải quân đánh bộ, bộ đội phòng thủ đảo, pháo
binh bờ biển và các đơn vị bảo đảm tác chiến (ra đa, thông tin, kỹ thuật, hậu
cần...):
        Vùng 1 (hoặc vùng I, vùng A): Vịnh Bắc Bộ.quản lý vùng biển từ Quảng
         Ninh đến Hà Tĩnh và các đảo trong Vịnh Bắc Bộ, bao gồm các tỉnh Quảng
         Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An,
         Hà Tĩnh. Trụ sở Bộ chỉ huy: Hải Phòng
        Vùng 3 (hoặc vùng III, vùng C): quản lý cả đoạn giữa miền Trung, từ
         Quảng Bình đến Bình Định gồm các tỉnh là Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa
         Thiên-Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định gồm các đảo
         Cồn Cỏ, Lý Sơn ... Trụ sở Bộ chỉ huy: Đà Nẵng.
        Vùng 4 (hoặc vùng IV, vùng D): Vùng 4 quản lý Quần đảo Trường Sa,
         đảo Phú Quý và vùng biển phía nam miền Trung, từ Phú Yên đến Bắc
         Bình Thuận gồm các tỉnh: Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và phía Bắc
         của Bình Thuận. Trụ sở Bộ chỉ huy: quân cảng Cam Ranh (Khánh Hòa).




                                                                              1
         Vùng 2 (hoặc vùng II, vùng B): quản lý, bảo vệ chủ quyền vùng biển từ
          Nam Bình Thuận đến Bạc Liêu và thềm lục địa phía Nam , trong đó có
          khu vực trọng điểm là vùng biển có các cụm kinh tế - khoa học - dịch vụ
          (gọi tắt là DK1) thuộc thềm lục địa phía Nam, gồm có các tỉnh: phía Nam
          của Bình Thuận, Bà Rịa-Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang,
          Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, và vùng biển phía Đông Nam của
          tỉnh Cà Mau (bao gồm cả nhà giàn DK1/10 ở bãi ngầm Cà Mau). Trụ sở
          Bộ chỉ huy: Nhơn Trạch (Đồng Nai).
         Vùng 5 (hoặc vùng V, vùng E): Vùng 5 quản lý vùng biển Nam biển Đông
          và vịnh Thái Lan thuộc vùng biển hai tỉnh Cà Mau (biển phía Tây Nam của
          Cà Mau) và Kiên Giang. Trụ sở Bộ chỉ huy : đảo Phú Quốc ( Kiên Giang ).

II.       LỰC LƯỢNG

  Hiện nay, HQVN có quân số 42,000 người kể cả Thủy Quân Lục Chiến (danh
xưng chính thức: lính thủy đánh bộ) và lực lượng đặc biệt. Lực lượng Hải Quân
được chia ra thành những Hạm Đội (Navy Fleets) hay Hải Đoàn (Navy Groups),
dưới đó là các Phân Đoàn (Navy Brigades). Trong năm 1987, lực lượng này
được chia như sau:

         Hạm Đội Hàm Tử tuần tiễu vùng biển phía Bắc giáp ranh với Trung Quốc.
         Phân Đoàn Chương Dương trách nhiệm chống các cuộc hành quân đổ bộ
          của địch.
         Phân Đoàn (?) Kiệt trách nhiệm bảo vệ và tiếp tế cho các hải đảo.
         Hạm Đội Bạch Đằng tuần tiễu vùng biển phía Nam.

      Các chiến hạm Việt Nam dùng ký hiệu HQ (Hải Quân) trước số tàu.

                     CHIẾN HẠM ĐANG SỬ DỤNG (33 CHIẾC)

KHU TRỤC HẠM HẠNG NHẸ LOẠI PETYA (4 CHIẾC)
   2 chiếc loại Petya III: HQ 9, HQ 11 (dự án 159AE) trọng tải 1,040 tấn,
     đóng tại Nga từ thập niên 60. Trang bị: 2 dual 76.2mm/59cal DP, 3x21
     inch torpedo tubes, 4 RBU-1200 ASW RL, 2 DC racks, mines (HQ-11: no
     torpedo tubes; additional 2 dual 37 mm AA, 2 dual 23 mm AA)
   2 chiếc loại Petya II: HQ 15, HQ 17 (dự án 159) trọng tải 1,077 tấn đóng
     tại Nga từ thập niên 60. Trang bị: 2 dual 76.2mm/59cal DP, 2 quint 15.8
     inch torpedo tubes, 2 RBU-6000 ASW RL, 2 DC racks, mines

TÀU TUẦN TIỂU TRANG BỊ HỎA TIỄN LOẠI MOLNIYA-BPS-500 (4 CHIẾC)
   Trọng tải: 517 tấn - 2 chiếc Molniya thế hệ mới đóng tại Nga - 10 chiếc
     đóng tại Việt Nam từ 1999 với chuyển giao kỹ thuật từ Nga (dự án BPS
     500) – Trang bị: 8 Kh-35 Uran SSM - 1 khẩu 76.2 ly/59cal DP - 1 khẩu AA
     30 ly - 2 khẩu MG 12.7 ly.

TÀU TUẦN TIỂU TRANG BỊ HỎA TIỄN LOẠI TARANTUL V (4 CHIẾC)


                                                                                2
      Trọng tải: 455 tấn - 8 chiếc sắp được chuyển giao (Tháng 12 năm 2007,
       Hải Quân Pháp đã chụp hình chiếc tàu Eide Transporter trong biển
       MANCHE đang chở hai chiếc Tarantul V mà Nga bán cho HQNDVN)–
       Trang bị: 16 (KH-25) Uran SSM.

TÀU TUẦN TIỂU TRANG BỊ HỎA TIỄN LOẠI TARANTUL I (4 CHIẾC)
   Trọng tải: 455 tấn – Trang bị: 4 SS-N-2C Styx SSM - 1 khẩu 76,2 ly/59cal
     DP - 1 SA-N-8 SAM position - 2 khẩu AA 30 ly.


TÀU TUẦN TIỄU LOẠI OSA, TURYA, SHERSHEN, SVETLYAK (18 CHIẾC)
   8 chiếc loại Osa (dự án 205ME) trọng tải 226 tấn. Trang bị: 4 SS-N-2B
     Styx SSM, 2 dual 30 mm.
   5 chiếc loại Turya (dự án 206ME) trọng tải 250 tấn. Trang bị: 1 dual
     57mm/70cal AA, 1 dual 25 mm, 4x21 inch torpedo tubes (no tubes in HQ-
     334,335)
   3 chiếc loại Shershen (dự án 206) trọng tải 161 tấn. Trang bị: 2 dual 30
     mm, 4 21 inch torpedo tubes, mines.
   2 chiếc loại Svetlyak (dự án 1041.2) trọng tải 375 tấn. Trang bị: 1x76mm
     gun, 1x30mm gun AK-630, 2x406 mm torpedo tubes.

CHIẾN HẠM ĐỔ BỘ (5 CHIẾC)
   1 chiếc loại Dobrynya Nikitich của Nga, trọng tải: 2,900 tấn.
   3 chiếc LST của Hải Quân VNCH để lại.
   1 chiếc loại Trường Sa đóng trong nước, trọng tải: 1,200 tấn.

PHI CƠ TUẦN TIỂU VÀ SĂN TÀU NGẦM

      Việt Nam đã mua ba máy bay EADS-CASA C212 Series 400 của Tây Ban
       Nha chuyên tuần tra và theo d i biển.
      Tháng 5-2010, Việt Nam đã ký hợp đồng mua 6 máy bay loại Twin Otter
       Series 400 do hảng Viking Air của Gia Nã Ðại sản xuất chuyên tuần
       tra và theo d i biển.
      15 trực thăng Kamov loại Ka-28 s được chuyển sang cho hải quân
       và s sẵn sàng hoạt động trong năm 2010.
      Với các chiến đấu cơ được lắp đặt tên lửa chống tàu chiến, bao gồm cả
       loại phản lực AS-17 Krypton, không quân Việt Nam cũng v n s góp phần
       vào việc phòng thủ biển.

PHÒNG THỦ DUYÊN HẢI

      Ðược trang bị bằng các loại tên lửa siêu âm chống hạm tầm thấp Kh-41
       Moskit/SS-N-22 Sunburn và P-800 Oniks/SS-N-26 Yakhont (Còn gọi là hệ
       thống phòng thủ Bastion).




                                                                               3
   HÀ NỘI (TH) - Friday, September 24, 2010, Việt Nam vừa mua của
    Ukraine 4 dàn radar có khả năng dò tìm các loại phi cơ chiến đấu sử dụng
    công nghệ tàng hình với tính năng tránh bị phát hiện.




        Một phần của dàn radar Kolchuga. (Hình: VietnamDefense)

    Theo bản tin của mạng điện tử VietnamDefence (info.vn): “Việt Nam và
    Ukraine đã ký chương trình hợp tác kỹ thuật quân sự giai đoạn 2011-
    2015” dựa trên tin của hãng tin RBK Ukraine. Nguồn tin này nói: “Văn kiện
    chương trình đã được thứ trưởng Bộ Chính Sách Công Nghiệp, chủ tịch
    cơ quan phụ trách các vấn đề của tổ hợp công nghiệp quốc phòng
    Ukraine Konstantin Kucher và thứ trưởng Bộ Quốc Phòng Việt Nam,
    Trung Tướng Trương Quang Khánh ký kết.”

    Nguồn tin nói “Ông K. Kucher đánh giá việc ký kết chương trình Ukraine-
    Việt Nam xác định các điều kiện hợp tác lâu dài và góp phần củng cố các
    mối quan hệ kinh doanh trong lĩnh vực hợp tác kỹ thuật quân sự.”

    Chi tiết của chương trình không được tiết lộ, 4 dàn radar mới đặt mua trị
    giá bao nhiêu, không ai biết, nhưng tờ báo RBK nhận xét rằng: “Việc phân
    tích chính sách kỹ thuật quân sự của Việt Nam cho thấy, Ukraine trong
    tương lai v n là một trong những đối tác chính trong lĩnh vực kỹ thuật
    quân sự của Việt Nam về mua sắm sản phẩm, công nghệ và dịch vụ quân
    sự.”

    Bài báo này kể lại dựa theo thống kê cũ cho biết: “Theo số liệu của Trung
    Tâm Phân Tích Buôn Bán Vũ Khí Thế Giới TsAMTO (Nga), năm 2000-
    2001, Ukraine đã chuyển giao cho Việt Nam 100 tên lửa không-đối-không
    có điều khiển tầm trung R-27 lắp đầu tự d n radar bán chủ động để trang
    bị cho các tiêm kích Su-27 do Nga cung cấp.

    Do Việt Nam kế hoạch tiếp tục mua mới các tiêm kích Nga nên có khả
    năng Ukraine cũng s cung cấp một phần vũ khí hàng không cho các máy
    bay này.




                                                                           4
       Năm 1998-2000, Ukraine đã cung cấp cho Việt Nam 5 xuồng tuần tra
       Projekt 1400 Grif.

       Năm 2002-2003, Ukraine cung cấp cho Việt Nam 10 máy bay huấn luyện-
       chiến đấu L-39ZA Albatros lấy từ trang bị của quân đội Ukraine.Năm
       2005-2006, Ukraine chuyển giao cho Việt Nam 8 tiêm kích bom Su-22 lấy
       từ trang bị của quân đội Ukraine theo hợp đồng ký năm 2004, trị giá hợp
       đồng ước tính 20 triệu USD.

       Theo số liệu hiện có, đang ở giai đoạn thực hiện là hợp đồng ký năm
       2008 cung cấp 4 trạm trinh sát điện tử thụ động Kolchuga-M trị giá ước
       tính 54 triệu USD). Theo TsAMTO, mặc dù hiện tại Nga đang có vị thế áp
       đảo tại thị trường Việt Nam, “Moskva cũng cần tính đến khả năng gia tăng
       vị thế của Ukkraine tại thị trường này.”

       Các nguồn tin trên còn nói thêm: “Kolchuga cùng với Tamara và Vera của
       Czech là các hệ thống trinh sát điện tử thụ động hiện đại nhất hiện nay,
       một trong những phương tiện hữu hiệu nhất phát hiện máy bay tàng hình.
       Có tin đồn, Trung Quốc đã mua 4-8 hệ thống Kolchuga của Ukraine.”
       Theo tài liệu trên Internet của wikipedia, hệ thống dò tìm điện tử đúng ra
       phải gọi là “Kochuga passive sensor” thay vì gọi là “radar” do Ukraine chế
       tạo có khả năng phát hiện các máy bay trong phạm vi 800km (500 dặm) ở
       độ rất cao. Nó là một hệ thống không phải là một mà là 3 hệ thống đặt
       cách xa nhau hàng chục km theo d i và phát hiện máy bay nhờ phát sóng
       RF quét phối hợp đa chiều và hình tam giác. Dàn radar này nhỏ nên có
       thể thiết trí di động trên xe.

      Tờ The Straits Times mới cho biết có thể Việt Nam và Israel s hoàn tất
       thỏa thuận mua bán hệ thống tên lửa đạn đạo tầm ngắn (SRBM) vào cuối
       tháng 5-2010 nhằm tăng cường khả năng phòng thủ, để bảo vệ chủ
       quyền tại quần đảo Trường Sa.

               CHIẾN HẠM & PHI CƠ ĐANG ĐÓNG & DỰ TRÙ

Sau hơn 2 thập niên đổi mới trong lãnh vực kinh tế, ngành đóng tàu Việt Nam đã
có sự tiến bộ đáng kể với sự giúp đỡ của Nga Sô, Nhật Bản và Đại Hàn. Cơ
quan Lượng Giá Hải Quân trên Thế Giới vừa xếp hạng ngành đóng tàu Việt
Nam đứng hàng thứ 5 trên thế giới về ngành đóng tàu buôn hạng nhỏ và hạng
trung và đứng thứ 9 về đóng các tàu chiến. Công ty VINASHIN và 20 hãng phụ
đứng hàng 11 trên thế giới về khả năng đóng tàu hạng nhỏ và hạng trung. Trong
năm 2009, Việt Nam đã qua mặt tất cả các bạn hàng mua vũ khí cỡ lớn của Nga
trong thời gian gần đây để vươn lên đứng hàng thứ nhất. Theo sau là các nước
như Ấn Độ, Algérie, Venezuela và Trung Quốc.

KHU TRỤC HẠM HẠNG NHẸ LOẠI FRIGATES (4 CHIẾC)




                                                                               5
      2 chiếc Gepard thế hệ mới đã được hoàn tất tại Nga - Chiếc đầu tiên đã
       được bàn giao 14-3-2011.
      2 chiếc Gepard thế hệ mới có thể đóng tại Việt Nam với chuyển giao kỹ
       thuật từ Nga.

TÀU NGẦM (6 CHIẾC)
   Việt Nam đã ký hợp đồng trị giá gần 2 tỷ Mỹ Kim để mua của Nga 6 tàu
     ngầm tấn công loại Kilo cải tiến - dự trù chuyển giao mổi năm một chiếc
     kể từ 2010.

PHI CƠ TIÊM KÍCH LOẠI SU-30MK2V

      Việt Nam đã ký hợp đồng mua 12 chiếc, sau giảm còn 8 chiếc SU-
       30MK2V của Nga trị giá 400 triệu Mỹ Kim. Bốn chiếc đầu tiên s được
       giao hàng cho Việt Nam vào cuối năm 2010 và 4 chiếc tiếp vào năm sau.
       Trong tháng 12, 2009, DefenseNews nói truyền thông Nga đưa tin Việt
       Nam cũng đang chuẩn bị mua thêm 12 máy bay chiến đấu Su-30MK2.

PHI CƠ TUẦN TIỂU VÀ SĂN TÀU NGẦM
   Hoa Kỳ đã đề nghị bán loại thủy phi cơ United Capital Corporation
     (Grumman) G-111T. Canada cũng có thể cung cấp thủy phi cơ tương tự,
     loại The Bombardier 415MR, có thể dùng để tuần tiểu và săn tàu ngầm.

HẠ TẦNG CƠ SỞ
   Hồi tháng Hai năm 2007, BBC đưa tin Nga thiết lập hai trung tâm bảo trì
     vũ khí do họ sản xuất, một tại Việt Nam và một tại Trung Quốc. Với hợp
     đồng mua 6 tàu ngầm tấn công loại Kilo cuối năm 2009, Việt Nam đã trả
     thêm cho Nga 2 tỷ Mỹ Kim để giúp thiết lập một căn cứ tầu ngầm, cung
     cấp thiết bị bảo trì và sửa chữa, thành lập một trung tâm chỉ huy & truyền
     tin, và huấn luyện các cán bộ chuyên môn cho Việt Nam. Việt Nam rất cần
     đến điều này, đó là vì Hải Quân Việt Nam chưa có nhân sự cho một lực
     lượng tàu ngầm.

                    CÁC LOẠI CHIẾN HẠM & TÀU NGẦM

KHU TRỤC HẠM HẠNG NHẸ LOẠI GEPARD

Năm 2006, công ty Rosoboronexport của Nga chính thức ký hợp đồng với Bộ
Quốc Phòng Việt Nam sau gần 3 năm thương thuyết để đóng 2 chiếc khu trục
hạm hạng nhẹ loại Gepard (dự án Gepard 3.9) Hai chiếc đầu đóng tại Nga và 2
chiếc kế tiếp có thể đóng tại Việt Nam với sự chuyển giao kỹ thuật từ Nga. Đây
là hợp đồng xuất cảng đầu tiên do Zelenodolsk Shipyard đóng kể từ khi sụp đổ
của Liên Bang Sô Viết. Đặc điểm của hợp đồng này:




                                                                             6
      Thiết kế do Zelenodolsk PKB đảm trách với nhiệm vụ đa năng từ chống
       tàu ngầm, hải và không chiến, tuần tiễu và hộ tống cũng như bảo vệ khu
       đặc quyền kinh tế.
      Thiết kế hoàn toàn mới tinh với thượng tầng kiến trúc theo lối “tàng
       hình”.
      Hệ thống vũ khí mới nhất gồm hệ thống phòng không Palma-SU, hỏa tiễn
       hải-hải loại Uran và trực thăng Ka-28.
      Hệ thống máy chánh hỗn hợp gas turbines và diesel CODOG.
      Chiến hạm s được hoàn tất trong 31 tháng thay vì 3 năm rưỡi như
       thường lệ.

Hãng thông tấn Ria Novosti loan tải một công ty đóng tàu của Nga đã hoàn tất
hợp đồng cung cấp hai tàu chiến Gepard cho Việt Nam. Trong bản tin ngắn ngày
24 tháng 8, 2010, đánh đi từ Kazan, thủ phủ Cộng hòa Tatarstan, Ria Novosti nói
nhà máy đóng tàu Gorkiy vừa giao hàng chiếc thứ hai trong hợp đồng hai chiếc
tàu chiến hạng Gepard-3.9.

Hợp đồng cung cấp tàu Gepard 3.9 được ký từ cuối năm 2006 qua công ty
Rosoboronexport, nhà xuất khẩu vũ khí hàng đầu của Nga.

Trước đó, một công ty Nga khác là RET Kronshtadt cũng đã được lựa chọn để
cung cấp hệ thống huấn luyện thủy thủ đoàn cho các tàu chiến này. Công việc
huấn luyện được thực hiện ngay trong năm 2010. Cũng công ty RET Kronshtadt
tham gia huấn luyện thủy thủ đoàn cho các tàu ngầm hạng Kilo mà Việt Nam ký
hợp đồng mua của Nga hồi cuối năm ngoái. Công ty này chuyên huấn luyện hoa
tiêu cho tàu ngầm.

Nga đã thông báo s xây dựng căn cứ tàu ngầm bao gồm cả cơ sở sửa chữa và
huấn luyện cho hải quân Việt Nam, tuy không nói r là ở địa điểm nào.

Hai tàu cho hải quân Việt Nam là thế hệ Gepard đời mới nhất của nhà máy
Zelenodolsk, mất tới hai năm rưỡi để chế tạo từ m u đang hoạt động thuộc lớp
Project 11661.

Chiếc Gepard đầu tiên đã được chính thức bàn giao ngày 14-3-2011.




                                                                             7
KHU TRỤC HẠM GEPARD LOẠI CỦ

                                         KHU TRỤC HẠM GEPARD THẾ HỆ
                                           MỚI ÐÓNG CHO VIỆT NAM


TỔNG QUÁT

     Tên: loại Gepard 3.9
     Xưởng đóng tàu: Zelenodolsk Shipyard
     Loại củ: loại Koni, Griska và Parchim
     Bắt đầu đóng: 1991-2005 (loại cũ) - 2006 (loại mới)

ĐẶC TÍNH

     Trọng tải: 1,500 tấn (chưa trang bị) - 1,930 tấn (tối đa)
     Chiều dài: 102 m
     Chiều rộng: 13 m
     Chiều sâu: 5.3 m
     Máy chánh: 2 chân vịt CODOG, 2 x gas turbines (29,300 shp each) - 1 x
      type-61D diesel (8,000 bhp) - 3 x 600 kW diesel alternator.
     Tốc độ: 28 gút
     Tầm hoạt động: 4,000 hải lý (7,000 km) @ 10 gút (19 km/h)
     Thời gian hoạt động: 15 ngày
     Thủy thủ đoàn: 98
     Hệ thống điều khiển:
      - Navigation radar (unknown type)
      - Cross Dome surface & air search radar
      - Pop Group SN-A-4 fire control radar
      - Bass Stand cruise missile target designator
      - Bass Tilt AK-630 fire-control
      - Medium-frequency hull mounted, medium-frequency towed variable
         depth
      - 2 x Bell Shroud passive intercept, 2 x Bell Squat jammners, 4 x 16-
         barreled Pk-16 countermeasure rocket launchers
     Hỏa lực:


                                                                              8
       -  Hỏa tiễn hải-hải: 8 x SS-N-25 Switchblade anti-ship missiles (2
          quadruple launchers)
       - Hỏa tiễn hải-không: 1 x Osa-M surface-to-air missile system (1 twin
          launcher) - 20 SA-N-4 Gecko missiles
       - Trọng pháo: 1 x 76.2 mm 59-caliber AK-176 automatic dual-purpose
          gun (500 round magazine) - 2 x 6-barreled 30 mm AK-630 point-
          defense guns (2,000-round magazine for each).
       - Săn tàu ngầm: 4 x 533 mm torpedo tubes (2 twin launchers) - 1 x
          RBU-6000 12-barreled Anti-Submarine rocket launcher
      Phi cơ: 1 trực thăng Kamov Ka-28

KHU TRỤC HẠM HẠNG NHẸ LOẠI PETYA

   Đây là loại Khu Trục Hạm hạng nhẹ săn tàu ngầm loại petya do Liên Sô sản
xuất từ thập niên 60. Hầu hết chiến hạm loại này đã được phế thải ngoại trừ một
số xuất cảng sang các nước nhỏ.




             KHU TRỤC HẠM SĂN TÀU NGẦM LOẠI PETYA II & III

TỔNG QUÁT

      Tên: Loại Petya (dự án 159)
      Xưởng đóng tàu: Yantar Shipyard - Khabarovsk Shipyard
      Loại củ: Loại Riga
      Loại mới: Loại Mirka
      Hoàn tất: 54
      Còn hoạt động: 8
      Phế thải: 46

ĐẶC TÍNH

      Trọng tải: 950 tấn (chưa trang bị) - 1,150 tấn (tối đa)
      Chiều dài: 81.8 m


                                                                               9
      Chiều rộng: 9.2 m
      Chiều sâu: 2.9 m
      Máy chánh: CODAG - 2 gas turbines (30,000 hp) - 1 diesel (6,000 hp) - 3
       shafts
      Tốc độ: 30 gút
      Tầm hoạt động: 4,870 hải lý @ 10 gút - 450 hải lý @ 30 gút
      Thủy thủ đoàn: 90
      Hỏa lực:
       - Trọng pháo: 4 x 76 mm (2 x 2)
       - Săn tàu ngầm: 4 x RBU 6000 anti-submarine rocket launchers - 5 x
          406 mm anti-submarine torpedo tubes

TÀU TUẦN TIỂU TRANG BỊ HỎA TIỄN LOẠI MOLNIYA (BPS-500)

Tàu tuần tiễu trang bị hỏa tiễn loại Molniya do trung tâm Almaz tại St. Petersburg
tái thiết kế dựa theo loại Tarantul và hãng đóng tàu Vympel Joint Stock
Shipbuilding Company tại thành phố Volga River chuyên đóng các chiến hạm
nhỏ để xuất cảng. Một số quốc gia như Việt Nam đã đóng các tàu loại này trong
nước với sự chuyển giao kỹ thuật cũng như các cơ phận chính yếu từ Nga.

Tàu tuần tiễu Molniya chia làm 3 loại:

   -   Dự án 1242.1 trang bị 4 hỏa tiễn hải-hải siêu âm loại Moskit SS-N-22
       Sunburn tầm xa 120 km.
   -   Dự án 1241.8 trang bị 16 hỏa tiễn hải-hải loại Uran-E SSN-X-25
       Switchblade tầm xa 130 km.
   -   Dự án 1241 RE trang bị 8 hỏa tiễn hải-hải loại Uran-E SSN-X-25
       Switchblade tầm xa 130 km.

   Tàu tuần tiễu Molniya có những đặc tính sau:

   -   Với trọng tải chỉ 550 tấn, tàu tuần tiễu loại này có thể hoạt động trong
       vùng nước cạn, dễ dàng trộn l n với ghe tàu cận duyên, khó cho các
       chiến hạm địch phát giác và tấn công.
   -   Khả năng kiểm soát 5,000 hải lý vuông trong điều kiện biển cấp 5. Được
       trang bị hệ thống điều hòa không khí mang tiện nghi cho thủy thủ đoàn.
   -   Có thể biến cải thành tàu tuần tiễu, pháo hạm, săn tàu ngầm.
   -   Có khả năng tấn công các chiến hạm lớn, chiến hạm đổ bộ cũng như các
       tàu xa bờ cũng như phòng không với các hỏa tiễn hải-hải và hải không.
   -   Hệ thống radar tối tân có thể quan sát 15 mục tiêu và tấn công 6 mục tiêu
       cùng một lúc với tầm xa tối đa 500 km.
   -   Tàu được chuyển giao cho khách hàng 1 năm sau khi ký hợp đồng.




                                                                               10
 THIẾT KẾ TÀU TUẦN TIỂU TRANG BỊ
      HỎA TIỄN LOẠI MOLNIYA                        HQ 375-376 CỦA HQVN


TỔNG QUÁT

     Tên: Molniya 1241.8 - 1242.1 - 1241 RE
     Xưởng đóng tàu: Vympel Joint Stock Shipbuilding Company (JSSC)
     Loại củ: Tarantul
     Bắt đầu hoạt động: 2000

ĐẶC TÍNH

     Trọng tải: 550 tấn tối đa
     Chiều dài: 56.1 m
     Chiều rộng: 10.2 m
     Chiều sâu: 2.65 m
     Máy chánh: Gas turbine 32,000 hp - 2 propellers
     Tốc độ: 38 gút tối đa
     Tầm hoạt động: 3,000 hải lý tối đa
     Thủy thủ đoàn: 44
     Hệ thống điều khiển:
      - Navigation, air/surface detection, fire control radars for cruise missiles
         & guns.
      - HF and UHF radio communication aids
      - Radio direction-finder
      - Satellite navigation set
      - Electronic Warfare: Decoy dispenser system (2 x PK-10)
     Hỏa lực:
      - Hỏa tiễn hải-hải: 4 x Moskit SS-N-22 Sunburn Cruise Missiles hay 8/16
         Uran-E SSN-X-25 Switchblade.
      - Hỏa tiễn hải-không: 12 x IGLA-1M AD missile system, range 5 km.
      - Trọng pháo: 1 x 1/76 mm AK-176M - 2 x 6/30 mm AK-630M

TÀU NGẦM TẤN CÔNG LOẠI KILO




                                                                                11
   TTĐ tấn công loại Kilo (dự án 636) bắt đầu hoạt động vào đầu thập niên 80
cho đến hiện tại, có khả năng tấn công tầu ngầm và chiến hạm địch. Đây là loại
tàu ngầm tấn công từ thập niên 80 đến nay v n còn sản xuất. TTD loại này có
những đặc tính sau:
    Được HQHK mệnh danh là 'The Black Hole” là loại TTĐ êm nhất trên thế
      giới.
    Dự án 636 cải tiến được trang bị với sonar loại mới MGK-400EM với hệ
      thống dò mìn MG-519EM dùng ít nhân viên sử dụng hơn.
    33 chiếc được xuất cảng: Algeria (2 cũ, 2 cải tiến) Trung Quốc (2 cũ, 10
      cải tiến), Ấn Độ (10 cải tiến), Poland (1), Indonesia (2 cải tiến), Iran (3),
      Romania (1), Việt Nam (6 cải tiến - dự trù chuyển giao vào 2010-2011).
      Các tàu ngầm xuất cảng không được trang bị hỏa tiễn hải-không.




                           Tàu ngầm tấn công loại Kilo

TỔNG QUÁT

      Tên: Dự án 877 (nguyên thủy) - 636 (cải tiến)
      Xưởng đóng tàu: Admiralty Shipyard - Severodvinsnk Shipyard
      Loại cũ: Tango class
      Loại mới: Lada class (2005)
      Bắt đầu hoạt động: 1982 - Hiện tại
      Hoàn tất: 49 chiếc - 41 đang hoạt động
      Giá cả: 200-250 triệu Mỹ Kim mỗi chiếc

ĐẶC TÍNH

      Trọng tải: 2,300/2,350 tấn (nổi) - 3,000/4000 tấn (tối đa)
      Chiều dài: 70 - 74 m
      Chiều rộng: 9.9 m
      Chiều sâu: 6.5 m
      Lặn sâu: 300 m tối đa
      Máy chánh: 1 máy chánh diesel-electric 5,900 SHP (4,400KW)
      Tốc độ: 10-12 knots (nổi) - 17-25 knots (lặn)



                                                                                12
      Tầm hoạt động: 400 miles Ị 3 knots (lặn) - 6,000-7,500 miles Ị 7 knots
       snorkeling
      Thời gian hoạt động: 45 ngày
      Thủy thủ đoàn: 52
      Hỏa lực:
       - Hỏa tiễn hải-không: 8 x SA-N-8 Gremlin hay 8 x SA-N-10 Gimlet
       - Mìn: 6
       - Ngư lôi: 6 x 533 ống phóng với 18 ngư lôi

KHỞI CÔNG ĐÓNG TÀU NGẦM KILO ĐẦU TIÊN CHO VIỆT NAM

QÐND (Cập nhật lúc 11:34, Thứ Sáu, 10-09-2010) - Tại hãng đóng tàu Admiralty
Shipyard vừa diễn ra lễ khởi công đóng tàu ngầm đầu tiên trong 6 chiếc lớp Kilo
của Hải quân Việt Nam. Trước đó, tàu hộ tống Gepard-3.9 thứ hai cũng đã được
chuyển cho hải quân Việt Nam.

Trong khuôn khổ hiện đại hóa Hải Quân, Việt Nam trở thành khách hàng lớn đặt
mua các vũ khí trang bị hải quân Nga. Tổng giá trị các đơn đặt hàng vũ khí có
thể sánh với các hợp đồng đang thực hiện cho Ấn Độ.

Hiện nay, trong cơ cấu biên chế của Hải quân Việt Nam có sự mất cân đối do
hạm đội tàu ngầm ít được chú ý hơn tàu nổi. Vì thế, chẳng có gì ngạc nhiên khi
vào tháng 5-2009, Việt Nam tuyên bố sắp ký với Nga hợp đồng mua 6 tàu ngầm
điện-diesel dự án 636 Kilo do Admiralty Shipyard đóng. Cuối năm 2009, Nga và
Việt Nam đã ký hợp đồng cung cấp 6 tàu ngầm dự án 636 Kilo trị giá gần 2 tỷ
USD.

Ba tháng sau, hai bên đã bắt đầu đàm phán về việc xây dựng cơ sở trú đóng và
hạ tầng cho hạm đội tàu ngầm Việt Nam. Chi phí cho chương trình này ước tính
tương đương, thậm chí lớn hơn giá mua 6 tàu ngầm.

                           KHÔNG LỰC CỦA HẢI QUÂN

Cho đến bây giờ, HQVN chưa có không lực riêng để đảm nhiệm việc phòng thủ
biển. Ông Robert Karniol, một chuyên gia có uy tín trong lĩnh vực quân sự ở khu
vực, viết trên nhật báo Straits Times của Singapore đưa tin Việt Nam chuẩn bị
thiết lập bộ phận không quân nằm trong hải quân và chính phủ Việt Nam s sớm
công bố kế hoạch này. Các nước trong khu vực có không quân trực thuộc hải
quân là Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Malaysia, Philippines, Hàn Quốc, Đài
Loan và Thái Lan. Theo tác giả Karniol, Việt Nam đã mua ba máy bay EADS-
CASA C212 Series 400 của Tây Ban Nha chuyên tuần tra và theo d i biển. Các
máy bay này có trang bị radar MSS 6000 và bộ phận không quân mới s chịu
trách nhiệm vận hành chúng cho mục đích tuần duyên. Sang năm tới, các hoạt
động tuần tra ven biển s được hỗ trợ của các máy bay C212, thay thế bốn
 thuyền bay Beriev BE-12 mua của Liên Xô từ 1981. Nguồn tin của báo này còn
cho hay việc thuyên chuyển, điều động nhân sự và trang thiết bị đã bắt đầu diễn


                                                                                13
ra và đại bản doanh của không lực hải quân s được đặt tại sân bay quân sự
(Cát Bi) Hải Phòng. 15 trực thăng Kamov loại KA-28 s được chuyển sang cho
hải quân và bộ phận không quân mới s sẵn sàng hoạt động trong năm 2010.
Tuy nhiên, với các chiến đấu cơ được lắp đặt tên lửa chống tàu chiến, bao gồm
cả loại hỏa tiễn không-hải AS-17 Krypton cùng với các chiến đấu cơ Su-30MK2
mà VN vừa mua trong thời gian gần đây, không quân Việt Nam cũng v n góp
phần trong việc phòng thủ duyên hải. Máy bay chiến đấu loại Su-30MK2 được
cải biến để có khả năng tấn công và tiêu diệt các mục tiêu trên biển trong mọi
điều kiện thời tiết và thời gian.

SUKHOI SU-30 MK2V

Sukhoi Su-30 (tên ký hiệu của NATO: "Flanker-C") là máy báy quân sự linh hoạt
được phát triển bởi công ty hàng không Sukhoi của Nga và đưa vào hoạt động
năm 1996. Nó là loại máy bay chiến đấu đa chức năng tốc độ siêu âm có thể
đảm nhiệm cả nhiệm chiếm ưu thế trên không và nhiệm vụ cường kích (tấn công
mặt đất và chiến hạm), tương đương như loại F-15E Eagle của Hoa Kỳ.

Đây là một phiên bản hiện đại hóa của Su-27UB và có vài phiên bản khác. Seri
Su-30K và Su-30MK đều có những thành công trong thương mại. Sự khác nhau
về tên gọi là do các phiên bản được sản xuất bởi 2 công ty con đang có sự cạnh
tranh - KNAAPO và IRKUT Corporation, cả 2 đều nằm dưới sự điều khiển của
tập đoàn Sukhoi. KNAAPO sản xuất Su-30MKK và Su-30MK2, chúng được thiết
kế và bán cho Trung Quốc và Việt Nam. Irkut sản xuất seri Su-30MK tầm xa đa
chức năng, mà bao gồm cả Su-30MKI, một m u máy bay được phát triển cho
Không Quân Ấn Độ và những thiết kế từ Su-30MKI, như Su-30MKM, Su-30MKA
và Su-30MKV được xuất khẩu cho riêng Malaysia, Algeria và Venezuela (M-
Malaysia, A-Algeria và V-Venezuela).

Năm 2009, Việt Nam đã ký hợp đồng mua 12 chiếc Su-30MK2 của Nga nhưng
sau cắt xuống còn 8 chiếc vì lý do tài chính. Tổng trị giá của tám chiếc này là 400
triệu Mỹ Kim. Ngày 20-7-2010, Nga vừa tuyên bố về thỏa thuận bán thêm 12
máy bay chiến đấu Sukhoi cho Việt Nam. Người đứng đầu cơ quan hợp tác công
nghệ quốc phòng Nga, ông Alexander Fomine, cho biết về vụ mua bán này tại
buổi triển lãm hàng không quốc tế Farnborough đang diễn ra gần Luân Ðôn. Tuy
nhiên ông không cho biết ngày ký kết thỏa thuận mua bán với Việt Nam. Trưởng
đoàn Nga tại Triển lãm Hàng không Farnborough 2010, người đồng thời là giám
đốc Cơ quan Hợp tác Quân sự-Kỹ thuật Liên bang Nga Alexander Fomin được
hãng thông tấn Tass trích lời nói hợp đồng cung cấp thêm 12 chiến đấu cơ đời
mới này vừa được ký trong năm nay. Theo ông Fomin, bốn chiếc đầu tiên của
hợp đồng năm ngoái s được giao hàng cho Việt Nam trước cuối năm nay. Bốn
chiếc còn lại của hợp đồng cũ s được giao hàng năm 2011.




                                                                                14
           ÐẶC TÍNH CỦA LOẠI CHIẾN ÐẤU CƠ SU-30MK2V

1) Thiết kế: Sukhoi bắt đầu sản xuất một phiên bản xuất khẩu là Su-30MK, "MK"
   có nghĩa là Modernizirovannyi Kommercheskiy (Modernized Commercial -
   Thương mại hóa).
2) Máy bay chiến đấu đa chức năng linh hoạt: Su-30MK có khả năng thực hiện
   các nhiệm vụ đa dạng khác nhau, trong bất kỳ điều kiện thời tiết, môi trường
   khắc nghiệt, bất kể ngày hay đêm và khoảng cách.Đây là máy bay đa chức
   năng được trang bị đầy đủ phù hợp với toàn bộ một chuỗi những kịch bản
   chiến thuật và hoạt động chiến đấu, nó được thay đổi từ nhiệm vụ không
   chiến (bao gồm chiếm ưu thế trên không, phòng không, tuần tra trên không
   và hộ tống), thành tấn công mặt đất, chống hệ thống phòng không của địch
   (SEAD), ngăn chặn trên không, hỗ trợ mặt đất và tấn công mục tiêu trên biển.
   Đồng thời, Su-30MK có thể thực hiện chống gây nhiễu điện tử ECCM và
   cảnh báo sớm trên không, cũng như ra lệnh và điều khiển một nhóm thực
   hiện nhiệm vụ chung.
3) Vài thông số kỹ thuật: Chiến đấu cơ 2 chổ ngồi, vận tốc tối đa: Mach 2.0
   (2,120 km/h, 1,320 mph), tầm hoạt động: 3,000 km (1,620 mile).
4) Hệ thống điện tử:
       - Radar: nó có thể lựa chọn 1 trong số các loại radar xung Doppler sau:
          N001VE, Phazotron N010 Zhuk-27, N011M BARS (radar quét mảng
          pha điện tử bị động). Có khả năng phát hiện và theo d i mục tiêu lên
          đến 15 mục tiêu trên không, trong khi có thể đồng thời tấn công 4 mục
          tiêu trong số đó. Radar N011M BARS có thể dò tìm các mục tiêu lớn
          trên biển trong khoảng cách lên đến 400 km (248.5 mi), và các mục
          tiêu nhỏ trong khoảng cách 120 km (74.5 mi).
       - Hệ thống điện tử khác bao gồm một hệ thống ngắm bắn và d n đường
          tích hợp, với một hệ thống d n đường con quay laser; hệ thống hiển
          thị trên mũ phi công, màn hình hiển thị trước buồng lái HUD, màn hình
          LCD hiển thị đa chức năng với khả năng hiển thị trộn l n hình ảnh; và
          một hệ thống GPS (tương thích GLONASS/NAVSTAR).
       - Hệ thống tia hồng ngoại và laser để dò tìm và điều khiển vũ khí tấn
          công các mục tiêu kích thước nhỏ. Máy bay được cung cấp phương
          tiện chống gây nhiễu điện tử ECCM và đối phó với các thiết bị điện tử
          quang học.




                                                                            15
       -  Máy bay có chế độ lái tự động trong mọi giai đoạn bay, gồm bay thấp
          trong mọi địa hình, bay riêng và theo nhóm chống lại mục tiêu trên
          không - mặt đất - trên biển. Hệ thống điều khiển tự động được kết nối
          với hệ thống d n đường để đảm bảo máy bay bay đúng đường, tự
          động tiếp cận địch, tìm được đường về căn cứ và hạ cánh tự động.
5) Vũ khí: Su-27PU có 8 giá treo vũ khí, trong khi Su-30MK có 12 giá treo vũ
   khí: 2 giá treo ở đầu cánh 3 giá treo dưới mỗi cánh, dưới mỗi động cơ có 1,
   và 2 giá treo tại điểm tiếp giáp giữa động cơ và cánh. Mọi phiên bản có thể
   mang 8 tấn vũ khí:
       - 1× pháo Gryazev-Shipunov GSh-30-1 30 mm 150 viên đạn
       - Tên lửa không đối không: 6× R-27ER1 (AA-10C), 2× R-27ET1 (AA-
          10D), 6× R-73E (AA-11), 6× RVV-AE (AA-12)
       - Tên lửa không đối đất: 6× Kh-31P/Kh-31A tên lửa chống [radar]], 6×
          Kh-29T/L tên lửa d n đường bằng laser.
       - Tên lửa chống chiến hạm: 2× Kh-59ME.
       - Bom: 6× KAB 500KR, 3× KAB-1500KR, 8× FAB-500T, 28× OFAB-250-
          270

       Tên lửa chống chiến hạm Kh-59ME: Kh-59 ban đầu được trang bị một
       động cơ nhiên liệu bột, và kết hợp với một máy gia tốc nhiên liệu bột ở
       đuôi. Bộ ổn định gấp nếp được đặt ở phía trước của tên lửa, với cánh và
       đuôi lái ở phía sau. Kh-59 có thể bay trên độ cao 7m so với mặt nước
       biển và 100-1000 mét so với mặt đất nhờ vào một radar đo độ cao. Nó có
       thể phóng với tốc độ 600 đến 1,000 km/h trên độ cao 0,2 đến 11 km và có
       CEP khoảng 2 đến 3 m. Nó được gắn vào máy bay nhờ thiết bị treo AKU-
       58-1. Kh-59ME có một động cơ turbofan bên ngoài dưới thân và phía
       trước của cánh sau, nhưng giữ lại máy gia tốc nhiên liệu bột. Nó cũng có
       một hệ thống d n đường kép gồm có một hệ thống d n đường quan tính
       để d n đường cho tên lửa trong khu vực mục tiêu và một hệ thống truyền
       hình để d n đường cho tên lửa đến mục tiêu. Tọa độ mục tiêu được nạp
       vào tên lửa trước khi phóng, và trong pha đầu của hành trình nó s được
       d n đường bởi hệ d n đường quán tính. Tại khi cách mục tiêu 10 km hệ
       d n đường truyền tuyến được kích hoạt. Một bảng mạch vận hành trên
       máy bay xác định mục tiêu và khóa tên lửa vào mục tiêu.

CASA C-212 SERIES 400

Hãng EADS CASA của Tây Ban Nha đã cung cấp hơn 460 phi cơ loại C-212 cho
89 quốc gia và công ty trên thế giới. C-212 Series 400 là phiên bản mới nhất và
Không Quân Việt Nam vừa mới đặt mua 3 phi cơ loại này. Phi cơ loại này có
những đặc điểm như sau:

   -   Có thể bay tuần tiểu liên tục 8 tiếng đồng hồ với tầm hoạt động 1,000 hải
       lý. Phi cơ hoạt động rất tốt ở tốc độ cũng như cao độ thấp, rất thuận tiện
       cho việc tuần tiễu bờ biển, được cải biến với phòng điều khiển với 2 quan



                                                                              16
       sát viên trong thân tàu. Một radar bao trùm 360º được gắn dưới thân tàu
       thay vì 270º gắn trước mũi của các loại củ.
   -   Phi cơ được trang bị hệ thống liên lạc bằng vệ tinh, máy hình có ghi vị trí,
       ngày giờ và hệ thống không hành và tuần tiễu được ấn định từ trước. Có
       6 mạch liên lạc giữa vô tuyến viên và các hệ thống bên ngoài.
   -   Một hệ thống quan sát bằng hồng ngoại tuyến có khả năng quan sát ngày
       cũng như đêm.
   -   Dụng cụ cứu cấp.




DHC-6 TWIN OTTER SERIES 400

HQVN đã ký hợp động mua 6 chiếc Twin Otter Series 400 do hảng Viking Air
của Gia Nã Ðại sản xuất. Thời gian giao hàng từ 2012 đến 2014. Phi cơ loại này
có những đặc điểm như sau:

   -   Rất thông dụng để chuyên chở hành khách, tuần tiễu và cấp cứu nhờ khả
       năng cất và hạ cánh trên đường bay ngắn (Short Takeoff and Landing:
       STOL), sức chịu đựng bền bỉ và tốc độ vượt cao (climb rate) rất tốt.
   -   Ðược trang bị với 2 động cơ Pratt & Whitney Canada PT6A-34/35 rất
       mạnh và hệ thống điều khiển Primus Apex hoàn toàn tự động do hãng
       Honeywell sản xuất.




                             THÔNG SỐ KỸ THUẬT

       -   Phi hành đoàn: 1 hay 2, tối đa 20 hành khách
       -   Đường bay cất và hạ cánh: 1,200 ft (366m)


                                                                                17
      -   Tốc độ: 170 gút
      -   Sức chở với tốc độ tối đa: với tầm xa 400 hải lý (741 km): 3,250 lb
          (1,474 kg)
      -   Tầm hoạt động tối đa (không hành khách hay hàng hóa): Nhiên liệu tối
          đa (3,190 lb - 1,447 kg): 980 hải lý (1,815 km)
      -   Thời gian hoạt động: Nhiên liệu tối đa (3190 lb - 1447 kg): 9 giờ

KAMOV KA-28

Kamov Ka-27 là trực thăng thông dụng trong Hải Quân Nga dùng để chống tàu
ngầm (ASW). Kamov Ka-28 là phiên bản để xuất khẩu. Hải Quân các nước
Ukraine, Đại Hàn, Trung Quốc, Đài Loan và Ấn Độ đều có trang bị loại trực thăng
này. Không Quân Việt Nam có 19 chiếc Kamov Ka-28. Đặc tính:

      -   Tốc độ tối đa: 270 km/h (145 gút, 166 mph).
      -   Tốc độ trung bình: 205 km/h (110 gút, 126 mph)
      -   Tầm hoạt động: 980 km (530 hải lý, 605 dặm)
      -   Trang bị: Radar, MAD or dipping sonar, sonobuoys
      -   Vũ khí:1 x torpedoes (AT-1M, VTT-1, UMGT-1 Orlan, APR-2 Yastreb)
          or 36 RGB-NM & RGB-NM-1 phao định vị (sonobouys).




                                   NGUỒN:

                           Báo Quân Ðội Nhân Dân
               en.wikipedia.org/wiki/Vietnamese_People's_Navy
                        World Navies Today: Vietnam
                   http://www.defenseindustrydaily.com/Vietnam
                   www.royfc.com/news/feb/0707feb01.html
               vi.wikipedia.org/wiki/Sukhoi_Su-30www.airforce
                        Casa C-212 Aviocar - Wikipedia
                      en.wikipedia.org/wiki/Kamov_Ka-27
                     YouTube-Steregushchy class corvette
             www.airlines-inform.com/commercial.../Twin-Otter.html

                            LỊCH TRÌNH TU CHỈNH



                                                                            18
1. 20-7-2010: Việt Nam mua thêm 12 chiếc Su-30 MK2.
2. 24-8-2010: Nga    hoàn t t h p ng cung c p hai tàu chiến epard 3.9
   cho Việt Nam.
3. 10-9-2010: Khởi công óng tàu ngầm Kilo ầu tiên cho Việt Nam.


                                                       Nguyễn Mạnh Trí
                                            E-Mail: prototri@yahoo.com
                                           www.tranhchapbiendong.com
                                             Tu chỉnh: 14 tháng 3, 2011




                                                                    19

								
To top