Dac 20san 20phap 20luat 20ve 20bao 20ve 20cham 20soc 20va 20giao 20duc 20tre 20em by 5C60ay

VIEWS: 0 PAGES: 104

									       HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP CÔNG TÁC
PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ




               ĐẶC SAN
       TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT
              Số 02/2011




                CHỦ ĐỀ
         PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ,
      CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM




              HÀ NỘI - NĂM 2011
                                   LỜI NÓI ĐẦU
      Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (BVCSGD) là một trong những truyền
thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, dưới chế độ dân chủ nhân dân, truyền thống đó
càng được nhân dân ta giữ gìn và phát huy, trở thành vấn đề có tính chiến lược, là
mục tiêu quan trọng, nhất quán trong đường lối cách mạng Việt Nam.
        Trong những năm qua, Nhà nước ta đã tích cực xây dựng và từng bước hoàn
thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nhằm đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, kịp thời
điều chỉnh mọi quan hệ xã hội phát sinh,trong đó có pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em, đồng thời từng bước làm hài hoà với pháp luật quốc tế, phù hợp với
xu thế hội nhập khu vực và quốc tế. Đó là cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em, tạo cơ hội cho trẻ em phát triển toàn diện về thể chất và
trí tuệ, tinh thần, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước.
       Để thực hiện tốt nhất công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, các cấp,
các ngành, các tổ chức đoàn thể và mỗi một cá nhân cần quán triệt chủ trương, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhận thức đầy đủ, đúng đắn về trẻ em, vị trí
vai trò của trẻ em và công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em; ý thức sâu sắc
nghĩa vụ, trách nhiệm của mình để từ đó có những giải pháp, việc làm cụ thể cho
công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
       Tài liệu này được biên soạn nhằm giúp các cơ quan, tổ chức, cá nhân, đặc biệt
là cán bộ làm công tác dân số, gia đình và trẻ em, cán bộ làm việc liên quan đến công
tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em từ trung ương đến cơ sở nghiên cứu, tham
khảo, vận dụng trong quá trình tuyên truyền, giáo dục và vận động, cổ vũ cho sự
nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của chúng ta.




                                          2
                                  Phần thứ nhất
                           NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
   I. ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ CƠ BẢN CỦA TRẺ EM QUA CÁC GIAI
ĐOẠN PHÁT TRIỂN
       “Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất
định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người”. Trẻ em là những người chưa
trưởng thành, còn non nớt về thể chất và trí tuệ, dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục (BVCSGD) đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý
trước cũng như sau khi ra đời.
      Khái niệm trẻ em được quốc tế sử dụng thống nhất và đã được đề cập trong
Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ năm 1924, Tuyên ngôn của Liên hợp quốc về quyền trẻ em
năm 1959, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1968, Công ước quốc tế về
quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966, Công ước quốc tế về các quyền dân sự
và chính trị năm 1966, Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989, Công
ước 138 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) về tuổi tối thiểu làm việc năm 1976.
      Trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người, trẻ em có những đặc điểm cơ
bản trong mỗi nhóm tuổi nhất định.
      1. Giai đoạn sơ sinh
        Trẻ em từ khi sinh ra đến dưới 18 tháng tuổi. Giai đoạn này, trẻ nhỏ còn non
nớt và bỡ ngỡ với môi trường cuộc sống mới ngoài bụng mẹ. Khi còn dưới 18 tháng
tuổi, trẻ thể hiện mọi nhu cầu của mình bằng “tiếng khóc”, nếu muốn ăn, muốn thay
tã lót, muốn được nâng niu, âu yếm, muốn được bảo vệ khi cảm thấy nguy hiểm…
thì tiếng khóc là ngôn ngữ duy nhất của trẻ em. Nếu cha mẹ, người chăm sóc trẻ quan
tâm, đáp ứng lại các nhu cầu đó, trẻ yên tâm, tin tưởng vào người chăm sóc mình.
Khi trưởng thành niềm tin này phát triển thành niềm tin vào các mối quan hệ xã hội
và vì vậy, giao tiếp, quan hệ của trẻ em với những người xung quanh thuận lợi, là cơ
sở của các hành vi và cách ứng xử phù hợp, được xã hội chấp nhận. Ngược lại,
những trẻ em không được đáp ứng nhu cầu một cách phù hợp có thể hình thành tâm
lý không tin tưởng và lâu dài sẽ khó khăn trong niềm tin đối với các mối quan hệ xã
hội.
      2. Giai đoạn nhà trẻ
      Trẻ em từ 18 tháng tuổi đến dưới 36 tháng tuổi. Giai đoạn này, trẻ mới tập đi,
tập nói, ở trẻ bắt đầu hình thành cách hay bắt chước, thích khám phá mọi vật xung
quanh, muốn tỏ ra độc lập, muốn giải quyết vấn đề theo cách của mình. Trẻ ở giai

                                         3
đoạn này có nhu cầu được bảo vệ và hướng dẫn về cái gì được, cái gì không được
một cách chu đáo. Các nhà tâm lý học gọi đây là giai đoạn của sự lựa chọn giữa độc
lập và tự ti. Nếu trẻ học được cách biết nghe lời chỉ dẫn, biết tuân theo kỷ luật (trước
hết là tập đi vệ sinh đúng chỗ quy định chẳng hạn) thì sau này trẻ sẽ phát triển tính tự
lập. Trong trường hợp người lớn không hướng dẫn, giảng giải cụ thể, trẻ không hiểu
và không biết kỷ luật, khi gặp các trường hợp nguy hiểm (bị bỏng do nghịch nước
sôi, đưa tay vào ổ điện… ) thì sau này, trẻ em cảm thấy tự ti, không mạnh dạn phát
triển tính độc lập của mình.
      3. Giai đoạn mẫu giáo
      Trẻ em từ 36 tháng tuổi đến dưới 60 tháng tuổi. Trong độ tuổi này, trẻ em bắt
đầu hình thành năng lực tự chủ, có sự định hướng những hành vi công việc của mình.
Nếu cha mẹ cười hoặc giễu cợt, phê phán con trước những nỗ lực chưa thực hiện
được của nó thì trẻ sẽ luôn cảm thấy điều mình làm là có lỗi. Ngược lại, nếu được cổ
vũ, khích lệ thì trẻ rất sung sướng và nỗ lực hơn nữa. Tình cảm hồn nhiên, dễ yêu, dễ
hờn giận, muốn được tự chủ là một trong những nét tâm lý nổi bật của trẻ giai đoạn
này. Tương ứng với giai đoạn này là sự lựa chọn giữa mong muốn được chủ động,
sáng tạo và cảm giác có lỗi, xấu hổ và đang dần hình thành ý thức, tính cách.
      4. Giai đoạn nhi đồng - thiếu nhi
      Trẻ em từ 6 tuổi đến 12 tuổi. Độ tuổi này trẻ rất háo hức và sẵn sàng học nhiều
điều mới. Tất cả các nước trên thế giới đều qui định đây là độ tuổi cho trẻ đến trường
phổ thông.
      Lứa tuổi nhi đồng - thiếu nhi, trẻ em bắt đầu làm quen với những khái niệm
khoa học ở trường tiểu học. Các em học tuân theo những yêu cầu "lao động" học tập.
Cần quan tâm giáo dục tính chăm chỉ, cần cù cho trẻ để sau này trẻ có được phẩm
chất chăm chỉ, cần cù. Phẩm chất cần cù là điều kiện thiết yếu nuôi dưỡng ham muốn
học hỏi, lao động của người lớn, những kỹ xảo hành động đặc trưng cho người lớn và
chuẩn bị để nắm bắt vai trò của người lớn. Nhiều thí nghiệm tâm lý cho thấy, các em
tuổi nhi đồng - thiếu nhi được tiếp xúc với các sự vật, hiện tượng phong phú ở môi
trường xung quanh giúp các em có khả năng nhận thức thế giới sâu sắc thêm… Nếu
trẻ không được khen về những kỹ năng đã đạt được của mình thì các em sẽ có cảm
giác kém cỏi, tự ti. Thái độ của người lớn, của môi trường giáo dục sẽ đặt trẻ trước sự
lựa chọn: cần cù, chăm chỉ, ham học hỏi hay tự ti.
      5. Giai đoạn thanh thiếu niên
       Trẻ em từ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi. Trong giai đoạn này, trẻ ý thức về bản
thân, bắt đầu hình thành ý thức hệ. Đây là giai đoạn các em bước vào bậc trung học

                                           4
cơ sở, hoạt động chủ đạo của các em là giao tiếp. Có thể nói đây là lứa tuổi quá độ
trong quá trình phát triển từ trẻ em thành người lớn. Sự phát triển cơ thể và sự chín
muồi giới tính nhanh chóng tạo ra cuộc "cách mạng tâm lý" trong các em. Điều đó
gây ra nỗi sợ hãi và sự căng thẳng, nhân cách lúc này bị giằng co giữa những xu thế
trái ngược nhau, khi hăng hái, lúc chán nản bi quan và có thể dẫn đến trầm lặng.
       Trẻ em ở tuổi thanh thiếu niên rất tò mò, ham hiểu biết, rất thích cái mới và
khám phá cái mới của mình. Hoạt động trí tuệ của các em phát triển nhiều hơn nhiều
so với lứa tuổi trước nhờ sự phát triển tư duy trừu tượng, ghi nhớ và chú ý có chủ
định, trí tưởng tượng phong phú. Mặt khác, ở lứa tuổi này, hứng thú học tập và hứng
thú nghề nghiệp trong tương lai của các em được hình thành rõ nét. Trẻ em ở tuổi
thanh thiếu niên đã bộc lộ không chỉ những năng khiếu, mà còn cả những tài năng.
       Sự giao tiếp của thanh thiếu niên đã vượt ra khỏi phạm vi học tập, phạm vi nhà
trường. Trong quá trình mở rộng quan hệ giao tiếp, trẻ em ở tuổi thanh thiếu niên có
nhiều hoạt động tập thể phong phú về nội dung và đa dạng về hình thức, nhờ đó kiến
tạo nên những quan hệ mới trong cuộc sống hàng ngày. Thanh thiếu niên có những
nhu cầu cần được người lớn tôn trọng, sự can thiệp thô bạo, áp đặt đối với các em có
thể dẫn đến sự phản kháng mạnh mẽ. Trẻ em ở tuổi thanh thiếu niên bắt đầu có sự ý
thức, tự nhìn nhận về bản thân mình, nếu có sự định hướng đúng thì các em có thể có
sự tự giáo dục. Ở độ tuổi này đã chủ ý đánh giá hành vi, thái độ của người lớn và có
thái độ phê phán, xem xét, bình luận về các hành vi, thái độ của người lớn.
       Trong khi cần sự giúp đỡ của cha mẹ hơn bao giờ hết, các em lại muốn tỏ ra
độc lập hoàn toàn. Điều này đôi khi gây lúng túng cho người lớn. Để củng cố lòng tự
trọng cho các em, người lớn cần tôn trọng ước muốn không phụ thuộc của trẻ đồng
thời cần cho các em biết giới hạn của mọi hành vi nhằm giữ an toàn cho chúng. Sự
trung thực và bao dung của cha mẹ ở giai đoạn này là vô cùng cần thiết để giúp cho
trẻ độc lập trong suy nghĩ, có quan hệ tốt với người khác, hình thành trong con người
trẻ một con người có cá tính, một người lao động thực thụ, một người bố hay người
mẹ trong tương lai.
       Nếu trẻ không được dạy dỗ đúng mực, thiếu tự chủ, trẻ dễ có những hành động
lệch lạc với chính mình hay với người khác và đó thường là nguy cơ đưa trẻ tới
những hành vi sai trái như: trộm cắp, quấy phá, chán học, bỏ học, uống rượu, đánh
bạc, sử dụng ma tuý...
       Đây cũng là giai đoạn trẻ đang phải tách ra độc lập khỏi gia đình, những người
thân một cách tự nhiên để chuẩn bị bước vào cuộc sống độc lập của một người
trưởng thành, thiết lập những quan hệ xã hội mới như quan hệ bạn bè khác giới. Đây
là giai đoạn rất khó khăn trong tâm lý của trẻ và để làm được điều này, trẻ thường hồi
                                          5
tưởng lại thời thơ ấu của mình. Những trẻ em có giai đoạn đầu đời thuận lợi, có niềm
tin vào các mối quan hệ xã hội thường giải quyết khó khăn của mình bằng những
cách tích cực như tìm đến thơ ca, văn nghệ, thể thao, thậm chí cả chính trị và thường
tìm thấy những người bạn cùng giới hoặc khác giới có cùng sở thích để chia sẻ.
Ngược lại, các em có khó khăn trong quan hệ xã hội thường khó khăn trong tìm bạn
để thay thế các mối quan hệ gia đình và thường có cách giải quyết khó khăn của
mình theo hướng tiêu cực.

      II. CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO
DỤC TRẺ EM
       Trẻ em có vai trò quan trọng đối với gia đình và xã hội. Người Việt Nam vốn
có truyền thống yêu thương gắn bó với con cháu, con cháu không chỉ là nguồn hạnh
phúc mà còn là niềm mong ước, là nơi gửi gắm những ước mơ, niềm tin và sự hãnh
diện. Vì vậy, ngay từ thời xa xưa, các Nhà nước phong kiến đã đề ra những quy định
bằng pháp luật để bảo vệ trẻ em; nhân dân cũng tự hình thành các quan hệ đạo đức
nhằm BVCSGD trẻ em. Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Đảng và
Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác BVCSGD trẻ em và đã có nhiều chủ trương,
chính sách nhằm đẩy mạnh công tác này trong từng thời kỳ hướng tới mục tiêu vì lợi
ích tốt nhất cho sự phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức của
trẻ em. Nhà nước đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều chính sách, chiến lược,
chương trình đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục và đào tạo được một lớp người giàu lòng
yêu nước, có sức khỏe, có văn hóa, hết lòng hết sức phục vụ sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc (sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng Tổ quốc
Việt Nam XHCN phồn vinh, tươi sáng).
      1. Giai đoạn 1945-1978
      Ngay trong những ngày đầu mới thành lập, mặc dù phải đối phó với thù trong,
giặc ngoài, song Nhà nước đã quan tâm xây dựng hệ thống pháp luật để kịp thời điều
chỉnh các mối quan hệ, phục vụ quốc kế dân sinh, trong đó có vấn đề BVCSGD trẻ
em, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc b trẻ em, tạo cơ hội cho trẻ em phát triển
toàn diện, trở thành chủ nhân tương lai của đất nước.
       Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta đã quy định những
vấn đề cơ bản của chế độ, trong đó có các quyền cơ bản của công dân và trẻ em là
công dân được hưởng các quyền đó. Hiến pháp năm 1946 đã giành 2 điều quy định
ngắn gọn, súc tích, rõ ràng, thể hiện sự quan tâm đầy trách nhiệm của Nhà nước đối
với trẻ em: Điều 14 Hiến pháp quy định “Trẻ em được săn sóc về mặt giáo dưỡng”
và Điều 15 Hiến pháp quy định “Nền sơ học cưỡng bách và không học phí... Học trò

                                           6
nghèo được Chính phủ giúp”.
      Trong giai đoạn này, các chủ trương, chính sách về trẻ em được quy định
trong nhiều văn kiện của Đảng, trong Hiến pháp, Luật hôn nhân và gia đình và các
văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
       Trong đó, đáng chú ý là Chỉ thị số 197-CT/TW ngày 19/3/1960 của Ban Bí
thư Trung ương Đảng về công tác thiếu niên nhi đồng, một Chỉ thị chuyên đề đầu
tiên của Đảng về một chính sách toàn diện đối với việc BVCSGD trẻ em, bao gồm từ
việc đánh giá khái quát, kết quả đạt được, chỉ ra những tồn tại cần khắc phục, ý nghĩa
và tầm quan trọng của việc giáo dục thiếu niên nhi đồng, mục đích giáo dục trẻ em,
bốn giải pháp cơ bản trong việc BVCSGD trẻ em (phải giáo dục cho các em có đạo
đức, phẩm chất cao quý của giai cấp công nhân; luôn quan tâm đến việc học tập văn
hoá của các em; hết sức chú trọng đến việc bồi dưỡng sức khoẻ cho các em; quan
tâm tới việc tổ chức vui chơi và nghỉ ngơi cho các em), xây dựng tổ chức thiếu niên,
nhi đồng thật tốt để giáo dục toàn thể trẻ em, tổ chức bộ máy làm công tác thiếu nhi
và sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thiếu niên nhi đồng.
      Để tổ chức thực hiện chính sách về trẻ em, Chính phủ đã thành lập Uỷ ban
Thiếu niên nhi đồng Việt Nam theo Quyết định số 112/NV ngày 02/5/1961 của Bộ
Nội vụ. Uỷ ban Thiếu niên nhi đồng Việt Nam là tổ chức quần chúng có nhiệm vụ
phụ trách việc giáo dục thiếu niên nhi đồng một cách toàn diện và chỉ đạo phong trào
thiếu niên nhi đồng trong cả nước. Uỷ ban Thiếu niên Nhi đồng Việt Nam được
thành lập từ trung ương đến cấp huyện. Ở trung ương, khu, thành phố, tỉnh, huyện có
Uỷ ban Thiếu niên nhi đồng Trung ương, khu, thành phố, tỉnh, huyện. Ở xã có ban
Thiếu nhi xã.
      2. Giai đoạn 1979-1989
      Sau ngày thống nhất đất nước, kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, việc
BVCSGD trẻ em luôn là mối quan tâm đặc biệt hàng đầu của Đảng và Nhà nước, là
nhiệm vụ của mỗi công dân, gia đình, nhà trường và toàn xã hội. Trong tư tưởng và
trong hành động của mỗi người, dù ở địa vị xã hội nào cũng luôn thể hiện sự ưu tiên
cho trẻ em, đó là tình cảm, là yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp phát triển đất nước.
Trong giai đoạn này, nhiều chính sách BVCSGD trẻ em được ban hành, cụ thể là:
       - Hiến pháp năm 1980, đã quy định việc BVCSGD trẻ em gắn liền với bảo vệ
phụ nữ, bảo vệ bà mẹ, đồng thời khẳng định trách nhiệm và nghĩa vụ của gia đình,
Nhà nước và xã hội đối với sự nghiệp bảo vệ bà mẹ và trẻ em: Điều 47 “…Nhà nước
và xã hội bảo vệ bà mẹ và trẻ em; vận động sinh đẻ có kế hoạch”. Điều 64. “Gia đình
là tế bào của xã hội. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình. Hôn nhân theo nguyên

                                          7
tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng. Cha mẹ có nghĩa vụ
nuôi dậy con cái thành những công dân có ích cho xã hội. Con cái có nghỉã vụ kính
trọng và chăm sóc cha mẹ. Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử
giữa các con”.
     - Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội ban hành ngày 14/11/1979.
      - Nghị định số 293-CP ngày 04/7/1981 của Hội đồng Chính phủ về việc thi
hành Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
       - Chỉ thị số 102/CT ngày 27/4/1989 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc
tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
       - Quyết định số 259/CT ngày 25/9/1989 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về
việc thành lập Uỷ ban Thiếu niên nhi đồng Việt Nam.
     - Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân năm
1989 và nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, văn bản
hướng dẫn thực hiện có liên quan của Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành và địa
phương.
       Nội dung chính sách về trẻ em trong giai đoạn hướng tới mục tiêu giáo dục trẻ
em thực hiện tốt năm điều Bác Hồ dạy và bảo đảm cho trẻ em thực hiện các quyền về
chăm sóc, nuôi dưỡng; bảo vệ sức khoẻ, được khám bệnh và chữa bệnh không phải
trả tiền; được học hết bậc phổ thông cơ sở không phải trả tiền, được giúp đỡ về sách
giáo khoa và đồ dùng học tập. Các em có năng khiếu được Nhà nước tạo điều kiện để
phát huy năng khiếu; được vui chơi giải trí lành mạnh; con các liệt sĩ, trẻ mồ côi
không có người thân thích trông nom được Nhà nước và xã hội quan tâm chăm sóc,
nuôi dưỡng và giáo dục. Trẻ em tàn tật được chăm sóc, điều trị và được dạy những
nghề thích hợp; được tôn trọng về nhân phẩm. Đồng thời, chính sách về trẻ em cũng
quy định nhiệm vụ của gia đình, nhà nước và xã hội, bao gồm nhiệm vụ của cha mẹ,
nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường phổ thông, các đoàn thể nhân dân, các xí nghiệp, hợp
tác xã, các cơ sở sản xuất kinh doanh khác và nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước.
      Tổ chức thực hiện chính sách về trẻ em, Hội đồng Bộ trưởng thành lập Uỷ ban
Thiếu niên nhi đồng Việt Nam do Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng làm Chủ tịch,
các Phó Chủ tịch Uỷ ban và uỷ viên Uỷ ban là lãnh đạo các Bộ, ngành, đoàn thể ở
trung ương. Uỷ ban Thiếu niên nhi đồng Việt Nam cử ra Ban thư ký góp giải quyết
công việc hàng ngày. Các cán bộ trong Ban thư ký do các ngành, đoàn thể thành viên
cử đến làm việc theo chế độ kiêm nhiệm. Uỷ ban Thiếu niên nhi đồng Việt Nam
không có biên chế riêng.

                                         8
      3. Giai đoạn 1990-1999
      Trong giai đoạn này, cùng với quá trình đổi mới, nhiều chính sách kinh tế - xã
hội được ban hành, những biến đổi kinh tế - xã hội của đất nuớc và sự ra đời của
Công ước quốc tế về quyền trẻ em, công tác BVCSGD trẻ em phát triển cả về nội
dung, cách làm và tổ chức bộ máy thực hiện, nổi bật là:
      - Quyết định số 329/CT ngày 12/9/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về
việc đổi tên Uỷ ban Thiếu niên nhi đồng Việt Nam thành Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc
trẻ em Việt Nam.
       - Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được Quốc hội Khóa VIII, kỳ họp
thứ 9 thông qua ngày 12/8/1991.
      - Nghị định số 362/HĐBT ngày 06/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em
Việt Nam.
       - Nghị định số 374/HĐBT ngày 14/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng quy định
chi tiết thi hành Luật BVCSGD trẻ em.
      - Chỉ thị số 38-CT/TW ngày 30/5/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về
tăng cường công tác BVCSGD trẻ em.
      - Nghị định số 118/CP ngày 07/9/1994 của Chính phủ về chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam.
      - Chỉ thị số 298/TTg ngày 11/5/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiểm
điểm đánh giá 5 năm thi hành Luật BVCSGD trẻ em.
       - Chỉ thị số 06/1998/CT-TTg ngày 23/1/1998 của Thủ tướng Chính phủ về
việc tăng cường công tác bảo vệ trẻ em, ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em
lang thang, trẻ em bị lạm dụng sức lao động
      - Thông tri số 04-TT/TW ngày 30/7/1998 của Thường trực Bộ Chính trị về
tăng cường lãnh đạo công tác BVCSGD trẻ em.
      - Quyết định số 134/1999/QĐ-TTg ngày 31/5/1999 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Chương trình hành động bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giai
đoạn 1999-2002.
       - Chỉ thị số 34/1999/CT-TTg ngày 27/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ về
đẩy nhanh việc thực hiện các mục tiêu đến năm 2000 về trẻ em, tổng kết chương
trình hành động quốc gia vì trẻ em 1991-2000 và xây dựng chương trình hành động
quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2001-2010.

                                         9
        Quán triệt quan điểm phát triển con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa
là động lực của sự phát triển, mà trẻ em là tương lai của đất nước, chính sách về trẻ
em trong giai đoạn này phát triển toàn diện, bao gồm các Nghị quyết, chỉ thị của
Đảng, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp hoặc gián tiếp và các
chương trình dự án thực hiện các mục tiêu vì sự phát triển toàn diện về thể chất, trí
tuệ, tinh thần và đạo đức của trẻ em.
       Tổ chức bộ máy thực hiện chính sách về trẻ em theo Nghị định số 362/HĐBT
là cơ quan trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng; có chức năng tổ chức, phối hợp hoạt động
của các ngành, các cấp, đoàn thể nhân dân, các tổ chức nhân đạo để thực hiện các
mục tiêu, kế hoạch, chế độ, chính sách và chương trình hành động vì trẻ em nhằm
thực hiện Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và những cam kết của nước ta
với cộng đồng quốc tế về việc thực hiện Công ước quyền trẻ em. Hệ thống tổ chức
bộ máy làm công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được thành lập từ Trung
ương đến cấp xã và một số Bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương.
       Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã có chuyển biến rõ rệt cả về
nhận thức và tổ chức thực hiện. Bốn ưu tiên đối với trẻ em về sức khoẻ, giáo dục tiểu
học, chăm lo đời sống tinh thần, quan tâm trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đã
được các ngành, các cấp, đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội thực hiện ngày càng toàn
diện hơn. Nhiều mục tiêu nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của trẻ em về
sức khoẻ, học tập, vui chơi giải trí, và sự tham gia ý kiến của trẻ em vào những vấn
đề có liên quan đã đạt vượt mức đề ra và ở mức cao so với các nước trong khu vực và
khả năng của nền kinh tế, bảo đảm điều kiện thuật lợi để trẻ em thực hiện quyền, bổn
phận và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.
      4. Giai đoạn từ năm 2000 đến nay
      Bước sang thế kỷ XXI cộng đồng quốc tế đã cam kết cùng nhau phấn đấu thực
hiện các mục tiêu thiên niên kỷ, trong đó có mục tiêu vì trẻ em và kêu gọi toàn thể
nhân loại hãy bảo đảm cho trẻ em một tương lai tốt đẹp hơn. Thực hiện cam kết này,
Việt Nam đã và sẽ ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm tạo cơ sở pháp lý
cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, trong đó có chính sách về trẻ
em, cụ thể là:
       - Hiến pháp năm 1992, kế thừa các bản Hiến pháp trước đó, chế định
BVCSGD trẻ em được tái khẳng định, đề cao trách nhiệm của gia đình, đặc biệt là
trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái, đồng thời cũng quy định bổn phận của con
cháu đối với ông bà, cha mẹ: “Gia đình là tế bào của xã hội. Nhà nước bảo hộ hôn
nhân và gia đình. Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt.
Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ. Nhà nước và xã hội
                                         10
không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con ” (Điều 64).
     - Chỉ thị số 03/2000/CT-TTg ngày 24/01/2000 của Thủ tướng Chính phủ về
đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, vui chơi giải trí cho trẻ em.
      - Chỉ thị số 55-CT/TW ngày 28/6/2000 của Bộ Chính trị về tăng cường sự
lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng ở cơ sở đối với công tác BVCSGD trẻ em.
      - Quyết định số 23/2001/QĐ-TTg ngày 26/2/2001 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Chương trình hành động Quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn
2001-2010.
       - Chỉ thị số 13/2001/CT-TTg ngày 31/5/2001 của Thủ tướng Chính phủ về
việc tổng kết 10 năm thi hành luật BVCSGD trẻ em.
      - Nghị định số 94/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Uỷ ban Dân số, Gia đình và
Trẻ em.
       - Quyết định số 19/2004/QĐ-TTg ngày 12/2/2004 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang,
trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc
hại, nguy hiểm giai đoạn 2004-2010.
      - Quyết định số 03/2004/QĐ-DSGDTE ngày 1/6/2004 của Bộ trưởng, Chủ
nhiệm Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em về việc ban hành hướng dẫn tiêu chuẩn
xã, phường phù hợp với trẻ em.
     - Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em số 25/2004/QH11 được Quốc hội
Khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15/6/2004.
       - Nghị định số 36/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật BVCSGD trẻ em.
      - Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng,
văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hướng dẫn thực hiện có liên quan đến trẻ em
của Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương.
       Chính sách về trẻ em trong giai đoạn này nhằm mục tiêu bảo đảm cho trẻ em
một tương lai tốt đẹp hơn, với 5 nguyên tắc cơ bản là: Không phân biệt đối xử với trẻ
em; các quyền của trẻ em phải được tôn trọng và thực hiện; bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và toàn xã hội; dành lợi ích tốt nhất
cho trẻ em; trẻ em thuộc diện chính sách xã hội, có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp
để được hoà nhập với gia đình, cộng đồng.

                                          11
        Tổ chức bộ máy làm công tác BVCSGD trẻ em được quy định tại Nghị định số
94/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002. Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em là cơ quan
ngang Bộ, cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về
DSGDTE; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực DSGDTE. Hệ thống tổ
chức bộ máy làm công tác DSGDTE được tổ chức từ Trung ương đến cơ sở. Hiện
nay, ở Trung ương, qua quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, Uỷ ban Dân số, Gia đình
và Trẻ em không còn. Các chức năng của Ủy ban được chuyển giao sang một số bộ,
ngành như Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế
... trong đó, chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc trẻ em trên phạm vi cả
nước được giao cho Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.


      III. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VỀ TRẺ EM
      1. Kết quả đạt đƣợc
      1. 1. Trong lĩnh vực sức khỏe và dinh dƣỡng của trẻ em
       Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân nói chung và trẻ em nói riêng ngày càng
được cải thiện về số lượng và chất lượng. Mạng lưới y tế công cộng từ trung ương
đến cơ sở, bao gồm 5 tuyến là trạm y tế xã, trạm y tế đa khoa liên xã; trung tâm y tế,
bệnh viện huyện; bệnh viện tỉnh; bệnh viện cấp khu vực và toàn quốc liên kết chặt
chẽ với nhau về chuyên môn, tạo cơ hội để nhân dân tiếp cận thuận lợi đến các dịch
vụ y tế và chăm sóc sức khoẻ.
      Đội ngũ cán bộ y tế xã, phường và cán bộ y tế thôn, bản không chỉ tổ chức
thực hiện việc khám, chữa bệnh đạt kết quả tốt mà còn tổ chức tốt các chương trình
chăm sóc sức khoẻ, y tế dự phòng do Nhà nước triển khai, góp phần to lớn vào việc
tuyên truyền, phổ biến cho nhân dân tri thức bảo vệ sức khoẻ, phòng chống bệnh tật
và thực hiện có hiệu quả các chương trình chăm sóc sức khoẻ do nhà nước tổ chức.
      Mạng lưới y tế tư nhân có kiểm soát đã phát triển nhanh chóng, đã góp phần đa
dạng hoá các loại hình cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ.
       Các chương trình y tế quốc gia đạt hiệu quả cao, thường xuyên có trên 90% số
trẻ em dưới 01 tuổi được tiêm chủng đầy đủ 06 loại vắc xin và tỷ lệ trẻ em chết do
mắc 6 loại bệnh có vắc xin phòng ngừa giảm rõ rệt. Đã thanh toán bệnh bại liệt trẻ
em và loại trừ uốn ván sơ sinh theo tiêu chuẩn của tổ chức y tế thế giới. Chương trình
phòng, chống các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây dịch được thực hiện tốt, nên
tình hình bệnh dịch nói chung ổn định. Tỷ lệ mắc các loại bệnh do dịch lây giảm từ
59,2% năm 1986 xuống còn 37,6% năm 1996 và còn 32,11% năm 2000; tỷ lệ chết do
bệnh dịch lây giảm từ 52,1% năm 1986 xuống còn 33,1% năm 1996 và 26,1% năm
                                          12
2000.
      Tỷ lệ chết trẻ em dưới 01 tuổi (IMR) đã giảm rất ấn tượng trong thập kỷ vừa
qua, từ 44,4%o năm 1989, xuống còn 36,7%o năm 1999 và chỉ còn 26,7%o năm
2002. Việt Nam là một trong những quốc gia giảm tỷ lệ chết trẻ em dưới 01 tuổi
nhanh hơn so với các nước trên thế giới và có tỷ lệ chết trẻ em dưới 01 tuổi thấp nhất
trong khu vực.
      Tỷ lệ chết trẻ em dưới 05 tuổi đã giảm đáng kể từ 58,1%o năm 1989 xuống
còn 48,4%o năm 1999 và giảm xuống còn 39%o năm 2002. Tuy nhiên, các vùng Tây
Nguyên, Tây Bắc, các huyện thuộc miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ và Duyên hải
miền Trung thì tỷ lệ chết trẻ em dưới 05 tuổi còn cao.
       Tỷ lệ chết mẹ (MMR) được một nghiên cứu của Bộ Y tế và Tổ chức y tế thế
giới (WHO) tiến hành năm 2002 tại 07 tỉnh thuộc 07 vùng sinh thái khác nhau của
Việt Nam ước tính ở mức 165/100.000 trẻ đẻ sống. Theo số liệu báo cáo thường
xuyên thì tỷ lệ chết mẹ thể hiện mức giảm rất nhanh từ 200/100.000 ca trẻ đẻ sống
xuống còn 91/100.000 ca trẻ đẻ sống và có khả năng không đạt mục tiêu 80/100.000
ca trẻ đẻ sống vào năm 2005.
      Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 05 tuổi đã giảm một cách vững chắc, từ
51,5% năm 1990 xuống còn 42,6% năm 1995, xuống 33,1% năm 2000 và 30,1%
năm 2002. Nuôi con bằng sữa mẹ là hiện tượng phổ biến ở Việt Nam, 98% trẻ em
được bú mẹ trong một thời kỳ nào đó, 57% các bà mẹ đã cho con bú trong vòng một
giờ sau khi sinh và 87% bà mẹ đã cho con bú trong ngày đầu tiên khi sinh. Tỷ lệ trẻ
em khi sinh nặng dưới 2.500 gram giảm từ 14% năm 1991 xuống còn 5,6% năm
2002.
       Các chỉ số về tỷ lệ suy dinh dưỡng, trẻ em tử vong, bà mẹ tử vong đều giảm.
Tính đến cuối năm 2008, khoảng 10 triệu trẻ em đã được cấp phát thẻ khám chữa
bệnh, đạt trên 99% tổng số trẻ em dưới 6 tuổi trên toàn quốc; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi
suy dinh dưỡng giảm đáng kể hiện chỉ còn 22,7%. Nhiều chương trình được triển
khai hiệu quả, nhằm trợ giúp trẻ em khuyết tật như phẫu thuật mắt, phẫu thuật tim
bẩm sinh, hỗ trợ trẻ em nạn nhân của chất độc hóa học: 69.750 em đã được chăm sóc,
phục hồi chức năng và phẫu thuật chỉnh hình. Nhiều em đã được hưởng các chính
sách, chế độ và nhận nuôi dưỡng. 75% số trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em
bị bỏ rơi được chăm sóc, dưới nhiều hình thức.
      Chương trình nước sạch nông thôn, xây dựng hố xí hợp vệ sinh được triển
khai mở rộng tới tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước.
        1.2. Trong lĩnh vực giáo dục

                                          13
      Đến năm 2000, có 100% số tỉnh, thành phố đã hoàn thành mục tiêu phổ cập
giáo dục tiểu học và xoá mù chữ và đến năm 2003, có 19 tỉnh, thành phố đạt tiêu
chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Các cở sơ giáo dục đang trong quá trình
kiên cố hoá, đội ngũ giáo viên dần được tiêu chuẩn hoá, chương trình, nội dung
giảng dạy đã có đổi mới, chất lượng giáo dục bước đầu được cải thiện.
       Trẻ em đi học mẫu giáo tăng về cả số lượng tuyệt đối và tỷ lệ. Năm học
2003-2004 có 2,17 triệu trẻ em đi học mẫu giáo, đạt tỷ lệ 42% số trẻ em trong lứa
tuổi từ 3 đến 5 tuổi. So với năm học 1995-1996 có 1,93 triệu trẻ em đi học mẫu giáo
và đạt tỷ lệ 38% số trẻ em trong lứa tuổi. Đến cuối năm 2008 trẻ từ 03 tuổi đến 05
tuổi đi học đạt 66,6% trẻ trong độ tuổi
       Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tiểu học năm 2002-2003 đạt 99,6%. Đến năm 2003,
có 90% trẻ em ở độ tuổi 14 đã tốt nghiệp tiểu học. Tỷ lệ học sinh dưới 15 tuổi hoàn
thành bậc tiểu học tăng từ 54,5% năm học 1993-1994 lên 76% năm học 1999-2000.
Tỷ lệ trẻ em 06 tuổi đi học lớp 1 đúng độ tuổi đạt 95%.
      Số học sinh trung học cơ sở tăng rất nhanh, từ 4,3 triệu học sinh năm học
1995-1996 lên 6,57 triệu học sinh năm học 2003-2004. Tỷ lệ nhập học trung học cơ
sở đạt khoảng 80% và tỷ lệ tốt nghiệp trung học cơ sở đạt 96,3% trong năm học
2002-2003.
        Đến cuối năm 2008 học sinh tiểu học đi học đúng độ tuổi đạt 96,06%; học
sinh trung học cơ sở đi học đúng độ tuổi đạt 82,69%; tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học
giảm dần; trẻ em nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi được khám chữa bệnh miễn phí tại các cơ
sở y tế công lập trên toàn quốc. Các chỉ số về tỷ lệ suy dinh dưỡng, trẻ em tử vong, bà
mẹ tử vong đều giảm.
       Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, chiến lược, chương trình
phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, trong đó có chính sách khuyến khích và hỗ
trợ đầu tư xây dựng các trường dân tộc nội trú nhằm thu hút học sinh các dân tộc
thiểu số theo học tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và học nghề. Đến
nay, hầu hết các huyện ở vùng núi cao, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn
đều có trường dân tộc nội trú.
      1.3. Trong lĩnh vực đời sống văn hoá, tinh thần của trẻ em
       Số lượng các cơ sở văn hóa, vui chơi, giải trí của trẻ em tại các huyện, thị trấn
tăng nhanh. Đến năm 2000, có 51% số huyện có các cơ sở văn hóa, vui chơi, giải trí
của trẻ em; số nhà thiếu nhi đã tăng từ 103 nhà năm 1991 lên 305 nhà năm 2000; có
8% số xã, phường trong cả nước có điểm văn hóa, vui chơi, giải trí của trẻ em.
      Các cơ quan xuất bản, báo chí đã bảo đảm 15% xuất bản phẩm dành cho trẻ
                                           14
em. Số lượng giờ chương trình truyền hình, phát thanh dành cho trẻ em tăng lên đáng
kể, bình quân mỗi năm có 180 giờ truyền hình vì trẻ em, 12 phim hoạt hình và hàng
ngày đều có chương trình phát thanh thiếu nhi, hầu hết các tỉnh, thành phố và
560/604 huyện, quận, thị xã có thư viện có phòng đọc hoặc có sách báo dành cho trẻ
em.
       Ở Trung ương, riêng năm 2010, Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em thuộc Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội đã duy trì được đường dây tư vấn và hỗ trợ trẻ em
14h/ngày và từ tháng 11/2010 hoạt động 24/24 giờ. Trong năm, tổng đài đã tiếp nhận
được 127.907 cuộc gọi, tăng 33% so với năm 2009, trong đó có 21.400 cuộc gọi tư
vấn trả lời và 215 trường hợp được can thiệp hỗ trợ và 48 trường hợp được tư vấn
trực tiếp. Cơ quan Cục cũng đã phối hợp với các đơn vị liên quan sản xuất và phát
sóng được 71 chương trình truyền hình, trong đó có 53 chương trình truyền hình “Vì
trẻ em” và 18 chương trình “An sinh xã hội và đầu tư”.
       Bên cạnh đó, nhiều hoạt động, chương trình, đề án về bảo vệ, chăm sóc trẻ em
đều được thực hiện với chất lượng và tiến độ tốt đã góp phần giải quyết phần nào
những vấn đề bức xúc và bảo đảm được cơ bản các quyền của trẻ em. Chẳng hạn như
chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại
tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại nguy hiểm giai
đoạn 2004-2010 đã đã triển khai tốt và đạt kết quả khả quan trên nhiều khía cạnh:
Truyền thông vận động và truyền thông thay đổi hành vi; nâng cao năng lực cho đội
ngũ làm công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em; ngăn ngừa và giải quyết và làm giảmphần
nào tình trạng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Hay Tháng hành động vì trẻ em đã vận
động được hơn 72 tỷ đồng, trong đó các địa phương vận động được hơn 38 tỷ đồng,
nhờ đó, hơn 200 em bị hở hàm ếch, 902 trẻ em bị các bệnh về mắt, 575 trẻ em bị tim
bẩm sinh, 1.128 em bị dị tật vận động được phẫu thuật, hàng nghìn em có hoàn cảnh
đặc biệt được tặng quà và xe lăn, xe đạp. Chương trình cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ
em, trong năm đã thực hiện cấp cho khoảng 8,5 triệu trẻ. Hiện tại, 100% xã, phường
tại các thành phố lớn và 50% xã, phường tại các địa phương khác đã được công nhận
đạt tiêu chuẩn Xã, phường phù hợp với trẻ em.
       Nhìn chung, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, chiến
lược, chương trình phát triển sự nghiệp văn hoá, thông tin, thể thao nhằm nâng cao
đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân. Việc tăng cường các hoạt động văn hoá, vui
chơi, giải trí và giáo dục thể chất, tinh thần đã có hiệu quả tốt tới các thế hệ học sinh,
tạo cơ hội cho trẻ em phát triển nhân cách, văn hoá và được giáo dục đạo đức để trở
thành người phát triển toàn diện. Hệ thống văn hoá thông tin, vui chơi giải trí ở cơ sở
được xây dựng và mở rộng đến xã, phường và thôn bản, gắn với sinh hoạt, hội họp

                                            15
và trung tâm dân cư tạo điều kiện cho nhân dân nói chung và trẻ em nói riêng được
hưởng thụ đời sống văn hoá, vui chơi giải trí bổ ích.
      1.4. Trong lĩnh vực trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
      Mặc dù, những mặt trái của cơ chế thị trường tạo nên nguy cơ đẩy trẻ em rơi
vào hoàn cảnh đặc biệt, song công tác bảo vệ trẻ em đã có nhiều tiến bộ trong việc
chủ động phòng ngừa ngăn chặn và đã kiềm chế được tốc độ gia tăng số trẻ em rơi
vào hoàn cảnh đặc biệt, nhất là đối tượng trẻ em vi phạm pháp luật.
      Qua hai năm 2000 - 2001, triển khai đề án "Đấu tranh phòng chống tội phạm
đối với trẻ em và tội phạm ở lứa tuổi vị thành niên", công tác phòng ngừa và quản lý
giáo dục trẻ em làm trái pháp luật đã được triển khai có hiệu quả, bước đầu chặn
được tốc độ tăng quá nhanh số tội phạm ở lứa tuổi vị thành niên, tuy nhiên, số trẻ em
làm trái pháp luật tăng từ 11.538 em năm 2000 lên 13.801 em năm 2002.
       Nhà nước đã có chính sách đối với trẻ em mồ côi không nơi nương tựa bằng
nhiều hình thức như chăm sóc nuôi dưỡng tại các cơ sở Bảo trợ xã hội, các cơ sở từ
thiện nhân đạo và trợ cấp cho các gia đình thay thế, người thân thích chăm sóc, nuôi
dưỡng trẻ em tại cộng đồng. Đến nay, 70% trẻ em mồ côi không nơi nương tựa được
chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở Bảo trợ xã hội, được hưởng chính sách trợ cấp
thường xuyên của Nhà nước.
       Việc ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang được thực hiện theo
cách tiếp cận mới, hướng về cơ sở, tạo điều kiện cho các em ổn định cuộc sống tại
gia đình. Số trẻ em lang thang giảm từ 23.000 em năm 1999 xuống còn 21.000 em
vào đầu năm 2003. Đặc biệt thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã thực
hiện việc đưa trẻ em lang thang về với gia đình và cộng đồng đạt kết quả tốt, đến nay
đã giảm được 70% số trẻ em lang thang so với thời điểm đầu năm 2003.
        Trẻ em khuyết tật, tàn tật được trợ giúp trong việc điều trị, phục hồi chức
năng, giáo dục văn hoá và dạy nghề dưới nhiều hình thức. Đến nay, cả nước có trên
100 cơ sở giáo dục chuyên biệt cho trẻ em bị khuyết tật, tàn tật về nghe, nói, nhìn với
khoảng 4000 em, 67.000 trẻ em được trợ giúp trong việc phục hồi chức năng dựa vào
cộng đồng, 32.000 trẻ em được trợ cấp học tập trong các lớp học và hàng chục nghìn
lượt trẻ em được điều trị, chữa trị các khuyết tật và được học nghề, tạo việc làm phù
hợp. Đưa tỷ lệ trẻ em khuyết tật, tàn tật được trợ giúp trong việc điều trị, phục hồi
chức năng, giáo dục, học nghề và tạo việc làm đạt khoảng 45-55% số trẻ em khuyết
tật, tàn tật.
      Công tác phòng ngừa, ngăn chặn và trợ giúp trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em là nạn
nhân của chất độc hoá học, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ

                                          16
em nghiện ma tuý, trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc
hại và trẻ em phải làm việc xa gia đình được các ngành, các cấp, đoàn thể xã hội
quan tâm và trợ giúp, góp phần giúp trẻ em giảm nhẹ tổn thương về thể chất, tinh
thần và có cơ hội hoà nhập với gia đình, cộng đồng.
      Đến năm 2008 số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là 1.641.656 em, chiếm 6,55%
tổng số trẻ em dưới 16 tuổi. Nếu tính cả bốn nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt khác (trẻ em bị buôn bán, bắt cóc; trẻ em bị ngược đãi, bạo lực; trẻ em sống
trong gia đình nghèo và trẻ em bị tai nạn thương tích thì tổng số trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt là 4.697.042 em, chiếm 20,31% tổng số trẻ em dưới 16 tuổi.
      Công tác BVCSGD trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được tổ chức thực hiện theo
các chương trình, dự án và đang được triển khai thuận lợi, theo hướng phấn đấu bảo
đảm cho đa số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp phù hợp theo từng đối
tượng cụ thể.
      2. Tồn tại, hạn chế
       Tình trạng trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng vẫn còn cao, trung bình gần
30% (nhất là tại các tỉnh Tây Nguyên và miền núi phía Bắc). Số trẻ nhiễm
HIV/AIDS, tính đến tháng 12-2007, trẻ dưới 13 tuổi chiếm 1,7% (khoảng 2.700 em);
trẻ từ 13 - 19 tuổi chiếm 4,5% (khoảng 7.000 em); khoảng 22.000 trẻ mồ côi do bố,
mẹ chết bởi HIV/AIDS. Tai nạn thương tích trẻ em xảy ra do rất nhiều nguyên nhân,
đặc biệt là tai nạn giao thông (27%), chết đuối (23%) và ngộ độc. Trong khi đó, chất
lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho trẻ em tại tuyến cơ sở chưa đáp ứng nhu cầu.
Một số loại bệnh tật của trẻ em ở lứa tuổi học đường như cận thị, cong vẹo cột sống,
rối nhiễu tâm trí... chưa được kiểm soát. Công tác y tế học đường mặc dù có chỉ đạo
nhưng chưa thực hiện được nhiều. Phần lớn các trường học còn thiếu các công trình
cấp nước sạch và công trình vệ sinh có nhưng không đáp ứng được nhu cầu của trẻ
em.
       Một số nhóm đối tượng trẻ em đặc biệt chưa được đưa vào Luật Bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em, như trẻ em bị lạm dụng, bạo lực, trẻ em bị tai nạn thương tích,
trẻ em bị ảnh hưởng từ các vụ ly hôn, con nuôi, trẻ em di cư, bị mua bán, trẻ em sống
trong các hộ nghèo...Vấn đề truyền thông giáo dục, việc phổ biến kỹ năng bảo vệ và
chăm sóc trẻ em còn thiếu chiều sâu, đặc biệt là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa. Trẻ
em chưa có nhiều kỹ năng để tự bảo vệ mình, đặc biệt các khuyến cáo của Nhà nước
chậm đến từng gia đình, trẻ em. Kỹ năng làm việc với trẻ em của đội ngũ cán bộ làm
việc liên quan tới trẻ em, đặc biệt trẻ em vi phạm pháp luật còn hạn chế.
      Kinh tế – xã hội nước ta tiếp tục biến động nhanh và phức tạp hơn do khủng

                                          17
hoảng tài chính – kinh tế thế giới và những tác động tiêu cực của quá trình hội nhập
kinh tế, lạm phát tăng cao, thiên tai nặng nề, ảnh hưởng đến an sinh xã hội, trong đó
trẻ em là đối tượng dễ bị tác động và để lại hậu quả lâu dài nhất.
       Việt Nam vẫn là một nước đang phát triển, mức thu nhập bình quân đầu người
thấp, tình trạng đói nghèo vẫn tồn tại ở diện rộng và còn khoảng cách đáng kể giữa
các vùng miền đang ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của trẻ em. Mặt trái của nền
kinh tế thị trường cùng với quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đã làm gia tăng
hiện tượng trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt như: trẻ em lang thang, trẻ em sử dụng
ma tuý, trẻ em bị lạm dụng và xâm hại, trẻ em bị buôn bán, trẻ em bị nhiễm hoặc bị
ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, trẻ em bị tai nạn thương tích, trẻ em vi phạm pháp luật…
       Hệ thống luật pháp, chính sách và khung pháp lý để bảo vệ, chăm sóc trẻ em
chưa đầy đủ, đồng bộ. Chế tài xử phạt các hành vi vi phạm quyền trẻ em chưa đủ
mạnh. Một số nhóm đối tượng trẻ em đặc biệt chưa được đưa vào Luật Bảo vệ và
chăm sóc trẻ em, như trẻ em bị lạm dụng, bạo lực, trẻ em bị tai nạn thương tích, trẻ
em bị ảnh hưởng từ các vụ ly hôn, con nuôi, trẻ em di cư, bị buôn bán, trẻ em sống
trong các hộ nghèo... Thiếu các số liệu đáng tin cậy liên quan đến trẻ em cần được
bảo vệ đặc biệt. Thiếu các quy trình tư pháp thân thiện với trẻ em. Vấn đề truyền
thông giáo dục, việc phổ biến kỹ năng bảo vệ và chăm sóc trẻ em còn thiếu chiều
sâu, đặc biệt là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa. Hệ thống dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ
em chưa đủ để đáp ứng các nhu cầu trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Công tác
truyền thông, giáo dục pháp luật về bảo vệ, chăm sóc trẻ em chưa sâu rộng, chưa
thường xuyên liên tục và hiệu quả tác động thay đổi hành vi về công tác bảo vệ,
chăm sóc trẻ em còn hạn chế; phương pháp tiếp cận dựa trên quyền trẻ em chưa được
thực hiện rộng rãi, sự tham gia của trẻ em chưa thực sự được phát huy.Ý thức chấp
hành pháp luật về bảo vệ, chăm sóc trẻ em của một bộ phận cán bộ, cha mẹ, giáo viên
và công dân chưa tốt; kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc trẻ em của nhiều gia đình
và kỹ năng tự bảo vệ của trẻ em chưa đầy đủ và cập nhật. Nguồn lực đầu tư còn hạn
chế và phân tán.
       Chưa có một cơ quan đầu mối hoặc chủ trì chịu trách nhiệm chung về tất cả
các khía cạnh của công tác bảo vệ trẻ em trên toàn quốc. Đội ngũ cán bộ chuyên
trách về trẻ em, gia đình và cộng đồng ở tất cả các cấp vẫn còn thiếu về số lượng và
yếu về năng lực và không ổn định, nhất là sau sự điều chỉnh cơ cấu tổ chức hệ thống
cán bộ ở cơ sở cho đến nay vẫn còn nhiều nơi chưa kiện toàn dẫn đến việc bảo vệ,
chăm sóc trẻ em ở cơ sở, cộng đồng khó triển khai, thực hiện. Đến năm 2008, tại cấp
xã/phường của cả nước chỉ có khoảng 9.974 cán bộ làm công tác về CSBVTE trong
đó, có chưa đến 1% cán bộ chuyên trách về công tác CSBVTE, còn lại hầu hết là do

                                          18
cán bộ lao động - xã hội, cán bộ văn hóa xã hội, cán bộ dân số kiêm nhiệm, dẫn đến
việc đầu tư về thời gian và công sức cho công tác CSBVTE còn rất hạn chế, không
được chú trọng đào tạo lại hay đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực CSBVTE. Mặc dù nhà
nước, các ngành, các cấp đã liên tục nỗ lực thực hiện các hành động CSBVTE từ
việc xây dựng chính sách chủ trương, chương trình hành động, dự án, kế hoạch,
thành lập tổ chức bộ máy… nhưng cho đến nay tất cả các khâu trọng yếu trên vẫn
còn nhiều hạn chế, bất cập.


                                   Phần thứ hai
                           NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA
     LUẬT BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM NĂM 2004
      I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
      1. Khái niệm trẻ em
      Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: “Trẻ em quy định
trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi”. Theo quy định, trẻ em có
hai đặc trưng, một là công dân Việt Nam và hai là độ tuổi được xác định là dưới 16.
Như vậy, những người có quốc tịch Việt Nam dưới 16 tuổi là đối tượng điều chỉnh
của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam.
      Quy định này kế thừa Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991,
bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật hiện hành và phù hợp với điều kiện
kinh tế - xã hội của nước ta.
       Tuy nhiên, cần phân biệt rõ hai khái niệm “Trẻ em” theo luật bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em và khái niệm “Người chưa thành niên” quy định tại Bộ luật dân sự
năm 2005. Điều 18 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Người từ đủ mười tám tuổi
trở lên là người thành niên. Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên”.
       Hai khái niệm này không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Người chưa thành
niên gồm có trẻ em (người dưới 16 tuổi) và nhóm người từ 16 đến dưới 18 tuổi. Điều
này có nghĩa là: Tất cả trẻ em công dân Việt Nam đều là người chưa thành niên
nhưng không phải tất cả người chưa thành niên đều là trẻ em.
      2. Phạm vi điều chỉnh, đối tƣợng áp dụng
      2.1. Phạm vi điều chỉnh
      Trẻ em là công dân và trẻ em có các quan hệ dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá
và xã hội. Như vậy, muốn điều chỉnh các quan hệ của trẻ em trong khi hệ thống pháp

                                         19
luật hiện hành đã điều chỉnh các quan hệ dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội
của công dân thì Luật về trẻ em phải tập hợp tất cả các quy định để điều chỉnh toàn
diện các quan hệ của trẻ em. Cách tiếp cận này làm cho Luật về trẻ em trở nên đồ sộ,
làm tản mạn các nội dung điều chỉnh và luôn phải thay đổi mỗi khi văn bản quy
phạm pháp luật liên quan có thay đổi.
       Xuất phát từ đặc điểm cơ bản của trẻ em, những người chưa phát triển đầy đủ
toàn diện về thể lực và trí tuệ, chưa tự thực hiện được các quyền của mình thì các quy
định của pháp luật phải tập trung vào những nội dung cơ bản, đặc thù nhằm vào việc
phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và tinh thần của trẻ em, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc triển khai thực hiện trên thực tế. Cách tiếp cận này làm cho Luật về trẻ em
trở nên ngắn gọn, ổn định trong thời gian dài, tập trung vào những nội dung đặc thù
và những chính sách, biện pháp cụ thể đối với từng chủ thể trong xã hội mà hệ thống
pháp luật hiện hành chưa điều chỉnh. Đối với những nội dung, những quan hệ của trẻ
em mà các luật khác đã quy định thì Luật về trẻ em chỉ quy định dưới dạng nguyên
tắc nhằm thể hiện tính toàn diện trong các quan hệ của trẻ em.
       Với ý nghĩa đó, Luật về trẻ em được giới hạn trong phạm vi nhất định với nội
dung cơ bản, đặc thù đối với trẻ em và trách nhiệm cụ thể của từng chủ thể, nên tên
gọi là "Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em". Phạm vi điều chỉnh được xác định
tại Khoản 1 Điều 2 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, cụ thể là: "Luật này
quy định các quyền cơ bản, bổn phận của trẻ em; trách nhiệm của gia đình, Nhà nước
và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em".
      2.2. Đối tƣợng áp dụng
      Khoản 2 Điều 2 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: "Luật này
được áp dụng đối với cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,
tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp,
tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, gia đình và công dân
Việt Nam (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân); tổ chức nước
ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam; trong
trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc
gia nhập có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó."
       Theo quy định, đối tượng áp dụng của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em là rất rộng, bao gồm mọi cơ quan, tổ chức của Việt Nam, tổ chức nước ngoài hoạt
động trên lãnh thổ Việt Nam, mọi công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại
Việt Nam. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, tổ
chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện các quy định của Luật bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em. Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của mỗi cơ quan, tổ chức,
                                            20
cá nhân có thể được tiến hành trực tiếp hoặc gián tiếp.
       Bảo vệ trẻ em là bảo đảm cho trẻ em được hưởng và thực hiện các quyền, bổn
phận của mình và phòng ngừa để trẻ em không bị rơi vào hòan cảnh đặc biệt; ngăn
chặn, xử lý các hành vi vi phạm quyền, bổn phận của trẻ em theo quy định của pháp
luật. Chăm sóc trẻ em là hoạt động nhằm nhận biết và đáp ứng nhu cầu về vật chất và
tinh thần để bảo đảm sự phát triển thể chất và nhân cách của trẻ em. Giáo dục trẻ em
là việc cung cấp và hướng dẫn tri thức, kỹ năng, niềm tin, thẩm mỹ, truyền thống,
đạo đức, pháp luật cho trẻ em thông qua giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và
giáo dục xã hội.
      Một đối tượng áp dụng quan trọng của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em đó là trẻ em, người được hưởng các quyền và thực hiện bổn phận, người chịu sự
điều chỉnh trực tiếp các quy định của Luật. Tuy nhiên, do phạm vi cư trú và hoàn
cảnh khác nhau mà mức độ được hưởng các quyền và thực hiện bổn phận của mỗi
nhóm trẻ em là khác nhau.
      3. Nguyên tắc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
      Mặc dù công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã đạt được nhiều tiến
bộ quan trọng, song những quan niệm truyền thống về vị trí phụ thuộc của trẻ em
trong xã hội và những vấn đề bức xúc trước mắt của cuộc sống hàng ngày là một rào
cản đối với bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Vì vậy, việc quy định các nguyên
tắc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em để mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân luôn quan
tâm, vận dụng và thực hiện trong các hoạt động xã hội và sinh hoạt hàng ngày, góp
phần bảo đảm cho trẻ em một tương lai tốt đẹp hơn.
      3.1. Không phân biệt đối xử với trẻ em
      Điều 4 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em, không
phân biệt gái, trai, con trong giá thú, con ngoài giá thú, con đẻ, con nuôi, con riêng,
con chung; không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội,
chính kiến của cha mẹ hoặc người giám hộ, đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục,
được hưởng các quyền theo quy định của pháp luật”.
       Mọi người đều được hưởng các quyền công dân, bình đẳng trước pháp luật và
có quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt
nào. Quyền bình đẳng được pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia công nhận và
bảo vệ, nhưng để thực hiện được quyền bình đẳng là cả một quá trình đấu tranh bền
bỉ, lâu dài của nhân loại nói chung và của nhân dân ta nói riêng trong suốt chiều dài
lịch sử. Với ý nghĩa đó, bình đẳng, không phân biệt đối xử với trẻ em, dù mỗi trẻ em
có đặc điểm và hoàn cảnh xuất thân khác nhau đã trở thành nguyên tắc mang tính

                                          21
chân lý của công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
       Trong thực tế cuộc sống hàng ngày, những phong tục, tập quán và quan hệ đạo
đức chịu ảnh hưởng của nho giáo vẫn chi phối tâm lý và hành vi của người dân, đối
xử phân biệt giữa con gái và con trai, con trong giá thú và con ngoài giá thú, con đẻ
và con nuôi, con chung và con riêng. Vì vậy, bảo đảm cho mọi trẻ em được bình
đẳng, không phân biệt đối xử và đều được hưởng các quyền trẻ em phải được coi là
việc làm thường xuyên của mọi công dân, gia đình, Nhà nước và xã hội.
      3.2. Tôn trọng và thực hiện các quyền của trẻ em
      Khoản 1 Điều 6 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Các
quyền của trẻ em phải được tôn trọng và thực hiện”. Trẻ em là công dân và trẻ em có
các quyền con người, nhưng khả năng thực hiện lại phụ thuộc vào từng lứa tuổi trẻ
em. Do đó, trẻ em trở thành chủ thể của các quyền trẻ em.
      Song quan niệm truyền thống về trẻ em - đối tượng chưa đủ năng lực hành vi
dân sự, vẫn được coi như là một đối tượng mà gia đình, Nhà nước và xã hội cần phải
hỗ trợ và bảo vệ, chăm sóc đặc biệt. Vì vậy, nguyên tắc tôn trọng và thực hiện các
quyền trẻ em sẽ làm thay đổi quan niệm coi trẻ em là đối tượng phụ thuộc sang quan
niệm mới "trẻ em là chủ thể của các quyền".
       Đồng thời, để thực hiện nghiêm chỉnh nguyên tắc tôn trọng và thực hiện các
quyền trẻ em, Khoản 2 Điều 6 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định
"Mọi hành vi vi phạm quyền của trẻ em, làm tổn hại đến sự phát triển bình thường
của trẻ em đều bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật". Việc xử lý nghiêm minh
các hành vi vi phạm quyền trẻ em nhằm bảo đảm cho trẻ em được hưởng các quyền
trẻ em và được sống trong môi trường an toàn và lành mạnh.
      3.3. Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội
       Khoản 1 Điều 5 luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Việc bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, Nhà nước,
xã hội và công dân…”. Nguyên tắc này xuất phát từ đặc điểm của trẻ em, những
người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và trí tuệ, chưa có năng lực hành vi dân sự
đầy đủ, chưa đủ điều kiện để tự quyết định quyền của mình và đòi hỏi gia đình, Nhà
nước và xã hội phải có sự bảo vệ, chăm sóc đặc biệt, phải tạo cơ hội thuận lợi cho
việc thực hiện quyền trẻ em. Do đó, quyền của trẻ em làm phát sinh nghĩa vụ của
người lớn, đó là đặc thù của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
      Mặt khác, trẻ em không phải là đối tượng tách biệt, trẻ em luôn gắn chặt trong
đời sống của mỗi gia đình, gắn chặt với những yêu cầu và nhiệm vụ phát triển kinh tế
xã hội của đất nước mà các cơ quan, tổ chức, đoàn thể xã hội có trách nhiệm thi
                                         22
hành. Vì vậy, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em không chỉ riêng của một cá nhân,
cơ quan, tổ chức mà là trách nhiệm của toàn xã hội; nhưng trách nhiệm trước tiên
phải thuộc về gia đình và là trách nhiệm của nhà trường, cộng đồng, xã hội và nhà
nước.
      Đồng thời Khoản 2 Điều 5 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định
"Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân ở
trong nước và nước ngoài góp phần vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em". Quy định này nhằm huy động mọi lực lượng xã hội được góp phần vào sự
nghiệp cao quý này.
       3.4. Dành lợi ích tốt nhất cho trẻ em
       Khoản 1 Điều 5 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “… Trong
mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có liên quan đến trẻ em thì lợi
ích của trẻ em phải được quan tâm hàng đầu”. Nguyên tắc này xuất phát từ ý tưởng
chiến lược phát triển con người, với "Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, tương lai của
đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; hãy bảo đảm
cho trẻ em một tương lai tốt đẹp hơn”.
      Mọi người trong tất cả những hành động của mình, dù là quản lý nhà nước,
quản lý xã hội, thực hiện nhiệm vụ quyền hạn trong xã hội hoặc trong sinh hoạt
thường ngày thì lợi ích tốt nhất của trẻ em phải được quan tâm hàng đầu.
       Dành lợi ích tốt nhất để trẻ em được hưởng và thực hiện quyền, bổn phận và
phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức để trẻ em chuẩn bị đầy
đủ hành trang của một chủ nhân tương lai trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát
triển đất nước. Đó không chỉ thể hiện tình cảm và đạo lý, mà là trách nhiệm của các
tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể, gia đình, công dân và toàn xã hội.
       3.5. Trẻ em thuộc diện chính sách xã hội, có hoàn cảnh đặc biệt đƣợc trợ
giúp
       Trẻ em thuộc diện chính sách xã hội, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em có
những yếu thế nhất định về thể chất, tinh thần và không đủ cơ hội để thực hiện các
quyền của mình. Do đó, trợ giúp trẻ em thuộc diện chính sách xã hội, có hoàn cảnh
đặc biệt đã trở thành đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, là việc làm từ thiện và
là trách nhiệm của Nhà nước và xã hội.
       Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và các văn bản pháp luật hiện hành
có liên quan đã có nhiều quy định về chính sách, chế độ của Nhà nước và chính sách
khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia trợ giúp trẻ em thuộc diện chính
sách xã hội, có hoàn cảnh đặc biệt bằng những hình thức phù hợp. Nguyên tắc của
                                          23
công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là phải bảo đảm cho mọi trẻ em thuộc
chính sách xã hội, có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp phù hợp để khắc phục những
yếu thế về thể chất, tinh thần và tạo cơ hội hoà nhập với gia đình, cộng đồng để thực
hiện các quyền trẻ em.
      4. Các hành vi bị nghiêm cấm
      Hệ thống pháp luật hiện hành đã có nhiều quy định nghiêm cấm các hành vi vi
phạm quyền con người, trong đó có quyền trẻ em và quy định các biện pháp chế tài
đối với các hành vi vi phạm đó. Song trên thực tế, một số hành vi vi phạm quyền trẻ
em chưa được xử lý kịp thời, nghiêm minh, một số hành vi vi phạm quyền trẻ em
chưa có biện pháp chế tài để xử lý, dẫn đến hiệu lực thi hành pháp luật chưa cao.
       Mặt khác, từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, một bộ phận
nhân dân mải lo kiếm sống làm giàu đã sao nhãng việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em, làm tổn hại đến quyền, lợi ích và sự phát triển bình thường về thể chất, trí tuệ,
tinh thần của nhiều trẻ em. Một bộ phận nhân dân chạy theo lối sống thực dụng đã lợi
dụng trẻ em để trục lợi, xô đẩy trẻ em rơi vào tệ nạn xã hội, ép buộc trẻ em làm
những việc trái pháp luật. Một số hành vi vi phạm quyền trẻ em mới phát sinh và có
xu hướng gia tăng trong những năm gần đây chưa được pháp luật hiện hành điều
chỉnh kịp thời.
      Điều 7 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định 10 nhóm hành vi bị
nghiêm cấm nhằm bảo đảm cho trẻ em được sống trong môi trường an toàn và lành
mạnh. Đây là 10 nhóm hành vi vi phạm quyền trẻ em đặc thù đối với việc bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em. Ngoài 10 nhóm hành vi được quy định, các hành vi vi
phạm khác làm tổn hại đến quyền và lợi ích của trẻ em đã được quy định và bị xử lý
theo quy định của pháp luật hiện hành.
      4.1. Bỏ rơi trẻ em
      Khoản 1 Điều 7 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Nghiêm
cấm các hành vi cha mẹ bỏ rơi con, người giám hộ bỏ rơi trẻ em được mình giám
hộ". Theo quy định, hành vi bỏ rơi trẻ em cần được quy định chi tiết và người giám
hộ được xác định rõ, làm cơ sở cho việc thực hiện trên thực tế.
      4.2. Các hành vi liên quan đến trẻ em lang thang
       Khoản 2 Điều 7 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Nghiêm
cấm các hành vi dụ dỗ, lôi kéo trẻ em đi lang thang; lợi dụng trẻ em lang thang để
trục lợi
      Theo từ điển tiếng Việt "trục lợi là việc kiếm lợi cho riêng mình một cách

                                           24
không chính đáng". Như vậy, hành vi tập hợp, chứa chấp trẻ em lang thang có mục
đích trục lợi thì bị nghiêm cấm. Việc xác định mục đích trục lợi phải thông qua kết
quả của việc thực hiện hành vi, kết quả đó xác định là có đem lại lợi ích vật chất trực
tiếp hoặc gián tiếp cho người có hành vi hay không.
      4.3. Các hành vi liên quan đến ma túy, đánh bạc, chất kích thích
       Khoản 3 Điều 7 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Nghiêm
cấm các hành vi dụ dỗ, lừa dối, ép buộc trẻ em mua, bán, vận chuyển, tàng trữ, sử
dụng trái phép chất ma tuý; lôi kéo trẻ em đánh bạc; bán, cho trẻ em sử dụng rượu,
bia, thuốc lá và chất kích thích khác có hại cho sức khoẻ”.
      Trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay, việc quy định
cấm bán cho trẻ em rượu, bia, thuốc lá có thể chưa được thông suốt trong nhận thức
của một bộ phận nhân dân vì nhiều lý do khác nhau. Song, trẻ em còn ngây thơ, trong
trắng và với nguyên tắc dành lợi ích tốt nhất cho trẻ em thì quy định cấm bán cho trẻ
em rượu, bia, thuốc lá là cần thiết. Để quy định này đi vào cuộc sống, đòi hỏi cha mẹ,
người lớn và xã hội phải thay đổi nhận thức, chấp nhận và thực hiện các hành vi theo
quy định của pháp luật.
      4.4. Các hành vi xâm hại tình dục trẻ em
      Khoản 4 Điều 7 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Nghiêm
cấm các hành vi dụ dỗ, lừa dối, dẫn dắt, chứa chấp, ép buộc trẻ em hoạt động mại
dâm; xâm hại tình dục trẻ em”.
      Xâm hại tình dục trẻ em là hành vi có chủ ý để làm hài lòng, thỏa mãn nhu cầu
tình dục của một người đối với trẻ em. Đây là hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm
đạo đức xã hội. Hành vi xâm hại tình dục trẻ em bao gồm các hành vi phạm tội (hiếp
dâm, cưỡng dâm, giao cấu với trẻ em) và các hành vi khiêu dâm, quấy rối tình dục trẻ
em. Nhiều quốc gia trên thế giới quy định nghiêm cấm các hành vi quấy rối tình dục
trẻ em (cho trẻ em tiếp xúc với ấn phẩm có nội dung khiêu dâm, sử dụng trẻ em trong
ấn phẩm khiêu dâm, có lời nói hoặc hành động kích động tình dục trẻ em).
      4.5. Các hành vi liên quan đến văn hóa phẩm, đồ chơi của trẻ em
       Khoản 5 Điều 7 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Nghiêm
cấm các hành vi lợi dụng, dụ dỗ, ép buộc trẻ em mua, bán, sử dụng văn hoá phẩm
kích động bạo lực, đồi trụy; làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, tàng trữ văn hoá
phẩm khiêu dâm trẻ em; sản xuất, kinh doanh đồ chơi, trò chơi có hại cho sự phát
triển lành mạnh của trẻ em”.
      4.6. Các hành vi xâm phạm thân thể, nhân phẩm trẻ em

                                          25
       Khoản 3 Điều 7 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Nghiêm
cấm các hành vi hành hạ, ngược đãi, làm nhục, chiếm đoạt, bắt cóc, mua, bán, đánh
tráo trẻ em; lợi dụng trẻ em vì mục đích trục lợi; xúi giục trẻ em thù ghét cha, mẹ,
người giám hộ hoặc xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của người
khác”.
      4.7. Các hành vi lạm dụng lao động trẻ em
      Khoản 7 Điều 7 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Nghiêm
cấm các hành vi lạm dụng lao động trẻ em, sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc,
nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại, làm những công việc khác trái với quy
định của pháp luật về lao động”.
       Lạm dụng lao động trẻ em là việc sử dụng trẻ tham gia vào họat động kinh tế,
làm ảnh hưởng đến việc học tập, vui chơi, sự phát triển của trẻ em, bắt trẻ em làm
việc quá sớm, quá thời gian làm ảnh hưởng đến việc phát triển về thể lực, trí lực và
nhân cách của trẻ em, thậm chí là bắt trẻ em phải làm những công việc nặng nhọc,
nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại, những công việc trái với quy định của pháp
luật, không trả công hoặc trả công tương xứng với lao động bỏ ra của trẻ em. Lạm
dụng lao động trẻ em cũng có thể xảy ra ngay tại gia đình.
      4.8. Các hành vi cản trở việc học tập của trẻ em
     Khoản 8 Điều 7 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Nghiêm
cấm các hành vi cản trở việc học tập của trẻ em”.
      4.9. Các hành vi đối với trẻ em vi phạm pháp luật
     Khoản 9 Điều 7 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Nghiêm
cấm các hành vi áp dụng biện pháp có tính chất xúc phạm, hạ thấp danh dự, nhân
phẩm hoặc dùng nhục hình đối với trẻ em vi phạm pháp luật”.
      4.10. Các hành vi bảo đảm môi trƣờng an toàn cho trẻ em
       Khoản 10 Điều 7 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Nghiêm
cấm các hành vi đặt cơ sở sản xuất, kho chứa thuốc trừ sâu, hoá chất độc hại, chất dễ
gây cháy nổ gần cơ sở nuôi dưỡng trẻ em, cơ sở giáo dục, y tế, văn hoá, điểm vui
chơi, giải trí của trẻ em”.
       Phạm vi bảo đảm an toàn không gây ảnh hưởng đến sức khỏe hoặc không gây
thiệt hại đến tính mạng trẻ em tùy thuộc vào tính chất hóa học của từng lọai thuốc trừ
sâu, hóa chất độc hại, chất dễ gây cháy nổ và khối lượng của từng loại hóa chất đó.
Phạm vi gây ảnh hưởng được xác định theo diện tích trong chu vi chịu sự ảnh hưởng
tính từ cơ sở sản xuất, kho chứa ra diện tích xung quanh nếu cơ sở sản xuất, kho chứa

                                          26
đó xảy ra sự cố. Đồng thời quy định này còn phải căn cứ vào các quy định khác có
liên quan đến pháp luật bảo vệ môi trường, pháp luật phòng cháy, chữa cháy...
      5. Trách nhiệm quản lý nhà nƣớc
       Điều 8 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định có tính nguyên tắc
về trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Khoản 1
quy định "Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em". Khoản 2 Điều 8 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Uỷ ban
Dân số, Gia đình và Trẻ em giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước
về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
mình; chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong việc bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em".
      Theo quy định, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thực hiện hai chức năng là
quản lý nhà nước và điều phối tổ chức thực hiện bằng việc chủ trì, phối hợp với các
bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức thành viên của Mặt trận trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Quy
định này xuất phát từ việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của
tòan xã hội, đồng thời trẻ em là một công dân và chịu sự điều chỉnh của các ngành,
lĩnh vực trong nền kinh tế đối với công dân.
      Khoản 3 Điều 8 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Bộ Giáo
dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Thông tin và Truyền
thông), Uỷ ban Thể dục Thể thao (nay thuộc Bộ Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch),
Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và các bộ, ngành có liên quan thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em theo sự phân công của
Chính phủ".
       Khoản 4 Điều 8 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Uỷ ban
nhân dân các cấp thực hiện quản lý Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
ở địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ".
      6. Nguồn tài chính
      Điều 9 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Nguồn tài chính
cho công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em bao gồm ngân sách nhà nước, viện
trợ quốc tế, ủng hộ của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở trong nước, nước ngòai và các
nguồn thu hợp pháp khác". Theo quy định, phạm vi nguồn tài chính khá rộng, được
huy động và sử dụng theo quy định của Luật ngân sách.
      Việc huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính ở trong nước và
                                        27
ngoài nước cho công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có ý nghĩa quan trọng
đến việc thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em, góp phần trợ giúp trẻ em có HCĐB
được giải quyết, giảm nhẹ tổn thương về thể chất, tinh thần, được phục hồi sức khỏe,
tinh thần và giáo dục đạo đức, hòa nhập với gia đình, cộng đồng, góp phần cải thiện
chất lượng sống của trẻ em và tạo điều kiện cho trẻ em phát triển toàn diện, trở thành
công dân là chủ nhân tương lai của đất nước.
      7. Hợp tác quốc tế
      Khoản 1 Điều 10 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định về
nguyên tắc hợp tác quốc tế về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, cụ thể là "Nhà
nước có chính sách mở rộng hợp tác quốc tế về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
với các nước, tổ chức quốc tế trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng chủ quyền, phù hợp với
pháp luật mỗi nước và thông lệ quốc tế". Quy định này xuất phát từ phạm vi, tính
chất của công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là rất rộng lớn và yêu cầu mở
rộng hợp tác quốc tế, nhưng vẫn phải bảo đảm nguyên tắc cơ bản của quốc gia, dân
tộc.
      Khoản 2 Điều 10 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định về các
nội dung hợp tác quốc tế về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, cụ thể là "Xây dựng
và thực hiện các chương trình, dự án, hoạt động về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em" (Điểm a); "Tham gia các tổ chức quốc tế; ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế
về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em" (Điểm b); "Nghiên cứu, ứng dụng khoa học
và chuyển giao công nghệ hiện đại phục vụ công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em" (Điểm c); "Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; trao đổi thông tin và kinh
nghiệm về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em" (Điểm d).
      Trên thực tế, nội dung hợp tác quốc tế đã được triển khai thực hiện bằng nhiều
hình thức khác nhau thông qua các chương trình, dự án, trao đổi kinh nghiệm và hỗ
trợ kỹ thuật với các tổ chức quốc tế, các Chính phủ, tổ chức phi Chính phủ đối với
nhiều cơ quan, tổ chức của nước ta. Đặc biệt, sự hợp tác trong việc ứng dụng khoa
học và chuyển giao công nghệ trong việc tổ chức thực hiện việc bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em, đã giúp chúng ta tiếp cận được những mô hình, kinh nghiệm và cách
làm có hiệu quả của các nước.
      Khoản 3, 4 Điều 10 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định chính
sách hợp tác quốc tế về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, cụ thể là "Nhà nước
khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức cá
nhân nước ngoài tham gia công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em" (Khoản 3);
"Các tổ chức quốc tế liên quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở nước ngoài
được hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam"
                                          28
(Khoản 4).


      II. CÁC QUYỀN CƠ BẢN VÀ BỔN PHẬN CỦA TRẺ EM
       Trẻ em là công dân và trẻ em có các quyền công dân được Hiến pháp và pháp
luật quy định. Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung tại Nghị quyết số
51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10 đã
dành Chương V với 34 điều quy định các quyền và nghĩa vụ về dân sự, chính trị,
kinh tế, xã hội và văn hóa của công dân. Công ước quyền trẻ em với 54 điều quy định
các quyền trẻ em theo bốn nhóm quyền là: quyền được sống còn, quyền được bảo vệ;
quyền được phát triển và quyền được tham gia. Cộng đồng quốc tế đã thừa nhận
quyền trẻ em và kêu gọi các quốc gia bảo đảm quyền của trẻ em như là quyền của
con người chưa phát triển về thể lực, trí tuệ và kêu gọi toàn thể nhân loại hãy bảo
đảm cho tất cả trẻ em một tương lai tốt đẹp hơn.
       Song trẻ em là người chưa phát triển toàn diện về thể lực và trí tuệ, chưa có
đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Do đó, để trẻ em làm chủ các quyền phù hợp với đặc
điểm tâm sinh lý của trẻ em thì Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định
các quyền cơ bản và bổn phận của trẻ em, trong đó lựa chọn 10 nhóm quyền cơ bản
nhất, đặc trưng nhất đối với trẻ em. Cách tiếp cận này tạo điều kiện để trẻ em dễ hiểu,
dễ nhớ, dễ thực hiện và tập trung vào những quyền cơ bản gắn liền với cuộc sống
hàng ngày của trẻ em. Việc thực hiện đầy đủ, hợp lý các quyền cơ bản và bổn phận
của trẻ em sẽ tạo cơ hội để trẻ em được phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh
thần và đạo đức.
      1. Quyền đƣợc khai sinh và có quốc tịch
       Khoản 1 Điều 11 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em
có quyền được khai sinh và có quốc tịch”. Theo quy định của pháp luật thì “Cá nhân
khi sinh ra có quyền được khai sinh" (Điều 29 Bộ Luật Dân sự năm 2005).
       Đăng ký khai sinh nhằm xác định họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh,
giới tính, dân tộc, quốc tịch, quan hệ cha, mẹ, con của một người mà được pháp luật
công nhận và làm căn cứ pháp lý chứng minh đó là một cá nhân, một chủ thể riêng
biệt trong xã hội. Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của một cá nhân. Mọi hồ sơ,
giấy tờ của cá nhân có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh, giới
tính, dân tộc, quốc tịch, quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của
người đó.
      Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em thuộc trách nhiệm của cha mẹ, người giám
hộ của trẻ em. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thực hiện đăng ký khai sinh
                                          29
cho trẻ em; vận động cha mẹ, người giám hộ khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn.
Trong trường hợp thiếu hồ sơ, thủ tục, người có thẩm quyền đăng ký khai sinh phải
hướng dẫn, không được gây khó khăn, phiền hà đối với người đi khai sinh.
      Người trực tiếp giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện đăng ký khai sinh là
cán bộ Tư pháp hộ tịch có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ, xác minh, kiểm tra, làm thủ
tục đăng ký khai sinh; thường xuyên kiểm tra, đăng ký khai sinh kịp thời; phổ biến,
vận động nhân dân chấp hành các quy định của pháp luật về hộ tịch. Đối với những
khu vực có điều kiện đi lại khó khăn, cán bộ hộ tịch tư pháp phải có lịch định kỳ đến
tận nhà dân để đăng ký khai sinh cho trẻ em.
      Đối với những trẻ em của hộ nghèo, Nhà nước có chính sách ưu tiên không
phải nộp lệ phí đăng ký khai sinh.
      Cơ quan Dân số, Gia đình và Trẻ em các cấp chủ trì, phối hợp với cơ quan Tư
pháp cùng cấp tuyên truyền, hướng dẫn, giúp đỡ cha mẹ, người giám hộ để họ khai
sinh cho trẻ em đúng thời hạn.
      1.1. Quyền có họ, tên
      Khoản 1 Điều 28 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định “Cá nhân có quyền có họ,
tên. Họ, tên của một người được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó”. Với
ý nghĩa đó, quyền được khai sinh là quyền đầu tiên của trẻ em. Trong thời hạn 30
ngày, kể từ ngày sinh thì trẻ em phải được khai sinh, phải có họ, tên của mình; đối
với các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, thì thời hạn trên không quá 60 ngày.
      1.2. Quyền có quốc tịch
      Khoản 1 Điều 11 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: “Trẻ em
có quyền được khai sinh và có quốc tịch”. Quy định này phù hợp với quy định tại
Điều 45 Bộ luật dân sự năm 2005 “Cá nhân có quyền có quốc tịch. Việc công nhận,
thay đổi, nhập quốc tịch, thôi quốc tịch Việt Nam được thực hiện theo quy định của
pháp luật về quốc tịch”. Vì vậy, mọi trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều phải
được xác định rõ quốc tịch và có quyền có quốc tịch.
      1.3. Miễn phí đăng ký khai sinh
      Khoản 3 Điều 23 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em
của hộ nghèo không phải nộp lệ phí đăng ký khai sinh”. Quy định này là một chính
sách mới nhằm giải quyết khó khăn của những hộ nghèo không có điều kiện nộp lệ
phí đăng ký khai sinh.
      Việc xác định hộ nghèo gắn liền với việc miễn lệ phí đăng ký khai sinh thuộc
thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp xã.

                                         30
      1.4. Xác định cha mẹ cho trẻ em
      Khoản 2 Điều 11 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em
chưa xác định được cha, mẹ nếu có yêu cầu thì được cơ quan có thẩm quyền giúp đỡ
để xác định cha, mẹ theo quy định của pháp luật”.
      Việc xác định cha, mẹ, con và đăng ký việc nhận cha, mẹ, con được thực hiện
theo Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật về hộ
tịch.
      2. Quyền đƣợc chăm sóc, nuôi dƣỡng
      Điều 12 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cụ thể hóa quy định tại Hiến
pháp năm 1992 về một trong các quyền cơ bản của trẻ em. Đó là “quyền được chăm
sóc, nuôi dưỡng để phát triển thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức”. Trẻ em được
chăm sóc, nuôi dưỡng nhằm đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần ở mức cao nhất
có thể có, với mức sống ngày càng được nâng cao là quyền của trẻ em và mục tiêu
phấn đấu chung của gia đình, Nhà nước và xã hội. Điều 65 Hiến pháp năm 1992 ghi
nhận "Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục”.
      3. Quyền sống chung với cha mẹ
      Điều 13 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em có quyền
sống chung với cha mẹ. Không ai có quyền buộc trẻ em phải cách ly cha mẹ, trừ
trường hợp vì lợi ích của trẻ em”. Theo quy định của pháp luật thì cha mẹ có nghĩa
vụ và quyền sống chung với con. Như vậy, cả cha mẹ và con chưa thành niên đều có
quyền sống chung, trừ trường hợp vì lợi ích của trẻ em.
       Quy định này hoàn toàn phù hợp và cụ thể hóa thêm các quy định tại Luật hôn
nhân và gia đình Việt Nam hiện hành. Theo các quy định đó thì: Quyền sống chung
với cha mẹ là quyền tự nhiên, tất yếu và bất khả xâm phạm của mọi trẻ em, kể cả
trong trường hợp trẻ em là con riêng của vợ hoặc chồng. Trong trường hợp cha mẹ ly
hôn, theo quy định tại điều 92 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, việc giao con
chưa thành niên cho cha hoặc mẹ chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục phải căn cứ vào
quyền lợi về mọi mặt của trẻ em. Về nguyên tắc, trẻ em dưới ba mươi sáu (36) tháng
tuổi phải được giao cho người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Người không nuôi dưỡng có
nghĩa vụ và quyền thăm nom, chăm sóc con và phải có nghĩa vụ đóng góp nuôi
dưỡng, giáo dục con.
      Trường hợp trẻ em được nhận làm con nuôi, thì việc giao nhận con nuôi phải
tuân theo quy định của pháp luật và phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em được
nhận làm con nuôi. Việc nhận trẻ em từ đủ chín tuổi trở lên làm con nuôi phải được
sự đồng ý của trẻ em đó. Khoản 2 Điều 25 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
                                         31
quy định "Trường hợp trẻ em được nhận làm con nuôi thì việc giao, nhận trẻ em làm
con nuôi, đưa trẻ em ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài vào Việt Nam phải tuân theo
quy định của pháp luật".
       Không ai có quyền buộc trẻ em phải cách ly cha mẹ trái với ý muốn của cha
mẹ và trẻ em, trừ trường hợp người có thẩm quyền thực hiện pháp luật quyết định để
bảo vệ lợi ích tốt nhất của trẻ em. Người có thẩm quyền quyết định trẻ em phải cách
ly cha mẹ trong trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục
đối với con chưa thành niên hoặc trường hợp cha mẹ đang thi hành án phạt tù tại trại
giam thì trẻ em phải sống cách ly cha mẹ.
      4. Quyền đƣợc tôn trọng, bảo vệ tính mạng, nhân phẩm, danh dự
      Điều 14 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em được gia
đình, Nhà nước và xã hội tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh
dự”. Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về các quyền này của công dân như sau:
Khoản 1 Điều 32 quy định "Cá nhân có quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng,
sức khoẻ, thân thể"; Điều 37 quy định “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân
được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”. Đây cũng là một trong những quyền cơ
bản của công dân đã được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận "Công dân có quyền bất
khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự
và nhân phẩm" (Điều 71).
       Các văn bản pháp luật có liên quan đã quy định các quyền được tôn trọng, bảo
vệ tính mạng, nhân phẩm, danh dự và các biện pháp chế tài để bảo đảm quyền này.
Chương X Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về người chưa thành niên phạm tội;
Chương XII quy định về các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm
của con người trong đó đã thể hiện những quan điểm nhân đạo, chính sách quan tâm
bảo vệ trẻ em và quy định những khung hình phạt nghiêm khắc đối với những hành
vi của người lớn xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của trẻ
em.
      Tuy nhiên, trong thực tiễn cuộc sống, trẻ em còn nhỏ tuổi và thường được coi
là người phụ thuộc, nên trong quan hệ của gia đình và xã hội, vẫn còn nhiều cha mẹ,
anh chị em và người lớn hay coi thường trẻ em, gọi là “trẻ con”, mắng chửi trẻ em
đến mức không tôn trọng nhân phẩm, danh dự của trẻ em. Do vậy, cần tăng cường
tuyên truyền, vận động nhằm làm thay đổi quan niệm và hành vi đối xử với trẻ em
theo hướng tôn trọng quyền này của trẻ em.
      5. Quyền đƣợc chăm sóc sức khoẻ
      Khoản 1 Điều 15 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em

                                         32
có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ”. Khoản 1 Điều 1 Luật bảo vệ sức khoẻ
nhân dân năm 1989 quy định “Công dân có quyền được bảo vệ sức khoẻ, nghỉ ngơi,
giải trí, rèn luyện thân thể; được bảo đảm vệ sinh trong lao động, vệ sinh dinh dưỡng,
vệ sinh môi trường và được phục vụ về chuyên môn y tế”.
      5.1. Quyền đƣợc chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ
       Trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ, quyền này đã được quy
định trong Điều 15 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Điều 46 Luật bảo vệ
sức khoẻ nhân dân. Khoản 1 Điều 46 Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân năm 1989 quy
định "Trẻ em được y tế cơ sở quản lý sức khoẻ, được tiêm chủng phòng bệnh, phòng
dịch, được khám bệnh, chữa bệnh". Trách nhiệm thực hiện quyền này của trẻ em
trước hết thuộc trách nhiệm của ngành y tế. Ngành y tế có trách nhiệm xây dựng,
củng cố mạng lưới y tế từ trung ương đến cơ sở, thực hiện việc khám sức khoẻ định
kỳ, từng bước lập sổ theo dõi sức khoẻ cho trẻ em, đặc biệt quan tâm đến trẻ em suy
dinh dưỡng, trẻ em khuyết tật, trẻ em tàn tật, trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá
học, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em nghiện ma tuý và
trẻ em bị tai nạn thương tích. Bộ Y tế bảo đảm việc cung ứng các loại thuốc thiết yếu
chữa bệnh cho trẻ em; bảo đảm điều kiện và chất lượng khám bệnh, chữa bệnh, đặc
biệt là số lượng và chất lượng cán bộ, nhân viên y tế chuyên khoa nhi. Cùng với
ngành y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm củng cố và phát triển cơ sở y tế
trường học.
      Ngoài ra, cha mẹ, người nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm thực hiện những
quy định về kiểm tra sức khoẻ và tiêm chủng theo kế hoạch của y tế cơ sở, chăm sóc
trẻ em khi ốm đau và thực hiện các quyết định của thầy thuốc trong khám bệnh, chữa
bệnh cho trẻ em.
       Thực hiện các quy định của pháp luật, Bộ Y tế đã xây dựng, tổ chức thực hiện
các chương trình y tế quốc gia đạt hiệu quả cao. Trẻ em có biểu đồ theo dõi sự tăng
trưởng, được tiêm chủng đầy đủ 6 loại vắc xin chiếm tỷ lệ cao và do đó tỷ lệ chết trẻ
em do mắc 6 loại bệnh có vắc xin phòng ngừa giảm rõ rệt. Đã thanh toán được bệnh
bại liệt trẻ em và loại trừ uốn ván sơ sinh theo tiêu chuẩn của tổ chức y tế thế giới.
      5.2. Trẻ em dƣới 6 tuổi đƣợc khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền
       Khoản 2 Điều 15 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em
dưới sáu tuổi được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được khám bệnh, chữa bệnh không
phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập". Trẻ em dưới sáu tuổi được Nhà nước cấp
Thẻ khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập (sau đây
gọi tắt là Thẻ khám bệnh, chữa bệnh). Đây là phương án thể hiện sự tiến bộ, tính ưu

                                          33
việt của chế độ ta. Thực hiện phương án này thì bất kỳ trẻ em nào dưới sáu tuổi, khi
bị ốm đau dù là bệnh nặng hay nhẹ đều được khám bệnh, chữa bệnh và không phải
trả tiền tại các cơ sở y tế công lập.
       Theo chính sách hiện hành, Nhà nước có chính sách miễn, giảm viện phí,
chính sách khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền đối với trẻ em thuộc diện chính
sách xã hội, trẻ em của các gia đình nghèo…, nhưng khám bệnh, chữa bệnh theo quy
định tại Khoản 2 Điều 15 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì có lợi hơn cho
trẻ em.
      6. Quyền đƣợc học tập
      Khoản 1 Điều 16 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em
có quyền được học tập”. Pháp luật nước ta đã khẳng định "Học tập là quyền và nghĩa
vụ của công dân". Mọi công dân không phân biệt điều kiện và hoàn cảnh đều được
bình đẳng về cơ hội học tập, được tạo điều kiện để ai cũng được học hành.
       Khoản 2 Điều 16 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em
học bậc tiểu học trong các cơ sở giáo dục công lập không phải trả học phí”. Theo quy
định của pháp luật, giáo dục tiểu học là bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ sáu
tuổi đến mười bốn tuổi (từ lớp 1 đến lớp 5). Vì vậy " Mọi công dân trong độ tuổi quy
định có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập" (Khoản 2 Điều 11 Luật
giáo dục năm 2005). Đến năm 2002, đã có 100 % số tỉnh, thành phố hoàn thành giáo
dục phổ cập bậc tiểu học và 19 tỉnh, thành phố đạt trình độ giáo dục phổ cập bậc
trung học cơ sở.
       Pháp luật cũng quy định nhiệm vụ của người học cụ thể, rõ ràng tại Điều 85
Luật giáo dục năm 2005 như sau: “Thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo
chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường, cơ sở giáo dục khác" (khoản 1);
"Tôn trọng nhà giáo, cán bộ và nhân viên của nhà trường, cơ sở giáo dục khác; đoàn
kết, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, rèn luyện; thực hiện nội quy, điều lệ nhà trường;
chấp hành pháp luật của nhà nước" (khoản 2); "Tham gia lao động và hoạt động xã
hội, hoạt động bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi, sức khoẻ và năng lực" (khoản
3); "Giữ gìn, bảo vệ tài sản của nhà trường, cơ sở giáo dục khác" (khoản 4); "Góp
phần xây dựng, bảo vệ và phát huy truyền thống của nhà trường, cơ sở giáo dục
khác" (khoản 5).
       "Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện; có đạo
đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng
lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" (Điều

                                          34
2 Luật giáo dục năm 2005). Với ý nghĩa đó, trẻ em có quyền được tiếp cận một nền
giáo dục cơ bản, có chất lượng để trở thành công dân có đức, có tài, nắm chắc khoa
học kỹ thuật và công nghệ mới phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
      7. Quyền vui chơi, hoạt động văn hoá, thể thao
        Điều 17 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em có quyền
vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao,
du lịch phù hợp với lứa tuổi”. Vui chơi giải trí là nhu cầu của con người, song đối với
trẻ em thì được pháp luật thừa nhận là một quyền, điều này xuất phát từ đặc điểm của
trẻ em và xuất phát từ nhu cầu thực tiễn. Quyền vui chơi giải trí lành mạnh không
những là nhu cầu mà còn là điều kiện để trẻ em phát triển hài hoà về thể chất và tinh
thần. Thực hiện quyền vui chơi, giải trí lành mạnh của trẻ em đòi hỏi phải thay đổi
quan niệm cũ coi “vui, chơi, giải trí” là hoạt động của những kẻ “vô công rồi nghề”,
những trẻ “hư”, sang quan niệm mới coi vui chơi, giải trí lành mạnh là một yếu tố để
trẻ em khôn lớn, phát triển tốt hơn về thể chất và tinh thần. Các quốc gia trên thế giới
xác định rằng, trong thời đại văn minh trí tuệ thì mọi người, kể cả trẻ em sẽ phải làm
việc nhiều hơn bằng trí óc, làm việc bằng nội lực nhiều hơn lao động chân tay, nên
con người sẽ mỏi mệt hơn, căng thẳng hơn, dễ dẫn đến stress hơn thì việc vui chơi,
giải trí là liều thuốc bổ tạo nên sự thoải mái về tinh thần, cân bằng về sức khoẻ. Vì
vậy, thực hiện quyền vui chơi, giải trí của trẻ em chính là chuẩn bị tâm lý, sự năng
động, sự thích nghi trong một xã hội công nghiệp với hoạt động trí óc là chủ yếu.
      Vấn đề quan trọng để thực hiện quyền trẻ em về vui chơi, giải trí là việc tổ
chức vui chơi, giải trí một cách khoa học, có văn hoá để mọi trẻ em đều được "chơi
mà học, học mà chơi" để trẻ phát triển nhân cách toàn diện. Vui chơi, giải trí gắn liền
trong học tập, trong hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao ở mọi nơi, mọi
lúc phù hợp với từng lứa tuổi của trẻ em. Nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của trẻ
em và thực hiện quyền trẻ em được hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao là
mục tiêu, biện pháp quan trọng của chiến lược con người.
       Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, vui chơi, giải trí phải
hướng vào mục tiêu bồi dưỡng về trí tuệ, thể lực, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối
sống, thế giới quan, nhân sinh quan khoa học, hướng tới chân, thiện, mỹ. Phát huy
những giá trị di sản văn hoá, nghệ thuật của dân tộc, đồng thời giáo dục trẻ em chọn
lọc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Phát hiện và bồi dưỡng kịp thời các năng
khiếu, tài năng của trẻ em về văn hoá, văn nghệ, thể thao.
      8. Quyền đƣợc phát triển năng khiếu
      Điều 18 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em có quyền

                                           35
được phát triển năng khiếu. Mọi năng khiếu của trẻ em đều được khuyến khích và
tạo điều kiện thuận lợi để phát triển”. Quy định này là sự khẳng định chủ trương,
chính sách và việc tổ chức thực hiện trong thực tiễn nhằm phát huy tốt nhất năng lực,
sở trường của trẻ em ngay từ nhỏ để hướng dẫn, bồi dưỡng và đào tạo để trở thành
nhân tài phục vụ đất nước.
      Điều 59 Hiến pháp năm 1992 quy định “Học sinh có năng khiếu được Nhà
nước và xã hội tạo điều kiện học tập để phát triển tài năng”. Điều 10 Luật giáo dục
năm 2005 quy định “… Nhà nước và cộng đồng … tạo điều kiện để những người có
năng khiếu phát triển tài năng”. Các văn bản pháp luật có liên quan quy định quyền
được phát triển năng khiếu trong lĩnh vực văn hoá, thể thao và trong các ngành lĩnh
vực kinh tế - xã hội.
      9. Quyền có tài sản
       Điều 19 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em có quyền
có tài sản, quyền thừa kế theo quy định của pháp luật”. Khoản 1 Điều 44 Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000 quy định "Con có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng
của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi,
lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và các thu nhập hợp pháp khác".
       Quyền có tài sản, quyền thừa kế được nhiều văn bản pháp luật có liên quan
quy định nhằm bảo đảm sự bình đẳng của mọi chủ thể trong xã hội, trong đó có trẻ
em. Tuy nhiên, do trẻ em chưa đủ khả năng quản lý, định đoạt tài sản riêng, nên pháp
luật cũng đã quy định trách nhiệm của cha, mẹ đối với con dưới 15 tuổi trong việc
quản lý và định đoạt tài sản riêng của con. Đồng thời, pháp luật cũng quy định nghĩa
vụ đối với con từ đủ 15 tuổi trở lên còn chung sống với cha mẹ thì có nghĩa vụ chăm
lo đời sống chung của gia đình, nếu có thu nhập thì đóng góp vào các nhu cầu thiết
yếu của gia đình.
      10. Quyền đƣợc tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến, hoạt động xã hội
      Khoản 1 Điều 20 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em “Trẻ em có quyền
được tiếp cận thông tin phù hợp với sự phát triển của trẻ em, được bày tỏ ý kiến,
nguyện vọng về những vấn đề mình quan tâm”. Quy định này xuất phát từ quan niệm
trẻ em là những công dân có đầy tiềm năng, có hiểu biết, có quan điểm riêng, có cách
làm sáng tạo, có ý chí và bản lĩnh xây dựng xã hội tương lai tốt đẹp hơn.
        Xã hội ngày càng được hiện đại hóa, trẻ em được tiếp xúc với những sản phẩm
"trí tuệ", có số lượng kiến thức và kỹ năng hơn hẳn trẻ em cùng lứa tuổi thuộc thế hệ
trước. Ngày nay, trẻ em được tiếp cận thông tin hiện đại, được mở rộng tầm hiểu
biết, năng động trong tư duy, thích ứng nhanh với những tiến bộ của khoa học và

                                         36
công nghệ và những lối sống, tâm lý mới được hình thành. Vì vậy, việc quy định
quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về những vấn đề mình
quan tâm không những phát huy vai trò tích cực chủ động tham gia của trẻ em mà
còn giúp các nhà hoạch định chính sách, chiến lược và các nhà quản lý, tổ chức thực
hiện các hoạt động đưa ra các quyết định phù hợp với nhu cầu, tâm lý của trẻ em.
       Khoản 2 Điều 20 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: "Trẻ em
được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với nhu cầu và năng lực của mình”. Hoạt
động xã hội là nhu cầu trẻ em nói riêng và của mọi công dân nói chung, để trẻ em
thực hiện được quyền này và thực hiện có hiệu qủa thì xã hội, nhất là Đoàn thanh
niên, Hội đồng đội, nhà trường, nhà văn hóa, nhà thiếu nhi phải đứng ra tổ chức các
phong trào cho trẻ em thông qua các tổ chức xã hội của chính trẻ em như Đội thiếu
niên, sao nhi đồng, các câu lạc bộ của trẻ em.
      11. Bổn phận của trẻ em
      Trẻ em không chỉ có quyền mà còn phải có bổn phận. Việc quy định bổn phận
của trẻ em trong Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nhằm định hướng vào
việc khuyên răn, giáo dục ý thức tự chấp hành của trẻ em. Điều 21 Luật bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em quy định những bổn phận của trẻ em, cụ thể là:
      Khoản 1 quy định bổn phận “Yêu quý, kính trọng, hiếu thảo với ông bà, cha
mẹ; kính trọng thầy giáo, cô giáo; lễ phép với người lớn, thương yêu em nhỏ, đoàn
kết với bạn bè; giúp đỡ người già yếu, người khuyết tật, tàn tật, người gặp hoàn cảnh
khó khăn theo khả năng của mình”.
       Khoản 2 quy định bổn phận “Chăm chỉ học tập, giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân
thể, thực hiện trật tự công cộng và an toàn giao thông, giữ gìn của công, tôn trọng tài
sản của người khác, bảo vệ môi trường”.
      Khoản 3 quy định bổn phận “Yêu lao động, giúp đỡ gia đình làm những việc
vừa sức mình”.
      Khoản 4 quy định bổn phận “Sống khiêm tốn, trung thực và có đạo đức, tôn
trọng pháp luật; tuân theo nội quy của nhà trường; thực hiện nếp sống văn minh, gia
đình văn hoá; tôn trọng, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc”.
      Khoản 5 quy định bổn phận “Yêu quê hương, đất nước, yêu đồng bào, có ý
thức xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và đoàn kết quốc tế”.
      Những nội dung này là sự cụ thể hoá 5 Điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng,
góp phần định hướng cho trẻ em những phẩm chất tốt đẹp trong học tập, lao động,
rèn luyện sức khoẻ, tu dưỡng đạo đức và có ý thức yêu thương những người xung

                                          37
quanh, ý thức đối với cộng đồng và ý thức đối với cuộc sống.
      12. Những việc trẻ em không đƣợc làm
       Điều 22 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định, trẻ em không
được làm những việc như “Tự ý bỏ học, bỏ nhà sống lang thang” (khoản 1); “Xâm
phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác; gây rối trật
tự công cộng” (khoản 2); “Đánh bạc, sản xuất rượu, bia, thuốc lá, chất kích thích
khác có hại cho sức khoẻ” (khoản 3); “Trao đổi, sử dụng văn hoá phẩm có nội dung
kích động bạo lực, đồi truỵ; sử dụng đồ chơi hoặc chơi trò chơi có hại cho sự phát
triển lành mạnh” (khoản 4).
       Theo quy định của pháp luật, trẻ em là công dân và trẻ em cũng phải tuân theo
các quy định của pháp luật hiện hành, nếu vi phạm thì bị xử lý. Tuy nhiên, do trẻ em
còn non nớt về thể chất và tinh thần, nên những việc trẻ em không được làm là những
điều cấm được thể hiện mềm hơn nhằm định hướng giáo dục cho trẻ em có một lối
sống tốt đẹp, sống có trách nhiệm và tránh xa những thói hư tật xấu để các em có thể
trở thành những con người có ích cho xã hội, mang trong mình những phẩm chất đạo
đức tốt đẹp khi trưởng thành.
      Quy định những việc trẻ em không được làm không nhằm mục đích răn đe,
trừng trị trẻ em mà nhằm giáo dục cho trẻ em hiểu phân biệt đối với những hành vi
đã được xã hội thừa nhận là không phù hợp với đạo đức và pháp luật để trẻ em tránh
xa các hành vi xấu, trái pháp luật và có ý thức với những hành động của mình, đồng
thời ngăn ngừa những hành vi vi phạm có thể xảy ra ở trẻ em nếu không được cảnh
báo kịp thời.


      III. TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ, CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ EM
       Trẻ em là người chưa phát triển toàn diện về thể lực và trí lực, chưa đủ khả
năng để thực hiện các quyền của mình và đòi hỏi gia đình, Nhà nước và xã hội phải
bảo đảm điều kiện, tạo cơ hội để trẻ em thực hiện quyền của mình. Vì vậy, quyền của
trẻ em làm phát sinh nghĩa vụ của gia đình, Nhà nước và xã hội. Tuy nhiên, mỗi chủ
thể trong xã hội lại có vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau, nên
muốn bảo đảm cho trẻ em được hưởng các quyền cơ bản thì phải quy trách nhiệm
của từng chủ thể phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của họ.
      Ngoài các chủ thể bảo đảm 10 nhóm quyền cơ bản của trẻ em, Luật bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc
thực hiện tuyên truyền, vận động, giáo dục, thực hiện các biện pháp phòng ngừa,
ngăn chặn trẻ em rơi vào tệ nạn xã hội; cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản; tham gia
                                         38
trợ giúp trẻ em dưới các hình thức thích hợp; phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm
quyền trẻ em. Việc thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp trách nhiệm của cơ quan, tổ
chức sẽ là cơ sở thuận lợi để trẻ em thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em.
      1. Trách nhiệm đăng ký khai sinh
      1.1. Trách nhiệm của cha mẹ, ngƣời giám hộ về đăng ký khai sinh
       Khoản 1 Điều 23 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Cha mẹ,
người giám hộ có trách nhiệm khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn”. Theo quy định,
cha mẹ, người giám hộ là người chịu trách nhiệm chính về đăng ký khai sinh và yêu
cầu là việc khai sinh cho trẻ em phải đúng thời gian quy định.
       Theo quy định của pháp luật, người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đăng ký
khai sinh khá rộng, bao gồm cá nhân hoặc người được uỷ quyền và nếu người được
uỷ quyền là ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, anh chị em của người uỷ quyền thì không
cần phải có văn bản uỷ quyền (Nghị định 83/1998/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ
tịch). Điều 14 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về
đăng ký và quản lý hộ tịch thì “trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha mẹ
có trách nhiệm đi khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà
hoặc những ngƣời thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em”.
      Nhằm khắc phục tình trạng chậm đăng ký khai sinh, coi thường thời hạn khai
sinh cho trẻ em, thậm chí còn nhiều trường hợp trẻ em đã được 05 tuổi nhưng vẫn
chưa có giấy khai sinh ở một số địa phương, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em khẳng định việc khai sinh phải đúng thời hạn.
      1.2. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân về đăng ký khai sinh
      Khoản 2 Điều 23 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Uỷ ban
nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã) có trách
nhiệm thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ em; vận động cha mẹ, người giám hộ khai
sinh cho trẻ em đúng thời hạn”.
       Thẩm quyền đăng ký khai sinh là Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của
người mẹ; nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ thì Uỷ ban nhân dân
cấp xã nơi cư trú của người cha; trong trường hợp không xác định được nơi cư trú
của người mẹ và người cha, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi trẻ em đang sinh sống
trên thực tế phải đăng ký khai sinh cho trẻ em. Đối với trẻ em bị bỏ rơi, thì Uỷ ban
nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người đang tạm thời nuôi dưỡng hoặc nơi có trụ sở
của tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em đó phải đăng ký khai sinh cho trẻ em.
      Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng chậm đăng ký khai sinh cho

                                         39
trẻ em là do cha mẹ, người giám hộ chưa nhận thấy ý nghĩa của việc đăng ký khai
sinh, nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, vùng dân di cư còn gặp
khó khăn trong việc đăng ký khai sinh. Vì vậy, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em quy định trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp xã là phải tuyên truyền, “vận
động cha mẹ, người giám hộ tiến hành đăng ký khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn”.
      2. Trách nhiệm chăm sóc, nuôi dƣỡng
      Khoản 1 Điều 24 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Cha mẹ,
người giám hộ là người trước tiên chịu trách nhiệm về việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ
em, dành điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ em; khi gặp khó khăn tự mình
không giải quyết được, có thể yêu cầu và được cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để
thực hiện trách nhiệm của mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em”.
      2.1. Trách nhiệm của gia đình
      Mặc dù là chức năng tự nhiên của gia đình, nhưng Luật bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em quy định việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em là trách nhiệm trước tiên
của cha mẹ, người giám hộ. Quy định này nhằm đề cao vai trò của cha mẹ trong việc
chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em, khắc phục tình trạng coi nhẹ việc chăm sóc, nuôi
dưỡng trẻ em hoặc khắc phục tập quán chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em với tâm lý “có
gì, hưởng ấy”, làm ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất, tinh thần của trẻ em.
      Để cha mẹ thực hiện tốt chức năng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em thì công tác
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em phải đẩy mạnh tuyên truyền, vận động để cung
cấp kiến thức, kỹ năng trong việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em và làm thay đổi hành
vi của cha mẹ, đặc biệt đối với thanh niên trước khi xây dựng gia đình theo quan
niệm "Nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em của cha mẹ còn cao hơn quyền sinh ra
chúng".
       Gia đình là môi trường của sự phát triển và hạnh phúc của trẻ em, cha mẹ, các
thành viên trong gia đình là nhân tố quyết định và có trách nhiệm tạo ra môi trường
lành mạnh đó. Vì vậy, Khoản 2 Điều 24 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
quy định “Cha mẹ, người giám hộ, các thành viên lớn tuổi khác trong gia đình phải
gương mẫu về mọi mặt cho trẻ em noi theo; có trách nhiệm xây dựng gia đình no ấm,
bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, tạo môi trường lành mạnh cho sự phát triển toàn diện
của trẻ em”.
       Trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng con là bình đẳng giữa cha và mẹ. Song
trên thực tế vẫn có tình trạng một số trẻ em chỉ được cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi
dưỡng. Vì vậy, Khoản 4 Điều 24 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định
“Trong trường hợp ly hôn hoặc các trường hợp khác, người cha hoặc người mẹ

                                         40
không trực tiếp nuôi con chưa thành niên phải có nghĩa vụ đóng góp để nuôi dưỡng
con đến tuổi thành niên, có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục con theo quy định của
pháp luật”.
      2.2. Chăm lo chế độ dinh dƣỡng cho trẻ em
      Bảo đảm chế độ dinh dưỡng là rất quan trọng đối với con người, đặc biệt là trẻ
em đang trong giai đoạn phát triển thể lực, trí tuệ để trở thành người khoẻ mạnh,
cường tráng, thông minh. Vì vậy, Khoản 3 Điều 24 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em quy định “Cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm chăm lo chế độ dinh
dưỡng phù hợp với sự phát triển về thể chất, tinh thần của trẻ em theo từng lứa tuổi”.
       Nhiều quốc gia trên thế giới đã quy định chế độ dinh dưỡng đối với mỗi người
ở các lứa tuổi khác nhau, trong đó có chế độ dinh dưỡng bắt buộc đối với trẻ em. Đối
với nước ta, do đời sống nhân dân còn nghèo, tâm lý tiêu dùng lương thực, thực
phẩm chưa ổn định và tỷ lệ chế biến lương thực, thực phẩm còn thấp, nên việc cải
thiện dinh dưỡng còn dưới dạng phong trào thông qua tuyên truyền, vận động và
hướng dẫn sử dụng lương thực, thực phẩm phù hợp với từng địa phương để nâng
mức năng lượng ăn vào cơ thể con người. Mục tiêu phấn đấu là giảm tỷ lệ hộ có mức
năng lượng ăn vào bình quân đầu người dưới 1800 Kcal từ 15% năm 2000 xuống
dưới 5% vào năm 2010.
       Xuất phát từ điều kiện kinh tế xã hội thực tiễn của nước ta, từ điều kiện thực tế
của mỗi gia đình mà Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã kêu gọi các gia
đình là hãy dành điều kiện tốt nhất có thể có cho sự phát triển của trẻ em. Nhưng, khi
mà gia đình gặp khó khăn và khó bảo đảm được chế độ dinh dưỡng cho trẻ em thì có
thể yêu cầu và được cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện trách nhiệm của
mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em.
       Những yêu cầu về kiến thức và thực hành về dinh dưỡng, kiến thức làm mẹ,
kiến thức về phòng chống thiếu Vitamin A, các rối loạn do thiếu I-ốt, thiếu sắt, vệ
sinh an toàn thực phẩm; yêu cầu về hỗ trợ kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh, dịch
vụ, việc làm, tăng thu nhập cải thiện đời sống; yêu cầu trực tiếp được trợ cấp của Nhà
nước, hỗ trợ của những người hảo tâm để có điều kiện cải thiện chế độ dinh dưỡng
cho trẻ em. Thông qua các quy định của pháp luật và việc phê duyệt chiến lược quốc
gia về dinh dưỡng cho thấy sự quyết tâm của Nhà nước ta trong việc thực hiện mục
tiêu giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em và nâng cao thể chất về chiều cao, cân nặng,
sức bền của người Việt Nam.
      3. Trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em sống chung với cha mẹ
      Trẻ em còn non nớt và trong sáng, cần có sự yêu thương, hiểu biết, đáp ứng

                                           41
nhu cầu và được lớn lên trong sự che chở, chăm sóc, nuôi dưỡng của cha mẹ và gia
đình. Vì vậy, điều kiện tốt nhất của trẻ em là được sống chung với cha mẹ trong môi
trường gia đình lành mạnh. Khoản 1 Điều 25 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em quy định “Cha mẹ có trách nhiệm bảo đảm điều kiện để trẻ em được sống chung
với mình”.
       Tuy nhiên, trong thực tiễn cuộc sống, do nhiều nguyên nhân khác nhau: tình
trạng ly hôn của một số cặp vợ chồng, một bộ phận nhân dân rơi vào tệ nạn xã hội, vi
phạm pháp luật mà gia đình đã tước đi cái quyền đáng thương này của trẻ em. Mặt
khác, một số cha mẹ, người giám hộ còn để trẻ em rời khỏi gia đình đi lang thang
kiếm sống, đi làm việc xa gia đình làm cho trẻ em không được sống chung với gia
đình. Hậu quả của nhiều trẻ em không được sống chung với gia đình là bị thiệt thòi
không được tạo điều kiện để tiếp tục học tập, phát triển, không được chăm sóc sức
khoẻ và một số em bị ngược đãi, bị lừa gạt, dụ dỗ, ép buộc vào các tệ nạn xã hội và
quyền được sống chung với cha mẹ của trẻ em bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
      3.1. Trƣờng hợp cách ly trẻ em với cha mẹ
       Trong trường hợp cha mẹ, người giám hộ không thể hoặc không đủ khả năng
chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em phát triển tốt thì trẻ em cần được hưởng sự chăm sóc
nuôi dưỡng tốt hơn, thông qua việc làm con nuôi hoặc có gia đình thay thế. Tuy
nhiên, việc làm này phải hết sức thận trọng, nên Khoản 2 Điều 25 Luật bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trường hợp trẻ em được nhận làm con nuôi thì việc
giao, nhận trẻ em làm con nuôi, đưa trẻ em ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài vào
Việt Nam phải theo quy định của pháp luật”.
      3.2. Trách nhiệm bảo đảm lợi ích trẻ em khi phải cách ly cha mẹ
       Khoản 3 Điều 25 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trường
hợp trẻ em có cha, mẹ chấp hành hình phạt tù trong trại giam mà không còn nơi
nương tựa thì Uỷ ban nhân dân các cấp tổ chức việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em tại
gia đình thay thế hoặc tại cơ sở trợ giúp trẻ em”.
      4. Trách nhiệm bảo vệ tính mạng, nhân phẩm, danh dự
       Tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của mỗi người là thiêng liêng, bất
khả xâm phạm, là mục tiêu bảo vệ của pháp luật. Tuy nhiên, trẻ em còn non nớt,
chưa ý thức được hành vi của mình, tính phòng vệ chưa cao, nên trách nhiệm của
người lớn là hết sức quan trọng. Khoản 1 Điều 26 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em quy định “Gia đình, Nhà nước và xã hội có trách nhiệm bảo vệ tính mạng,
thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em; thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn
cho trẻ em”.

                                         42
       Việc bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em đã được gia
đình, nhà nước và xã hội thực hiện tốt, đã tạo được môi trường an toàn và lành mạnh
cho sự phát triển của trẻ em. Thậm chí, kể cả trường hợp trẻ em phạm tội thì quy định
của Bộ luật hình sự năm 1999 quy định cụ thể về độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình
sự và tính chất, mức độ của hành vi có thể không bị truy cứu hoặc giảm nhẹ đối với
trẻ em, cụ thể là "Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội
phạm" (khoản 1 Điều 12); "Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải
chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng" (khoản 2 Điều 12); "... không áp dụng tù chung thân đối với
người chưa thành niên phạm tội" (Điều 34).
        Tuy nhiên, trong thực tiễn cuộc sống thì việc bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân
phẩm, danh dự của trẻ em cần thường xuyên được chú trọng để thực hiện các biện
pháp phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em. Với quan niệm, trẻ em là "trẻ con",
"yêu cho roi cho vọt" đã dẫn tới cách xử sự mà trong điều kiện hiện nay được đánh
giá là thiếu tôn trọng nhân phẩm, danh dự của trẻ em. Với lối sống tùy tiện trong sinh
hoạt và trong những việc làm cụ thể có thể dẫn tới nguy cơ gây tai nạn về tính mạng,
nhân phẩm, danh dự của trẻ em.
      Mặc dù, hệ thống pháp luật đã có những quy định nhằm phòng ngừa tai nạn
nói chung và cho trẻ em nói riêng trong một số lĩnh vực về giao thông, xây dựng, sản
xuất và sử dụng hóa chất, thuốc trừ sâu ... Tuy nhiên, trong thực tiễn cuộc sống thì
còn nhiều vấn đề chưa quy định, nhưng quan trọng hơn vẫn là việc chưa chú trọng
thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn cho trẻ em ngay tại gia đình, nhà trường,
nơi cư trú và nhiều địa điểm khác. Vì vậy, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
quy định trách nhiệm của mọi gia đình và toàn xã hội là phải thực hiện các biện pháp
phòng ngừa tai nạn cho trẻ em.
       Quyền được bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em là bất
khả xâm phạm và được tổ chức thực hiện nghiêm minh nhằm bảo đảm môi trường an
toàn, lành mạnh cho sự phát triển của trẻ em và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Vì vậy, khoản 2 Điều 26 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy
định “Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em
đều bị xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật”.
      5. Trách nhiệm bảo vệ sức khoẻ
       Sức khoẻ là vốn quý nhất của con người, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, trong đó
có sức khoẻ trẻ em là một trong những vấn đề cơ bản của việc hình thành và phát
triển con người, có ý nghĩa chính trị, kinh tế, xã hội và nhân văn sâu sắc. Vì vậy,
Khoản 1 Điều 1 Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân năm 1989 quy định “Bảo vệ sức
                                          43
khoẻ là sự nghiệp của toàn dân. Tất cả công dân có nghĩa vụ thực hiện nghiêm chỉnh
những quy định của pháp luật về bảo vệ sức khoẻ nhân dân để giữ gìn sức khoẻ cho
mình và cho người khác”.
      5.1. Trách nhiệm của cha mẹ, ngƣời giám hộ
       Khoản 1 Điều 27 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Cha mẹ,
người giám hộ có trách nhiệm thực hiện những quy định về kiểm tra sức khoẻ, tiêm
chủng, khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em”. Quy định này khẳng định trách nhiệm
trước tiên thuộc về cha mẹ, người giám hộ và đòi hỏi cha mẹ, người giám hộ phải có
kiến thức, sự hiểu biết và thực hiện đầy đủ các hướng dẫn, quy định về phòng bệnh
và chữa bệnh cho trẻ em.
       Đối với trẻ em dưới sáu tuổi được cấp thẻ khám bệnh, chữa bệnh không phải
trả tiền tại các cơ sở y tế công lập thì cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm theo dõi
phát hiện sớm bệnh của trẻ em, đưa đi khám, chữa bệnh kịp thời, đúng địa điểm và
sử dụng thẻ khám chữa bệnh đúng mục đích.
      5.2. Trách nhiệm của cơ sở y tế
      Khoản 2 Điều 27 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Cơ sở y
tế công lập có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thực hiện việc chăm sóc sức khoẻ
ban đầu, phòng bệnh, chữa bệnh cho trẻ em”. Theo quy định của pháp luật, cơ sở y tế
công lập có trách nhiệm toàn diện trong việc hướng dẫn và tổ chức thực hiện các
hoạt động liên quan đến sức khỏe, đặc biệt là y tế cơ sở và y tế thôn bản.
      5.3. Trách nhiệm của địa phƣơng
       Trách nhiệm về quản lý thẻ khám bệnh, chữa bệnh là "Uỷ ban nhân dân cấp xã
có trách nhiệm thực hiện việc cấp, cấp lại, thu hồi thẻ khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ
em dưới sáu tuổi đúng đối tượng và báo cáo tình hình thực hiện theo hướng dẫn của
Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em".
      Trách nhiệm về lập dự toán ngân sách khám, chữa bệnh cho trẻ em dưới sáu
tuổi của các địa phương được quy định tại Điểm b Khoản 5 Điều 18 Nghị định số
36/2005/NĐ-CP, cụ thể là:
       Hàng năm, cùng thời gian quy định lập dự toán ngân sách Nhà nước, Uỷ ban
Dân số, Gia đình và Trẻ em cấp tỉnh có trách nhiệm thống kê số trẻ em dưới sáu tuổi
trên địa bàn gửi Sở Y tế để làm căn cứ lập dự toán ngân sách khám, chữa bệnh hàng
năm cho trẻ em dưới sáu tuổi.
      Sở Y tế chủ trì lập dự toán kinh phí khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới sáu
tuổi gửi Sở Tài chính để tổng hợp báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình cấp có

                                          44
thẩm quyền quyết định.
      Đối với các tỉnh khó khăn, ngân sách trung ương sẽ hỗ trợ theo quy định của
Luật Ngân sách Nhà nước để bảo đảm kinh phí khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em
dưới sáu tuổi.
       Căn cứ dự toán ngân sách khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới sáu tuổi
được giao, Sở Y tế có trách nhiệm phân bổ, thông báo cho các cơ sở y tế công lập
thuộc địa phương vào một khoản riêng gửi Sở Tài chính thẩm định theo quy định của
Luật Ngân sách nhà nước. Riêng đối với trạm y tế cấp xã, căn cứ vào thông báo kinh
phí của Sở Y tế cho Phòng Y tế cấp huyện; Phòng Y tế lập thông báo kinh phí khám
bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới sáu tuổi gửi Uỷ ban nhân dân cấp xã đồng thời gửi
trạm y tế cấp xã và Kho bạc Nhà nước nơi Uỷ ban nhân dân cấp xã giao dịch. Trong
quá trình thực hiện, Sở Y tế thực hiện điều chỉnh kinh phí giữa nơi thừa và nơi thiếu
để bảo đảm kịp thời kinh phí khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới sáu tuổi.
Trường hợp sau khi đã điều chỉnh mà còn thiếu, căn cứ đề nghị của Sở Tài chính và
Sở Y tế, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định sử dụng dự phòng ngân sách
địa phương và các nguồn tài chính hợp pháp khác theo chế độ quy định để bảo đảm
đủ và kịp thời kinh phí khám, chữa bệnh cho trẻ em dưới sáu tuổi".
      5.5. Trách nhiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo về y tế học đƣờng
      Trẻ em chủ yếu là đang trong độ tuổi ngồi trên ghế nhà trường, nên việc
phòng, chống các bệnh học đường cần được chú trọng. Khoản 3 Điều 27 Luật bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm tổ
chức y tế học đường. Bộ Y tế có trách nhiệm phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo
trong việc hướng dẫn thực hiện các biện pháp phòng tránh bệnh học đường và các
bệnh khác cho trẻ em”.
       Nội dung của công tác này là việc hướng dẫn trẻ em phòng chống các bệnh
học đường và quản lý sức khoẻ học sinh, trong đó có các nội dung về vệ sinh phòng
bệnh, tiêm chủng mở rộng, phòng chống cong vẹo cột sống, vệ sinh răng miêng, bảo
vệ thị lực, chăm sóc vệ sinh cá nhân và môi trường, phòng chống dịch bệnh, sơ cứu
tai nạn, ốm đau đột xuất...
      Một trong những nhiệm vụ y tế học đường là việc tổ chức phòng y tế tại cơ sở
giáo dục, bảo đảm có cán bộ chuyên môn và phương tiện sơ cứu kịp thời đối với các
bệnh thường xảy ra đối với học sinh, đồng thời làm nhiệm vụ chăm sóc ban đầu
trong việc hướng dẫn học sinh dọn vệ sinh bảo đảm môi trường trong sạch, không ô
nhiễm, thực hiện các biện pháp phòng bệnh, phòng dịch và quản lý sức khoẻ học
sinh.

                                         45
      5.6. Trách nhiệm của nhà nƣớc
      Nhà nước có vai trò quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ nhân dân
thông qua chính sách, pháp luật, chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển, chính
sách khuyến khích và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia và đặc biệt là bảo
đảm chi ngân sách cho sự nghiệp này. Khoản 4 Điều 27 Luật bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em quy định “Nhà nước có chính sách phát triển sự nghiệp y tế, đa dạng
hoá các loại hình dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; có chính sách miễn, giảm phí khám
bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng cho trẻ em; bảo đảm kinh phí khám bệnh,
chữa bệnh cho trẻ em dưới sáu tuổi”.
      Chính sách khám bệnh không phải trả tiền cho trẻ em dưới sáu tuổi đã được
quy định từ Luật năm 1991, nhưng do thiếu cơ chế trong việc quản lý, nên việc thực
hiện có nhiều hạn chế. Vì vậy, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định rõ
cơ chế tại Khoản 4 Điều 27, cụ thể là “Trong cân đối kế hoạch ngân sách hàng năm
của Bộ Y tế và của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chính
phủ dành riêng một khoản ngân sách để bảo đảm cho việc khám bệnh, chữa bệnh
không phải trả tiền cho trẻ em dưới sáu tuổi ở các cơ sở y tế công lập trung ương và
địa phương”.
      Mặc dù chủ trương chung của nước ta là hướng tới thực hiện bảo hiểm y tế
toàn dân, tuy nhiên trong giai đoạn này, việc khám bệnh, chữa bệnh theo phương
thức bảo hiểm y tế còn một số hạn chế, nên chính sách ưu tiên là khám bệnh, chữa
bệnh theo phương thức thực thanh, thực chi cho mọi trẻ em dưới sáu tuổi là một
chính sách hợp lý.
      Trên thực tế, một số trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo thì chi phí điều trị rất cao,
thậm chí một số bệnh phải đưa ra nước ngoài điều trị mới có hy vọng điều trị khỏi
bệnh. Để giải quyết được tình trạng này, đòi hỏi phải có sự ủng hộ từ thiện, nhân đạo
của nhiều người. Vì vậy, Khoản 5 Điều 27 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
quy định “Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân hoạt động nhân đạo, từ thiện ủng
hộ kinh phí chữa bệnh cho trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo”.
      6. Trách nhiệm bảo đảm quyền đƣợc học tập
      Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Nhà nước và của
toàn dân. Với ý nghĩa đó, pháp luật đã quy định "Mọi tổ chức, gia đình và công dân
đều có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi
trường giáo dục lành mạnh, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục …"
(Điều 11 Luật giáo dục năm 1998).
      6.1. Trách nhiệm của gia đình

                                         46
      Khoản 1 Điều 16 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Gia
đình, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em thực hiện quyền học tập; học hết
chương trình giáo dục phổ cập; tạo điều kiện cho trẻ em theo học ở trình độ cao
hơn”.
       Theo quy định, trách nhiệm trước tiên thuộc về gia đình mà trực tiếp là cha
mẹ, người giám hộ trong việc thực hiện ba nhiệm vụ cụ thể là bảo đảm điều kiện học
tập, học hết chương trình giáo dục phổ cập và điều kiện học ở trình độ cao hơn đối
với trẻ em.
       Trách nhiệm của gia đình trong việc bảo đảm điều kiện học tập của trẻ em
được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật như chăm sóc, nuôi dưỡng
(ăn, mặc, ở, đi lại cho trẻ em); xây dựng gia đình văn hoá (tinh thần thoải mái cho trẻ
em); các thành viên trong gia đình gương mẫu, giúp đỡ, hướng dẫn trẻ em học tập;
tạo điều kiện trực tiếp cho trẻ em học tập về bảo đảm thời gian học tập ở lớp và tự
học ở nhà, cung cấp đủ sách vở, dụng cụ học tập, bố trí góc học tập, đóng góp các
khoản chi phí học tập theo quy định và phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong việc
giúp đỡ việc học tập, tu dưỡng đạo đức của trẻ em.
       Bậc tiểu học là bắt buộc, đây là nghĩa vụ của mỗi công dân, cha mẹ, người
giám hộ có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em học hết chương trình giáo dục phổ cập.
Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát
triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản
để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.
       Tri thức là vô hạn, nên nhiệm vụ học, học nữa, học mãi luôn là nghĩa vụ của
công dân, đặc biệt là trẻ em để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta nhằm
tạo ra "một xã hội học tập". Vì vậy, gia đình với vai trò đặc biệt quan trọng phải có
trách nhiệm với khả năng cao nhất có thể được để tạo điều kiện cho trẻ em theo học
ở trình độ cao hơn. Việc học tập của trẻ em không chỉ học tập tri thức, kỹ năng mà cả
học tập thẩm mỹ, truyền thống, đạo đức, niềm tin và pháp luật thông qua giáo dục
nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
      6.2. Trách nhiệm của nhà trƣờng và các cơ sở giáo dục khác
      Khoản 2 Điều 28 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Nhà
trường và các cơ sở giáo dục khác có trách nhiệm thực hiện giáo dục toàn diện về
đạo đức, tri thức, thẩm mỹ, thể chất, giáo dục lao động hướng nghiệp cho trẻ em; chủ
động phối hợp chặt chẽ với gia đình và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục
trẻ em”.
ẩTong lĩnh vực giáo dục, nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường được quy định tại

                                          47
Điều 58 Luật giáo dục hiện hành (hợp nhất nội dung Luật giáo dục năm2005 và Luật
sửa đổi bổ sung một số điều của Luật giáo dục năm 2009), cụ thể là: “Tổ chức giảng
dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục,
xác nhận hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ theo thẩm quyền (khoản 1); “Tuyển dụng,
quản lý nhà giáo, cán bộ, nhân viên....” (khoản 2); “Tuyển sinh và quản lý người
học” (khoản 3); “Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp
luật” (khoản 4); „ Xây dụng cơ sở vật chất kỹ thuật theo Yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại
hóa “ ( khoản5); “Phối hợp với gia đình người học, tổ chức, cá nhân trong hoạt động
giáo dục" (khoản 6); “Tổ chức cho nhà giáo, cán bộ, nhân viên và người học tham
gia các hoạt động xã hội" (khoản 7); “Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy
định của pháp luật” (khoản 7).
      Khoản 3 Điều 28 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Cơ sở
giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông phải có điều kiện cần thiết về đội ngũ
giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học để bảo đảm chất lượng giáo dục”.
       Khoản 4 Điều 28 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Người
phụ trách đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh trong nhà trường phải được đào
tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, có sức khoẻ, phẩm chất đạo đức tốt, yêu
nghề, yêu trẻ, được tạo điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ”.
      6.3. Trách nhiệm của Nhà nƣớc
       Nhà nước có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển giáo dục thông qua
chính sách, pháp luật, chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển. Nhà nước giữ vai
trò chỉ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục, thực hiện đa dạng hoá các loại hình
giáo dục, khuyến khích và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự
nghiệp giáo dục, tạo cơ hội cho mọi người dân được tiếp cận với học tập năng cao
dân trí, chất lượng nguồn nhân lực. Nhà nước thực hiện chính sách tạo sự công bằng
xã hội trong giáo dục.
      Khoản 5 Điều 28 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Nhà
nước có chính sách phát triển giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông; chính sách
miễn, giảm học phí, cấp học bổng, trợ cấp xã hội để thực hiện công bằng xã hội trong
giáo dục”. Chính sách này có sự ưu tiên đối với các vùng miền, địa phương và đối
tượng có hoàn cảnh khó khăn theo quy định của pháp luật.
      7. Trách nhiệm bảo đảm quyền vui chơi, hoạt động văn hoá, thể thao
       Xây dựng đời sống văn hoá tinh thần, chăm lo, tạo điều kiện cho mọi trẻ em
được vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể
thao, du lịch là trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội, trong đó gia đình và

                                         48
cộng đồng có vị trí quan trọng hàng đầu; nhà trường, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ
Chí Minh, cơ quan văn hoá thông tin, cơ quan Thể dục Thể thao và cơ quan Dân số,
Gia đình và Trẻ em là lực lượng nòng cốt.
       Điều 17 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Trẻ em có quyền
được vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể
thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi".
      7.1. Trách nhiệm của gia đình
       Khoản 1 Điều 29 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Gia
đình, nhà trường và xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện để trẻ em được vui chơi, giải
trí, hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi”.
       Có thể nói, tất cả bản sắc văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc đều hàm
chứa trong nền tảng văn hoá gia đình. Vì vậy, trách nhiệm hàng đầu của gia đình là
giáo dục trẻ em giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Gia đình tạo điều kiện về vật chất và
thời gian để trẻ em được hưởng đời sống văn hoá tinh thần, được vui chơi, giải trí
lành mạnh, được hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với
hoàn cảnh gia đình, với năng lực, sở trường của trẻ em theo từng lứa tuổi. Bảo đảm
cho trẻ em được vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể
dục, thể thao phù hợp với từng lứa tuổi không những tạo cho trẻ em phát triển toàn
diện nhân cách mà còn giúp trẻ em tránh xa những tệ nạn xã hội.
      7.2. Trách nhiệm của cộng đồng
       Khoản 2 Điều 29 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Uỷ ban
nhân dân các cấp có trách nhiệm quy hoạch, đầu tư xây dựng điểm vui chơi, giải trí,
hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao cho trẻ em thuộc phạm vi địa
phương. Không được sử dụng cơ sở vật chất dành cho việc học tập, sinh hoạt, vui
chơi, giải trí của trẻ em vào mục đích khác làm ảnh hưởng đến lợi ích của trẻ em”.
       Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc đảm bảo quyền vui chơi,
hoạt động văn hoá, thể thao của trẻ em là toàn diện, song trách nhiệm phát triển các
thiết chế văn hoá, thể thao phục vụ đời sống văn hoá tinh thần của trẻ em được đặt
lên hàng đầu. Theo quy định, Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phát triển và
tổ chức hoạt động của điểm vui chơi cho trẻ em ở cơ sở để thực hiện chức năng chủ
yếu là hướng dẫn trẻ em tham gia các hoạt động văn hoá, thể thao và vui chơi, giải trí
nhằm mục đích giáo dục trí, đức, thể, mỹ cho trẻ em. Tổ chức các hoạt động văn hoá,
văn nghệ, các câu lạc bộ thể dục thể thao nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và sáng
tạo văn hoá, thể thao thông qua đó để giáo dục tình yêu gia đình, tổ quốc và phát hiện
năng khiếu trẻ em để đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện phục vụ các hoạt động văn hoá

                                          49
thể thao của địa phương.
       Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc quy hoạch, đầu tư phát
triển và chỉ đạo, quản lý các cung văn hoá, nhà văn hoá, nhà thiếu nhi, các sân vận
động, nhà thi đấu, sân bãi thể thao ngoài trời phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí, hoạt
động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao của trẻ em và đáp ứng nhu cầu đời sống văn
hoá, tinh thần của trẻ em. Đồng thời, Uỷ ban nhân dân các cấp tổ chức thực hiện
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển thư viện, bảo tàng, rạp hát, rạp chiếu
phim, rạp xiếc, nhà triển lãm, sân thể thao, công viên và các công trình văn hoá, thể
thao khác nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống văn hoá của nhân dân nói chung và trẻ em
nói riêng.
      7. 3. Trách nhiệm của các cơ sở văn hoá, thƣơng mại
       Trách nhiệm của các cơ sở văn hoá, thương mại được quy định trong các văn
bản quy phạm pháp luật liên quan. Tuy nhiên, trên thực tế thì sản phẩm văn hoá, đồ
chơi được sử dụng chung, nhưng có nội dung lại không phù hợp với từng lứa tuổi trẻ
em. Vì vậy, Khoản 4 Điều 29 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định
"Trên xuất bản phẩm, đồ chơi, chương trình phát thanh, truyền hình, nghệ thuật, điện
ảnh nếu có nội dung không phù hợp với trẻ em thì phải thông báo hoặc ghi rõ trẻ em
ở lứa tuổi nào không được sử dụng”.
      7. 4. Trách nhiệm của Nhà nƣớc
       Nhà nước có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển văn hoá thông tin,
thể dục thể thao thông qua chính sách, pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
phát triển, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia
phát triển sự nghiệp này. Khoản 3 Điều 29 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
quy định "Nhà nước có chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư, xây dựng
cơ sở vật chất phục vụ trẻ em vui chơi, giải trí”.
      8. Trách nhiệm bảo đảm quyền phát triển năng khiếu
       Khoản 1 Điều 30 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Gia
đình, nhà trường và xã hội có trách nhiệm phát hiện, khuyến khích, bồi dưỡng, phát
triển năng khiếu của trẻ em”. Theo quy định của pháp luật, trách nhiệm trước tiên
thuộc về gia đình, nhà trường trong việc phát hiện, khuyến khích; bồi dưỡng, phát
triển năng khiếu của trẻ em.
      Trong thực tế cuộc sống, việc tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát hiện,
khuyến khích, bồi dưỡng, phát triển năng khiếu của trẻ em được diễn ra đa dạng với
nhiều hình thức phong phú và trong nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội khác
nhau. Ngày nay, trẻ em có điều kiện thuận lợi nhất để thể hiện năng lực, sở trường
                                          50
của mình về học tập (năng khiếu về các môn học tự nhiên, xã hội, ngoại ngữ, tin học)
trong nhà trường, về văn hoá nghệ thuật (vẽ, nhạc, thơ, văn, diễn xuất) trong các nhà
văn hoá, nhà thiếu nhi, về thể thao trong các cơ sở tập luyện thể thao.
      Tuy nhiên, cơ chế để bồi dưỡng, phát triển năng khiếu của trẻ em để chuyển
năng khiếu, sở trường thành tài năng còn nhiều hạn chế, thậm trí việc bồi dưỡng
năng khiếu còn tràn lan như lớp chuyên, lớp chọn ở tất cả các các trường phổ thông
còn làm cho học sinh trở thành người học lệch, thiếu toàn diện về những kiến thức cơ
bản. Việc bồi dưỡng, phát triển năng khiếu trong từng lĩnh vực cụ thể chưa theo
chiến lược lâu dài, chỉ phục vụ nhu cầu trước mắt phục vụ cho các cuộc thi của cơ sở
ngành hoặc địa phương.
      Khoản 2 Điều 30 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Nhà
nước khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia bồi dưỡng, phát triển năng khiếu của
trẻ em; tạo điều kiện cho nhà văn hoá thiếu nhi, nhà trường và tổ chức, cá nhân thực
hiện việc bồi dưỡng, phát triển năng khiếu của trẻ em”. Quy định này nhằm khẳng
định chính sách của Nhà nước trong việc tạo điều kiện cho nhà trường và tạo điều
kiện cho nhà văn hoá thiếu nhi, nhà thiếu nhi, các cơ sở tập luyện thể thao tham gia
bồi dưỡng, phát triển năng khiếu của trẻ em.
      9. Trách nhiệm bảo đảm quyền dân sự
       Bảo vệ quyền dân sự được quy định tại Khoản 1 Điều 9 Bộ luật dân sự năm
2005, theo đó "Tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác
được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ". Tuy nhiên, trẻ em là người chưa thành
niên, nên Khoản 1 Điều 31 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Cha
mẹ, người giám hộ có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em; đại
diện cho trẻ em trong các giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật”.
      Trách nhiệm của cha mẹ cũng được quy định tại Điều 39 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000 "Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên,
con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác
làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật"
      Khoản 2 Điều 65 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định nghĩa vụ của người giám
hộ đối với người được giám hộ chưa đủ mười lăm tuổi như sau: "Đại diện cho người
được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định người
chưa đủ mười lăm tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự".
      Khoản 2 Điều 31 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Cha mẹ,
người giám hộ hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan phải giữ gìn, quản lý tài sản của trẻ
em và giao lại cho trẻ em theo quy định của pháp luật”. Theo quy định, trách nhiệm

                                         51
trước tiên thuộc về cha mẹ và vì lợi ích của trẻ em. Đồng thời Bộ luật dân sự năm
2005 cũng quy định việc sử dụng tài sản của trẻ em phục vụ nhu cầu thiết yếu của trẻ
em.
       Các quy định của pháp luật đã quy định trách nhiệm giữ gìn, quản lý, định
đoạt tài sản riêng của trẻ em và giao lại cho trẻ em. Khoản 1 Điều 46 Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000 quy định "Trong trường hợp cha mẹ quản lý tài sản riêng của
con dưới 15 tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lời ích của con; có tính đến
nguyện vọng của con, nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên".
       Khoản 3 Điều 31 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Trường
hợp trẻ em gây ra thiệt hại cho người khác thì cha mẹ, người giám hộ phải bồi
thường thiệt hại do hành vi của trẻ em đó gây ra theo quy định của pháp luật”. Theo
quy định, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do trẻ em gây ra thuộc về cha mẹ, người
giám hộ. Trường học, bệnh viện, các tổ chức khác nếu có lỗi trong việc quản lý thì
phải liên đới cùng với cha mẹ, người giám hộ bồi thường thiệt hại do người chưa đủ
mười lăm tuổi gây ra cho người khác trong thời gian trường học, bệnh viện, các tổ
chức khác trực tiếp quản lý những người đó.
      Việc bồi thường thiệt hại do hành vi của trẻ em gây ra, đã được Bộ luật dân sự
năm 2005 quy định tại Khoản 2 Điều 606 (Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường của
cá nhân) như sau: “Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn
cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không
đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản
đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 621 của Bộ luật
này.
      Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại, thì phải
bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường, thì cha, mẹ
phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình".
      Khoản 3 Điều 606 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định "Người chưa thành niên,
người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại và có người giám hộ, thì người giám
hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được
giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường, thì người giám hộ
phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình
không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường”.
      10. Trách nhiệm bảo đảm quyền đƣợc tham gia
      Khoản 1 Điều 32 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Gia
đình, Nhà nước và xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện, giúp đỡ trẻ em được tiếp cận

                                          52
thông tin phù hợp, được phát triển tư duy sáng tạo và bày tỏ nguyện vọng; có trách
nhiệm lắng nghe và giải quyết nguyện vọng chính đáng của trẻ em”.
       Trong xã hội hiện đại, với sự bùng nổ thông tin thì có rất nhiều nguồn thông
tin và nội dung thông tin đáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng ở các lứa tuổi. Vì vậy,
trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội là bảo đảm cơ hội để trẻ em tiếp cận
được các nguồn thông tin, nhưng đồng thời phải định hướng, giúp đỡ trẻ em tiếp cận
những thông tin phù hợp với lứa tuổi, với năng lực, sở trường để trẻ em tiếp thu
những kiến thức, kỹ năng, những tiến bộ của khoa học công nghệ và những lối sống,
niềm tin, thẩm mỹ, truyền thống, đạo đức. Đặc biệt chú ý tâm lý của trẻ em là rất tò
mò, ham hiểu biết, rất thích thú với cái mới và khám phá cái mới để định hướng cho
trẻ em tập trung vào những thông tin phù hợp với sự phát triển tư duy sáng tạo, tránh
sự tản mạn và thậm trí cấm trẻ em tiếp cận với những thông tin gây ảnh hưởng đến sự
hình thành nhân cách tốt đẹp của trẻ em.
      Để thực hiện trách nhiệm bảo đảm quyền tham gia ý kiến, bày tỏ nguyện vọng
về những vấn đề trẻ em quan tâm đòi hỏi người lớn phải thực sự tôn trọng quyền của
trẻ em một cách nghiêm túc, phải nâng cao khả năng, xây dựng cơ chế và tổ chức
bằng các hình thức thích hợp để trẻ em nói lên ý kiến của mình vào việc xây dựng,
thực hiện và đánh giá các hoạt động nhằm giải quyết các mối quan tâm của trẻ em,
phải chú ý lắng nghe và giải quyết nguyện vọng chính đáng của trẻ em. Cách tiếp cận
này còn là vấn đề mới đối với nước ta, đòi hỏi các cơ quan, tổ chức thực hiện việc
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, các cơ quan khoa học có trách nhiệm nghiên
cứu các mô hình tiếp cận thích hợp có hiệu quả để áp dụng trong thực tế.
       Khoản 2 Điều 32 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định trách
nhiệm của Đoàn thanh niên và nhà trường, nơi gắn liền thường xuyên các hoạt động
của trẻ em, cụ thể là “Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, nhà trường có trách
nhiệm tổ chức cho trẻ em tham gia các hoạt động xã hội và sinh hoạt tập thể phù hợp
với nhu cầu và lứa tuổi”.
      11. Trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức
       bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó
trách nhiệm của gia đình được đặt lên hàng đầu, trách nhiệm của các cơ quan, tổ
chức chiếm vị trí quan trọng. Cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về phát triển
kinh tế - xã hội, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và bảo đảm việc thực hiện đầy
đủ quyền của trẻ em.
       Điều 33 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trong phạm vi

                                         53
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm: Tuyên truyền, vận
động, giáo dục về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (Khoản 1); Phát triển phúc lợi
xã hội cho trẻ em, tạo cơ hội thuận lợi để trẻ em thực hiện quyền, bổn phận và phát
triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức (Khoản 2); Cung cấp dịch vụ
chăm sóc, trợ giúp trẻ em (Khoản 3).
       Theo quy định, cơ quan tổ chức không những có trách nhiệm trong việc
BVCSGD trẻ em đối với trẻ em là con em của các thành viên trong cơ quan mình,
trong việc phối hợp với gia đình để bảo đảm việc thực hiện quyền trẻ em mà còn có
trách nhiệm to lớn trong việc tuyên truyền, vận động nhằm tạo nên phong trào của
toàn xã hội, trong việc phát triển phúc lợi xã hội cho trẻ em để tạo được những cơ hội
bình đẳng cho mọi trẻ em có khả năng thực hiện các quyền cơ bản và phát triển toàn
diện, trong việc tham gia cung cấp các dịch vụ chăm sóc, trợ giúp trẻ em, bảo đảm về
số lượng và chất lượng của các dịch vụ đó. Tuy nhiên, mỗi cơ quan, tổ chức có trách
nhiệm thực hiện một, hai hoặc cả ba nhiệm vụ, tuỳ theo phạm vi chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của mình.
      12. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
      Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận trong hệ thống chính trị, có tiếng
nói rộng rãi trong quần chúng nhân dân. Với sự phát triển đa dạng các hình thức hoạt
động. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam, động
viên được mọi nguồn lực để xây dựng và phát triển đất nước. Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam đã phát huy tính tích cực của các cá nhân, cơ quan, tổ chức để vận động nhân
dân thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước. Chính vì vậy,
sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên sẽ phát động
quần chúng tham gia các phong trào vì trẻ em, huy động được sức mạnh tổng hợp
của toàn xã hội làm công BVCSGD trẻ em.
      Để nâng cao hơn nữa vai trò và phát huy tính tích cực của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức thành viên trong sự nghiệp BVCSGD trẻ em, Khoản 1 Điều
34 Luật BVCSGD trẻ em quy định trách nhiệm của các tổ chức này, cụ thể là:
“Tuyên truyền, giáo dục đoàn viên, hội viên và nhân dân chấp hành tốt pháp luật về
trẻ em” (Điểm a); “Vận động gia đình, xã hội thực hiện tốt việc bảo vệ, chăm sóc,
giáo dục trẻ em” (Điểm b); “Chăm lo quyền lợi của trẻ em, giám sát việc chấp hành
pháp luật về trẻ em, đưa ra những kiến nghị cần thiết đối với các cơ quan nhà nước
hữu quan để thực hiện những nhiệm vụ đó; ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền, lợi
ích hợp pháp của trẻ em” (Điểm c).
     Cùng với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thì hội viên Hội liên hiệp phụ nữ Việt
Nam cũng đóng vai trò rất quan trọng trong công tác BVCSGD trẻ em. Để phát huy
                                          54
vai trò tích cực của Hội liên hiệp phụ nữ, Khoản 2 Điều 34 Luật bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em quy định “Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, ngoài việc thực hiện các
quy định tại khoản 1 điều này, có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức hữu
quan để tổ chức, hướng dẫn việc nuôi con khoẻ, dạy con ngoan”.
      Trên thực tế, bằng nhiều phong trào vận động trong nhân dân, Hội liên hiệp
phụ nữ các cấp đã thể hiện được vai trò quan trọng trong công tác BVCSGD trẻ em.
Xác định vai trò quan trọng của gia đình, của người mẹ đối với việc nuôi dưỡng,
chăm sóc và giáo dục trẻ em, các cấp Hội đã thường xuyên tuyên truyền, giáo dục
cho phụ nữ kiến thức, kỹ năng chăm sóc, nuôi dạy trẻ em, tổ chức thăm hỏi, giúp đỡ
những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đỡ đầu, nhận nuôi trẻ em mồ côi, chia sẻ, hoà
đồng với những gia đình có con tàn tật, có con bị di chứng của chất độc màu da cam,
giúp các cháu vượt lên trên mặc cảm, thiệt thòi, hoà nhập cộng đồng.
      Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh với vai trò tổ chức hướng dẫn trực
tiếp hoạt động của thiếu niên, nhi đồng có trách nhiệm quan trọng trong công tác
BVCSGD trẻ em. Khoản 3 Điều 34 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy
định “Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, ngoài việc thực hiện các quy định tại
khoản 1 Điều này, có trách nhiệm tổ chức, hướng dẫn hoạt động của thiếu niên, nhi
đồng; phụ trách Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh”.
      13. Trách nhiệm của cơ quan thông tin tuyên truyền
      Khoản 1 Điều 35 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định trách
nhiệm của cơ quan thông tin tuyên truyền trong công tác BVCSGD trẻ em, cụ thể là:
"Tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách của Đảng pháp luật của Nhà nước về
bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em”.
      Cơ quan thông tin tuyên truyền có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước,
đồng thời góp phần hình thành dư luận xã hội ủng hộ quan niệm mới trong việc thực
hiện quyền trẻ em, đẩy mạnh các phong trào hoạt động của trẻ em cũng như khuyến
khích, động viên sự tham gia của toàn xã hội vào công tác BVCSGD trẻ em.
       Khoản 2 Điều 35 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục quy định trách nhiệm của
cơ quan thông tin tuyên truyền là “Giới thiệu mô hình, điển hình tiên tiến, người tốt,
việc tốt trong công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; phát hiện, phê phán hành
vi vi phạm quyền của trẻ em, trẻ em vi phạm những việc không được làm”.
      Trong những năm qua, nhiều phong trào vui chơi giải trí, chăm sóc sức khoẻ
dành cho trẻ em đã được các cơ quan thông tin tuyên truyền quan tâm, đầu tư thích
đáng. Nhiều báo, đài phát thanh, truyền hình đã thành lập Quỹ vì trẻ em nghèo, Quỹ

                                          55
trợ giúp trẻ em nhiễm chất độc màu da cam, là tiếng nói kêu gọi lòng hảo tâm và sự
quyên góp của đồng bào trong và ngoài nước cho những trẻ em có HCĐB. Đồng
thời, các cơ quan thông tin tuyên truyền đã đóng góp tiếng nói lên án mạnh mẽ
những hành vi xâm hại trẻ em, những trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện
không đầy đủ quyền của trẻ em.
      14. Trách nhiệm của cơ quan bảo vệ pháp luật
       Khoản 1 Điều 36 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định trách
nhiệm của các cơ quan bảo vệ pháp luật là ”Thực hiện hoặc phối hợp với các cơ
quan, tổ chức hữu quan thực hiện việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em; chủ
động phòng ngừa, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp
luật về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em”.
        Do còn có những khó khăn về điều kiện kinh tế - xã hội, nước ta lại chịu nhiều
hậu quả nặng nề của chiến tranh và những vấn đề nảy sinh của mặt trái cơ chế thị
trường nên đã tác động tiêu cực đến sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
Nhiều trẻ em bị bỏ mặc, thiếu sự chăm sóc, giáo dục của cha mẹ, trẻ em không có
điều kiện để được đi học dẫn đến đi lang thang kiếm sống, dễ bị lợi dụng, bị xâm hại,
bị lôi kéo vào con đường phạm pháp. Hiện tượng trẻ em bị lôi kéo vào nghiện hút, hư
hỏng, vi phạm pháp luật... chưa có chiều hướng giảm. Vì vậy, cơ quan bảo vệ pháp
luật có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em và chủ động phòng
ngừa, ngăn chăn, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật.
      Khoản 2 Điều 36 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định trách
nhiệm của cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc “Phối hợp với gia đình, nhà trường và
xã hội để giáo dục đối với những trẻ em có hành vi vi phạm pháp luật”.
       Khoản 3 Điêu 36 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Việc xử
lý trẻ em có hành vi vi phạm pháp luật chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ để trẻ em
nhận thấy sai lầm, sửa chữa sai lầm và tiến bộ”. Quy định này xuất phát từ nguyên
tắc cơ bản của hệ thống pháp luật nước ta lấy việc giáo dục là chủ yếu để người phạm
tội nhận thấy sai lầm, sửa chữa sai lầm và tiến bộ, trở thành công dân có ích cho xã
hội. Quy định này có ý nghĩa đối với trẻ em, người chưa đủ năng lực hành vi dân sự,
người đang trong quá trình phát triển và thời gian sống còn rất dài, các em còn có đủ
thời gian để làm lại cuộc đời thông qua rèn luyện, phấn đấu sửa chữa sai lầm và tiến
bộ.
      15. Trách nhiệm của Nhà nƣớc
     Khoản 1 Điều 37 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Nhà
nước có chính sách đầu tư, thực hiện xã hội hoá, mở rộng hợp tác quốc tế để phát

                                          56
triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em”. Quy định này thể hiện trách
nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm toàn diện các cơ hội để trẻ em thực hiện các
quyền về sức khoẻ, học tập, vui chơi, văn hoá, thể thao.
        Nhà nước đã ban hành văn bản pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho cơ quan, tổ
chức thực hiện các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Nhà nước cũng ban
hành các chiến lược, chương trình, kế hoạch về BVCSGD trẻ em, các chính sách đầu
tư, thực hiện xã hội hoá, mở rộng hợp tác quốc tế để huy động các nguồn lực đầu tư
cho các mục tiêu trẻ em, kể cả nguồn ngân sách của Trung ương, địa phương, nguồn
vận động quốc tế và vận động gia đình, xã hội. Nhà nước cũng tăng cường đầu tư cho
trẻ em thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, chương trình hành động
vì trẻ em ở cấp quốc gia cũng như ở từng địa phương, các chương trình xóa đói giảm
nghèo, vay vốn tạo việc làm, cứu trợ xã hội, nước sạch, vệ sinh môi trường, phổ cập
giáo dục tiểu học...
       Khoản 2 Điều 37 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Nhà
nước có chính sách tạo điều kiện cho trẻ em là con thương binh, liệt sĩ, người có
công, trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em của hộ nghèo, trẻ em cư trú ở vùng có điều kiện
kinh tế xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được
hưởng các quyền của trẻ em; có chính sách hỗ trợ gia đình thực hiện trách nhiệm bảo
vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em”.
      Các chính sách hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước nhằm tạo điều kiện cho một số
nhóm đối tượng trẻ em có những yếu thế về vật chất để có thể được thực hiện các
quyền như những trẻ em bình thường khác. Chính sách thể hiện sự nhân đạo và thể
hiện sự bình đẳng của trẻ em trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hoá văn nghệ.
      Khoản 3 Điều 37 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Uỷ ban
nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức cho trẻ em của các gia đình chưa có hộ khẩu
thường trú được đăng ký khai sinh, học tập và chăm sóc sức khoẻ tại nơi mà cha mẹ
đang làm việc sinh sống”. Quy định này nhằm khắc phục tình trạng bất cập hiện nay
trong việc quản lý dân cư làm hạn chế việc thực hiện quyền của trẻ em. Xã hội ngày
càng phát triển thì cường độ di dân càng lớn, do đó phải có những biện pháp tích cực
để bảo đảm cho trẻ em di cư được khai sinh, học tập, chăm sóc sức khoẻ, không vì lý
do nào mà cản trở các quyền này của trẻ em.
      Khoản 3 Điều 37 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Uỷ ban
nhân dân các cấp có trách nhiệm phát triển mạng lưới trường học, cơ sở y tế, nhà văn
hoá, cơ sở thể thao, điểm vui chơi, giải trí cho trẻ em; khuyến khích tổ chức, cá nhân
thành lập cơ sở tư vấn cho trẻ em, cha mẹ, người giám hộ và nhân dân về việc bảo vệ,
chăm sóc, giáo dục trẻ em”. Trách nhiệm của tổ chức thực hiện kinh tế xã hội nói
                                          57
chung và sự nghiệp BVCSGD trẻ em thuộc về Uỷ ban nhân dân các cấp bảo đảm
quản lý và tổ chức thực hiện sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao trên địa bàn.
      16. Bảo trợ các hoạt động vì trẻ em
      Điều 38 bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định về việc bảo trợ các hoạt
động về sự nghiệp BVCSGD trẻ em, cụ thể là “Nhà nước bảo trợ các công trình khoa
học và công nghệ, các tác phẩm văn học, nghệ thuật, mọi sáng kiến, việc làm có lợi
cho sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; khuyến khích các tổ chức thuộc
các thành phần kinh tế dành một phần quỹ phúc lợi hoặc lợi nhuận vào việc bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em.
      17. Quỹ bảo trợ trẻ em
      Khoản 1 Điều 39 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định về mục
đích hoạt động của Quỹ bảo trợ trẻ em là “Quỹ bảo trợ trẻ em được thành lập nhằm
mục đích vận động sự đóng góp tự nguyện của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở trong
nước và nước ngoài, viện trợ quốc tế và hỗ trợ của ngân sách Nhà nước cho sự
nghiệp bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em”.
      Khoản 2 Điều 39 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Việc
huy động, quản lý và sử dụng Quỹ bảo trợ trẻ em phải đúng mục đích, theo chế độ tài
chính hiện hành của Nhà nước”. Đây là quy định có tính nguyên tắc trong việc huy
động, quản lý và sử dụng Quỹ Bảo trợ trẻ em.


    IV. BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH
ĐẶC BIỆT
       Đến nay, tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (HCĐB) tiếp tục có diễn biến
phức tạp, vẫn còn nhiều nguy cơ đẩy trẻ em rơi vào HCĐB. Trên thực tế, trẻ em có
HCĐB chưa thật sự được quan tâm, trợ giúp của toàn xã hội, chủ yếu mới dựa vào sự
trợ giúp của Nhà nước thông qua một số trung tâm bảo trợ xã hội, cơ sở giáo dục
chuyên biệt. Công tác truyền thông, vận động xã hội chưa đi vào chiều sâu, chưa
cung cấp đầy đủ các kiến thức, biện pháp phòng ngừa và kỹ năng sống cho các nhóm
đối tượng để có định hướng giá trị đúng đắn, có cách ứng xử giải quyết hợp lý các
trường hợp gặp phải. Dịch vụ trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt vừa thiếu về số
lượng, không bảo đảm được cơ cấu và yếu tố về chất lượng, chưa đủ điều kiện thực
hiện các biện pháp phòng ngừa, điều trị, giải quyết, phục hồi cho trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt. Quản lý công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt còn phân tán, chưa phù hợp với từng nhóm đối tượng cụ thể và chưa đủ cơ
sở pháp lý để định hướng cho các cơ sở trợ giúp trẻ em hoạt động phục vụ vì lợi ích
                                          58
tốt nhất của trẻ em.
       Vì vậy, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã bổ sung Chương IV "Bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt" nhằm tập trung các quy định
về chính sách đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, việc thành lập và hoạt động của
cơ sở trợ giúp trẻ em, các biện pháp trợ giúp đối với từng đối tượng trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt. Những quy định nhằm đề cao trách nhiệm của toàn xã hội trong việc
quan tâm, giúp đỡ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; khuyến khích các hoạt động từ
thiện, nhân đạo, mở rộng cơ sở trợ giúp trẻ em, tạo cơ hội để trẻ em có HCĐB giảm
nhẹ tổn thương về thể chất hoặc tinh thần, được phục hồi sức khoẻ, tinh thần và giáo
dục đạo đức, được phát triển và sớm hoà nhập với gia đình, cộng đồng và được
hưởng các quyền của mình như mọi trẻ em khác.
       Những quy định tại Chương VI đã tạo cơ sở quan trọng trong việc hoạch định,
cụ thể hoá các chính sách, biện pháp BVCSGD cho từng đối tượng trẻ em có HCĐB.
Các quy định này thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc trợ giúp
trẻ em có HCĐB, tạo cơ sở pháp lý để huy động toàn xã hội và phát huy truyền thống
của dân tộc ta trong việc phòng ngừa, giải quyết và trợ giúp trẻ em có HCĐB. Đồng
thời, các quy định trong chương này còn định hướng cho việc thành lập và hoạt động
của các cơ sở trợ giúp trẻ em, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham
gia thành lập và tổ chức các hoạt động trợ giúp trẻ em vì mục đích nhân đạo, lợi ích
tốt nhất của trẻ em theo quy định của pháp luật về trẻ em, tăng cường kỷ cương quản
lý nhà nước, xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân lợi dụng việc thành lập cơ sở trợ giúp trẻ
em để trục lợi.
      1. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
      “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về
thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà nhập
với gia đình, cộng đồng (Khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em).
        Căn cứ theo đặc điểm, tính chất của từng HCĐB, Điều 40 Luật bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em chia thành 10 nhóm đối tượng, cụ thể là “Trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt bao gồm trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết
tật, tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em
phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải làm việc
xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma tuý; trẻ
em vi phạm pháp luật”.
      Trẻ em có HCĐB được phân chia thành các đối tượng khác nhau nhằm tạo cơ
sở cho việc hoạch định chính sách, biện pháp trợ giúp thích hợp với từng hoàn cảnh,

                                         59
từng đối tượng trẻ em có HCĐB. Mỗi biện pháp trợ giúp về tuyên truyền, vận động
và tư vấn, mỗi biện pháp cung cấp các dịch vụ trợ giúp đều phải căn cứ vào từng
trường hợp HCĐB cụ thể của trẻ em, vào tâm sinh lý theo từng lứa tuổi trẻ em và vào
môi trường tự nhiên và xã hội, để tạo cơ hội giải quyết, giảm nhẹ HCĐB của trẻ em
trong thời gian ngắn nhất và sớm hoà nhập với gia đình, cộng đồng để trẻ em trở
thành công dân có ích cho xã hội.
      2. Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
      Mục tiêu tổng quát của công tác BVCSGD trẻ em có HCĐB là nâng cao nhận
thức và hành động của toàn xã hội nhằm hạn chế tối đa tình trạng trẻ em rơi vào
HCĐB, khuyến khích toàn xã hội tham gia trợ giúp trẻ em có HCĐB bằng nhiều
hình thức đa dạng, phong phú để kịp thời giải quyết, giảm nhẹ tổn thương và phục
hồi sức khoẻ, tinh thần, giáo dục đạo đức, tạo cơ hội để trẻ em hoà nhập gia đình,
cộng đồng, được phát triển toàn diện, có cuộc sống tốt đẹp hơn.
     2.1. Nguyên tắc của công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt
       Khoản 1 Điều 41 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trong
công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em phải coi trọng việc phòng ngừa, ngăn
chặn trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt; kịp thời giải quyết, giảm nhẹ hoàn cảnh đặc
biệt của trẻ em; kiên trì trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt phục hồi sức khoẻ, tinh
thần và giáo dục đạo đức; phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi để trẻ em
rơi vào hoàn cảnh đặc biệt".
       Theo quy định 4 nguyên tắc của công tác BVCSGD trẻ em có HCĐB phải
được mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân quán triệt có trách niệm thực hiện trong mọi hoạt
động của mình, từ giai đoạn hoạch định chính sách, chiến lược, chương trình, kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội đến giai đoạn tổ chức thực hiện trên thực tiễn. Thực
hiện tốt 4 nguyên tắc của công tác BVCSGD trẻ em có HCĐB là yếu tố bảo đảm môi
trường lành mạnh, bảo đảm thực hiện mục tiêu đề ra.
      1. "Coi trọng việc phòng ngừa, ngăn chặn trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt"
thông qua việc đẩy mạnh tuyên truyền, vận động xã hội và tư vấn cho cha mẹ, người
giám hộ và trẻ em về các kiến thức để chủ động đề phòng, thường xuyên nhắc nhở
kiểm tra cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các biện pháp bảo vệ tại những nơi có
nguy cơ đẩy trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, gây tai nạn về thể chất, tinh thần của
trẻ em.
      2. "Kịp thời giải quyết, giảm nhẹ hoàn cảnh đặc biệt của trẻ em" mỗi khi có trẻ
em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt thông qua các dịch vụ trợ giúp trong việc chữa trị tổn

                                          60
thương về sức khoẻ, động viên về tinh thần và giải quyết các vấn đề liên quan nhằm
hạn chế những những thiệt hại hoặc hậu quả có thể xảy ra.
       3. "Kiên trì trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt phục hồi sức khoẻ, tinh thần
và giáo dục đạo đức" nhằm giúp trẻ em trở lại cuộc sống bình thường, hoà nhập với
gia đình, cộng đồng. Đặc biệt chú ý mở rộng và nâng cao chất lượng các dịch vụ trợ
giúp phục hồi chức năng, phục hồi sức khoẻ của trẻ em bị tàn tật, khuyết tật và giáo
dục đạo đức đối với trẻ em vi phạm pháp luật.
       4. "Phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi để trẻ em rơi vào hoàn
cảnh đặc biệt nhằm giữ gìn kỷ cương pháp luật, đạo đức truyền thống tốt đẹp và xử
lý kẻ phạm tội để làm gương cho người khác.
      2.2. Phƣơng châm thực hiện chăm sóc, nuôi dƣỡng trẻ em có HCĐB
       Khoản 2 Điều 41 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Việc
chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được thực hiện chủ yếu tại gia
đình hoặc gia đình thay thế. Việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
tại cơ sở trợ giúp trẻ em chỉ áp dụng cho những trẻ em không được chăm sóc, nuôi
dưỡng tại gia đình hoặc gia đình thay thế".
       Theo quy định, phương châm thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có
HCĐB được xuất phát từ cơ sở nền tảng là gia đình, là tổ ấm, là môi trường tốt nhất
của trẻ em. Tuy nhiên, lấy cơ sở là gia đình hoặc gia đình thay thế, đòi hỏi phải thay
đổi phương thức cung cấp dịch vụ trợ giúp, đưa dịch vụ trợ giúp về gia đình và cộng
đồng để phục vụ trẻ em. Sự tập trung hoá dịch vụ trợ giúp vừa làm tỷ lệ trẻ em được
phục vụ chiếm rất thấp, vừa không hiệu quả và thậm chí trong một số trường hợp còn
làm tổn hại đến lợi ích của trẻ em.
       Đồng thời, trong số đông trẻ em có HCĐB do bị tổn thương về thể chất và tinh
thần nên có nhiều hạn chế trong việc thực hiện quyền được học tập. Vì vậy, Khoản 3
Điều 41 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định về phương châm thực
hiện việc học tập của trẻ em, cụ thể là "Tạo điều kiện cho trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt được học tập hoà nhập hoặc được học tập ở cơ sở giáo dục chuyên biệt".
      2.3. Trách nhiệm của cơ quan dân số, gia đình và trẻ em ở cơ sở
       Điều 20 Nghị định số 36/2005/NĐ-CP quy định trách nhiệm của cơ quan dân
số, gia đình và trẻ em cấp xã trong việc phối hợp với cơ quan Lao động - Thương
binh và Xã hội, các cơ quan, tổ chức có liên quan giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã tổ
chức thực hiện công tác BVCSGD trẻ em có HCĐB trên địa bàn, cụ thể là:
      "Cùng với gia đình, gia đình thay thế, cơ sở trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc

                                          61
biệt lập sổ theo dõi diễn biến của từng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt" (Khoản 1 Điều
20 Nghị định số 36/2005/NĐ-CP).
       "Vận động cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân nhận trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt không nơi nương tựa, không còn nguồn nuôi dưỡng làm con nuôi, nhận đỡ đầu
hoặc nhận làm gia đình thay thế. Trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt không
được chăm sóc, nuôi dưỡng tại gia đình, gia đình thay thế thì lập hồ sơ và gửi trẻ em
đó đến cơ sở trợ giúp trẻ em" (Khoản 2 Điều 20 Nghị định số 36/2005/NĐ-CP).
       "Tổ chức việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn trẻ em rơi vào
hoàn cảnh đặc biệt; phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc
điều tra, phát hiện, xử lý hành vi để trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, các hành vi vi
phạm quyền trẻ em theo quy định của pháp luật" (Khoản 4 Điều 20 Nghị định số
36/2005/NĐ-CP).
      2.4. Quản lý công tác BVCSGD trẻ em có HCĐB
       Việc tổ chức thực hiện công tác BVCSGD trẻ em có HCĐB là nhiệm vụ của
các cấp, các ngành, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội nhằm phòng ngừa, ngăn
chặn, giải quyết, giảm nhẹ HCĐB của trẻ em, phục hồi sức khoẻ, tinh thần và giáo
dục đạo đức, phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm quyền trẻ em. Việc quản
lý công tác BVCSGD trẻ em có HCĐB được căn cứ theo ngành, lĩnh vực kinh tế - xã
hội và được căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các ngành, lĩnh vực. Tuy
nhiên, việc quản lý phân tán này đã tỏ ra bất cập, thiếu sự phối hợp giữa các ngành,
các cấp trong việc BVCSGD trẻ em có HCĐB, làm hạn chế kết quả thực hiện mục
tiêu. Vì vậy, Điều 21 Luật BVCSGD trẻ em quy định "Cơ quan Dân số, Gia đình và
Trẻ em chủ trì phối hợp với cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội và các cơ
quan có liên quan giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp thực hiện nhiệm vụ quản lý trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt".
      3. Chính sách và hình thức trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
      Khoản 1 Điều 42 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Nhà
nước có chính sách tạo điều kiện để trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hưởng các
quyền của trẻ em; hỗ trợ cá nhân, gia đình nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em;
khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia trợ giúp trẻ em, thành lập cơ sở trợ giúp trẻ
em để bảo đảm cho mọi trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt không còn nơi nương tựa được
chăm sóc, nuôi dưỡng". Theo quy định, Nhà nước có ba nhóm chính sách trực tiếp
và gián tiếp để trợ giúp trẻ em có HCĐB.
       Chính sách tạo điều kiện để trẻ em nói chung, trẻ em thuộc diện chính sách xã
hội, trẻ em có HCĐB nói riêng được hưởng các quyền trẻ em, có cơ hội để phát triển

                                          62
toàn diện bản thân mình là chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đồng
thời, Nhà nước đầu tư xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình y tế, giáo dục,
văn hoá, thể thao, phục hồi chức năng, phòng chống ma tuý, phòng chống tội phạm,
ngăn chặn trẻ em lang thang... để tạo điều kiện cho các nhóm đối tượng trẻ em có
HCĐB có cơ hội giảm nhẹ hoàn cảnh đặc biệt, phục hồi sức khoẻ, tinh thần, hoà
nhập gia đình, cộng đồng.
       Chính sách hỗ trợ trực tiếp cá nhân là trẻ em có HCĐB, hỗ trợ gia đình nhận
chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em. Các chính sách hỗ trợ đang được triển khai thực hiện
trong thực tế như chính sách đối với trẻ em mù, câm, điếc trong các trường giáo dục
chuyên biệt, chính sách đối với trẻ em vi phạm pháp luật trong các trường giáo
dưỡng, chính sách đối với trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa trong các cơ sở bảo
trợ xã hội, chính sách đối với trẻ em là nạn nhân của chất độc da cam... và chính sách
hỗ trợ đối với gia đình nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi không nơi nương
tựa, không còn nguồn nuôi dưỡng theo Quyết định số 38/2000/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ.
       Chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia trợ giúp trẻ em, thành lập
cơ sở trợ giúp trẻ em đã tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tham gia trợ giúp
trẻ em có HCĐB bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Đến nay, nhiều tổ chức,
cá nhân đã tham gia hoạt động từ thiện, nhân đạo, góp phần giảm nhẹ tổn thương về
thể chất, tinh thần của trẻ em, giúp nhiều trẻ em trở lại cuộc sống bình thường, hoà
nhập với gia đình, cộng đồng.
      Khoản 2 Điều 42 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định " Uỷ ban
nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được
chăm sóc, nuôi dưỡng tại gia đình, gia đình thay thế hoặc tại cơ sở trợ giúp trẻ em
công lập, ngoài công lập". Theo quy định, việc tổ chức thực hiện chăm sóc, nuôi
dưỡng trẻ em có HCĐB trên địa bàn địa phương thuộc trách nhiệm của Uỷ ban nhân
dân các cấp. Sự phân cấp phù hợp với chức năng quản lý dân cư và bảo đảm trách
nhiệm của Uỷ ban nhân dân mỗi cấp trong việc thực hiện mục tiêu là mọi trẻ em có
HCĐB đều được trợ giúp thích hợp.
       Khoản 3 Điều 42 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Các bộ,
ngành có liên quan có trách nhiệm hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ đối với cơ sở
trợ giúp trẻ em trong việc giải quyết, giảm nhẹ hoàn cảnh đặc biệt của trẻ em, phục
hồi sức khoẻ, tinh thần và giáo dục đạo đức cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt". Một
trong những nhiệm vụ quan trọng của quản lý nhà nước của các Bộ, ngành là việc
ban hành tiêu chuẩn và hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ đối với cơ sở trợ giúp trẻ
em, bảo đảm cho các cơ sở này thực hiện theo đúng quy trình, chuyên môn, kỹ thuật,

                                          63
áp dụng các phương pháp kỹ thuật phù hợp để trợ giúp trẻ em sớm bình phục.
      Điều 43 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em xác định 4 hình thức chủ
yếu trong việc trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ
chức, cá nhân tham gia bằng hình thức phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình,
cụ thể là: "Đóng góp tự nguyện bằng tiền hoặc hiện vật" (Khoản1); "Nhận làm con
nuôi, nhận đỡ đầu hoặc nhận làm gia đình thay thế để chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt" (Khoản2); "Tham gia chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt tại cơ sở trợ giúp trẻ em" (Khoản 3); "Tổ chức các hoạt động để hỗ trợ
trẻ em giảm nhẹ hoàn cảnh đặc biệt, phục hồi sức khoẻ, tinh thần và giáo dục đạo
đức" (Khoản 4).
       Các hình thức trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt rất đa dạng từ trực tiếp đến
gián tiếp, là đóng góp bằng sức lao động (khoản 3) đến đóng góp bằng tiền hoặc hiện
vật (khoản 1), từ việc nhận làm con nuôi, làm gia đình thay thế đến nhận đỡ đầu
(khoản 2), từ việc tổ chức các hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn, tư vấn đến hoạt
động điều trị, giải quyết giảm nhẹ tổn thương về thể chất, tinh thần, phục hồi chức
năng, sức khoẻ; từ việc cung cấp dịch vụ trợ giúp nhân đạo, từ thiện đến cung cấp
dịch vụ thu phí nhằm mở rộng khả năng tham gia của nhiều tổ chức, cá nhân.
      4. Việc thành lập và hoạt động của cơ sở trợ giúp trẻ em
       Khoản 4 Điều 3 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Cơ sở trợ
giúp là tổ chức được thành lập để bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt". Theo quy định, cơ sở trợ giúp trẻ em là tên gọi chung của các tổ chức thực
hiện cả ba nhiệm vụ BVCSGD trẻ em có HCĐB. Song trên thực tế, mỗi cơ sở thực
hiện một nhiệm vụ hoặc một nội dung hoạt động trợ giúp trẻ em có HCĐB và đều có
tên gọi riêng. Do đó, có rất nhiều loại hình cơ sở trợ giúp trẻ em hoạt động trong các
ngành, lĩnh vực của đời sống, xã hội và mỗi loại hình cơ sở trợ giúp trẻ em chịu sự
điều chỉnh nội dung của ngành, lĩnh vực đó. Vì vậy, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em dành 6 điều để quy định có tính nguyên tắc đối với việc thành lập và hoạt
động của các cơ sở trợ giúp trẻ em nhằm bảo đảm cơ sở pháp lý, tạo điều kiện thuận
lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia thành lập cơ sở trợ giúp trẻ em và tăng cường
quản lý nhà nước đối với các cơ sở trợ giúp trẻ em.
      4.1. Điều kiện thành lập cơ sở trợ giúp trẻ em
       Điều 44 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định ba điều kiện cần
thiết nhất để thành lập cơ sở trợ giúp trẻ nhằm bảo đảm cho việc hoạt động trợ giúp
trẻ em có hiệu quả, cụ thể là phải có “Cơ sở vật chất, trang thiết bị phù hợp với nội
dung hoạt động trợ giúp trẻ em” (Khoản 1); “Nhân lực có chuyên môn phù hợp với

                                          64
nội dung hoạt động trợ giúp trẻ em” (Khoản 2); “Nguồn tài chính bảo đảm chi phí
cho các hoạt động trợ giúp trẻ em” (Khoản 3).
       Theo quy định, cơ quan, tổ chức, cá nhân muốn thành lập cơ sở trợ giúp trẻ em
phải có ba điều kiện nêu trên, tuy nhiên, quy mô của cơ sở vật chất, số lượng và chất
lượng trang thiết bị, trình độ chuyên môn kỹ thuật nghiệp vụ của nhân viên và người
đứng tên, nguồn tài chính phải tuân theo định mức, tiêu chuẩn và quy định cụ thể đối
với mỗi nội dung hoạt động đã được hướng dẫn trong hệ thống pháp luật hiện hành
của ngành, lĩnh vực. Quy định này nhằm hạn chế những hiện tượng tiêu cực trong
việc lợi dụng thành lập cơ sở trợ giúp trẻ em để trục lợi, không bảo đảm những điều
kiện tối thiểu trong sinh hoạt, giải quyết, giảm nhẹ hoàn cảnh đặc biệt, phục hồi chức
năng, giáo dục đạo đức, và trong việc thực hiện các quyền của trẻ em.
      4.2. Hồ sơ xin phép thành lập cơ sở trợ giúp trẻ em
       Khoản 1 Điều 45 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Cơ
quan, tổ chức, cá nhân muốn thành lập cơ sở trợ giúp trẻ em phải có giấy phép hoạt
động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền”. Theo quy định, mọi cơ sở trợ
giúp trẻ em khi hoạt động trên thực tế đều phải có quyết định thành lập của cơ quan,
tổ chức theo quy định hoặc giấy phép hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước có
thẩm quyền, bảo đảm cho mọi cơ sở trợ giúp trẻ em hoạt động đúng mục đích và quy
định của pháp luật.
       Khoản 2 Điều 45 quy định hồ sơ xin phép thành lập cơ sở trợ giúp trẻ em gồm
có: “Đơn xin thành lập cơ sở trợ giúp trẻ em” (Điểm a); “Đề án thành lập cơ sở trợ
giúp trẻ em” (Điểm b); “Giấy tờ, tài liệu chứng minh bảo đảm đủ điều kiện thành lập
cơ sở trợ giúp trẻ em quy định tại Điều 44 của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em” (Điểm c); “Dự thảo quy chế hoạt động của cơ sở trợ giúp trẻ em” (Điểm d); “Sơ
yếu lý lịch của người đứng ra thành lập cơ sở trợ giúp trẻ em đặt trụ sở hoạt động”
(Điểm đ); “ý kiến đồng ý của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cơ sở trợ giúp trẻ em đặt
trụ sở hoạt động” (Điểm e). Theo quy định, hồ sơ xin phép thành lập cơ sở trợ giúp
trẻ em gồm 5 loại văn bản, song mẫu, nội dung của mỗi loại văn bản phải phù hợp
với các hướng dẫn hiện hành của ngành, lĩnh vực với nội dung hoạt động của cơ sở
trợ giúp trẻ em.
       Khoản 3 Điều 45 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Khi thay
đổi tên gọi, địa chỉ đặt trụ sở, chủ sở hữu, nội dung hoạt động của cơ sở trợ giúp trẻ
em thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đã thành lập cơ sở đó phải làm thủ tục đổi giấy phép
hoạt động”. Theo quy định mỗi khi có sự thay đổi các nội dung đã nêu thì phải có hồ
sơ để đổi giấy phép hoạt động, mỗi nội dung thay đổi khác nhau thì phải có hồ sơ
tương ứng. Nếu chỉ thay đổi tên gọi thì cần có đơn xin thay đổi tên gọi, nếu thay đổi
                                          65
địa chỉ đặt trụ sở thì phải có đơn xin thay đổi và ý kiến đồng ý của Uỷ ban nhân dân
cấp xã, nơi dự kiến sẽ đặt trụ sở, nếu thay đổi chủ sở hữu thì phải có đơn của chủ sở
hữu cũ và sự cam kết của chủ sở hữu mới và sơ yếu lý lịch của chủ sở hữu mới. Nếu
thay đổi nội dung hoạt động thì phải có đơn, đề án thành lập, giấy tờ, tài liệu chứng
minh bảo đảm đủ điều kiện theo nội dung hoạt động mới, dự thảo Quy chế hoạt động
theo nội dung hoạt động mới.
      4.3. Thời hạn cho phép thành lập cơ sở trợ giúp trẻ em
      Khoản 1 Điều 46 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định về thời
hạn cho phép thành lập cơ sở trợ giúp trẻ em, cụ thể là "Trong thời hạn 30 ngày kể từ
ngày nhận được hồ sơ xin phép thành lập cơ sở trợ giúp trẻ em, cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền cấp phép phải giải quyết; trường hợp từ chối thì phải nêu rõ lý
do bằng văn bản".
       Đồng thời khoản 2 Điều 46 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định
"Cơ sở trợ giúp trẻ em chỉ được hoạt động theo đúng nội dung ghi trong giấy phép
hoạt động". Quy định này nhằm bảo đảm tính pháp lý trong các hoạt động của cơ sở
trợ giúp trẻ em về thời gian (sau khi được cấp giấy phép hoạt động) và nội dung hoạt
động (ghi trong giấy phép hoạt động).
      4.4. Thẩm quyền thành lập, tạm đình chỉ, thu hồi giấy phép hoạt động
      Khoản 1 Điều 47 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định về thẩm
quyền thành lập cơ sở trợ giúp trẻ em bao gồm: “Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan
ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ quyết định thành lập cơ sở trợ giúp
trẻ em thuộc quyền quản lý của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ”
(Điểm a); “Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập cơ sở trợ giúp trẻ
em thuộc quyền quản lý của cấp tỉnh” (Điểm b); “Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện,
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định thành lập cơ sở trợ giúp trẻ em thuộc
quyền quản lý của huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh” (Điểm c).
     Thẩm quyền thành lập cơ sở trợ giúp trẻ em là Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân cấp huyện.
      4.5. Thẩm quyền tạm đình chỉ, thu hồi giấy phép hoạt động
       Khoản 2 Điều 47 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “cơ sở trợ
giúp trẻ em vi phạm một trong các nội dung sau đây thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi
phạm mà bị tạm đình chỉ hoạt động hoặc thu hồi giấy phép hoạt động: Cơ sở trợ giúp
trẻ em không bảo đảm đủ điều kiện như khi xin phép thành lập (Điểm a); Vi phạm
quy chế hoạt động của cơ sở trợ giúp trẻ em đã được phê duyệt (Điểm b); Sử dụng
                                         66
kinh phí hoạt động của cơ sở trợ giúp trẻ em vào mục đích khác, không phục vụ cho
việc trợ giúp trẻ em (Điểm c); Vi phạm các quyền của trẻ em (Điểm d).
      Khoản 3 Điều 47 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Cơ quan
đã cấp giấy phép hoạt động cho cơ sở trợ giúp trẻ em có quyền tạm đình chỉ hoạt
động hoặc thu hồi giấy phép hoạt động của cơ sở đó”. Quy định tạm đình chỉ, thu hồi
giấy phép hoạt động là biện pháp chế tài đối với các cơ sở trợ giúp trẻ em vi phạm
các quy định của pháp luật nhằm bảo đảm để mọi cơ sở trợ giúp trẻ em hoạt động
đúng mục đích, vì lợi ích và quyền của tất cả trẻ em, không lợi dụng để trục lợi.
      5. Nhiệm vụ, quyền hạn, kinh phí của cơ sở trợ giúp trẻ em
      5.1. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ sở trợ giúp trẻ em
      Khoản 1 Điều 48 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định quyền
của cơ sở trợ giúp trẻ em là “Tổ chức thực hiện một hoặc một số nội dung đã đăng ký
hoạt động trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như tư vấn; khám bệnh, chữa bệnh,
giải độc; phục hồi chức năng, sức khoẻ, tinh thần, giáo dục đạo đức, giáo dục hoà
nhập, giáo dục chuyên biệt, dạy nghề; tổ chức việc làm; tổ chức hoạt động xã hội,
văn hoá, thể thao, giải trí; tổ chức chăm sóc, nuôi dưỡng”. Theo quy định, cơ quan,
tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký một hoặc một số nội dung hoạt động trợ giúp trẻ
em. Tuỳ theo phương thức hoạt động để xác định cơ sở trợ giúp trẻ em có quyền
được tiếp nhận sự ủng hộ về tài chính, hiện vật.
      Trường hợp cơ sở trợ giúp trẻ em hoạt động từ thiện, nhân đạo thì có quyền
nhận viện trợ được quy định tại Khoản 5 Điều 48 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em, cụ thể là: "Được quyền tiếp nhận hỗ trợ tài chính, hiện vật của cơ quan, tổ
chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài để thực hiện các hoạt động trợ giúp trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt".
       Các Khoản 2, 3, 4 Điều 48 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định
nhiệm vụ của cơ sở trợ giúp trẻ em là: "Bảo đảm cung cấp dịch vụ thuận tiện, an
toàn, chất lượng" (Khoản 2); "Bảo đảm kinh phí để hoạt động đúng mục đích"
(Khoản 3); "Quản lý, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; quản lý tài chính, trang
thiết bị, tài sản" (Khoản 4).
      5.2. Kinh phí hoạt động của cơ sở trợ giúp trẻ em
       Điều 49 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định về kinh phí hoạt
động của cơ sở trợ giúp trẻ em có HCĐB gồm có “Ngân sách nhà nước cấp cho cơ sở
trợ giúp trẻ em công lập” (Khoản 1); “Nguồn tự có của cơ quan, tổ chức, cá nhân
thành lập cơ sở trợ giúp trẻ em” (Khoản 2); “Hỗ trợ của cơ quan, tổ chức, cá nhân
trong nước và nước ngoài” (Khoản 3); “Đóng góp của gia đình, người thân thích của
                                        67
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt” (Khoản 4); “Các nguồn thu hợp pháp khác” (Khoản 5).
       Căn cứ số lượng và tỷ trọng đóng góp của mỗi nguồn trong tổng kinh phí hoạt
động của cơ sở trợ giúp trẻ em có HCĐB để xác định phương thức hoạt động của cơ
sở trợ giúp trẻ em là cơ sở trợ giúp trẻ em do Nhà nước thành lập, quản lý để thực
hiện nhiệm vụ của mình, là cơ sở trợ giúp trẻ em hoạt động từ thiện, nhân đạo hoặc
cơ sở trợ giúp trẻ em hoạt động dịch vụ.
      5.3. Hoạt động dịch vụ của cơ sở trợ giúp trẻ em
       Khoản 1 Điều 50 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Cơ sở
trợ giúp trẻ em có tổ chức dịch vụ theo nhu cầu phục hồi chức năng, cai nghiện ma
tuý, điều trị HIV/AIDS, tổ chức dạy nghề cho trẻ em vi phạm pháp luật, nuôi dưỡng
trẻ em nghiện ma tuý, trẻ em nhiễm HIV/AIDS và các nhu cầu khác được thu tiền
dịch vụ theo quy định hoặc theo hợp đồng thoả thuận với gia đình, người giám hộ".
       Để bảo đảm cho mọi trẻ em có HCĐB được trợ giúp nhằm giải quyết, giảm
tổn thương về thể chất, tinh thần, để phục hồi sức khoẻ, tinh thần và giáo dục đạo đức
thì việc khuyến khích hoạt động dịch vụ là cần thiết nhằm mở rộng nhiều hoạt động
và nâng cao chất lượng trợ giúp, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của trẻ em và gia
đình.
      6. Biện pháp trợ giúp đối tƣợng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
      Mỗi đối tượng trẻ em có HCĐB đều có hoàn cảnh xuất thân khác nhau, điều
kiện về thể chất, tinh thần khác nhau, nên mỗi đối tượng trẻ em có những nhu cầu
khác nhau. Vì vậy, các biện pháp trợ giúp được quy định cụ thể cho phù hợp với mỗi
đối tượng trẻ em có HCĐB.
      6.1. Trẻ em mồ côi không nơi nƣơng tựa, trẻ em bị bỏ rơi
      Khoản 1 Điều 51 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em
mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi được Uỷ ban nhân dân địa phương giúp
đỡ để có gia đình thay thế hoặc tổ chức chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp
trẻ em công lập, ngoài công lập”. Quy định này đề ra biện pháp trợ giúp trẻ em và
quy định trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân trong việc bảo đảm cho đối tượng trẻ em
mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi có được một nơi an toàn để sống, để
được hưởng sự chăm sóc, nuôi dưỡng.
      Để thực hiện được biện pháp có gia đình thay thế, có nguồn nuôi dưỡng,
Khoản 2 Điều 51 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Nhà nước
khuyến khích gia đình, cá nhân nhận nuôi con nuôi; cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận
đỡ đầu, nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ

                                          68
rơi". Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận đỡ đầu trẻ em mồ côi không nơi
nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi thì Uỷ ban nhân dân thực hiện các biện pháp quy định tại
Khoản 1 để bảo đảm được nơi an toàn cho cuộc sống của trẻ em.
       Trong trường hợp cá nhân, gia đình hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em có khó khăn về
kinh phí thì Nhà nước trợ cấp để nuôi dưỡng trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ
em bị bỏ rơi, cụ thể là: "Nhà nước có chính sách trợ giúp gia đình, cá nhân hoặc cơ sở
trợ giúp trẻ em ngoài công lập nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi không nơi
nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi".
       Quyết định số 38/2004/QĐ-TTg ngày 17/3/2004 của Thủ tướng Chính phủ
quy định chính sách trợ giúp kinh phí cho gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em
bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi không còn nguồn nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật
Hôn nhân và Gia đình hoặc có người nuôi dưỡng nhưng không đủ khả năng nuôi
dưỡng, cụ thể là “Gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi
nếu có đủ các điều kiện quy định tại quyết định này thì được hỗ trợ kinh phí với mức
thấp nhất là 200.000 đồng/tháng/trẻ em. Riêng đối với gia đình, cá nhân nhận nuôi
dưỡng trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi dưới 18 tháng tuổi thì được hỗ trợ kinh phí với
mức thấp nhất là 270.000 đồng/tháng/trẻ em” (Điều 5). Quy định những trường hợp
được xem xét trợ giúp kinh phí là “Người đang nuôi trẻ em mồ côi theo quy định tại
Điều 47 và Điều 48 của Luật hôn nhân và gia đình nhưng không đủ khả năng nuôi
dưỡng” (Điều 6).
      6.2. Trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học
        Điều 52 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em khuyết
tật, tàn tật, trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học được gia đình, Nhà nước và xã
hội giúp đỡ, chăm sóc, được tạo điều kiện để sớm phát hiện bệnh, chữa bệnh, phục
hồi chức năng; được nhận vào các lớp học hoà nhập, lớp học dành cho trẻ em khuyết
tật, tàn tật; được giúp đỡ học văn hoá, học nghề và tham gia hoạt động xã hội”.
      Trẻ em khuyết tật, tàn tật, trẻ em là nạn nhân của chất độc màu da cam chịu
nhiều thiệt thòi, khả năng hoạt động suy giảm khiến cho việc lao động, sinh hoạt, học
tập gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt, đối với các em là nạn nhân của chất độc màu da
cam, các em phải chịu những di chứng của chiến tranh để lại ảnh hưởng rất nhiều
đến sức khoẻ, khả năng nhận thức và thực hiện các quyền của mình. Do đó, trợ giúp
trẻ em để phát hiện sớm bệnh, điều trị bệnh, phục hồi sức khoẻ, chức năng, trợ giúp
trong việc học tập, đi lại, sinh hoạt là nhu cầu cần thiết của trẻ em khuyết tật, tàn tật,
trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học.
      Pháp lệnh về người tàn tật và các văn bản pháp luật có liên quan đã quy định

                                            69
các chính sách và biện pháp đối với người tàn tật nói chung, trẻ em khuyết tật, tàn tật
nói riêng về chăm sóc sức khoẻ, hỗ trợ nuôi dưỡng, học văn hoá, học nghề, hỗ trợ
việc làm, hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao.
      6.3. Chính sách đối với trẻ em nhiễm HIV/AIDS
       Để giúp trẻ em nhiễm HIV/AIDS vượt qua mặc cảm, được tham gia vào các
hoạt động của cộng đồng, có cơ hội thực hiện các quyền của trẻ em, Điều 53 Luật
BVCSGD trẻ em quy định “Trẻ em nhiễm HIV/AIDS không bị phân biệt đối xử,
được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để chữa bệnh, nuôi dưỡng tại gia đình hoặc
tại cơ sở trợ giúp trẻ em”.
      Trẻ em nhiễm HIV/AIDS đang có chiều hướng gia tăng, trong khi nhận thức
về căn bệnh HIV/AIDS chưa đúng, còn mặc cảm, lo sợ sự lây truyền, nên tình trạng
người nhiễm HIV/AIDS bị xa lánh trong xã hội vẫn còn phổ biến, trẻ em nhiễm
HIV/AIDS đang đối phó với cái chết, lại bị sự cô lập, càng dẫn tới sự suy sụp nhanh
chóng, cướp đi cái quyền được sống của trẻ em.
      6.4. Trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại, xa gia đình
      Khoản 1 Điều 54 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Uỷ ban
nhân dân các cấp có trách nhiệm phát hiện, giải quyết kịp thời tình trạng trẻ em phải
làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; tạo điều kiện cho trẻ em
được học nghề, làm công việc phù hợp với sức khoẻ, lứa tuổi trong phạm vi địa
phương”.
       Pháp luật nghiêm cấm việc bắt trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm,
tiếp xúc với chất độc hại. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay vẫn có khả năng xảy ra
tình trạng này. Vì vậy, việc thường xuyên kiểm tra, thanh tra để phát hiện, giải quyết,
xử lý kịp thời các hành vi vi phạm nhằm chấm dứt tình trạng trẻ em phải làm việc
nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Đồng thời, phải có biện pháp thiết thực để giúp đỡ
trẻ em được học nghề, được làm công việc phù hợp với sức khoẻ, nếu các em đã
hoàn thành chương trình giáo dục phổ cập và hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn.
      Đối với trẻ em phải làm việc xa gia đình thì biện pháp cần thiết là phải bảo
đảm môi trường an toàn cho trẻ em. Khoản 2 Điều 54 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em quy định "Cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm giữ liên hệ thường
xuyên với trẻ em phải làm việc xa gia đình để giúp đỡ, giáo dục trẻ em". Đồng thời,
Khoản 3 quy định "Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi có trẻ em phải làm việc xa gia đình
có trách nhiệm tạo điều kiện để trẻ em được sống trong môi trường an toàn, được
chăm sóc sức khoẻ, học văn hoá, tu dưỡng đạo đức, phẩm chất".
      Khi trẻ em làm việc ở các cơ quan, tổ chức nào thì cơ quan, tổ chức đó có trách
                                          70
nhiệm quản lý trẻ em, nhưng ngoài giờ làm việc, nếu trẻ em sống tập trung tại một
địa điểm thì Uỷ ban nhân dân cấp xã phải tổ chức việc sinh hoạt cho trẻ em để trẻ em
tu dưỡng đạo đức, phẩm chất và có điều kiện để học văn hoá, bảo đảm môi trường an
toàn cho trẻ em, nghiêm trị những kẻ lôi kéo trẻ em sinh hoạt bừa bãi, thiếu tổ chức,
kỷ luật.
      6.5. Chính sách đối với trẻ em lang thang
      Khoản 1 Điều 55 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh nơi có trẻ em đến lang thang phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh nơi có trẻ em đi lang thang trong việc tổ chức, giúp đỡ đưa trẻ em trở về với gia
đình; đối với trẻ em lang thang mà không còn nơi nương tựa thì được tổ chức chăm
sóc, nuôi dưỡng tại gia đình thay thế hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em; đối với trẻ em lang
thang của hộ nghèo thì được ưu tiên, giúp đỡ để xóa đói giảm nghèo”.
       Tình trạng trẻ em lang thang xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là
do khó khăn về kinh tế và đổ vỡ trong quan hệ gia đình. Để giải quyết được thực
trạng này thì phải giải quyết từ gốc rễ vấn đề kinh tế và quan hệ gia đình. Biện pháp
đối với trẻ em lang thang do nguyên nhân về kinh tế là hỗ trợ gia đình phát triển kinh
tế, tăng thu nhập ổn định cuộc sống, đối với trẻ em lang thang do nguyên nhân đổ vỡ
quan hệ gia đình là giáo dục, hoà giải và trong trường hợp trẻ em lang thang không
còn nơi nương tựa thì lựa chọn gia đình thay thế cho trẻ em hoặc đưa vào cơ sở trợ
giúp trẻ em.
       Khoản 2 Điều 55 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Đối với
trẻ em cùng gia đình đi lang thang thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi có trẻ em cùng
gia đình đến lang thang có trách nhiệm yêu cầu và tạo điều kiện để gia đình lang
thang định cư, ổn định cuộc sống và để trẻ em được hưởng các quyền của mình".
Theo quy định, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi có trẻ em cùng gia đình đến lang thang
có hai trách nhiệm là yêu cầu gia đình lang thang định cư và tạo điều kiện để gia đình
lang thang định cư.
       Trường hợp gia đình lang thang có người là thành viên gia đình có sức lao
động, có người thân thích thì phải yêu cầu gia đình lang thang định cư và trong
trường hợp không chấp hành phải có biện pháp chế tài để thực hiện. Trường hợp gia
đình lang thang quá nghèo, không có người thân thích thì tạo điều kiện cho gia đình
lang thang định cư bằng các biện pháp hỗ trợ nơi định cư, hỗ trợ tạo việc làm, có thu
nhập để ổn định cuộc sống.
      Tình trạng lang thang không có người quản lý, dạy dỗ có thể dẫn các em rơi
vào tệ nạn xã hội hoặc con đường phạm pháp, bị các đối tượng xấu lợi dụng để thực

                                          71
hiện các hành vi phạm tội. Vì vậy, Khoản 3 Điều 55 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em quy định “Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tạo điều kiện để trẻ em
lang thang được sống trong môi trường an toàn, không rơi vào tệ nạn xã hội”.
      6.6. Trẻ em bị xâm hại tình dục
      Khoản 1 Điều 56 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Trẻ em
bị xâm hại tình dục được gia đình, Nhà nước và xã hội giúp đỡ bằng các biện pháp tư
vấn, phục hồi sức khoẻ, tinh thần và tạo điều kiện để ổn định cuộc sống”. Trẻ em bị
xâm hại tình dục, bị tổn thương rất nặng về thể chất, tinh thần, nhân phẩm và thậm
chí có em không chịu nổi sức ép, không thiết sống đã tự tử để thoát khỏi sự mất mát
quá lớn đó. Vì vậy, biện pháp trợ giúp đối với trẻ em bị xâm hại tình dục là tư vấn,
phục hồi sức khoẻ, tinh thần, nhằm giúp các em giảm bớt sức ép, mặc cảm, phục hồi
sức khoẻ và trở lại cuộc sống bình thường tái hoà nhập với gia đình, cộng đồng.
Những biện pháp này hết sức khó khăn đòi hỏi sự kiên trì, tế nhị giữa trẻ em với
người trợ giúp và xung quanh cộng đồng.
       Khoản 2 Điều 56 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Cơ
quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện biện pháp giáo dục, phòng ngừa,
ngăn chặn và tố cáo hành vi xâm hại tình dục trẻ em”. Quy định này nhằm nhấn
mạnh các biện pháp giáo dục, phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng xâm hại tình dục trẻ
em nói chung, đối với những địa điểm, đối tượng có nguy cơ cao nói riêng. Đồng
thời, phải có biện pháp mạnh, xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với những hành vi vi
phạm pháp luật.
       Hiện nay, tình trạng trẻ em bị xâm hại tình dục vẫn là một vấn đề nhức nhối
trong xã hội. Các biện pháp nghiêm minh của pháp luật đã được áp dụng đối với
những kẻ thực hiện hành vi này, cụ thể là các quy định trong các văn bản pháp luật có
liên quan như Bộ luật hình sự năm 1999 có quy định về các tội xâm hại tình dục trẻ
em, các cơ quan thực thi pháp luật cố gắng đưa ra truy tố, xét xử kẻ phạm tội, song
loại tội phạm này vẫn đang có chiều hướng gia tăng. Nguyên nhân của tình trạng này
là do công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật, công tác quản lý, giám sát, bảo vệ trẻ
em còn nhiều hạn chế, bất cập, việc xử lý các hành vi vi phạm chưa kịp thời, kiên
quyết.
      6.7. Trẻ em nghiện ma tuý
      Khoản 1 Điều 57 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Cơ
quan, tổ chức có liên quan đến hoạt động phòng, chống ma tuý có trách nhiệm tổ
chức cai nghiện tại gia đình hoặc tại cơ sở cai nghiện cho trẻ em nghiện ma tuý theo
quy định của Luật phòng, chống ma tuý”.

                                          72
      Số trẻ em nghiện ma tuý đang gia tăng trong những năm vừa qua. Thực trạng
này có nhiều nguyên nhân như sự thiếu chăm lo, giáo dục của gia đình, hiện tượng
đua đòi, bị lôi kéo, dụ dỗ trong thanh thiếu niên, sự phát triển của tệ nạn buôn bán ma
tuý chưa được ngăn chặn. Trẻ em nghiện ma tuý đã gây ra tình cảnh đau khổ, khó
khăn cho nhiều gia đình, tác động tiêu cực đến môi trường sống của xã hội đồng thời
còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và tương lai của trẻ em. Vì vậy, cơ quan, tổ
chức có liên quan và toàn xã hội phải tham gia công tác phòng, chống ma tuý có hiệu
quả, ngăn chặn thực trạng này. Đồng thời, nâng cao ý thức của cá nhân, gia đình
trong việc quan tâm BVCSGD trẻ em toàn diện, tạo môi trường xã hội lành mạnh
cho cuộc sống của trẻ em.
       Khoản 2 Điều 57 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Cơ sở
cai nghiện ma tuý có trách nhiệm tạo điều kiện cho trẻ em cai nghiện được tham gia
các hoạt động lành mạnh có ích và phải bố trí cho trẻ em cai nghiện ở khu vực dành
riêng cho trẻ em”. Theo quy định cơ sở cai nghiện ma tuý không chỉ có trách nhiệm
điều trị cắt cơn, giải độc, phục hồi sức khoẻ mà còn có trách nhiệm tổ chức các hoạt
động vui chơi, rèn luyện sức khoẻ tạo điều kiện cho trẻ em sớm cai nghiện. Đồng
thời, theo quy định của pháp luật thì phải bố trí cho trẻ em cai nghiện ở khu vực dành
riêng cho trẻ em, không bố trí chung với người lớn.
       Khoản 3 Điều 57 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Trẻ em
cai nghiện ma tuý tại cơ sở cai nghiện bắt buộc không bị coi là trẻ em bị xử lý vi
phạm hành chính”. Theo quy định tại Điều 29 Luật phòng, chống ma tuý năm 2000
thì "Người nghiện ma tuý từ đủ 20 tuổi đến dưới 18 tuổi đã được cai nghiện tại gia
đình, cộng đồng hoặc đã được giáo dục nhiều lần tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn
nghiện hoặc không có nơi cư trú nhất định thì được đưa vào cơ sở cai nghiện bắt
buộc dành riêng cho họ" (Khoản 1); "Người nghiện ma tuý từ đủ 12 tuổi đến dưới 18
tuổi tự nguyện hoặc được gia đình làm đơn xin cai nghiện thì được nhận vào cai
nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc dành riêng cho họ" (Khoản 2); "Việc cai nghiện
ma túy đối với người nghiện ma tuý quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không
coi là việc xử lý vi phạm hành chính" (Khoản 3).
      6.8. Trẻ em vi phạm pháp luật
       Khoản 1 Điều 58 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Trẻ em
vi phạm pháp luật được gia đình, nhà trường và xã hội giáo dục, giúp đỡ để sửa chữa
sai lầm, có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng quy tắc của đời sống xã hội và sống
có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Việc tổ chức giáo dục trẻ em vi
phạm pháp luật chủ yếu được thực hiện tại cộng đồng hoặc đưa vào trường giáo
dưỡng”.

                                          73
      Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường nhiều hiện tượng tiêu cực trong
xã hội nảy sinh đã có tác động không nhỏ đến tâm lý của trẻ em, làm cho các em
không cưỡng lại nổi những áp lực, dụ dỗ, lôi kéo thiếu lành mạnh. Từ hút thuốc lá, tụ
tập băng nhóm, chơi bời lêu lổng đến gây rối trật tự... đang là vấn nạn đối với trẻ em,
khiến cho trẻ em vi phạm pháp luật gia tăng đáng kể. Một trong những nguyên nhân
cơ bản dẫn đến tình trạng phạm tội của trẻ em là không có sự quan tâm của gia đình.
Vì thế, gia đình phải chịu trách nhiệm chính trước sự sai phạm của trẻ em. Các em là
nạn nhân của việc không được chăm sóc, quan tâm và hướng dẫn đầy đủ.
      Theo quy định, các biện pháp chế tài đối với những người vi phạm pháp luật
của nước ta trước hết là để giáo dục, giúp đỡ để người vi phạm nhận thấy sai lầm, sửa
chữa sai lầm, có ý thức hơn đối với xã hội và phấn đấu tiến bộ để trở thành người
công dân có ích. Đối với trẻ em vi phạm pháp luật thì chủ yếu tổ chức việc giáo dục,
rèn luyện phấn đấu tại cộng đồng hoặc đưa vào trong trường giáo dưỡng, không đưa
vào trại tù giam, trừ trường hợp đặc biệt.
       Khoản 2 Điều 58 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Việc xử
lý trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
trẻ em vi phạm pháp luật phải theo quy định của pháp luật đối với người chưa thành
niên". Bộ luật hình sự năm 1999 đã xuất phát từ đặc điểm của người chưa thành niên
là về khả năng nhận thức để có biện pháp xử lý, sử dụng các hình phạt nhẹ hơn so với
cùng hành vi của người đã trưởng thành. Đồng thời, việc xử phạt được áp dụng theo
hướng không tập trung giam giữ. Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm
2005 đều xuất phát từ từng lứa tuổi để xác định trách nhiệm, quan hệ dân sự. Pháp
lệnh xử lý vi phạm hành chính xác định hành vi vi phạm hành chính theo đặc điểm
về lứa tuổi và nhận thức của trẻ em.
      Khoản 3 Điều 58 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Trẻ em
vi phạm pháp luật đã bị xử lý bằng biện pháp hành chính, hình sự cách ly khỏi cộng
đồng trong một thời gian nhất định, khi trở về gia đình được Uỷ ban nhân dân cấp xã
phối hợp với cơ quan, tổ chức hữu quan tạo điều kiện, giúp đỡ tiếp tục học văn hoá,
học nghề và hỗ trợ tìm việc làm". Trẻ em vi phạm pháp luật mà bị xử lý bằng biện
pháp cách ly khỏi cộng đồng thì có mặc cảm nặng nề và dư luận xã hội tác động, gây
khó khăn cho trẻ em được hưởng cuộc sống bình thường. Vì vậy, Uỷ ban nhân dân
cấp xã, cơ quan, tổ chức hữu quan phải tạo điều kiện giúp đỡ trẻ em tiếp tục học văn
hoá, học nghề hoặc có việc làm để trẻ em được hoà nhập với gia đình, cộng đồng.
      Trong thực tế, nhiều trẻ em vi phạm pháp luật khi hết hạn trở về gặp nhiều khó
khăn, tự vận động trước cuộc sống và lại tái phạm tội. Vì vậy, Khoản 4 Điều 58 Luật
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Trường hợp trẻ em đã chấp hành

                                          74
xong thời hạn giáo dục hoặc hình phạt mà không có nơi nương tựa thì Uỷ ban nhân
dân cấp tỉnh đưa vào cơ sở trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, tạo điều kiện để
được học nghề và có việc làm".


        V. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
       Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em không có quy định riêng về khiếu
nại, tố cáo, khen thưởng và xử lý vi phạm, nhưng việc thực hiện phải tuân theo các
quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, thi đua, khen thưởng, pháp luật về hình
sự, xử lý vi phạm hành chính.
       1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định hành chính, hành
vi hành chính của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức có thẩm quyền trong việc thi
hành pháp luật về BVCSGD trẻ em. Cá nhân có quyền tố cáo với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật về BVCSGD trẻ em. Thẩm quyền, trình
tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo thực hiện theo quy định của luật về khiếu nại,
tố cáo.
      2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác BVCSGD trẻ em thì
được khen thưởng theo quyết định của pháp luật về khen thưởng.
      3. Người nào có hành vi vi phạm các quy định của Luật BVCSGD trẻ em,
Nghị định số 36/2005/NĐ-CP và các quy định khác của pháp luật có liên quan đến
công tác BVCSGD trẻ em thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật,
xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì
phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
        4. Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 thay thế Luật năm
1991.


                                    Phần thứ ba
                            TÀI LIỆU THAM KHẢO
    I. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHỈ THỊ SỐ 55-CT/TW NGÀY 28
THÁNG 6 NĂM 2000 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ TĂNG CƢỜNG SỰ LÃNH
ĐẠO CỦA CÁC CẤP ỦY ĐẢNG Ở CƠ SỞ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC BẢO VỆ,
CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM
     Ngày 28 tháng 6 năm 2000 Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam( Khóa VIII) ban hành Chỉ thị số Số 55-CT/TW về tăng cường sự

                                          75
lãnh đạo của các cấp uỷ đảng ở cơ sở đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em.
       Sau khi đánh giá tình hình và kết quả công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em thực hiện Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Công ước quốc tế về
quyền trẻ em và Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em 1991-2000, Chỉ thị nêu
rõ: Để đảm bảo cho thế hệ trẻ Việt Nam được phát triển toàn diện, giữ vững và phát
huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu được những tinh hoa của thế
giới, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; chủ động phòng ngừa, khắc phục
những tác động tiêu cực mới đối với trẻ em trong bối cảnh hiện nay, các cấp uỷ đảng
ở cơ sở cần lãnh đạo thực hiện tốt những việc sau đây:
      1- Tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của cấp uỷ đảng ở cơ sở
về tính cấp bách cũng như tầm quan trọng của sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em trong tình hình mới. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục trong Đảng và
trong nhân dân về các chủ trương, chính sách của Đảng, luật pháp của Nhà nước về
trẻ em; bồi dưỡng, hướng dẫn kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em cho cộng đồng và gia đình.
      2- Lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch hành
động vì trẻ em 5 năm và hàng năm của địa phương, chăm lo phát triển toàn diện cho
trẻ em về sức khoẻ, trí tuệ, đạo đức, văn hoá tinh thần, để trở thành những công dân
xã hội chủ nghĩa nhỏ tuổi, đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất sự xâm hại đối với
trẻ em. Có biện pháp giải quyết tốt một số mục tiêu quan trọng như: giảm tỷ lệ trẻ em
suy dinh dưỡng, giúp đỡ để mọi trẻ em được phổ cập giáo dục theo quy định, giảm
trẻ em thất học, bỏ học, lưu ban, thu hút trẻ em quá độ tuổi vào các lớp học, tích cực
phòng chống tình trạng dụ dỗ trẻ em tham gia buôn bán và nghiện hút ma tuý, trẻ em
bị xâm hại, trẻ em làm trái pháp luật, trẻ em lang thang kiếm sống; đầu tư và huy
động các nguồn lực để phát triển nhà trẻ, lớp mẫu giáo, điểm văn hoá, vui chơi cho
trẻ em. Đưa các mục tiêu vì trẻ em, lồng ghép và ưu tiên giải quyết các vấn đề có liên
quan đến trẻ em trong kế hoạch và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội.
      Phân công đảng viên thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em, đi sâu đến từng hộ gia đình nắm chắc tình hình trẻ em. Định kỳ nghe báo cáo tình
hình công tác trẻ em và tổ chức kiểm điểm trong chi bộ, đảng bộ cơ sở về công tác
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Coi kết quả công tác này là một nội dung để
đánh giá hoạt động của các tổ chức đảng, đoàn thể và của từng đảng viên, đoàn viên,
hội viên.
      3- Xây dựng gia đình bền vững, hạnh phúc là một mục tiêu quan trọng. Đề cao
                                          76
vai trò trách nhiệm của gia đình, giúp đỡ và tạo điều kiện cần thiết để các gia đình
thực hiện trách nhiệm đối với thế hệ trẻ, tạo môi trường lành mạnh cho sự phát triển
của trẻ em. Tôn trọng và bảo đảm cho trẻ em được thực hiện quyền và bổn phận của
mình trước gia đình và xã hội. Xây dựng tình làng, nghĩa xóm, khuyến khích các gia
đình giúp đỡ lẫn nhau trong việc chăm sóc, nuôi dạy con cháu, đỡ đầu trẻ em mồ côi
không nơi nương tựa. Giúp đỡ tạo việc làm cho các gia đình có trẻ em khó khăn.
Đảng viên phải gương mẫu xây dựng gia đình hoà thuận, nuôi dạy con tốt. Tăng
cường sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và các ngành, đoàn thể để giáo dục
trẻ em, nhất là đối với những trường hợp cá biệt; chú trọng giáo dục cho trẻ em tình
yêu gia đình, quê hương, đất nước, những giá trị văn hoá, đạo đức, truyền thống cách
mạng của dân tộc và của mỗi địa phương.
      Hàng năm, tổ chức “Ngày gia đình” trong tháng hành động vì trẻ em (từ 15-5
đến 30-6), nhằm thúc đẩy phong trào toàn xã hội xây dựng gia đình bền vững, hạnh
phúc, nuôi dạy con tốt.
       4- Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, các tổ chức kinh tế, xã hội
v.v…các cấp và ở từng địa phương, cơ sở, từng khu dân cư cần tích cực tham gia
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
tăng cường chỉ đạo Đội Thiếu niên tiền phong, Sao nhi đồng tổ chức thu hút tất cả
thiếu niên, nhi đồng tham gia vào các hình thức sinh hoạt tập thể, hoạt động xã hội,
văn hoá, thể thao v.v… cho trẻ em. Khuyến khích các hoạt động nhân đạo, từ thiện vì
trẻ em. Đưa các nội dung về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em vào các hương ước,
quy ước, các tiêu chuẩn của “gia đình văn hoá”, “làng văn hoá”, gắn hoạt động bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em với nội dung xây dựng khu dân cư. Khen thưởng,
biểu dương kịp thời những tổ chức, gia đình, cá nhân có thành tích bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em. Xử lý thích đáng và tạo dư luận xã hội nghiêm khắc lên án những
hành vi xâm hại trẻ em.
       5- Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Ban bảo vệ và chăm sóc trẻ
em ở cơ sở. Bố trí cán bộ có năng lực, có tâm huyết, có điều kiện để phụ trách công
tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở xã, phường, có chế độ đào tạo, bồi dưỡng và phụ cấp
thích hợp. Chăm lo xây dựng đội ngũ những người tình nguyện làm công tác bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em ở từng thôn, bản, cụm dân cư.
      Các tỉnh uỷ, thành uỷ có kế hoạch lãnh đạo tăng cường công tác bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em ở địa phương theo tinh thần Chỉ thị này.
       Các bộ, ngành, đảng, đoàn, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp, trước
hết là Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ
Văn hoá - Thông tin, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Công an, Bộ Tư
                                         77
pháp, Uỷ ban Thể dục thể thao, Tổng cục Thống kê…, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các thành viên phối hợp xây dựng chương trình hành động quốc gia vì trẻ em thời
kỳ 2001-2010 và chỉ đạo thực hiện cụ thể đến tận các cơ sở. Mỗi ngành, đoàn thể có
chương trình và kế hoạch chỉ đạo và giúp ít nhất một địa phương xã, huyện hoặc tỉnh
ở những vùng khó khăn để đạt được các mục tiêu của chương trình quốc gia vì trẻ
em. Dành sự quan tâm đặc biệt cho trẻ em ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu
số, trẻ em các gia đình chính sách, gia đình nghèo và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.
      Ban Khoa giáo Trung ương và Ban cán sự đảng Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc
trẻ em Việt Nam được Bộ Chính trị giao trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra và định kỳ
báo cáo Bộ Chính trị tình hình thực hiện Chỉ thị.


   II. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHƢƠNG TRÌNH HÀNH
ĐỘNG QUỐC GIA VÌ TRẺ EM VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001-2010
      (Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2001-2010 đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt ngày 26/02/2001 tại Quyết định số 23/2001/QĐ-TTg).
      CHƢƠNG II. MỤC TIÊU
       Hướng ưu tiên của Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn
2001-2010 tập trung vào các mục tiêu chưa hoàn thành từ Chương trình hành động
quốc gia vì trẻ em giai đoạn 1991-2000, những mục tiêu phù hợp với Chiến lược
phát triển kinh tế-xã hội, những mục tiêu mới dựa trên nhu cầu của trẻ em và ưu tiên
của quốc gia.
      1. Mục tiêu tổng quát:
      Tạo mọi điều kiện tốt nhất nhằm đáp ứng đầy đủ các nhu cầu và các quyền cơ
bản của trẻ em, ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ xâm hại trẻ em, xây dựng môi
trƣờng an toàn và lành mạnh để trẻ em Việt Nam có cơ hội đƣợc bảo vệ, chăm sóc,
giáo dục và phát triển toàn diện về mọi mặt, có cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.
      2. Mục tiêu cụ thể:
      * SỨC KHỎE, DINH DƢỠNG CHO TUỔI THƠ
      Đảm bảo mọi tuổi thơ đều có sức khỏe tốt bằng việc đƣợc hƣởng các dịch vụ
sức khỏe cơ bản, chất lƣợng cao, đồng thời đƣợc chăm sóc thích hợp về sức khoẻ
dinh dƣỡng của bà mẹ.
      Tập trung vào 3 mục tiêu chính và những mục tiêu chưa đạt của Chương trình
hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 1991-2000.

                                         78
       1. Giảm tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi từ 36,7/1000 trẻ sinh ra sống xuống
còn 30/1000 vào năm 2005 và xuống dưới 25/1000 vào năm 2010. Tương ứng, giảm
tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi từ 42/1000 xuống 36/1000 và dưới 32/1000.
      2. Giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản từ 100/100.000 trẻ sinh ra
sống xuống còn 80/100.000 năm vào 2005 và dưới 70/100.000 vào năm 2010.
      3. Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ở thể nhẹ cân (cân nặng/tuổi)
từ 33,1% xuống 25% vào năm 2005 và xuống dưới 20% vào năm 2010, giảm tỷ lệ
suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ở thể thấp còi (chiều cao/tuổi) bình quân mỗi năm
1,5%.
      - Giảm tỷ lệ thiếu Vitamin A tiền lâm sàng ở trẻ em dưới 5 tuổi xuống dưới
10% vào năm 2005 và dưới 5 % vào năm 2010; giảm tỷ lệ bướu cổ trẻ em 8-12 tuổi
từ 14% năm 2000 xuống dưới 3% vào năm 2010; giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ
em trong các cơ sở giáo dục mầm non xuống dưới 20% vào năm 2005 và dưới 17%
vào năm 2010.
       - Duy trì tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ 7 loại vacxin (lao, ho gà, bạch hầu, uốn ván,
bại liệt, sởi, viêm gan B) cho trẻ em dưới 1 tuổi đạt trên 90% vào năm 2005 và trên
95% vào năm 2010.
      - Triển khai tiêm 3 loại vacxin thương hàn, vacxin tả và vacxin viêm não ở các
vùng có bệnh lưu hành, đạt tỷ lệ tiêm chủng 80% đối tượng có nguy cơ mắc phải.
      - Triển khai chiến lược tiêm nhắc lại vacxin sởi mũi 2 cho trẻ dưới 10 tuổi
trong cả nước, giảm tỷ lệ mắc sởi từ 17/100.000 dân năm 2000 xuống còn dưới
1/100.000 dân vào năm 2010.
      - Phấn đấu trên 90% phụ nữ có thai được khám thai từ 3 lần trở lên và được
sinh nở an toàn với sự trợ giúp của cán bộ y tế.
      - 90% phụ nữ mang thai được tiêm đủ liều vacxin uốn ván vào năm 2005 và
trên 90% vào năm 2010.
       - Giảm tỷ lệ thiếu máu phụ nữ tuổi sinh đẻ (vùng can thiệp) xuống dưới 25%
vào năm 2005 và dưới 20% vào năm 2010 thông qua hoạt động bổ sung viên sắt/axít
folíc dự phòng cho toàn bộ phụ nữ từ 15-35 tuổi, phụ nữ có thai và cho con bú.
     - Giảm tỷ lệ phụ nữ thiếu năng lượng trường diễn (CED) ở lứa tuổi sinh đẻ
xuống dưới 30% vào năm 2005 và dưới 25% vào năm 2010.
      - Đảm bảo đến năm 2010, 100% trạm y tế xã vùng đồng bằng, trung du và
40% số trạm y tế xã vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa có bác sỹ; 100% số trạm y tế
có nữ hộ sinh hoặc cán bộ trung cấp y tế sản nhi, trong đó 80% có trình độ trung học.
                                          79
Phấn đấu 100% thôn bản có nhân viên y tế có trình độ sơ học trở lên.
      - Giảm tỷ lệ trẻ sơ sinh cân nặng dưới 2.500 gam từ 8% năm 2000 xuống 7%
vào năm 2005 và 5% vào năm 2010.
      - Tăng cường các điều kiện để có thể giúp, tránh được các nguy cơ gây rối loạn
cảm xúc và hành vi cho trẻ em, bao gồm: hiểu biết, tính kiên định, mối quan hệ bạn
bè đôi lứa, các hoạt động nhằm giáo dục thẩm mỹ âm nhạc hội hoạ, thể dục thể thao
cũng như sự chăm sóc của cha mẹ, mọi người đối với trẻ em.
       - Dự phòng, phát hiện sớm và điều trị các rối loạn tâm thần, hành vi và cảm
xúc.
       - Xây dựng và hoàn thiện bộ chỉ tiêu đánh giá về sức khoẻ tâm thần của trẻ
em.
       * NƢỚC SẠCH VÀ VỆ SINH MÔI TRƢỜNG
          Đảm bảo mọi trẻ em đƣợc sử dụng nƣớc sạch và thiết bị vệ sinh ở
trƣờng học, nơi công cộng và ở nhà.
      4. Đảm bảo 80% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh vào năm
2005 và 85% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh với số lượng 60 lít/
người/ngày vào năm 2010; tương tự, ở thành thị là 85% và 90%.
     5. Tăng tỷ lệ hộ gia đình và dân cư nông thôn sử dụng hố xí hợp vệ sinh từ
32% lên 50% vào năm 2005 và 70% vào năm 2010; tương tự, ở thành thị tỷ lệ đó là
70% và 90%.
      - Nâng cao kiến thức sử dụng nước sạch, vệ sinh môi trường thông qua truyền
thông giáo dục cho mọi người dân;
      - Đến năm 2010, tất cả các nhà trẻ, mẫu giáo, trường học, bệnh viện, trạm xá,
công sở, chợ ở nông thôn có đủ nước sạch và có đủ hố xí hợp vệ sinh.
      - Giảm thiểu các bệnh có liên quan đến nước và vệ sinh nhờ cải thiện việc cấp
nước sạch, nhà vệ sinh và nâng cao thực hành vệ sinh của nhân dân. Giảm mạnh tình
trạng ô nhiễm môi trường.
      - Xử lý chất thải ở 30% số chuồng trại chăn nuôi và 10% số làng nghề vào năm
2005; tương ứng 60% và 80% vào năm 2010.
       * GIÁO DỤC CƠ SỞ CÓ CHẤT LƢỢNG
         Đảm bảo mọi trẻ em đƣợc giáo dục có chất lƣợng, có kỹ năng nhận
   thức và thực hành. Từ đó, các em có thể tham gia một cách đầy đủ với tƣ cách
   là những ngƣời lao động và những công dân có ích cho xã hội.
                                         80
      Tiếp tục củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học, đồng thời
phổ cập trung học cơ sở trên toàn quốc vào năm 2010; nâng cao chất lượng đội ngũ
giáo viên, chất lượng học sinh, đổi mới căn bản và toàn diện nội dung và phương
pháp giáo dục; tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy và thực
hành, đồng thời nhấn mạnh đến 3 mục tiêu ưu tiên mới:
      Tăng lên đáng kể việc trẻ em nhập học giáo dục tiền học đường, đặc biệt trẻ
em ở các vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa.
        Tăng lên đáng kể trẻ đi học trung học cơ sở và tốt nghiệp.
        Tạo điều kiện cho mọi trẻ em khuyết tật được tiếp cận với việc học chữ, học
nghề.
     6. Nâng tỷ lệ trẻ em 5 tuổi đến lớp mẫu giáo từ 78% lên 85% vào năm 2005 và
95% vào năm 2010; tương tự, trẻ em từ 3-5 tuổi đến trường từ 42% lên 46% và
52-55%.
     7. Nâng tỷ lệ học sinh đi học bậc tiểu học đúng độ tuổi từ 95% lên 97% vào
năm 2005 và 99% vào năm 2010.
       8. Nâng tỷ lệ tốt nghiệp bậc tiểu học từ 76% lên 85% vào năm 2005 và 95%
vào năm 2010; trẻ em 6 tuổi vào lớp 1 từ 95% lên 97% và 99%. Đảm bảo đạt phổ cập
giáo dục tiểu học đúng độ tuổi vào năm 2005. Đảm bảo 80% trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn được học hết tiểu học, số còn lại học xong lớp 3. Không còn trẻ bước
vào tuổi 15 mù chữ.
      9. Nâng tỷ lệ tốt nghiệp bậc trung học cơ sở từ 70% lên 72% năm 2005 và 75%
vào năm 2010. Phấn đấu 40 tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở vào
năm 2005 và toàn quốc vào năm 2010. Tăng tỷ lệ học sinh học trung học cơ sở trong
độ tuổi lên 79% vào năm 2005 và 80% vào năm 2010.
       Tạo mọi cơ hội cho trẻ em khuyết tật được đến trường, phấn đấu trẻ em khuyết
tật được đi học trong các loại hình: lớp hoà nhập, bán hoà nhập và giáo dục chuyên
biệt đạt tỷ lệ 50% vào năm 2005 và 70% vào năm 2010.
        * VỀ BẢO VỆ TRẺ EM
      Đảm bảo tối đa số trẻ em đƣợc bảo vệ khỏi sự phân biệt đối xử, bị xâm hại
và đƣợc bảo vệ trong các tình huống đặc biệt. Nâng số lƣợng trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn đƣợc hỗ trợ, giúp đỡ để phát triển khả năng ở mức tối đa.
Phòng ngừa bạo lực trong trẻ em và hạn chế thấp nhất tai nạn thƣơng tích ở trẻ
em.
        10. Tăng tỷ lệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa được chăm sóc bằng mọi
                                          81
hình thức từ 70% lên 80% vào năm 2005 và 100% vào năm 2010; 70% trẻ em có
hoàn cảnh khó khăn được hỗ trợ, chăm sóc vào năm 2010.
      11. Tăng tỷ lệ trẻ em tàn tật, đặc biệt trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học
da cam được chăm sóc dưới các hình thức khác nhau, trong đó trẻ em sứt môi, hở
hàm ếch được phẫu thuật chỉnh hình từ 80% lên 90% vào năm 2005 và 95% vào năm
2010; tương ứng, trẻ em tàn tật được hỗ trợ phục hồi chức năng từ 45% lên 65% và
70%.
      Hạn chế thấp nhất tai nạn thương tích ở trẻ em thông qua truyền thông giáo
dục, thực hiện có hiệu quả chương trình an toàn cho trẻ em, cho từng gia đình, an
toàn ở trường học, an toàn trên đường giao thông, tiến tới xây dựng một Chiến lƣợc
quốc gia về an toàn cho trẻ em.
      12. Giảm tỷ lệ trẻ em trong các đối tượng đặc biệt:
      - Giảm 70% trẻ em lang thang kiếm sống và trẻ em phải lao động nặng nhọc,
độc hại vào năm 2005 và 90% vào năm 2010; trong đó trẻ em lang thang kiếm sống
được chăm sóc giúp đỡ và trở về gia đình tương ứng là 50% và 70%.
      - Giảm dần vào năm 2005 và giảm cơ bản vào năm 2010 số trẻ em bị xâm hại
tình dục, bị mua bán.
      - Giảm 70% trẻ em nghiện ma tuý vào năm 2005 và 90% vào năm 2010;
      - Giảm 70% vào năm 2005 và giảm 90% vào năm 2010 số trẻ em phạm các tội
đặc biệt nghiêm trọng; giảm 70% trẻ em làm trái pháp luật vào năm 2010.
      - Phòng ngừa để giảm đến mức thấp nhất số trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS;
      13. Nâng tỷ lệ trẻ em được khai sinh trước 5 tuổi từ 72% lên 80% vào năm
2005 và 90% vào năm 2010.
    * VĂN HOÁ, VUI CHƠI CHO TRẺ EM VÀ SỰ THAM GIA TÍCH CỰC CỦA
NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN
            Tạo mọi điều kiện để trẻ em đƣợc phát triển trí, đức, thể, mỹ thông
      qua việc tiếp cận ngày càng tăng đối với các phƣơng tiện thông tin đại
      chúng, các hình thức văn hoá, thể thao và sự tham gia của trẻ em vào các
      hoạt động.
       14. Đến năm 2005 có 50% xã phường và đến năm 2010 có 100% xã phường
có cơ sở vui chơi, trong đó đủ tiêu chuẩn, tương ứng, là 40% và 50% để trẻ em đuợc
phát triển toàn diện và được tổ chức vui chơi, giải trí, rèn luyện thể chất cho trẻ em.
      15. Tỷ lệ quận huyện có trung tâm văn hóa, vui chơi và được tổ chức, quản lý

                                          82
đến năm 2005 là 75% và đến năm 2010 là 100%.
       Duy trì 15%-20% xuất bản phẩm văn hoá dành cho trẻ em; tăng số ấn phẩm
cho trẻ em (không kể sách giáo khoa phổ thông) lên 280 triệu bản vào năm 2005 và
380 triệu bản vào năm 2010; tương tự, báo thiếu nhi lên 36 triệu bản và 55 triệu bản;
phim hoạt hình cho thiếu nhi 15 bộ và 20 bộ.
       Tăng số lượng trẻ em được tham gia sinh hoạt tại các Câu lạc bộ và tham gia
các hoạt động lành mạnh; tăng số lượng các Câu lạc bộ và các hình thức hoạt động
của trẻ em.
         Tăng tỷ lệ trẻ em tình nguyện tham gia các hoạt động văn hóa, xã hội, bổ ích.
    Phụ lục 2: Mục tiêu Chƣơng trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt
Nam giai đoạn 2001-2010
                                                                         (Đơn vị tính:%)
  Mục         Các mục tiêu Chƣơng trình hành động
                                                             2000    2005       2010
  tiêu        quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2001 -2010
                   SỨC KHOẺ, DINH DƢỠNG CHO TRẺ THƠ
                  Tử vong:
         1 - Tỉ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi trên 1000 trẻ 36,7        30        <25
           sinh ra sống
            - Tỉ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi trên 1000 trẻ 42         36        <32
            sinh ra sống
         2 Tỷ lệ tử vong mẹ trên 100.000 trẻ sinh ra sống 100        80        <70
                  Dinh dưỡng:
         3 - Tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi (cân 33,1       25        <20
           nặng/ tuổi)
            * Tỷ lệ trẻ sinh thiếu cân dưới 2.500 gam       8        7         5
            * Giảm tỷ lệ phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ thiếu             30        25
            năng lượng trường diễn
            * Tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ có thai                  90        >90
            * Giảm tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ khi mang thai            <25       <20
            * Tỉ lệ phụ nữ có 3 lần đi khám trong khi có             90        >90
            thai

                                           83
  NƢỚC SẠCH VÀ VỆ SINH MÔI TRƢỜNG
 4 Tỉ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước 37         80   85
   sạch.
    Tỉ lệ người dân thành thị được sử dụng nước 73        85   90
    sạch
 5 Tỉ lệ hộ gia đình và dân cư nông thôn được sử 32       50   70
   dụng thiết bị vệ sinh
    Tỉ lệ hộ gia đình và dân cư thành thị được sử         70   90
    dụng thiết bị vệ sinh
    Tỉ lệ trường học có nước sạch và thiết bị vệ 66       85   100
    sinh
 GIÁO DỤC CƠ SỞ CÓ CHẤT LƢỢNG
 6 Tỷ lệ trẻ em 5 tuổi đi mẫu giáo                   78   85   95
    * Tỉ lệ đi mẫu giáo của trẻ từ 3 đến 5 tuổi      42   46   52-55
 7 Tỉ lệ đi học đúng độ tuổi                         95   97   99
    * Tỉ lệ trẻ em 6 tuổi vào lớp 1                  95   97   99
 8 Tỉ lệ tốt nghiệp bậc tiểu học                     76   85   95
 9 Tỉ lệ tốt nghiệp bậc trung học cơ sở              70   72   75
    * Tỉ lệ đi học đúng độ tuổi                      77   79   80
 BẢO VỆ TRẺ EM
10 Tỷ lệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa được 70        80   100
   chăm sóc:
    * Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn                             70

11 Tỷ lệ chăm sóc trẻ em tàn tật:
    * Phẫu thuật chỉnh hình cho trẻ em sứt môi, hở 80     90   95
    hàm ếch
    * Hỗ trợ phục hồi chức năng                      45   65   70
    * Giảm tai nạn thương tích                                 Tối đa
12 Giảm tỷ lệ trẻ em thuộc các đối tượng đặc biệt:
    * Giảm tỷ lệ trẻ em nghiện ma tuý                     70   90

                                      84
          * Giảm tỷ lệ trẻ em lang thang kiếm sống, trẻ          70       90
          em lao động nặng nhọc độc hại
          - Lang thang kiếm sống được chăm sóc giúp              50       70
          đỡ và trở về gia đình
                                                                 Giảm     Giảm
          * Trẻ em bị hiếp dâm, mua bán làm mại dâm              dần      cơ bản
                                                                 Giảm     Giảm
          * Trẻ em bị buôn bán                                   dần      cơ bản
          * Giảm tỷ lệ trẻ em phạm các tội đặc biệt              70       90
          nghiêm trọng
      13 Tỷ lệ trẻ em sinh ra được đăng ký khai sinh 72          80       90
         trước 5 tuổi
      VĂN HÓA, VUI CHƠI CHO TRẺ EM VÀ SỰ THAM GIA TÍCH CỰC CỦA
NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN

      14 Tỉ lệ các xã, phường có điểm vui chơi cho trẻ 30         40      50
         em đạt tiêu chuẩn
      15 Tỉ lệ các quận huyện có trung tâm vui chơi cho   50      75      100
         trẻ em được tổ chức quản lý
          * Số ấn phẩm cho trẻ em (triệu bản)             175    280       380
          * Số giờ truyền hình dành cho trẻ em 182,5             182,5     182,5
          (giờ/năm)
          * Số giờ phát thanh dành cho trẻ em (giờ/năm)          1.764    1.764
          * Số trường học có thiết bị giáo dục thể chất 9.000    10.200 11.400
          đầy đủ (trường)

       Chƣơng III. GIẢI PHÁP CƠ BẢN VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ
      1. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách, đẩy mạnh xã hội
hóa sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
      Tiến hành việc sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và
các văn bản pháp luật có liên quan.
       Bổ sung sửa đổi các chính sách nhằm thực hiện có hiệu quả các quyền của trẻ
em.
       Ban hành các chính sách nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội

                                        85
tham gia công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em: chính sách vận động các gia
đình phát huy vai trò và trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục con cái; chính sách hỗ trợ, khuyến khích xây dựng môi trường gia đình và cộng
đồng dân cư an toàn và lành mạnh; chính sách khuyến khích các tổ chức và cá nhân
trong và ngoài nước tham gia hỗ trợ thực hiện các mục tiêu vì trẻ em (bao gồm cả
việc tham gia cung ứng các dịch vụ xã hội cơ bản cho gia đình và trẻ em).
      1.1. Sức khoẻ, dinh dƣỡng cho tuổi thơ.
      Chính sách:
      Mở rộng và khuyến khích các hình thức cung ứng dịch vụ tại chỗ: điều trị
miễn phí cho những đối tượng nghèo, thông qua giúp đỡ mua bảo hiểm, cho vay vốn
ưu đãi hoặc bằng các hình thức khác, trong đó đặc biệt chú ý vùng khó khăn.
      Khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước sản xuất thuốc cho trẻ
em, cung ứng các dịch vụ đảm bảo những người nghèo nhất có thể được hưởng sự
chăm sóc với chất lượng có thể chấp nhận được.
      Tập trung trợ cấp cho vùng nghèo được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khoẻ.
      Bổ sung, sửa đổi và xây dựng chính sách khuyến khích các nhà cung cấp
ngoài khu vực nhà nước đầu tư các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ.
      Các tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ cần:
      Cải thiện chất lượng hoạt động tại các trung tâm y tế huyện và xã. Đào tạo lại
các cán bộ hiện có và bổ sung thêm các cán bộ có trình độ tại các trung tâm y tế
huyện, xã.
       Tăng chi phí chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại các cơ sở y tế cộng đồng và cấp
huyện bằng cách cơ cấu lại kinh phí sự nghiệp giữa phòng bệnh và chữa bệnh trực
tiếp, đồng thời tăng tỷ lệ kinh phí cho phòng bệnh ở các địa phương.
      Thực hiện Chương trình quốc gia về y tế, trong đó ưu tiên cung cấp vaccine
tiêm chủng mở rộng cho mọi trẻ em, cũng như giải quyết bệnh thiếu Vitamin A và
các bệnh khác do thiếu vi chất. Ổn định cung cấp muối Iode trong toàn quốc với trên
90% hộ gia đình sử dụng.
      Tăng cường bổ sung các vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm.
      Gia đình:
      Cải thiện chất lượng tuyên truyền giáo dục công chúng về dinh dưỡng hợp lý
và chăm sóc trẻ em, đặc biệt ở vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa.
      Tăng cường sự hiểu biết của các gia đình về quyền lợi và lựa chọn các dịch vụ
                                         86
y tế, tập trung vào việc giáo dục cho người nghèo về quyền được miễn giảm viện phí.
       Đa dạng hoá bữa ăn, sử dụng các thực phẩm giàu vitamin và khoáng chất
thông qua phát triển hệ sinh thái Vƣờn - Ao - Chuồng; phòng chống nhiễm giun, đặc
biệt là giun móc ở trẻ em bằng cách giáo dục vệ sinh kết hợp với duy trì tẩy giun định
kỳ.
      Các hoạt động chính:
     - Chương trình tiêm chủng mở rộng, khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ;
chương trình an toàn cho trẻ em; chương trình y tế học đường.
      - Các dự án chăm sóc sức khoẻ trẻ em dựa vào cộng đồng; dự án phòng chống
suy dinh dưỡng trẻ em; dự án đào tạo cán bộ quản lý.
       - Phòng chống viêm gan B. Phòng chống các rối loạn do thiếu hụt Iốt, thiếu
các vi chất dinh dưỡng.
      - Khám thai đủ 3 lần cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai.
      1.2. Nƣớc và vệ sinh môi trƣờng.
      Chính sách:
       - Có chính sách khuyến khích các tổ chức tư nhân và bán tư nhân tham gia xây
dựng và duy trì hệ thống nước sạch thông qua các ưu đãi trong vay vốn, trợ giá bán,
liên kết trực tiếp với nhà tài trợ hoặc các tổ chức phi chính phủ.
       - Dành phần lớn ngân sách được cam kết cho nước sạch xuống vùng nông
thôn, tập trung vào gia đình và cộng đồng.
      Các tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ:
      - Thông qua việc sử dụng nhiều hơn các tổ chức dựa vào cộng đồng, xây dựng
các hệ thống mới do cộng đồng quản lý để cải thiện hơn cơ sở hạ tầng.
      - Hợp tác hơn nữa giữa các nhà cung cấp dịch vụ địa phương, đặc biệt là với
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để đảm
bảo các hệ thống nước sạch và hố xí hợp vệ sinh.
      - Tiếp tục triển khai các hoạt động đang làm nhằm tăng cường cung cấp nước
sạch và công trình vệ sinh. Tập trung cung cấp nước sạch vệ sinh môi trường cho 15
tỉnh nghèo và ở vùng sâu vùng xa.
      Gia đình:
      - Mở chiến dịch giáo dục tuyên truyền trong công chúng về ăn ở vệ sinh, sử
dụng nước sạch, giữ gìn môi trường sống xanh, sạch và trong lành.

                                          87
      - Hệ thống thông tin tuyên truyền tập trung nhằm nâng cao sự hiểu biết về tầm
quan trọng của nước sạch, vệ sinh môi trường , gắn sử dụng với phòng bệnh.
       - Khuyến khích các hộ gia đình đóng góp một phần thu nhập gia đình cho
nước sạch vệ sinh môi trường. Mở rộng dần những mô hình thí điểm này cho toàn bộ
các tỉnh trong cả nước vào năm 2010.
      1.3. Giáo dục cơ sở có chất lƣợng.
      Chính sách:
      - Cải tiến chương trình giáo dục phù hợp với cả giáo viên và học sinh. Tăng số
giờ thực hành, “học mà chơi, chơi mà học” trên lớp;
      - Có chính sách khen thưởng phù hợp đối với các giáo viên dạy giỏi, giáo viên
dạy nhiều năm ở vùng cao, vùng xa, giáo viên dạy trẻ khuyết tật.
       - Có các chính sách hỗ trợ các tỉnh khó khăn để thực hiện phổ cập giáo dục
tiểu học đúng độ tuổi vào năm 2005 và phổ cập trung học cơ sở vào năm 2010.
       - Chính sách giáo dục miễn phí cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn;
chính sách hỗ trợ sự phát triển giáo dục các dân tộc thiểu số, đặc biệt đối với trẻ em
gái ở các vùng dân tộc; chính sách giảm các chi phí đóng góp cho giáo dục cơ sở của
các gia đình, đặc biệt là gia đình nghèo.
      - Có biện pháp thu hút trẻ em tàn tật, trẻ mồ côi, trẻ lang thang đã bỏ học trở lại
hệ thống giáo dục thông qua chương trình dạy nghề hoặc lớp học không chính qui.
      Các tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ:
       - Tăng cường việc đánh giá giáo viên giỏi, hướng tới việc nâng cao hơn nữa
chất lượng giảng dạy.
       - Tăng cường cơ hội học tiểu học, đặc biệt tại vùng xa vùng sâu, thông qua
việc thực hiện miễn giảm học phí theo đối tượng.
      - Tăng cường xây dựng nhà trẻ mẫu giáo cũng như đào tạo giáo viên mới.
      - Tăng số trường trung học cơ sở ở vùng nông thôn và nghiêm túc thực hiện
miễn giảm học phí cho trẻ em nghèo.
      - Mở thêm lớp xoá mù chữ cho người lớn, đặc biệt ở vùng núi cao.
      Gia đình:
       - Tăng cường vai trò của gia đình trong việc phối hợp giáo dục ở 3 môi trường
gia đình, nhà trường và cộng đồng trong việc chăm lo học tập cho trẻ em.
      - Nâng cao trách nhiệm và nghĩa vụ của cha mẹ trong việc đảm bảo quyền học
                                           88
tập cho trẻ em.
       Các hoạt động chính:
       - Xây dựng các trường mầm non, nhà trẻ ở các làng bản nông thôn.
      - Mở rộng khả năng huy động trẻ ở các vùng đông dân, hình thành mỗi huyện
1 trường trọng điểm để làm nòng cốt cho việc thực hiện đa dạng hoá các loại hình
giáo dục mầm non. Củng cố các trường mầm non dân lập, phát triển mạnh mẽ các
trường mầm non tư thục để bổ sung cho sự thiếu hụt của mạng lưới giáo dục mầm
non.
      - Phát triển và củng cố các cơ sở giáo dục mầm non công lập, các trường mầm
non trọng điểm chất lượng cao.
      - Hỗ trợ đào tạo giáo viên trung học cơ sở, bổ sung cho 10 tỉnh khó khăn, bổ
sung kinh phí xây dựng trường học cho 10 tỉnh thiếu trường sở.
       - Xây dựng chương trình giáo dục hoà nhập, bán hoà nhập cho trẻ em khuyết
tật.
       - Xây dựng trường dân tộc nội trú ở cấp huyện và cấp xã; xây dựng trường dự
bị đại học cho thanh thiếu niên các dân tộc thiểu số.
      - Nghiên cứu bổ sung các chỉ tiêu về giáo dục toàn diện cho trẻ em (học ngoại
ngữ, vi tính, ...), trong đó chia theo vùng, lãnh thổ và vùng đặc biệt khó khăn.
      - Mở thêm các trường tiểu học 2 ca bằng cách xây dựng thêm trường lớp và
đào tạo thêm giáo viên.
       - Mỗi một xã (hoặc cụm xã) có trường tiểu học và trung học cơ sở với đầy đủ
trang thiết bị dạy và học.
       - Mỗi một huyện đều có trường đào tạo, dạy nghề.
     - Viết lại giáo trình giảng dạy tiểu học và trung học cơ sở, xây dựng kế hoạch
mở các khóa đào tạo phương pháp giảng dạy mới cho các giáo viên.
       - Hỗ trợ phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
      - Hỗ trợ đặc biệt về đào tạo giáo viên ở 10 tỉnh điểm có nhu cầu đặc biệt (5 tỉnh
miền núi phía Bắc, 3 tỉnh ở tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và 2 tỉnh ở Tây Nguyên).
       - Hỗ trợ một cách hiệu quả thiết thực cho giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số:
phát triển trường dân tộc nội trú, hỗ trợ nhiều suất học bổng hơn cho trẻ em dân tộc.
       - Mở các lớp xoá mù chữ và lớp tình thương, lớp linh hoạt.. cho trẻ em thất
học.

                                          89
      1.4. Bảo vệ trẻ em.
      Chính sách:
      - Các bộ, ngành chức năng cần lồng ghép các mục tiêu vì trẻ em vào các
chương trình mục tiêu do ngành quản lý và đầu tư cán bộ, điều kiện cần thiết cho
việc chỉ đạo thực hiện theo hệ thống để đạt được các mục tiêu của chương trình và
chỉ đạo các địa phương triển khai thực hiện kiên quyết các vấn đề đến cơ sở.
      - Đầu tư nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu ở các ngành và phân bổ
ngân sách theo nhu cầu thực tế của các địa phương, nhất là các địa phương có điều
kiện khó khăn qua ngân sách xã hội hoặc qua các dự án trực tiếp giải quyết các vấn
đề của trẻ em.
       - Cùng với việc phân cấp quản lý cho địa phương, bố trí cán bộ và có chương
trình đào tạo cán bộ làm việc với gia đình, trẻ em tại cộng đồng để đảm bảo có cán bộ
thường xuyên nắm tình hình, làm công tác phòng ngừa và tham mưu, phối hợp giải
quyết các vấn đề của gia đình, trẻ em.
       - Chỉ đạo thực hiện việc nâng cao trách nhiệm, thực hiện chức năng của các
gia đình trong công tác bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ, phân công cơ quan chịu trách
nhiệm quản lý nhà nước về gia đình; nghiên cứu xây dựng chính sách cho gia đình
trong hệ thống chính sách xã hội.
      - Huy động toàn xã hội tham gia vào các hoạt động bảo vệ trẻ em có hoàn cành
khó khăn, đặc biệt.
      Các tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ:
      - Hoàn thiện hệ thống dịch vụ theo từng đối tượng trẻ em có hoàn cảnh khó
khăn và cần được bảo vệ đặc biệt.
      - Đầu tư nguồn lực, con người cho trong hệ thống cung cấp dịch vụ.
      - Đa dạng hoá đồng thời tăng cường quản lý nhà nước đối với các dịch vụ cho
trẻ em và gia đình.
      Gia đình:
      - Cần làm cho các vị thành niên sắp bước vào tuổi lập gia đình và các gia đình
có những kiến thức về sự phát triển của trẻ em, về trách nhiệm của gia đình theo quy
định của luật pháp và biết cách chăm sóc, giáo dục, bảo vệ con em mình.
      - Thông qua phương tiện truyền thông-tư vấn-giáo dục, các chính sách đối với
các gia đình để hỗ trợ các gia đình trong việc thực hiện các hoạt động chăm sóc tuổi
thơ. Cung cấp cho các gia đình và bản thân trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt những

                                         90
thông tin liên quan tới loại hình và chất lượng dịch vụ mà gia đình và các em có thể
được trợ giúp từ các cơ quan của Nhà nước.
       - Giải quyết được các nguyên nhân cội rễ thiếu hiểu biết, nhận thức không đầy
đủ, thiếu ý thức trách nhiệm và thiếu hụt nguồn lực, đội ngũ cán bộ làm việc ở cộng
đồng đối với trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt sẽ góp phần vào việc giảm số trẻ em này.
      Các hoạt động chính:
       - Các bộ, ngành đưa các mục tiêu về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt vào chương
trình hoạt động của ngành và tham mưu cho chính phủ chỉ đạo lồng ghép các mục
tiêu của Quyết định số 134/1999/QĐ-TTg vào các mục tiêu kinh tế-xã hội của các
địa phương từ năm 2001.
      - Đầu tư ngân sách của Nhà nước thông qua các chương trình của các ngành,
địa phương hoặc thông qua các hoạt động, dự án trực tiếp cho trẻ em, nhất là các địa
phương khó khăn và các nội dung mang tính liên địa phương theo đề xuất của các
ngành chức năng; xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch quốc gia về an
toàn cho trẻ em Việt Nam.
      - Có kế hoạch bố trí cán bộ ở cơ sở hoặc có cơ chế để khuyến khích các địa
phương bố trí cán bộ, có chế độ chính sách và bồi dưỡng đào tạo cho đội ngũ cán bộ
làm công tác trẻ em ở cộng đồng.
      - Tăng cường đào tạo cán bộ xã hội bậc cao đẳng và mở chuyên ngành đào tạo
hệ đại học chuyên ngành công tác xã hội làm việc với trẻ em và gia đình.
       - Giao trách nhiệm quản lý nhà nước về gia đình cho cơ quan nhà nước, xây
dựng kế hoạch nghiên cứu toàn diện về gia đình. Hình thành những chính sách cho
gia đình trong hệ thống chính sách xã hội.
      - Rà soát lại các cơ sở dịch vụ xã hội, hoạt động chăm sóc hỗ trợ trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt để sắp xếp lại, cải tiến và hoàn thiện phục vụ quan điểm về chính
sách đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và tăng cường quản lý nhà nước đối với các
cơ sở này song song với việc khuyến khích xã hội có nhiều loại hình hoạt động giải
quyết trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo định hướng của quan điểm chung.
       - Tổ chức các hoạt động nghiên cứu. Phát huy bộ chỉ số về quyền trẻ em, hoàn
thiện bổ sung các chỉ số về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; đảm bảo hệ thống thông tin
thông suốt từ cơ sở và có được đội ngũ có đủ năng lực làm công tác phân tích, tham
mưu đề xuất về các vấn đề từ cơ sở đặt ra kết hợp với những nghiên cứu lý luận.
      - Tăng cường các hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện các
mục tiêu đề ra của Uỷ ban Bảo vệ chăm sóc trẻ em các cấp.

                                         91
      Đối với các địa phương:
       - Lãnh đạo địa phương quán triệt việc cần thiết phải thực hiện các hoạt động
chăm sóc hỗ trợ, giáo dục giúp đỡ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, chỉ đạo thực hiện
đến cơ sở để giải quyết có hiệu quả tình trạng các đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt ở địa phương mình.
       - Có hệ thống thông tin và mạng lưới để cập nhật, nắm bắt số lượng và tình
hình diễn biến của các đối tượng trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và đặc biệt đến từng
gia đình, cộng đồng.
       - Có đội ngũ cán bộ được đào tạo có đủ trình độ phân tích các thông tin thu
thập được để dự báo về xu thế, nguyên nhân của các vấn đề và tham mưu đề xuất các
giải pháp liên quan đến chính sách, phương pháp, cách giải quyết từng trường hợp từ
khâu phòng ngừa.
      - Có hệ thống các dịch vụ, các hoạt động hỗ trợ, có nguồn lực và con người để
thực hiện các hoạt động phòng ngừa, giải quyết từng trường hợp.
      1.5. Văn hoá, vui chơi cho trẻ em và sự tham gia tích cực của ngƣời chƣa
thành niên.
      Chính sách:
      - Tập trung cải thiện chất lượng của các loại hình truyền thông khác nhau theo
hướng: 1. Thú vị và giải trí; 2. Mang tính đổi mới; 3. Đƣợc xây dựng có sự tham gia
nhiều hơn của trẻ em. Sử dụng nhiều hơn những công cụ sư phạm và báo chí chuyên
nghiệp, thông tin phản hồi từ trẻ em và sự tham gia trực tiếp của các em và do các em
quản lý để cải thiện chất lượng các phương tiện truyền thông sẵn có.
       - Khuyến khích trẻ em tham gia vào việc thiết kế chương trình truyền thông
của trẻ em.
     - Cần cố gắng đảm bảo mỗi xã trong cả nước nhận được số lượng tối thiểu
những số tạp chí, báo chí chủ yếu để nâng cao kỹ năng ngôn ngữ tiếng Kinh cho trẻ
em dân tộc.
      - Khuyến khích sản xuất đồ chơi, dụng cụ hoạc tập, thực hành cho trẻ em.
      Các tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ:
       - Định hướng cho trẻ em có cơ hội tiếp cận những ý tưởng mới giúp trẻ em
truy cập với mạng Internet.
      - Đảm bảo phủ sóng phát thanh, truyền hình trên cả nước nhằm giúp các gia
đình vùng xa vùng sâu có thể tiếp cận được thông tin hàng ngày.

                                         92
      - Cung cấp báo chí, sách giáo khoa và sách thông thường cho trẻ em vùng xa
xôi. Cung cấp các phương tiện giải trí, rèn luyện thể lực cho tất cả các trường học.
      Gia đình:
       - Cần được cung cấp các phương tiện thông tin có chất lượng cao hơn; định
hướng trẻ em đọc, xem, nghe, nói, thực hành, không xem hoặc mua văn hoá phẩm có
chất lượng kém; gắn với thông tin phản hồi từ phía gia đình để loại bỏ việc cung cấp
những phương tiện thông tin chất lượng kém.
      - Tăng cường nhận thức về các loại phương tiện thông tin hiện có cho gia đình
và tầm quan trọng của việc sử dụng, tiếp cận với các loại phương tiện thông tin khác
nhau.
      Các hoạt động chính:
      - Cải tiến kỹ năng quản lý nhằm phối hợp có hiệu quả giữa các cơ quan.
      - Xây dựng các điểm vui chơi giải trí cho trẻ em tại 9.772 xã, 305 nhà thiếu nhi
ở cấp huyện, 20 trung tâm dành riêng cho thanh thiếu niên.
     - Mở rộng mạng lưới thư viện trẻ em ở các xã; thúc đẩy việc đọc sách cho trẻ
em vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa.
     - Đào tạo những tài năng trẻ; đào tạo cho 22.000 cán bộ đội thiếu niên tiền
phong.
      - Cung cấp khăn quàng đỏ cho trẻ em vùng dân tộc thiểu số. Hỗ trợ các hoạt
động hè cho trẻ em.
      - Sản xuất thêm các tài liệu, sách truyện thiếu nhi bằng tiếng địa phương cho
trẻ em dân tộc. Có kinh phí riêng cho việc vận chuyển và phân phối sách, báo thiếu
nhi cho vùng sâu, vùng dân tộc.
      2. Truyền thông vận động xã hội.
      - Duy trì và nâng cao nhận thức của các cấp lãnh đạo đảng, chính quyền, các tổ
chức kinh tế xã hội, các nhà hoạch định chính sách, kế hoạch, các cán bộ chuyên
môn, các tầng lớp nhân dân về ý nghĩa của chiến lược bảo vệ và chăm sóc trẻ em,
trong đó cốt lõi là việc thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật nhà nước đối với bảo
vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em. Đặc biệt coi trọng các chiến dịch truyền thông vận
động xã hội, “Tháng Hành động vì trẻ em”, phát động “Ngày gia đình”, “Năm gia
đình và trẻ em”.
      - Truyền thông- giáo dục trở thành một mạng lưới dịch vụ xã hội, hướng mạnh
vào kỹ năng sống nói chung, kỹ năng bảo vệ và chăm sóc trẻ em nói riêng cho gia

                                          93
đình và cộng đồng nhằm giảm chi phí “phúc lợi xã hội không đáng có” (chữa các
bệnh có thể phòng ngừa được, phòng chống các tệ nạn xã hội..).
       - Chú trọng các phương pháp và các dịch vụ truyền thông-giáo dục chiều sâu
(tư vấn, tham vấn, công tác xã hội, vận động trực tiếp đối với từng cá nhân, từng gia
đình...) để làm cho các chương trình, mục tiêu bảo vệ và chăm sóc trẻ em của Nhà
nước và mỗi địa phương trở thành nhu cầu phát triển và phong trào thi đua của mỗi
gia đình, cộng đồng.
      - Đa dạng hoá các loại hình và phương pháp tiếp cận đối tượng để giáo dục và
cung cấp các kiến thức khoa học phổ cập về bảo vệ và chăm sóc trẻ em; tăng cường
thông tin để tạo nhiều khả năng tự chọn lựa các giải pháp phù hợp cho mỗi gia đình,
cộng đồng trong việc bảo vệ, chăm sóc và giải quyết các vấn đề có liên quan đến trẻ
em.
       - Phát triển phong trào toàn dân bảo vệ và chăm sóc trẻ em. Xây dựng cơ chế
và tạo khả năng kết hợp, lồng ghép các nguồn lực và các lực lượng truyền thông giáo
dục tư vấn bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, nhất là trên địa bàn dân cư và ở mỗi
cộng đồng. Huy động sự tham gia của người dân theo cơ chế cùng tham gia trong lựa
chọn giải pháp, thúc đẩy tiến độ, duy trì kết quả của các chương trình, mục tiêu vì trẻ
em. Phổ biến, nhân rộng các mô hình, kinh nghiệm bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ
em. Chống tư tưởng địa phương, cộng đồng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước và các
nguồn hỗ trợ từ bên ngoài, gia đình đùn đẩy trách nhiệm bảo vệ và chăm sóc trẻ em
cho xã hội.
       - Kiện toàn và phát triển mạng lưới tuyên truyền- giáo dục- tư vấn bảo vệ,
chăm sóc trẻ em và phúc lợi gia đình. Tận dụng, phát huy khả năng của các lực lượng
và các kênh truyền thông- vận động xã hội sẵn có. Nghiên cứu, sử dụng các lực
lượng, các kênh, các phương pháp truyền thông- vận động xã hội mới để đáp ứng và
phù hợp với quá trình phát triển chung. Hình thành các kênh, các chương trình thông
tin đại chúng riêng biệt, chuyên sâu về từng vấn đề, từng đối tượng. Hệ thống hoá
các nội dung, thông điệp, các sản phẩm truyền thông. Kết hợp hài hoà giữa các yếu
tố truyền thông-giáo dục truyền thống với các phương pháp truyền thông-giáo dục
hiện đại.
      - Phát huy vị trí, vai trò của trẻ em trong công tác thông tin-giáo dục-truyền
thông bảo vệ và chăm sóc trẻ em. Tạo điều kiện và cơ hội để trẻ em được tham gia và
đóng góp vào quá trình truyền thông- giáo dục cho người lớn và cho trẻ em.
      3. Nâng cao năng lực.
      - Phối hợp các ngành, các đoàn thể có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

                                          94
ngành công tác xã hội phù hợp với chức năng, nhiệm vụ bảo vệ chăm sóc trẻ em; xây
dựng cơ chế, chính sách thích hợp đối với các loại hình hoạt động công tác xã hội đối
với trẻ em.
      - Nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em, các
cấp, các ngành, nhất là cơ sở, đội ngũ chuyên trách, cộng tác viên và tình nguyện
viên để thực hiện các mục tiêu của Chương trình hành động có hiệu quả. Ưu tiên đào
tạo cho cán bộ thu thập, xử lý, tổng hợp thông tin, lập kế hoạch, tham mưu đề xuất
các chính sách chỉ đạo, điều hành thực hiện và theo dõi đánh giá.
      - Tăng cường bồi dưỡng kỹ năng xây dựng và quản lý các dự án nhỏ đầu tư
cho trẻ em, kỹ năng theo dõi, giám sát các chỉ số, biết phân tích tình hình, phát hiện
những vấn đề trẻ em nảy sinh từ cộng đồng, từ đó tham mưu với cấp uỷ đảng và
chính quyền những giải pháp hữu hiệu từ cơ sở.
      - Đào tạo và nâng cao trình độ, kỹ năng thông tin-giáo dục-truyền thông cho
đội ngũ trực tiếp làm công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em và đội ngũ tham gia hệ
thống các dịch vụ xã hội liên quan đến gia đình và trẻ em. Hình thành đội ngũ cán bộ
chuyên sâu về truyền thông-vận động xã hội bảo vệ và chăm sóc trẻ em có đủ khả
năng nghiên cứu, tham mưu, tổ chức và phối hợp thực hiện, chỉ đạo điểm các hoạt
động thông tin-giáo dục-truyền thông-tư vấn.
       - Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, kế thừa và xúc tiến các nghiên cứu khoa học
thiết thực phục vụ cho việc tham mưu, hoạch định chính sách về trẻ em. Sớm hình
thành Trung tâm nghiên cứu gia đình và trẻ em.
      4. Phát triển hệ thống Quỹ Bảo trợ trẻ em.
      Đến 2010 có 100% tỉnh (thành phố), huyện (quận) và 70-80% số xã phường
đều xây dựng Quỹ Bảo trợ trẻ em, trong đó các tỉnh đồng bằng, trung du đều có hệ
thống Quỹ Bảo trợ trẻ em đến tận xã, phường. Đến năm 2010 phấn đấu mỗi năm vận
động từ 100-116 tỷ đồng, trong đó Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam vận động từ 10-15
tỷ đồng gồm cả tiền, hiện vật và đầu tư trực tiếp qua các dự án cho trẻ em.
       Nội dung hoạt động của hệ thống Quỹ Bảo trợ trẻ em tập trung theo 4 mục tiêu
ưu tiên: 1. Chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt với các hoạt động
phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật, trẻ em bị ảnh hưởng chất độc màu da cam,
phẫu thuật nụ cười cho trẻ em bị dị tật khe hở môi, vòm miệng, phẫu thuật mắt cho
trẻ em bị dị tật về mắt, khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em con nhà nghèo; 2. Hỗ trợ
giáo dục cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, cấp học bổng cho trẻ em con thương
binh, liệt sỹ, trẻ em nghèo học giỏi, hỗ trợ các lớp học tình thương cho trẻ em vùng
sâu, vùng xa, vùng khó khăn; 3. Hỗ trợ thiết bị vui chơi cho trẻ em, ưu tiên đầu tư

                                          95
cho các xã nghèo, huyện nghèo; 4.Chăm sóc trẻ em mồ côi, lang thang cơ nhỡ, cứu
trợ đột xuất cho trẻ em.
       Hình thức vận động: Vận động liên ngành, phối hợp chặt chẽ với các bộ,
ngành, đặc biệt là với các tổ chức Công đoàn tuyên truyền và huy động nguồn lực
giúp đỡ trẻ em; vận động thông qua xây dựng dự án. Trên cơ sở kế hoạch bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em được cụ thể hoá trong các kế hoạch hành động 5 năm và
hằng năm, hệ thống quỹ các cấp xây dựng thành những dự án, kêu gọi sự giúp đỡ của
các tổ chức, cá nhân ở trong nước và quốc tế; vận động tài trợ thường xuyên và vận
động gián tiếp và bằng hiện vật.
    5. Tăng cƣờng vai trò chỉ đạo, điều hành thực hiện các mục tiêu của
Chƣơng trình hành động vì trẻ em ở địa phƣơng.
      - Các địa phương chủ động triển khai công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành
thực hiện: Chủ động chỉ đạo điều hành các quận huyện xây dựng các Chương trình
hành động và Kế hoạch hành động; chủ động trong việc bố trí nguồn lực, điều hành
thực hiện; giải quyết các vấn đề nảy sinh, lồng ghép các mục tiêu trên địa bàn, v.v...
Ngoài nguồn ngân sách nhà nước và viện trợ quốc tế, cần thiết phải bổ sung từ nguồn
ngân sách địa phương, đẩy mạnh công tác xã hội hoá, phát huy nội lực, khuyến khích
sự tham gia của các ngành, các tổ chức chính trị, xã hội, tư nhân và cộng đồng. Sử
dụng có hiệu quả các loại quỹ từ thiện, nhân đạo, quỹ chất độc màu da cam... hỗ trợ
các mục tiêu vì trẻ em.
      - Cơ chế quản lý, điều hành kinh tế-xã hội được hoàn thiện theo hướng phân
cấp giao quyền cho địa phương. Do vậy, căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế-xã
hội của địa phương bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của địa phương; những đòi
hỏi bức xúc của trẻ em trên địa bàn để lựa chọn các ưu tiên và giải pháp cụ thể cho
Chương trình hành động. Các mục tiêu của Chương trình hành động và các Kế hoạch
hành động nhất thiết phải được đưa vào các Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5
năm và hàng năm của địa phương.
       - Đẩy mạnh phong trào toàn xã hội xây dựng gia đình bền vững, hạnh phúc,
nuôi dạy con tốt. Nâng cao kiến thức của các thành viên trong gia đình trong việc
nuôi dưỡng, chăm sóc con cái theo khoa học, dạy dỗ trẻ em kính trên nhường dưới,
thương yêu giúp đỡ bạn bè, biết tự bảo vệ mình không bị tiêm nhiễm những thói hư,
tật xấu.
      - Trong việc chỉ đạo, lồng ghép các hoạt động phải quán triệt quan điểm vùng,
miền, khu vực. Các biện pháp chính để rút ngắn sự khác biệt giữa các khu vực là kết
hợp phân bổ ngân sách với hỗ trợ kỹ thuật, giáo dục và khen thưởng thích hợp. Khi

                                          96
xây dựng mục tiêu, phải căn cứ vào mức phấn đấu chung của cả nước mà đặt nhiệm
vụ cụ thể cho địa phương mình. Các ngành ở Trung ương phân bổ ngân sách, hỗ trợ
kỹ thuật sẽ ưu tiên các mục tiêu về sức khoẻ dinh dưỡng, học tập, văn hoá vui chơi,
nước sạch vệ sinh môi trường, tập trung hướng giải quyết vào các vùng nông thôn
thuộc các tỉnh miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa; ngược lại các mục tiêu phòng
ngừa việc xâm hại trẻ em (trẻ em nghiện ma tuý, xâm hại tình dục trẻ em, sử dụng lao
động trẻ em vào các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, HIV/AIDS) và trẻ em
làm trái pháp luật lại tập trung vào các vùng đô thị hoá và các khu công nghiệp, khai
khoáng, v.v...
      Tóm lại: Chiến lược tổng thể nhằm đẩy mạnh các kết quả đã được cải thiện
đối với trẻ em dựa vào hai lĩnh vực chính: (1) Xây dựng các chính sách phù hợp ở
cấp bộ, ngành; (2) Xây dựng và cải thiện việc quản lý hiện hành ở cấp trung ương và
cấp địa phương.
       Các chiến lược trong các ngành tập trung vào việc cải thiện cả khả năng tiếp
cận và chất lượng các dịch vụ hiện có, cũng như thu hút các hộ gia đình tham gia
nhiều hơn nữa vào quá trình cung cấp dịch vụ. Điều này sẽ bao gồm các can thiệp
tại gia đình, với nhà cung cấp dịch vụ và cơ quan hoạch định chính sách trung ương.
Các gia đình phải có kiến thức về cả các dịch vụ hiện có và chăm sóc con em với
chất lượng cao hơn. Các nhà cung cấp dịch vụ phải được nhận những nguồn lực
thích đáng và trong trường hợp với các cộng đồng nghèo và ở nơi xa xôi, cần phải
xem xét việc chuyển kinh phí tới các vùng nghèo hơn. Cuối cùng, các nhà cung cấp
dịch vụ cũng cần phải có chế độ ưu đãi, khen thưởng thích đáng để thực hiện nhiệm
vụ của mình.
       Việc bố trí quản lý phải tập trung vào ít nhất hai vấn đề chính cả ở các bộ,
ngành và địa phương: (1) Gắn liền việc lập kế hoạch Chương trình hành động quốc
gia vì trẻ em với quá trình phân bổ ngân sách và (2) Lập kế hoạch một cách chính xác
đối với một Chương trình hành động được phân cấp quản lý, trong đó bao gồm các
chiến lược khác nhau, ngân sách, và các hoạt động cho các vùng khác nhau trong cả
nước.
      Các hoạt động hỗ trợ cho Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn
2001-2010 sẽ tập trung vào cải thiện cả số lượng và chất lượng các dịch vụ cho trẻ
em, cải thiện việc lồng ghép phối hợp giữa người hưởng thụ và người cung cấp dịch
vụ, nhấn mạnh vào sự tham gia của trẻ em. Hầu hết các hoạt động sẽ tiếp tục các hoạt
động đã làm trước đây và có một số hoạt động mới, đặc biệt về một số lĩnh vực tăng
cường công tác quản lý trong hệ thống bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.


                                         97
      Chƣơng IV. HỢP TÁC QUỐC TẾ
       Hợp tác quốc tế thực sự đóng vai trò quan trọng và là một trong những động
lực thúc đẩy thực hiện thành công các mục tiêu vì trẻ em. Những thành tựu đạt được
trong sự nghiệp bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em thập kỷ qua không thể tách rời
sự giúp đỡ to lớn và có hiệu quả của bạn bè quốc tế, trong đó có UNICEF. Để thực
hiện thành công Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2001-2010,
phải tiếp tục hợp tác toàn diện với tất cả các tổ chức quốc tế, các nước, các Uỷ ban
quốc gia của UNICEF, các tổ chức tín dụng, các tổ chức phi chính phủ, các cá nhân,
v.v.. nhằm huy động tối đa nguồn vốn hỗ trợ cũng như tranh thủ kiến thức, kỹ năng
về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
        Trong hoàn cảnh hiện nay, các đối tác đang điều chỉnh chính sách ưu tiên viện
trợ, nhưng đều tập trung cho sự phát triển con người bền vững. Vì vậy, trong quá
trình lập kế hoạch vận động nguồn lực, cần phải hiểu rõ khả năng, chính sách và ưu
tiên của từng đối tác để xây dựng các dự án phù hợp nhằm thu hút được nhiều nguồn
tài trợ cho sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
       Giai đoạn 2001- 2010, mặc dù mức độ viện trợ không được duy trì ở mức
cao như giai đoạn trước, nhưng UNICEF vẫn là một trong những đối tác chính trong
việc thực hiện các mục tiêu vì trẻ em và sẽ tập trung vào chăm sóc và ngăn ngừa
HIV/AIDS, giảm tỉ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi và tử vong bà mẹ, hỗ trợ tiếp cận nền
giáo dục có chất lượng, hỗ trợ trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt, vệ sinh môi trường. Mặt
khác, các Uỷ ban quốc gia của UNICEF sẽ là những đối tác tiềm năng trong việc huy
động vốn bổ sung cho các chương trình vì trẻ em, tập trung vào nước sạch vệ sinh
môi trường, giáo dục, y tế, giới và phát triển. Vấn đề quan trọng là phải có chính sách
thu hút thêm nhiều Uỷ ban quốc gia UNICEF tham gia vận động vốn cho Việt Nam.
       Bên cạnh UNICEF, các tổ chức quốc tế khác cũng tham gia nhiều vào các
chương trình vì trẻ em như: Tổ chức Y tế thế giới trong các chương trình tiêm chủng
mở rộng, phòng chống HIV/AIDS..., Tổ chức Di dân quốc tế trong chương trình
giúp tái hoà nhập trẻ em bị bán ra nước ngoài. Cần có kế hoạch hướng những tổ chức
này vào những mục tiêu ưu tiên của Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em.
        Viện trợ song phương của các nước phát triển sẽ ngày càng tập trung vào viện
trợ trực tiếp, đặc biệt trong các lĩnh vực xoá đói giảm nghèo, nước sạch vệ sinh môi
trường, tiêm chủng mở rộng, giáo dục... Điều cốt yếu là cần định hướng để các nhà
tài trợ song phương và đa phương tuân thủ Sáng kiến 20/20.
      Nguồn viện trợ từ các tổ chức phi chính phủ ngày càng có ý nghĩa to lớn vì các
hoạt động có trọng điểm, tác dụng trực tiếp tới các đối tượng trẻ em khó khăn nhất ở

                                          98
những địa bàn xa xôi, khó tiếp cận. Thời gian tới, nguồn này sẽ tập trung nhiều hơn
vào xoá đói giảm nghèo và xây dựng năng lực cho đối tác, trong đó dành trực tiếp
hoặc gián tiếp cho trẻ em thông qua các dự án về y tế, giáo dục, trẻ em có hoàn cảnh
khó khăn...Vì các hoạt động thường trực tiếp hướng tới cộng đồng, điều quan trọng
là các tổ chức phi chính phủ này cũng phải luôn coi trẻ em như một nhóm quyền lợi
sống còn để phục vụ, chú trọng đến nguyện vọng và tiếng nói của trẻ em trong quá
trình xây dựng chương trình, kế hoạch.
       Ngoài ra, một phần nguồn vốn tín dụng ưu đãi sẽ tiếp tục tập trung vào lĩnh
vực y tế, giáo dục và vệ sinh môi trường.
       Dựa trên cơ sở khả năng và ưu tiên của từng đối tác, trước hết việc xây dựng
chiến lược vận động nguồn lực ngoài nước phải tập trung vào những mục tiêu ưu
tiên cho trẻ em, theo cách tiếp cận dựa vào quyền của trẻ em và phù hợp với các
Chương trình mục tiêu quốc gia, tập trung vào 1.870 xã nghèo, vùng cao, vùng sâu,
vùng bị thiên tai, v.v..và 142 huyện trọng điểm trong Chương trình hợp tác Việt
Nam-UNICEF ở cấp quốc gia và địa phương.
       Mặt khác, để có thể thu hút thêm nguồn lực từ các tổ chức quốc tế, cần nâng tỷ
lệ đầu tư cho các dịch vụ xã hội cơ bản theo sáng kiến 20/20 (hiện nay Việt Nam đã
dành khoảng 10% ngân sách viện trợ cho các dịch vụ xã hội cơ bản). Đồng thời phải
xác định các cơ chế phối hợp có hiệu quả giữa các cơ quan liên quan của Việt Nam
(Bộ Ngoại giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Uỷ ban Bảo vệ và chăm
sóc trẻ em Việt Nam) cũng như giữa các cơ quan chính phủ với các tổ chức quốc tế
để có thể khai thác hiệu quả tiềm năng nguồn lực ngoài nước.
        Cuối cùng, cần xác định rõ các nguyên tắc về phân bổ nguồn ODA, phải tính
đến tỷ lệ của các dịch vụ xã hội cơ bản và đối tượng trẻ em. Đi đôi với chiến lược này
là những giải pháp về nâng cao trình độ và năng lực của cán bộ vận động nguồn lực,
gắn chiến lược này với chiến lược vận động nguồn lực trong nước.

      Chƣơng V. NHU CẦU NGUỒN LỰC
      Để thực hiện được các mục tiêu của Chương trình hành động quốc gia vì trẻ
em giai đoạn 2001-2010, nhu cầu nguồn lực tối thiểu cho năm 2005 gần 36.000 tỷ
đồng, gấp 2 lần năm 2000 và cho năm 2010 trên 81.000 tỷ đồng, gấp 4,5 lần hiện
nay. Cụ thể cho từng lĩnh vực như sau:
                                                                (Đơn vị : tỷ đồng)
             Các lĩnh vực                 Năm 2000       Năm 2005      Năm 2010


                                          99
         Tổng cộng                              18.193        35.776          81.326
 Sức khoẻ dinh dưỡng cho tuổi thơ                2.440             5.350      13.240
 Nước sạch vệ sinh môi trường                      340             3.056       5.292
 Giáo dục cơ bản có chất lượng                  15.021        26.440          61.220
 Văn hoá, vui chơi                                 350              630        1.310
 Bảo vệ trẻ em                                     42*              300          300
       (* Số liệu của Bộ LĐ-TB&XH, chƣa kể nguồn bảo đảm xã hội)

       Từ những kinh nghiệm huy động nguồn lực trong 10 năm qua và xu hướng
phát triển kinh tế-xã hội trong nước và quốc tế trong thập kỷ tới, dự báo nguồn lực
cho sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em như sau:
      Nguồn viện trợ quốc tế.
        Nguồn viện trợ không hoàn lại, khoảng 500-600 tỷ đồng/năm (32-40 triệu
USD/năm), trong đó nguồn của UNICEF khoảng 12-15 triệu USD/năm (tương
đương 200 tỷ đồng) cho lĩnh vực trẻ em và hướng vào việc chăm sóc và ngăn ngừa
tình trạng lây nhiễm HIV/AIDS, giảm tỷ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi, giảm tỷ lệ tử
vong mẹ; hỗ trợ tiếp cận một nền giáo dục có chất lượng; hỗ trợ trẻ em cần được bảo
vệ đặc biệt (trẻ bị bắt đem bán, bị buộc lao động, bị lạm dụng tình dục..); sức khoẻ và
sự phát triển trẻ em; vệ sinh môi trường. Nguồn từ các tổ chức phi chính phủ sẽ tập
trung nhiều hơn cho xoá đói giảm nghèo và xây dựng năng lực cho các đối tác Việt
Nam, kể cả những hội, tổ chức tại địa phương, v.v...và duy trì ở mức hiện tại, ƣớc
khoảng 20-25 triêu USD/năm (tương đương 400 tỷ đồng), được dành trực tiếp hoặc
gián tiếp cho trẻ em Việt Nam thông qua các dự án hỗ trợ và chăm sóc trẻ em về y tế,
giáo dục và về xã hội cũng như thông qua các dự án xoá đói giảm nghèo. Trẻ em bị
hậu quả chất độc màu da cam sẽ được chú ý nhiều hơn. Ngoài ra còn có nguồn vốn
tín dụng ưu đãi của các tổ chức quốc tế cho vay thực hiện các chương trình phát triển
kinh tế xã hội như xoá đói giảm nghèo, trồng rừng, phát triển kinh tế miền núi, vùng
sâu, vùng xa, cho vay giải quyết việc làm, cải cách giáo dục, phát triển y tế,
v.v...thông qua các dự án mà trẻ em được hưởng trực tiếp hoặc ghián tiếp.
      Ngân sách nhà nƣớc.
       Ngân sách nhà nước cho các mục tiêu cơ bản về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em phụ thuộc trước hết vào tốc độ tăng trưởng GDP. Trong 5 năm đầu, khả năng
tăng trưởng GDP chưa được cao. Vì vậy, nguồn lực từ ngân sách nhà nước cho các
mục tiêu của Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em được bố trí thông qua các

                                          100
mục tiêu quốc gia và chỉ tiêu kế hoạch do các bộ, ngành, địa phương thực hiện. Qua
tính toán của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính thì nguồn ngân sách Nhà nước
chi cho trẻ em đến 2005 và 2010 chỉ đáp ứng khoảng 60% nhu cầu kinh phí. Tuy
nhiên, đầu tư cho trẻ em là đầu tư cơ bản cho tương lai, phải được bao cấp toàn diện,
chỉ có thể tăng thêm chứ không cắt giảm; bên cạnh đó, còn phải có nguồn dự phòng
để giải quyết cho những khó khăn đột xuất. Mỗi mục tiêu đều phải có khoản ngân
sách nhất định (không phải toàn bộ) làm nguồn khởi động hoặc tạo đà cho việc huy
động các nguồn lực của các nhà tài trợ và cộng đồng.
      Huy động từ cộng đồng.
       Để có thể bổ sung vào sự thiếu hụt nguồn lực, cần có các chính sách phù hợp
về xã hội hóa các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao như học
phí, viện phí, bảo hiểm y tế, an sinh giáo dục, hình thành các quỹ nhân đạo, từ thiện,
v.v..và nhiều chính sách xã hội khác để huy động mọi nguồn lực từ cộng đồng, gia
đình, các tổ chức kinh tế, xã hội trong nước và huy động thêm sự tài trợ của cá nhân,
tổ chức quốc tế khoảng 40%.
      Hƣớng chung trong việc huy động nguồn lực trong thập kỷ tới là:
       - Ngân sách trung ƣơng: hàng năm dành một khoản kinh phí hỗ trợ có mục
tiêu cho các nhiệm vụ trọng tâm nhằm hoàn thành mục tiêu kế hoạch của chương
trình do các bộ, ngành và Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam xây dựng.
      - Ngân sách địa phƣơng: hàng năm huyện, tỉnh xây dựng kế hoạch hoạt động
kèm theo bố trí ngân sách của địa phương cho các hoạt động thực hiện các mục tiêu
Chương trình hành động vì trẻ em và công tác truyền thông, tư vấn, quản lý giám sát,
chỉ đạo mô hình bảo vệ chăm sóc trẻ em tại địa phương.
       - Huy động từ cộng đồng: kinh phí huy động từ các cơ quan, tổ chức kinh tế xã
hội, cá nhân, nhà hảo tâm, cộng đồng và Quỹ Bảo trợ trẻ em. Đây là nguồn kinh phí
quan trọng, cần có cơ chế và giải pháp tốt nhất để huy động tối đa và sử dụng hợp lý,
hiệu quả.
      - Tranh thủ tối đa sự hỗ trợ và giúp đỡ của quốc tế, của các tổ chức phi chính
phủ và ngƣời nƣớc ngoài. Tập trung nguồn lực này cho các vùng đặc biệt khó khăn,
cho đối tượng trẻ em cần bảo vệ đặc biệt, cho chương trình nghiên cứu, trao đổi kinh
nghiệm và hợp tác quốc tế về lĩnh vực bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

      Chƣơng VI. PHÂN CÔNG TRÁCH NHIỆM VÀ THEO DÕI, GIÁM SÁT
      I. PHÂN CÔNG TRÁCH NHIỆM


                                          101
      1. Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam.
       Chủ trì phối hợp với các bộ, ngành, đoàn thể liên quan và Uỷ ban nhân dân các
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức triển khai thực hiện Chương trình hành
động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2001 - 2010.
       Căn cứ Chương trình này, Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam chủ
trì, phối hợp với các bộ, ngành, đoàn thể liên quan và Uỷ ban nhân dân các tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương tổ chức thực hiện các Kế hoạch hành động quốc gia
theo định kỳ 5 năm phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội.
      Chủ trì phối hợp với Tổng cục Thống kê và các bộ, ngành liên quan thu thập
thông tin, điều tra khảo sát, đánh giá việc thực hiện các mục tiêu giữa kỳ và cuối kỳ.
Hàng năm có kế hoạch liên ngành kiểm tra, giám sát các bộ, ngành và địa phương
thực hiện bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Chương trình hành động vì trẻ em.
      Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính xây dựng trình Thủ tướng
chính phủ kế hoạch tài chính để điều hành phối hợp và kiểm tra giám sát việc thực
hiện Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em. Hướng dẫn, kiểm tra giám sát việc
sử dụng các nguồn kinh phí dành cho trẻ em theo mục tiêu, kế hoạch của các bộ
ngành và địa phương được duyệt.
     Tổng hợp, báo cáo Thủ tướng chính phủ về tình hình thực hiện các mục tiêu
Chương trình hành động.
      2. Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ.
       Có trách nhiệm đưa các mục tiêu, chỉ tiêu bảo vệ chăm sóc trẻ em vào kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội hằng năm và 5 năm; chủ trì, phối hợp với Uỷ ban Bảo
vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam, Tổng cục Thống kê và các cơ quan liên quan lồng
ghép các mục tiêu và giải pháp thực hiện về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em vào
kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội cấp quốc gia; lồng ghép các hoạt động của các
chương trình hợp tác quốc tế liên quan đến trẻ em (đặc biệt là Chương trình hợp tác
Việt Nam - UNICEF) với các hoạt động của Chương trình này theo hướng dành ưu
tiên đầu tư cho trẻ em tàn tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em lang thang,
trẻ em nghèo, trẻ em bị nhiễm HIV và mắc bệnh AIDS, trẻ em dân tộc ít người và trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; đưa một số chỉ số về quyền trẻ em Việt Nam vào
danh mục các chỉ số phát triển kinh tế- xã hội hàng năm của Nhà nước.
      3. Bộ Tài chính.
     Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ
em Việt Nam và các bộ, ngành có liên quan, các địa phương xây dựng kế hoạch tài

                                         102
chính hàng năm để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ đã được quy định tại Quyết
định của Thủ tƣớng chính phủ về việc phê duyệt Chương trình này (số
23/2001/QĐ-TTg ngày 26/02/2001); hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc sử dụng các
nguồn kinh phí dành cho trẻ em của các bộ, ngành có liên quan và các địa phương.
      4. Bộ Ngoại giao.
      Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan tuyên truyền, vận động nguồn
lực của các tổ chức chính phủ, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức của Liên hợp
quốc nhằm hỗ trợ cho việc thực hiện các mục tiêu của Chương trình.
      5. Tổng cục Thống kê.
      Chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan xác định hệ thống chỉ tiêu đánh giá
các mục tiêu bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Chỉ đạo các cục, chi cục thống kế
địa phương hướng dẫn cơ sở thu thập và báo cáo định kỳ theo các chỉ tiêu đã định.
Có trách nhiệm tổng hợp báo cáo của các địa phương, các ngành, các tổ chức phi
chính phủ, v.v...và cung cấp các số liệu liên quan cho các cơ quan làm cơ sở cho việc
đánh giá tình hình, lập kế hoạch và xây dựng các chính sách, phối hợp liên ngành về
đánh giá thực hiện Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em.
    6. Các Bộ Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Văn hoá và Thông tin, Lao động
Thƣơng binh và Xã hội, và các bộ, ngành liên quan.
       Căn cứ vào Chương trình này, đưa các mục tiêu vì trẻ em và giải pháp chủ yếu
do bộ, ngành quản lý và thực hiện vào kế hoạch dài hạn và ngắn hạn của bộ, ngành;
ưu tiên ngân sách cho việc thực hiện các mục tiêu vì trẻ em; phối hợp chặt chẽ trong
chỉ đạo, điều hành thực hiện.
     7. Các đoàn thể Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh, Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Liên
đoàn Lao động, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Hội Chữ Thập đỏ, các tổ
chức kinh tế, chính trị xã hội khác.
      Có kế hoạch phối hợp hoạt động, vận động xã hội bổ sung nguồn lực và phối
hợp theo dõi, giám sát, đánh giá việc thực hiện các mục tiêu vì trẻ em trong từng giai
đoạn.
      8. Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng.
       Xây dựng Chương trình hành động vì trẻ em của địa phương, triển khai việc
thực hiện Chương trình hành động vì trẻ em bằng việc xây dựng Kế hoạch hành động
5 năm 2001-2005 và Kế hoạch hành động năm 2001. Các kế hoạch này phải phù hợp
với Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em, phù hợp với các kế hoạch phát triển

                                         103
kinh tế-xã hội dài hạn và ngắn hạn của địa phương và có tính khả thi; đồng thời đáp
ứng được sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em địa phương mình. Chỉ đạo
chặt chẽ các cơ quan liên quan trong quá trình xây dựng và thực hiện các mục tiêu
của Chương trình hành động vì trẻ em và các Kế hoạch hành động vì trẻ em, đưa các
mục tiêu và giải pháp thực hiện cơ bản vào Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa
phương.

      II. THEO DÕI, GIÁM SÁT
      1. Tăng cƣờng cơ sở pháp lý cho việc theo dõi, giám sát ở các bộ, ngành.
       Hình thành cơ chế phối hợp liên ngành trong việc cung cấp thông tin, tổ chức
theo dõi, giám sát các mục tiêu của Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai
đoạn 2001-2010, trong đó có chia ra mục tiêu trung hạn (giai đoạn 2001-2005). Phối
hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng kế hoạch cụ thể về tổ chức, sử dụng một
hệ thống thông tin chung (dựa trên nền của cơ sở dữ liệu về trẻ em) để theo dõi việc
thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em và trao đổi, chia sẻ thông tin giữa các
ngành, các tổ chức xã hội. Củng cố các hệ thống thông tin định kỳ để có thể phân tích
số liệu theo giới, tuổi, dân tộc, nhóm thu nhập, khu vực. Tổ chức tập huấn kỹ năng
theo dõi, giám sát cho màng lưới thu thập thông tin về trẻ em các xã trong toàn quốc.
     2. Đƣa bộ chỉ số quyền trẻ em vào việc thu thập, xử lý thông tin thƣờng
xuyên, phục vụ cho việc quản lý, giám sát.
       Đưa bộ chỉ số này vào trong Danh mục các chỉ số phát triển kinh tế-xã hội.
Trên cơ sở 84 chỉ số quyền trẻ em đã được xây dựng, hình thành một bộ chỉ số ưu
tiên có khả năng triển khai thu thập số liệu, đảm bảo tin cậy, khả thi. Hoàn chỉnh,
thống nhất với các ngành về khái niệm, phương pháp tính, phương pháp tổ chức thu
thập, biểu mẫu thống kê, đặc biệt là các chỉ số về bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn. Phổ biến và tập huấn rộng rãi các chỉ số xuống địa phương.
      3. Tăng cƣờng vai trò kiểm tra, giám sát và thanh tra đánh giá định kỳ.
       Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt nam phối hợp với Tổng cục Thống kê
- cơ quan tổng hợp và phân tích thông tin về tình hình thực hiện các mục tiêu về kinh
tế-xã hội nói chung và thu thập về các mục tiêu vì trẻ em nói riêng; tham gia giám
sát, đánh giá định kỳ hàng năm theo chuyên đề (nếu có yêu cầu), đánh giá giữa kỳ
(2005) và đánh giá cuối kỳ vào năm 2010.
      Chủ động có kế hoạch kiểm tra, thanh tra nhằm kịp thời phát hiện những điển
hình tốt để phát huy, uốn nắn kịp thời những lệch lạc trong quá trình triển khai thực
hiện Chương trình hành động vì trẻ em của các ngành, các cấp.

                                         104

								
To top